"Chỉthông qua pháp luật quyền con ngời mới trở thành ý chí vàmục tiêu hành động chung của toàn xã hội, có tính bắt buộcchung đối với toàn xã hội" [49,47]."Lịch sử Nhà nớc và pháp luật hà
Trang 1Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 2Mục lục
Trang
Mở đầu
Chơng 1: Quyền con ngời và vai trò của pháp luật
trong việc bảo đảm quyền con ngời
1.1 Khái lợc quyền con ngời và vai trò của pháp luật trongviệc bảo đảm quyền con ngời
1.2 Đặc trng quyền con ngời của bị cáo trong xét xử
2.1.4 Quy định hệ thống chế tài đối với các cấu
Trang 32.2 Quy định về xét xử hình sự vớiviệc bảo đảm
2.2.2 Các nguyên tắc quyết định áp dụng hình phạt
2.2.2.1 Nguyên tắc pháp chế 59 2.2.2.2 Nguyên tắc nhân đạo 61 2.2.2.3 Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt 62 2.2.2.4 Nguyên tắc công bằng 63
2.2.3 Quyền của bị cáo khi tham gia tố tụng (xét xử) 68
2.2.3.1 Quyền đợc coi là vô tội khi cha có bản án kết tội
của Toà án đã có hiệu lực pháp luật 69 2.2.3.2 Quyền đợc đa ra xét xử theo đúng trình
tự, thủ tục
đợc pháp luật qui định 69 2.2 3.3 Quyền đợc giao nhận quyết định đa vụ
2.2.3.4 Quyền đợc tham gia phiên toà 70 2.2.3.5 Quyền đề nghị thay đổi ngời tiến hành
Trang 42.2.3.6 Quyền đa ra chứng cứ, yêu cầu, đề nghị
2.2.3.7 Quyền đợc nói lời sau cùng 72 2.2.3.8 Quyền kháng cáo bản án hoặc quyết
Chơng 3: Phơng hớng hoàn thiện pháp luật bảo đảm
quyền con ngời trong xét xử hình sự ở nớc ta
3.1 Quan điểm chung về phơng hớng hoàn thiện 753.2 Nội dung hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền conngời
Trang 5Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Quyền con ngời là một trong những vấn đề thiêng liêng,cơ bản và cũng luôn luôn là khát vọng của toàn thể nhânloại Quyền con ngời đợc sinh ra và đồng thời cũng phải bảo
đảm thực hiện nh một lẽ tự nhiên Cho nên, nó không chỉ làvấn đề trọng yếu trong luật pháp quốc tế mà còn là chế
định pháp lý cơ bản trong pháp luật của các quốc gia
ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nớcViệt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, quyền con ngời đợcchính thức tuyên bố và ghi nhận bằng pháp Quá trình pháttriển của cách mạng Việt Nam, với những nhiệm vụ nặng nề
mà vinh quang, xét cho cùng cũng chỉ là vì độc lập, tự do,vì chủ nghĩa xã hội mà cốt lõi của nó là bảo đảm thực hiệnquyền con ngời Phản ánh các quá trình phát triển đó, từHiến pháp 1946, 1959, 1980 đến Hiến pháp 1992 đều thểchế hoá quyền con ngời, từng bớc mở rộng quyền con ngời.Trên cơ sở đó, hệ thống chính sách pháp luật bảo đảmquyền con ngời ngày càng đợc củng cố hoàn thiện
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống phápluật, Nhà nớc ta đã chuyển hoá nhiều nội dung về quyền conngời trong các tuyên bố, công ớc quốc tế mà Nhà nớc ta thamgia phê chuẩn, ký kết Bên cạnh các hoạt động "lập pháp" đó,
Trang 6thực tế bảo đảm thực hiện quyền con ngời Các cơ quan bảo
vệ pháp luật không ngừng đợc củng cố, phát triển, xã hộingày càng công bằng, văn minh, tạo cho mọi ngời có môi tr-ờng tự do, bình đẳng để thực hiện quyền, nghĩa vụ củamình, đồng thời bảo vệ con ngời khỏi các hành vi xâm hại
Song, quyền con ngời luôn là lĩnh vực nhạy cảm, phứctạp nên bảo đảm thực hiện nó không phải chỉ dừng lại ở việcghi nhận quyền con ngời mà còn phải thực thi nhiều biệnpháp đồng bộ, đợc mọi cấp, mọi ngành, mọi ngời tham gia.Trong đó, Toà án có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Bởivì, một trong những nhiệm vụ cơ bản trong xét xử của Toà
án chính là hoạt động trực tiếp bảo vệ quyền con ngời đôívới bên bị hại và cả bên bị cáo - là những ngời mà quyền conngời của họ dễ có nguy cơ bị xâm hại Nhiều năm qua, theoquy định của pháp luật, Toà án đã tích cực tham gia đấutranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệchế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp của công dân Song, trong xét xử vẫn còn oan sai;quyền con ngời của bị cáo có lúc có nơi cha đợc tôn trọngcòn bị vi phạm, cha có biện pháp bảo đảm hữu hiệu Điều
đó, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau,song sự hạn chế, thiếu đồng bộ của pháp luật có tác động
đáng kể
Nh vậy, thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tộiphạm đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công
Trang 7dân đặt ra nhiệm vụ cấp bách - phải hoàn thiện pháp luật,tạo cơ sở pháp lý, bảo đảm quyền con ngời nhất là pháp luậttrong lĩnh vực xét xử hình sự của Toà án.
"quyền con ngời, quyền công dân" của Học viện Chính trịquốc gia Hồ Chí Minh xuất bản năm 1993 Đi sâu nghiên cứutìm hiểu để đề ra các phơng hớng, giải pháp cụ thể nhằm
"xây dựng và hoàn thiện bảo đảm pháp lý thực hiện quyềncon ngời trong điều kiện đổi mới ở nớc ta hiện nay" là luận
án PTS của thày giáo Nguyễn Văn Mạnh Trung tâm nghiêncứu quyền con ngời thuộc Học viện Chính trị quốc gia HồChí Minh biên soạn cuốn sách "Một số vấn đề về quyền dân
sự và chính trị", xuất bản năm 1997 PGS TS Trần Ngọc Đờng
có một số bài viết về quyền con ngời, trong đó có bài "Hành
vi hợp pháp - nhân tố bảo đảm thực hiện quyền con ngời,quyền và nghĩa vụ công dân" in trong tập 1 chuyên khảo
"quyền con ngời, quyền công dân" Tạp chí cộng sản tháng5-1993 có đăng bài "Quyền con ngời và quyền công dân"
Trang 8Chu Thành PTS (nay là Tiến sỹ) Lê Minh Thông viết bài "Hoànthiện pháp luật về quyền con ngời trong điều kiện phát huydân chủ ở nớc ta hiện nay" trong Tạp chí Nhà nớc và phápluật, tháng 12-1998 Tác giải Nguyễn Văn Hiện có bài "Toà án
và việc bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân và tổ chức" Tạp chí Nhà nớc và pháp luật, tháng 8-1999
-Các công trình khoa học, bài viết này hoặc là tổngquát, hoặc đi sâu nghiên cứu, phân tích, luận giải một sốnội dung về quyền con ngời, các biện pháp bảo đảm quyềncon ngời, vấn đề bảo vệ quyền con ngời
Tiến sĩ Phạm Hồng Hải có bài: "Mấy ý kiến về bảo vệquyền con ngời trong tố tụng hình sự ở nớc ta" (tạp chí Nhànớc và Pháp luật số 3 năm 1998) nêu lên một số vấn đề về viphạm quyền con ngời từ phía cơ quan tiến hành tố tụng đốivới bị can, bị cáo và từ phía các phần tử xấu đối với nhữngngời tiến hành tố tụng
Tuy nhiên, cha có công trình nào nghiên cứu toàn diện,
có hệ thống quy định của pháp luật nớc ta hiện nay về bảo
đảm quyền con ngời trong xét xử hình sự
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn
* Đối tợng: Đề tài tập trung nghiên cứu việc hoàn thiện
pháp luật bảo đảm thực hiện quyền con ngời trong xét xửhình sự
Trang 9* Phạm vi: Đề tài chỉ nghiên cứu về pháp luật bảo đảm
thực hiện quyền con ngời đối với bị cáo bị truy tố trớc Toà
mà không đi sâu phân tích về pháp luật bảo đảm quyềncon ngời đối với các đối tợng khác trong các vụ án dân sự,kinh tế, hôn nhân, gia đình cũng nh các bên khác tiếnhành hoặc tham gia tố tụng hình sự
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn
* Mục đích: Đa ra các nội dung hoàn thiện pháp luật
bảo đảm quyền con ngời trong xét xử hình sự
* Nhiệm vụ:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về quyền con ngời và nghiên cứunhững đặc trng của quyền con ngời trong xét xử hìnhsự
- Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật bảo đảmquyền con ngời trong xét xử hình sự
- Xác định phơng hớng, đề xuất những nội dung cụ thểnhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm thực hiện quyền conngời trong xét xử hình sự
5 Phơng pháp nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài đợc dựa trên cơ sở những quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, đờng lối
Trang 10Phơng pháp nghiên cứu đề tài luận văn là phơng phápduy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phơngpháp cụ thể nh: phân tích - tổng hợp, khảo sát, so sánh.
6 Đóng góp khoa học của đề tài:
Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về quyềncon ngời, đặc biệt là quyền con ngời trong xét xử hình sự.Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và đề xuất phơng hớng,nội dung hoàn thiện pháp luật trong xét xử hình sự
7 Kết cấu đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài gồm 3 chơng, 6 tiết
Trang 11Ch ơng I
Quyền con ngời và vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con ngời
1.1 Khái lợc quyền con ngời
Mặc dù "quyền con ngời" mãi sau này (thế kỷ 18) mới
đ-ợc khẳng định, nhng những ý tởng về nó lại ra đời rất sớmcùng với sự phân chia giai cấp trong xã hội và hình thành Nhànớc Khi mà trong các Nhà nớc chiếm hữu nô lệ, con ngời bịcoi là những "công cụ biết nói" thì những tiếng kêu cứu đòiquyền đợc sống, đợc tự do, đợc quyền làm ngời cũng xuấthiện
Quyền con ngời , ngay từ đầu là một thuộc tính bảnchất tự nhiên, là "đặc quyền" Cho nên, khi các "đặcquyền" đó bị vi phạm, bị chà đạp thô bạo trong các Nhà nớc
cổ đại thì đã có những cuộc khởi nghĩa của tầng lớp bị trị
nổ ra đòi lại những đặc quyền vốn sơ khai đó Do cónhững cuộc đấu tranh "làm cho công lý bùng nổ để ngănchặn kẻ mạnh không làm hại kẻ yếu" mà đã xác lập nên Bộluật Hamurabi Mặc dù còn nhiều hạn chế: là công cụ phục vụmục đích thống trị, song Bộ luật đó đã nêu lên đợc t tởng
Trang 12về bình đẳng, dân chủ, pháp luật hoá t tởng về quyền conngời.
Xã hội loài ngời ngày càng phát triển, các trờng phái triếthọc, pháp luật dần hình thành, lớn mạnh Các trờng phái này
đi vào nghiên cứu giải thích các vấn đề tự nhiên, xã hội, conngời Đáng chú ý là thế kỷ 17 - 18 trờng phái pháp luật tựnhiên với các đại diện nh: Spinoda, Hobbes, Kant đã mở ramột trang mới cho sự phát triển t tởng bảo vệ quyền cá nhânchống lại sự vi phạm từ phía quyền lực, tức là bảo vệ cácquyền hiển nhiên, có sẵn của con ngời, không phải quyền doNhà nớc, pháp luật ban phát T tởng này góp phần thắng lợivào cách mạng t sản lật đổ chế độ phong kiến tàn bạo,thiết lập Nhà nớc mà ở đó con ngời với những giá trị đíchthực của nó đợc nâng lên một bớc - công dân của xã hội Nhànớc chứ không phải thần dân của ông vua
Khác với các Nhà nớc phong kiến và t bản phơng tây,chế độ Nhà nớc phong kiến Việt Nam trải qua hàng nghìnnăm lịch sử, nói chung vẫn mang tính hà khắc Song, thời kỳ
đó "phép vua" và "lệ làng" có tính dân tộc, nhân đạo, tiến
bộ và đợc thể hiện rõ nét trong Quốc triều Hình luật là Bộluật do Nguyễn Trãi soạn thảo, đợc ban hành năm 1843 có kếthừa, bổ sung những luật lệ đợc ban hành từ rất nhiều nămtrớc và đợc nhiều Bộ luật, luật sau này tiếp thu những t tởngtiến bộ Và suốt các triều đại phong kiến Việt Nam, vua
Trang 13mệnh danh là con trời, cai trị trên nền tảng t tởng nho giáo
bị các triết lý nho giáo, điều chỉnh hành vi của mình Vua
là cha mẹ của dân, buộc phải thích cái dân thích, ghét cáidân ghét bởi "ý trời là lòng dân" Do đó, vơng quyền củavua bị hạn chế, dân cũng có đợc một số yếu tố về cácquyền dù còn nhỏ nhặt mang tính cộng đồng
Nh vậy, trong các thời kỳ cổ đại và phong kiến, t tởng
về quyền con ngời đã đợc đề cập đến nhng còn rời rạc Khicách mạng t sản nổ ra thắng lợi với những tiền đề t tởng vàthành tựu của khoa học tự nhiên thì vấn đề quyền con ngờimới đợc đặt ra nh một học thuyết, hay nói cách khác, quyềncon ngời bắt đầu đợc chính thức công khai thừa nhận Cóthể nói rằng, sự kiện này đợc đánh dấu bằng Tuyên ngôn
độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1776 và sau đó là Tuyênngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp 1789 "Lần đầutiên trong lịch sử nhân loại , quyền con ngời chuyển từ phạm
vi thỉnh cầu, yêu sách sang phạm vi thực hiện, từ lĩnh vựctriết học sang lĩnh vực pháp lý thực tiễn".[40,27]
Sau chiến tranh Thế giới thứ 2, cộng đồng quốc tếthông qua Liên hiệp quốc tuyên bố chính thức về các quyền
và tự do của con ngời bằng Hiến chơng Liên hiệp quốc 1945
và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 Cụthể hoá quyền con ngời trong các văn bản trên, năm 1966,
Trang 14tế, xã hội và văn hoá (ngày 24/9/1982 Việt Nam gia nhập 2Công ớc này) ở Việt Nam, Tuyên ngôn độc lập năm 1945
đánh dấu bớc ngoặt quan trọng cho thời kỳ phát triển mới vềquyền con ngời trên đất nớc ta
Quyền con ngời là một trong những giá trị xã hội caoquý nhất đồng thời là vấn đề rộng lớn, phức tạp, đợc nhiềuchuyên ngành khoa học nghiên cứu, do đó có nhiều quan
điểm, định nghĩa khác nhau về quyền con ngời Song, trớchết, quyền con ngời đợc hiểu là những đặc quyền mà conngời sinh ra là tự nhiên có Đó là những đặc quyền mangtính tự nhiên mà nổi bật là quyền đợc sống, đợc bảo vệ, đ-
ợc tự do phát triển Mặc dù, những đặc quyền đó có trớc,song chừng nào cha đợc công nhận thì chúng không thể đợc
đa ra áp dụng Do đó, để đạt tới cái gọi là quyền cần phải
có sự ghi nhận mà cụ thể là bằng pháp luật Các đặc quyền
đợc pháp luật ghi nhận, điều chỉnh thì mới chính thức trởthành quyền của con ngời
Quyền con ngời là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của con ngời đợc pháp luật đảm bảo do cá nhân con ngời nắm giữ trong các quan hệ của mình với các cá nhân khác
và với chính quyền.
Nh vậy, quyền con ngời là hệ thống các quyền của conngời đợc xã hội thừa nhận và bảo đảm bằng pháp luật Chínhvì vậy, quyền con ngời mang hai đặc tính cơ bản là tính
Trang 15nhân đạo và tính pháp luật "Quyền con ngời tuy mang
đặc tính tự nhiên nhng có nội dung xã hội, bị chế ớc bởi từnghoàn cảnh lịch sử, từng chế độ xã hội, từng Nhà nớc" [32,57]
và đợc "mở rộng và cụ thể hoá cùng với sự phát triển của xãhội loài ngời" [49,21]
Thực tiễn cuộc sống chỉ ra rằng, quyền con ngời làquyền của cá nhân con ngời, nhng quyền đó chỉ có thể có
đợc trong quan hệ gắn bó với các con ngời khác trong tậpthể, cộng đồng Hay nói cách khác quyền con ngời trở nên vônghĩa khi con ngời tách khỏi tập thể, cộng đồng và ở trongtập thể, cộng đồng nên quyền của cá nhân con ngời khôngthể tách rời nghĩa vụ của họ đối với xã hội, Nhà nớc Vìrằng:"Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổnghoà các mối quan hệ xã hội" [19,11]
Quyền con ngời là giá trị xã hội cao quí nhất Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Trong bầu trời không gì quýbằng nhân dân" [48,276] Nhân dân là những con ngời cụthể có những quyền thiêng liêng, không ai có thể xâm phạm
Trang 16chứng Mặc dù quyền con ngời có tính"bẩm sinh" nhng nókhông thể chính thức tồn tại nếu không có pháp luật Trớchết, vai trò quan trọng của pháp luật đối với quyền con ngời
là nó ghi nhận (xác lập), củng cố, hoàn thiện quyền con ngời.
Pháp luật ghi nhận các quyền của con ngời đợc xã hộithừa nhận Thông qua pháp luật, quyền con ngời đợc lêntiếng bảo vệ Để bảo đảm quyền con ngời, pháp luật đa ranhững điều cấm và những hành vi bắt buộc phải làmnhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm quyền conngời Quyền con ngời đợc pháp luật xác lập là thiêng liêng,không thể xâm hại một cách tuỳ tiện và đợc bảo vệ bằng cácbiện pháp giáo dục, thuyết phục và cỡng chế của xã hội, Nhànớc Quyền con ngời đợc pháp luật xác lập mang tính tối cao,
ổn định không dễ dàng thay đổi Điều 50 Hiến pháp 1992khẳng định: quyền con ngời đợc quy định trong Hiến pháp
và luật - là những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, nóbuộc mọi ngời phải tôn trọng, phục tùng
Theo tiến trình phát triển của lịch sử loài ngời, trên
ph-ơng diện pháp luật, quyền con ngời ngày càng đợc củng cố,hoàn thiện Từ chỗ các ý tởng về quyền đợc sống nh một conngời nhằm thoát khỏi "công cụ biết nói", t tởng về quyền conngời dần phát triển lên thành những học thuyết, thành các bộluật riêng lẻ và trở thành tiếng nói chung của cả cộng đồngquốc tế, không phân biệt màu da, địa vị, thành phần Nhờ
Trang 17có pháp luật mà quyền con ngời trở thành giá trị chung củanhân loại, đợc loài ngời cùng nhau tôn trọng, bảo vệ "Chỉthông qua pháp luật quyền con ngời mới trở thành ý chí vàmục tiêu hành động chung của toàn xã hội, có tính bắt buộcchung đối với toàn xã hội" [49,47].
"Lịch sử Nhà nớc và pháp luật hàng nghìn năm qua vàthực tiễn quốc tế của thế kỷ XX đã và đang chứng minh xác
đáng một hiện thực sinh động rằng: đợc xây dựng trên nềntảng của các t tởng pháp lý tiến bộ của nền văn minh nhânloại: công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế nên Nhà nớcpháp quyền coi các quyền và tự do của con ngời là những giátrị xã hội cao quý nhất đồng thời là khách thể hàng đầu ghinhận, tôn trọng và bảo vệ bằng pháp luật, trong đó có phápluật hình sự" [70;9,10] Vì vậy, hoàn thiện pháp luật bảo
đảm quyền con ngời có ý nghĩa đặc biệt trên cả phơngdiện lý luận và thực tiễn Nó "phải đợc xem là hoạt động th-ờng xuyên của Nhà nớc để một mặt đảm bảo cho mỗi mộtbớc phát triển của quyền con ngời, của dân chủ đều đợc ghinhận và củng cố bởi các quy định luật pháp phù hợp Mặtkhác, các quy định pháp lý phải mở đờng, định hớng thựchiện phát triển và thúc đẩy quyền con ngời trong đời sốngquốc gia và quốc tế" [59,12]
Song, pháp luật không dừng lại ở việc ghi nhận bớc tiến
Trang 18chỉ của Nhà nớc mà cả của công dân để bảo vệ và thực hiện quyền con ngời.
Nhà nớc ban hành pháp luật là tạo cơ sở vững chắc chomọi ngời tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiệncác giá trị xã hội đợc thừa nhận, bảo vệ, mà nổi bật trong cácgiá trị đó là quyền con ngời "Nhà nớc quản lý xã hội bằngpháp luật" (Điều 12 Hiến pháp 1992) Pháp luật là công cụsắc bén, hữu hiệu của Nhà nớc để bảo đảm thực hiệnquyền con ngời Với những đặc điểm riêng của mình, phápluật có tính bắt buộc cứng rắn nhất bằng cách xác lậpnhững điều cấm mà bất cứ ai cũng không đợc vi phạm Đồngthời, pháp luật đợc bảo đảm thi hành bằng bộ máy Nhà nớccùng với sức mạnh (d luận) xã hội Vì thế, các quy định củapháp luật về quyền con ngời còn đợc bảo đảm bằng sự cỡngchế của Nhà nớc tránh mọi hành vi xâm hại Trên cơ sở củapháp luật, mọi hành vi vi phạm quyền con ngời, quyền côngdân đều phải đợc xử lý nghiêm minh Nh vậy, pháp luật còn
là thớc đo việc bảo đảm thực hiện quyền con ngời Qua côngtác thực thi pháp luật mà rút ra những bài học bổ ích cho việcbảo đảm ngày một tốt hơn quyền con ngời
Cũng chính từ việc ghi nhận các quyền cơ bản của conngời mà pháp luật trở thành phơng tiện để công dân có
điều kiện bảo vệ mình Quyền con ngời đã đợc pháp luậtghi nhận tất yếu phải đợc bảo vệ khỏi bất cứ hành vi xâm
Trang 19hại nào Do đó, pháp luật trớc hết là cơ sở vững chắc đểcông dân đòi quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bên cạnh
đó, pháp luật không thể không ghi nhận trách nhiệm củaNhà nớc, công chức, viên chức Nhà nớc, các tổ chức và cánhân trong việc bảo đảm quyền con ngời Pháp luật làchuẩn mực chung, công bằng đối với mọi ngời Do vậy, phápluật còn là đại lợng để kiểm tra, đánh giá các quyết định,hành vi của Nhà nớc, công chức, viên chức Nhà nớc, các tổchức và các thành viên khác trong việc bảo đảm thực hiệnquyền con ngời
Nhà nớc ban hành pháp luật để quản lý mọi mặt đờisống xã hội Con ngời với các mối quan hệ của nó là đối tợngcủa sự quản lý Nhà nớc Do đó, có thể xảy ra việc lộngquyền từ phía Nhà nớc và đối diện với nó, quyền của ngờidân bị hạn chế Nhờ có các chuẩn mực, tiêu chí của phápluật mà các sai phạm trên dễ bị phát hiện để khắc phục,sửa chữa Đối với công dân, để khôi phục các quyền và lợiích hợp pháp của mình bị xâm hại, không có phơng tiện nàobảo đảm hữu hiệu hơn là bằng pháp luật Vì vậy, cùng với việcxây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ vì con ng-
ời, cho con ngời thì việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật cóvai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao ý thức phápluật cho mọi ngời dân để họ bảo vệ riêng mình và bảo vệ
Trang 20xã hội nói chung Vậy nên "nhân dân phải bảo vệ luật nh bảo
có đủ sức mạnh thực hiện trong xã hội Chính vì điều đó
mà Hiến pháp, luật của các nớc không thể không nhắc đếnviệc bảo vệ chế độ chính trị xã hội nh một trong nhữngmục tiêu chính của mình Hay nói cách khác để thực hiện
đờng lối bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nớc, quyền conngời phải đợc thể chế hoá trong pháp luật
Đối với kinh tế-điều kiện quan trọng trong việc bảo
đảm quyền con ngời - pháp luật tạo khuôn khổ và môi trờngpháp lý an toàn, thuận lợi để phát huy mọi tiềm năng cho sảnxuất, kinh doanh phát triển đúng hớng, có hiệu quả Đối vớicác quyền của con ngời về kinh tế cũng đợc quy định bằngpháp luật "Pháp luật là phơng tiện làm cho các quan hệ kinh
tế trở thành quan hệ pháp luật" [19,196] và cũng là phơng
Trang 21tiện hữu hiệu để các bên tham gia hoạt động kinh tế bảo
vệ lợi ích của mình
Sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục, khoa học côngnghệ tất yếu cũng đòi hỏi phải đợc thể chế hoá bằng phápluật và vì mục tiêu cho con ngời Văn hoá giáo dục, khoa họccông nghệ phải tạo ra môi trờng xã hội lành mạnh, tự do đểcon ngời có điều kiện phát triển Trong môi trờng ấy, vừa có
điều kiện cho việc phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, vừa có
điều kiện để mọi ngời học tập, vừa thuận tiện cho mọi ngời
đợc hởng quyền thông tin đồng thời cũng hội tụ đợcnhững khả năng để đấu tranh không bị "đồng hoá" bởinhững yếu tố độc hại lai căng từ bên ngoài
Ngoài việc điều chỉnh hành vi con ngời, pháp luật còn
là phơng tiện đăng tải thế giới quan khoa học, các t tởng tiến
bộ, có tác dụng giáo dục các thành viên trong xã hội có ý thứcpháp luật, văn hoá pháp lý để họ biết tôn trọng và bảo vệquyền của các cá nhân con ngời trong đời sống cộng đồng
Ngày nay, pháp luật không phải chỉ đóng vai trò tíchcực trong bình diện của mỗi một quốc gia mà nó còn là ph-
ơng tiện quan trọng trong hội nhập quốc tế Vấn đề quyềncon ngời không thể chỉ là của một ngời, một cộng đồng,một quốc gia mà còn là của toàn thể nhân loại Do đó, phápluật là phơng tiện để các quốc gia tham gia hội nhập quốc
Trang 22con ngời đợc tôn trọng thực hiện ở mỗi quốc gia đồng thờiphù hợp với luật pháp quốc tế.
Vì mục tiêu chung là tạo điều kiện, môi tờng thuận lợicho con ngời phát triển toàn diện mà loài ngời hiện nay
đang phải đối đầu với những thách thức vô cung to lớn: đấutranh chống tội phạm xuyên quốc gia, giải quyết ô nhiễm môitrờng, dịch bệnh, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chống đóinghèo mà đòi hỏi phải có sự nỗ lực đấu tranh chung củacộng đồng thế giới
Nhằm thực hiện điều đó, Liên hiệp quốc - Tổ chức quốc
tế lớn nhất hành tinh - đã thông qua hơn 50 văn kiện quốc tếbảo vệ quyền tự do của con ngời
Với quá trình đó, mỗi một quốc gia phải xây dựngnghĩa vụ của mình trong việc bảo đảm thực hiện quyềncon ngời, trong đó có việc xây dựng hệ thống pháp luậtquốc gia phù hợp với pháp luật quốc tế và đặc biệt là nghiêmchỉnh thực hiện các cam kết nêu trong Công ớc, tuyên bố và
điều ớc Quốc tế mà nớc mình ký kết hoặc tham gia
Trớc tình hình khu vực hoá, quốc tế hoá hiện nay việcbảo đảm quyền con ngời, quyền công dân đặt ra cho phápluật các yêu cầu phát triển bức bách, thích hợp, một mặt bảo
vệ đợc quyền lợi chính đáng của công dân nớc mình, mặtkhác không đợc tạo ra những phiền hà không đáng có chongời nớc ngoài và kể cả ngời không quốc tịch Nh vậy, pháp
Trang 23luật là phơng tiện quan trọng trong việc bảo đảm quyềncon ngời giữa các quốc gia và trong cộng đồng quốc tế.
1.2 Đặc trng quyền con ngời của bị cáo trong xét xử hình sự.
Quyền con ngời không những đợc pháp luật ghi nhận
mà còn đợc pháp luật bảo vệ Do đó, bất cứ một hành vi viphạm quyền con ngời nào cũng phải đợc xử lý theo pháp luật.Song, tất nhiên quyền con ngời còn có quan hệ chặt chẽ vớichủ quyền quốc gia, lợi ích của Nhà nớc, của các tổ chức, trật
tự xã hội là những khách thể đợc pháp luật nói chung vàluật hình sự nói riêng bảo vệ Cho nên, những khách thể trên
bị xâm hại do bất cứ ai thì ngời đó phải bị xử lý theo quy
định của pháp luật Quyền con ngời của bị cáo chỉ có thể
đợc coi là bảo đảm khi xét trong một tổng thể các mối quan
hệ khác liên quan đến tội phạm do họ thực hiện Nh vậy,việc xử lý đối với họ buộc phải tuân thủ những trình tự, thủtục đợc quy định chặt chẽ trong pháp luật, vì dẫu sao,quyền con ngời của họ vẫn phải đợc tôn trọng Đối với bị cáo,quyền con ngời của họ là vấn đề hết sức nhạy cảm và cómột số đặc trng sau:
Là ngời bị Toà án quyết định đa ra xét xử trên cơ sở
kết luận điều tra và cáo trạng của viện kiểm sát quyền con ngời của bị cáo dễ có nguy cơ xâm hại từ phía các cơ quan
tiến hành tố tụng " Sự xâm hại đó có thể do trình độ non
Trang 24thiếu tinh thần trách nhiệm và cũng có thể do một bộ phậncông chức thoái hoá biến chất, vô đạo đức" [48,49] Đồng thờimột số cán bộ có thẩm quyền cha nắm vững pháp luật vàtính thiếu chặt chẽ, cụ thể của pháp luật cũng là nhữngnguyên nhân dẫn đến việc xâm hại quyền con ngời.
Trong thực tiễn cuộc sống, với cách thức tổ chức thật uynghiêm một phiên toà, vị thế của bị cáo thờng là yếu hơn sovới các cơ quan tiến hành tố tụng "Có vụ ngay tại công đờng
mà Thẩm phán, công tố cũng công khai mớm cung, đe doạ nếu ngoan cố sẽ tăng hình phạt để ép buộc bị cáo nhận tộikhông đúng sự thật" [61,60] Do chỗ vị thế của họ nh vậynên cũng có vụ ngời tiến hành tố tụng hỏi to tiếng làm bị cáo
sợ nên cứ gật đầu hoặc dạ Nghiêm trọng hơn là có trờng hợp,việc tổ chức phiên toà cha dân chủ nên đã kết tội oan bịcáo, nh vụ Bùi Minh Hải bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xửphạt tù chung thân về tội giết ngời và hiếp dâm nhng chínhtên Tèo mới là thủ phạm gây ra vụ án này Tại cơ quan điềutra Bùi Minh Hải khai nhận tội (???) nhng tại phiên toà bị cáokhông nhận tội, song Hội đồng xét xử vẫn buộc tội bị cáo
Hơn ai hết, bị cáo là ngời có nguy cơ cao bị tớc mộthoặc một số quyền Đành rằng chỉ có ngời nào phạm tội thìmới phải chịu trách nhiệm hình sự, song việc tớc bỏ hoặchạn chế một số quyền công dân của bị cáo nh thế nào cho
Trang 25tơng xứng, phù hợp, đúng pháp luật là vấn đề vẫn đợc dặt rabức xúc.
Cũng chính vì quyền con ngời của bị cáo dễ có nguy
cơ bị xâm hại cho nên nó cần phải có một loạt các quy định bảo đảm nhằm tránh nguy cơ bị tớc bỏ hoặc hạn chế trái pháp luật
Khác với các quan hệ pháp luật khác (hành chính, dân
sự, kinh tế), trong quan hệ pháp luật hình sự (cả hình sự và
tố tụng hình sự), hàng loạt các quy định riêng đợc đặt ranhằm đảm bảo quyền con ngời, quyền công dân của cácbên tham gia tố tụng nói chung và của bị cáo nói riêng Đó làcác quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của côngdân, nghĩa vụ của Nhà nớc, của các cơ quan, ngời tiến hành
tố tụng, quy định về tội phạm, hình phạt, trình tự, thủ tụctiến hành tố tụng Tổng thể các quy định đó đợc tập hợpthành những t tởng, nguyên tắc: công bằng, nhân đạo, dânchủ, pháp chế mà hớng tới mục tiêu chung là bảo đảm quyềncon ngời Của bị cáo không bị tớc bỏ trái pháp luật Các quy
định đó không chỉ nhằm tạo cơ sở pháp luật cần thiết chocác cơ quan, cá nhân tiến hành tố tụng và tránh đợc lạmdụng mà trớc hết và chủ yếu là để bảo vệ con ngời, giúp mọingời biết rõ pháp luật để phòng tránh việc vi phạm điềucấm của pháp luật, đồng thời cũng biết đợc quyền của
Trang 26Vì giá trị cao quý của quyền con ngời đợc xã hội thừanhận, vì quyền con ngời đợc bảo vệ bằng pháp luật, cho nên
quyền con ngời của bị cáo chỉ có thể bị hạn chế theo quyết
định của cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền trên cơ sở pháp luật ở nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ có Toà án
là cơ quan duy nhất đợc nhân danh Nhà nớc ra quyết định
áp dụng các biện pháp hình phạt đối với ngời thực hiện hành
vi phạm tội Ngoài Toà án, không một cá nhân hay tổ chứcnào có quyền đợc tớc bỏ các quyền của bị cáo Sự phán quyếtcủa Toà án phải dựa trên cơ sở pháp luật và chỉ tuân theopháp luật "Khi quyết định hình phạt, Toà án phải tuân theotrình tự và các điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ thể
và chỉ có thể tuyên những hình phạt đợc quy định trongluật" [71,36]
Việc hạn chế quyền của bị cáo do Toà án quyết định
và phải dợc tiến hành bằng việc xét xử theo trình tự, thủ tụcnghiêm ngặt đã đợc pháp luật quy định Vì thế mà pháp
luật tạo ra các trình tự, thủ tục khác nhau nhằm khôi phục lại các quyền, lợi ích của bị cáo bị xâm hại Cụ thể là, các giai
đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.Các giai đoạn này đợc tiến hành theo trình tự chặt chẽnhằm hạn chế tới mức thấp nhất các quyền, lợi ích của bị cáo
bị xâm hại, khôi phục lại các quyền, lợi ích bị tớc bỏ hoặc hạnchế trái pháp luật "Ngời làm trái pháp luật trong việc bắt,giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho ngời khác phải bị
Trang 27xử lý nghiêm minh" (Điều 72, Hiến pháp 1992) Đồng thời "ngời
bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật cóquyền đợc bồi thờng thiệt hại về vật chất và khôi phục danhdự" (Điều 72, Hiến pháp 1992) Không những thế các trờnghợp bị cáo bị kết án tử hình vẫn có quyền viết đơn xin ângiảm
Nh vậy, quyền con ngời của bị cáo là vấn đề rất nhạycảm, dễ có nguy cơ xâm hại, cho nên pháp luật bằng nhữngquy định của mình tạo ra các điều kiện, trình tự khácnhau, một mặt buộc các cơ quan, cá nhân có thẩm quyềntuân theo, mặt khác tạo cơ sở vững chắc cho bị cáo bảo vệquyền, lợi ích của mình
Trang 28Ch ơng 2
Quy định của pháp luật đảm bảo quyền con ngời
trong xét xử hình sự ở nớc ta hiện nay
Để bảo đảm quyền con ngời của bị cáo, pháp luật đa
ra một loạt các quy định buộc các bên tiến hành và tham gia
tố tụng phải tuân thủ Pháp luật bảo đảm quyền con ngờitrong xét xử hình sự là tổng thể các qui phạm pháp luật qui
định về tội phạm, hình phạt và xét xử hình sự cùng các quy
định khác nhằm bảo đảm cho các quyền và lợi ích hợp phápcủa bị cáo và các bên có liên quan không bị xâm hại trái phápluật
Nh vậy, việc bảo đảm quyền con ngời trong xét xử hình
sự phải đợc thể hiện trên tất cả các phơng diện vừa nêu Nókhông dừng lại ở việc qui định tội phạm, hình phạt mà còn qui
định việc xét xử các vụ án hình sự Có nghĩa là nó phải đợcbảo đảm ở trong cả lĩnh vực lập pháp và áp dụng pháp luật, ởcả trong luật nội dung và luật hình thức ở đó, quyền, nghĩa
vụ của các bên tiến hành và tham gia tố tụng đợc khẳng định,
sự thật của vụ án và trách nhiệm hình sự phải đợc xác địnhmột cách khách quan, chính xác nhất ở đó, quyền, lợi ích hợppháp bị xâm hại phải đợc khôi phục lại, ngời phạm tội phải chịu
Trang 29trách nhiệm hình sự tơng ứng với tính chất, mức độ nguyhiểm do họ gây ra.
2.1 Quy định về tội phạm và hình phạt với việc bảo đảm quyền con ngời đối với ngời phạm tội.
"chủ thể của một hành vi tội phạm chỉ có thể là một thểnhân cụ thể - tức là một cá nhân chứ không phải là một tậpthể hay một kiểu cộng đồng nào" [67,4] Nếu ai đó (bị cáo)
đã phải chịu trách nhiệm hình sự thì ít nhiều, quyền conngời, quyền công dân của họ cũng phải bị hạn chế Cho nên,
ở đây pháp luật quy định là: trách nhiệm hình sự chỉ đợc
đa ra áp dụng đối với ngời phạm tội, tức là khi mà ngời đóthực hiện hành vi vi phạm điều mà pháp luật hình sự cấm,hay nói cách khác một ngời chỉ phải chịu trách nhiệm hình
sự bởi những hậu quả do hành vi của chính ngời đó gây ra
Trang 30tội ra, thì bất luận trong trờng hợp nào, trách nhiệm hình sựcũng không thể đợc đa ra áp dụng Không những thế, chỉ
có những dấu hiệu của hành vi đợc mô tả trong luật mới là cơ
sở cho việc giải quyết trách nhiệm hình sự Trách nhiệmhình sự thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nớc với công dân, là
sự phản ứng của Nhà nớc đối với hành vi cụ thể nguy hiểmcho xã hội đợc luật hình sự quy định, tức là đối với tội phạm.Hành vi có thể đợc coi là tội phạm nếu có các yếu tố của mộtcấu thành tội phạm và đợc luật hình sự quy định Các yếu
tố cấu thành tội phạm theo luật hình sự Việt Nam bao gồm:khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan Vậy, cơ
sở pháp lý của trách nhiệm hình sự là cấu thành tội phạm
"Cấu thành tội phạm là hệ thống các dấu hiệu cần và đủ choviệc thừa nhận rằng ngời nào đó đã thực hiện một tội phạmnhất định và phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự Chúngcần ở nghĩa rằng, thiếu sự có mặt của tất cả các dấu hiệucủa cấu thành tội phạm ở sự tổng thể của chúng thì khôngthể buộc tội ngời đã thực hiện tội phạm và do đó không thểtruy cứu trách nhiệm của ngời đó Chúng đủ là vì rằng,không cần phải xác định thêm những số liệu bổ sung vào
đó để có cơ sở buộc tội ngời tơng ứng trong việc thực hiệntội phạm [38,291] Nh vậy "hành vi của ngời nào không có
đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm - cơ sở của tráchnhiệm hình sự thì ngời đó không phải chịu trách nhiệm
Trang 31hình sự và hình phạt" [57, 45] Đây là một bảo đảm quantrọng cho trách nhiệm hình sự không thể đặt ra tràn lan,vô cớ.
Tuy vậy, cấu thành tội phạm mới chỉ là cơ sở cần và đủcho việc thừa nhận con ngời có lỗi và phải chịu trách nhiệm
đối với hành vi, còn cha đủ đối với việc lựa chọn biện pháptrách nhiệm đối với ngời đó Để cho việc cân nhắc, quyết
định biện pháp trách nhiệm đối với ngời phạm tội - bị cáo,Toà án không thể không xem xét nhân thân của họ Nhng ở
đây, để bảo đảm công bằng của pháp luật đối với tất cảmọi ngời, cũng có nghĩa là bảo vệ mọi ngời nói chung thìpháp luật chỉ thừa nhận cơ sở trách nhiệm hình sự là hành
vi phạm tội
Khác với các hệ thống pháp luật khác, pháp luật hình sựnớc ta không chấp nhận nguyên tắc "tơng tự", "án lệ" có thểtrừng phạt con ngời một cách tràn lan, mà khẳng định, môtả tất cả mọi tội phạm vào một đạo luật duy nhất: Bộ luậthình sự Do đó mà quyền con ngời, quyền công dân đợcbảo đảm vững chắc hơn
Song Bộ luật hình sự mới dừng lại ở việc quy định "Cơ
sở của trách nhiệm hình sự" (Điều 2 BLHS) mà cha đa ra đợc
định nghĩa thế nào là trách nhiệm hình sự Nếu đa ra
định nghĩa về chế định này bên cạnh các chế định "tội
Trang 32phạm" và "hình phạt" đã đợc định nghĩa thì sức thuyếtphục của Bộ luật hình sự sẽ cao hơn.
2.1.2 Quy định phân loại tội phạm
Việc đặt ra các quy phạm pháp luật hình sự không phải
là để trừng phạt mà các quy phạm này "có khả năng tác độnglên ý thức và ý chí của cá nhân, một mặt chúng kích thíchcác hoạt động hợp pháp, khuyến khích các hành vi tích cựcpháp luật; mặt khác lại có tác động kìm chế, đe doạ các
động cơ dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật của cánhân" [21,204] Do vậy, việc quy định tất cả mọi tội phạmtrong một Bộ luật hình sự là quan trọng, nhng quan trọnghơn đối với việc quy định tội phạm là xác định rõ ràng giớihạn giữa hành vi bị coi là tội phạm với các hành vi vi phạmpháp luật khác Bởi vì, nếu không xác định cụ thể giới hạn
đó thì có hành vi tuy cha đến mức phải truy cứu tráchnhiệm hình sự lại bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc ng-
ợc lại, có trờng hợp phạm tội lại coi là vi phạm pháp luật khác
Điều đó vi phạm nguyên tắc công bằng - là nguyên tắc quantrọng đợc thừa nhận trong pháp luật Việt Nam
Trớc hết, phải khẳng định đợc rằng, tội phạm xuất phát
từ những hành vi (hành động hoặc không hành động) nguyhiểm cho xã hội Bởi vì theo Mác "Chỉ theo mức độ tôi tựbiểu hiện ra, theo mức độ tôi bớc vào lĩnh vực thực tế, thìtôi mới bớc vào phạm vi nằm dới quyền lực của nhà lập pháp
Trang 33Ngoài những hành vi của mình ra, tôi hoàn toàn không tồntại đối với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tợng của nó.Những hành vi của tôi đó là lĩnh vực duy nhất trong đó tôi
đụng chạm tới pháp luật, bởi vì hành vi là cái duy nhất vì nó
mà tôi đòi quyền tồn tại, quyền hiện thực, và nh vậy là do
nó mà tôi rơi vào quyền lực của pháp luật hiện hành" [42,513] Do đó, các yếu tố khác nh: thái độ, ý định, âm mu,quan điểm của con ngời khi cha đợc thể hiện trong thực tếbằng hành vi thì không thể coi là tội phạm đợc Còn tínhnguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu vật chất tổng hợp của mọihành vi trái pháp luật Việc phân biệt tội phạm với các vi phạmpháp luật khác dựa trên mức độ nguy hiểm cho xã hội của cáchành vi, từ đó đa tới các phản ứng khác nhau của Nhà nớc đốivới từng loại vi phạm pháp luật - pháp luật hình sự xác địnhchính xác giới hạn của hành vi phạm tội và hành vi khôngphạm tội và đợc khẳng định tại Điều 8 BLHS "Tội phạm làhành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy định trong Bộ luậthình sự, do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiệnmột cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập chủ quyền,thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độchính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninhtrật tự, an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức,xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do,
Trang 34tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâmphạm những lĩnh vực khác của pháp luật xã hội chủ nghĩa
Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhng tínhchất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải làtội phạm và đợc xử lý bằng các biện pháp khác"
Việc xác định giới hạn hành vi phạm tội và hành vikhông phải là tội phạm trong Bộ luật hình sự có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng Bởi vì, nó quy định dứt khoát trong
Bộ luật hình sự hành vi nào nguy hiểm cho xã hội hiện nay
bị cấm (tội phạm hoá) mà sự vi phạm điều cấm đó phải bị
xử lý bằng chế tài hình sự (hình sự hoá) hoặc ngợc lại, loại
bỏ ra khỏi Bộ luật hình sự hành vi nào nguy hiểm cho xã hộitrớc đây bị cấm (phi tội phạm hoá) mà việc thực hiện hành
vi đó trong giai đoạn hiện nay không còn nguy hiểm nữanên không cần thiết phải xử lý bằng chế tài hình sự nữa (phihình sự hoá) Việc xác định giới hạn chính xác hành vi phạmtội với hành vi không phạm tội còn có ý nghĩa đặc biệt trongviệc bảo đảm quyền con ngời, ở chỗ "nó quyết định hàngngàn số phận con ngời và xác định bộ mặt đạo đức của xãhội" [45,516]Chính vì vây, Mác viết "nhà làm luật có đạo
đức trớc hết phải cho rằng đối với mình việc làm nguyhiểm, bệnh hoạn nhất và nghiêm trọng nhất là khi đa vào
Trang 35lĩnh vực các tội phạm một hành vi mà không bị coi là tộiphạm" [43,132]
Bộ luật hình sự năm 1985 của nớc ta đợc thi hành trong
15 năm đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranhphòng chống tội phạm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củacông dân, song cũng bộc lộ những bất cập cha đáp ứng đợcyêu cầu trong giai đoạn hiện nay Trớc tình hình đó ngày21/12/1999 Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua Bộ luật hình sự (1999), thay thế Bộ luật hình sự(1985) đợc Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 Sự kiện này
đánh dấu một bớc tiến quan trọng trong công tác lập pháphình sự nớc ta đồng thời cũng là bớc tiến trong việc bảo
đảm quyền con ngời, quyền công dân
Trớc hết nó khắc phục đợc một số yếu điểm của Bộ luậthình sự trớc đó nh: "cha có điều kiện thực tế để cá thểhoá hết hành vi phạm tội, cá thể hoá trách nhiệm hình sự vàhình phạt vốn là một nguyên tắc quan trọng trong kỹ thuậtlập pháp hình sự cha có điều kiện để thể hiện đầy đủnguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa của luật hình sự"[40,21]
Theo Nghị quyết số 32/1999/QH10 của Quốc Hội nớcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì, việc áp dụng, thihành Bộ luật hình sự sẽ tạo những điều kiện cơ sở thuận lợi
Trang 36hơn cho việc bảo đảm thực hiện quyền con ngời, quyềncông dân, chẳng hạn nh:
a Các điều luật xoá bỏ một hình phạt, một tình tiếttăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn và các quy
định khác có lợi cho ngời phạm tội thì đợc áp dụng đối với cả
những hành vi phạm tội xảy ra trớc 0h ngày 1/7/2000
b Ngợc lại, các điều luật quy định một tội phạm mới,
một hình phạt mới và các quy định khác không có lợi cho ngời phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi phạm
tội xảy ra trớc 0h ngày 1/7/2000 mà áp dụng quy định tơngứng của các văn bản pháp luật trớc đây để giải quyết
và các trách nhiệm khác
Đồng thời, ngay trong trách nhiệm hình sự, để bảo
đảm quyền con ngời, quyền công dân cũng đòi hỏi phải có
sự phân hoá đối với tội phạm và những ngời phạm tội Bởi vì,
Trang 37tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm vànhân thân của ngời phạm tội trong các trờng hợp (vụ án) khácnhau thì khác nhau Phân loại tội phạm một cách có căn cứ,
đúng đắn là vô cùng quan trọng và cần thiết trong việcphân hoá trách nhiệm hình sự
Bộ luật hình sự năm 1985 đã phân các tội phạm thành
2 loại: tội phạm nghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng.Cách phân loại này đã bộc lộ những mặt hạn chế, trong đóhạn chế lớn nhất là quy định khoảng cách quá rộng giữa mứckhởi điểm và mức cao nhất của khung hình phạt định chomỗi loại tội phạm (từ trên 5 năm tù đến chung thân, tử hình;
từ 5 năm tù trở xuống đến 3 tháng tù), do đó ảnh hởng đếnchính sách xử lý đối với ngời phạm tội, gây khó khăn cho việcphân hoá trách nhiệm hình sự và việc bảo vệ quyền, lợi íchcủa bị cáo
Để khắc phục hạn chế này và cũng là tạo cơ sở choviệc áp dụng chính sách xử lý thích hợp cho từng loại tộiphạm, Bộ luật hình sự năm 1999 tại khoản 2 Điều 8 đã phântội phạm thành 4 loại nh sau:
- Tội phạm ít nghiêm trọng, là tội phạm gây nguy hạikhông lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt
đối với tội ấy là đến 3 năm tù
Trang 38- Tội phạm nghiêm trọng, là tội phạm gây nguy hại lớn choxã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là
Việc phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự 1999 có ýnghĩa to lớn trong việc hoàn thiện các chế định quan trọngtrong luật hình sự Việt Nam, chẳng hạn, quy định vềnguyên tắc xử lý (Điều 3), tuổi chịu trách nhiệm hình sự(Điều 12), chuẩn bị phạm tội (Điều 17), thời hiệu truy cứutrách nhiệm hình sự (Điều 23), tái phạm, tái phạm nguy hiểm(Điều 19 BLHS)
Cách phân loại tội phạm thành 4 loại là tạo cơ sở để cụthể hoá trách nhiệm hình sự và để xây dựng các cấu thànhtội phạm cụ thể thành nhiều khung trên cơ sở căn cứ vàotính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạmtội, bảo đảm tốt hơn cho việc cá thể hoá trách nhiệm hình
sự và hình phạt Cũng chính từ việc phân loại tội phạm sẽ tạo
ra cơ sở để xây dựng nhiều chế định của Bộ luật tố tụng
Trang 39hình sự, chẳng hạn nh thủ tục rút gọn, mở rộng thẩm quyềncho Toà án cấp huyện
Việc phân loại tội phạm phản ánh đợc nội dung của tínhchất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của mọi tội phạm,
đồng thời nó đợc "đo lờng" bởi các loại và mức hình phạt
t-ơng ứng Chính vì vậy "việc đánh giá mức độ của tínhnguy hiểm cho xã hội của tội phạm với tính cách là cơ sởthống nhất của việc phân loại tội phạm và đợc cân nhắctrong khi xây dựng các chế định của phần chung và phầncác tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự là thẩm quyền củanhà làm luật khi xây dựng và ban hành luật hình sự, chứkhông phải là thẩm quyền của Toà án khi áp dụng luật"[73;82,83] Các loại, mức hình phạt quy định trong Bộ luậthình sự là biểu hiện tập trung giữa các yếu tố chủ thể, mặtkhách thể, khách quan, mặt khách quan của tội phạm và
đồng thời phù hợp với mức độ nguy hiểm cho xã hội của tộiphạm Do đó, việc phân loại tội phạm phải đợc dựa trên cáccăn cứ khoa học khác nhau, là cơ sở cho việc cá thể hoáhình phạt, tìm ra loại và mức hình phạt phù hợp, tơng ứng vớitội phạm Và có nh vậy mới tạo ra đợc những tiền đề cầnthiết cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,của bị cáo khỏi các hành vi xâm hại trái pháp luật, cũng là
Trang 40một trong các yếu tố thể hiện nguyên tắc công bằng, nhân
đạo trong luật hình sự Việt Nam
Việc đa ra định nghĩa pháp lý về tội phạm hay "kháiniệm tội phạm" trong Bộ luật hình sự là vô cùng cần thiết.Nhng khái niệm đó cần đợc quy định một cách ngắn gọnhơn, không cần liệt kê một cách dài dòng nh khoản 1, Điều 8BLHS hiện nay Mặt khác, để cho "khái niệm tội phạm" đợchiểu theo đúng nguyên nghĩa và nội dung của nó thì khôngnên đa các quy định về phân loại tội phạm vào Điều 8 này.Hơn nữa pháp luật đã quy định "tội phạm" thì chỉ là tộiphạm, chứ không thể là "không phải là tội phạm" nh khoản 4,
Điều 8 BLHS đợc Do đó, cần có sự điều chỉnh Điều 8 cho hợp
lý hơn
Quy định chủ thể và lỗi của chủ thể:
Điều 8 Bộ luật hình sự quy định "tội phạm là hành vinguy hiểm cho xã hội đợc quy định trong Bộ luật hình sự,
do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý "
Ngời có năng lực trách nhiệm hình sự đạt đến độ tuổinhất định do luật hình sự quy định thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội đợc coi là chủ thể của tội phạm và tráchnhiệm hình sự cũng chỉ đợc đa ra áp dụng đối với chủ thểcủa tội phạm khi ngời đó có lỗi trong việc thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội