VÙNG KINH TẾ VÀ VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
Địa lí là một ngành khoa học với nội dung nghiên cứu rất rộng, từnhững vấn đề tự nhiên đến kinh tế xã hội Hiện nay với xu thế phát triểnmạnh mẽ của thời đại, những vấn đề Kinh tế – xã hội ngày càng đượcquan tâm, và đòi hỏi cần có những quan điểm, cách đánh giá mới về nhữngvấn đề đó Khi nghiên cứu về sự phát triển, chúng ta không chỉ xem xétdưới góc độ thời gian mà hơn hết phải quan tâm đến không gian của sựphát triển đó Vậy một vấn đề đặt ra không gian trong địa lí, nhất là trongđịa lí kinh tế xã hội là thế nào Từ yêu cầu của thực tế cho việc phát triểntừng lãnh thổ đã nảy sinh sự nghiên cứu về tổ chức không gian lãnh thổ.Một loạt những quan điểm, khái niệm về vùng, phân vùng được ra đời gắnvới qui luật phát triển chung của kinh tế – xã hội Mỗi vùng là một phạm vikhông gian địa lí nhất định, ở đó dưới tác động của những qui luật kinh tế,các bộ phận kết hợp với nhau thành một hệ thống thống nhất và cân đối,một thể tổng hợp sản xuất – lãnh thổ Mỗi vùng không chỉ phát triển cânđối trong nội bộ, mà còn phát triển cân đối với các vùng khác
Những quan điểm về vùng trên thế giới và Việt Nam là tiền đề, là cơ
sở lí luận cho việc hoạch định phân vùng, nhất là phân vùng kinh tế củamỗi nước và của Việt Nam Mỗi vùng luôn có những thế mạnh riêng về tựnhien và kinh tế xã hội cho việc phát triển tốt nhất Do vậy việc phân vùng
và qui hoạch vùng, hay nói ngắn gọn là chia vùng để thúc đẩy sự phát triểncủa từng vùng lãnh thổ và của cả quốc gia Những lí luận về vùng tạo nềntảng cho việc nghiên cứu về kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ đượcđầy đủ và chính xác
Trang 2PHẦN II NỘI DUNG Chương I CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VÙNG
1.1 Quan niệm về vùng
Trên thực tế, có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về vùng với mụcđích và tiêu chí khác nhau Song, dù qui mô của vùng có thể lớn nhó khácnhau thì đều có những điểm chung là trong một lãnh thổ đều có ranh giớinhất định (dù "cứng" hay "mềm"), trong đó có sự tác động tương hỗ giữacác yếu tố tự nhiên - môi trường - con người (cả sản xuất và tiêu thụ)
Như vậy có thể quan niệm về vùng như sau: "Vùng là một bộ phận của
lãnh thổ quốc gia có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống
do có mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần tạo nên nó, cũng như mối quan hệ có chọn lọc với không gian các cấp bên ngoài".
Với quan niệm trên, có thể thấy rằng
- Vùng là một hệ thống, bao gồm các mối liên hệ của các bộ phận
cấu thành với các dạng liên hệ địa lý - kỹ thuật - KT - XH bên trong hệthống cũng như bên ngoài hệ thống
- Vùng có qui mô khác nhau, sự tồn tại của cùng là khách quan có
tính lịch sử (qui mô và số lượng vùng có thể thay đổi theo các giai đoạnphát triển của đất nước)
- Vùng tồn tại do yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân; Tính
khách quan của vùng được cụ thể hóa thông quan những nguyên tắc do conngười tạo ra
- Vùng là cơ sở để hoạch định các chiến lược, các kế hoạch phát triển
theo lãnh thổ cũng như để quản lý các quá trình phát triển KT - XH củamỗi vùng
Trang 31.2 Phân loại vùng
Tùy vào từng tiêu chí, thời gian, mục đích nhất định mà có nhiềucách phân loại vùng khác nhau Tuy nhiên trong thực tế các phân vùngchung nhất và được nhiều người ủng hộ nhất hiện nay đó là cách phân loạivùng theo hai nhóm
1.2.1 Vùng được nhà nước quản lí – xây dựng để phát triển kinh tế
Nhóm vùng này bao gồm:
- Vùng kinh tế:
+Vùng kinh tế tổng hợp: Ví dụ như Việt Nam hiện nay có 3 vùngknh tế tổng hợp đó là: vùng kinh tế phía Bắc, vùng kinh tế miền Trung,vùng kinh tế phía Nam
+Vùng kinh tế ngành: Vùng Nông Nghiệp, vùng Công Nghiệp, vùng
Du Lịch Trong đó được phân chia nhỏ hơn thành vùng kinh tế chuyênngành Như trong nông nghiệp có vùng: Chuyên canh cây công nghiêp,chuyên canh cây lương thưc…
- vùng phân chia hành chính: đó là sự phân chia ranh giới hành chính theotừng đơn vị hành chính như cấp vùng, tiểu vùng, tỉnh, huyện, xã, phường…
VD ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay có:
+ Ngày 30.4.1975: Miền Bắc có 26 tỉnh, miền nam có 44 tỉnh, cảnước có 70 tỉnh
+ Ngày 27.2.1975: Miền Bắc hợp nhất còn 18 tỉnh, miền Nam còn
Trang 41.2.2 Vùng lãnh thổ để trọng điểm đầu tư
Trong nhóm vùng này bao gồm nhiều hình thức tổ chức không gianlãnh thổ mới
- Vùng kinh tế trọng điểm: VD Việt Nam có 4 vùng kinh tế trọngđiểm: Vùng KTTĐ Phía Bắc, Miền Trung, Phía Nam, Vùng KTTĐ ĐồngBằng Sông Cửu Long (tháng 4.2009)
- Đặc khu kinh tế: Chu Hải, Hạ Môn, Sán Đầu, Thâm Quyến, HảiNam, Phố Đông của Trung Quốc
- Khu kinh tế mở: khu kinh tế mở Chu Lai - Việt Nam, (Việt Nam có
15 khu kinh tế ven biển, 28 khu knh tế cửa khẩu)
- Hành lang kinh tế: Hành lang kinh tế Đông Tây dài 1320 km đi qua
4 nước của khu vực Đông Nam Á là Mianma, Thái lan, Lào, Việt Nam
- Tam giác tăng trưởng kinh tế
Trang 5Chương II: VÙNG KINH TẾ
2.1 Khái niệm vùng kinh tế
Phân vùng kinh tế là quá trình nghiên cứu phân chia lãnh thổ đất nước
ra thành một hệ thống các vùng kinh tế, là quá trình vạch ra hoặc tiếp tụcđiều chỉnh ranh giới hợp lý của toàn bộ hệ thống vùng; định hướng chuyênmôn hoá sản xuất cho vùng và xác định cơ cấu kinh tế vùng ứng với các kếhoạch phát triển dài hạn nền kinh tế quốc dân (15-20 năm) Trên cơ sởphân vùng kinh tế, Nhà nước có kế hoạch tổ chức, lãnh đạo và quản lý kinh
tế theo vùng được sát đúng, cũng như để phân bố sản xuất được hợp lý,nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với chi phí sản xuất thấp nhất
Theo P.M Alampiep thì: “ Vùng kinh tế là một bộ phận lãnh thổ toànvẹn của nền kinh tế quốc dân, có những ngành sản xuất chuyên môn hóa
và những mối liên hệ kinh tế nội bộ chặt chẽ, đồng thời luôn luôn gắn chặtvới những phần lãnh thổ khác của đất nước trên cơ sở phân công lao độngtheo lãnh thổ”
Cũng theo P.M.Alampiep và Minh Chi khi bàn về những vấn đềphân vùng kinh tế ở Miền Bắc Việt Nam, 1996, đã phát biểu rằng: “ Mỗivùng phải là một lãnh thổ đặc thù có khả năng hoàn chỉnh về mặt kinh tế.Các đặc điểm tự nhiên, những di sản văn hóa trước đây và dân cư vốn cókinh nghiệm sản xuất ở lãnh thổ đó phải làm cho nó trở thành một khâutrong chiếc xích lớn của nền kinh tế quốc dân Do đó phân vùng có thể tạo
ra khả năng liên kết mật thiết giữa tài nguyên thiên nhiên, kĩ năng của dân
cư, tinh hoa của nền văn hóa quá khứ, có khả năng thực hiện liên hợp sảnxuất hoàn thiện nhất, một mặt giữa các vùng với nhau, thực hành được sựphân công hợp lí, mặt khác tổ chức mỗi vùng thành một hệ thống kinh tếliên hợp lớn, nhờ đó mà đạt đến hiệu quả cao nhất”
Trang 6Theo định nghĩa thì vùng kinh tế vừa chuyên môn hóa vừa pháttriển tổng hợp để trở thành một nền kinh tế hoàn chỉnh cân đối giữa nôngnghiệp và công nghiệp
Theo phân loại vùng kinh tế, vùng kinh tế gồm có vùng kinh tếtổng hợp và vùng kinh tế ngành Phân vùng kinh tế ngành là cơ sở để xâydựng kế hoạch hoá theo ngành và quản lý kinh tế theo ngành, đồng thời còn
là cơ sở để qui hoạch vùng kinh tế tổng hợp theo từng ngành Phân vùngkinh tế tổng hợp dài hạn nền kinh tế quốc dân, hoàn thiện kế hoạch hoátheo lãnh thổ để phân bố lại lực lượng sản xuất hợp lý hơn, đồng thời là cơ
sở để cải tạo mạng lưới địa giới hành chính theo nguyên tắc thống nhất sựphân chia vùng hành chính và vùng kinh tế
Hiện nay trong các tài liệu tồn tại một số quan điểm về vùng do cáchnhìn nhận khác nhau với mục đích và tiêu chí phân vùng không giốngnhau Dù ở quy mô nào, lớn hay nhỏ vùng đều có điểm chung Đó chính làmột lãnh thổ có ranh giới nhất định mà trong đó diễn ra các mói quan hệqua lại giữa các yếu tố tự nhiên và con người
Như vậy, vùng là một hệ thống bao gồm các mối liên hệ giữa các bộphận hợp thành với các dạng liên hệ địa lý, kĩ thuật, kinh tế, xã hội bêntrong cũng như bên ngoài hệ thống
Quy mô của vùng rất khác nhau Sự tồn tại của nó là khách quan và
có tính lịch sử Điều đó có nghĩa là quy mô và số lượng vùng có thể thayđổi tùy theo các giai đoạn phát triển của đất nước Vùng là sản phẩm nhậnthức của con người nhưng lại có tính khách quan Vấn đề là ở chỗ nhậnthức của con người phải phù hợp với quy luật khách quan Các tiêu chí vàphương pháp phân vùng do con người đưa ra phải phản ánh được thực tếkhách quan
Vùng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội Nó
là cơ sở để hoạch định, triển khai, quản lí các chiến lược cũng như các kế
Trang 7hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và theo từng lãnhthổ nói riêng.
Có nhiều loại vùng khác nhau Mỗi loại được phân chia phụ thuộcvào mục đích, hệ thống chỉ tiêu và phương pháp xác định vùng thích hợp
Về đại thể có một số loại vùng chủ yếu sau:
- Với mục tiêu hoạch định chiến lược, xây dựng và quản lý các kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổ, nhiều quốc gia trên thế giới
đã chia đất nước thành các vùng kinh tế (kinh tế - xã hội)
- Dựa vào các yếu tố tự nhiên, kinh tế, kĩ thuật và yêu cầu phát triểncủa mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế, lãnh thổ quốc gia được phân chiathành các vùng kinh tế ngành
- Để phát triển kinh tế -xã hội có trọng điểm, tránh dàn trải nhất làtrong lĩnh vực đầu tư người ta lại chia thành các vùng kinh tế trọng điểm
- Căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội để làm cơ sở choviệc quản lí, điều hành các quá trình phát triển theo lãnh thổ thì có các vùngphát triển, vùng chậm phát triển, vùng suy thoái
- Nhằm mục đích quản lí các hoạt động kinh tế - xã hội theo đơn vịhành chính, đất nước được chia thành các tỉnh cùng với các đơn vị hànhchính cấp thấp hơn
2.2 Những căn cứ để phân vùng kinh tế
Vùng kinh tế hình thành và phát triển là một tất yếu khách quan nên khitiến hành phân vùng kinh tế, cần phải dựa trên những căn cứ khoa học sau:
- Phân vùng kinh tế phải dựa trên nhiệm vụ cơ bản về xây dựng và pháttriển nền kinh tế quốc dân của cả nước do Đảng và Nhà nước đề ra, thểhiện cụ thể bằng những chỉ tiêu nhiệm vụ lớn và dài hạn
- Phân vùng kinh tế phải dựa vào yếu tố tạo vùng:
Vùng kinh tế được hình thành và phát triển trên cơ sở tác động tổnghợp của các yếu tố Những yếu tố tạo vùng quan trọng nhất là:
Trang 8+ Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ (đây là yếu tố tạo vùng cơbản nhất)
+ Yếu tố tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, sự phân bố của các nguồn tàinguyên thiên nhiên, các điều kiện tự nhiên khác (núi cao, sông rộng, sựkhác biệt của các miền tự nhiên…)
+ Yếu tố kinh tế: Các trung tâm công nghiệp, các thành phố lớn, cácđầu mối giao thông vận tải quan trọng, các cơ sở sản xuất nông – lâm - ngưnghiệp rộng lớn
+ Yếu tố tiến bộ khoa học kỹ thuật: Tiến bộ kỹ thuật trong điều tra cơbản, thăm dò địa chất, tìm kiếm tài nguyên, đổi mới qui trình công nghệ sảnxuất
+ Yếu tố lịch sử - xã hội - quốc phòng: Dân cư và sự phân bố dân cư,địa bàn cư trú của các dân tộc ít người, nền văn hóa của các dân tộc và cácđịa giới đã hình thành trong lịch sử, các cơ sở sản xuất cũ, tập quán sảnxuất cổ truyền, đặc điểm chính trị, quân sự và các quan hệ biên giới với cácnước
- Phân vùng kinh tế phải dựa vào kết quả phân vùng địa lý tự nhiêntổng hợp của đất nước
2.3 Các nguyên tắc phân vùng kinh tế
Khi tiến hành phân vùng kinh tế cần phải tuân theo những nguyên tắcsau:
- Phân vùng kinh tế phản ánh trung thực tính chất khách quan của sựhình thành vùng kinh tế; đồng thời phải phục vụ những nhiệm vụ cơ bản vềxây dựng và phát triển kinh tế quốc dân của cả nước
- Phân vùng kinh tế phải dự đoán và phác hoạ viễn cảnh tương lai củavùng kinh tế, kết hợp tính viễn cảnh với tính lịch sử
- Phân vùng kinh tế phải thể hiện rõ chức năng cơ bản của nó trong nền
Trang 9- Vùng kinh tế phải đảm bảo cho các mối liên hệ nội tại của vùng phátsinh một cách hợp lý, để cho sự phát triển của vùng được nhịp nhàng cânđối như một tổng thể thống nhất, có một tiềm lực kinh tế mạnh
- Phân vùng kinh tế phải xoá bỏ những sự không thống nhất giữa phânvùng kinh tế và phân chia địa giới hành chính
- Phân vùng kinh tế phải bảo đảm quyền lợi của các dân tộc trong cộngđồng quốc gia có nhiều dân tộc
2.4 Các loại vùng kinh tế
Căn cứ vào qui mô, chức năng, mức độ phát triển chuyên môn hoá vàphát triển tổng hợp Hệ thống các vùng kinh tế trong một nước được phânloại như sau:
2.4.1 Vùng kinh tế (kinh tế - xã hội)
Vùng kinh tế - xã hội là loại vùng tương đối phổ biến ở nhiều nướctrên thế giới Đóng góp to lớn trong việc nghiên cứu lĩnh vực này phải kểđến các nhà địa lí Xô viết
Vùng kinh tế là đơn vị lãnh thổ có vị trí và ranh giới xác định gồmcác yếu tố tự nhiên, dân cư, cơ sở vật chất kĩ thuật với các hoạt động kinh
tế - xã hội diễn ra dưới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ và sự tồntại của các dòng vật chất trong phạm vi nội vùng và liên vùng Nó có thểđược coi là một hệ thống kinh tế - xã hội theo lãnh thổ
Vùng kinh tế là một thực thể khách quan Vì vậy phương pháp luận
và phương pháp phân vùng cũng như việc xây dựng hệ thống phân vị, chỉtiêu phải có cơ sở khoa học và phản ánh được thực tế khách quan trong mỗigiai đoạn phát triển của đất nước Vùng kinh tế có tính lịch sử bởi vì vòngđòi của mỗi phương án phân vùng cũng chỉ tồn tại trong khoảng 10 -15năm do sự thay đổi của các yếu tố cấu thành
Quy mô của vùng rất khác nhau do sự khác biệt của các yếu tố tạovùng Ở Liên Xô trước đây và cả ở nước ta (nửa đầu thập niên 80 của thế kỉ
Trang 10XX), vùng kinh tế được gọi là vùng kinh tế cơ bản và dưới vùng này là cáccấp phân vị thấp hơn Giữa các quốc gia khác nhau các vùng có sự chênhlệch rất lớn về diện tích lãnh thổ.
Khác với một số loại vùng, việc phân vùng kinh tế phải đảm bảo saocho mỗi một điểm lãnh thổ của đất nước đều phải nằm trong một vùng cụthể Trình độ phát triển của vùng được thể hiện thông qua cơ cấu kinh tế.Sợi chỉ đỏ xuyên suốt khái niệm vùng kinh tế là chuyên môn hóa và pháttriển tổng hợp Chuyên môn hóa chính là đặc trưng của vùng nhằm sử dụng
có hiệu quả tính trội về nguồn lực để tạo ra các ngành chuyên môn hóa.Còn việc phát triển tổng hợp với mục đích khai thác tối đa mọi nguồn lựcvốn có đẻ nền kinh tế của vùng có thể hoạt động bình thường
Về mặt lãnh thổ, mỗi vùng đều có khu nhân với tư cách như là trungtâm tạo vùng Trung tâm càng lớn thì sức hút càng mạnh và phạm vi lãnhthổ của vùng càng rộng
Vùng kinh tế hình thành là do kết quả của quá trình phân công laođộng theo lãnh thổ Nó được coi là công cụ không thể thiếu trong việchoạch định phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia, là cơ sở để xây dựng,triển khai, quản lí các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theocác vùng lãnh thổ
2.4.1.1 Tính chất khách quan của vùng kinh tế
Khi LLSX XH phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của phân côngLĐXH Phân công LĐXH được biểu hiện ở 2 hình thức cơ bản là phân
công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ Phân công
lao động theo lãnh thổ dẫn tới hình thành các không gian kinh tế đặc thù Các vùng kinh tế
-Vùng kinh tế (cũng giống như bất kỳ thực thể kinh tế nào đó) hìnhthành, hoạt động & phát triển đều có tính qui luật Con người (có thể) &
Trang 11cần phải nhận thức được những qui luật vận động của nó, để trên cơ sở đó
mà cải tạo & xây dựng vùng phát triển một cách hướng đích
Vùng là sản phẩm của quá trình phát triển phân công lao động theolãnh thổ, vùng kinh tế hình thành & hoạt động phù hợp với với những đặctrưng cơ bản của một hình thái KT-XH nhất định Nhưng cần hiểu rằng,không phải ở mọi hình thái KT-XH trong lịch sử đều tồn tại vùng kinh tế
Cụ thể:
- Thời kỳ trước Tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế tự nhiên là chủ yếu,
LLSX còn kém phát triển, PCLĐXH theo lãnh thổ còn thô sơ, chưa cónhững tiền đề vật chất cần thiết cho việc hình thành vùng kinh tế
- Đến thời kỳ TBCN, sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển mang
tính chất phổ biến Thời kỳ công trường thủ công là thời kỳ bắt đầu pháttriển mạnh nền sản xuất hàng hóa, nhiều ngành mới xuất hiện, số lượng cácngành riêng biệt & độc lập tăng lên, thị trường được mở rộng đã hình thànhcác vùng SX CMH' thúc đẩy mạnh mẽ sự PCLĐ theo lãnh thổ Côngtrường thủ công không chỉ tạo ra từng khu vực rộng lớn mà còn CMH'
những khu vực đó nữa (sự phân công theo hàng hóa) Như vậy, đến thời kỳ
công trường thủ công thì vùng kinh tế mới được hình thành Chủ nghĩa tư
bản càng phát triển càng thúc đẩy phân công lao động theo lãnh thổ pháttriển, mỗi vùng nhất định chuyên sản xuất một bộ phận của sản phẩm được
hình thành, và ta thấy "có mối quan hệ chặt chẽ giữa phân công (nói chung)
và phân công (khu vực); Tức là một khu vực nhất định chuyên chế tạo một sản phẩm, đôi khi chuyên làm một loại sản phẩm, thậm chí làm một bộ phận nào đó của sản phẩm" Chính PTSX Tư bản chủ nghĩa đã phá vỡ tính chất
cô lập nền kinh tế tự nhiên của chế độ phong kiến, làm cho các mối liên hệkinh tế giữa các thị trường dân tộc phát triển, thúc đẩy nhanh chóng thịtrường thương mại quốc tế cùng với sự bành trướng của thị trường thế giới.Như vậy, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những mối liên hệ có ý nghĩa thế giới
Trang 12& tạo ra sự phân công lao động quốc tế rất nhiều vẻ, sự phân công lao độngquốc tế này cũng tác động mạnh đến sự phân công lao động theo lãnh thổ ởtrong từng khu vực và ở từng nước tư bản.
- Sang hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa, lực lượng sản xuất tiếp tục
được phát triển, phân công lao động (nói chung) & phân công lao độngtheo lãnh thổ (nói riêng) càng trở nên sâu sắc Vùng kinh tế được hìnhthành nhưng khác tư bản chủ nghĩa ở chỗ là dựa trên cơ sở nhận thức tínhqui luật khách quan của sự hình thành & phát triển vùng kinh tế và trên cơ
sở vận dụng một cách sáng tạo các qui luật kinh tế vào hoàn cảnh cụ thể
của đất nước mình (Tư bản chủ nghĩa, vùng kinh tế được hình thành dưới
áp lực của tự do cạnh tranh & lợi nhuận) Nhà nước xã hội chủ nghĩa tác
động có ý thức vào quá trình hình thành & phát triển vùng kinh tế, phục vụcho các mục tiêu phát triển KT-XH của đất nước; Nhà nước XHCN khôngchỉ có khả năng xây dựng những vùng kinh tế mới, mà còn có khả năng cảitạo những vùng kinh tế cũ một cách khoa học phù hợp với chiến lược pháttriển quốc gia
2.4.1.2 Các yếu tố tạo vùng kinh tế.
• Phân công lao động theo lãnh thổ (PCLĐ): Phân công lao động
theo lãnh thổ vừa là cơ sở - vừa là động lực của sự hình thành vùng kinh tế.Phân công lao động theo lãnh thổ được biểu hiện bằng sự tập trung các loạisản xuất riêng biệt trên một lãnh thổ nhất định; bằng việc CMH' sản xuấtcủa dân cư dựa vào những điều kiện & đặc điểm sản xuất đặc thù của lãnhthổ đó; Mỗi phạm vi lãnh thổ có chức năng sản xuất đặc thù - đó là mộtvùng kinh tế; Các vùng kinh tế thông qua mối liên hệ kinh tế - liên kết vớinhau trong một hệ thống phân công lao động theo lãnh thổ thống nhất Nhưvậy, vùng kinh tế là sự biểu hiện cụ thể của phân công lao động xã hội theolãnh thổ & sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ là yếu tố tạo vùng
cơ bản nhất
Trang 13• Yếu tố tự nhiên: Môi trường tự nhiên là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp
- thường xuyên - vĩnh viễn tới quá trình phát triển & phân bố sản xuất; từ
đó ảnh hưởng tới phương hướng - qui mô và cơ cấu sản xuất của vùng kinh
tế Những yếu tố tự nhiên ảnh hưởng quan trọng nhất là:
- Nguồn tài nguyên khoáng sản & năng lượng Mỗi loại tài nguyên
khoáng sản có thể đóng nhiều vai trò khác nhau & có tác động đến sự hìnhthành & phát triển vùng kinh tế về nhiều mặt (Ví dụ, than đá, dầu mỏ, khí
tự nhiên, vừa là nhiên liệu, nhưng nó cũng là nguồn nguyên liệu để sảnxuất ra hàng trăm loại sản phẩm hóa chất khác nhau) Ảnh hưởng của tàinguyên khoáng sản đối với việc hình thành vùng kinh tế ở các mặt trữlượng, chất lượng, sự phân bố, điều kiện khai thác, mức độ sử dụng Việcđánh giá sự ảnh hưởng của nó cần xem xét dưới góc độ tổng hợp, tìm raảnh hưởng "trội" để có thể xác định khả năng CMH' sản xuất của vùng
Các nguồn tài nguyên rừng, hải sản & nông sản cũng ảnh hưởng quan trọng
đến sự hình thành & phát triển vùng kinh tế Cụ thể, các vùng rừng có trữlượng gỗ lớn có khả năng hình thành & phát triển các ngành sản xuất CMH'gắn với tài nguyên rừng Các nguồn cá biển, cá nước ngọt, các đặc hải sảncho phép hình thành các vùng CMH' về CB' - khai thác - nuôi trồng cácloại thủy sản đặc biệt (tôm, cua, bào ngư, trai ngọc,.v.v.)
- Đất đai Vùng kinh tế là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia; Khái
niệm vùng gắn liền với khái niệm phạm vi nhất định của diện tích đất đai;Đất đai là TLSX cơ bản trong nông nghiệp, có vai trò quan trọng trong sảnxuất nông nghiệp & hình thành các vùng chuyên canh; Yếu tố tạo vùngquan trọng của đất đai là thổ nhưỡng, vì vậy cần đánh giá ý nghĩa kinh tếcủa thổ nhưỡng để tạo ra các vùng chuyên canh phù hợp; Tác dụng tạovùng của thổ nhưỡng thể hiện ở chất đất, ở tính chất liền dải đối với việcphát triển một loại cây trồng nào đó Như vậy khi xem xét yếu tố tạo vùng
Trang 14của đất đai, cần xem xét cả 2 mặt (thổ nhưỡng & diện tích), ngoài ra cònxem xét thêm về địa hình, khả năng tưới tiêu
- Khí hậu Để tạo vùng, thì khí hậu đóng vai trò quan trọng Ảnh
hưởng của khí hậu đối với SXNN là việc bố trí các loại cây trồng - giốngvật nuôi phù hợp Khí hậu - thổ nhưỡng là những yếu tố trội tác động mạnh
mẽ đến việc hình thành các vùng CMH' sản xuất nông nghiệp Nước ta, do
vị trí & hình dáng lãnh thổ kéo dài theo nhiều vĩ độ, nằm trong vùng nhiệtđới - gió mùa, địa hình phân hóa đa dạng Vì vậy, ng/cứu về đất đai & khíhậu cần được đặc biệt chú ý trong quá trình hình thành vùng kinh tế
• Yếu tố kinh tế:
- Trung tâm công nghiệp (TTCN), thành phố lớn Thông thường, các
thành phố lớn hay TTCN đều tạo ra quanh mình một vùng ảnh hưởng,trong đó mọi sinh hoạt kinh tế đều do thành phố, TTCN chi phối Vì vậy,khi nghiên cứu vùng kinh tế phải xuất phát từ thành phố & TTCN lớn đểxác định phạm vi ảnh hưởng không gian của chúng; Tùy theo qui mô vàloại hình thành phố & TTCN mà phạm vi ảnh hưởng khác nhau, nhữngthành phố & TTCN lớn thường là hạt nhân của vùng kinh tế
- Các cơ sở sản xuất nông - lâm - ngư quan trọng (SX N - L - N) Các
cơ sở SX N-L-N thường sản xuất ra nhiều loại sản phẩm, khối lượng sảnphẩm lớn và có mối quan hệ (cả bên trong & bên ngoài) phức tạp đều cótác dụng tạo vùng Ví dụ, hệ thống các nông trường có qui mô hoạt độngrộng lớn, có thể phát triển nhiều ngành CMH', tạo ra một phạm vi ảnhhưởng xung quanh mình Các vùng CMH' về cây công nghiệp, hay vùngchuyên canh lúa đều là những hạt nhân tạo vùng
- Quan hệ kinh tế đối ngoại Việc mở rộng quan hệ kinh tế - thương
mại với nước ngoài, hay nói một cách khác là việc đẩy mạnh xuất - nhậpkhẩu cũng có ảnh hưởng đến sự hình thành, qui mô & mức độ CMH' của
Trang 15triển các loại nông sản nhiệt đới để xuất khẩu đổi lấy máy móc thiết bị phục
vụ cho sự nghiệp CNH' & HĐH' đất nước Điều này đòi hỏi nước ta phảinhanh chóng xây dựng các vùng CMH' rộng lớn & ổn định về sản xuất cácnông phẩm nhiệt đới
• Yếu tố tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN): Tiến bộ của KH
-CN ảnh hưởng tới việc hình thành vùng kinh tế ở nhiều mặt Ví dụ, ứngdụng tiến bộ của KH - CN vào việc thăm dò, tìm kiếm, xác định trữ lượng,chất lượng tài nguyên khoáng sản, trên cơ sở đó tạo điều kiện cho việc hìnhthành nhiều KCN mới Tiến bộ của KH - CN còn cho phép cải tạo các vùnghoang hóa, đầm lầy, thành các vùng SX CMH' quan trọng
• Yếu tố dân cư - dân tộc: Yếu tố dân cư thể hiện ở nguồn LĐ (lao
động kĩ thuật) có vai trò quan trọng trong việc hình thành vùng kinh tế.Thường là ở những nơi có LLLĐ đông đảo, trình độ CMKT cao đều là nơithuận lợi cho việc hình thành & phát triển nhiều ngành sản xuất CMH' cóqui trình kỹ thuật hiện đại Yếu tố dân tộc thể hiện trong tập quán SX vàtập quán tiêu dùng cũng tạo ra những ngành sản xuất CMH' khác nhau vớinhững sản phẩm độc đáo Tập quan tiêu dùng kích thích sự phát triển cácngành nghề với những sản phẩm khác nhau phù hợp với yêu cầu tiêu dùngcủa nhân dân làm cho cơ cấu sản xuất của vùng phong phú, đa dạng, tậndụng hợp lý tiềm năng mọi mặt của vùng
• Yếu tố lịch sử - văn hóa: Vùng mà chúng ta nghiên cứu là kết quả
của một quá trình phát triển lâu dài về lịch sử - văn hóa – xã hội Vì vậy,khi nghiên cứu quá trình hình thành vùng phải có quan điểm lịch sử đúngđắn Những yếu tố tạo vùng đều có mối quan hệ tác động qua lại với nhautrong một thể thống nhất, việc nghiên cứu quá trình hình thành & phát triểnvùng kinh tế cần phải phân tích tỉ mỉ, sâu sắc từng yếu tố; mối quan hệ giữachúng với nhau (cả trong trạng thái tĩnh và động)
2.4.1.3 Nội dung của vùng kinh tế
Trang 16Vùng kinh tế là một bộ phận kinh tế lãnh thổ đặc thù của nền KTQD
có CMH' sản xuất kết hợp chặt chẽ với phát triển tổng hợp Như vậy, có thểhiểu vùng kinh tế bào hàm 2 nội dung là CMH' & phát triển tổng hợp
• Chuyên môn hóa sản xuất của vùng kinh tế (CMH' SX)
Trước hết, vùng kinh tế phải là một vùng sản xuất CMH' Sự CMH'
nói lên chức năng sản xuất cơ bản, quyết định phương hướng sản xuất chủyếu của vùng trong một giai đoạn nhất định Mặt khác, CMH còn nói lênvai trò, vị trí của vùng trong nền KTQD, xác định nhiệm vụ cơ bản màvùng phải đảm nhận đối với cả nước (hay với nhiều vùng) trong một thờigian tương đối dài
CMH' sản xuất của vùng kinh tế là dựa vào những ưu thế của vùng để phát triển một số ngành có ý nghĩa đối với cả nước (hoặc đối với thị trường
thế giới) Những ưu thế của vùng là những điều kiện đặc thù về TN KT dân cư - lịch sử - XH - VH - KH - KT & CN Các vùng kinh tế khác nhaukhông chỉ về điều kiện tự nhiên mà còn khác nhau về trình độ phát triểncủa LLSX, về mật độ dân số, về nguồn lao động (đặc biệt là lao động có kĩthuật), về cơ sở kinh tế, về CSVC - KT, khoa học được tạo ra trong quátrình lịch sử Sự CMH' sản xuất của vùng kinh tế chính là sự lợi dụngnhững điều kiện đặc thù đó, nhằm tiết kiệm & tăng NS LĐXH, nâng caohiệu quả vốn đầu tư vào sản xuất - kinh doanh, tạo ra khối lượng hàng hóatốt - rẻ - có sức cạnh tranh, thỏa mãn nhu cầu của vùng, đáp ứng nhu cầunhất định của nền KTQD, tham gia tích cực vào hoạt động KT-XH giữacác vùng, góp phần đẩy nhanh quá trình PCLĐXH theo lãnh thổ trên phạm
-vi cả nước
Chuyên môn hoá sản xuất là dựa vào những điều kiện thuận lợi củavùng về tự nhiên-kinh tế, xã hội-lịch sử để sản xuất ra nhiều sản phẩm hànghoá với chất lượng tốt, giá thành hạ, cung cấp cho nhu cầu của nhiều vùngkhác, cho nhu cầu cả nước và xuất khẩu
Trang 17Chuyên môn hoá sản xuất của vùng kinh tế thể hiện nét đặc trưng, độcđáo của vùng, vai trò, nhiệm vụ của vùng với các vùng khác, cũng như đốivới nền kinh tế quốc dân trong một giai đoạn lịch sử nhất định
Những ngành chuyên môn hoá sản xuất trong vùng được hình thành vàphát triển dựa trên những điều kiện thuận lợi của vùng Vì vậy nhữngngành này thường là những ngành cho hiệu quả kinh tế cao nhất, quyếtđịnh phương hướng sản xuất chính của vùng và thường là những ngànhđóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế vùng
Trong thực tế, mỗi vùng kinh tế thường có nhiều ngành chuyên mônhoá sản xuất khác nhau (đặc biệt là vùng kinh tế lớn) Vì vậy cần phải xácđịnh được vai trò vị trí của từng ngành chuyên môn hoá sản xuất trongvùng, cũng như vai trò vị trí của từng cơ sở chuyên môn hoá sản xuất trongngành để có phương hướng đầu tư phát triển hợp lý Để làm được điều đó,người ta thường căn cứ vào một hệ thống nhiều chỉ tiêu để phân tích trong
đó những chỉ tiêu được sử dụng phổ biến là:
+ Tỷ trọng giá trị sản phẩm hàng hoá của một ngành sản xuất chuyênmôn hoá nào đó trong vùng so với toàn bộ giá trị sản phẩm của ngành ấyđược sản xuất ra ở trong vùng trong một năm:
S’IV S’IV: giá trị sản phẩm hàng hoá ngành I trong vùng
x 100% SIV: giá trị sản phẩm ngành I trong vùng
SIV
+ Tỷ trọng giá trị sản phẩm hàng hoá của ngành sản xuất chuyên mônhoá nào đó trong vùng so với toàn bộ giá trị sản phẩm hàng hoá của ngành
đó được sản xuất ra trên cả nước trong một năm:
S’IV S’IV: giá trị sản phẩm hàng hoá ngành I trong vùng
x 100% SIN: giá trị sản phẩm ngành I trong cả nước
Trang 18SIN
+ Tỷ trọng giá trị sản phẩm của một ngành sản xuất chuyên môn hoánào đó trong vùng so với toàn bộ giá trị sản phẩm của ngành đó được sảnxuất ra trên cả nước trong một năm (hoặc tỷ số đó về vốn đầu tư hay laođộng):
SIV SIV: giá trị sản phẩm ngành I trong vùng
x 100% SIN: giá trị sản phẩm ngành I trong cả nướcSIV
+ Tỷ trọng giá trị sản phẩm của ngành sản xuất chuyên môn hoá nào đótrong vùng so với tổng giá trị sản xuất của toàn vùng:
SIV SIV: giá trị sản phẩm ngành I trong vùng
x 100% GOV: tổng giá trị sản xuất của toàn vùng GOV
Kết hợp các chỉ tiêu trên có thể xác định được vai trò vị trí các ngànhsản xuất chuyên môn hoá trong vùng
Tiêu chuẩn quan trọng để xác định một ngành SX CMH' là khối lượng chất lượng sản phẩm hàng hóa xuất ra ngoài vùng
-• Phát triển tổng hợp nền kinh tế của vùng
Phát triển tổng hợp của vùng kinh tế là phát triển tất cả các ngành sảnxuất có liên quan, ràng buộc với nhau; khai thác, sử dụng đầy đủ mọi tiềmnăng sản xuất trong vùng để phát triển toàn diện, cân đối, hợp lý nền kinh
tế vùng trong sự phối hợp tốt nhất giữa các ngành chuyên môn hoá sảnxuất, các ngành bổ trợ chuyên môn hóa sản xuất và các ngành sản xuất phụcủa vùng, tạo cho vùng một cơ cấu sản xuất hợp lý nhất
Các ngành chuyên môn hoá của vùng là những ngành sản xuất đóng vaitrò chủ đạo trong nền kinh tế của vùng, quyết định phương hướng phát
Trang 19triển sản xuất chính của vùng và là những ngành cho hiệu quả kinh tế caonhất
Các ngành bổ trợ chuyên môn hoá sản xuất của vùng là những ngànhtrực tiếp tiêu thụ sản phẩm, hoặc sản xuất cung cấp nguyên liệu, nănglượng, vật tư, thiết bị cơ bản cho ngành chuyên môn hoá, hoặc có nhữngmối liên hệ chặt chẽ trong qui trình công nghệ sản xuất với ngành chuyênmôn hoá
Các ngành sản xuất phụ của vùng là những ngành sử dụng các phếphẩm, phụ phẩm của các ngành chuyên môn hoá để phát triển sản xuất,hoặc sử dụng những nguồn tài nguyên nhỏ và phân tán ở trong vùng đểphát triển sản xuất, chủ yếu phục vụ nhu cầu nội bộ của vùng hoặc nhữngngành sản xuất chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựngthông thường phục vụ nội bộ của vùng
Phát triển tổng hợp của vùng kinh tế là phù hợp với tiến bộ khoa họckinh tế, tạo thuận lợi để ứng dụng rộng rãi các qui trình công nghệ sản xuấttiên tiến, đảm bảo cho vùng đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất
Phát triển tổng hợp là bản chất của vùng kinh tế theo định hướngXHCN, nó xác định cơ cấu kinh tế hợp lý nhất của vùng & phản ánh các
mối quan hệ kinh tế trong nội vùng Phát triển tổng hợp nền kinh tế của
vùng tức là mỗi vùng kinh tế phải là một tổng thể kinh tế đa ngành - đa lĩnh vực phát triển mạnh mẽ - cân đối, hỗ trợ nhau trong sản xuất - kinh doanh, trong khai thác - sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên - lao động; đảm bảo cho vùng có thể tự túc được phần lớn nhu cầu của mình; mặt khác có thể làm tốt trách nhiệm đã được phân công đối với nền kinh tế của cả nước.
Phát triển tổng hợp nền kinh tế của vùng là sự phát triển cân đối - tối
ưu của các ngành kinh tế có trong vùng; Phải đảm bảo cho hướng CMH'
của vùng phát triển thuận lợi nhất, đạt hiệu quả cao nhất CMH' sản xuất
kết hợp với phát triển tổng hợp chính là thực hiện sự kết hợp giữa lợi ích
Trang 20của vùng với lợi ích của cả nước (đây cũng là tính ưu việt của nền kinh tế
vận hành theo cơ chế thị trường - định hướng XHCN) Muốn phát triển
tổng hợp nền kinh tế của vùng, cần xác định rõ số lượng ngành kinh tế & cơ
cấu kinh tế của vùng (số lượng ngành & cơ cấu kinh tế thường rất khácnhau tùy thuộc vào sự CMH' & trình độ phát triển của LLSX) Bên cạnhcác ngành sản xuất CMH', cần phát triển hợp lý một tổng hợp thể cácngành kinh tế khác; Mục đích là tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu củavùng; phát triển cân đối các ngành trong nội vùng nhằm hợp lý hóa các mốiliên hệ (trong & ngoài) vùng ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất
Lưu ý, phát triển tổng hợp của vùng kinh tế không phải là sự phát
triển của một tập hợp đơn giản các ngành kinh tế khác nhau chỉ có liên hệvới nhau về mặt cùng chung một lãnh thổ phân bố; mà là một sự kết hợp xãhội của sản xuất trong phạm vi một vùng kinh tế Giữa các ngành của tổnghợp thể kinh tế vùng có sự phụ thuộc lẫn nhau theo một tỉ lệ nhất định,khiến chúng phát triển một cách cân đối, nhịp nhàng theo một kế hoạchthống nhất Tất nhiên, mối liên hệ đó không phải hình thành ngay trongcùng một lúc, mà nó hình thành dần dần theo sự phát triển của LLSX củavùng Cho nên, việc xác định cơ cấu kinh tế của vùng theo nguyên tắctương lai là phải dự báo được những khả năng biến động để tìm ra các giảipháp đảm bảo cho sự phát triển tổng hợp - hợp lý của vùng CMH' sản xuấtkết hợp chặt chẽ với phát triển tổng hợp nền kinh tế của vùng tạo thànhtổng hợp thể kinh tế của vùng
Tổng hợp thể kinh tế vùng bao gồm 3 nhóm ngành chủ yếu sau:
• Các ngành SX CMH
Các ngành sản xuất CMH' của vùng là những ngành đóng vai trò chủ
yếu trong nền kinh tế vùng; quyết định phương hướng sản xuất chủ yếu; quyết định vị trí của vùng trong sự PCLĐ theo lãnh thổ (giữa vùng & cả nước); quyết định việc hình thành tổng hợp thể kinh tế của vùng & việc tổ
Trang 21chức - quản lý kinh tế của vùng Những ngành này hình thành & phát triển
trên cơ sở các điều kiện thuận lợi nhất của vùng & tạo ra sản phẩm hànghóa có ý nghĩa quốc gia & quốc tế; Sản phẩm hàng hóa phải có chất lượngcao, giá thành hạ, đủ sức cạnh tranh; thỏa mãn nhu cầu cả nước hay củanhiều vùng khác, là ngành chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong cơ cấu kinh tếcủa vùng (hoặc cả nước)
• Các ngành sản xuất bổ trợ
Là những ngành chủ yếu phát triển để trực tiếp phục vụ cho các ngành sản xuất CMH' vùng, những ngành này có mối liên hệ, gắn bó với các ngành sản xuất CMH' Có thể nói, không có các ngành bổ trợ thì các ngành
sản xuất CMH' không thể phát triển được; nhưng sự phát triển của cácngành bổ trợ lại do các ngành sản xuất CMH' vùng qui định, các ngành nàyphát sinh, tồn tại & phát triển tùy thuộc vào hướng sản xuất CMH' củavùng
Các ngành sản xuất bổ trợ thường bao gồm: Các ngành khai thác và
làm giàu nguyên liệu cung cấp cho các ngành sản xuất CMH'; Các ngànhcung cấp thiết bị, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng cho các ngành sản xuấtCMH'; Các ngành có liên hệ chặt chẽ với các ngành sản xuất CMH' về quitrình công nghệ
• Các ngành sản xuất phụ
Bao gồm những ngành không có liên quan trực tiếp với các ngành
sản xuất CMH' vùng, nhưng lại rất cần thiết cho sự phát triển vùng, vìnhững ngành này có thể đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu sản xuất cótính chất địa phương dựa trên nguồn nguyên liệu nhỏ có tại địa phương.Các ngành này thường bao gồm: Các ngành sử dụng các phế liệu & phếphẩm của ngành sản xuất CMH'; Các cơ sở sản xuất VLXD, các cơ sở CB'
& sửa chữa máy móc dùng trong địa phương
Trang 22Ở nước ta, việc nghiên cứu về vùng và phân vùng kinh tế được triểnkhai từ những năm 60 của thế kỉ XX Trải qua hơn 4 thập kỉ với nhiều biếnđộng về mặt kinh tế - xã hội, một số phương án về vùng đã được hìnhthành Tuy nhiên vấn đề này đặc biệt được quan tâm từ sau khi đất nướcthống nhất nhất là từ những năm 80 trở lại đây.
Trong giai đoạn 1986 – 2000 hệ thống 8 vùng đã ra đời và đi vàothực tiễn của đời sống đất nước Đó là các vùng: Đông Bắc, Tây Bắc, ĐồngBằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên,Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long
Từ sau năm 2001, Nhà nước đưa ra phương án 6 vùng và gắn với cácvùng kinh tế trọng điểm được hình thành từ đầu thập niên 90 của thế kỉ
XX Các vùng đó là: Trung du miền núi phía Bắc (gồm 14 tỉnh), Đồngbằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (12 tỉnh, thành phố),Bắc Trung Bộ - duyên hải miền Trung và vùng kinh tế trọng điểm miềnTrung (14 tỉnh, thành phố), Tây Nguyên (5 tỉnh), Đông Nam Bộ và vùngkinh tế trọng điểm phía Nam (7 tỉnh, thành phố), Đồng bằng sông CửuLong (12 tỉnh, thành phố)
2.4.2 Vùng (kinh tế) ngành
Nếu như vùng kinh tế bao gồm tất cả các hoạt động của nền kinh tếthì vùng ngành chỉ liên quan đến một ngành cụ thể Vì thế loại vùng thứnhất còn được gọi là vùng kinh tế tổng hợp và loại vùng thứ hai là vùngkinh tế ngành
Cũng như vùng kinh tế tổng hợp, sự ra đời của vùng ngành liên quanchặt chẽ với quá trình phân công lao động theo lãnh thổ Nền kinh tế củamột quốc gia, tất nhiên gồm rất nhiều ngành và chúng được tập hợp thànhcác khu vực: khu vực 1 (nông – lâm – ngư nghiệp), khu vực 2 (công nghiệp– xây dựng), khu vực 3(dịch vụ) Để xây dựng, triển khai và quản lí chiếnlược phát triển một ngành nào đó theo lãnh thổ, căn cứ vào nguồn lực và
Trang 23yêu cầu phát triển của ngành người ta đã phân chia lãnh thổ của mọt quốcgia thành các vùng ngành.
Ở nước ta nhiều ngành đã tiến hành phân vùng:
- Ngay sau khi đất nước tái thống nhất một chương trình phân vùng,quy hoạch đã được triển khai trên phạm vi cả nước với quy mô lớn theoquan điểm tổng hợp, kết hợp việc phát triển ngành với không gian lãnh thổ.Kết quả là đã xác định được 7 vùng nông nghiệp trên cơ sở 38 tỉnh, thànhphố, đặc khu của thời kì đó Các vùng cụ thể là: Trung du và miền núi Bắc
Bộ, Đồng bằng sông Hồng, khu bốn cũ, Duyên hải Nam Trung Bộ, ĐôngNam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long
- Trong quy hoạch phát triển công nghiệp Việt Nam cho đến năm
2010 Bộ Công nghiệp đã chia nước ta thành 6 vùng công nghiệp: Vùng 1gồm các tỉnh trung du miền núi phía Bắc trừ Quảng Ninh, vùng 2 có cáctỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tĩnh, vùng 3 là các tỉnh từ Quảng Bình đến Ninh Thuận, vùng 4 gồmcác tỉnh Tây Nguyên trừ Lâm Đồng, vùng 5 có các tỉnh Đông Nam Bộ vàBình Thuận, Lâm Đồng, vùng 6 là các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
- Trong lĩnh vực du lịch, Tổng cục du lịch đã xây dựng phương án 3vùng du lịch và được thủ tướng chính phủ phê duyệt năm 1995 Đó là vùng
du lịch Bắc Bộ, vùng du lịch Bắc Trung Bộ, vùng du lịch Nam Trung Bộ
và Nam Bộ
Mỗi ngành kinh tế lại là tập hợp của nhiều phân ngành Thí dụ trongnông nghiệp có trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp Trong trồng trọtlại có trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả…
Vì vậy bên cạnh vùng ngành còn tồn tại loại vùng chỉ dành cho mộtphân ngành (hay một hoạt động sản xuất) nào đó Giữa hai loại vùng này
có sự khác biệt nhau về bản chất và hình thức Về bản chất loại vùng thứnhất bao trùm tất cả các phân ngành với các mối quan hệ nội vùng và liênvùng của chúng, còn loại vùng thứ hai chỉ có một phân ngành Về hình
Trang 24thức, loại vùng thứ nhất có tính liên tục và trải ra trên phạm vi lãnh thổ cảnước, còn loại vùng thứ hai dưới dạng da báo nghĩa là các vùng có thể táchrời nhau về mặt không gian Trong ngành trồng trọt loại vùng này được gọi
là vùng chuyên canh Chẳng hạn ở nước ta có các vùng chuyên canh hàngđầu về lúa (Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long), về câycông nghiệp (Đông Nam Bộ, Trung du miền núi phía Bắc)…
2.4.3.Vùng kinh tế trọng điểm
Về lí thuyết, tất cả các khu vực trong một quốc gia không thể pháttriển đồng đều như nhau do có sự khác nhau về nguồn lực Khu vực nàyphát triển nhanh hơn nhờ các lợi thế so sánh và ngược lại khu vực kia pháttriển chậm hơn do không có các lợi thế đó Việc phát triển các khu vực cónhiều lợi thế giống như chiếc đầu tàu kéo theo các khu vực khác cùng pháttriển với các mối quan hệ của chúng trong một thể thống nhất
Như vậy, vùng kinh tế trọng điểm là vùng hội tụ đầy đủ các điềukiện để phát triển và có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế của cả nướcvới một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Tập trung các điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển, tập trungtiềm lực kinh tế có vị trí hấp dẫn đầu tư
+ Có tỉ trọng lớn trong GDP của cả nước có thể tạo ra tốc độ tăngtrưởng nhanh
+ Có khả năng tích lũy đầu tư để tái sản xuất mở rộng không chỉ chomình mà còn phải hỗ trợ cho các vùng khác
+ Có khả năng thu hút các ngành về công nghiệp, dịch vụ để từ đâylan tỏa ra các vùng khác
Vùng kinh tế trọng điểm có tính lịch sử Số lượng và phạm vi lãnhthổ của nó có thể thay đổi tùy theo yêu cầu về sự phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước
Ở nước ta trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổ
đã hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm vào đầu thập niên 90 của thế kỉ
Trang 25XX và được mở rộng vào những năm đầu của thế kỉ XXI Các vùng kinh tếtrọng điểm bao gồm:
- Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc với tam giác tăng trưởng kinh tế
Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh gồm 8 tỉnh, thành phố: Hà Nội, HảiPhòng, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tâycũ
- Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm 5 tỉnh, thành phố: ThừaThiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định
- Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với tam giác tăng trưởng kinh tế
TP Hồ Chí Minh – Biên Hòa – Vũng Tàu gồm 7 tỉnh, thành phố: TP HồChí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, BìnhPhước, Long An
Ngoài ba vùng trên các lãnh thổ kém phát triển (khoảng 2000 xã khókhăn) cũng được coi là vùng trọng điểm và Nhà nước tập trung đầu tư
Trang 26Chương III: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VÙNG
KINH TẾ Ở VIỆT NAM
3.1 Hệ thống vùng của nước ta qua các giai đoạn phát triển
3.1.1 Những nhận biết ban đầu về vùng KT đến đầu những năm 60 (thế
Giữa TK 17, Lê Quí Đôn đã nghiên cứu trọn vẹn một địa phương
(Thuận Hóa, Q.Nam)
Trải qua các triều đại phong kiến, cũng có nhiều công trình chuyên
khảo chú ý đến lĩnh vực nghiên cứu địa phương như: " Lịch triều hiến
chương; Đại Nam nhất thống chí, " Xét dưới góc độ địa lý hành chính,
mỗi triều đại phân chia lãnh thổ ra thành những đơn vị nhiều cấp khác nhau
để thuận tiện cho việc quản lý & bảo vệ an ninh Ví dụ: Từ thời Hai Bà
Trưng (nước ta chia ra các quận, huyện với 65 thành trì); dưới các triều Lý,Trần, Hồ (các bộ phận lãnh thổ mang tên là Lộ); đời Lê (Lộ đổi thành Trấn
Cả nước có 5 Đạo (mỗi Đạo lại bao gồm nhiều Phủ, Châu, Huyện), đến đờiNguyễn (Trấn đổi thành Tỉnh); thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh (Đàngtrong-Đàng ngoài)
Thời kỳ Pháp thuộc, Pháp chia lãnh thổ nước ta (Bắc Kỳ, Trung Kỳ
và Nam Kỳ)
Trang 27Sau 1954, các khu tự trị được thành lập như "Khu tự trị Việt Bắc
(1956), Khu tự trị Thái-Mèo (1955) và năm 1962 đổi thành Khu tự trị TâyBắc
Như vậy, tùy từng thời kỳ, tùy theo mục đích chính trị kinh tế quân sự mà các đơn vị hành chính được gộp lại thành những đơn vị hànhchính dưới cấp quốc gia Việc hình thành các đơn vị hành chính này đó là
-do nhu cầu quản lý đất nước, cần có nhiều cấp, trong đó nổi lên cấp quản lýtrung gian giữa quốc gia và tỉnh - tạm gọi là vùng
3.1.2 Giai đoạn 1960 - 1975
Giai đoạn này, việc nghiên cứu & phân vùng diễn ra chủ yếu ở M.Bắc (từ
Vĩnh Linh) với đặc trưng chính về kinh tế N - L - N Chia thành 2 thời kỳ:
Thời kỳ 1960 - 1970: Việc phân vùng, qui hoạch tập trung chủ yếu
vào những vấn đề nhỏ lẻ từng vùng cụ thể (chủ yếu là PVNN) UBKH Nhànước phối hợp với Bộ nông nghiệp nghiên cứu và PVNN ở miền Bắc VN(chia 4 vùng NN lớn: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng & Khu
IV cũ) Tổng cục Lâm nghiệp đã tổ chức, điều tra và tiến tới phân vùng lâmnghiệp làm cơ sở cho phát triển ngành Năm 1968, UBXD cơ bản Nhànước triển khai nghiên cứu qui hoạch các điểm công nghiệp ở miền BắcViệt Nam
Thời kỳ 1971 - 1975 (phương án 2 vùng kinh tế cơ bản) Một số vùng
kinh tế mới được hình thành ở TDMN', Nhà nước tiến hành qui hoạch cácvùng chuyên canh cây công nghiệp Ngành lâm nghiệp qui hoạch một sốvùng CMH' giấy, sợi, gỗ trụ mỏ Trong công nghiệp tiếp tục nghiên cứuđịa điểm bố trí các công trình lớn Thời kỳ này cũng tiến hành qui hoạchmột số huyện, thị xã trọng điểm Nhìn chung thời kỳ này, công tác quihoạch vẫn tập trung chủ yếu vào phục vụ cho SX nông - lâm Cuối nhữngnăm 1960, trong giáo trình giảng dạy về vùng ở trường ĐHSP-HN, dựatrên quan điểm vùng của trường phái Địa lý Xô viết hiện đại, GS Trần Đình
Trang 28Gián phân chia lãnh thổ nước ta thành 2 vùng kinh tế cơ bản với 4 á vùngtheo ranh giới chính trị hồi đó Vận dụng NQ ĐH Đảng III, Ông chiaM.Bắc thành 4 vùng kinh tế hành chính, đồng thời đề ra một hệ thống 3cấp: Vùng KT - XH lớn; vùng kinh tế - hành chính tỉnh (hay liên tỉnh);vùng kinh tế cơ sở huyện (hay liên huyện) Ba cấp đó giống như một hệthống động lực, hoạt động vừa có phân cấp - vừa có phối hợp nhằm xâydựng nền KT-XH thống nhất & đa dạng:
Cấp vùng KT-XH lớn phải đủ tiềm lực để trang bị kỹ thuật & đổi mới
kỹ thuật - công nghệ cho nền KTQD trong phạm vi lãnh thổ của mình Cómạng lưới năng lượng, nguyên liệu, lương thực cùng các cơ sở chế tạo &thiết bị cơ bản ở mức độ thích hợp; Có hệ thống nghiên cứu & ĐT hoànchỉnh (gồm các trường ĐH, CĐ & KT dạy nghề) qui mô thích hợp
Cấp vùng kinh tế hành chính tỉnh (liên tỉnh) với qui mô lãnh thổ hợp
lý là điểm hội tụ của nền KT TW & ĐP, nhằm hình thành cơ cấu công
-NN thích hợp, qui mô vừa và nhỏ
Cấp vùng kinh tế cơ sở huyện (liên huyện) là những đơn vị HC,
KT-XH, quản lý & tổ chức giữa ngành với lãnh thổ; Mục tiêu là xây dựng cơcấu N - L - N, tiểu thủ công nghiệp & công nghiệp, kết hợp truyền thốngđịa phương, lấy qui mô nhỏ là chính, từng bước thực hiện CNH' N - L - N
ở địa phương
3.1.3 Giai đoạn 1976 – 1980
Ngay sau 1975, một chương trình phân vùng qui hoạch đã được tiển
khai trong cả nước theo quan điểm tổng hợp
Năm 1976 trên cơ sở 38 tỉnh - TP, cả nước được chia thành 7 vùng
NN - CNCB', hệ thống 7 vùng NN - CNCB' là cơ sở cho việc xây dựng kế
hoạch phát triển N - L, hình thành các vùng CMH' : Cụ thể: (1) TDMNPB'(9 tỉnh): quế, hồi, sơn, chè, trẩu, thuốc lá, hoa quả cận nhiệt, ngô, sắn, trâu,
Trang 29bò, dê (2) Đồng bằng sông Hồng (6 tỉnh): lúa gạo, lạc, đậu tương, mía, cói,đay, rau, chăn nuôi lấy thịt (3) BTBộ (3 tỉnh): gỗ, lạc, hồ tiêu (4)DHNTBộ (4 tỉnh): mía, bông, đào lộn hột, quế, tiêu, lạc, lúa gạo, khoai, bò,
lợn (5) Tây Nguyên (3 tỉnh): cà phê, cao su, chè, dâu tằm, ngô, trâu, bò (6)
ĐNBộ (4 tỉnh): cao su, cà phê, hồ tiêu, lạc, đậu tương, mía, ngô (7) Đồngbằng sông Cửu Long (9 tỉnh): lúa gạo, đậu tương, mía, cây ăn quả, lợn, vịt,tôm, cá
Năm 1977, UBPV KT TW được thành lập Vụ phân vùng qui hoạch
của UBKH Nhà nước được tách ra & đổi tên thành Viện phân vùng quihoạch TW là cơ quan thường trực của UB phân vùng kinh tế TW Cả nước
đã hình thành hệ thống tổ chức ngành từ TW đến địa phương, toàn bộ quátrình phân vùng qui hoạch được tiến hành dưới sự chỉ đạo của CP &UBND các cấp
Trang 303.1.4 Giai đoạn 1981 – 1985
Năm 1982, được sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ), lần đầu tiên chúng ta
lập sơ đồ phân bố LLSX giai đoạn 1986 - 2000, đây là quá trình nghiên cứutương đối tổng hợp và toàn diện Với 40 tỉnh - TP - đặc khu, lãnh thổ nước
ta được chia thành 4 vùng KT cơ bản với 7 tiểu vùng NN - CNCB’:
Vùng Bắc Bộ (16 tỉnh), chia 2 tiểu vùng là TDMN' (10 tỉnh) và
ĐBSH (6 tỉnh), gồm: Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Lai Châu, Quảng Ninh,Sơn La, Lạng Sơn, Vĩnh Phú, Cao Bằng, Bắc Thái, Hà Bắc, Hà Nam Ninh,
Hà Nội, Hà Sơn Bình, Hải Hưng, Hải Phòng, Thái Bình
Vùng Bắc Trung Bộ (3 tỉnh) Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên Vùng Nam Trung Bộ (7 tỉnh), 2 tiểu vùng là DH khu V và Tây
Nguyên (Quảng Nam-Đà Nẵng, Phú Khánh, Nghĩa Bình, Thuận Hải, LâmĐồng, Đắc Lắc, Gia Lai-Kon Tum)
Vùng Nam Bộ (14 tỉnh), 2 tiểu vùng là Đ.Nam Bộ & Tây Nam Bộ
(Đồng Nai, TPHCM, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sông Bé, Tây Ninh, An Giang,Bến Tre, Cửu Long, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, TiềnGiang, Minh Hải)
• Những căn cứ để phân chia hệ thống 4 vùng kinh tế cơ bản
- Có cơ cấu tài nguyên nhất định trên lãnh thổ để đảm bảo việcCMH' & phát triển tổng hợp nền kinh tế
- Có nguồn lao động đủ để đảm bảo kết hợp TNTN - LLLĐ - TLSX
- Có vị trí, chức năng nhất định trong nền kinh tế cả nước trên cơ sởCMH' & phát triển tổng hợp
- Có TP, TTCN (hoặc thể tổng hợp SX - lãnh thổ) là hạt nhân tạovùng
Trang 31- Có hệ thống GTVT đảm bảo mối liên hệ nội vùng, liên vùng, khu
Về phương pháp tiếp cận: Bước đầu đã nghiên cứu lý thuyết phân
vùng, nguyên tắc, hệ thống chỉ tiêu, các thuật ngữ chuyên ngành Một loạtvấn đề tổng hợp được nghiên cứu như (hệ số vùng, tính toán hiệu quả sảnxuất, hiệu quả xã hội) Đã xây dựng được hệ thống phương pháp chỉ dẫnxây dựng qui hoạch (các vùng & các ngành), xây dựng hệ thống bản đồ, hệthống bảng biểu, chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, chỉ tiêu ngành
3.1.5 Giai đoạn 1986 đến nay
Khi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thì cơ cấu
nền KTQD có những chuyển biến mạnh (cả về chất & về lượng), nhiều yếu
tố mới xuất hiện, đồng thời những khó khăn, thách thức cũng nảy sinh Doyêu cầu của việc mở cửa nền kinh tế và hội nhập với khu vực & quốc tế,đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược phát triển phù hợp Trước tình hình
đó, Thủ tướng CP đã chỉ thị cho UBKH Nhà nước chủ trì phối hợp với cácngành TW nghiên cứu qui hoạch 8 vùng KT lớn & 3 vùng KTTĐ, hỗ trợ tất
cả các tỉnh, TP XD qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH đến 2010
Trang 32● Từ 1986 - 2000
Hệ thống 8 vùng KT lớn được gộp từ 61 tỉnh - TP của cả nước
Đông Bắc (11 tỉnh): Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang,
Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, YênBái
Tây Bắc (3 tỉnh) Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình.
Đồng bằng sông Hồng (11 tỉnh, Tp) TP Hà Nội, Hải Phòng, Hưng
Yên, Hải Dương, Hà Tây (cũ), Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam,Bắc Ninh, Vĩnh Phúc
Bắc Trung Bộ (6 tỉnh) Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Quảng Trị, T-T-Huế
DH Nam Trung Bộ (6 tỉnh,Tp) Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi,
Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa
Tây Nguyên (4 tỉnh) Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng.
Đông Nam Bộ (8 tỉnh, Tp) là TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bình
Phước, Tây Ninh, đặc khu BR-Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bình Thuận
Đồng bằng sông Cửu Long (12 tỉnh) là Cần Thơ, Long An, Tiền
Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang,
Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng
Ba vùng kinh tế trọng điểm là (KTTĐ)
Vùng KTTĐ Bắc Bộ (5 tỉnh-TP): TP Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên,
Hải Phòng, Quảng Ninh, 3 đô thị chính đồng thời là 3 cực phát triển (HàNội - Hải Phòng - Quảng Ninh)
Vùng KTTĐMT (4 tỉnh-TP): T-T-Huế, TP Đà Nẵng, Quảng Nam,
Quảng Ngãi
Trang 33Vùng KTTĐP'N (4 tỉnh-TP): TPHCM, Đồng Nai, BR-Vũng Tàu,
Bình Dương Ba cực tạo thành tam giác phát triển là TPHCM Biên Hòa Vũng Tàu
-● Từ 2001 đến nay
Hệ thống 6 vùng & trọng điểm KT được gộp từ 64 tỉnh - TP của cả nước
TD – MNPB (15 tỉnh): Đông Bắc (11 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc
Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai,Yên Bái, và Quảng Ninh) Tây Bắc (4 tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình,
TP Điện Biên (tách từ tỉnh Sơn La 1/2004)
ĐB sông Hồng & vùng trọng điểm Bắc Bộ (12 tỉnh, Tp) TP Hà Nội,
Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Tây (cũ), Thái Bình, Nam Định,Ninh Bình, Hà Nam, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh
Bắc Trung Bộ, DH Nam Trung Bộ và KTTĐ miền Trung (14 tỉnh, TP): Bắc Trung Bộ (6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) DH Nam trung Bộ (8 tỉnh-Tp: Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận,Bình Thuận)
Tây Nguyên (5 tỉnh): Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đắc
Nông
Đông Nam Bộ & trọng điểm kinh tế (8 tỉnh, TP) là TP HCM, Đồng
Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, đặc khu BR-Vũng Tàu, LongAn
ĐB sông Cửu Long (13 tỉnh, TP) Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre, Trà
Vinh, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu,Sóc Trăng, Hậu Giang, Long An
Ba vùng KTTĐ là
Trang 34Vùng KTTĐ Bắc Bộ (8 tỉnh - TP): TP Hà Nội, Hải Dương, Hưng
Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây (cũ) Ba đôthị chính đồng thời là 3 cực phát triển (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh)
Hiện nay vùng này còn 7 tỉnh, thành phố
Vùng KTTĐ miền Trung (5 tỉnh - TP): Thừa Thiên Huế, TP Đà Nẵng,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định
Vùng KTTĐ phía Nam (8 tỉnh - TP): TPHCM, Đồng Nai, BR-Vũng
Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang Ba cựctạo thành tam giác phát triển là TPHCM - Biên Hòa – Vũng Tàu
- Ngoài 2 cấp vùng trên, 64 tỉnh - TP cũng được xác định là cấp qui
hoạch phát triển KT-XH đến 2010 và 2020
- Trong khuôn khổ chương trình khoa học cấp Nhà nước (Mã số
KX-03, đề tài KX-03-02) đã đề xuất chia lãnh thổ nước ta thành các dải lớn Đó
là: (1) Dải đồng bằng ven biển (bao gồm cả vùng biển và hải đảo quốc gia).
(2) Dải TD & MN' (chia ra thành 2 dải TD và dải MN').
- Năm 1998, Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát triển KT-XH
các xã đặc biệt khó khăn ở MN' vùng sâu, vùng xa (QĐ số TTg ngày 31/07/1998) Loại vùng khó khăn gồm 2356 xã (2002) của 49tỉnh là một loại vùng không liền khoảnh và là sự tập hợp của các xã, mộtcấp trong hệ thống 4 cấp hành chính của VN
135/1998/QĐ-Dựa theo cách phân chia trên, có thể rút ra một số nhận định: Mỗi
hệ thống vùng được phân chia đều dựa trên một hệ thống chỉ tiêu phục vụcho một số mục đích trong một giai đoạn nhất định Mục đích của phânvùng là hình thành hệ thống vùng để làm căn cứ cho các kế hoạch pháttriển lãnh thổ, phục vụ cho việc xây dựng cơ chế - chính sách, đảm bảo sựphát triển bền vững và hiệu quả trong cả nước Căn cứ chủ yếu để phânvùng là các lãnh thổ có sự đồng nhất ở mức độ nhất định về tự nhiên, dân
Trang 35cư & xã hội; cùng chịu sự chi phối của cơ chế thị trường, cùng đảm nhậnmột nhiệm vụ nào đó đối với nền kinh tế trong tương lai.
3.2 Các vùng kinh tế ở Việt Nam
3.2.1 Miền núi trung du phía Bắc
để giao lưu, hội nhập khoa học - công nghệ, trao đổi phát triển kinh tế củavùng với các nước trên lục địa Phía Tây giáp với Lào Phía Nam giápĐBSH với nhiều đô thị, hải cảng lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Cái Lân), đó là
cơ sở để đẩy mạnh phát triển KT-XH của vùng
3.2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên (TNTN)
● Đông Bắc:
Than đá: Nằm trên địa hình các cánh cung, Đông Bắc có thế mạnh
đầu tiên là than đá với 3 dải than lớn Cẩm Phả, Hòn Gai và Mạo Khê Uông Bí Trữ lượng thăm dò 3,5 tỉ tấn ngoài ra còn có ở một số địa điểmkhác như Phấn mễ, Làng Cẩm (Thái Nguyên) ~ 80 triệu tấn, than nâu(Lạng Sơn) ~ 100 triệu tấn, than Bố Hạ (Bắc Giang)
-Khoáng sản KL và phi KL: Đá vôi hàng tỉ tấn phân bố hầu khắp các
tỉnh; Đất sét cao lanh để SX gạch không nung Giếng Đáy (Quảng Ninh);Apatit (Lào Cai) 2,1 tỉ tấn; Quặng sắt ở Thái Nguyên, Hà Giang, Yên Bái
136 triệu tấn; Mangan ở Cao Bằng 1,5 triệu tấn; Titan lẫn trong quặng sắtManhêtit ở Thái Nguyên 39,0 vạn tấn; Thiếc (Cao bằng, Tuyên Quang); Bôxít (Lạng Sơn); Chì - kẽm (Bắc Kạn) Các mỏ này phần lớn vẫn còn ở
Trang 36dạng tiềm năng, do công nghệ và nguồn vốn còn hạn chế, mới khai thácmột phần quặng sắt và thiếc
Bảng 1 Một số khoáng sản chủ yếu của Đông Bắc
Khoáng
sản Đơn vị
Tr.lượngC.N
% socảnước
Than nâu Triệu
Ngoài ra, Đông Bắc cũng có một số khoáng sản khác qui mô nhỏ,
nhưng có vai trò quan trọng, dùng làm chất phụ gia, hoặc chất trợ dung chocông nghệ CB'
Bảng 2 Một số tài nguyên khoáng sản có qui mô nhỏ của Đông Bắc
Khoáng
Trang 37Amiăng Khuổi Hân (Cao Bằng) Cách nhiệt, cách điệnAngtimon Quảng Ninh, Hà Giang Sơn Men tráng, thủy
tinh
Cát Đảo Quan Lạn (Quảng Ninh) Thủy tinh
Mica La Phù (Phú Thọ), Làng Mục (Yên
Phenphat Thạch Khoán (Phú Thọ) Công nghiệp sứ và thủy
tinhFluorit Bình Đường (Cao Bằng) Trợ dung cho luyện
nhômQuaczit Thanh Sơn (Phú Thọ) Gạch chịu lửa
Vonfram Lẫn trong quặng thiếc Công nghiệp chế tạo máy
Tài nguyên đất cho sản xuất nông - lâm: đất nông nghiệp (14,55%),
lâm nghiệp (54,11%), đất chuyên dùng (4,70%), đất ở (1,90%), đất chưa sửdụng (27,32%) Có sự khác nhau về cơ cấu sử dụng đất giữa Đông Bắc vàTây Bắc, giữa các tỉnh trong vùng Nhìn chung đất chưa sử dụng còn khálớn (trong đó ~ 10% có thể phát triển cây lâu năm, 75% cho lâm nghiệp) Bảng 3 Cơ cấu sử dụng đất của Miền núi – trung du phía Bắc tại thời điểm01/01/2008
Diện tích(1000ha)
Chia ra (%)Nông
nghiệp
Lâmnghiệp
Đất
CD Đất ở
ChưaSD
CẢ NƯỚC 33115.0 28.40 44.70 4.70 1.90 20.24
MN & TD phía
Bắc 10153.1 14.55 54.11 2.88 1.13 27.32 Đông Bắc 6399.9 15.24 56.97 3.83 1.28 22.67
Trang 38Các loại đất chính: Đất đỏ đá vôi phân bố theo các cánh cung, nhiều
nhất ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, thích hợp với cây thuốc lá,
đỗ tương, ngô, bông, Đất feralit đỏ - vàng trên đá sa diệp thạch, phân bốchủ yếu ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Bắc Giang thíchhợp với cây chè, trẩu, sở Đất phù sa cổ, phân bố chủ yếu ở các tỉnh giápvới ĐBSH, thích hợp với cây công nghiệp hàng năm (đậu tương, thuốc lá,lạc) Ngoài ra, ở các thung lũng, ven sông còn có một ít đất phù sa là nơigieo trồng cây lương thực và cây màu khác
Tài nguyên rừng của vùng còn rất ít do khai thác quá mức trước đây,
chủ yếu là rừng thứ sinh Năm 2008, diện tích rừng của Đông Bắc là 3,30triệu ha (chiếm 25,19% diện tích rừng cả nước), rừng tự nhiên 2,30 triệu
ha, độ che phủ rừng 51,6% Vùng đang khôi phục lại vốn rừng để phục vụcho KCN Quảng Ninh, cho nguyên liệu giấy, cho môi sinh, trong rừng còn
có nhiều dược liệu như quế (Quảng Ninh), hồi (Lạng Sơn, Cao Bằng), sanhân, tam thất (Lào Cai, Hà Giang), cây ăn quả á nhiệt đới (Cao Bằng,Lạng Sơn, Lào Cai) Vùng có nhiều đồng cỏ liền dải trong các thung lũng,trên các đồi thấp, là cơ sở để phát triển chăn nuôi (trâu, bò, dê, ngựa,.v.v.)
Khí hậu nhiệt đới pha trộn á nhiệt đới Do địa hình cánh cung mở ra
ở biên giới đón gió lạnh từ phương Bắc tràn xuống, là vùng có mùa Đônglạnh nhất nước ta Mùa Hè nóng - ẩm, nhiệt độ cao Khí hậu thích hợp vớicây trồng - vật nuôi nhiệt và á nhiệt đới (chè, hồi )
Trang 39Tài nguyên biển, vùng có vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long với >
3.000 đảo, biển nông, trữ lượng cá không nhiều so với vùng biển khác,muốn đánh cá phải ra khơi Ở trong lộng nhiều nhất là sò, ốc Ở đảo Cô Tôrất thuận lợi cho nuôi trai ngọc Ở đảo Rều (Cẩm Phả) nuôi khỉ làm dượcliệu Hạ Long và Bái Tử Long là cảnh quan rất hấp dẫn khách du lịch
● Tây Bắc
Là vùng có địa hình núi cao, hiểm trở, cắt xẻ, nhiều sông suối, thunglũng sâu Độ cao TB > 1.000m, nghiêng từ TB - ĐN Phía Đông là khối núiHoàng Liên Sơn cao sừng sững (có đỉnh Phan xi păng 3.143m) Đại bộphận lãnh thổ thuộc lưu vực S.Đà, ba phía đều là những dãy núi cao; Giápbiên giới với TQ có những đỉnh như Phu Lu Tum (2.090m), Phu La Sin(2.348m), Phu Nam San (2.453m), Phu Đen Đin (2.181m), Phu Si Lung(3.076m), Với biên giới Việt - Lào có những đỉnh Khoang La San(1.865m), San Cho Cay (1.934m), Phu Nam Khe (1.860m), Phu Sai Liên(1.728m), Dải núi đá vôi chạy liên tục từ Phong Thổ - Sìn Hồ - Tủa Chùa
- Tuần Giáo (Lai Châu) - Thuận Châu - Mai Sơn - Yên Châu - Mộc Châu(Sơn La) về Lạc Thủy (Hòa Bình)
Sông Đà và phụ lưu chứa nguồn thủy năng rất lớn với ~ 120 tỉ
m3/năm, lưu lượng 3,63 m3/s, trữ năng lý thuyết 260 - 270 tỉ kwh, trữ năngkinh tế 50 - 60 tỉ kwh Ngoài thuỷ điện Hòa Bình (1.920MW), còn cókhoảng 4 - 5 địa điểm có công suất tương đương hoặc lớn hơn như Tạ Bú(2.400MW) đã khởi công 12/2005 - dự kiến 2010 phát điện tổ máy số 1
Nguồn nước nóng khá phong phú, phân bố theo các đứt gãy kiến tạo,đây là nguồn nhiệt lớn sử dụng để chữa bệnh (Lai Châu, Sơn La có 16điểm, Hòa Bình có Kim Bôi)
Than ~ 10 triệu tấn (Điện Biên); Ni ken đã phát hiện ở Bản Phúc,Bản Sang và Tạ Khoa; Đồng (Vạn Chài - Suối Chát) 980 tấn; Vàng sakhoáng dọc sông Đà Đất hiếm là nguyên liệu khoáng duy nhất có ở Tây
Trang 40Bắc có giá trị trong nhiều ngành CN hiện đại, đã phát hiện các mỏ như mỏĐông Pao (Phong Thổ - Lai Châu) trữ lượng 5,5 triệu tấn (cùng với đấthiếm còn có friorit 6,1 triệu tấn, barit 12,7 triệu tấn); mỏ Năm Xe (LaiChâu) thuộc đất hiếm nhóm nặng 874.660 tấn Ngoài ra, còn có Tan &Asbét (khoáng sản phi kim loại), Tan dùng trong công nghệ gốm, sứ, sảnxuất giấy, sơn, cao su có ở Sơn La, Hòa Bình 1.780 tấn Asbét (100.000tấn) dùng trong CN SX vật liệu cách điện, nhiệt, cách âm, chống cháy, chịuđược axit và kiềm (găng tay, quần áo chống cháy, má phanh ô tô ).
Đất chủ yếu là đất feralít đỏ - vàng phong hóa từ đá vôi và sa diệpthạch, có một ít đất bồi tụ trong các thung lũng và ven sông Trong cơ cấu
sử dụng: đất nông nghiệp (13,36%), đất lâm nghiệp chiếm 49,22% diện tích
tự nhiên của vùng, trong số này thì đất có rừng chiếm 83,6% tổng diện tíchđất lâm nghiệp, độ che phủ rừng 41,1%; đất chuyên dùng (1,27%); đất ở(0,88%), đất chưa sử dụng (35,26%) Như vậy, đây là vùng đất hoang hóacòn rất lớn, về chất lượng, các loại đất đều khá tốt, song do địa hình dốccho nên các loại đất đỏ - vàng ở các sườn núi có xu hướng thoái hóa nhanh(do việc trồng cây hàng năm, du canh, du cư, khai thác rừng bừa bãi) Hoạtđộng nông nghiệp của Tây Bắc tập trung chủ yếu ở một số cao nguyên đất
đỏ đá vôi (Mộc Châu, Nà Sản, Tà Phình): trồng ngô, cây CN hàng năm(bông, đậu tương), cây ăn quả (mận, đào) Các sườn đồi diệp thạch trồngchè, sơn, trẩu, sở Đất thung lũng được xây dựng theo hệ thống bậc thang
để trồng lúa (Mường Thanh, Quang Huy, Bình Lư, ) Trên các cao nguyên
và thung lũng còn là địa bàn phát triển chăn nuôi trâu, bò qui mô lớn
Khí hậu Yếu tố địa hình làm cho khí hậu của Tây Bắc có những nétkhác với Đông Bắc (mặc dù cùng vĩ tuyến); Gió Đông Bắc lạnh đến muộnhơn; lạnh do 2 yếu tố (lạnh theo vĩ tuyến & độ cao) nên nhiệt độ về mùađông thường thấp hơn ở Đông Bắc Những ngày mà nhiệt độ xuống thấp thì
ở những vùng núi cao thường có tuyết phủ, băng giá (Sa Pa, đỉnh Hoàng