1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm của ph ăngghen về chế độ tư hữu trong tác phẩm nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước và một số vấn đề thực tiễn ở việt nam hiện nay

54 2,1K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm của Phângghen về chế độ tư hữu trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
Người hướng dẫn Th.S: Đinh Thị Phòng, Trịnh Thị An
Trường học Đại học Huế
Chuyên ngành Triết học, Chính trị học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 334,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những vấn đề chính của tác phẩm “ Nguồn gốc của gia đình,của chế độ tư hữu và của nhà nước” là sự lý giải theo tinh thần duy vật –biện chứng quá trình chuyển biến hợp quy luật

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

QUAN NIỆM CỦA PH.ĂNGGHEN VỀ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU TRONG TÁC PHẨM “NGUỒN GỐC CỦA GIA ĐÌNH, CỦA CHẾ ĐỘ TƯ HỮU VÀ CỦA NHÀ NƯỚC” VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu

Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA PH ĂNGGHEN VỀ CHẾ ĐỘ TƯ

HỮU TRONG TÁC PHẨM “NGUỒN GỐC CỦA GIA ĐÌNH, CỦA CHẾ ĐỘ TƯ HỮU VÀ CỦA NHÀ NƯỚC”

1.1 Khái quát sở hữu và vị trí của vấn đề tư hữu trong tác phẩm

“Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”

1.1.1 Khái niệm sở hữu

1.1.2 Vị trí của vấn đề tư hữu trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”

1.2 Nguồn gốc của chế độ tư hữu

1.3 Bản chất của chế độ tư hữu

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN

NAY NHÌN TỪ QUAN ĐIỂM CỦA PH ĂNGGHEN VỀ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU

2.1 Thực trạng của vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay

2.2 Những biểu hiện của chế độ tư hữu và các hình thức của sở hữu tư nhân ở Việt Nam hiện nay

2.3 Vai trò và xu hướng sở hữu tư nhân ở Việt Nam hiện nay Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những vấn đề quan trọng của việc nghiên cứu triết học Mác

- Lênin là đi sâu vào nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, vì đó là cơ sở xuấtphát để nhận thức một cách chính xác và trung thành với tư tưởng của cácnhà triết học mácxít Việc nghiên cứu tác phẩm kinh điển không chỉ là tiếp

thu, nhận thức mà còn bảo vệ chủ nghĩa Mác vào thực tiễn

Trong số các tác phẩm của Ph Ăngghen viết trong thời kỳ 1889), tác phẩm “ Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhànước” được coi là tác phẩm đặc biệt – là một trong những tác phẩm chủ yếutiếp tục phát triển tư tưởng thiên tài của C.Mác: Quan niệm duy vật về lịchsử

“Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” củaPh.Ăngghen có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc tiếp tục phát triển vàluận chứng cho chủ nghĩa Mác Trong tác phẩm của mình, Ph.Ăngghen đã

cụ thể hóa một cách căn bản khái niệm lịch sử thế giới do Ông cùng vớiC.Mác nghiên cứu trước đó Ông cũng bác bỏ với sức thuyết phục cao hơntrước nhiều học thuyết giáo điều của khoa học tư sản, chẳng hạn, các quanniệm về sự tồn tại ngay từ đầu của gia đình phụ hệ, của chế độ tư hữu, củachính quyền nhà nước, của sự bất bình đẳng xã hội, của sự bóc lột, áp bức,v.v

Một trong những vấn đề chính của tác phẩm “ Nguồn gốc của gia đình,của chế độ tư hữu và của nhà nước” là sự lý giải theo tinh thần duy vật –biện chứng quá trình chuyển biến hợp quy luật của nhân loại từ chế độ tưhữu đối với tư liệu sản xuất, yếu tố đã trở thành cơ sở của chế độ người ápbức và bóc lột người

Trong tác phẩm, Ph Ăngghen đã phân tích kỹ vấn đề xuất hiện tư hữu

Về mặt thực tiễn, Ở việt Nam, vấn đề sở hữu và thành phần kinh tếluôn là vấn đề quan trọng được đề cập trong các kỳ Đại hội Đảng, cũng như

sự quan tâm của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và ngườidân Mục tiêu của giữu vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tếthị trường, Đại hội IX chỉ rõ ba mục tiêu: Thứ nhất, phát triển lực lượng sảnxuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa

xâ hội; thứ hai, nâng cao đời sống nhân dân; thứ ba, phát triển lực lượng sảnxuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba

Trang 4

mặt sở hữu, quản lý và phân phối Đại hội XI cũng chỉ ra ba mục tiêu: thứnhất, thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,văn minh; thứ hai, giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sảnxuất, nâng cao đời sống nhân dân; thứ ba, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo,khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khácthoát nghèo và từng bước khá giả hơn Như vậy, giữ vững định hướng xãhội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế nhiều thành phần theo tinh thần Đạihội IX, Đại hội X và Đại hội XI về căn bản là nhất quán.

Mặt khác, trong khi thống nhất về tính đúng đắn của chủ trương chiếnlược về phát triển hàng hoá nhiều thành phần, vẫn còn những ý kiến khácnhau về sở hữu và về thành phần kinh tế, về mối quan hệ giữa quan hệ sởhữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối thích ứng với mỗi hình thức sởhữu, về mối quan hệ tương hỗ và vị trí của mỗi hình thức sở hữu và thànhphần kinh tế trong hệ thống các hình thức sở hữu, về vấn đề sở hữu trong

xã hội chủ nghĩa, về mối quan hệ giữa các mô hình kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và các hình thức sở hữu, về những tác động vànhững ràng buộc chính trị - xã hội với vấn đề sở hữu, thậm chí cả sự e ngạichệch hướng xã hội chủ nghĩa khi phát triển sở hữu tư nhân và các thànhphần kinh tế ngoài nhà nước… Việc chưa thống nhất về hàng loạt vấn đề

đó dẫn đến nhiều hệ luỵ: thiếu rõ ràng trong quan điểm về sở hữu và thànhphần kinh tế; thiếu rõ ràng và nhất quán trong cơ chế, chính sách và chỉ đạo

xử lý vấn đề sở hữu trong xây dựng và hoàn thiện từng bước quan hệ sảnxuất; sự phân biệt đối xử với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tếkhác nhau; định kiến xã hội đối với các chủ sở hữu tư nhân…

Do vậy, đã nảy sinh nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải đượcnghiên cứu và giải đáp thỏa đáng hơn nữa, trong đó có vấn đề sở hữu

Để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra đối vớicon đường phát triển hiện nay của nước ta, như vấn đề sở hữu, việc đi vàonghiên cứu quan điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin là cần thiết.Tác phẩm của Ph.Ăngghen “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu vàcủa nhà nước” chiếm một vị trí đặc biệt trong sách báo mácxít chuyênnghiên cứu lý luận về tiến trình lịch sử

Từ thực tiễn đó, việc nhận thức và vận dụng đúng đắn các nguyên lýcủa chủ nghĩa Mác - Lênin về sở hữu và các hình thức sở hữu trong thời kỳquá độ đi lên xã hộ chủ nghĩa là một trong các vấn đề trọng yếu Mọi hànhđộng và tư tưởng chủ quan duy ý chí mượn danh nghĩa chủ nghĩa Mác -

Trang 5

Lênin cũng như chủ nghĩa giáo điều trong xử lý các vấn đề phát sinh đều tấtyếu sẽ thất bại.

Từ nhận thức trên đây Tôi chọn vấn đề nghiên cứu Quan điểm của

Ph.Ăngghen về chế độ tư hữu trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” và một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam hiện

nay làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến đề tài này đã có các công trình nghiên cứu như: Về tác

phẩm của của Ph.Ăngghen “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của tác giả I.L.An-Đrê-ép (Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1987);

“Một số vấn đề về sở hữu ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn Thạo (Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004), cuốn sách trình bày một số vấn đề sởhữu ở nước ta trong những năm đổi mới, nêu lên thực trạng chuyển biến sởhữu trong doanh nghiệp nhà nước và lĩnh vực đất đai gần 20 năm qua và sự

tác động của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam ; Sở hữu tư

nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của Nguyễn Thanh Tuyền (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội, 2006); “Phát triển kinh tế tư nhân – xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị

trường ở nước ta hiện nay” của Đặng Minh Tiến (Tạp chí Triết học, số 3,

2007); “Từ quan niệm của C Mác về “xoá bỏ chế độ tư hữu”suy nghĩ vềvấn đề sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của Vũ Thị Kiều Phương (Tạp chí Triết học, số

8, 2008); “Sự phát triển quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về các

hình thức sở hữu và nền kinh tế nhiều thành phần” của Nguyễn Thị Huyền (Tạp chí Triết học, số 7, 2009); Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của Nguyễn Kế Tuấn làm chủ biên

(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010), nội dung cuốn sách làm rõ thêmnhững vấn đề lý luận cơ bản về vấn đề sở hữu trong mô hình kinh tế thịtrường, vận dụng chúng để làm sáng rõ vấn đề sở hữu trong mô hình kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trong các công trình nghiên cứu ở trên có một số công trình đã đề cậpđến vấn đề chế độ tư hữu theo quan niệm của Ph Ăngghen trong tác phẩm

“Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” và một sốcông trình đã đi sâu phân tích vấn đề sở hữu nói chung và sở hữu tư nhânnói riêng trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay Các tác phẩm cũng

Trang 6

nêu ra thực trạng, xu hướng và giải pháp của vấn đề sở hữu nói chung và sởhữu tư nhân nói riêng ở Việt Nam hiện nay.

Tuy nhiên, nhận thức một cách khái quát, toàn diện và sâu sắc nhữngvấn đề cơ bản nhất của vấn đề tư hữu thì cần phải được tiếp tục nghiên cứu

Đề tài Quan niệm của Ph Ăngghen về chế độ tư hữu trong tác phẩm

“Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” và một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, vì thế, được thực hiện trên cơ sở kế

thừa, tiếp thu và hệ thống hóa từ kết quả nghiên cứu trong công trình đitrước

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

Làm rõ những quan niệm cơ bản về chế độ tư hữu của Ph.Ăngghentrong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhànước” và một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam hiện nay Từ đó, góp phầnnắm vững các quan niệm duy vật biện chứng trong cách giải quyết các vấn

đề nhận thức luận, hơn nữa củng cố thế giới quan duy vật đối với bản thânvới tư cách là một sinh viên chuyên ngành triết học

Nhiệm vụ:

Làm rõ vị trí, nguồn gốc, bản chất và các hình thức biểu hiện của chế

độ tư hữu trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu vàcủa nhà nước”

Làm rõ thực trạng của chế độ sở hữu ở Việt Nam hiện nay; nhữngbiểu hiện của chế độ tư hữu và các hình thức sở hữu tư nhân ở Việt Namhiện nay Trên cơ sở đó bước đầu làm rõ vai trò và xu hướng sở hữu tư nhân

ở Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở lý luận:

Đề tài dựa trên cơ sở hệ thống những nguyên lý của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; đường lối của Đảng và chính sáchcủa Nhà nước làm sáng tỏ nội dung của chế đô tư hữu được Ph.Ăngghentrình bày trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và củanhà nước”

Phương pháp nghiên cứu:

Kết hợp các nguyên lý duy vật với nguyên tắc thống nhất lôgíc và lịch

sử, đồng thời sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, cụthể, trừu tượng để giải quyết các nhiệm vụ đã xác định

Trang 7

5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu đề tài.

Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu phạm vi của tác phẩm “Nguồngốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” và các vấn đề thựctiễn ở Việt Nam hiện nay

6 Đóng góp của đề tài

Với phạm vi của một khóa luận được hoàn thành trong một thời gianngắn, mong muốn của Tôi là góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản vềchế độ tư hữu trong tác phẩm theo quan niệm của Ph.Ăngghen và thực tiễn

ở Việt Nam hiện nay Khoá luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo chonhững người quan tâm đến vấn đề trên

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Khoá luận gồm có

2 chương, 5 tiết

Trang 8

Chương 1

QUAN ĐIỂM CỦA PH.ĂNGGHEN VỀ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU TRONG

TÁC PHẨM “NGUỒN GỐC CỦA GIA ĐÌNH, CỦA CHẾ ĐỘ TƯ HỮU

VÀ CỦA NHÀ NƯỚC”

1.1 Khái niệm sở hữu và vị trí của vấn đề tư hữu trong tác phẩm

“Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”

1.1.1 Khái niệm sở hữu

Trong học thuyết cách mạng và khoa học của các nhà sáng lập của chủnghĩa Mác - Lênin, vấn đề sở hữu có vị trí cực kỳ quan trọng Dựa vào tácphẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể khái quát quan niệm củaMác và Ph.Ăngghen về sở hữu thành những nội dung sau:

Thứ nhất, sở hữu được coi là điều kiện của nền sản xuất xã hội C.Mác

viết: “Bất kỳ nền sản xuất nào cũng đều là việc con người chiến hữu nhữngsản phẩm của tự nhiên trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định vàthông qua hình thái đó Theo ý nghĩa đó nói rằng, sở hữu (sự chiếm hữu) làmột điều kiện của sản xuất ” [21;860] Mà sản xuất xã hội lại là cơ sở tồntại và phát triển của xã hội loài người, vì thế sở hữu là vấn đề trọng yếutrong lịch sử của nhân loại

Thứ hai, sở hữu là một hình thái quan hệ xã hội Quan hệ sở hữu không

phải là quan hệ giữa người với vật mà trước hết là quan hệ giữa người vớingười trong việc chiếm hữu của cải vật chất, bởi lẽ theo Ph.Ăngghen, “khoakinh tế chính trị không nghiên cứu các vật phẩm, mà nghiên cứu những mốiquan hệ giữa người với người, xét cho đến cùng là giữa giai cấp với giaicấp, nhưng các quan hệ đó bao giờ cũng gắn với các vật phẩm và biểu hiện

ra như là những vật phẩm” [11;615] Cho nên, khi nghiên cứu về sở hữu,không thể không đề cập đến đối tượng sở hữu nhưng trước hết và mục tiêu

là bàn về quan hệ giữa người với người đối với đối tượng sở hữu đó

Thứ ba, quan hệ sở hữu là mang tính lịch sử xã hội, không có một hình

thức sở hữu tồn tại vĩnh viễn mà thường xuyên biến đổi Nguyên nhân giảithích tính lịch sử của quan hệ sở hữu đó là sự phát triển của lực lượng sảnxuất mới, đòi hỏi phải có quan hệ sở hữu mới phù hợp hơn

Bốn là, sự vận động, phát triển của quan hệ sở hữu là một quá trình lịch

sử tự nhiên Một hình thái xã hội với một hình thức sở hữu tương ứng chỉmất đi và một hình thái xã hội với một hình thức sở hữu mới chỉ ra đời trongnhững điều kiện khách quan, không lệ thuộc vào muốn chủ quan của con

Trang 9

người C.Mác viết: “Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất

cả những lực lượng sản xuất xã hội mà hình thái đó tạo địa bàn đầy đủ chophát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn,cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất củanhững quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ” [11;15-16] Quan điểm này giúp cho những người cộng sản trong chỉ đạo thực tiễn,tránh chủ quan, duy ý chí, nôn nóng

Thứ năm, sự tồn tại nhiều loại hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ

lên chủ nghĩa xã hội Trong một giai đoạn nào đó của sự phát triển xã hội,bên cạnh một phương thức sản xuất chủ đạo còn phải kế thừa những tàn dưkhiến cho trong cùng một thời gian, trong một nước tồn tại nhiều loại hình

Có thể coi đoạn trích dẫn trên đây là phương pháp luận để xem xét cácloại hình sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Thứ sáu, việc xóa bỏ chế độ tư hữu phải là một quá trình lâu dài và khó

khăn, phức tạp Ph.Ăngghen nêu rõ: “Liệu có thể thủ tiêu chế độ tư hữungay lập tức được không? Trả lời: Không, không thể được, cũng y nhưkhông thể làm cho lự lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mứccần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu Cho nên, cuộc cách mạngcủa giai cấp vô sản đang có tất cả những triệu chứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ cóthể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần, và chỉ khi nào đã tạo nên đượcmột khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mớithủ tiêu được chế độ tư hữu” [9;469]

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải tuân theonhững di huấn của các nhà kinh điển: không nôn nóng xóa bỏ chế độ tư hữu,

sử dụng các thành phần kinh tế dựa trên tiền đề chế độ tư hữu về tư liệu sảnxuất để phát huy các nguồn lực nhưng phải tìm cách hạn chế bóc lột, không

để nảy sinh quan hệ thống trị, bị trị

Bảy là, quan hệ sở hữu tư bản chủ nghĩa chuyển biến theo hướng xã hội

hóa, quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng C.Mác chỉ ra rằng, chủ nghĩa tưbản trong quá trình phát triển sản xuất, theo đuổi giá trị thặng dư đã tạo ra

Trang 10

những nhân tố kinh tế mang tính chất quá độ sang phương thức sản xuấtmới là các công ty cổ phần tư bản chủ nghĩa và nhà máy hợp tác

Khi bàn về vấn đề sở hữu, V.I.Lênin còn bổ sung thêm nhiều điểm mới,nhất là về sở hữu đất đai V.I.Lênin cho rằng: “Ruộng đất phải là sở hữu củatoàn dân, và một chính quyền có tính chất toàn quốc phải quy định điều đó”[19;220] Nhưng V.I.Lênin cũng đã chỉ ra rằng: Người nông dân muốn sửdụng có hiệu quả đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì phải có điều kiện, nhưphải có vốn và tư liệu sản xuất khác, phải có chuyên gia kỹ thuật và cuối

cùng phải có tổ chức” [18;227-230].

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sở hữu, các nhànghiên cứu lý luận ở nước ta đã đưa ra những quan điểm khác nhau về nộidung của phạm trù sở hữu:

Quan điểm thứ nhất: Sở hữu là một hình thức nhất định về chiếm hữu của cải (vật chất hoặc tinh thần) trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Sở hữu có liên quan đến quyền hạn và nghĩa vụ, nhưng ưu tiên và hạn chế đối với con người trong một xã hội nhất định với những của cải khan hiếm có giá trị của xã hội đó Quyền sở hữu là sự chiếm đoạt, sử dụng và định đoạt của cải (vật chất hoặc tinh thần) trong phạm vi pháp luật cho phép Quyền sở hữu được quy định một cách khác nhau và chính sự khác đó

là yếu tố cơ bản của các chế độ kinh tế Quyền tự do kinh tế gắn bó chặt chẽ với quyền sở hữu Quyền sở hữu gắn liền với quyền tự do của con người, trước hết là quyền tự do về kinh tế mà đầu tiên là quyền sở hữu tư nhân, sở hữu cá nhân Vì vậy sở hữu là cơ sở và là điều kiện cho quyền tự do cá nhân của con người

Quan điểm này có những yếu tố hợp lý vì có sự phân biệt sở hữu vàchiếm hữu; xem sở hữu là hình thức nhất định của việc chiếm hữu, hơn nữalại biết tới tính lịch sử của hình thức chiếm hữu này khi ở trong các hìnhthức kinh tế - xã hội nhất định Tuy nhiên, quan niệm này còn đơn giản,nghèo nàn và chưa thật rõ ràng, đầy đủ

Quan điểm thứ hai: Sở hữu là quan hệ giữa người với người về chiếm hữu tự nhiên, là hình thức xã hội của hành vi chiếm hữu trong hình thái kinh tế- xã hội nhất định, là phạm trù lịch sử, biến đổi cùng với sự biến đổi của hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử

Đối tượng sở hữu cũng luôn biến đổi Trong lịch sử, đối tượng sở hữu

đã từng chuyển dịch từ sở hữu những vật quý, hiếm sang sở hữu nô lệ, đấtđai, đến tiền, tư liệu sản xuất Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất,

Trang 11

của cách mạng khoa học kỹ thuật, đối tượng sở hữu không ngừng chuyểnbiến Ngày nay đối tượng sở hữu đã được đề cập nhiều là sở hữu vốn (tàichính, khả năng sinh lợi ), sở hữu trí tuệ (phát minh, sáng chế, các giảipháp công nghệ, bí quyết công nghệ )

Theo quan điểm này, khái niệm sở hữu được nhìn nhận với nội dung rấtphong phú, bao gồm nhiều khâu, nhiều mối quan hệ như: khái niệm sở hữu?

sở hữu của ai? Ai sở hữu và quản lý sử dụng? Thực hiện lợi ích kinh tế nhưthế nào, bằng hình thức gì? Chỉ khi nào trả lời được các câu hỏi này thìviệc nhận thức phạm trù sở hữu mới được coi là đầy đủ Đây là quan điểm

có nội dung tốt và rất đáng lưu ý

Quan điểm thứ ba: Sở hữu là quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu các điều kiện vật chất của sản xuất

Chiếm hữu và sở hữu là hai khái niệm khác nhau: người chiếm hữuchưa chắc đã là người sở hữu, còn những người sở hữu đương nhiên lànhững người chiếm hữu, nhưng cũng có thể giao vai trò đó cho người khác

Về mặt lịch sử thì chiêm hữu có trước sở hữu Khởi thủy là chiếm hữu tựnhiên, đối tượng của nó là các vật tự nhiên chưa có lao động kết tinh Vìvậy, khi nói đến chiếm hữu chủ yếu là nói đến chiếm hữu giá trị sử dụng.Khác với chiếm hữu, đối tượng của sở hữu bao giờ cũng là những vật chứađựng lao động của con người Do đó khi nói đến sở hữu bao giờ cũng baohàm cả hai: giá trị và giá trị sử dụng Quan niệm này đã phân biệt rõ đượccác phạm trù sở hữu và chiếm hữu và nhất là đã nhấn mạnh được vai trò củaquan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất nhưng lại phiến diện và rất khôngđầy đủ, không thấy hết tính chất phức tạp, phong phú cảu phạm trù sở hữu

Quan điểm thứ tư: Sở hữu là quan hệ giữa lao động với những điều kiện khách quan của lao động

Mối quan hệ này là tiền đề khách quan, tất yếu và bao quát mọi quátrình sản xuất, tức là quá trình con người chiếm hữu giới tự nhiên để làm rasản phẩm phục vụ con người và xã hội Vì vậy có thể nói sở hữu là phạm trù

cơ bản, bao trùm của quan hệ sản xuất Sở hữu là một quan hệ chiếm hữucủa con người đối với tự nhiên qua lao động sản xuất Nhìn chung, quanđiểm thứ tư có mặt gần với quan điểm thứ ba Ở đây dựa trên lý luận về tínhchất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa trong học thuyết kinh tế củaC.Mác để phân tích khá kỹ và toàn diện phạm trù sở hữu Tuy vậy, quanđiểm này đã bộc lộ điểm yếu cơ bản và không đủ thuyết phục là: khi nềnkinh tế của xã hội loài người còn ở trình độ sơ khai, chưa là sản xuất hàng

Trang 12

hóa, lao động sản xuất của con người do vậy chưa thể hiện tính chất hai mặt,thì phải chăng không có sở hữu xã hội và chiếm hữu thực tế? Do đó chưathật sự làm rõ bản chất của phạm trù sở hữu.

Quan điểm thứ năm: khái niệm sở hữu vừa được hiểu như là một phạn trù kinh tế, lại vừa được hiểu như phạm trù pháp luật.

Là phạm trù kinh tế, sở hữu thể hiện các quan hệ sản xuất xã hội,phương thức chiếm hữu và phân phối trong từng hình thái kinh tế - xã hội

và quan hệ xã hội nhất định Nội dung chính của quan hệ sở hữu là việcchiếm hữu, sử dụng và định đoạt

Là phạm trù pháp luật: một khi các quan hệ kinh tế đó được pháp luậtđiều chỉnh thì trở thành các quan hệ pháp luật Sự thể chế hóa đó có nghĩarằng Nhà nước chính thức thừa nhận các quan hệ, các lợi ích kinh tế của chủ

sở hữu đối với các đối tượng sở hữu

Quan điểm này chỉ đưa ra và phân tích các khía cạnh kinh tế, khía cạnhpháp lý trong quan niệm về sở hữu, về mối quan hệ giữa chúng mà chưa làm

rõ được nội dung và quan hệ khác của phạm trù sở hữu, ngay cả vấn đề cơbản

Tóm lại, xung quanh việc nhận thức về phạm trù sở hữu còn có nhiều

quan điểm, nhiều ý kiến chưa thống nhất với nhau Để nhận thức về phạmtrù sở hữu, trước hết cần phải đứng vững trên quan điểm, phương pháp luậncủa chủ nghĩa Mác - Lênin; kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu

đã đạt được và gắn lý luận với thực tiễn đời sống hiện thực để xem xét,

Với cách tiếp cận như vậy, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng: Sở

hữu là một phạm trù xã hội phản ánh quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu của cải vật chất, là hình thái xã hội có tính lịch sử của việc chiếm hữu của cải vật chất và thông qua quan hệ xã hội ấy thỏa mãn nhu cầu của mình; sở hữu không phải là quan hệ giữa người với vật mà là quan

hệ giữa người với người đối với vật.

Có thể khẳng định rằng, sở hữu và chiếm hữu là hai khái niệm có quan

hệ mật thiết với nhau nhưng không đồng nhất với nhau Về mặt lịch sử,chiếm hữu có trước sở hữu Chiếm hữu là khả năng tự bảo tồn của conngười, phản ánh quan hệ của con người với tự nhiên và tồn tại khách quantrong mọi thời đại Còn sở hữu là quan hệ giữa người với người trong việcchiếm hữu vật mang tính đặc thù thích ứng với mỗi hình thái kinh tế - xãhội- là quan hệ xã hội; sở hữu chỉ xuất hiện trong những thời đại lịch sửnhất định và phụ thuộc vào sự phát triên rcủa lực lượng sản xuất Chiếm

Trang 13

hữu là hình thức đầu tiên của sở hữu, nhưng nó mới chỉ là một mặt, nộidung phạm trù sở hữu còn bao gồm cả quyền sử dụng, quyền định đoạt của chủ thể sở hữu với đối tượng sở hữu.

1.1.2 Vị trí của vấn đề tư hữu trong tác phẩm

Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhànước” của Ph.Ăngghen được đánh giá là một trong những tác phẩm tiêubiểu trong đó những quan niệm duy vật về lịch sử của Mác đã được pháttriển một cách đáng chú ý

Cuốn sách của Ph.Ăngghen mang nội dung giải thích có căn cứ trênquan điểm duy vật biện chứng về lịch sử loài người ở các giai đoạn pháttriển sơ khai của nó Trong đó có nêu rõ đặc điểm chi tiết các tiền đề kinh tế

và điều kiện lịch sử làm phát sinh chế độ tư hữu, nhà nước và gắn với chúng

là sự tiến hoá của các hình thức hôn nhân và gia đình

Một trong những chủ đề chính của tác phẩm là sự lý giải theo tinh thầnduy vật biện chứng quá trình phát triển hợp quy luật của xã hội loài người từchế độ sở hữu công xã nguyên thuỷ (thị tộc-bộ lạc) sang chế độ tư hữu đốivới tư liệu sản xuất xã hội, cơ sở của chế độ người áp bức và bóc lột người.Quá trình hình thành chế độ tư hữu chiếm một vị trí quan trọng trong tácphẩm

Chế độ tư hữu phát sinh, tồn tại, phát triển theo quy luật và có vai tròlịch sử lâu dài trong xã hội loài người Nói cách khác, chế độ tư hữu phátsinh, tồn tại như một tất yếu khách quan và chỉ kết thúc vai trò lịch sử củabằng sự quyết định bởi tính thích ứng của quan hệ sản xuất với tính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất, một khi lực lượng sản xuất pháttriển đầy đủ nhất, hoàn bị nhất

Theo Ph.Ăngghen, sự phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vàphân công lao động xã hội là nguyên nhân sâu xa làm tan rã chế độ cộng sảnnguyên thuỷ, đưa đến sự hình thành chế độ tư hữu Cùng với quá trình pháttriển của lực lượng sản xuất là sự chuyển hoá thích ứng về chất và lượngcủa quan hệ sản xuất Sự chuyển hoá này được thể hiện ở trình độ xã hộihoá của quan hệ sản xuất (mà trung tâm là quan hệ sở hữu), quy mô về cơcấu tổ chức kinh doanh và cơ chế quản lý thích ứng Lịch sử đã chứng minh,khi lực lượng sản xuất ở trình độ thấp, ứng với nó là quan hệ sở hữu nhỏ,

đa dạng, phân tán và ngược lại Tính xã hội hoá của quan hệ sản xuất tỷ lệthuận với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mà yếu tố quyết định là

sự tiến bộ của khoa học và công nghệ

Trang 14

Ph.Ăngghen đã giải thích quá trình hình thành của chế độ tư hữu làhình thức điều hành nền sản xuất xã hội Khi đánh giá cuộc cải cách củaXôlông, viên pháp quan thần thoại thành Aten (khoảng năm 509 trước côngnguyên), người đã vứt bỏ những hòn đá cầm cố ra khỏi các cánh đồng, đãhuỷ bỏ nợ nần của đồng bào mình còn mắc nợ bọn cho vay nặng lãi, vàchuộc lại những người dân thành Aten bị bọn chủ nợ đem bán ra nướcngoài, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh chính điểm đó: “Như vậy là ở đây, mộtyếu tố hoàn toàn mới đã xâm nhập vào tổ chức: sở hữu tư nhân” [8;180].Chính nhờ chế độ tư hữu mà giai cấp thống trị ăn bám, bao gồm thươngnhân, những kẻ cho vay nặng lãi, những phần tử quý tộc con dòng cháugiống, “chiếm toàn quyền lãnh đạo sản xuất và bắt những người sản xuấtphụ thuộc vào mình về mặt kinh tế, nó tự đứng ra làm kẻ trung gian khôngthể thiếu được giữa hai người sản xuất bóc lột cả hai” [8;254].

Chế độ tư hữu cùng với các hình thức sở hữu của nó có vai trò thúc đẩy

sự phát triển của các quan hệ hôn nhân gia đình trong tác phẩm “Nguồn gốccủa gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của Ph.Ăngghen

Ngay từ khi mới phát sinh, lĩnh vực sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt(tìm kiếm thức ăn và hoạt động bằng công cụ) được quy định bởi sự phátsinh của lao động Chẳng hạn, điều quan trọng là việc hoàn thiện các quytrình công nghệ chế tạo Và sử dụng công cụ lao động và lĩnh vực sản xuất

ra chính bản thân con người (quan hệ tính giao, sinh đẻ con cái và truyềnthụ lại các kinh nghiệm xã hội) đã mang trong mình chúng những mâuthuẫn nhất định

Vậy, chế độ tư hữu đã xuất hiện và xã hội phân chia thành kẻ giàungười nghèo, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã thay thế chế độ quầnhôn Đồng thời xuất hiện chế độ gia trưởng đặc trưng bằng vai trò tuyệt đối

và quyền lực vô hạn của người chồng trong gia đình C.Mác và Ph.Ăngghen

đã nói: Gia đình cá thể đã trở thành một lực lượng đang đe dọa thị tộc

Theo Ph.Ăngghen, những cải tạo căn bản trong lĩnh vực tổ chức sảnxuất và chế độ sở hữu đã gây ra những biến đổi có tính quy luật trong tínhchất của mối quan hệ giữa người với người, kể cả quan hệ nam nữ Trongcuốn sách của mình, Ph.Ăngghen cũng đã phân tích kỹ mối liện hệ giữa cácquan hệ nam nữ với các hình thái sở hữu, chẳng hạn như các tiền đề kinh tếcủa việc tự do ly hôn Khi nghĩ về xã hội tương lai Ông viết: “Nhưng ở đây,cái sẽ biến mất đi một cách rất chắc chắn trong chế độ một vợ một chồng,chính là tất cả những đặc trưng mà những quan hệ tài sản đó đẻ ra nó, đã in

Trang 15

lên nó Những đặc trưng đó là: thứ nhất là sự thống trị của người đàn ông,

và thứ hai tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân Sự thống trị của ngườiđàn ông trong hôn nhân chỉ đơn thuần là kết quả của sự thống trị của họ vềkinh tế và sẽ tiêu vong cùng với sự thống trị về kinh tế Tính ràng buộc vĩnhviễn của hôn nhân, thì một phần là kết quả của các điều kiện kinh tế trong

đó chế độ một vợ một chồng phát sinh, và phần nữa là một truyền thống củathời kỳ trong đó mối liên hệ giữa những điều kiện kinh tế ấy với chế độ một

vợ một chồng còn chưa được người ta hiểu một cách đúng đắn và đã bị tôngiáo thổi phồng lên ” [8;130-131]

Nhiệm vụ có tính chất xây dựng của con người xã hội chủ nghĩa vàcộng sản chủ nghĩa tương lai, trong lĩnh vực cải tạo cơ bản của các mốiquan hệ giữa cá nhân, cũng như triển vọng phát triển của hôn nhân - giađình đã được Ph.Ăngghen vạch ra, dĩ nhiên, dưới hình thức chung nhất, vớitính cách là hệ quả của việc thay đổi tận gốc các quan hệ sản xuất và sở hữu.Ông tiên đoán: “Tư liệu sản xuất chuyển thành tài sản chung, thì gia đình cáthể sẽ không còn là đơn vị kinh tế của xã hội nữa Nền kinh tế gia đình tưnhân biến thành một doanh nghiệp xã hội Việc nuôi dạy con cái trở thànhmột công việc của xã hội; chăm sóc tất cả các trẻ em như nhau, dù đó là conhợp pháp hay con hoang Do đó, cũng sẽ không có mối lo âu về “những hậuquả”, một yếu tố xã hội chủ yếu nhất - về mặt đạo đức cũng như về mặt kinh

tế - khiến một cô gái không dám hiến thân một cách thoải mái cho ngườimình yêu” [8;121]

Vấn đề sở hữu trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tưhữu và của nhà nước” còn được Ph.Ăngghen đề cập trong sự ra đời và pháttriển của nhà nước đầu tiên trong lịch sử - nhà nước chiếm hữu nô lệ Aten.Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ tiền đề để xuất hiện nhà nước là sự ra đời củachế độ tư hữu và sự phân chia giai cấp Ph.Ăngghen đã coi các đối khánggiai cấp không phải là một “công trình sáng tạo” nào đó của trí tuệ, mà làkết quả khách quan của quá trình lịch sử Nguyên nhân cơ bản của quá trình hình thành và phát triển của chế độ

tư hữu và giai cấp là do sự phát triển của sản xuất và sự phân công lao động

xã hội Ph.Ăngghen viết: “Từ sự phân công xã hội lớn lần đầu tiên đã nãysinh ra sự phân chia lớn đầu tiên trong xã hội thành hai giai cấp: chủ nô và

nô lệ kẻ bóc lột và người bị bóc lột” [8;240]

Chế độ tư hữu đã xuất hiện và xã hội phân chia thành kẻ giàu ngườinghèo, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã thay thế chế độ quần hôn

Trang 16

Đồng thời xuất hiện chế độ gia trưởng đặc trưng bằng vai trò tuyệt đối vàquyền lực vô hạn của người chồng trong gia đình C.Mác và Ph.Ăngghen đãnói: “Gia đình cá thể đã trở thành một lực lượng đang đe dọa thị tộc”[8;249] Như vậy, sự phát triển lực lượng sản xuất, có sự phân chia giai cấpđịa chủ - chủ nô và nông nô và đó là sự phân chia căn bản của xã hội Hìnhthức của quan hệ giữa người với người đã thay đổi Trước kia, chủ nô coi nô

lệ như vật sở hữu của mình; pháp luật cũng công nhận quan điểm đó và coingười nô lệ là một vật thuộc quyền sở hữu hoàn toàn của chủ nô Đối vớingười nông nô, ách áp bức giai cấp, sự lệ thuộc hãy còn tồn tại, những lãnhchúa thì không được coi là có quyền sở hữu nông dân như một sở hữu đồvật nữa; nó chỉ có quyền chiếm đoạt kết quả lao động của nông dân vàcưỡng bức nông dân phải làm tròn một số nghĩa vụ nào đó thôi Những mốiquan hệ và liên hệ xã hội đã hình thành mới đây ngày càng vượt xa khỏiphạm vi của các mối dây thân tộc và phá vỡ tổ chức thị tộc - bộ lạc.Ăngghen xác nhận: “Nó không vượt xa hơn bộ lạc được; liên minh những

bộ lạc đã đánh dấu bước đầu của sự suy tàn của tổ chức ấy” [8;153] Việchợp nhất các công xã làm tăng nhu cầu điều hành sản xuất Sự hòa nhậptầng lớp trên của các công xã khác nhau đã tạo ra một lớp người đặc biệtnằm ngoài cơ cấu thị tộc, tách khỏi hoạt động trực tiếp và chỉ điều hành sảnxuất “từ bên trên” Những lợi ích kinh tế - tài sản mới của họ đã tách xakhỏi những mối dây thân tộc Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng những gia đìnhdanh giá và giàu có “đã tập hợp nhau lại, bên ngoài thị tộc của họ, thànhmột giai cấp riêng biệt, có đặc quyền” [8;172] Tạm thời, giai cấp này đảmnhiệm cả các công việc xã hội, nhưng về khách quan nó đã có những lợi íchkinh tế đặc thù của riêng mình, khác với lợi ích xã hội

Sự phân lập đầu tiên trong lịch sử thành giai cấp ththống trị là như vậy

đó Nhà nước là cần thiết cho chính giai cấp đó Cơ sở để liên kết các đạibiểu của các thị tộc khác nhau (đôi khi vốn thù địch với nhau) thành mộtcộng đồng ngoài thị tộc (trên thị tộc hay là chống lại thị tộc) là tính đồngnhất khách quan của các điều kiện tồn tại về kinh tế của nhóm người đó,-nhóm người ngày càng đối lập rõ rệt với những bộ phận dân cư còn lại.Những người không có thị tộc, không có tài sản, bị số phận cay đắng đàothải khỏi cộng đồng dòng họ của mình thì làm thành lực lượng đối trọng vớicác tầng lớp trên, “từ phía dưới” của cơ cấu xã hội

Khi loài người bước vào thời đại đồ sắt và giai đoạn cao của thời đại dãman, cùng với quá trình phân hóa xã hội ngày càng trở nên sâu sắc, chính

Trang 17

quyền công cộng (trong khuôn khổ một nền dân chủ quân sự) đã phát triểnmạnh mẽ thành nhà nước Đó là một hình thức tổ chức của xã hội có giaicấp, trong đó, các lợi ích của giai cấp thống trị được bảo đảm bằng các thiếtchế chính trị đặc biêt Đồng thời, trong hoạt động của nhà nước đã hìnhthành, các phương tiện và phương pháp bạo lực vũ trang đã được đẩy lênhàng đầu.

Trong khuôn khổ của một hệ thống kinh tế - xã hội thống nhất, nhờ

có nhà nước mà những người chủ sở hữu tư liệu sản xuất liên kết lại vớinhau, và đồng thời diễn ra việc điều hành sự cạnh tranh theo quy luật trongchính những người chủ sở hữu tư nhân

Như vậy, xét về nguồn gốc nhà nước theo Ph.Ăngghen: “Nhà nướcnảy sinh chủ yếu và trực tiếp từ những sự đối lập giai cấp đã phát triển ngaytrong nội bộ xã hội thị tộc Nhà nước không phải là một quyền lực từ bênngoài vào Nó cũng không phải là “hiện thực của ý niệm đạo đức” là hìnhảnh của hiện thực lý tính như Hêghen khẳng định Đúng ra, nhà nước là sảnphẩm của một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định; nó là sự thúnhận rằng xã hội đó bị lúng túng trong một mối mâu thuẫn với bản thân màkhông sao giải quyết được Nhưng muốn cho những mặt đối lập đó nhữnggiai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau đó, không đi đến chỗ tiêu diệtlẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội, một cuộc đấu tranh vô ích, thì cần phải

có một lực lượng rõ ràng là đứng trên xã hội có nhiệm vụ làm dịu bớt sựxung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng trật tự Và lực lượng

đó, nảy sinh ra từ xã hội, nhưng nó lại đứng trên xã hội và ngày càng tách rakhỏi xã hội chính là nhà nước” [8;253]

Chính trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và

của nhà nước”, Ph.Ăngghen đã viết về những vận mệnh lịch sử của các hình

thái đó trong thời kỳ phát triển đi lên của xã hội có đối kháng giai cấp Tấtnhiên, ngày nay triển vọng phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc ở cácnước đã được giải phóng là có thể khác hẳn nhau Song, bất luận thế nào,các kiến thức trong cuốn sách của Ph.Ăngghen là cần thiết cho việc đề racác hình thức và biện pháp vừa có tính chất triển vọng, vừa có tính chất hiệnthực để cải tạo tận gốc rễ đời sống của người nông dân Châu Phi trên cơ sởnguyên tắc công bằng xã hội, để nâng cao năng suất lao động xã hội, vàthiết lập các hình thức sở hữu xã hội chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất Như vậy, quá trình hình thành chế độ tư hữu chiếm một vị trí hết sức

quan trọng và góp phần làm cho tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của

Trang 18

chế độ tư hữu, và của nhà nước” là sự tiếp tục phát triển và hoàn thiện quan

niệm duy vật về lịch sử - một trong hai phát kiến thiên tài của Mác Đồngthời, tác phẩm của Ph.Ăngghen còn góp phần to lớn vào việc giáo dục vàtrang bị cho giai cấp công nhân trên toàn thế giới vũ khí tư tưởng sắc béntrong cuộc đấu tranh chống lại hệ tư tưởng tư sản và các trào lưu phi mácxítkhác, hướng giai cấp công nhân đoàn kết lại trong một khối thống nhất, có

tổ chức, đấu tranh vì một xã hội tương lai - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộngsản chủ nghĩa

1.2 Nguồn gốc của chế độ tư hữu

Chế độ sở hữu với tính cách là một quan hệ xã hội trong tác phẩm củaMooc-gan và của Ph.Ăngghen

Ph.Ăngghen đã coi sự phát triển của lực lượng sản xuất, việc phân cônglao động xã hội ngày càng sâu sắc, cũng như việc tăng cường trao đổi hànghóa do các yếu tố đó gây nên là nguồn gốc phát sinh chế độ tư hữu Sự thiếuthốn hay khánh kiệt của các tiền tệ tự nhiên nào đó của sản xuất và khanhiếm những sản phẩm tiêu dùng được tạo ra - tất cả những điều đó đã làmcho xã hội phải điều tiết chúng trở nên cần thiết một cách gay gắt Thoạttiên đã xuất hiện các hình thức thể hiện về mặt xã hội của quyền sở hữu nhưhình thức bộ lạc, hình thức công xã, rồi sau đó là quyền sở hữu gia đình và

cá nhân

Sự phát triển của lực lượng sản xuất của lao động đã tạo ra một quátrình hai mặt Nó đòi hỏi phải tăng số lượng người thu hút vào quá trìnhphát triển xã hội, quá trình gắn bó với nhau bởi việc đẩy mạnh các hình thứctrao đổi khác nhau Đồng thời, nó gây nên việc giảm sút các tế bào kinh tếđang tập trung trong mình chúng lẫn cả sản xuất và tiêu dùng, tức là việctrực tiếp đảm bảo đời sống Theo khuynh hướng sau, chế độ sở hữu riêngbiệt của các tế bào sản xuất khác nhau đã nảy sinh Hiện tượng cùng tồn tạicủa chế độ sở hữu tập thể cổ truyền thụ động và chế độ tư hữu năng động,với tính cách là hai loại hình đối lập của quan hệ sản xuất giữa người vớingười, về phương diện tư liệu sản xuất, đã hình thành

Cần thấy rằng, lập trường phương pháp luận của Ph.Ăngghen khác về

cơ bản với các quan điểm thịnh hành trong nền khoa học tư sản lúc bấy giờ,

mà các quan điểm này là nguyên nhân của tính không nhất quán trong quanđiểm duy vật - tự phát của Mooc-gan đối với vấn đề nói trên Như nhà báchọc nổi tiếng người Pháp, Giăng Xi-u-re-Ca-nan đã nhận xét rất đúng rằng,

Trang 19

Mooc-gan, vì thiếu một quan điểm biện chứng nhuần nhuyễn, nên đã không

đủ sức hiểu được các mâu thuẫn vốn có của thực tế xã hội

Chẳng hạn, ở Mooc-gan ta thấy có khuynh hướng đồng nhất chế độ sởhữu với của cải Của cải, thường được ông giải thích như là toàn bộ các tưliệu tiêu dùng, châu báu và tiền bạc (chứ không phải là các tư liệu sản xuất),như là sản phẩm của hoạt động trí tuệ (kết quả của những phát minh), như làthành quả của hoạt động sáng tạo của con người, của năng lực trí tuệ củacon người mà ta không thể lường trước được các hậu quả của nó Vì vậytính đối lập về kinh tế - xã hội giữa hình thức sở hữu tập thể và tư hữu đượcgiải quyết trong quá trình chế độ công xã nguyên thủy chuyển sang chế độ

có đối kháng giai cấp thì trong tác phẩm của Mooc-gan, đã bị đồng nhất mộtcách giản đơn với việc đối lập giữa giàu và nghèo, giữa mức tạm đủ và dưthừa, giữa khổ hạnh và hoang phí Sự phát triển của chế độ sở hữu bao gồmquá trình tiến hóa của chế dộ sở hữu tập thể và quá trình biến đổi hợp quyluật của chế độ sở hữu tập thể thành chế độ tư hữu - cơ sở kinh tế của cácđối kháng giai cấp trong thời đại văn minh Mooc-gan đã quy quá trình nàythành sự minh họa bằng lý thuyết ít có hiệu lực, đúng hơn là những minhhọa có tính siêu hình - duy cảm về ba “trình tự thừa kế” nối tiếp nhau đốivới tài sản của người quá cố, bởi: 1) gia tộc, 2) nhóm họ hàng thân thíchtheo hôn nhân, 3)con cái và qua chúng là các thành viên khác của gia đìnhnhỏ Đồng thời tác giả cuốn “Xã hội cổ đại” đã quá nhấn mạnh khía cạnhtinh thần của các biến đổi xã hội do sự xuất hiện chế độ tư hữu gây ra, nhưxuất hiện lòng ham muốn của cải, thói hám lợi, mê làm giàu, tính thích sửdụng các đồ xa xỉ, tình trạng đạo đức suy đồi, v.v

Ph.Ăngghen đã chỉ ra một cách thuyết phục tính quy định về mặt kinh

tế và tính tất yếu lịch sử của sự tồn tại và phân rã của chế độ sở hữu tập thểtrong xã hội nguyên thủy Ông đã phân tích đặc điểm hoạt động của các quyluật kinh tế trong các chế độ tiền tư bản chủ nghĩa mà C.Mác đã phát hiện.Công trình nghiên cứu của Ph.Ăngghen về vấn đề nầy nổi bật lên bởi tínhsâu sắc và cơ sở lập luận sâu sắc và cơ sở lập luận cững chắc của nó Chẳnghạn, Ông đã phân biệt sự tiến hóa của các quan hệ sản xuất trong hệ thống

“con người- thiên nhiên và công cụ lao động” -những quan hệ giữ vai trò là

cơ sở của lực lượng sản xuất, liên quan đến hệ thống “con người- nhiềungười khác” mà hạt nhân của hệ thống này là các quan hệ sở hữu đối với tưliệu sản xuất Ph.Ăngghen đã nói đến việc tiêu dùng, chiếm hữu và phânphối các yếu tố khác nhau của lực lượng sản xuất trong quá trình tiến hóa

Trang 20

của hoạt động kinh tế Khi đề cập đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng, Ông đã nêu ra

sử dụng, chiếm hữu và điều khiển như là các hình thái và cấp độ phát sinhcủa các mối quan hệ sở hữu

Như vậy, theo Ph.Ăngghen trong “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ

tư hữu và của nhà nước” thì sự phát triển của lực lượng sản xuất, việc phâncông lao động xã hội ngày càng sâu sắc, cũng như việc tăng cường trao đổihàng hóa do các yếu tố đó gây nên, là nguồn gốc phát sinh chế độ tư hữu

1.3 Bản chất của chế độ tư hữu

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, tuy trải qua nhiềuphương thức sản xuất khác nhau, nhưng chỉ có hai chế độ sở hữu cơ bản làchế độ sở hữu tư nhân (còn gọi là chế độ tư hữu) và chế độ sở hữu côngcộng (còn gọi là chế độ công hữu) về tư liệu sản xuất Đó là hai cực của một

hệ thống có sự phân biệt ranh giới rõ ràng về cả chủ thể sở hữu (một bênchủ sở hữu là cá nhân và một bên chủ sở hữu là cộng đồng người với quy

mô và phạm vi khác nhau) và về phạm vi các đối tượng sở hữu

Chế độ tư hữu có hai phương diện: phương diện tự nhiên đối với tư liệusản xuất và phương diện xã hội đối với tư liệu sản xuất

Trước hết, phương diện tự nhiên đối với tư liệu sản xuất

Chế độ tư hữu về các loại tư liệu sản xuất đã tồn tại lâu đời qua cácphương thức sản xuất

Trong đó, xã hội cộng sản nguyên thủy và cộng sản chủ nghĩa tồn tạichế độ sở hữu công hữu với tư liệu sản xuất Ba chế độ xã hội là: chiếm hữu

nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa tồn tại chế độ chiếm hữu tư nhân về

tư liệu sản xuất

Về chế độ công hữu đối với tư liệu sản xuất trong xã hội công xãnguyên thủy ở trình độ tự phát Sở hữu công xã là chế độ sở hữu xuất hiệntrong những giai đoạn nhất định của phương thức sản xuất công xã nguyênthủy Đặc trưng của chế độ nguyên thủy là tính cố kết chặt chẽ, mà thực chất

là tính không thể tách rời giữa sở hữu với lao động, giữa các mối quan hệtương hỗ của con người với quan hệ của họ, với các sản phẩm tự nhiên vàvới công cụ lao động, tức là với các tiền đề (và kết quả) của nền sản xuất xãhội

Với lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ thấp kém, phương kế sinhtồn là dựa vào săn bắt và hái lượm, con người không thể chống nổi với sứcmạnh của thiên nhiên nên phải cố kết với nhau trong lao động chung và kếtquả lao động thuộc về công xã nguyên thủy Có lẽ ví dụ rõ ràng nhất là hiện

Trang 21

tượng sở hữu của đàn ông và đàn bà đối với các công cụ lao động chuyên

dụng Khi xem xét cơ sở kinh tế của chế độ thị tộc, Ph.Ăngghen viết: “Sự

phân công lao động là hoàn toàn có tính chất tự nhiên; nó chỉ tồn tại giữanam và nữ Đàn ông đánh giặc, đi săn bắt và đánh cá, tìm nguyên liệu làmthức ăn và kiếm những công cụ cần thiết cho việc đó Đàn bà chăm sóc việcnhà, chuẩn bị cái ăn và cái mặc: họ làm bếp, dệt, may vá Mỗi bên làm chủtrong lĩnh vực hoạt động riêng của mình: đàn ông làm chủ trong rừng, đàn

bà làm chủ ở nhà Mỗi bên đều là người sở hữu những công cụ do mình chếtạo và sử dụng: đàn ông làm chủ vũ khí, dụng cụ săn bắn và đánh cá; đàn bàlàm chủ những dụng cụ trong gia đình Kinh tế gia đình là kinh tế cộng sảnchủ nghĩa chung cho nhiều gia đình, thường là chung cho một số lớn giađình Cái gì cùng nhau làm ra và dung chung, cái đó là tài sản chung, như

nhà cửa, vườn tược và thuyền độc mộc” [8;243-244] Việc sử dụng gắn liền

với việc tiêu dùng các sản vật thiên nhiên và các công cụ lao động cần thiết

để tìm kiếm những sản vật ấy đã giữ vai trò quyết định đối với các quan hệ

sở hữu nguyên thủy sơ khai Đặc biệt nhà lý luận của chủ nghĩa xã hội khoahọc nổi tiếng người Pháp, con rể của C.Mác, Pôn La-phác-gơ, đã nêu bậtyếu tố sử dụng, coi đó là yếu tố chính, là “cơ sở duy nhất có thể có và có thểhiểu được của chế độ sở hữu của con người thời kỳ mông muội” [8;243-244] Lúc này, chưa có chế độ sở hữu tư nhân và cũng chưa có sản xuấthàng hóa và nền kinh tế hàng hóa

Đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, chế độ công hữu về tư liệu sản xuất ởtrình độ tự giác Một trong những bản chất tốt đẹp của xã hội cộng sản là:bình đẳng, bác ái, công bằng và dân chủ

Xã hội cộng sản chủ nghĩa, trải qua ba giai đoạn: thời kỳ quá độ, chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Thời kỳ quá độ, tồn tại đa sở hữu: tưnhân về tư liệu sản xuất (kinh tế cá thể); tư bản tư nhân; sở hữu tập thể (kinh

tế hợp tác xã); sở hữu nhà nước (doanh nghiệp nhà nước); công tư hợpdoanh Giai đoạn chủ nghĩa xã hội, tồn tại hai hình thức sở hữu: sở hữu tậpthể và sở hữu nhà nước Giai đoạn chủ nghĩa cộng sản, tồn tại sở hữu toàndân

Trong chế độ công hữu về tư liệu sản xuất xã hội, các đối tượng sở hữu

về tư liệu sản xuất, các đối tượng sở hữu thuộc về mọi thành viên của cộngđồng, mọi thành viên trong cộng đồng đều có quyền và có trách nhiệm vớicác đối tượng sở hữu này Đối tượng sở hữu có thể có nguồn gốc từ tự nhiênhoặc do đóng góp gắn với việc chuyển quyền sở hữu từ các chủ sở hữu tư

Trang 22

nhân, hoặc là kết quả hoạt động chung Của các thành viên trong cộng đồng,hoặc do sự quy định bằng pháp luật của nhà nước Sở hữu toàn dân được coi

là trình độ xã hội hóa cao nhất về tư liệu sản xuất- mọi công dân đều đượccoi là chủ sở hữu và do đó, đều có quyền và nghĩa vụ với các tài sản chungcủa xã hội

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến và xã hội tư bản chủnghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Giai cấp thốngtrị chiếm đoạt tư liệu sản xuất, bắt người lao động làm thuê và tạo rất tư bảnkếch sù cho các ông chủ Cùng với tước đoạt tư liệu sản xuất, người laođộng làm giàu Có ba hình thức sở hữu khác nhau trong ba chế độ xã hộikhác nhau đó

Ở xã hội chiếm hữu nô lệ, tư liệu sản xuất chủ yếu là nô lệ Ai có nhiều

nô lệ nhất sẽ trở thành giai cấp thống trị Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, mọitài sản thuộc về chủ nô, kể cả người nô lệ cũng thuộc về chủ nô Người nô

lệ cũng chỉ là “công cụ biết nói”, cùng với các “công cụ không biết nói”khác đều thuộc về chủ nô Chiếm hữu tư liệu sản xuất, của cải và nô lệ làphương thức tồn tại thống trị trong xã hội chiếm hữu nô lệ

Đến xã hội phong kiến, tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất (chế độđịa tô) Ai nắm giữ nhiều ruộng đất sẽ trở thành giai cấp thống trị xã hội Sởhữu tư nhân của địa chủ, phong kiến là các hình thức sở hữu thống trị.Trong chế độ sở hữu phong kiến, tư liệu chủ yếu là đất đai thuộc về nhànước phong kiến, địa chủ, quan lại “Đất của vua, chùa của bụt” là nguyên

lý cho sự tồn tại của chế độ xã hội này Khác với chế độ chiếm hữu nô lệ,người lao động trong xã hội phong kiến là người tự do về thân thể Họ làchủ của sức lao động của mình Cùng với ruộng đất thuê mướn của địa chủ,

họ tiến hành sản xuất, tìm kế sinh tồn

Bên cạnh sự tồn tại của chế độ sở hữu phong kiến là hình thức sở hữu

tư nhân của những người sản xuất nhỏ và người buôn bán nhỏ

Như vậy, với sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, sở hữu tư nhânxuất hiện và làm nảy sinh hiện tượng người bóc lột người, xã hội phân chiathành giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột sở hữu tư nhân là sở hữu kinh tếcủa quan hệ xã hội đối với chế độ chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến.Sang xã hội tư bản chủ nghĩa, chế độ tư hữu cùng với nền kinh tế thịtrường đã đạt tới sự phát triển cao Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì nền đạicông nghiệp rất phát triển nhưng vai trò của khoa học - công nghệ lớn nhất.Suy cho cùng, tư liệu sản xuất của tư bản chủ nghĩa là tiền, quan hệ sản xuất

Trang 23

hàng - tiền Tư hữu tư bản chủ nghĩa đã tập trung vào tay các nhà tư bảnkhối lượng lớn về vốn, tư liệu sản xuất và sức lao động thực hiện tích tụ vàtập trung cao độ về nguồn lực Trong xã hội tư bản chủ nghĩa còn có hìnhthức sở hữu xuất hiện trong thời kỳ chuyển từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnhtranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền là hình thức sở hữu tư bản độcquyền Sự thống trị của tư bản độc quyền dẫn đến tăng nhu cầu về nguồnlực, lao động, nguyên liệu và vốn Điều đó, thúc đẩy các tổ chức độc quyềnvươn ra nước ngoài, hình thành hình thức sở hữu độc quyền quốc tế.

Ngoài phương diện tự nhiên thì chế độ tư hữu đối với tư liệu sản xuấtcòn có phương diện về xã hội

Thông qua tiến trình phát triển lịch sử loài người đã hình thành chế độ

sở hữu đối với tư liệu sản xuất Trong xã hội, Ai? Giai cấp nào? nắm giữnhiều và toàn bộ tư liệu sản xuất thì thống trị quá trình sản xuất, nghĩa làthống trị xã hội Trong xã hội công xã nguyên thủy và xã hội chủ nghĩa cộngsản, tư liệu sản xuất thuộc về mọi người trong xã hội Tất cả mọi người đều

có quyến nắm giữ, sử dụng tư liệu sản xuất Đó chính là sở hữu công hữu về

tư liệu sản xuất Còn trong xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bảnchủ nghĩa thì giai cấp thống trị nắm giữ tư liệu sản xuất Đó là giai cấp chủ

nô, địa chủ phong kiến và tư sản

Các giai đoạn phát sinh của chế độ tư hữu được phác họa trong quanniệm của Ph.Ăngghen gắn liền với quá trình tách biệt triệt để sở hữu của cáccông xã riêng biệt trong bộ lạc, sau đó với sự tách biệt sở hữu của nhữngngười đứng đầu trong gia đình lớn trong nội bộ công xã và cuối cùng với sựtập trung quyền chi phối các tư liệu sản xuất trong phạm vi các gia đình nhỏcủa cá nhân

Việc hình thành chế độ tư hữu với tính cách là quan hệ xã hội mới vềvật chất, về nguyên tắc là xa lạ đối với chính bản chất của chế độ công xãnguyên thủy Dưới con mắt của tác giả “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ

tư hữu và của nhà nước”, chủ thể của chế độ tư hữu là các tầng lớp xã hộivừa mới hình thành: đầu tiên là lớp quý tộc quân sự, những tu sỹ lớp trên vàsau đó là những thương nhân và những kẻ cho vay nặng lãi Việc hình thànhchế độ tư hữu đến lượt nó, lại là thành nhân tố quan trọng nhất của việc hìnhthành xã hội có giai cấp đối kháng

Tính biện chứng của quá trình hình thành chế độ tư hữu là ở chỗ nào?

Sự tách biệt lúc ban đầu, được thực hiện bằng các điều kiêng kỵ và sự chếđịnh có tính chất nghi thức những tiền đề ấy khỏi sự xâm phạm của các bộ

Trang 24

lạc, công xã và những người thị tộc khác Nhưng sau khi xất hiện với tưcách là một hình thức xã hội đảm bảo hoạt động sống của tập thể, hình thức

sở hữu tách riêng trong quá trình phát triển tiếp theo đã trở thành mặt đốilập với chính nó, trở thành hiện tượng các tầng lớp bên trên có đặc quyền đichiếm đoạt đất đai, công cụ và các điều kiện sản xuất khác Tầng lớp nàydân dần biến thành giai cấp thống trị và tách khỏi quá trình sản xuất xã hội.Những người bị bắt tham gia sản xuất trực tiếp thì bị bắt buộc phải tách khỏi

tư liệu sản xuất Những nhóm người có địa vị thống trị trong xã hội giànhlấy cho mình chức năng liên kết sức lao động với tư liệu sản xuất, và bằngcách đó đã làm tăng thêm đặc quyền của họ đối với của cải và quyền lực xãhội

Trên “bề mặt” của đời sống xã hội, chế độ tư hữu vừa hình thành, ởmột mức độ rất lớn, đã thể hiện ra như là mối quan hệ giữa người với vật,chứ không phải quan hệ mới giữa người với người Hiện tượng này đã làmnảy sinh trong báo giới tư sản, một mạt, vô số những lời giải thích duy tâm

về tính chất “vĩnh hằng” và định mệnh của chế độ tư hữu, và mặt khác là sựđịnh nghĩa nó như là kết quả của một ý đồ độc ác (G G Rút- xô), như là sự

ăn cắp (G Pru- đông), như là hậu quả của sự thù địch muốn tiêu diệt và thôntính lẫn nhau giữa người với người, như là sự xâm chiếm và cướp đoạt (Ơ.Đuy- rinh) Cho đến nay, những quan điểm đó chưa phải là hết Chẳng hạn,nhà sinh vật học và nhà xã hội học nổi tiếng người Mỹ Rô-be A-rơ-đri đãtuyên truyền một giả thuyết về tính “vĩnh hằng” của chế độ tư hữu trong thếgiới động vật Những con thú dữ, theo ý kiến Ông ta, cũng bảo vệ địa phậncủa nó như con người bảo vệ mảnh đất nuôi sống mình Một trong nhữngtác phẩm của R A-rơ-đri có đầu đề là "Quyền lực lãnh thổ" Công trìnhnghiên cứu cá nhân về nguồn gốc của chế độ sở hữu và của các dân tộctrong thế giới động vật Đây là một sự so sánh tương tự cực kỳ thô thiển vàsai trái, bản thân nó chứa đựng ngoài tính chất phản khoa học đáng ghê tởmđối với trình đô khoa học hiện đại, còn mang một ngụ ý chính trị phản động.Theo cách diễn đạt hình tượng của các nhà bác học mácxít người Áo, van-teHô-li-sê, thì A-rơ-đri đã đem chuyển những tội lỗi xấu xa của chủ nghĩa đế

quốc vào thế giới động vật trong trắng

Chế độ sở hữu có cơ sở sâu sắc hơn nhiều Bản thân quan hệ của conngười đối với đất đai, gia súc, công cụ và các tiền đề sản xuất khác (do tínhchất xã hội của sản xuất) được thể hiện một cách gián tiếp, hợp quy luật quaquan hệ giữa người với người Trong các yếu tố cấu thành của chế độ tư

Trang 25

hữu, quan hệ đó bộc lộ “ra ngoài” ở mức độ khác nhau: rõ nhất là trongquan hệ chi phối và ít hơn cả trong quan hệ sử dụng.

Ph.Ăngghen đã giải thích quá trình phát sinh của chế độ tư hữu như lànhững hình thức điều hành của nền sản xuất xã hội Khi đánh giá cuộc cảicách của Xô-lông, viên pháp quan thần thoại thành A-ten (khoảng năm 509trước công nguyên), người đã vứt bỏ những hòn đá cầm cố ra khỏi các cánhđồng, đã hủy bỏ nợ nần của đồng bào mình còn mắc nợ bọn cho vay nặnglãi, và chuộc lại những người dân thành A-ten bị bọn chủ nợ đem bán ranước ngoài, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh chính điểm đó: “như vậy là ở đây,một yếu tố hoàn toàn mới đã xâm nhập vào tổ chức: sở hữu tư nhân” [8;tr.180] Chính nhờ chế độ tư hữu mà giai cấp thống trị ăn bám, bao gồm giớithương nhân, những kẻ cho vay nặng lãi, những phân tử quý tộc con dòngcháu giống, “chiếm toàn quyền lãnh đạo sản xuất và bắt những người sảnxuất phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế; nó tự đúng ra làm kẻ trung giankhông thể thiếu được giữa hai người sản xuất và bóc lột cả hai” [8;254]

Sự xuất hiện một thiết chế như chế độ tư hữu trong đời sống con ngườiđược quy định một cách hợp quy luật bởi mức độ phát triển nhất định củalực lượng sản xuất và của phân công lao động xã hội Vì vậy, sự xuất hiệnchế độ tư hữu không phải là thành quả hoạt động của trí tuệ, không phải là

sự thục hiện các mục tiêu trừu tượng của các nhóm xã hội nhất định Nóđược lý giải bằng nhu cầu chín muồi về một phương thúc điều hành mới vềmặt nguyên tắc của toàn xã hội đối với sản xuất và tiêu dùng, phương thứcnày đã mở ra cho con người khả năng phát triển lực lượng sản xuất và vănhóa

Có thể thấy rõ “nấc thang” phát sinh của các giai đoạn quá độ trước đây

đã đưa loài người đi từ chế độ sở hữu thị tộc - bộ lạc nguyên thủy tới chế độ

tư hữu kiểu tư sản, qua các tài liệu hiện nay về châu Phi Hơn nữa, ở châuPhi, các quá trình cổ đại ấy xét theo quan điểm giai đoạn hiện nay của lịch

sử nhân loại, hiện đang tồn tại song song, tác động lẫn nhau và có lúc kếthợp chồng chéo, đôi khi kỳ quặc với những khuynh hướng kinh tế hiện đạitrong việc điều tiết các quan hệ giữa người với người đối với ruộng đất, giasúc, công cụ và các tiền đề khách quan khác của nèn sản xuất xã hội, - cáckhuynh hướng đặc trưng cho các nước khuynh hướng xã hội khác nhau.Trong một bộ phận đáng kể của các nước ở châu Phi xích đạo, cho đếnthời gian gần đây, đất đai vẫn không phải là đối tượng của chế độ tư hữu vàphương tiện để người bóc lột người Việc chiếm hữu tập thể đối với đất đai

Trang 26

trong đại đa số trường hợp, thực ra, cùng song song tồn tại với đặc điểm sửdụng nó theo phương thức cá nhân- gia đình Việc có những diện tích vôchủ chưa được canh tác dẫn đến sự cần thiết phải có hợp tác lao động trongquá trình chuẩn bị đưa ra những diện tích đó vào sản xuất (khai phá cácrừng nhiệt đới, canh tác bằng cuốc ở những chỗ mà do sự sinh sôi nảy nởcủa ruồi vàng xê-xê, không thể dung sức kéo của súc vật và cày, v.v ) Ýnghĩ cho rằng đất đai là thuộc về tổ tiên, và ý tưởng về mối liên hệ thần bígiữa những người đang sống hiện nay với tổ tiên, đã bám rễ vững chắc trong

ý thức của giai cấp nông dân công xã Quan niệm đó nhiều khi là cơ sở tưtưởng và tâm lý - xã hội cho tập quán sở hữu tập thể đối với đất đai Nhànghiên cứu về châu Phi người Pháp, Ô Béc-nan đã viết: Những người sống

sử dụng đất đai, song họ không có quyền chuyển nhượng nó bởi vì nó thuộc

về người đã chết Các tác giả khác cũng đã nêu ra những lý do tương tự: Đấtđai là tài sản chung của những người sống và người chết, bản thân đất đaikhông thể bị đem chuyển nhượng, và thậm chí cũng không hề nảy sinh vấn

đề đem chia hẳn nó cho những người cùng chiếm hữu, bởi vì đa số nhữngngười đó đã không còn nữa

Song khuynh hướng tiến hóa theo theo hướng hình thành chế độ tư hữu

mà Ph.Ăngghen đã phát hiện ra, cũng diễn ra cả ở đây Sự phát triển của cácquan hệ tiền tệ - hàng hóa, đặc biệt là các quan hệ thị trường đã kích thích

nó Chẳng hạn, Vi-vi-an Pác-cơ, nhà nhân chủng học người Pháp 30 nămtrước đây đã nhận thấy ở bộ lạc bam-ba-ra ở Ma-li thửa ruộng thuộc giađình được chăm sóc kém hơn trước nhiều, bị đẩy lùi xuống hàng thứ hai sovới thửa ruộng của cá nhân, còn các khu ruộng cá nhân này được khai phá ởkhu vực xa trong các vùng bruts-xơ (đồng cỏ có các bụi cây lúp xúp-T G.)

để chúng tách xa hẳn khỏi gia đình lớn và không bọi kiểm soát khi đem báncác sản phẩm cá nhân, và thoát khỏi bất kỳ sự kiểm tra nào của gia đình.Mặc đù Ph Ăngghen chỉ viết về chế độ sở hữu tách riêng đối với gia súc, tacũng dễ dàng thấy rằng hiện tượng ấy cũng đặc trưng cho cả quá trình tiếnhóa của sở hữu ruộng đất

Ở các nước đã được giải phóng có khuynh hướng tư bản chủ nghĩa, vẫntiếp tục, về thực chất, chính sách của chính quyền thực dân nhằm phá bỏmột cách có mục đích những tàn dư của chế độ sở hữu công xã tập thể vàtạo ra từ tầng lớp phú nông “một giai cấp trung gian” đặc biệt, làm chỗ dựacho chính quyền phản động địa phương và chủ nghĩa thực dân mới

Trang 27

Ở các nước đã giải phóng có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, người ta

cố gắng sử dụng các tập quán làm ăn tập thể còn duy trì được của giai cấpnông dân và việc chế độ tư hữu đối với ruộng đất còn chưa phát triển, đểđẩy nhanh quá trình tạo ra các tiền đề cho những công cuộc cải tạo xã hộichủ nghĩa, chống tư sản Ở đây ta nói về triển vọng các nước đó bỏ qua giaiđoạn tư hữu với tính cách là tiền đề và công cụ của chế độ người bóc lộtngười Khuynh hướng này đã được các nhà bác học mácxit nêu ra từ mộtphần tư thế kỷ trước đây Viện trưởng đầu tiên của Viện châu Phi thuộcViện hàn lâm khoa học Liên Xô, đồng chí I-van Pô-tê-khin, đã viết: Sự pháttriển của việc hợp tác sản xuất, nhất là ở các nước châu Phi xích đạo, được

hỗ trợ trước hết bởi chế độ sở hữu công xã đối với ruộng đất còn duy trìđược và bởi thói quen lao động tập thể Nhà nghiên cứu châu Phi ngườiAnh, ông Giec U-ô-đi nhận xét: Nếu như các quốc gia châu Phi thực hiệnmột bước ngoặt quyết định nhanh chóng sang hướng chủ nghĩa xã hội, thìchế độ sở hữu tập thể ấy có khả năng sẽ duy trì được và biến thành chế độ

sở hữu xã hội chủ nghĩa, và nhờ vào các khoản nhà nước cho vay như tíndụng, hạt giống, phân hóa học, máy móc nông nghiệp, nó sẽ đem lại sựphồn vinh cho làng xóm châu Phi

Thực hiện khả năng ấy khó hơn nhiều so với trước đây người ta dựkiến Tuy nhiên ở các tổ sản xuất như u-gia-mai-a của Tan-da-ni-a, phu-nu-cu-lum của Ma-đa-ga-xca, al-đê-á co-mu-ní của Mô-dăm-bích, các liên hợpnông dân của Ê-ti-ô-pi-a, người ta cũng thấy được một cách đúng đắnkhuynh hướng tiến lên theo theo hướng xã hội chủ nghĩa đó, với tính cách làmột một nguyện vọng muốn sử dụng các hình thức sở hữu tập thể và tậpquán lao động chung, trước đây vốn là đặc trưng của xã hội thị tộc- bộ lạc

và của các hình thái kinh tế - xã hội nguyên thủy Chính trong các tác phẩm

“Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, Ph.Ăngghen

đã viết về những vận mệnh lịch sử của các hình thái đó trong thời kỳ pháttriển đi lên của xã hội có giai cấp đối kháng có giai cấp Tất nhiên, ngày naycác triển vọng phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc ở các nước đã giảiphóng có thể là khác hẳn nhau Song, bất luận thế nào, các kiến thức trongcuốn sách của Ph.Ăngghen là cần thiết cho việc đề ra các hình thức và biệnpháp vừa có tính chất triển vọng, vừa có tính chất hiện thực để cải tạo tậngốc rễ đời sống của người nông dân châu Phi trên cơ sở nguyên tắc côngbằng xã hội, để nâng cao năng suất lao động xã hội, và thiết lập các hìnhthức sở hữu xã hội chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất

Ngày đăng: 31/12/2013, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w