Do vị thế địa – chính trị, do sự tương đồng về văn hóa, do những hệ lụy củahơn một nghìn năm Bắc thuộc và nhiều lí do khác mà quan hệ sách phong, triều cốnggiữa Trung Quốc và Đại Việt tr
Trang 1- -NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG
QUAN HÖ S¸CH PHONG, TRIÒU CèNG MINH - §¹I VIÖT
Trang 2HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tưliệu sử dụng trong luận án là trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm về kếtquả nghiên cứu của mình
Tác giả
Nguyễn Thị Kiều Trang
Trang 4Trang phu ̣ bìa
Lời cam đoan
Mu ̣c lu ̣c
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quan hệ sách phong, triều cống là một hình thức đặc biệt của quan hệ banggiao giữa Trung Quốc và các nước láng giềng ở thời phong kiến Trong đó, cácvương triều Trung Quốc với ưu thế về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, tự chomình là “thiên triều, thượng quốc”, có quyền phong tước cho vua các nước nhỏ.Ngược lại, để được phong vương, để thiết lập và duy trì quan hệ với Trung Quốc, đểđược yên ổn, vua các nước này phải cầu phong và phải thực thi các nghĩa vụ với
“thiên triều”, mà nghĩa vụ quan trọng nhất là phải triều cống định kì Sách phong,triều cống dần dần trở thành mô thức chủ yếu trong quan hệ giữa Trung Quốc với cácnước láng giềng ở thời trung đại Mô thức này xuất hiện từ thời Tây Hán, khôngngừng được mở rộng thành hệ thống và tới thời Minh (1368 – 1644) thì đạt tới đỉnhđiểm của sự phát triển
Sau giai đoạn mất ổn định kéo dài từ thời Nam Tống đến cuối Nguyên, TrungQuốc dưới thời Minh đã bước vào thời kì phát triển hưng thịnh, trở thành một quốcgia hùng cường ở châu Á và trên thế giới Đây cũng là thời kì Trung Quốc mở rộngảnh hưởng ra toàn châu lục Tuy nhiên, do vấp phải những trở ngại lớn ở cả ba phíabắc, đông, tây nên Đông Nam Á và Nam Á đã trở thành mối quan tâm hàng đầu củachính quyền nhà Minh Khu vực này trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoạicủa nhà Minh và cũng là khu vực chính để nhà Minh khôi phục và mở rộng hệ thốngtriều cống truyền thống
Do vị thế địa – chính trị, do sự tương đồng về văn hóa, do những hệ lụy củahơn một nghìn năm Bắc thuộc và nhiều lí do khác mà quan hệ sách phong, triều cốnggiữa Trung Quốc và Đại Việt trong lịch sử nói chung, ở thời Minh nói riêng đượcduy trì chặt chẽ, bền vững, trở thành một trong những mối quan hệ sách phong, triềucống có tính chất điển hình và là cơ sở, nền tảng của quan hệ bang giao giữa hai nướctrong suốt thời phong kiến
Nghiên cứu về quan hệ Trung - Việt, Việt - Trung trong lịch sử, từ lâu đã đượcnhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm và đã có những đóng góp khoa học quantrọng Tuy nhiên, quan hệ sách phong, triều cống Trung – Việt ở thời phong kiến hoặcgiữa các triều đại cụ thể, mới chỉ được trình bày một cách khái quát trong các bộ thông
sử Việt Nam, thông sử Trung Quốc, hoặc còn là một phần khiêm tốn trong một số công
trình nghiên cứu về quan hệ tổng thể giữa hai nước Với đề tài “Quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt (1368 – 1644)”, luận án muốn nghiên cứu một cách hệ
thống, chuyên biệt về quan hệ sách phong, triều cống giữa Trung Quốc và Đại Việtdưới chế độ phong kiến ở một thời kì lịch sử cụ thể có nhiều yếu tố tác động sâu sắc
Trang 6đến mối quan hệ này Đây cũng là thời kì quan hệ sách phong, triều cống giữa hai nước
có những giai đoạn ổn định lâu dài và có những lúc căng thẳng, thậm chí gián đoạn,nhưng cuối cùng cũng đều đã được hai phía hóa giải
Về những vấn đề khoa học cụ thể, luận án hướng tới việc làm sáng tỏ cơ sở tưtưởng, cơ sở lợi ích, cơ sở lịch sử của quan hệ sách phong, triều cống Minh – ĐạiViệt; quá trình phát triển thăng trầm của mối quan hệ này và nguyên nhân của nó; vịtrí, đặc điểm của quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt, thực chất thái độcủa các vương triều Đại Việt trong quan hệ với nhà Minh Luận án cũng muốn gópphần lý giải vì sao quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt lại tương đối ổnđịnh, bền vững và được duy trì chặt chẽ, khác với nhiều mối quan hệ triều cống giữacác nước Đông Nam Á khác với nhà Minh…Trong một chừng mực nào đó, có thểnói đó cũng là những vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu về quan hệ sách phong,triều cống giữa Trung Quốc và Đại Việt từ khi hình thành (thế kỉ X) đến khi kết thúc(thế kỉ XIX)
Luận án mong muốn tìm hiểu sâu hơn những yếu tố tác động tức thì đến quan
hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt trong từng giai đoạn cụ thể, mà nổi bật là
sự thay đổi tương quan lực lượng giữa hai nước và biến động chính trị ở mỗi nước.Không những thế, quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt có lúc còn bị tácđộng thậm chí chỉ bởi khí chất của một ông vua Minh hoặc vua Đại Việt, hay sựtranh chấp đất đai lẫn nhau của thổ quan và dân chúng vùng biên giới… Tất cả nhữngđiều này luôn là nguyên nhân trực tiếp làm cho quan hệ sách phong, triều cống Minh– Đại Việt ở các giai đoạn Minh – Trần, Minh – Hồ, Minh – Lê sơ, Minh – Mạc,Minh – Lê trung hưng có những điểm khác biệt nhau Đây cũng là những vấn đề lýthú của quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt mà việc nghiên cứu nó sẽgóp phần làm sáng rõ thêm một số khía cạnh của lịch sử Việt Nam, lịch sử TrungQuốc và những mối quan hệ khác giữa hai nước
Thực tiễn lịch sử đã cho thấy, ứng xử với các vương triều phong kiến TrungQuốc như thế nào để vừa có thể sống hòa mục với một nước láng giềng lớn, tránhđược những căng thẳng, xung đột, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹnlãnh thổ, vừa có thể đoàn kết được toàn dân, giữ vững ổn định chính trị, xã hội,không phải là một vấn đề đơn giản và luôn là một thách thức lớn đối với các vươngtriều Đại Việt, nhất là trước một triều Minh cường thịnh và luôn có tham vọng bànhtrướng, khống chế, kiềm tỏa Đại Việt Những kinh nghiệm, bài học lịch sử mà chaông chúng ta để lại trong việc giải quyết vấn đề này, qua quan hệ sách phong, triềucống, dưới bất cứ góc độ nào, chắc chắn mãi còn hữu ích
Nghiên cứu quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt vì thế không chỉcần thiết cho việc nhận thức lịch sử một cách thuần túy mà còn có ý nghĩa thời sự sâu
Trang 7sắc Sự hấp dẫn của các vấn đề khoa học và thực tiễn nêu trên là lý do để tôi chọn đề
tài “Quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt (1368 – 1644)” làm luận án
tiến sĩ, dù tôi hiểu sâu sắc rằng việc giải quyết một cách thấu đáo những vấn đề nàykhông thể là công việc của một cá nhân trong khuôn khổ của một luận án
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Quan hệ sách phong, triều cống giữa Trung Quốc với các nước trong đó cóĐại Việt ở thời phong kiến là vấn đề đã được các học giả trên thế giới, các học giảTrung Quốc và Việt Nam quan tâm nghiên cứu Dưới đây xin giới thiệu tổng quanmột số thành tựu và quan điểm nghiên cứu tiêu biểu
2.1 Các học giả trên thế giới
* Những công trình nghiên cứu tổng quát về hệ thống triều cống và quan hệ
của nhà Minh với khu vực Đông Nam Á
Trước khi đề cập đến những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tàiluận án, xin điểm qua một số công trình nghiên cứu tổng quát của các học giả trên thếgiới về hệ thống triều cống và quan hệ của nhà Minh với các quốc gia Đông Nam Á.Những nghiên cứu này đã góp phần vào việc lí giải mô hình bang giao giữa TrungQuốc với các nước láng giềng ở thời trung đại; quan niệm của các vương triều TrungQuốc về trật tự thế giới; nguồn gốc, chức năng, vai trò của hệ thống triều cống; mốiquan hệ giữa triều cống và thương mại; mối quan tâm đặc biệt của nhà Minh vớiĐông Nam Á và quan hệ giữa Trung Quốc với Đông Nam Á thời Minh…Đây lànhững vấn đề cần thiết và hữu ích đối với việc nghiên cứu các mối quan hệ sáchphong, triều cống cụ thể
Một trong những nghiên cứu đầu tiên về hệ thống triều cống là của hai nhà
nghiên cứu J.K.Fairbank và S.Y.Teng với công trình: “On the Ch’ing tributary system” (Về hệ thống triều cống của nhà Thanh) (1941) Mặc dù nghiên cứu về
hệ thống triều cống của nhà Thanh (thế kỉ XVII – XIX) nhưng các tác giả của côngtrình này đã phân tích khá chi tiết nguồn gốc, sự hình thành của hệ thống triều cống
và đã có đóng góp quan trọng trong việc định hình các quan niệm về hệ thống triềucống Đặc biệt, J.K.Fairbank và S.Y.Teng đã lí giải sự tồn tại bền vững của hệ thốngtriều cống là do mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa chính trị và các động cơ kinh tếtrong hệ thống này Luận điểm này xứng đáng được coi là một phát hiện Vì vậy, khi
đánh giá về công trình của hai tác giả này, sử gia James Hevia đã viết: “Gần như tất
cả những ai đi sau Fairbank và Teng đều trung thành lặp lại sự khẳng định là hệ thống triều cống về bản chất có tính nhị nguyên” [118, 14].
Năm 1942, J.K.Fairbank công bố tiếp bài báo có tựa đề: “Tributary trade and China’s relations with the West” (Thương mại triều cống và quan hệ của Trung Quốc với phương Tây), trong đó ông tiếp tục đưa ra những diễn giải về
Trang 8nguồn gốc, chức năng, vai trò và tầm quan trọng của hệ thống triều cống Nhiều nămsau, J.K.Fairbank một lần nữa trình bày ý tưởng của ông về hệ thống triều cống trong
tập sách “The Chinese world order: Traditional China’s foreign relations” (Trật tự thế giới Trung Hoa: Mối quan hệ đối ngoại truyền thống của Trung Hoa) (1968).
Những nghiên cứu mang tính hệ thống của J.K.Fairbank đặt cơ sở cho những
nghiên cứu tiếp theo của các học giả khác Bên cạnh tiểu luận “The early treaty system in the Chinese World Order” (Hệ thống triều cống sơ khai trong trật tự thế giới Trung Hoa) của J.K.Fairbank, tập sách “The Chinese world order: Traditional China’s foreign relations” còn giới thiệu các tiểu luận nghiên cứu của các học giả khác như: “Historical notes on the Chinese World Order” (Những ghi chép lịch sử về trật tự thế giới Trung Hoa) của Lien-sheng Yang, “Early Ming relations with Southeast Asia: A background essay” (Tổng quan về mối quan hệ giữa nhà Minh sơ với Đông Nam Á) của Wang Gungwu, “The Ch’ing tribute system: An interpretive essay” (Hệ thống triều cống của nhà Thanh: Một cách diễn giải) của Mark Mancall, “The Chinese perception of world order, past and present” (Nhận thức của Trung Quốc về trật tự thế giới, quá khứ và hiện tại) của
Benjamin I.Schwartz…Các công trình nghiên cứu trên đề cập tới nhiều vấn đề nhưng
đều cố gắng hướng đến việc lí giải, khái quát đặc điểm, bản chất của “Trật tự thế giới
Trung Hoa” (Chinese World Order) Theo các học giả, trong nhận thức của người
Trung Quốc về trật tự thế giới, “nhà nước Trung Quốc không phải là một nhà nước,
theo nghĩa qui ước về thế giới này và hoàng đế không phải là vua của một nước trong nhiều nước khác mà là người đứng giữa đất và trời…đỉnh chóp của văn minh, duy nhất trong vũ trụ”, “sắp đặt thế giới vốn được coi là đặc quyền của hoàng đế Trung Hoa” [Mark Mancall], và kết quả là từ rất sớm “tất cả các đoàn sứ nước ngoài được ghi chép như là đoàn sứ triều cống, và cả qui ước hành chính và thói quen sử học đã thần thánh hóa cho phong tục này sau đó Người Trung Quốc bắt đầu tin rằng mối quan hệ triều cống là thứ rất bình thường – thứ không xung đột với cái nhìn tổng thể của họ về thế giới đã biết” [Wang Gungwu]…
Trong tác phẩm “China and the Chinese Overseas” (Trung Quốc và Hoa kiều) (1991), Wang Gungwu (học giả gốc Hoa nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu về
Hoa kiều và lịch sử ngoại thương Trung Hoa) đã dành một chương (chương 3) đểviết về quan hệ ngoại giao của nhà Minh với Đông Nam Á Tác giả đã phân tích kháiquát chính sách đối ngoại của các hoàng đế triều Minh đối với Đông Nam Á, trong
đó vấn đề Vân Nam và Đại Việt được nêu ra và trình bày xuyên suốt qua các triềuvua Minh như những ví dụ điển hình
Martin Stuart – Fox trong cuốn “A short history of China and Southeast Asia: Tribute, Trade and Influence” (Lược sử Trung Quốc và Đông Nam Á:
Trang 9Triều cống, thương mại và ảnh hưởng) (2003) đã cố gắng phác họa một cách khái
quát mối liên hệ lịch sử giữa các dân tộc, chính quyền Trung Hoa với các dân tộc,chính quyền Đông Nam Á Đặc biệt tác giả đã dành một chương (chương 5) để nói
về đế chế biển, triều cống và thương mại, trong đó nghiên cứu về hệ thống triều cống,chủ nghĩa bành trướng của triều Minh và quan hệ giữa Trung Hoa cuối thời Minh vớiĐông Nam Á
Cùng đề cập đến chính sách đối ngoại của nhà Minh đối với các quốc gia
Đông Nam Á, trong bài “Engaging the South: Ming China and Southeast Asia in the fifteenth century” (Sức hấp dẫn từ phương Nam: nhà Minh Trung Hoa và Đông Nam Á trong thế kỉ XV) (2008), G.Wade đã tập trung phân tích những
nguyên nhân (động lực) dẫn đến mối quan tâm đặc biệt của nhà Minh đối với ĐôngNam Á ở thế kỉ XV Đại Việt được đề cập và minh họa cho những tham vọng bànhtrướng, mở rộng ảnh hưởng của nhà Minh xuống phía nam đồng thời cũng là nơi chịutác động lớn từ những chính sách đối ngoại của vương triều này
* Những công trình nghiên cứu về quan hệ Minh – Đại Việt
Bên cạnh những công trình nghiên cứu tổng quát về hệ thống triều cống vàquan hệ giữa nhà Minh với Đông Nam Á, đã có một số sách chuyên khảo và bài viết
đề cập đến mối quan hệ giữa nhà Minh và Đại Việt
Cuốn “Vietnam, Ho Quy Ly and the Ming (1371 – 1421)” (Việt Nam, Hồ Quý Ly và nhà Minh 1371 – 1421) (1985) của John Whitmore đã tái hiện bối cảnh
xã hội Đại Việt ở cuối thế kỉ XIV, quá trình thâu tóm quyền lực và thiết lập nhà Hồcủa Hồ Quý Ly Chống lại cách đánh giá truyền thống của một số nhà sử học ViệtNam xem Hồ Quý Ly là “nghịch thần”, J.Whitmore cho rằng họ Hồ đã làm đượcnhiều việc để củng cố và tập trung hóa “nhà nước Việt Nam” Tiếp đó, J.Whitmore
đã khái quát về chính sách và quá trình xâm lược, chiếm đóng Đại Việt của nhàMinh Theo tác giả, trong khoảng thời gian chiếm đóng Đại Việt, nhà Minh đã đưavào đây nhiều yếu tố mới, làm thay đổi xã hội Đại Việt theo nhiều cách khác nhau.Những yếu tố mới nằm trong các chính sách khai thác, bóc lột kinh tế, kiểm soátchính trị, đồng hóa văn hóa đã được tác giả mô tả khá chi tiết
Trước đó, A.B.Woodside trong bài viết “Early Ming expansionism 1427): China’s abortive conquest of Vietnam” (Chủ nghĩa bành trướng thời kì đầu triều Minh (1406 – 1427): Thất bại của Trung Quốc trong quá trình xâm chiếm Việt Nam) (1963) cho rằng quá trình chiếm đóng Đại Việt của nhà Minh là
(1406-một sai lầm Nhà Minh không đủ chuẩn bị để cai trị (1406-một vùng đất xa xôi, những nỗlực cai trị nửa vời của triều đình lại còn bị cản trở bởi tham nhũng và sự tham lamcủa các viên quan kém tài được cử đến cai trị Đại Việt Cuối cùng, theo Woodside, sự
Trang 10thất bại của nỗ lực cai trị trực tiếp Đại Việt đã càng làm cho người Trung Quốc tinvào sự khôn ngoan của hệ thống cống nạp.
Học giả Nhật Bản Momoki Shiro trong tiểu luận “Dai Viet and South China Sea trade from the X th to the XV th century” (Đại Việt và thương mại ở biển Nam Trung Hoa từ thế kỉ X đến thế kỉ XV) (2004), mặc dù tập trung hướng vào
việc khảo cứu vị trí của Đại Việt trong mạng lưới buôn bán ở khu vực biển Đông từthế kỉ X đến thế kỉ XV nhưng cũng không quên đề cập đến mối quan hệ triều cốnggiữa nhà Minh và Đại Việt vì mối quan hệ đó, theo tác giả, có tác động không nhỏđến hoạt động thương mại triều cống của hai quốc gia ở thời kì này
Năm 2005, Nhà xuất bản Đại học Hawaii phát hành cuốn sách có tựa đề:
“Beyond the Bronze Pillars: Envoy Poetry and the Sino – Vietnamese Relationship” (Đi qua những cột đồng: thơ đi sứ và quan hệ Trung Quốc – Việt Nam) của Liam C.Kelley – Giáo sư trường Đại học Hawaii Liam C.Kelley đã tập
trung vào một khía cạnh trong quan hệ Việt – Trung mà lâu nay ít được để ý với ýtưởng thông qua việc phân tích các bài thơ đi sứ của các sứ thần Việt Nam trong cácthế kỉ XVI – XIX để đưa ra những cách nhìn mới về quan hệ giữa hai quốc gia này.Không tán thành quan điểm rằng về mặt lịch sử, người Việt luôn tìm cách duy trì mộtbản sắc văn hóa riêng tách khỏi Trung Quốc, Kelley đã đưa ra một quan điểm gâynhiều tranh cãi khi nhấn mạnh không có sự khác biệt lớn giữa văn hóa Trung Hoa vàvăn hóa Việt Nam, người Việt mà cụ thể là tầng lớp trí thức Việt luôn coi mình là
một bộ phận của “thế giới Trung Hoa” Theo tác giả: “Các tài liệu ở đây (bài thơ đi
sứ) nói trực tiếp về quan hệ Trung – Việt, và chúng không nói gì về xung đột hay đối nghịch Chúng không bộc lộ bất kì cảm giác nào về sự kháng cự chống Trung Quốc,
mà lại mô tả một sự khẳng định toàn diện về một trật tự thế giới mà quan hệ triều cống dựa vào và về vị trí phụ của Việt Nam trong thế giới ấy” Theo nhận xét của
giáo sư Keith Taylor, cuốn sách của Liam C.Kelley là một sự đóng góp quí, giúp tănghiểu biết về lịch sử và văn hóa Việt Nam Nhưng việc Kelley nhấn mạnh đến ưu thếvượt trội của văn hóa Trung Hoa trong tâm thức người Việt lại làm hạn chế, chứkhông mở rộng cách hiểu về Việt Nam
Một trong những công trình lý thú nhất gần đây liên quan đến ảnh hưởng củaTrung Hoa đến Đại Việt ở thế kỉ XV là của Sun Laichen (ĐH California) với tựa đề
“Chinese gunpowder technology and Dai Viet: c.1390 – 1497” (Kĩ nghệ thuốc súng của Trung Hoa và Đại Việt, khoảng 1390 - 1497) (2006) Những nghiên cứu
được trình bày trong bài viết này đã cho thấy một sự chuyển dịch ấn tượng về kĩ nghệquân sự Trung Hoa (đặc biệt là súng và thuốc súng) tới người Việt Nam thông qua sựchiếm đóng của nhà Minh tại đây và có tác động rất lớn, làm thay đổi sức mạnh quân
sự cũng như vị thế của Đại Việt ở Đông Nam Á lục địa trong các thế kỉ sau đó
Trang 11Bài báo “Asymmetry and China’s tributary system” (Tính không đối xứng và hệ thống triều cống của Trung Hoa) (2012) của Brantly Womack đã phân
tách diễn trình lịch sử của hệ thống triều cống Trung Quốc bằng các vấn đề khái quát
để gợi ý về một mô hình Tác giả lập luận rằng vị thế của Trung Quốc như một quốcgia trung tâm ở châu Á là cơ sở của các mối quan hệ với bên ngoài Brantly cũng đưa
ra trường hợp quan hệ Trung Quốc – Việt Nam ở thời Minh làm ví dụ tiêu biểu để kếtluận rằng khả năng phản kháng của các nước láng giềng nhỏ hơn là chìa khóa để duytrì tình trạng cân bằng mà không dựa trên sự thống trị áp đảo (từ phía Trung Quốc)
Có thể thấy, các học giả nước ngoài (mà ở đây chủ yếu là các học giả phươngTây) chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về quan hệ sách phong, triềucống giữa Trung Quốc và Việt Nam trong lịch sử Tuy vậy, các công trình nghiên cứu
kể trên của họ là những đóng góp có giá trị đối với việc nghiên cứu về hệ thống triềucống, về đặc điểm, bản chất của “trật tự thế giới Trung Hoa” và về những mối quan
hệ đa dạng của nhà Minh với Đông Nam Á, trong đó có Đại Việt Đây là những trithức tổng quát, cần thiết đối với việc nghiên cứu quan hệ sách phong, triều cốngMinh – Đại Việt
2.2 Các học giả Trung Quốc
Cũng giống như các học giả phương Tây, các học giả Trung Quốc khi nghiêncứu lịch sử quan hệ đối ngoại của Trung Quốc luôn muốn tìm hiểu cơ sở lý luận,
nguồn gốc dẫn đến sự hình thành quan niệm về “Trật tự thế giới Trung Hoa” (Chinese World Order) Tuy nhiên, xuất phát điểm cũng như quan niệm của họ về lý
luận này không giống các học giả phương Tây
Hoàng Chi Liên trong cuốn “Nghiên cứu hệ thống lễ trị thiên triều, Trật tự Hoa Hạ ở châu Á: Luận về hình thái mối quan hệ giữa Trung Quốc với các
nước châu Á”(1992) đã đưa ra khái niệm “Hệ thống lễ trị thiên triều” Trong hệ
thống đó, tác giả lấy “Hoa” của đế quốc Trung Hoa với thế nước cường thịnh và nềnvăn hóa ưu việt so với các nước trong khu vực làm nền tảng, coi việc “Di” ở cácnước xung quanh triều cống và tiếp thu sách phong từ các triều đại Trung Quốc là sợidây gắn kết trật tự chính trị, thương mại triều cống, là sự bảo đảm cho trật tự kinh tế.Đặc trưng của “hệ thống lễ trị thiên triều” là sự “đức hóa”, “mộ hóa” chứ không phải
là chinh phục, ép buộc…Trong quá trình nghiên cứu, Hoàng Chi Liên cũng phát hiện
ra rằng Triều Tiên và An Nam đều thuộc hàng phiên quốc thân cận nhất của TrungQuốc, tuy nhiên hai quốc gia này lại tiếp nhận “hệ thống lễ trị” này ở mức độ khácnhau, chỉ có Triều Tiên là hoàn toàn tiếp thu chế độ đó mà thôi
Khi bàn về “Trật tự Hoa Di”, Hà Phương Xuyên trong bài “Luận về trật tự
Hoa Di” (1998) cho rằng quan hệ triều cống và trật tự Hoa Di là hệ thống lý luận hoàn
bị nhất trong quan hệ quốc tế thời cổ đại Tác giả nhận định rằng “nhất” và “hòa” (là
Trang 12hai yếu tố bản chất nhất trong hệ thống quan điểm và nguyên tắc có liên quan đến “trật
tự Hoa Di”) “Nhất” ở đây chính là “trời sinh thánh nhân” – hoàng đế của đế quốc
Trung Hoa Bên dưới hoàng đế, muôn nước đến triều cống, kính mừng hoàng đế thánh
minh, thống trị Hoa Di Chỉ khi thừa nhận cái “nhất” thì việc gì dưới cái “nhất” đó cũng thực hiện được “Nhất” ở đây tức là chỉ đế quốc Trung Hoa và hoàng đế là “đại
nhất thống”, “nhất thống Hoa Di”, còn cái mà hoàng đế theo đuổi tìm kiếm chính là
việc đem lại “hòa” cho các nước lân bang Vì thế, trong “trật tự Hoa Di”, mối quan hệ
giữa Trung Quốc với các nước xung quanh là mối quan hệ giữa “trị” và “phụng”, làmối quan hệ giữa “phủ ngự” (cúi xuống vỗ về) và “sự đại” (ngẩng lên thờ nước lớn)trong đó đế quốc Trung Hoa và người thống trị đất nước này luôn đóng vai trò ở trên
cao vươn xuống thấp, bao trùm tất cả trong cái “trật tự Hoa Di” đó.
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng đưa ra nhiều ý kiến bác bỏ quan điểm
của J.K.Fairbank và S.Y.Teng Zang Feng trong bài báo “Rethinking the
“Tributary system”: Broadening the conceptual horizon of historical East Asian politics” (Suy ngẫm lại về “Hệ thống triều cống”: Mở rộng biên độ khái niệm về lịch sử chính trị khu vực Đông Á) (2009) cho rằng mặc dù có chữ “triều”
(朝 ) và chữ “cống” ( 貢 ) trong chữ Hán, nhưng cái gọi là “Hệ thống triều cống” (Tributary system) là do học giả phương Tây tạo ra và đó chỉ là hình thức ngoại giao
bình thường thời cổ ở Trung Quốc
Cuốn “Đông Nam Á và người Hoa” do Công ty xuất bản Hữu Nghị Trung
Quốc ấn hành năm 1986 là một tuyển tập các bài viết của học giả Vương Canh Vũ vềmảng đề tài quan hệ giữa người Hoa và Đông Nam Á trong lịch sử Trong đó, đáng
chú ý là hai bài viết “Luận thuật về bối cảnh mối quan hệ giữa Đông Nam Á và
nhà Minh (giai đoạn đầu)” (trang 1 - 41) và “Trung Quốc và Đông Nam Á từ
1404 đến 1424” (trang 42 - 71) Trong hai bài viết này, bằng những tư liệu lịch sử
chân thực và lập luận sâu sắc, tác giả đã đưa ra một cách tiếp cận thú vị về bản chấtquan hệ triều cống giữa nhà Minh và các nước Đông Nam Á (trong đó có Đại Việt)
Ví dụ, trong bài “Luận thuật về bối cảnh mối quan hệ giữa Đông Nam Á và nhà
Minh (giai đoạn đầu)”, Vương Canh Vũ đã viết: “Trong chế độ triều cống, rất
nhiều thứ vốn là truyền thống như ngôn ngữ, lễ nghĩa, các sự kiện lớn đã được ghi lại dưới quan điểm và thế giới quan của Nho gia Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thứ khác hoàn toàn không tương ứng như: tính xâm lược, sở thích chủ quan của hoàng đế, sự đặc biệt giữa việc dung hợp giữa tính vô tư công bình [trong quan hệ ngoại giao] và thực lực quân sự Đó là điều mà bài viết ngắn dù biết không dễ gì nhưng sẽ cố gắng chứng minh cho sự thật ấy, điều mà người viết cho rằng, nó sẽ chỉ ra nhiều mặt của
sự thật” Với cách tiếp cận khá mới mẻ, những bài viết của học giả Vương Canh Vũ
là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu về mối quan hệ triều cống giữa
Trang 13Trung Quốc và Đông Nam Á ở thế kỉ XV.
Một trong những công trình nghiên cứu tiêu biểu về mối quan hệ giữa nhà
Minh và Đại Việt là cuốn sách “Chinh chiến và từ bỏ - Nghiên cứu mối quan hệ Trung Việt thời Minh” của Trịnh Vĩnh Thường (1998) Vế đầu tiên trong tựa đề
của cuốn sách: “Chinh chiến dữ khí thủ” (Chinh chiến và từ bỏ) đã phần nào phảnánh diễn biến của cuộc viễn chinh tấn công Đại Việt ở thời hoàng đế Chu Đệ Mặc dùtác giả đã đưa ra một số quan điểm mới, khá độc đáo về cuộc viễn chinh này nhưngcũng không tránh khỏi việc bị chi phối bởi tư tưởng nước lớn như nhiều học giảTrung Hoa khác
Luận án tiến sĩ của Ngưu Quân Khải với tiêu đề “Triều cống và bang giao – Nghiên cứu mối quan hệ Trung - Việt giai đoạn cuối Minh đầu Thanh (1593- 1702)” (2003) lại hướng vào nghiên cứu thái độ, sự tác động qua lại và diễn biến mối
quan hệ Trung – Việt khi cả hai nước đang ở vào tình cảnh triều chính suy vi Tác giảluận án cho rằng vào thời kì cuối Minh đầu Thanh, Trung Quốc đã lựa chọn chínhsách “thừa nhận cả hai”, thừa nhận cả chính quyền nhà Mạc và chính quyền nhà Lê ởĐại Việt cũng như nhấn mạnh rằng thực lực là vấn đề then chốt ảnh hưởng đến quan
hệ giữa hai nước
Cuốn “Sử luận về lịch sử chế độ triều cống – Nghiên cứu về thể chế quan
hệ đối ngoại của Trung Quốc thời cổ đại” (2004) của Lý Vân Tuyền đã góp thêm
một cách tiếp cận mới khi nghiên cứu về mối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc
Tác phẩm được kết cấu làm 6 chương, ở chương 2 với tiêu đề “Nghiên cứu
chế độ triều cống thời Minh”, tác giả đã đi sâu phân tích về chế độ triều cống thời
Minh ở các mặt: phân loại các hình thức triều cống, quy định và trình tự triều cống,cống vật, hồi tứ và sách phong, cách tổ chức quản lí sự vụ triều cống và cơ cấu ngoạigiao thời Minh Quan hệ triều cống giữa Đại Việt (An Nam) với nhà Minh tuy chỉđược dẫn chứng đặt trong tổng thể mối quan hệ triều cống giữa các nước Lưu Cầu,Triều Tiên, Chămpa…với nhà Minh song đã cung cấp một số bảng biểu, số liệu vềchế độ cống sứ của Đại Việt đối với triều Minh qua các giai đoạn Tác phẩm là tàiliệu tham khảo có giá trị đối với việc nghiên cứu lịch sử triều cống của Trung Quốcvới các nước, trong đó có Việt Nam
Trần Văn Nguyên đã đặt vấn đề cho luận án “Nghiên cứu quan hệ Việt đời Minh” (2005) của mình rằng: trong mối quan hệ giữa Trung Quốc thời cổ
Trung-đại và các nước xung quanh, Triều Tiên và An Nam được coi là hai nước thân cậnnhất, song cảm quan của Trung Quốc đối với hai nước lại khác nhau khá nhiều TriềuTiên được khen là nước tòng thuận, còn An Nam bị chỉ trích là nước “hay sinh sự”.Hay ví như Xiêm La, một nước cũng nằm khá gần Trung Quốc, nền chính trị cũnggần tương tự như An Nam, nhưng ấn tượng về nước này trong con mắt của chính
Trang 14quyền Trung Quốc khá tốt đẹp Điều đó cho thấy An Nam là một đất nước “có cátính” Từ đó tác giả mong muốn có thể phác họa lại diễn biến, đặc trưng của mốiquan hệ giữa nhà Minh và An Nam thông qua việc nghiên cứu nhiều vấn đề trongmối quan hệ giữa hai quốc gia từ nửa cuối thế kỉ XIV đến nửa đầu thế kỉ XVII như:chính sách đối ngoại của nhà Minh đối với Đại Việt, xung đột biên giới, vấn đềChămpa, trao đổi kinh tế, xung đột văn hóa…Luận án này cũng dành một chương,
chương 4 với tiêu đề “Mấy vấn đề về quan hệ tông phiên giữa nhà Minh và An Nam”
(có dung lượng 24 trang) để trình bày khái quát một số nét về “quan hệ tông phiên”giữa hai quốc gia (nghi thức cầu phong và sách phong, nghi lễ của sứ thần TrungQuốc sang An Nam cũng như nghi lễ của sứ thần An Nam sang Trung Quốc, cốngvật và ban thưởng, đường sang triều cống, vấn đề người thế thân bằng vàng, quan hệkinh tế)
2.3 Các học giả Việt Nam
Lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ lâu đã được các học giả Việt Namquan tâm nghiên cứu Nhiều lĩnh vực của mối quan hệ này như quan hệ chính trị,quân sự, quan hệ kinh tế, văn hóa qua các triều đại đã được đề cập đến trong các sách
chuyên khảo như “Việt Nam sử lược” (1921) của Trần Trọng Kim, “Lý Thường Kiệt” (1949) của Hoàng Xuân Hãn, “Đất nước Việt Nam qua các đời” (1964) của Đào Duy Anh, “Lịch sử Việt Nam” (tập 1) (1971) do Ủy ban KHXH Việt Nam tổ
chức biên soạn…Quan hệ sách phong, triều cống giữa hai nước tuy chưa được đề cậpthành một vấn đề riêng, nhưng những mối quan hệ đa dạng, phức tạp giữa Việt Nam
và Trung Quốc trong lịch sử, được nghiên cứu trong các công trình này, là cơ sở choviệc nghiên cứu bối cảnh quan hệ sách phong, triều cống giữa hai nước trong các giaiđoạn lịch sử cụ thể
Trong số những công trình nghiên cứu gần đây về quan hệ giữa Việt Nam và
Trung Quốc có tác phẩm “Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thế kỉ XV – đầu thế kỉ XVI” (1995) của Tạ Ngọc Liễn Đây là một trong những công trình đầu
tiên nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ở thời Lê sơ.Trong công trình này, quá trình thiết lập quan hệ ngoại giao giữa nhà Lê với nhàMinh sau năm 1427, quan hệ sách phong, triều cống cũng như quan hệ buôn bán giữaViệt Nam và Trung Quốc ở thế kỉ XV – đầu thế kỉ XVI đã được tác giả khôi phục lạimột cách chân thực dựa trên những nguồn sử liệu phong phú, tin cậy Tác giả cũng đãphân tích cơ sở tư tưởng của chế độ triều cống (đó là “chủ nghĩa lấy Trung Quốc làmtrung tâm”), vị trí và ý nghĩa của quan hệ sách phong, triều cống trong quan hệ giữahai nước cũng như địa vị của Việt Nam trong mối quan hệ này…
Cuốn sách “Ngoại giao Đại Việt” (2000) của Lưu Văn Lợi gồm hai phần
chính: Quan hệ của Đại Việt với Trung Quốc và quan hệ của Đại Việt với các nước
Trang 15Đông Dương (Phần thứ ba là một số nhận xét về nền ngoại giao Đại Việt) Ở phầnthứ nhất, theo quan điểm của tác giả, do những lí do địa - chính trị và tư tưởng, việcnghiên cứu ngoại giao Đại Việt cần được gắn chặt với việc nghiên cứu tư tưởng vàngoại giao Trung Quốc Vì vậy, trước khi đề cập cụ thể đến mối quan hệ ngoại giaogiữa Đại Việt và Trung Quốc, tác giả đã khái quát về nền ngoại giao cổ truyền của đếchế Trung Hoa, trong đó nhấn mạnh quan niệm của Trung Quốc về quan hệ củaTrung Quốc với các nước và chính sách của “thiên triều” đối với Đại Việt Tiếp đó,tác giả trình bày diễn tiến của mối quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và Trung Quốc
từ thời Bắc thuộc cho đến hết thời Thanh ở Trung Quốc Những vấn đề có liên quanđến mối quan hệ giữa Đại Việt và nhà Minh như cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đối sáchngoại giao của Lê Lợi và Nguyễn Trãi cũng như vấn đề cầu phong, triều cống cũngđược đề cập đến ở phần này
Hai tập sách “Bang giao Đại Việt triều Trần – Hồ” và “Bang giao Đại Việt triều Lê, Mạc, Lê Trung Hưng” trong bộ sách “Bang giao Đại Việt” (2005) của
tác giả Nguyễn Thế Long đã giúp người đọc hiểu rõ hơn những nội dung bang giao,phương thức, nghệ thuật, văn hóa trong mối bang giao của các triều đại ở Đại Việtvới các vương triều Trung Quốc Đặc biệt, những mẩu chuyện đi sứ và tiếp sứ đã gópphần tái hiện chân thực và sống động lịch sử cũng như diễn tiến mối bang giao củaViệt Nam với Trung Quốc trong các thế kỉ XIV – XVIII
Về quan hệ Việt – Trung trong lịch sử nói chung, quan hệ giữa Đại Việt vớinhà Minh nói riêng, gần đây còn có một loạt các bài viết mang tính chuyên đề như:
“Cuộc đấu tranh ngoại giao với triều đình nhà Minh đầu thế kỉ XV và những chứng tích còn lại” (2002) của Nguyễn Văn Nguyên, “Đặc điểm quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc thời trung đại nhìn từ quan hệ văn hóa – chính trị mang tính vùng” (2008) của Đinh Thị Dung, “Đại Việt trong bối cảnh lịch sử, chính trị Đông Á thế kỉ XV” (2009) của Nguyễn Văn Kim, “Chính sách ngoại giao thời Mạc: Bài học lịch sử giá trị” (2010) của Ngô Đăng Lợi, “Quan niệm “vô tốn Trung Hoa” ở Việt Nam thời trung đại” (2011) của Nguyễn Văn Hiệu, “Văn hóa ứng xử của Việt Nam trong quan hệ với Trung Hoa thời kì trung đại nhìn từ vấn đề “sách phong, triều cống” (2011) của Trần Nam Tiến …
Thông qua việc nghiên cứu các văn kiện ngoại giao (Tấu 奏 và Biểu 表) củacác lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn và vương triều Lê sơ, tác giả Nguyễn Văn Nguyên
trong bài viết “Cuộc đấu tranh ngoại giao với triều đình nhà Minh đầu thế kỉ
XV và những chứng tích còn lại” (2002) đã phác họa lại quá trình đấu tranh ngoại
giao nhằm mục đích khôi phục quan hệ giữa nhà Lê sơ và nhà Minh từ năm 1428 đếnnăm 1437, chủ yếu xoay quanh vấn đề sách phong và triều cống Kết quả của cuộcđấu tranh này là nhà Minh đã phải sách phong cho vua Lê làm An Nam quốc vương,
Trang 16cũng tức là phải thừa nhận Đại Việt là một quốc gia độc lập.
Bài viết “Đại Việt trong bối cảnh lịch sử, chính trị Đông Á thế kỉ XV”
(2009) của tác giả Nguyễn Văn Kim đã đặt việc nghiên cứu Đại Việt ở thế kỉ XVtrong các mối quan hệ và tương tác khu vực Theo tác giả, từ thời Lê sơ (1428 –1527), trên nhiều phương diện như: thiết chế chính trị, luật pháp, giáo dục…Đại Việtđều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Trung Quốc nhưng đó không phải là một sự rậpkhuôn máy móc, tiếp nhận thụ động và xa rời chủ nghĩa yêu nước cũng như truyềnthống văn hóa dân tộc Đại Việt lựa chọn, tiếp nhận những yếu tố Trung Hoa với tínhđộc lập cao và tâm thế của một xã hội đang hướng mạnh đến những nhu cầu pháttriển nội tại và vì sự nghiệp chấn hưng dân tộc Điều này được thể hiện rất rõ trongchính sách ngoại giao của triều Lê sơ đối với nhà Minh Trước áp lực của TrungQuốc, trong khi các triều đại quân chủ Triều Tiên thường hướng đến và lựa chọncách thức giải quyết ôn hòa, tránh đương đầu trực tiếp với đế chế lớn thì dân tộc Việtlại thường lựa chọn cách ứng xử mạnh, tức là sẵn sàng đứng lên bảo vệ nền độc lập
và chủ quyền dân tộc
Trong bài viết “Thân oan cho Mạc Đăng Dung” (2000), tác giả Lê Văn Hòe
đã đưa ra nhiều dẫn chứng và luận điểm để “minh oan” cho những quyết định, việc
làm của Mạc Đăng Dung trong quan hệ với nhà Minh Theo tác giả: “Kể ra làm vua
một nước mà phải cắt đất xin hàng giặc thì cũng đáng chê Nhưng xét kĩ tình thế trong nước hồi bấy giờ…nay dù họ Mạc đã dẹp yên bờ cõi, dựng nên nghiệp lớn, nhưng vết thương loạn lạc chưa hàn gắn xong, lòng người còn hoang mang, thì ta thấy họ Mạc không thể hành động khác được”.
Cùng chia sẻ quan điểm trên, tác giả Ngô Đăng Lợi trong bài viết “Chính sách ngoại giao nhà Mạc: Bài học lịch sử giá trị” (2010) cũng cho rằng cần phải nhìn nhận
lại quan điểm của nhiều sử gia phê phán việc Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh, nhậnnội thuộc, nhận chức Đô thống sứ…Theo tác giả, việc đầu hàng là một biện pháp tìnhthế giống như việc Lê Lợi đại thắng quân Minh nhưng vẫn phải cấp tàu xe, lương thảocho Vương Thông rút quân, phải trả lừa, ngựa, binh khí, tù binh cho nhà Minh, lại phảithực hiện danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ” của nhà Minh mà dựng Trần Cảo làm vua, phảicống người vàng…Tác giả cũng dẫn lại quan điểm của giáo sư Trần Quốc Vượng rằng:
“Triều Mạc thần phục giả vờ để giữ độc lập thật sự”
Có thể tổng kết lại một số thành tựu mà các học giả Việt Nam và nước ngoàiđạt được từ quá trình nghiên cứu lịch sử mối quan hệ giữa Trung Quốc thời Minh vớicác nước Đông Nam Á nói chung, với Đại Việt nói riêng như sau:
- Những vấn đề lý luận về sự hình thành chính sách đối ngoại của Trung Hoathời trung đại
- Các khái niệm gắn liền với chính sách đối ngoại của Trung Hoa thời trung
Trang 17đại: Hệ thống triều cống (Tributary system), trật tự thế giới Trung Hoa (Chineseworld order), hệ thống lễ trị thiên triều, trật tự Hoa Di, sách phong, triều cống…
- Một số vấn đề về quan hệ giữa Trung Quốc thời Minh với khu vực ĐôngNam Á, trong đó có Đại Việt, trên các lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, quân sự, thươngmại, văn hóa
- Quan hệ sách phong, triều cống giữa Trung Quốc với Đại Việt ở thời Minhcũng đã được đề cập tới, tuy còn ở mức khái quát trong công trình nghiên cứu của TạNgọc Liễn (trong phạm vi thế kỉ XV – đầu thế kỉ XVI), và trong công trình nghiêncứu của Trần Văn Nguyên như đã giới thiệu ở trên
Tuy nhiên, có thể nói, đến nay chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiêncứu một cách toàn diện, hệ thống về quan hệ sách phong, triều cống giữa Trung Quốc
và Đại Việt ở thời Minh (1368 – 1644) Những vấn đề còn chưa được nghiên cứu hệthống và chuyên sâu là:
- Những cơ sở của quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt
- Bối cảnh lịch sử của quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt trongcác giai đoạn lịch sử cụ thể
- Diễn tiến toàn diện của mối quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việtvới những thăng, trầm và nguyên nhân của nó
- Vị trí của quan hệ sách phong, triều cống trong quan hệ giữa hai nước ở thờiMinh và đặc điểm của mối quan hệ này
Trên cơ sở khai thác các nguồn sử liệu Trung Quốc, sử liệu Việt Nam, kế thừakết quả nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, luận án sẽ đi sâu nghiên cứu
và giải quyết những vấn đề còn tồn tại trên
Về thời gian, phạm vi thời gian luận án bao quát là từ năm 1368 khi nhà Minhđược thành lập, đến năm 1644 khi nhà Minh bị lật đổ Sau năm 1644 mặc dù tàn dưcủa triều Minh vẫn tồn tại lay lắt ở miền nam Trung Quốc một thời gian ngắn nữa vàvẫn có quan hệ với nhà Lê, nhưng lúc này lịch sử Trung Quốc và quan hệ TrungQuốc – Đại Việt đã bước sang một thời kì mới
Trong thời gian nhà Minh cai trị Trung Quốc, ở Đại Việt đã có 4 triều đại kếtiếp nhau (riêng triều Lê lại bị chia cắt thành hai thời kì) Chính sách của nhà Minhđối với các vương triều Đại Việt cũng có nhiều thay đổi, vì vậy, luận án phân chiacác giai đoạn nhỏ trong quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt theo thời
Trang 18gian tồn tại của các vương triều ở Đại Việt.
Về việc sử dụng danh xưng “Minh”: Minh là tên gọi một triều đại phong kiếnTrung Quốc, đồng thời cũng là quốc hiệu của nước này từ năm 1368 đến năm 1644.Trong luận án, danh xưng này tùy theo bối cảnh, có lúc được sử dụng với nghĩa quốchiệu, có lúc với nghĩa vương triều
4 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
4.1 Mục đích
Mục đích của luận án là khôi phục lại một cách hệ thống, toàn diện quan hệsách phong, triều cống giữa Trung Quốc và Đại Việt ở thời Minh với những thăngtrầm của nó qua các giai đoạn lịch sử cụ thể, lí giải nguyên nhân dẫn đến sự tồn tạibền vững của hình thức quan hệ này và làm sáng tỏ những đặc trưng cơ bản của quan
hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt Qua đó, tác giả luận án hi vọng có thể bổsung tư liệu, nhận định, góp phần vào việc thúc đẩy nghiên cứu toàn diện lịch sửquan hệ sách phong, triều cống giữa hai nước cũng như làm rõ một mô hình banggiao độc đáo của các vương triều phong kiến Trung Quốc với các nước láng giềng
4.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếudưới đây:
- Phân tích các cơ sở của quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt (cơ
sở tư tưởng, lợi ích và truyền thống)
- Phân tích toàn diện bối cảnh lịch sử Trung Quốc, Đại Việt và chính sách củacác vương triều tác động đến quan hệ sách phong, triều cống giữa hai nước qua cácgiai đoạn cụ thể
- Khôi phục lại tiến trình quan hệ sách phong, triều cống Minh - Đại Việt từnăm 1368 đến năm 1644
- Đánh giá vị trí và phân tích các đặc điểm của mối quan hệ sách phong, triềucống Minh – Đại Việt
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
* Tư liệu gốc
Nguồn sử liệu Trung Quốc quan trọng nhất được luận án tập trung khai thác là
Minh thực lục (明實錄) Đây là bộ biên niên sử đồ sộ của 13 hoàng đế nhà Minh (có
hai vua là Kiến Văn và Đại Tông không có thực lục riêng, còn thực lục của vua TưTông không được xem là chính thức), gồm 3.053 quyển với tổng cộng hơn 40.000trang ghi chép về những sự kiện lớn nhỏ của triều Minh Ở góc độ quan hệ đối ngoại,
Minh thực lục cung cấp cho các nhà nghiên cứu những tư liệu về tiến trình phát triển
của các mối bang giao giữa Trung Quốc với các nước, trong đó có Đại Việt
Trang 19Do Đại Việt là một nước láng giềng liền kề, có nhiều điểm tương đồng về vănhóa, có mối quan hệ mật thiết với nhà Minh nên phần viết về Đại Việt chiếm một số
lượng lớn trong Minh thực lục Trong Minh thực lục có tới 1329 văn bản, đoạn văn
bản liên quan đến Đại Việt và Chămpa Toàn bộ các văn bản và đoạn văn bản này lầnđầu tiên đã được nhà nghiên cứu Hồ Bạch Thảo dịch ra tiếng Việt, Phạm HoàngQuân hiệu đính, và được NXB Hà Nội xuất bản năm 2010 (có kèm bản gốc chữ Hán)
với tiêu đề: “Minh thực lục: Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam thế kỉ XIV – XVII” (3 tập) Tuyển tập tư liệu này đã cung cấp nhiều sử liệu quan trọng và chi tiết
về việc cầu phong, sách phong, triều cống, thông hiếu…trong quan hệ bang giao giữa
hai nước ở thời Minh Từ những ghi chép của Minh thực lục, các nhà nghiên cứu
Việt Nam có thể khai thác được nhiều tư liệu quí để bổ sung cho nguồn sử liệu Việt,khảo sát, đối chứng với các ghi chép trong thư tịch cổ Việt Nam về quan hệ sáchphong, triều cống giữa Đại Việt với nhà Minh Tuy nhiên, cũng cần dựa vào các
nguồn sử liệu Việt để khảo sát, đối chứng những ghi chép của Minh thực lục, để cải chính những lầm lẫn của Minh thực lục về tên người, địa danh Việt và cả những
quan điểm, nhận định không phù hợp của các sử gia Minh khi viết về mối quan hệnày
Nguồn sử liệu Việt Nam quan trọng nhất đối với luận án là Đại Việt sử kí toàn thư (viết tắt là Toàn thư), bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697) Luận án sử
dụng bản dịch và chú thích của Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long (hiệuđính: Hà Văn Tấn) do NXB KHXH xuất bản (bản in năm 2009)
Với cách viết sử theo lối biên niên, Toàn thư đã ghi lại theo trình tự thời gian
những sự kiện có liên quan đến quan hệ sách phong, triều cống giữa Đại Việt vớitriều Minh từ năm 1368 đến năm 1644 như việc cầu phong, sách phong, triều cống,
thông hiếu…Toàn thư là một nguồn sử liệu phong phú, có giá trị cao để nghiên cứu
về quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt và để đối chiếu, so sánh, kiểmchứng các nguồn sử liệu Trung Quốc về vấn đề này Tuy nhiên, đôi khi các sự kiện
cầu phong; sách phong được ghi chép trong Toàn thư còn bị nhầm lẫn về thời gian;
chủng loại và số lượng cống phẩm, quà tặng lại của nhà Minh cũng ít được ghi chép
cụ thể Để khắc phục điều này, luận án dựa vào sử liệu Trung Quốc và các nguồn sửliệu Việt khác
Ngoài Minh thực lục và Toàn thư, luận án còn tập trung khai thác nhiều nguồn sử liệu có giá trị khác như: Minh sử (明史), Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Lê triều hình luật, Đại Việt thông
sử (còn gọi là Lê triều thông sử), An Nam chí lược, Vân đài loại ngữ, Tưởng Lê
an Mạc tập, Mai Lĩnh sứ hoa thi tập…
* Tài liệu tham khảo: Các công trình nghiên cứu đã được công bố của các học
Trang 20giả trong và ngoài nước xung quanh những vấn đề có liên quan đến luận án, gồm cácsách chuyên khảo, các tuyển tập báo cáo khoa học, các bài viết trên tạp chí chuyênngành, các luận án, luận văn, các báo cáo trong các hội thảo khoa học…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài là phươngpháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic Trong đó, tiếp cận tư liệu; phân loại tưliệu; xử lý, phê phán tư liệu; khai thác triệt để các tư liệu gốc theo hướng tiếp cận lịchđại, đồng đại, hệ thống là sự lựa chọn ưu tiên của luận án
Luận án cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp cụ thể (Casestudy), phương pháp nghiên cứu liên ngành và các phương pháp phân tích, tổng hợp,thống kê, so sánh để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra
6 Đóng góp của luận án
Giải quyết được các nhiệm vụ đặt ra, luận án có thể có những đóng góp như sau:
- Tái hiện một cách khách quan, sinh động quá trình xác lập, duy trì, củng cốquan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt qua các cặp quan hệ: Minh - Trần,Minh - Hồ, Minh – Lê sơ, Minh – Mạc, Minh – Lê trung hưng, với những nét đặc thùdưới tác động của bối cảnh lịch sử cụ thể
- Làm sáng tỏ các cơ sở của quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt;đánh giá vị trí, xác định đặc điểm của mối quan hệ này và phân tích thực chất thái độcủa các vương triều Đại Việt trong quan hệ với nhà Minh Trên cơ sở đó, luận án hyvọng cung cấp một ví dụ cụ thể, điển hình để kiểm chứng và đánh giá các lý thuyếttriều cống mà một số học giả đã nêu ra
- Bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy về quan hệ bang giao giữahai nước Trung Quốc, Đại Việt ở thời phong kiến
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận ángồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở của quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt
Chương 2: Quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt giai đoạn 1368 – 1527 Chương 3: Quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt giai đoạn 1527 – 1644 Chương 4: Một số nhận xét về quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt
Chương 1
CƠ SỞ CỦA QUAN HỆ SÁCH PHONG, TRIỀU CỐNG MINH - ĐẠI VIỆT
Trang 211.1 Sự phát triển cao độ của tư tưởng “thiên triều – chư hầu” dưới triều Minh
1.1.1 Khái niệm “sách phong”, “sắc phong”, “cống”, “triều cống” và nguồn gốc của các hiện tượng này
Tư tưởng “thiên triều – chư hầu” có nguồn gốc từ thời Tiên Tần ở Trung Quốc,được củng cố, phát triển trong suốt thời kì phong kiến và trở thành cơ sở tư tưởng chiphối mọi mối quan hệ của các vương triều phong kiến Trung Quốc với các nước xungquanh Ở thời Minh, cùng với sự cường thịnh của Trung Quốc, tư tưởng “thiên triều –chư hầu” cũng được phát triển cao độ và là cơ sở tư tưởng của quan hệ sách phong,triều cống Minh – Đại Việt, cũng như giữa Minh với các chính thể khác ở châu Á Đểlàm rõ vấn đề này, trước hết cần phân tích các khái niệm “sách phong”, “sắc phong”,
“cống”, “triều cống” và nguồn gốc của các hiện tượng đó
* Sách phong:
Theo Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế thì “sách phong” (冊封) là một
từ ghép, trong đó “sách” (冊) là “mệnh lệnh của vua”, còn “phong” (封) là “ban chotước hiệu” Vậy “sách phong” là việc nhà vua ban tước hiệu, đất đai cho một người
để xác định địa vị của người đó [25; 1567]
* Sắc phong:
“Sắc” (敕) là văn bản của vua ban hành [25; 1582], còn “phong” (封) là “bancho tước hiệu” Vậy sắc phong là văn bản ghi chỉ dụ, mệnh lệnh của vua ban tướchiệu hay đất đai cho một người để xác định địa vị của người đó Văn bản này ghi họ,tên, tước hiệu được phong và lí do phong
Chế độ phân phong ở Trung Quốc có mầm mống từ thời Thương (khoảng thế
kỷ XVI TCN – khoảng năm 1066 TCN) và được xác lập, phát triển ở thời Tây Chu(khoảng 1066 – 771 TCN) Ngay từ đầu thời Tây Chu, trên cơ sở chế độ tông pháp,Chu Vũ Vương (vua đầu tiên của nhà Chu), Chu Công Đán (Nhiếp chính), ChuThành Vương (vua thứ hai của nhà Chu) đã thi hành chế độ phong tước, cắt đất chiacho con cháu, công thần, lập nên một hệ thống các nước chư hầu trong lãnh thổTrung Quốc Đại thể, tùy theo tôn ti, thứ bậc, địa vị chính trị, vua Chu phong cho con
em, công thần một trong năm tước: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam Diện tích đất được chiatùy theo tước vị Tương truyền, Chu Vũ Vương, Chu Công Đán, Chu Thành Vương
đã phân phong 71 nước Theo thời gian, số các nước chư hầu ngày càng tăng, có lúc
lên đến hàng trăm nước Tuân Tử từng nói: “Con cháu nhà Chu, nếu không điên hay
ngốc, thì đều làm chư hầu nổi tiếng trong thiên hạ” [75; 273].
Tước vị và đất phong được thừa kế theo chế độ “cha truyền con nối” Cácnước chư hầu có chính quyền, quân đội, chế độ thuế khóa, luật pháp riêng…, về cơ
Trang 22bản vua Chu không can thiệp Các chư hầu có nhiệm vụ cai quản đất đai được phânphong, phục tùng mệnh lệnh của vua Chu và thực hiện các nghĩa vụ với nhà vua,trong đó nghĩa vụ quan trọng nhất là hàng năm phải đến chầu và nộp cống Ngoài rakhi có chiến tranh, loạn lạc, chư hầu phải đem quân đội đến giúp vua Tước vị truyềnlại cho con cháu phải được vua Chu phê duyệt Nếu chư hầu nào không thực hiệnđúng những quy định đó có thể bị giáng tước vị, bị thu hồi đất phong, thậm chí bịtiêu diệt Ngược lại, bổn phận của vua Chu là che chở, giúp đỡ chư hầu Nếu bị ngoạitộc xâm lược thì vua Chu sẽ cử quân đội đến giúp đỡ, nếu mất mùa thì cứu trợ Vàinăm một lần vua Chu phải đi thăm hết các nước chư hầu (thực ra chỉ có thể thăm một
số nước lớn – TG)
Nhận xét về chế độ phân phong thời Chu, một số học giả Trung Quốc cho
rằng chế độ phân phong đó “vừa là chế độ tổ chức nhà nước lại vừa là tổ chức xã
hội” [17; 341] Chế độ này phù hợp với tình hình kinh tế và trình độ tổ chức xã hội
của giai cấp thống trị lúc đó Tuy nhiên, chế độ phân phong này đã trở thành nguồngốc của các cuộc xung đột, chính biến, đẩy xã hội Trung Quốc vào một thời kỳ chiếntranh, loạn lạc kéo dài hàng thế kỉ Vì vậy sau khi tiêu diệt được các nước chư hầukhác thống nhất Trung Quốc vào năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng đã xóa bỏ chế độphân phong thời Chu, chia cả nước thành 36 quận, dưới quận là huyện Chế độ hànhchính quận, huyện hoàn toàn đối lập với chế độ phân phong giúp cho Tần ThủyHoàng xây dựng được chế độ trung ương tập quyền vững mạnh Sau này, nhà Hán vàmột số triều đại khác cũng thực hiện chế độ phong vương cho con cháu, công thần,nhưng diện tích đất phong thường nhỏ và thời gian tồn tại không dài
* Cống:
Trong tiếng Hán từ “cống” (貢) có nghĩa là “dâng lên”, “dâng biếu” Kháiniệm này được hiểu là hành động của kẻ dưới, cấp dưới dâng quà, tài sản, tiền bạc,phương vật… lên cho bề trên, cấp trên
Thiên “Vũ cống” trong sách “Thượng thư” có lẽ là tài liệu sớm nhất viết về
“cống” chép: vào thời Hạ, vua Vũ chia đất làm 9 châu, rồi căn cứ vào các loại đất tốtxấu khác nhau để đánh thuế và quy định các đồ cống nạp “Cống” ở thời Hạ Vũ có lẽchỉ là một hình thức “phụ thu” mà chính quyền trung ương đặt ra cho các địa phươngbên cạnh việc thu thuế ruộng đất
* Triều cống:
Khái niệm “triều cống” trong tiếng Hán gồm hai từ: “triều” (朝) chỉ triều đình
và “cống” (貢) là “dâng lên”, “dâng biếu” Khái niệm này được dùng để chỉ việc mộtnước nhỏ đem dâng phẩm vật cho nước lớn, hoặc một chư hầu đem dâng phẩm vậtlên vua Chế độ triều cống gắn với chế độ phân phong thời Tây Chu Theo đó, vua
Trang 23các nước chư hầu của nhà Chu có nghĩa vụ hàng năm đến chầu và nộp cống cho triềuđình Đây chính là nguồn gốc của chế độ triều cống mà sau này các vương triềuphong kiến Trung Quốc áp dụng với các nước xung quanh.
Như vậy, chế độ phân phong, triều cống có từ thời cổ đại và là một hình thức
tổ chức cai trị nội bộ, dựa chủ yếu trên quan hệ huyết thống của giai cấp thống trịTrung Quốc Chế độ này được xác lập thành hệ thống và được thực hiện triệt để ởthời Chu Phong tước gắn liền với cấp đất; nhận tước, nhận đất gắn với nghĩa vụ triềucống và thực hiện mọi mệnh lệnh của phong quân
Sang thời phong kiến, với sự hình thành các đế chế lớn mạnh (Tần, Hán, Tấn,Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh), giai cấp phong kiến Trung Quốc đã ápdụng phương thức sách phong và triều cống này để xử lý mối quan hệ giữa TrungQuốc với các quốc gia xung quanh có quan hệ với Trung Quốc Theo đó, muốn thiếtlập và duy trì quan hệ với Trung Quốc, muốn được hoàng đế Trung Quốc sáchphong, các vương quốc và các bộ tộc phải thừa nhận và phục tùng “thiên triều”,
“thiên tử”, phải tuân theo các nguyên tắc trong quan hệ do triều đình Trung Quốc đặt
ra, phải xưng thần, cầu phong và triều cống định kỳ Ngoại quốc, ngoại tộc dâng lễvật đến triều đình Trung Quốc gọi là “triều cống”, triều đình Trung Quốc ban thưởnglại lễ vật cho ngoại quốc, ngoại tộc gọi là “hồi tứ” (hồi: trở lại; tứ: ban thưởng, bantặng)
Sách phong, triều cống dần dần trở thành mô thức chủ yếu của mối quan hệgiữa Trung Quốc với các quốc gia, bộ tộc bên ngoài Mối quan hệ đó tạo nên cái màsau này được nhiều học giả phương Tây gọi là “hệ thống triều cống” (Tributarysystem) hay “trật tự thế giới Trung Hoa” (Chinese world order)
Vậy chế độ sách phong, triều cống này được giai cấp thống trị Trung Quốc ápdụng trong quan hệ với các nước xung quanh từ khi nào? Có nhiều quan điểm khác
nhau về vấn đề này Sử ký của Tư Mã Thiên (các thiên “Lịch Sinh, Lục Giả liệt
truyện” và “Nam Việt Úy Đà liệt truyện”) cho biết: sau khi nhà Tần sụp đổ (năm 206TCN), Triệu Đà – quan úy (chức quan phụ trách quân sự một quận) quận Nam Hải,
đã chiếm 3 quận ở cực Nam của đế chế Tần là Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận đểlập ra nước Nam Việt, tự xưng là Nam Việt Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung(Quảng Châu) Sau khi bình định được thiên hạ, nhà Hán cũng chưa thể “trị tội” đượcTriệu Đà Năm 196 TCN, Hán Cao Tổ Lưu Bang (206 – 195 TCN)- hoàng đế đầutiên của nhà Hán, đã cử Lục Giả làm sứ giả sang phong Triệu Đà làm Nam ViệtVương, cho phép phái sứ giả đi lại với Trung Quốc [81; 525-526] Đến thời Cao Hậu(187 – 180 TCN), do mâu thuẫn với nhà Hán, Triệu Đà bèn tự tôn là “Nam Việt VũĐế”, dùng xe mui lụa màu vàng, mệnh lệnh ban ra gọi là “chế”, tự xem mình ngangvới hoàng đế Hán chứ không chịu thần phục nhà Hán nữa Sau khi Cao Hậu chết,
Trang 24Hán Văn Đế (180 – 157 TCN) đã tìm cách dụ dỗ, mua chuộc Triệu Đà và lại cử Lục
Giả đi sứ lần thứ hai sang vỗ về Triệu Đà lại quy phục nhà Hán và “xin mãi mãi làm
phiên thần dâng lễ cống” [81; 526-527] Đến thời Hán Cảnh Đế (157 – 141 TCN) và
đầu thời Hán Vũ Đế (141 – 87 TCN), nước Nam Việt vẫn xưng thần, nộp cống vàcho người vào chầu nhà Hán Thậm chí Triệu Hồ (cháu nội Triệu Đà, lên ngôi năm
137 TCN) còn cho con là Anh Tề sang làm con tin ở triều đình nhà Hán [81; 527].Tuy nhiên, đến năm 111 TCN, Hán Vũ Đế đã phát đại binh sang chinh phục NamViệt
Có thể nói, theo Sử ký thì ngay từ đầu thời Tây Hán, giai cấp phong kiến cầm
quyền ở Trung Quốc đã bắt đầu áp dụng chế độ sách phong, triều cống trong quan hệvới các nước xung quanh So với chế độ phân phong trong nội bộ thì chế độ sáchphong, triều cống này khác căn bản ở chỗ: việc phong tước không gắn với cấp đất vàngười dân sống trên đất ấy Như vậy việc phong tước này chỉ có tính chất tượngtrưng Không những thế, việc vua Trung Quốc phong tước vương cho vua một nướckhác thực chất là công nhận sự tồn tại độc lập của nước đó Tuy nhiên, với ưu thế vềkinh tế, quân sự, các vương triều phong kiến Trung Quốc luôn buộc các nước nàyphải thần phục và triều cống
Vị trí và tầm quan trọng của quan hệ sách phong, triều cống trong nền chínhtrị Trung Quốc thể hiện ở chỗ trong các triều đình phong kiến Trung Quốc luôn cómột viên quan cao cấp hoặc một cơ quan chuyên phụ trách về vấn đề này Ở thời Hán
là Điển khách (có lúc gọi là Đại hồng lô) – một trong “cửu khanh” của triều đình, ởthời Tấn là Khách tào – một trong lục tào (tương đương với bộ sau này), còn ở cácthời sau là bộ Lễ Các cơ quan này đề ra những nguyên tắc rất chặt chẽ về thể lệ, nghithức cầu phong, sách phong, triều cống Trong đó có những quy định rất chi tiết vềthành phần, số lượng người của các sứ đoàn triều cống, lộ trình và số lượng phươngtiện của các sứ đoàn, loại cống phẩm và lịch triều cống cho từng nước… Các chế độđãi ngộ mà phía Trung Quốc dành cho các sứ đoàn, cách thức, thể lệ, địa điểm đóntiếp các sứ đoàn, lễ vật phía Trung Quốc tặng lại cho các nước và cho các thành viên
sứ đoàn cũng được quy định cụ thể
1.1.2 Sự phát triển cao độ của tư tưởng “thiên triều chư hầu” dưới triều Minh
-cơ sở tư tưởng của quan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt
Quan hệ sách phong, triều cống giữa các vương triều phong kiến Trung Quốc
và các nước xung quanh nói chung, giữa Minh và Đại Việt nói riêng được xây dựngtrên cơ sở tư tưởng nào? Các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Việt Nam đã có nhữngquan điểm và cách diễn giải khác nhau về vấn đề này
Trong tác phẩm “Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thế kỷ XV – đầu thế
kỷ XVI”, Tạ Ngọc Liễn cho rằng: “Việc coi các nước ở xung quanh là chư hầu và
Trang 25thực hiện chế độ phong vương cho các nước đó, có lẽ bắt nguồn từ tư tưởng “Trung Hoa là cả thiên hạ” Về sau, tư tưởng ấy trở thành chủ nghĩa lấy Trung Quốc làm trung tâm thế giới” [40; 51,53].
Trong bài “Luận về trật tự Hoa Di”, học giả Trung Quốc là Hà Phương Xuyên
cho rằng quan niệm về “Trật tự Hoa – Di” là cơ sở của mối quan hệ giữa các vươngtriều phong kiến Trung Quốc với các nước xung quanh Theo Hà Phương Xuyên, với
quan niệm trật tự Hoa – Di, “đế quốc Trung Hoa và người thống trị đất nước này
luôn đóng vai trò ở trên cao vươn xuống thấp, bao trùm tất cả trong cái trật tự “Hoa – Di” đó Chính vì thế khi xử lý mối quan hệ đối ngoại của mình, với ý thức theo chủ nghĩa nước lớn đầy ngạo mạn, đế quốc Trung Hoa luôn để lại dấu ấn đậm nét trong mọi hoạt động mỗi khi có cơ hội” [191; 30-45].
Việc giải mã lí luận chi phối quan hệ đối ngoại của Trung Quốc thời cổ đã thuhút nhiều học giả ở trong và ngoài nước Cách tiếp cận và diễn đạt của mỗi người cóthể khác nhau, nhưng nói chung đều đã phản ánh được nội dung cơ bản của vấn đề đặt
ra Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc cho phép khẳng định, cơ sở tư tưởng củaquan hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt nói riêng, giữa các vương triều phongkiến Trung Quốc với các nước xung quanh nói chung, là tư tưởng “thiên triều - chưhầu” Tư tưởng này chi phối cách hành xử của các vương triều phong kiến Trung Quốctrong quan hệ với các nước nhỏ yếu xung quanh và cả cách ứng xử của các nước xungquanh với Trung Quốc
Tư tưởng “thiên triều – chư hầu” manh nha từ thời Hạ, Thương và được địnhhình ở thời Chu Từ thời Chu, các vua Trung Quốc đều tự coi mình là “thiên tử”, tức là
“con trời”, làm vua theo “thiên mệnh” (mệnh trời) và gọi triều đình của mình là “thiêntriều” Với quan niệm đó, toàn bộ đất đai, con người dưới gầm trời (thiên hạ) đều thuộcquyền sở hữu tối cao của nhà vua Trên cơ sở đó nhà Chu đã phong tước, cấp đất chocon, cháu, công thần của mình, lập thành hệ thống các nước chư hầu như đã nói ở trên.Như vậy, khởi đầu thì các chư hầu đều là con, cháu, công thần của “thiên tử” Nhà Chu
sử dụng hệ thống chư hầu này để cai trị đất nước và bành trướng
Đến thời phong kiến, với sự hình thành các đế chế lớn theo thể chế tập quyềnchuyên chế cao độ, tư tưởng “thiên triều - chư hầu” đã được các vương triều phongkiến Trung Quốc áp đặt trong quan hệ với các quốc gia, bộ tộc xung quanh Theo đó,triều đình Trung Quốc là “thiên triều”, còn các quốc gia xung quanh của “Man, Di,Nhung, Địch” (thường gọi chung là “Tứ Di”) là chư hầu Tư tưởng này phản ánhnhận thức của các vương triều phong kiến Trung Quốc về địa vị của nó trong thiên hạ
và địa vị của các quốc gia, bộ tộc nhỏ bé xung quanh Trên cơ sở tư tưởng “thiêntriều - chư hầu” mà các vương triều phong kiến Trung Quốc tự cho mình cái quyền
Trang 26chinh phạt, quyền phong tước cho các chính thể xung quanh và đòi hỏi các chính thể
đó phải kính trọng, phải nộp cống, phải khuất phục “thiên triều”
Tư tưởng “thiên triều - chư hầu” được củng cố bởi quan niệm về vai trò củahoàng đế Trung Quốc trong thời phong kiến Trước đây, ở thời cổ đại, các vua TrungQuốc tuy coi mình là “thiên tử” nhưng cũng chỉ xưng vương (Chu Văn Vương, Chu
Võ Vương…) Sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng đã quyết định dùng
từ “hoàng đế” để chỉ ngôi vị của mình [81; 36] Từ đây “hoàng đế” trở thành cách gọicác bậc đế vương Trung Quốc trong suốt thời phong kiến Chữ “hoàng” (皇) trongkim văn có nghĩa là lớn, vĩ đại, còn chữ “đế” (帝) nguyên được dùng để chỉ “Thiênđế”, “Thượng đế”, là vị chúa tể cao nhất của vũ trụ, vạn vật [17; 316] Như thế,quyền lực của hoàng đế có nguồn gốc từ Thiên đế Hoàng đế dần dần trở thành biểutrưng cho sự hợp nhất giữa chính quyền và thần quyền [6; 197]
Việc chuyển từ “vương” sang “đế” không chỉ là việc thay đổi danh hiệu đơnthuần, mà điều đó phản ánh một nhận thức mới, một quan niệm thống trị mới của nhànước phong kiến Trung Hoa Hoàng đế Trung Hoa được coi là người thay trời thốngtrị toàn bộ thiên hạ Trong thiên hạ (dưới gầm trời) này, Trung Quốc là nước ở giữa,
là trung tâm, còn các quốc gia, bộ tộc xung quanh là phên giậu; triều đình TrungQuốc là “thiên triều”, còn các quốc gia, bộ tộc xung quanh là “chư hầu” lệ thuộc.Quan hệ giữa “thiên triều” với “chư hầu” là quan hệ “tông phiên” (tông chủ – phiênthuộc) Quan hệ này được định vị và duy trì bằng các nghi thức cầu phong, sáchphong, triều cống
Tư tưởng “thiên triều - chư hầu” cũng được củng cố, bảo vệ bởi Nho giáo – hệ
tư tưởng chính thống của xã hội phong kiến Trung Quốc Nho giáo với thuyết chínhdanh và thuyết tam cương (“vua – tôi”, “cha – con”, “chồng – vợ”) bảo vệ trật tự quan
hệ trên, dưới Theo các thuyết này kẻ dưới phải tuyệt đối phục tùng bề trên, bề tôi phảituyệt đối phục tùng vua, chư hầu phải tuyệt đối phục tùng hoàng đế Nho giáo cũng đềcao tư tưởng nước lớn, đề cao Hoa Hạ Đặc biệt, Nho giáo sử dụng thuyết “thiênmệnh” (mệnh trời) để bảo vệ trật tự quan hệ nước lớn, nước nhỏ Điều này được thểhiện cô đọng trong quan điểm của Mạnh Tử Khi trả lời Tề Tuyên Vương về nguyêntắc, phương pháp trong quan hệ với các nước xung quanh, Mạnh Tử nói:
“Tự mình là vua nước lớn giúp đỡ các vua nước nhỏ yếu, đó là biết thuận
theo mệnh trời.
Tự mình là vua nước nhỏ đối xử tốt với vua các nước lớn, đó là biết kính sợ mệnh trời.
Bậc biết thuận theo mệnh trời có thể giữ yên thiên hạ.
Bậc biết kính sợ mệnh trời có thể gìn giữ nước nhà”.
[85; 566]
Trang 27Tư tưởng “thiên triều - chư hầu” thấm đậm trong đầu óc của các hoàng đếTrung Hoa và giai cấp phong kiến cầm quyền ở Trung Quốc, trở thành tư tưởng chiphối chính sách đối ngoại của tất cả các vương triều phong kiến Trung Quốc, kể cảnhững vương triều cát cứ Thậm chí, tới tận thế kỉ XIX, khi tiếp xúc với các nướcphương Tây có ưu thế kinh tế, quân sự hơn hẳn thì triều đình Mãn Thanh vẫn coi cácnước này như là rợ Hồ, rợ Mông Cổ.
Ở thời Minh, với sự cường thịnh của Trung Quốc, sự phát triển đến đỉnh điểmcủa chế độ chuyên chế tập quyền, tư tưởng “thiên triều - chư hầu” có điều kiện mới
để phát triển cao độ Điều này thể hiện rất rõ trong quan niệm của các hoàng đế nhàMinh về địa vị của cá nhân mình, cũng như của Trung Quốc trong thế giới
Sau khi lên ngôi, trong chiếu dụ gửi vua Trần Dụ Tông của Đại Việt năm
1369, Minh Thái Tổ (明太祖) Chu Nguyên Chương (1368 – 1398), ông vua đầu tiên
của nhà Minh đã ví sự cai trị của các đế vương Trung Quốc “giống như ánh mặt trời,
mặt trăng chiếu soi” [77; 121].
Trong các sắc dụ gửi Hồ Hán Thương vào các năm 1403, 1404 Minh Thành
Tổ (明成祖) Chu Đệ (1402 – 1424) nói: “Trẫm coi sóc vạn phương, thể theo đạo trời
mà cai trị” [77; 200], “Mọi sinh linh được trời đất che chở đều là con đỏ của ta” [77;
202] Hoặc vào năm 1408, khi làm việc với lục bộ, Chu Đệ nói: “Trẫm là vị chúa
(của) nhân dân trong bốn bể” [77; 298].
Minh Tuyên Tông (明宣宗) (1425 – 1435) trong các sắc dụ gửi Lê Lợi (Lê
Thái Tổ) vào các năm 1427, 1429, 1431 cũng khẳng định: “dân trong bốn biển đều là
con đỏ của ta” (78; 182]; “Trẫm lãnh mệnh trời coi dân vạn nước trong bốn biển như con” [78; 210]; “Trẫm cung kính giữ ngôi lớn, thống ngự thiên hạ, thể theo lòng trời
để thương dân” [78; 224].
Tư tưởng “mệnh trời”, “Hoa Di” tiếp tục được nhắc đến trong chiếu thư củaMinh Anh Tông (明英宗) (1435 – 1449; 1457 – 1464) gửi vua Đại Việt Lê Thánh
Tông năm 1462: “Trẫm nhận mệnh trời, thống ngự các nước Hoa Di, vạn phương
chung một mối xa thư, văn hóa phổ cập trong bốn cõi Phàm kẻ dưới bầu trời, ai mà không có lòng hướng tới!” [79; 73] v.v…
Trong khi đề cao địa vị và vai trò của hoàng đế Trung Hoa, của Trung Quốc, cáchoàng đế nhà Minh cũng luôn nhìn nhận các nước xung quanh là man di, thấp kém, làphiên thuộc, là chư hầu của Trung Quốc, phải lệ thuộc Trung Quốc, phải tuân lệnh của
hoàng đế Trung Hoa Minh Thái Tổ từng tuyên bố: “Từ xa xưa, các bậc đế vương cai trị
thiên hạ, Trung Quốc ở giữa để chế ngự Di Địch, Di Địch ở bên ngoài để suy tôn Trung Quốc, chưa từng nghe thấy chuyện Di Địch cai trị thiên hạ” [179; 12].
Trang 28Như vậy, các hoàng đế Minh, cũng như các hoàng đế của các vương triều trước
đó luôn tự cho mình là người thực hiện thiên mệnh để cai trị vạn phương Tuy nhiên,
quyền lực và vai trò của các hoàng đế Minh đã được “nhân lên đến độ Cakkavatti –
chuyển luân vương” hay “người cai trị thế giới” [152; 25] Các hoàng đế Minh đứng
đầu thiên triều không chỉ cai trị Trung Quốc mà còn “thống ngự vạn quốc trong bốnbiển” và tất cả các nước này đều là “Di Địch”, là chư hầu của thiên triều Những quanniệm bá quyền, nước lớn, mang đậm tính kì thị chủng tộc này chính là cơ sở tư tưởngcủa quan hệ sách phong – triều cống giữa Minh – Đại Việt nói riêng và giữa Minh vớicác nước khác nói chung
1.2 Những lợi ích của nhà Minh trong việc xác lập, duy trì, phát triển quan hệ sách phong, triều cống
Việc xác lập, phát triển quan hệ sách phong, triều cống của triều Minh cũngnhư của tất cả các vương triều phong kiến Trung Quốc với Đại Việt và các nước
xung quanh không xuất phát từ mục đích “chiêu phủ dân cõi ngoài” vì “lòng nhân”,
để cho “các đất xa xôi cũng đều được an ninh” [77; 129], càng không phải vì “thể
theo lòng trời để thương dân” [78; 224], hay để cho “văn hóa (Trung Hoa) phổ cập trong bốn cõi” [79; 73] qua đó mà “giáo hóa Man Di” như tuyên bố của các hoàng đế
Minh Nhu cầu xác lập và phát triển quan hệ tông chủ – chư hầu, nhu cầu duy trì các
nước xung quanh ở tình trạng “vĩnh viễn làm phiên thuộc” của Trung Quốc [77; 126,
129], phải cầu phong và triều cống Trung Quốc là xuất phát từ các lợi ích cốt lõi củaTrung Quốc Vấn đề này đã được một số học giả phân tích trong các công trìnhnghiên cứu của mình
Tạ Ngọc Liễn trong tác phẩm “Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thế kỷ
XV – đầu thế kỷ XVI” cho rằng: “Phong vương để giữ lấy quan hệ giữa “thiên triều”
và “chư phiên” là một nhu cầu thiết thân về lợi ích chính trị, kinh tế của Trung Quốc Trung Quốc không bao giờ muốn để quan hệ với các nước xung quanh bị cắt đứt, ngay cả đối với Việt Nam, một nước tưởng như bị Trung Quốc cột chặt nhất trong hệ thống các nước thần phục” [40; 64].
Các tác giả J.K.Fairbank và S.Y.Teng trong bài viết “On the Ch’ing tributary
system” cho rằng: cái để duy trì sự tồn tại lâu dài của hệ thống triều cống này chính là
sự kết hợp chặt chẽ giữa nhu cầu kinh tế và các động cơ chính trị của cả hai phía…Dường như là không thể ở thời điểm đó để tạo ra một thứ tổng quát hơn: hệ thốngtriều cống là cái khung (cơ cấu) nơi tất cả các lợi ích, cả cá nhân và triều đình, kinh tế
và xã hội, đều tìm được sự biểu đạt của mình [104; 140-141]
Trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu quan hệ Trung Việt đời Minh ” (2005), khi
bàn luận về những thiếu sót trong các công trình nghiên cứu lịch sử quan hệ Trung –Việt của các học giả Trung Quốc, Trần Văn Nguyên đã có một nhận xét rất đáng chú
Trang 29“Khi thảo luận vấn đề các nước xung quanh triều cống Trung Quốc, khá nhiều
học giả chưa thể thoát khỏi lối mòn tư duy của nước lớn phong kiến, tuyên truyền thái quá về vai trò của “đức hóa” và mục đích của “mộ hóa” Thực ra, lợi ích là cơ sở các mối quan hệ của đất nước Định luật này không chỉ thích ứng với thời đại ngày nay,
mà nó cũng thích hợp với cả thời cổ đại Từ sự thực lịch sử cho thấy, cái gọi là nền ngoại giao đức hóa thì chỉ có ở thời đầu triều Minh là tương đối rõ rệt, mục đích của
nó là nhằm có được sự thừa nhận của các nước xung quanh, nhằm thỏa mãn cái hư vinh “vua của chung thiên hạ” Kể từ giữa thời Minh trở về sau, sự an toàn của triều Minh trở thành yếu tố hàng đầu khi xem xét các mối quan hệ đối ngoại Khi hoạch định chính sách đối ngoại, điều mà sĩ đại phu đời Minh suy nghĩ trước tiên là an toàn
và lợi ích của triều Minh Trong phần lớn các tình huống, “đức hóa” luôn muốn nhường vị trí cho lợi ích để đứng ở vị trí thứ yếu Thế nhưng các nhà nghiên cứu nước
ta hiện nay thường xem nhẹ điểm này Họ thường đơn giản hiểu rằng một số chính sách ưu đãi của Trung Quốc thời cổ đại là “đức hóa” [179; 5-6].
Có lẽ, đây là một trong ít những ý kiến khách quan của các học giả TrungQuốc đương đại khi nhìn nhận về quan hệ sách phong, triều cống giữa Trung Quốcvới các nước trong lịch sử Tiếc rằng tác giả không đề cập đến những lợi ích cụ thể
mà Trung Quốc thu được khi duy trì quan hệ sách phong, triều cống với Đại Việtcũng như các nước khác
Vậy triều đình Trung Quốc có được những lợi ích gì từ việc xác lập, củng cố,phát triển quan hệ sách phong, triều cống với các nước xung quanh?
Có thể có những cách nhìn nhận khác nhau về lợi ích mà nhà Minh nói riêng,các triều đình Trung Quốc nói chung thu được từ việc xác lập, phát triển quan hệ sáchphong, triều cống với các nước xung quanh Thực tiễn lịch sử cho thấy có thể xếp cáclợi ích đa dạng của triều đình nhà Minh khi xác lập, phát triển quan hệ sách phong,triều cống với Đại Việt và các nước xung quanh thành hai nhóm: nhóm lợi ích chínhtrị-an ninh và nhóm lợi ích kinh tế
* Lợi ích chính trị-an ninh
Thứ nhất, việc xác lập, duy trì, phát triển quan hệ sách phong, triều cống giúp
nhà Minh củng cố địa vị “thiên triều” nhằm đạt được sự quy thuận của các nước “Di,Địch” xung quanh để thỏa mãn tham vọng “thống ngự thiên hạ”, “vạn quốc triềucống” của một trong những triều đại cường thịnh nhất Trung Quốc
Đây là lợi ích chính trị - tinh thần rất quan trọng đối với triều Minh, một triềuđại được lập nên từ khởi nghĩa nông dân Chính vì thế, ngay sau khi lên ngôi, Chu
Nguyên Chương đã liên tục cử sứ giả mang chiếu thư tới “quân trưởng, tù trưởng tứ
Trang 30Di bốn phương” [77; 122] để báo tin đã đánh bại nhà Nguyên, lập nước Đại Minh
[77; 121,123], nhằm vận động, lôi kéo các nước thiết lập quan hệ và triều cống nhàMinh Đây có lẽ là thông báo quan trọng nhất của nhà Minh với các nước xungquanh Những nỗ lực này của Chu Nguyên Chương đã đem lại kết quả lớn, chỉ trongmột thời gian ngắn, rất nhiều nước đã thiết lập quan hệ và triều cống nhà Minh [77;194], trong đó Đại Việt là quốc gia đầu tiên
Việc vua Trần Dụ Tông của Đại Việt là vua nước ngoài đầu tiên cử sứ giảsang cầu phong và triều cống vào năm 1369 có ý nghĩa rất lớn với nhà Minh, vì thế
mà nhà Minh đánh giá rất cao sự kiện này Khảo cứu Minh thực lục chúng tôi thấy có
tới 18 lần vua quan nhà Minh nhắc đi nhắc lại việc vua Trần là người đầu tiên cử sứ
giá đến triều Minh cầu phong và triều cống (xem Minh thực lục, tập 1, tr.126, 127,
136, 136, 174, 202, 224, 236, 256; tập 2, tr 128, 179, 180, 182, 210, 219, 224; tập 3,
tr 182, 191) Đây quả là một hiện tượng hy hữu Điều này cho thấy vị trí đặc biệtquan trọng của Đại Việt trong chính sách “hướng Nam” của nhà Minh Việc Đại Việttriều cống chứng tỏ địa vị “thiên triều”, “tông chủ” của nhà Minh – một vương triềumới được thành lập mà hoàng đế xuất thân từ nông dân, bắt đầu được các nước lánggiềng thừa nhận Hơn thế nữa, Đại Việt là một nước lớn mạnh ở Đông Nam Á, vì thếviệc Đại Việt triều cống nhà Minh sẽ có tác động lớn tới các nước khác trong khuvực, điều này giúp nhà Minh thuận lợi hơn trong việc phát triển hệ thống triều cống ởĐông Nam Á
Thứ hai, việc xác lập, duy trì, phát triển quan hệ sách phong, triều cống tạo
cho triều Minh một công cụ hữu hiệu để khống chế, chi phối, ràng buộc các nước nhỏyếu xung quanh trong “trật tự thế giới Trung Hoa”, tức là trong trật tự “thiên triều –chư hầu”, “tông chủ – phiên thuộc”
Cần phải nói rằng, quan hệ sách phong, triều cống cũng có một ý nghĩa lớnđối với các nước nhỏ yếu xung quanh Trung Quốc, đặc biệt là một Trung Quốc đang
độ cường thịnh dưới triều Minh Việc vua các nước nhỏ được hoàng đế Minh phongvương có nghĩa là nước đó được “thiên triều” công nhận là một quốc gia độc lậptrong thiên hạ, được “thiên triều” “che chở” Điều này rất quan trọng, nhất là đối vớinhững nước có chung biên giới với Trung Quốc như Đại Việt, Triều Tiên, MiếnĐiện, vốn rất dễ bị Trung Quốc tấn công bằng quân sự Những nước có quan hệ sáchphong, triều cống cũng được buôn bán với Trung Quốc, được “thiên triều” bảo vệ (dùchỉ là hình thức) khi có xung đột với bên ngoài v.v…
Tuy nhiên, để được hoàng đế Minh sách phong, các nước nhỏ phải cầu phong
và triều cống, phải chấp nhận lệ thuộc vào “thiên triều” Nhờ đó nhà Minh có thểkhống chế, chi phối, ràng buộc các nước này, buộc các nước này tuân theo các nguyêntắc trong quan hệ do triều Minh đặt ra, phải đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của nhàMinh Đối với nhà Minh đây cũng là một lợi ích chính trị rất quan trọng Chính vì thế
Trang 31khi lợi ích này không được đảm bảo hoặc bị xâm phạm, tức là khi một nước nào đókhông tuân theo các nguyên tắc trong quan hệ do triều Minh đặt ra, không chịu sựkhống chế của triều Minh, không nộp cống thì triều Minh sẽ đe dọa hoặc xuất quân
“thảo phạt” Điều này được phản ánh rất rõ trong Minh thực lục Ví dụ, vào năm Gia Tĩnh thứ 15 (1536), sau khi nghe bộ Lễ tâu rằng: “An Nam không làm tròn chức cống
từ lâu không đến cống, phản nghịch đã rõ ràng, hãy sai sứ đến ngay hỏi tội Việc chinh thảo sai bộ Binh bàn định gấp rồi tâu lên” [79; 181-182] Minh Thế Tông còn
viện dẫn “đạo nghĩa” và lịch sử để đề cao quan điểm của mình: “Di Địch bốn phương
không đến triều cống, điều nghĩa đáng làm là phải mang quân phạt tội; từ xưa đến nay các đế vương cùng làm giống như vậy” [79; 218].
Thứ ba, việc xác lập, duy trì, phát triển hệ thống triều cống là một phương
sách giúp nhà Minh đề cao uy quyền của hoàng đế, của triều đình trước dân chúngtrong nước để củng cố sự thống trị của mình
Được lập nên từ một cuộc khởi nghĩa nông dân, lại xuất thân từ tầng lớp cùngđinh và buổi đầu thống trị gặp nhiều sự chống đối, Chu Nguyên Chương và cáchoàng đế kế tiếp đều ý thức được sâu sắc rằng nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là củng
cố chính quyền, đề cao uy quyền của hoàng đế, của triều đình Để làm điều đó, bêncạnh việc triển khai một loạt chính sách đối nội, Chu Nguyên Chương và các hoàng
đế nhà Minh đặc biệt quan tâm đến việc phát triển hệ thống triều cống Thực tế là hệthống triều cống càng được mở rộng thì uy thế của hoàng đế càng được đề cao, vìthời đó có lẽ ít có hình ảnh nào làm cho dân chúng ngưỡng mộ hoàng đế, triều đìnhbằng việc tận mắt chứng kiến hoặc nghe đồn đại về những đoàn sứ giả nước ngoàitấp nập đến triều cống hoàng đế nước mình
Trong số 16 hoàng đế nhà Minh thì Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương vàMinh Thành Tổ Chu Đệ là hai hoàng đế thành công nhất trong việc xác lập và pháttriển hệ thống triều cống để củng cố uy quyền của mình Nếu Chu Nguyên Chương làngười khôi phục lại hệ thống sách phong, triều cống với các nước xung quanh theocác nguyên tắc truyền thống của Trung Quốc thì Minh Thành Tổ Chu Đệ đã có côngphát triển hệ thống này một cách rộng khắp nhất
Từ năm 1405 đến năm 1433, chỉ chưa đầy 30 năm, nhà Minh đã phái TrịnhHòa dẫn đầu những hạm thuyền lớn, 7 lần đi xuống các nước ở Đông Nam Á và Nam
Á, trong đó có 6 chuyến được thực hiện dưới thời Chu Đệ Trong sử sách TrungQuốc, các chuyến đi này của Trịnh Hòa thường được gọi là “Trịnh Hòa hạ TâyDương” (Trịnh Hòa đi xuống vùng biển phía Tây) Mục đích lớn nhất của MinhThành Tổ khi phái Trịnh Hòa “hạ Tây Dương” là phô trương sức mạnh kinh tế, quân
sự của Trung Quốc với các nước ở Đông Nam Á, Nam Á, làm cho các nước này phải
Trang 32nể sợ Trung Quốc, khiến họ phải thiết lập quan hệ với nhà Minh, thần phục và triềucống nhà Minh Đồng thời qua đó Minh Thành Tổ muốn tạo ra cảnh “vạn quốc triềucống” để đề cao uy quyền của mình trước dân chúng sau sự kiện cướp ngôi của cháuruột là Kiến Văn Đế năm 1402 Qua 7 lần vượt biển, Trịnh Hòa đã tới được hơn 30nước ở “Tây Dương”, trong đó phần lớn là các nước Đông Nam Á, Nam Á và mộtvài khu vực ở tận bờ biển Đông Phi Rất nhiều nước trong số đó đã cử sứ giả đếnTrung Quốc triều cống Năm Vĩnh Lạc (niên hiệu của Minh Thành Tổ) thứ 14 (1416)
có 18 nước, năm Vĩnh Lạc thứ 21 (1423) có 16 nước ở “Tây Dương” đến triều cống,tổng cộng có đến hơn 1.200 người [20; 111] Hình ảnh các sứ đoàn nước ngoài tấpnập đến cầu phong, triều cống như thế đủ để gây ấn tượng và mê hoặc dân chúngtrong nước về sự hùng mạnh của Trung Quốc cũng như sự tôn nghiêm và uy quyềntột đỉnh của hoàng đế nhà Minh
Thứ tư, việc xác lập, duy trì, phát triển hệ thống triều cống là một trong những
nhân tố đảm bảo an ninh, an toàn cho Trung Quốc
Nhu cầu bảo đảm an ninh cho Trung Quốc bằng hệ thống triều cống là rấtquan trọng, bởi vì trong lịch sử, tuy là “thiên triều”, là “Hoa Hạ” nhưng Trung Quốcnhiều lần đã bị các tộc, các nước “Di Địch” như Hung Nô, Liêu, Kim, Mông Cổ tấncông, thậm chí thống trị trong một thời gian dài Kim từng thống trị miền Bắc TrungQuốc từ năm 1127 đến năm 1234, còn Mông Cổ đã thống trị Trung Quốc từ năm
1271 đến năm 1368, đẩy xã hội Trung Quốc vào một thời kỳ trì trệ kéo dài Ngay ởthời Minh thì triều Minh cũng phải căng sức để đối phó với nạn cướp biển của cáctoán buôn lậu có vũ trang, người Nhật Bản mà Trung Quốc gọi là “wako” (“hòakhấu”, tức “giặc lùn” hay “cướp lùn”) Vì thế, nếu xác lập được hệ thống triều cốngvững chắc, rộng khắp, nếu khống chế được các nước liền kề Trung Quốc trong trạngthái “chư hầu vĩnh viễn” thì sẽ đảm bảo được an ninh cho nội địa Trung Quốc
* Lợi ích kinh tế
Ngoài lợi ích chính trị, hệ thống triều cống cũng đem lại cho nhà Minh nhữnglợi ích kinh tế không nhỏ Tuy nhiên nhiều học giả chưa đánh giá đúng mức vấn đềnày Dưới đây chúng tôi phân chia thành lợi ích vật chất và thương mại để phân tíchvới nghĩa: lợi ích vật chất nói về giá trị của cống phẩm, còn lợi ích thương mại nói về
vị trí, ý nghĩa của hệ thống triều cống đối với hoạt động buôn bán đối ngoại củaTrung Quốc trong điều kiện triều Minh thực hiện chính sách “hải cấm” một cách ngặtnghèo suốt từ năm 1371 đến năm 1567
Lợi ích vật chất:
Một số nhà nghiên cứu Trung Quốc và phương Tây cho rằng phía được lợi vềvật chất là những nước đến cống, chứ không phải triều đình Trung Quốc
J.K.Fairbank và S.Y.Teng trong công trình “On the Ch’ing tributary system”
đã viết: “Giá trị đạo đức của triều cống là quan trọng hơn trong suy nghĩ của các
Trang 33vua Trung Quốc, còn giá trị vật chất, thương mại là quan trọng hơn trong suy nghĩ của những người “dã man” Mối cân bằng lợi ích này sẽ cho phép sự bằng lòng lẫn nhau và hệ thống tiếp tục hoạt động” [104; 140].
Trong một bài giảng tại London School of Economics vào năm 1936 với tiêu đề
“China and European Expansion”, nhà nghiên cứu T’ing Fu Chiang khẳng định: “không
thể cho rằng triều đình Trung Quốc đã kiếm được lợi nhuận từ triều cống Các quà tặng của triều đình ban tặng lại thường có giá trị hơn nhiều đồ triều cống” [104; 140].
Các học giả Đài Loan trong cuốn “Bước thịnh suy của các triều đại phong
kiến Trung Quốc” cũng cho rằng: “Trong thời đại phong kiến ở Trung Quốc, người ngoại quốc đến Trung Quốc để gọi là “triều cống”, thật ra là sự quan hệ trao đổi bất bình đẳng về mặt kinh tế, tức “cống” ít mà “thưởng” nhiều Các nhà vua Trung Quốc tự xem mình là “Thiên triều Đại quốc”, thường muốn làm gì thì làm, đã phóng tay ban thưởng” [20; 230].
Mặc dù đưa ra quan điểm và cách tiếp cận trên khi nghiên cứu về hệ thốngtriều cống của các vương triều phong kiến Trung Quốc nhưng không có tác giả nàonêu dẫn chứng, thống kê cụ thể để chứng minh
Khảo sát Minh thực lục cho thấy, nhiều lần Minh Thái Tổ Chu Nguyên
Chương cũng tuyên bố: đối với các nước đến triều cống, lễ vật không cần nhiều, chỉcần lòng thành kính hoàng đế mà thôi [77; 153, 156]
Thực tế lịch sử cũng cho thấy nhiều lần các triều đại phong kiến Trung Quốc
đã sử dụng vật chất để mua chuộc các nước xung quanh Ví dụ, các vua đầu thời Hán
đã phải thực hiện chính sách “hòa thân” với Hung Nô bằng cách tặng cho các Thiền
Vu (vua Hung Nô) những lễ vật rất hậu hĩnh, thậm chí phải gả “công chúa” cho vuaHung Nô để đổi lại việc họ không tấn công, cướp phá Trung Quốc Hay vào đầu thế
kỉ XV, Minh Thành Tổ Chu Đệ đã nhiều lần phái Trịnh Hòa cầm đầu một hạm độilớn, mang theo nhiều vàng, bạc, tơ lụa, gấm, sa, vải vóc và nhiều hàng hóa giá trịkhác ban thưởng cho các quốc vương ở “Tây Dương” để mua chuộc, lôi kéo cácnước này đến triều cống nhà Minh
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào những tuyên bố của Minh Thái Tổ hay việc sửdụng một khối lượng của cải lớn để mua chuộc quốc vương nước ngoài của MinhThành Tổ mà cho rằng chỉ có “Di Địch” có lợi trong quan hệ triều cống với nhàMinh, còn nhà Minh chỉ có lợi ích tinh thần là “được kính trọng”, chứ không có, hoặckhông cần lợi ích vật chất là chưa thực sự chuẩn xác Những tư liệu được ghi chépkhá tỉ mỉ trong các thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam cho thấy triều Minh thuđược những lợi ích vật chất đáng kể trong quan hệ sách phong, triều cống với ĐạiViệt và các nước khác Một vài dẫn chứng về giá trị của đồ triều cống dưới đây đãchứng tỏ điều đó
Trang 34Theo các ghi chép trong Minh thực lục, chỉ trong thời cầm quyền của Chu
Nguyên Chương (1368-1398), đã có tới 20 sứ đoàn của nhà Trần sang triều cống nhàMinh Cống phẩm gồm có: sản vật địa phương, voi thuần (có lần cống kèm quảntượng), tê giác, ngựa, người bị hoạn, vàng, bạc, quyên, đồ uống rượu bằng vàng,
bạc…[Xem Phụ lục A, bảng 1: Các sứ đoàn và cống phẩm của Đại Việt triều cống
nhà Minh thời Chu Nguyên Chương (1368 – 1398)] Minh thực lục không ghi rõ
chủng loại và số lượng “sản vật địa phương” mà nhà Trần thường xuyên cống chonhà Minh, nhưng đó là những phẩm vật rất có giá trị ở Trung Quốc như trầm hương,tốc hương, giáng chân hương, sừng tê giác, ngà voi và một số mặt hàng thủ công nổitiếng của Đại Việt
Sau khi nhận đồ cống của nhà Trần, nhà Minh cũng thường có vật phẩm tặnglại Quà tặng của nhà Minh thường là: lụa, gấm, y phục, vải bố, vải nhung, đoạn và
sa, tiền giấy, bạc nén… tức hầu hết là các sản phẩm thủ công của Trung Quốc
Như vậy, cống phẩm của nhà Trần khá phong phú và có giá trị cao Chính Chu
Nguyên Chương khi tiếp sứ giả Đại Việt vào năm 1389 cũng nói “đồ cống phần nhiều
quá xa xỉ” [77; 172] So sánh với cống phẩm của Đại Việt thì quà tặng lại của triều
Minh ít hơn, nhiều lần triều Minh chủ yếu chỉ dùng tiền giấy để ban thưởng
Các thư tịch cổ của Việt Nam cũng cung cấp một số tư liệu về số lượng và giá
trị cống phẩm của Đại Việt cho nhà Minh Theo Toàn thư, sau khi bình định được
thiên hạ (năm 1427), Lê Lợi đã sai Lê Thiếu Dĩnh, Lê Cảnh Quang và Lê Đức Huy
đem tờ biểu và cống phương vật gồm “hai pho tượng người bằng vàng thay cho mình,
một chiếc lư hương bạc, một đôi bình hoa bạc, 300 tấm lụa thổ, 14 đôi ngà voi, 20 lọ hương xông áo, 2 vạn nén hương, 24 khối trầm hương và tốc hương” [37; 352].
Nhìn sang quan hệ triều cống Minh – Ayuthaya cũng thấy cống phẩm củaAyuthaya rất phong phú và có số lượng lớn Ví dụ, vào năm Hồng Vũ thứ 20 (1387),trong số đồ cống của Ayuthaya cho nhà Minh có tới 10.000 cân hồ tiêu, 10.000 cân tô
mộc Việc này khiến Chu Nguyên Chương rất hài lòng Vì thế, tuy luôn nói “cống
vật không vụ nhiều, chỉ cần lòng thành mà thôi”, nhưng Chu Nguyên Chương đã cử
ngay một sứ đoàn sang Ayuthaya để cảm ơn [133; 73] Không biết có phải vì sự tri ânnày của Chu Nguyên Chương hay không mà 3 năm sau, năm 1390, Ayuthaya lạicống hồ tiêu, tô mộc, giáng hương với khối lượng lên tới 170.000 cân [27; 187]
Cống phẩm của Chămpa cũng không nhỏ Ví dụ, vào năm Hồng Vũ thứ 16(1383) quốc vương Chămpa cử người sang nhà Minh dâng biểu và cống 200 chiếcngà voi, 800 cân đàn hương, 400 cân một dược (một loại thảo mộc dùng làm thuốc –TG), 600 tấm vải [77; 162] Hay vào năm Hồng Vũ thứ 20 (1387), Chămpa lại cống
51 con voi cùng gỗ gia nam, sừng tê [77; 168]
Trang 35Như vậy, những cống phẩm của Đại Việt cũng như nhiều nước khác không chỉđơn thuần là những vật phẩm có tính chất tượng trưng để thể hiện “sự kính trọng”hoàng đế Minh mà còn có giá trị kinh tế lớn Trong nhiều trường hợp, lợi ích vật chất
mà triều Minh thu được lớn hơn rất nhiều so với những thứ mà họ đã “ban thưởng”
Lợi ích thương mại:
Hệ thống triều cống còn đem lại cho nhà Minh những lợi ích thương mạikhông nhỏ Để làm rõ điều này cần xem xét nó gắn với nhu cầu hàng hóa, sản vậtphương nam của triều Minh đặt trong bối cảnh vương triều này thực thi chính sách
“hải cấm” ngặt nghèo
Do đặc điểm của điều kiện tự nhiên, do nhu cầu phát triển kinh tế và thói quentiêu dùng, người Trung Quốc luôn cần tới nguồn tài nguyên, hàng hóa và sản vậtnhiệt đới của phương nam Có thể nói, nhu cầu tài nguyên, hàng hóa và sản vậtphương nam là một hằng số trong lịch sử Trung Quốc
Là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên ở Đông Nam Á, Đại Việt hầu như cóđầy đủ các tài nguyên và sản vật phương nam mà Trung Quốc cần Không những thế,Đại Việt và Trung Quốc lại liền kề nhau cả ở trên bộ lẫn trên biển, nên từ xa xưa xứ
sở của người Việt đã thu hút sự quan tâm và sớm trở thành mục tiêu nhòm ngó hàngđầu của các vương triều phong kiến Trung Quốc
Trong lịch sử, để có được hàng hóa, sản vật phương nam từ các nước ĐôngNam Á, người Trung Quốc nói chung, các vương triều phong kiến Trung Quốc nóiriêng, phải thông qua các hoạt động buôn bán, trao đổi Tuy nhiên, bối cảnh lịch sửTrung Quốc khi nhà Minh thành lập đã có tác động tiêu cực tới quan hệ thương mạigiữa Trung Quốc với các nước phương nam
Ngay sau khi thành lập, nhà Minh đã phải đối mặt với một mối hiểm họa lớn từbiển hết sức nghiêm trọng, đe dọa an ninh quốc gia, đó là nạn cướp biển mà ngườiTrung Quốc gọi là “hòa khấu” “Hòa khấu” thường xuyên tiến hành các hoạt độngbuôn lậu ven bờ biển Trung Quốc, nhưng khi có cơ hội thì ra tay cướp bóc của cải, tànsát dân chúng Hoạt động của “hòa khấu” đã xuất hiện trước đó khá lâu, nhưng pháttriển mạnh từ cuối thời Nguyên, đầu thời Minh [77; 124-125] “Hòa khấu” hoành hànhkhắp vùng ven biển Trung Quốc, kéo dài mấy nghìn km, từ bán đảo Liêu Đông ở phíaBắc đến tận vùng Phúc Kiến, Quảng Đông ở phía Nam, gây nhiều thảm họa cho dânchúng ven biển và đe dọa chính quyền nhà Minh Thời đó “hòa khấu” là một hiện
tượng “khiến ai nghe nói đến cũng phải xanh mặt” [20; 226].
Trước những hiểm họa do nạn cướp biển gây ra, chính quyền nhà Minh đã sửdụng quân đội để trấn áp và cho xây dựng một loạt công sự phòng thủ lớn dọc bờ biển,tăng cường binh lính cho vùng duyên hải từ Liêu Đông đến Quảng Đông Đặc biệt, vào
Trang 36tháng 12 năm Hồng Vũ thứ 4 (1371), Chu Nguyên Chương đã ra lệnh: “nghiêm cấm dân
cư ven biển không được lén lút ra biển” Đến tháng 10 năm Hồng Vũ thứ 14 (1381) lại
ra lệnh “cấm dân ven biển tư thông với các nước hải ngoại”, và “cấm dân không được
tự tiện xuất hải trao đổi buôn bán với nước ngoài”, thậm chí “một thanh gỗ cũng không cho ra biển” [19; 151-152].
Với các mệnh lệnh này của Chu Nguyên Chương, nhà Minh đã chính thức thihành chính sách “hải cấm” (cấm đi biển) Chính sách này được thực hiện trong mộtthời gian dài với những quy định rất nghiêm ngặt Mục tiêu hàng đầu của chính sách
“hải cấm” của nhà Minh là bảo đảm an ninh quốc gia, nhưng chính sách “hải cấm”với những quy định ngặt nghèo đã giáng một đòn rất nặng vào hoạt động ngoạithương Chính sách này có những thời điểm gần như chặn đứng việc cung cấp hànghóa, sản vật phương nam cho Trung Quốc cũng như việc bán hàng hóa Trung Quốc
ra bên ngoài của các tư thương
Trong bối cảnh đó, hệ thống triều cống chẳng những giúp nhà Minh phát huyảnh hưởng chính trị ra bên ngoài, mà còn là một phương thức duy trì, mở rộng cáchoạt động ngoại thương do nhà nước quản lí, mà lịch sử gọi là “thương mại triềucống” Ở đây cống phẩm cũng là một dạng thương phẩm được trao đổi qua hình thức
“cống” và “thưởng” Mặt khác, các sứ đoàn từ Trung Quốc đến các nước để thựchiện nhiệm vụ “sách phong” và sứ đoàn từ các nước đến Trung Quốc để “triều cống”cũng luôn mang theo hàng hóa với số lượng lớn để buôn bán Việc buôn bán hànghóa của sứ đoàn các nước tại Trung Quốc đều chịu sự quản lý của các Thị bạc ty (tức
Ty Ngoại thương – cơ quan quản lý buôn bán đối ngoại của nhà Minh)
Như vậy “thương mại triều cống” trở thành một kênh thương mại quan trọng –kênh “thương mại quan phương” (bên cạnh kênh buôn bán ‘phi quan phương” của tưnhân mà nhà Minh không thể kiểm soát nổi), giúp cho nhà Minh, trong điều kiện thựcthi chính sách “hải cấm”, vẫn có những mối liên hệ kinh tế đối ngoại mật thiết vớibên ngoài Đó chính là lợi ích thương mại quan trọng mà nhà Minh có được trongviệc xác lập, phát triển quan hệ sách phong – triều cống với Đại Việt cũng như vớicác nước khác
1.3 Sự phát triển cường thịnh của Trung Quốc dưới triều Minh và tham vọng bành trướng, mở rộng ảnh hưởng chính trị xuống phương nam
Sau gần một thế kỉ trì trệ, thậm chí có những lĩnh vực thụt lùi dưới sựthống trị của người Mông Cổ (1271 – 1368), Trung Quốc dưới triều Minh (1368 –1644) đã hồi sinh và bước vào một thời kì phát triển cường thịnh Điều này tạo rathế và lực mới cho nhà Minh trong việc mở rộng ảnh hưởng chính trị và quan hệđối ngoại, mà trước hết là khôi phục và phát triển hệ thống triều cống
Trang 37Sự phát triển cường thịnh của Trung Quốc thời Minh thể hiện tập trung ởhai lĩnh vực: chính trị và kinh tế.
* Về chính trị:
Sau khi giành được chính quyền (1368), Minh Thái Tổ Chu NguyênChương và các vua đầu thời Minh đã tập trung xây dựng một chính quyền quânchủ chuyên chế trung ương tập quyền vững mạnh để cai trị đất nước, bảo vệ ngôi
vị đế vương của một dòng họ vốn xuất thân từ tầng lớp tá điền nghèo khổ Tronglịch sử chế độ phong kiến Trung Quốc, chính quyền nhà Minh là một chính quyềnchuyên chế cao độ với việc tập trung mọi quyền lực vào tay hoàng đế và một bộmáy nhà nước được tổ chức chặt chẽ từ trung ương xuống địa phương, đồng thời
có nhiều thay đổi so với các triều đại trước
Ở trung ương, chính quyền nhà Minh có ba bộ phận chủ yếu: Lục bộ trông coichính sự, Ngũ quân Đô đốc phủ quản việc quân, Đô sát viện phụ trách việc giám sát
Khi mới lên ngôi, Chu Nguyên Chương vẫn duy trì Trung thư tỉnh để caiquản lục bộ Trưởng quan của Trung thư tỉnh là hai vị Tả, Hữu Thừa tướng giúp vuađiều hành chính sự Nhưng đến năm Hồng Vũ thứ 13 (1380), Chu Nguyên Chươngnhận thấy quyền lực của Thừa tướng có thể đe dọa quyền lực của Hoàng đế nên đãgiết Tả Thừa tướng Hồ Duy Dung (Hữu Thừa tướng Uông Quảng Dương đã bị giếtnăm 1379), xóa bỏ Trung thư tỉnh và phế bỏ vĩnh viễn chức Thừa tướng
Quyết định của Chu Nguyên Chương đã đặt dấu chấm hết cho chế độ Thừatướng từng tồn tại hơn 1.500 năm ở Trung Quốc Nó cũng kết thúc cuộc đấu tranh lâudài giữa hoàng quyền (quyền lực của Hoàng đế) và tướng quyền (quyền lực của Thừatướng) trong lịch sử chế độ phong kiến Trung Quốc Từ lúc này, sáu bộ (bộ Lại, bộ
Hộ, bộ Lễ, bộ Binh, bộ Hình, bộ Công) trực thuộc Hoàng đế Chế độ quân chủchuyên chế trung ương tập quyền được củng cố cao độ
Thời Minh, Ngự sử đài được đổi tên thành Đô sát viện, là cơ quan chuyên vềgiám sát Trưởng, phó quan của Đô sát viện là Tả, Hữu Đô ngự sử và Tả, Hữu phó
Đô ngự sử Đô sát viện nắm quyền giám sát quan lại và có quyền tham gia xét xửnhững vụ án lớn Để tăng cường giám sát quan lại các địa phương, nhà Minh đặt ra
13 đạo giám sát ngự sử theo 13 khu vực hành chính (tỉnh) Giám sát ngự sử đi tuầntra các địa phương được gọi là “Tuần án ngự sử” hay chỉ gọi đơn giản là “Tuần án”.Tuần án ngự sử tuy phẩm hàm không cao (thường chỉ là chính thất phẩm) nhưngđược coi là người thay Thiên tử đi tuần thú nên quyền lực rất lớn
Bên cạnh việc củng cố chế độ quân chủ chuyên chế, các hoàng đế Minh rấtquan tâm tới việc xây dựng quân đội Tổ chức quân đội đời Minh có hai điểm mới:
Trang 38Thứ nhất, để vừa hỗ trợ lại vừa kiềm chế bộ Binh, Chu Nguyên Chương lập
ra Ngũ quân Đô đốc phủ (Phủ Đô đốc Ngũ quân) gồm: Trung quân Đô đốc phủ, Tảquân Đô đốc phủ, Hữu quân Đô đốc phủ, Tiền quân Đô đốc phủ, Hậu quân Đô đốcphủ Đứng đầu mỗi phủ là hai viên Tả, Hữu Đô đốc Trong quan hệ mang tính kiềmchế lẫn nhau giữa bộ Binh và Ngũ quân Đô đốc phủ thì bộ Binh có quyền điều phátquân binh, còn Ngũ quân Đô đốc phủ được giao nhiệm vụ quản lý quân số, quản lýcác Đô ty, Vệ, Sở của kinh sư và các địa phương nhưng không có quyền điều phátquân binh
Thứ hai, sau khi lên ngôi, Chu Nguyên Chương đã ban hành chế độ Vệ, Sở.
Đây là tổ chức quân đội thường trực thời Minh, theo đó ở kinh sư và những khu vựcxung yếu đều lập Vệ, Sở Mỗi Vệ biên chế 5.600 quân, đứng đầu là một Chỉ huy sứ.Dưới Vệ có Sở thiên hộ và Sở bách hộ Mỗi Sở thiên hộ biên chế 1.120 quân, Sở bách
hộ 120 quân [77; 132] Chế độ Vệ, Sở này giống như chế độ phủ binh thời Đường.Binh lính của các Vệ, Sở được nhà nước cấp ruộng để cày cấy làm ăn, nhà nước khôngđánh thuế, khi rảnh việc nông thì luyện tập quân sự, khi có chiến sự thì được trưng tậpgiao cho Tổng binh chỉ huy đi chiến đấu Xong việc, lính trở về các Vệ, Sở, Tổng binh
về triều nộp lại ấn tín Nhờ thực hiện chế độ Vệ, Sở mà nhà Minh luôn duy trì đượcmột lực lượng quân đội đông đảo Lúc thịnh, quân của nhà Minh lên tới 1.200.000quân, gồm khoảng 1.000.000 quân ở các Vệ, Sở [24; 316] và khoảng 200.000 quân ởkinh sư Có lẽ đây là đội quân lớn nhất thế giới đương thời
Không chỉ đông về số lượng, quân đội nhà Minh còn được trang bị các vũ khíhiện đại Theo một nghiên cứu của Sun Laichen, từ năm 1380 đến 1488 nhà Minh có
2 cơ sở sản xuất vũ khí chính yếu tại các kinh đô Cơ sở thứ nhất được nhà nước giao
cứ mỗi 3 năm sản xuất 3.000 “súng đại bác có miệng súng cỡ bát ăn”, 3.000 khẩusúng tay, 90.000 mũi tên và 3.000 súng báo hiệu Cơ sở thứ hai cũng được giao sảnxuất đại bác và súng tay Dựa trên số thứ tự của các súng tay khai quật được cho đếnnay, người ta ước lượng rằng có ít nhất 160.106 súng tay đã được sản xuất trong thời
kỳ từ 1403 đến 1521 [143; 498] Đây là một số lượng hỏa khí rất lớn đương thời,
chính vì thế Sun Laichen đã đánh giá “Trung Hoa thời Minh sơ (1368 – 1450) như
một siêu cường quân sự [143; 497].
Với cách thức tổ chức chính quyền và quân đội nói trên, hoàng đế nhà Minhnắm được cả chính quyền và quân quyền Chính quyền nhà Minh vì thế là một chínhquyền tập trung cao độ trong lịch sử chế độ phong kiến Trung Quốc Dựa vào bộ máynhà nước được tổ chức chặt chẽ từ trung ương xuống địa phương, lại có một lựclượng quân đội đông đảo, hoàng đế Minh có thể cai trị được cả nước, tỏ rõ quyền lực
Trang 39với thần dân và trở nên “chí cao vô thượng” Sự vững mạnh của chế độ chuyên chếtập quyền và sự ổn định trong nước cũng là một cơ sở quan trọng để nhà Minh triểnkhai các chính sách đối ngoại, đặc biệt là khôi phục và phát triển mối quan hệ sáchphong, triều cống với các nước láng giềng.
* Về kinh tế
Song song với việc củng cố chính quyền, các vua đầu thời Minh đã thực hiệnmột loạt chính sách để khôi phục sản xuất, ổn định xã hội, phát triển kinh tế như:miễn, giảm sưu thuế cho nông dân, kêu gọi nông dân lưu tán trở về quê cũ làm ăn,khuyến khích khai hoang, chăm lo công tác thủy lợi, chuyển phần lớn nô lệ, khu đinh(có thân phận giống nông nô) ở thời Nguyên thành dân tự do để tăng sức sản xuất,hạn chế việc trưng tập thợ thủ công dân gian vào các xưởng thủ công của nhà nước…Nhờ các chính sách này mà nền kinh tế Trung Quốc nhanh chóng được khôi phục rồiphát triển toàn diện cả về nông nghiệp và công - thương nghiệp
Biểu hiện rõ nét nhất cho sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc thời Minh
là sự phát triển mạnh mẽ của thủ công nghiệp
Sự phát triển mạnh mẽ của thủ công nghiệp thời Minh thể hiện trước hết ởviệc hình thành những khu vực sản xuất thủ công nghiệp có quy mô lớn Đó là cáctrung tâm dệt ở Thái Hồ, Tô Châu, Tùng Giang (Giang Tô), trung tâm làm đồ gốm sứ
ở trấn Cảnh Đức (Giang Tây) với gần 3.000 lò; trung tâm luyện sắt ở Tuân Hóa (HàBắc) … Quan hệ sản xuất trong lĩnh vực thủ công nghiệp cũng có những thay đổiquan trọng Vào đầu thế kỷ XVI, nhiều tác phường thủ công (tương tự phường hội ởTây Âu) đã phát triển thành các công xưởng thủ công, sử dụng lao động làm thuê.Các công xưởng thủ công đời Minh được gọi là “Cơ phòng”, người chủ được gọi là
“Cơ hộ” Quan hệ giữa “Cơ hộ” với người làm thuê là “chủ xuất vốn, thợ xuất sức”.Như vậy là đến giữa thời Minh, ở Trung Quốc đã xuất hiện mầm mống của quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa trong sản xuất thủ công nghiệp Sự ra đời của các côngxưởng thủ công với quan hệ sản xuất mới này càng thúc đẩy thủ công nghiệp TrungQuốc phát triển mạnh mẽ hơn
Biểu hiện tập trung nhất cho sự phát triển mạnh mẽ của thủ công nghiệp thờiMinh và cũng là của nền kinh tế Trung Quốc là nhiều nghề thủ công đã đạt tới đỉnhcao trong sự phát triển với trình độ kỹ thuật điêu luyện, như nghề dệt lụa, làm đố sứ,làm đồ mỹ nghệ trang trí… Các nghề này đã sản xuất ra nhiều mặt hàng chất lượng
cao, rất tinh xảo Riêng đồ sứ thời Minh đã “tiến vào giai đoạn sứ tinh khiết, màu
men sứ đa dạng” [6; 966], men mỏng, bóng, sáng, đẹp chưa từng có Vì thế đồ sứ
thời Minh là một trong những mặt hàng thu hút sự quan tâm hàng đầu trên thị trường
Trang 40thế giới lúc đó và trở thành một biểu tượng mới cho sức hấp dẫn của văn minh TrungHoa, bên cạnh tơ lụa và có phần lấn át tơ lụa Đồ sứ men trắng được sản xuất trongnhững năm Vĩnh Lạc (niên hiệu của Minh Thành Tổ 1402 – 1424), đồ sứ có hìnhtrang trí tinh xảo ẩn dưới lớp men bóng màu xanh côban thời Tuyên Đức (niên hiệucủa Minh Tuyên Tông 明宣宗 1425 – 1435) và đồ sứ tráng men đa sắc, có thể có tới
5 hoặc hơn 5 màu men trên một món đồ sứ [32; 576-577] được sản xuất dưới thời cáchoàng đế Minh Hiến Tông 明憲宗 (1464 – 1487), Minh Thế Tông 明世宗 (1521 –1566), Minh Thần Tông 明神宗 (1572 – 1620), là những mặt hàng rất nổi tiếng thời
đó Ngày nay, những mặt hàng này vẫn được các bảo tàng mỹ thuật và giới sưu tầm
đồ cổ trên thế giới săn tìm như những báu vật quý hiếm
Có thể nói, sự phát triển vượt bậc của thủ công nghiệp thời Minh với nhữngmặt hàng gốm sứ, vải vóc, tơ lụa rất đẹp và tinh xảo (mà nhà Minh thường dùng đểban tặng cho các nước đến triều cống) đã góp phần quan trọng vào việc quảng báhình ảnh giàu mạnh của Trung Quốc, đồng thời có sức hấp dẫn lớn đối với các nướcláng giềng gần, xa
Một trong những điểm nhấn thể hiện sự phát triển của nền kinh tế cũng như sựhùng mạnh của Trung Quốc và có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển hệ thống triềucống ở thời Minh là sự tiến bộ vượt bậc của kĩ thuật đóng thuyền đi biển
Ở thời Minh, kĩ thuật đóng thuyền đi biển của Trung Quốc đã đạt tới trình độrất cao Đoàn thuyền khổng lồ đi “Tây Dương” của Trịnh Hòa cho thấy quy mô vàtrình độ đóng thuyền của Trung Quốc lúc đó Đoàn thuyền này gồm hơn 200 chiếc,trong đó có khoảng 60 chiếc “Bửu thuyền” (hay “Bảo thuyền”, “thuyền châu báu”)
“Bửu thuyền” dài tới 44,4 trượng, rộng 18 trượng (mỗi trượng khoảng 3,33 m)[20;104] Đây là những con thuyền lớn nhất mà người Trung Quốc đóng được ở thế
kỷ XV và cũng là những con thuyền lớn nhất thế giới hồi đó Nếu so sánh về kíchthước thì các “Bửu thuyền” lớn hơn nhiều lần những chiếc thuyền mà Côlômbô dùng
để đi xuyên Đại Tây Dương gần một thế kỉ sau đó Chiếc thuyền lớn nhất trong 3thuyền của Côlômbô có tên là “Santa Maria” chỉ dài 24,5 m và rộng có 6m) Để đóngđược một chiếc “Bửu thuyền” “người ta đã phải đốn hạ tới 300 hecta rừng” [95; 67]
Sự cường thịnh của Trung Quốc dưới triều Minh, nhất là ở giai đoạn đầu củavương triều này vừa gây lo ngại nhưng cũng vừa hấp dẫn đối với các nước lánggiềng Nhiều nước láng giềng nhỏ yếu muốn có quan hệ hữu hảo với Trung Quốc vìnhững mục đích chính trị khác nhau và cũng là để chờ đón những cơ hội buôn bánvới Trung Quốc