1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tuyen tap gop y ve sua doi luat dau tu

62 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 392,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc áp dụng của Luật Đầu tư sửa đổi Dự thảo hiện dự kiến quy định về tất cả các hoạt động trong chu trình đầu tư kinh doanh tạiViệt Nam và ra nước ngoài trừ

Trang 1

Góp ý Dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) của VCCI

Kính gửi: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Trả lời Công văn số 259/BKHĐT-PC của Quý Cơ quan về việc lấy ý kiến góp ý Dự thảoLuật Đầu tư sửa đổi (bản ngày 3/3/2014), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

có ý kiến như sau:

Các Dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi và Luật Doanh nghiệp sửa đổi là các dự án sửa đổiluật lớn, quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt với vai trò khung khổ pháp luật cơ bản về doanhnghiệp và đầu tư tại Việt Nam Vì vậy, với tư cách là đại diện của cộng đồng doanh nghiệp ViệtNam, VCCI sẽ cùng phối hợp với Quý Cơ quan trong việc tổ chức lấy ý kiến rộng rãi đối với Dựthảo Luật này cũng như Luật Doanh nghiệp sửa đổi trong suốt quá trình soạn thảo các DựLuật, cho tất cả các phiên bản dự thảo Trên cơ sở các hoạt động này, VCCI sẽ có bản tổnghợp ý kiến doanh nghiệp cho từng thời điểm, với từng Dự thảo tương ứng

Tuy nhiên, theo đề nghị của Ban soạn thảo về việc cần có ý kiến gấp để kịp cho việc tổnghợp và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo, trên cơ sở nghiên cứu của chuyên gia, VCCI có một số ýkiến ban đầu đối với một số vấn đề lớn của Dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi bản ngày 3/3/2014(sau đây gọi tắt là “Dự thảo”) như sau:

1 Phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc áp dụng của Luật Đầu tư sửa đổi

Dự thảo hiện dự kiến quy định về tất cả các hoạt động trong chu trình đầu tư kinh doanh tạiViệt Nam và ra nước ngoài trừ một số trường hợp quy định trong pháp luật chuyên ngành (baogồm chứng khoán, ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm)

Từ góc độ hệ thống, cách tiếp cận này có thể là hợp lý và hữu ích, đặc biệt cho các nhà đầu

tư trong việc xác định rõ các quyền, nghĩa vụ cũng như các cơ chế áp dụng cho hoạt động đầu

tư kinh doanh của mình chỉ qua một văn bản thống nhất

Mặc dù vậy, từ góc độ thực tiễn cũng như hiện trạng pháp luật và phương pháp quản lýNhà nước đối với hoạt động đầu tư kinh doanh hiện nay, cách tiếp cận này có thể là không khảthi, chồng chéo và chưa thực sự phù hợp:

Trang 2

- Liên quan tới pháp luật chung về tổ chức, chủ thể kinh tế:

Một mảng quan trọng của hoạt động đầu tư kinh doanh - đầu tư kinh doanh dưới hình thứcdoanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, thương nhân - đã được quy định trong Luật Doanhnghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Thương mại (ít nhất là ở góc độ thủ tục, trình tự)

Vì vậy không cần thiết, và không nên đưa vào phạm vi Luật Đầu tư các quy định đã được nêutrong các pháp luật khác Luật Đầu tư, nếu có quy định cho các hình thức đầu tư này, chỉ nêngiới hạn ở các chế định về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư hiện chưa có trong các hệ thống pháp luật vềcác tổ chức kinh tế và thương nhân nói trên

- Liên quan tới pháp luật kinh doanh chuyên ngành:

+ Hoạt động đầu tư kinh doanh trong nhiều lĩnh vực chuyên ngành (không chỉ giới hạn trong 04lĩnh vực được liệt kê trong Dự thảo) hiện được quy định tại pháp luật chuyên ngành Pháp luậtchuyên ngành lại có ưu thế áp dụng so với pháp luật chung (là Luật Đầu tư)

Vì vậy, Luật Đầu tư cần loại trừ khỏi phạm vi áp dụng các trường hợp quy định đầu tư đã cótrong pháp luật chuyên ngành

+ Hiện các văn bản chuyên ngành đang quy định về các điều kiện kinh doanh trong các lĩnhvực cụ thể (hoạt động kinh doanh có điêu kiện) Trong bối cảnh hoạt động “đầu tư kinh doanh”thì điều kiện kinh doanh và điều kiện đầu tư thực chất là một Và thực tế thì quy định về “lĩnhvực đầu tư có điều kiện” trong Luật Đầu tư sẽ không có ý nghĩa nếu pháp luật chuyên ngànhkhông quy định các điều kiện cụ thể đó

Vì vậy, Luật Đầu tư không cần quy định về lĩnh vực đầu tư có điều kiện mà chỉ cần dẫn chiếutới pháp luật chuyên ngành về điều kiện đầu tư là đủ

- Liên quan tới ưu đãi đầu tư:

Chế định ưu đãi đầu tư trong Dự thảo hiện tại thực chất là tập hợp quy định về ưu đãi cho đầu

tư kinh doanh của nhiều mảng pháp luật chuyên ngành khác nhau (thuế, tín dụng, đất đai…)

Trang 3

Trong thực tế, Luật Đầu tư cũng không thể đi sâu hơn bởi Luật này không thể thay thế, cũngkhông thể dự kiến trước được các thay đổi trong chế định này của pháp luật chuyên ngành.

Vì vậy, Luật Đầu tư chỉ nên liệt kê các hình thức ưu đãi mà không đi vào cụ thể các nội dung ưuđãi Và với mục đích liệt kê để nhà đầu tư tham khảo, việc liệt kê trong Luật Đầu tư phải đảmbảo tổng hợp tất cả các loại ưu đãi đầu tư hiện có, để đảm bảo rằng nhà đầu tư có thể dựa vàoLuật Đầu tư mà biết và tìm hiểu về các loại ưu đãi đầu tư mà mình có thể được hưởng

- Liên quan tới hỗ trợ đầu tư:

Chế định hỗ trợ đầu tư tại Dự thảo hiện tại hầu như chỉ có tính tuyên bố, bằng các quy địnhkhông mang tính bắt buộc (“Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ…”) và vì vậy dường như không có

ý nghĩa thực chất nào đối với nhà đầu tư

Trường hợp hãn hữu Dự thảo có quy định mang tính quy phạm về vấn đề này (ví dụ các quyđịnh liên quan tới hỗ trợ phát triển nhà ở, công trình dịch vụ cho người lao động trong khu chếxuất-khu công nghiệp, hỗ trợ thị thực xuất nhập cảnh), thì thực chất khi thực hiện cũng phải căn

cứ vào pháp luật đất đai, pháp luật xuất nhập cảnh chứ không thể căn cứ vào quy định tại LuậtĐầu tư

Vì vậy, các quy định về hỗ trợ đầu tư trong Dự thảo hầu như không cần thiết

- Liên quan tới đầu tư ra nước ngoài:

Chế định đầu tư ra nước ngoài là chế định cần thiết bởi hoạt động mang vốn/tài sản ra nướcngoài đầu tư kinh doanh (dù là với nguồn gốc Nhà nước hay tư nhân) là hoạt động cần đượckiểm soát ở mức độ nhất định Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ phương pháp và mục tiêu kiểm soátcủa hoạt động đầu tư ra nước ngoài và đầu tư tại Việt Nam là hoàn toàn khác nhau Nếu quyđịnh trong cùng một văn bản sẽ dẫn tới tình trạng lẫn về phương pháp quản lý và/hoặc khôngnhận được sự chú ý tương xứng (quá trình xây dựng Luật Đầu tư sửa đổi lần này là một minhchứng khá rõ: các nỗ lực soạn thảo cũng như ý kiến đóng góp hầu như chỉ tập trung vào mảng

“đầu tư tại Việt Nam” là chủ yếu)

Trang 4

Vì vậy, có lẽ mảng đầu tư kinh doanh ra nước ngoài nên được quy định trong một văn bảnriêng, độc lập với Luật Đầu tư hiện tại.

Tóm lại, VCCI cho rằng phạm vi, độ bao phủ và nguyên tắc áp dụng của Luật Đầu tư sửa

đổi cần được điều chỉnh theo hướng:

- Về phạm vi cụ thể của Luật Đầu tư

Chỉ quy định về đầu tư kinh doanh trực tiếp tại Việt Nam, và vì vậy loại trừ khỏi phạm vi LuậtĐầu tư (Điều 1):

+ Các hoạt động đầu tư gián tiếp quy định tại pháp luật chứng khoán: Nêu rõ trong Điều vềphạm vi điều chỉnh (Điều 1) chứ không để trong Điều về áp dụng pháp luật (Điều 5)

+ Các hoạt động đầu tư ra nước ngoài (nêu tại Điều 1), xây dựng 01 văn bản riêng về đầu tư ranước ngoài (bỏ Chương VII Dự thảo) với các quy định riêng cho mảng này;

+ Các hoạt động đầu tư không nhằm mục đích kinh doanh (và vì vậy cần thiết phải làm rõ kháiniệm đầu tư nhằm/không nhằm mục đích kinh doanh trong Điều 3 Dự thảo)

- Trong quan hệ với các văn bản pháp luật khác, ưu tiên áp dụng pháp luật kinh doanh

chuyên ngành (tất cả chứ không chỉ bao gồm 03 nhóm bảo hiểm, tài chính, ngân hàng nhưtrong Dự thảo) và pháp luật về các chủ thể kinh tế (doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh,thương nhân…)

Cụ thể, Điều 5 Dự thảo về áp dụng pháp luật cần nêu rõ: Trường hợp pháp luật kinh doanhchuyên ngành hoặc pháp luật về các chủ thể kinh tế có quy định khác với quy định của LuậtĐầu tư thì ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành, pháp luật về các chủ thể kinh tế đó

Và trong nội dung các Điều khoản liên quan của Dự thảo, cần tránh quy định về những vấn đề,những nội dung đã được quy định chi tiết trong các văn bản pháp luật khác nói trên

- Về độ sâu của các quy định về ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư:

Trang 5

+ Không quy định về hỗ trợ đầu tư trong Luật Đầu tư (trừ khi có các quy định mang tính quyphạm, có ý nghĩa áp dụng thực chất mà không phải mang tính tuyên ngôn như trong Dự thảohiện tại).

+ Chỉ quy định mang tính liệt kê về các loại ưu đãi đầu tư trong Luật Đầu tư (và đảm bảo rằngcác liệt kê này là đầy đủ)

2 Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài

(Quan điểm trong mục này tương tự với quan điểm của VCCI về vấn đề liên quan đối với

Dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi)

Đứng từ góc độ kinh tế thuần túy, việc duy trì đối xử khác biệt giữa nhà đầu tư trong nước

và nhà đầu tư nước ngoài là hầu như không có ý nghĩa (bởi vốn nào cũng là vốn, và quan trọng

là vốn đó được sử dụng hiệu quả tới đâu chứ không quan trọng vốn đó là của ai)

Tuy nhiên, đứng từ góc độ quản lý Nhà nước, với các mục tiêu liên quan tới chủ quyền kinh

tế cũng như lợi ích chính trị - xã hội, lợi ích công cộng gắn với hoạt động kinh tế, hầu như cácnước đều duy trì những cơ chế nhất định, có tính hạn chế hoặc kiểm soát hơn đối với đầu tưnước ngoài Vấn đề là lựa chọn cơ chế nào phù hợp với bối cảnh và phương thức quản lý kinh

tế của mỗi quốc gia để vừa đảm bảo các mục tiêu nói trên, vừa khuyến khích, thu hút nguồnvốn đầu tư từ nước ngoài để phục vụ phát triển kinh tế trong nước

Ở nước ta, thời gian qua, Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2005 đã duy trì sự khác biệtnày cả từ 02 góc độ: thủ tục và quyền kinh doanh Thực tế đã cho thấy các cách tiếp cận nàycòn nhiều bất cập:

- Đối với các phân biệt đối xử về thủ tục: Những phân biệt này phần lớn chỉ là tạo thêm thủtục đối với nhà đầu tư nước ngoài về mặt giấy tờ, thời gian, chi phí, chứ không góp phần vàoviệc thực hiện các mục tiêu đặt ra, vì vậy về cơ bản là không cần thiết và đôi khi cản trở nguồnvốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, từ đó làm hạn chế hiệu quả của dòng vốn quan trọng nàytrong nền kinh tế

Trang 6

- Đối với các phân biệt đối xử về quyền kinh doanh (lĩnh vực, địa bàn, phạm vi hoạt động kinhdoanh): Những phân biệt này hướng trực tiếp vào việc kiểm soát đầu tư nước ngoài phục vụcác mục tiêu chính trị - kinh tế - xã hội, vì vậy là phương pháp quản lý khá phổ biến ở nhiềunước Việt Nam cũng sử dụng phương pháp này nhưng hiệu quả quản lý thời gian qua cònnhiều hạn chế, mà chủ yếu xuất phát từ việc chưa xác định rõ ràng khái niệm nhà đầu tư nướcngoài (từ đó gây bất cập trong xác định khi nào một chủ thể là nhà đầu tư nước ngoài và phải

áp dụng các hạn chế quyền kinh doanh tương ứng)

Liên quan tới khái niệm nhà đầu tư nước ngoài (và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài),quá trình áp dụng Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2005 đã cho thấy những bất cập nổi cộm:

- Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài không rõ ràng trong Luật Đầu tư cũng như các văn bảnhướng dẫn (chỗ thì nêu tỷ lệ 51%, lúc lại chỉ cần 1% cũng coi là nhà đầu tư nước ngoài…);

- Cơ chế, thẩm quyền thực thi và kiểm soát các hạn chế quyền kinh doanh đối với nhà đầu tưnước ngoài không rõ ràng/chưa hợp lý (giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lýchuyên ngành);

- Chưa giải quyết được các trường hợp sở hữu chéo, sở hữu có một phần vốn đầu tư nướcngoài nhưng không thể xác định tỷ lệ do là doanh nghiệp liên doanh thế hệ thứ 2,3…

Vì vậy, về vấn đề này, VCCI có quan điểm như sau:

- Cần xóa bỏ toàn bộ các phân biệt đối xử về thủ tục giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu

tư nước ngoài Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư sửa đổi; chỉ duy trì các cơ chế đối xử khácbiệt liên quan tới quyền kinh doanh (được quy định theo các căn cứ hợp lý, phù hợp với cáccam kết quốc tế và thực hiện bởi cơ quan quản lý chuyên ngành trong từng lĩnh vực)

- Xác định rõ khái niệm nhà đầu tư nước ngoài theo hướng:

+ Về tỷ lệ:

Mọi chủ thể (tổ chức, cá nhân) có vốn nước ngoài chiếm trên 50% là nhà đầu tư nước ngoài (ởđây, khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” bao trùm “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” và

Trang 7

cá nhân, tổ chức nước ngoài – vì vậy không cần phải xác định các khái niệm “doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài”, “cá nhân, tổ chức nước ngoài”).

Lựa chọn về tỷ lệ nói trên được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc: Phiếu chiếm đa số quá bán(>50%) là phiếu có quyền quyết định đối với phần lớn hoạt động của doanh nghiệp

+ Về trường hợp chủ thể có vốn đầu tư nước ngoài thế hệ thứ 2 trở đi:

(các trường hợp nhà đầu tư là doanh nghiệp liên doanh - có một phần vốn trong nước và mộtphần vốn nước ngoài - sử dụng vốn của mình vào để đầu tư cùng chủ thể khác hình thành mộtdoanh nghiệp liên doanh thế hệ thứ 2 và cứ thế tiếp theo)

Về mặt pháp lý và kinh tế, khi doanh nghiệp liên doanh thế hệ 1 đem vốn của mình đi kinhdoanh/đầu tư (bao gồm cả việc thành lập một doanh nghiệp con), sẽ không thể/không đượcphân định rạch ròi đồng vốn nào là phần nước ngoài, đồng vốn nào là phần nội địa trong đó(đơn giản khi đó vốn là vốn của doanh nghiệp thế hệ 1 mà thôi)

Vì vậy, trong các trường hợp này, chỉ có thể sử dụng phương pháp xác định suy đoán như sau:

· Nếu một chủ thể đã được xác định là nhà đầu tư nước ngoài (có trên 50% vốnnước ngoài) thì toàn bộ các hành vi sau đó của chủ thể này (bao gồm cả việc điđầu tư thành lập một doanh nghiệp con) sẽ được xem là hành vi của nhà đầu tưnước ngoài thuần túy (và phần vốn mà nhà đầu tư này sử dụng để đầu tư/kinhdoanh, bao gồm cả đầu tư thành lập doanh nghiệp mới, được xem là “vốn đầu

tư nước ngoài” toàn bộ)

· Và ngược lại, nếu một chủ thể đã được xác định là nhà đầu tư trong nước (cótrên 50% vốn trong nước) thì khi đi kinh doanh/đầu tư, mọi loại vốn mà chủ thểnày bỏ ra đều được xem là vốn trong nước

· Cứ như vậy cho tất cả các trường hợp đầu tư/sở hữu chéo tiếp sau

Trang 8

Cách thức định nghĩa suy đoán này cho phép xử lý hoàn toàn vấn đề hạn chế quyền kinhdoanh đối với nhà đầu tư nước ngoài, theo đó mọi nhà đầu tư nước ngoài khi đi đầu tư đều làchủ thể thế hệ 1.

- Bên cạnh khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” nói chung, cần có khái niệm “quốc tịch nướcngoài” (để xác định các trường hợp nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân có quốc tịchmột nước ngoài cụ thể) bởi khái niệm này là cần thiết trong trường hợp cam kết mở cửa thịtrường trong một số ngành/lĩnh vực không áp dụng chung với mọi nhà đầu tư nước ngoài mà

áp dụng riêng cho nhà đầu tư nước ngoài mang quốc tịch một nước đối tác nhất định

- Cần quy định thống nhất về khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” trong Luật Doanh nghiệp vàLuật Đầu tư

3 Thủ tục đầu tư

3.1 Các trường hợp phải xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (CNĐKĐT)

Dự thảo Luật Đầu tư đang được thiết kế theo hướng Thủ tục đầu tư (thủ tục cấp Giấychứng nhận đăng ký đầu tư) không phải là thủ tục phổ quát mà chỉ là thủ tục có tính đặc thù,chỉ áp dụng cho các trường hợp cần thiết phải có sự quản lý của Nhà nước (dự án đầu tư xinhưởng ưu đãi, hỗ trợ từ Nhà nước, ảnh hưởng tới các lợi ích công cộng hoặc sử dụng các tàisản lớn thuộc sở hữu toàn dân cần sự đồng ý của Nhà nước…)

Về cơ bản, đây là cách thức tiếp cận hiện đại, hợp lý và tương thích với quan điểm tiếp cậncủa Luật Doanh nghiệp trong việc tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động đầu tư kinhdoanh

Tuy nhiên, có lẽ Dự thảo chưa đi đến tận cùng của quan điểm tiếp cận này và vì vậy cầnđược cân nhắc điều chỉnh:

- Về bản chất của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư:

Dự thảo (Điều 42) hiện chưa làm rõ bản chất của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (với tínhchất là thủ tục đặc thù, chỉ áp dụng cho các trường hợp nhất định) và dễ gây nhầm lẫn (khoản 1

Trang 9

Điều 42 theo đó “Giấy CNĐKĐT là căn cứ để nhà đầu tư triển khai hoạt động đầu tư” dẫn tớicách hiểu Giấy này áp dụng cho tất cả các dự án đầu tư).

- Về thủ tục đầu tư đối với dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện:

Như đã đề cập ở mục 1 nói trên, lĩnh vực đầu tư có điều kiện thực chất là các ngành nghề kinhdoanh có điều kiện, hiện được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành Các điềukiện kinh doanh này được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, được quy định và thể hiệnbằng các thủ tục tương ứng trong pháp luật kinh doanh chuyên ngành (giấy phép kinh doanh,điều kiện kinh doanh không cần giấy phép, các loại chứng chỉ hành nghề…)

Nói cách khác, thủ tục đối với các lĩnh vực đầu tư có điều kiện đã có, đang được duy trì trongpháp luật chuyên ngành

Việc thiết lập thêm một thủ tục đầu tư đối với các dự án đầu tư trong các lĩnh vực này theo LuậtĐầu tư, vì vậy, là không cần thiết, trùng lặp với pháp luật chuyên ngành, tạo thêm thủ tục chonhà đầu tư trong khi không tăng thêm hiệu quả quản lý (bởi quản lý của cơ quan quản lý chung

về đầu tư không thể hiệu quả bằng quản lý của cơ quan quản lý chuyên ngành về những lĩnhvực đầu tư có điều kiện)

- Về thủ tục đầu tư đối với các dự án đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, sử dụng tài nguyên (nước, khoáng sản…)

Theo quan điểm dự án đầu tư sử dụng tài sản lớn thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước cần đượcquản lý thì việc duy trì thủ tục đầu tư đối với các dự án nhóm này là hợp lý

Tuy nhiên, trên thực tế, bản thân cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư không phải là

cơ quan có thẩm quyền quyết định cho hay không cho nhà đầu tư được sử dụng các tài sảnnày Vì vậy, thủ tục đầu tư ở đây chỉ là tiền đề để nhà đầu tư tiếp tục đi làm việc với các cơquan quản lý Nhà nước về đất đai, tài nguyên

Và với bản chất như vậy, việc xem xét cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong trường hợp này chỉ

có ý nghĩa là rà soát dự án đầu tư với các quy hoạch liên quan tới việc sử dụng đất đai, tàinguyên của địa phương và xác nhận rằng dự án liên quan phù hợp với các quy hoạch này

Trang 10

- Về thủ tục đầu tư đối với các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường

Trên thực tế, các quy định hiện hành về báo cáo đánh giá tác động môi trường (tiêu chí, điềukiện, thủ tục…) được quy định chi tiết trong pháp luật về môi trường (Luật Bảo vệ môi trường

và các văn bản hướng dẫn) Trong đó, điểm đáng chú ý là các hoạt động xây dựng, thẩm địnhbáo cáo đánh giá tác động môi trường được thực hiện độc lập, không phụ thuộc vào cơ quanquản lý đầu tư, và được thực hiện trước khi hoàn tất dự án Nói cách khác, đối với các dự ánloại này, khi nhà đầu tư hoàn thiện dự án đầu tư và xin đăng ký đầu tư thì họ đã có báo cáođánh giá tác động môi trường được chấp thuận

Nếu theo pháp luật hiện hành nói trên không được điều chỉnh, thì thủ tục cấp Giấy CNĐKĐT đốivới các dự án này thực chất là không có ý nghĩa (bởi việc quản lý về môi trường đã được thựchiện trước đó)

Trên thực tế, nhân dịp sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, đã có những ý kiến cho rằng để thuậnlợi và tiết kiệm nguồn lực cho nhà đầu tư, thủ tục cấp Giấy CNĐKĐT nên được thực hiện trước(với ý nghĩa là thủ tục để cơ quan Nhà nước rà soát về tính phù hợp với quy hoạch, tương tựnhư trường hợp xin đất, tài nguyên từ Nhà nước), rồi sau đó nhà đầu tư mới làm các thủ tụcliên quan tới báo cáo đánh giá tác động môi trường Nếu quan điểm này được tiếp nhận trongLuật Bảo vệ môi trường sửa đổi thì quy định cách tiếp cận hiện tại về thủ tục đầu tư đối vớinhóm dự án này trong Dự thảo Luật Đầu tư phù hợp

Tuy nhiên nếu quan điểm nói trên không được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi trường sửa đổithì thủ tục đầu tư trong Dự thảo Luật Đầu tư là không cần thiết, và cần bỏ

- Về thủ tục đầu tư đối với các dự án thuộc diện hưởng ưu đãi của Nhà nước

Đối với nhóm này, mục đích của thủ tục đầu tư là rà soát các điều kiện của dự án đầu tư vớicác tiêu chí ưu đãi và xác nhận loại ưu đãi mà nhà đầu tư được hưởng (còn mức độ ưu đãi đốivới từng loại thì là công việc của cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành liên quan tới ưu đãiđó)

Trang 11

Giấy CNĐKĐT trong trường hợp này sẽ là một hình thức “chứng nhận” để nhà đầu tư dựa vào

đó mà yêu cầu các cơ quan liên quan cung cấp các ưu đãi cụ thể

Đây là một cách tiếp cận tạo thuận lợi cho nhà đầu tư (khi đã được cấp Giấy CNĐKĐT, nhà đầu

tư chỉ cần mang Giấy này tới các cơ quan thuế, tín dụng… yêu cầu được hưởng ưu đãi như ghitrên Giấy) Tuy nhiên, trên thực tế, điều này sẽ chỉ khả thi và vận hành suôn sẻ nếu đảm bảorằng:

+ Luật Đầu tư quy định thống nhất về tất cả các loại ưu đãi cho nhà đầu tư (“loại” chứ khôngphải “mức”), các văn bản pháp luật khác không quy định vượt quá các loại ưu đãi đã nêu trongLuật Đầu tư:

Yêu cầu này nhằm tránh tình trạng nhà đầu tư muốn xin cấp Giấy CNĐKĐT để hưởng các ưuđãi theo Luật Đầu tư nhưng với Giấy đó họ không được hưởng các ưu đãi đầu tư theo cácpháp luật khác, hoặc nếu muốn được hưởng thì ngoài giấy CNĐKĐT lại phải có các loại giấykhác để hưởng các ưu đãi khác;

+ Luật Đầu tư quy định cụ thể về các tiêu chí, trường hợp được hưởng ưu đãi đối với từng loại

ưu đãi nhất định:

Yêu cầu này nhằm đảm bảo rằng căn cứ vào Luật Đầu tư nhà đầu tư có thể xác định có nênxin cấp Giấy CNĐKĐT để hưởng ưu đãi không, cho loại ưu đãi nào, và cơ quan quản lý đầu tư

có căn cứ xem xét cấp Giấy CNĐKĐT tương ứng

Và để làm được điều này, cần có sự đầu tư của Ban soạn thảo cho Mục Ưu đãi đầu tư trong

Dự thảo (trong việc nghiên cứu, xác định các nội dung trên) và sự thống nhất giữa Ban soạnthảo với các cơ quan quản lý Nhà nước về các nội dung liên quan về quan điểm này

Vì vậy, VCCI có quan điểm về vấn đề này như sau:

- Bỏ thủ tục cấp Giấy CNĐKĐT đối với các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện

Trang 12

- Áp dụng thủ tục cấp Giấy CNĐKĐT cho các trường hợp dự án cần Nhà nước chuyểngiao quyền sử dụng tài nguyên, đất đai (đây là hai nhóm được nêu trong Dự thảo ngày19/2/2014, và phù hợp hơn so với Dự thảo hiện tại – Dự thảo hiện tại chỉ nêu nhóm đất đai)

- Chỉ áp dụng thủ tục cấp Giấy CNĐKĐT đối với nhóm dự án sau nếu đảm bảo các yêu cầutương ứng:

+ Đối với nhóm dự án phải đánh giá báo cáo tác động môi trường: Chỉ áp dụng thủ tục cấpGiấy CNĐKĐT nếu có thay đổi tương ứng trong pháp luật về môi trường (để Giấy này thực hiệntrước - với tính chất là thủ tục để đảm bảo dự án tuân thủ các quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch

về môi trường, rồi sau đó nhà đầu tư mới thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường)

+ Đối với nhóm dự án cần Nhà nước cho hưởng ưu đãi đầu tư : Chỉ áp dụng thủ tục cấp GiấyCNĐKĐT này nếu đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu nói ở phần trên

- Chú ý: Do mục tiêu và điều kiện xem xét cấp Giấy CNĐKĐT là khác nhau đối với mỗi nhóm

dự án nên Nội dung Giấy CNĐKĐT cần có các phần nội dung tương ứng với từng nhóm, dự ánthuộc nhóm nào thì điền thông tin cụ thể vào phần nội dung dành cho nhóm đó

3.2 Thủ tục, trình tự, hồ sơ đầu tư (xin Giấy CNĐKĐT)

Như phân tích tại mục 3.1 nói trên, thủ tục đầu tư đối với các nhóm dự án đầu tư thuộc diệnphải xin giấy CNĐKĐT là nhằm các mục tiêu quản lý khác nhau, và vì vậy các tiêu chí xem xét,

hồ sơ đầu tư cũng phải là khác nhau

Việc quy định thủ tục, trình tự, hồ sơ giống nhau giữa các trường hợp này (như Dự thảohiện tại), do đó, là không phù hợp

Cụ thể, cần cân nhắc lại các quy định Dự thảo về các nội dung sau:

- Về hồ sơ, điều kiện cấp Giấy CNĐKĐT:

+ Đối với thủ tục đầu tư cho nhóm dự án đầu tư cần sử dụng tài nguyên, đất đai của Nhà nước

Trang 13

Mục tiêu của thủ tục đầu tư cho nhóm này là đảm bảo sự tuân thủ quy hoạch của dự án đầu tư.

Do đó, hồ sơ áp dụng cho trường hợp này phải là các giấy tờ, tài liệu dự án chứng minh dự ánthỏa mãn các điều kiện trong các quy hoạch liên quan

Đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi tương ứng

+ Đối với nhóm dự án phải đánh giá báo cáo tác động môi trường (nếu có):

Mục tiêu của thủ tục đầu tư cho nhóm này là đảm bảo sự tuân thủ quy hoạch của dự án đầu tư,đặc biệt là quy hoạch về môi trường Do đó, hồ sơ áp dụng cho trường hợp này phải là cácgiấy tờ, tài liệu dự án chứng minh dự án thỏa mãn các điều kiện trong các quy hoạch liên quan,trong đó chú trọng tới quy hoạch về môi trường

Đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi tương ứng

+ Đối với thủ tục đầu tư cho nhóm dự án đầu tư cần ưu đãi đầu tư (nếu có)

Mục tiêu của thủ tục đầu tư cho nhóm này là đảm bảo dự án đầu tư đáp ứng các điều kiệnhưởng các loại ưu đãi đầu tư nhất định Do đó, hồ sơ áp dụng cho trường hợp này phải là cácgiấy tờ, tài liệu dự án chứng minh dự án thỏa mãn các điều kiện đối với các loại ưu đãi mà nhàđầu tư đề nghị được hưởng

Đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi tương ứng

- Về thủ tục xem xét cấp Giấy CNĐKĐT:

Ban soạn thảo có ý tưởng rất đáng hoan nghênh trong việc tạo điều kiện thuận lợi tối đa chonhà đầu tư thông qua việc thiết kế quy trình đăng ký đầu tư tích hợp, một cửa, trong đó nhà đầu

tư chỉ phải tiếp cận với cơ quan quản lý đầu tư, cơ quan này sẽ có trách nhiệm làm việc với các

cơ quan quản lý chuyên ngành (đất đai, ưu đãi thuế, tín dụng…) trong việc xem xét cho nhàđầu tư được hưởng/chuyển giao các ưu đãi/tài sản yêu cầu

Tuy nhiên, ý tưởng này lại chưa được thể hiện rõ/thậm chí mâu thuẫn trong Dự thảo Cụ thể:

Trang 14

+ Điều 44.2 và 46 Dự thảo chỉ đề cập tới việc thẩm tra hồ sơ xin cấp Giấy CNĐKĐT của cơquan quản lý về đầu tư (trong khi nếu là thủ tục tích hợp thì cơ quan quản lý về đầu tư còn phảithực hiện một bước là chuyển hồ sơ tới các cơ quan quản lý chuyên ngành để thẩm tra hoặclấy ý kiến các cơ quan này, tổng hợp các ý kiến thẩm tra…);

+ Điều 48-50-51 Dự thảo liên quan tới các thủ tục thuê, giao nhận đất, chuẩn bị mặt bằng xây

dựng, thực hiện dự án có khai thác tài nguyên, có xây dựng…:

Các quy định này được thiết kế theo hướng nhà đầu tư sau khi được cấp Giấy CNĐKĐT thì tự

đi làm các thủ tục liên quan với các cơ quan quản lý chuyên ngành

Điều này chỉ phù hợp với cách tiếp cận về Giấy CNĐKĐT với tính chất là thủ tục ban đầu Nếuthủ tục Giấy CNĐKĐT là thủ tục “tích hợp, một cửa” thì các thủ tục này đã phải bao gồm trongthủ tục xin Giấy CNĐKĐT và do cơ quan quản lý về đầu tư làm đầu mối toàn bộ (cơ quan này

sẽ là chủ thể phải làm việc với các cơ quan chuyên ngành chứ không phải là nhà đầu tư)

Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo điều chỉnh các quy định theo một cách tiếp cận thốngnhất, tránh mâu thuẫn

4 Về một số chế định khác trong Dự thảo Luật Đầu tư

4.1 Về Bảo đảm đầu tư (Chương II Dự thảo)

Đây là nội dung cần thiết được nêu trong Luật Đầu tư (bởi hiện chưa được nêu trong mộtvăn bản nào có diện bao trùm tất cả các hình thức đầu tư kinh doanh), và sẽ là căn cứ quantrọng để nhà đầu tư biết trước và đầy đủ về các bảo đảm đầu tư mà mình được hưởng

Tuy nhiên, để nội dung này có ý nghĩa thực tiễn và khả thi, Ban soạn thảo cần chú ý cácđiểm sau:

- Rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan tới các loại hình bảo đảm đầu tư đểchắc chắn rằng các hình thức bảo đảm đầu tư tại Luật Đầu tư đã bao quát hết các loại (“loại”chứ không phải “mức”) và phù hợp với định hướng bảo đảm đầu tư hiện đang quy định rải ráctrong nhiều văn bản khác nhau;

Trang 15

- Cần tham khảo nội dung của các một số hình thức bảo đảm đầu tư mà Việt Nam tiếp nhận,

ít nhất thông qua đàm phán Chương Đầu tư trong một số hiệp định thương mại tự do lớn (TPP,EVFTA) để đảm bảo sự phù hợp trong các quy định tương ứng của Luật Đầu tư

- Cần bổ sung 01 Điều vào Chương này trong đó nêu các trường hợp ngoại lệ mà Nhà nước

sẽ không phải thực hiện các bảo đảm đầu tư chung (hiện Dự thảo chưa có nội dung quan trọngnày), trong đó cần đặc biệt chú ý tới các ngoại lệ sau:

+ Ngoại lệ liên quan tới các lợi ích công cộng (an ninh quốc phòng, trật tự công cộng, sức khỏetính mạng con người - động thực vật…)

+ Ngoại lệ liên quan tới môi trường

- Rà soát và điều chỉnh lại các quy định về giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu

tư (Điều 11 Dự thảo)

+ Về phạm vi loại tranh chấp đầu tư:

Về nguyên tắc, việc giải quyết tranh chấp giữa các nhà đầu tư với nhau là tranh chấp dânsự/kinh tế thông thường, đã được quy định trong hệ thống pháp luật khá đồ sộ về giải quyếttranh chấp và vì vậy không cần thiết phải quy định trong Luật Đầu tư

Trong khi đó, tranh chấp giữa Nhà nước với nhà đầu tư lại tương đối đặc thù (trong trường hợp

“nhà đầu tư nước ngoài” thì đặc thù này xuất phát từ các cam kết quốc tế; đối với “nhà đầu tưtrong nước” thì đặc thù này, nếu có, đi theo đặc thù của các nhà đầu tư nước ngoài nhằm đảmbảo rằng nhà đầu tư trong nước không bị thiệt thòi hơn so với nhà đầu tư nước ngoài)

Do đó, Luật Đầu tư cần quy định về nội dung này nhưng giới hạn ở tranh chấp đầu tư mà mộtbên là Nhà nước Hiện Tên Điều 11 Dự thảo đã có giới hạn này, nhưng nội dung lại có bao gồm

cả các tranh chấp “tư” này (khoản 2 “tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước (với nhau)”;khoản 3 “tranh chấp mà một bên là nhà dầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài hoặc tranh chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau”)

Trang 16

Vì vậy cần bỏ quy định về các trường hợp này (bỏ toàn bộ khoản 3 và bỏ một phần khoản 2Điều 11 Dự thảo).

+ Về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa Nhà nước – nhà đầu tư trong nước bằng Trọng tài (khoản 2 Điều 11 Dự thảo)

Về nguyên tắc, Luật Đầu tư 2005 có quy định về khả năng nhà đầu tư trong nước kiện Nhànước (trong tranh chấp liên quan tới quyết định hành chính về đầu tư) ra Trọng tài Luật Trọngtài Thương mại cũng cho phép trọng tài tiếp nhận các tranh chấp loại này

Tuy nhiên, do giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đòi hỏi thỏa thuận trọng tài giữa các bêntranh chấp (trong trường hợp này là giữa nhà đầu tư và Nhà nước), mà pháp luật Việt Namchưa có quy định nào cho phép cơ quan Nhà nước ký kết các thỏa thuận như vậy cho cáctrường hợp này

Do đó trên thực tế là không có trường hợp nào Trọng tài được sử dụng để giải quyết tranh chấpNhà nước – nhà đầu tư cả

Vì vậy, đề nghị bỏ phương thức Trọng tài trong giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tưtrong nước và Nhà nước

+ Về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa Nhà nước – nhà đầu tư nước ngoài bằng Trọngtài (khoản 4 Điều 11)

Như đã đề cập ở trên, quyền kiện Nhà nước ra Trọng tài (kể cả trọng tài Việt Nam) không phảiquyền đương nhiên của nhà đầu tư (kể cả trong nước lẫn nước ngoài) như kiện ra Tòa án ViệtNam

Vì vậy cần bỏ phương thức này, và chỉ cho phép kiện ra Trọng tài (Việt Nam hoặc quốc tế)trong trường hợp có hợp đồng hoặc cam kết quốc tế có quy định mà thôi

4.2 Về các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư (Chương III Dự thảo)

Quy định tại Chương này về cơ bản là hợp lý và cần thiết

Trang 17

Tuy nhiên, cần chú ý rà soát để đảm bảo nội dung quy định về quyền và nghĩa vụ của nhàđầu tư trong Dự thảo Luật Đầu tư tương thích với quy định về quyền và nghĩa vụ của doanhnghiệp trong Dự thảo Luật Doanh nghiệp cũng như các quy định tương ứng trong các văn bảnpháp luật khác về các chủ thể kinh tế.

4.3 Về các hình thức đầu tư (Chương IV)

- Điều 19 – Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế: Như đã nêu tại Mục 1 Công văn này, Luật Đầu

tư không nê quy định nhắc lại về vấn đề này (bởi không cần thiết và có nêu cũng không thể đủ,đặc biệt là khi các pháp luật liên quan có sự thay đổi)

Do đó với các trường hợp đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, Dự thảo chỉ nên dẫn chiếu tới:+ Pháp luật về doanh nghiệp (quy định về các loại hình doanh nghiệp, hộ kinh doanh)

+ Pháp luật về hợp tác xã

+ Pháp luật chuyên ngành (riêng trường hơp này, cần chú ý là pháp luật chuyên ngành baogồm tất cả các quy định pháp luật có liên quan tới hoạt động kinh doanh đầu tư, đặc biệt là lĩnhvực kinh doanh có điều kiện)

Việc chỉ liệt kê Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã (với các hình thức đầu tư hiện có), hay chỉliệt kê các loại tổ chức kinh tế trong một vài lĩnh vực cụ thể (bảo hiểm, ngân hàng…) là khôngđủ

- Hình thức đầu tư theo hợp đồng (BCC):

Thực chất đây chỉ là hợp đồng hợp tác kinh doanh đầu tư đơn thuần (một loại hợp đồngthương mại), trong đó mỗi bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ áp dụng cho nhóm chủ thể củamình, từ góc độ pháp luật đầu tư là không phát sinh quyền và nghĩa vụ chung nào giữa hai chủthể này Và trong quản lý Nhà nước về đầu tư thì dự án đầu tư phát sinh từ hợp đồng BCCcũng là dự án được xác định theo từng chủ thể nhà đầu tư (chứ không có chủ thể chung) Tức

là không có “hình thức đầu tư” nào mới phát sinh từ BCC cả

Trang 18

Vì vậy về nguyên tắc, Luật Đầu tư không cần thiết phải quy định về hình thức đầu tư này (kể cả

là quy định chung về “quyền ký hợp đồng BCC” vì đây là quyền đương nhiên (quyền kinhdoanh) của mọi nhà đầu tư)

Tuy nhiên, với mục tiêu là liệt kê hình thức đầu tư (cho tương ứng với PPP) thì vẫn có thể đểquy định về BCC trong Dự thảo Luật Đầu tư Và với mục tiêu này thì cần chú ý:

+ Bỏ quy định về việc các bên phải “ghi trong hợp đồng BCC” những nội dung nhất định (nhưquy định hiện tại của Điều 20.1) bởi quy định này hạn chế quyền tự do thỏa thuận của các nhàđầu tư

+ Bỏ quy định về BCC trong lĩnh vực dầu khí….: Trên thực tế, BCC trong bất kỳ lĩnh vực kinhdoanh có điều kiện nào cũng đương nhiên phải đáp ứng các yêu cầu liên quan của lĩnh vực đó(chứ không chỉ trong lĩnh vực dầu khí) và vì vậy quy định trong Dự thảo hiện tại là chưa đủ baoquát

4.4 Về triển khai dự án đầu tư

- Liên quan tới các thủ tục thuê, giao nhận đất, chuẩn bị mặt bằng xây dựng, thực hiện dự án

có khai thác tài nguyên, có xây dựng…(Điều 48-50-51 Dự thảo):

Xem bình luận tại Mục 3.2 Công văn này

- Liên quan tới các hoạt động giám định máy móc, tiêu thụ sản phẩm, thuê tổ chức quản lý (Điều 52-54 Dự thảo):

Đây là các hoạt động thuộc quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư, vì vậy Luật Đầu tư khôngnên và không cần thiết phải quy định về vấn đề này

Thậm chí nếu có quy định thì các nội dung này là không đủ (bởi quyền của nhà đầu tư trongthực hiện dự án đầu tư không chỉ bao gồm 03 quyền này), và không chính xác (ví dụ khôngphải nhà đầu tư nào cũng có toàn quyền tiêu thụ sản phẩm ở Việt Nam mà không giới hạn địabàn…)

Trang 19

Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo bỏ các quy định này.

- Liên quan tới điều chỉnh, tạm ngừng, giãn tiến độ… dự án (Điều 55-58)

Theo quan điểm tiếp cận của Dự thảo thì Nhà nước chỉ quản lý các dự án đầu tư (thông quaGiấy CNĐKĐT) đối với các trường hợp có sử dụng tài nguyên, đất đai hoặc xin ưu đãi từ Nhànước Đối với các trường hợp khác thì nhà đầu tư được tự do thực hiện dự án đầu tư trongkhuôn khổ các quyền và nghĩa vụ chung của nhà đầu tư

Theo cách tiếp cận này thì việc điều chỉnh dự án hay các thay đổi trong tiến độ dự án cũng nhưdừng dự án đều thuộc toàn quyền của nhà đầu tư, và không phải đăng ký hay thực hiện bất kỳthủ tục nào (dù là tự mình hay thủ tục với Nhà nước) Vì vậy không nên có quy định nào(chung) trong Luật Đầu tư cho các công việc này

Việc làm thủ tục để điều chỉnh, thay đổi tiến độ, chấm dứt đầu tư… chỉ thích hợp với các trườnghợp dự án có Giấy CNĐKĐT và chỉ cần thiết trong trường hợp những thay đổi đó làm thay đổinội dung về dự án đầu tư đã ghi nhận trong Giấy CNĐKĐT (ví dụ việc điều chỉnh quy mô dự ánkhông làm thay đổi ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu ghi trong Giấy CNĐKĐT thì không cần thiếtphải làm thủ tục thông báo về nội dung này)

Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo:

+ Bỏ các quy định chung tại các Điều 55-58

+ Chỉ áp dụng các thủ tục thông báo thay đổi, điều chỉnh, chấm dứt… dự án đầu tư trongtrường hợp các thay đổi đó ảnh hưởng tới nội dung của Giấy CNĐKĐT

+ Chỉ áp dụng thủ tục thu hồi Giấy CNĐKĐT đối với các dự án có Giấy CNĐKĐT

- Về thời hạn của dự án đầu tư (Điều 49 Dự thảo)

Cần quy định rõ thời hạn dự án đầu tư trong trường hợp này chỉ áp dụng đối với các dự án cóGiấy CNĐKĐT

Trang 20

Trên đây là một số ý kiến ban đầu của VCCI đối với một số vấn đề lớn còn có ý kiếnkhác nhau của Dự thảo Luật Đầu tư bản ngày 3/3/2014 sửa đổi, xin gửi để Quý Cơ quan cânnhắc, tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Luật Đầu tư.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của Quý Cơ quan

Góp ý Dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) của Luật sư Nguyễn Thanh Hiền - Giám Đốc Công

Ty Cổ Phần Quản Lý Và Đầu Tư Tín Thác Á Châu - Hội thảo VCCI (Tp.HCM ngày

11/3/2014)

HỘI THẢO LẤY Ý KIẾN DOANH NGHIỆP HOÀN THIỆN DỰ THẢO LUẬT DOANH NGHIỆP

(SỬA ĐỔI) VÀ DỰ THẢO LUẬT ĐẦU TƯ (SỬA ĐỔI)

Do Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức tại TP HCM ngày

11/3/2014

Ý KIẾN ĐÓNG GÓP CHO DỰ THẢO LẦN 2 LUẬT ĐẦU TƯ (SỬA ĐỔI)

NGUYỄN THANH HIỀN Luật Sư, Giám Đốc Công Ty Cổ Phần Quản Lý Và Đầu Tư Tín Thác Á Châu (“ATIM”)

Trong phạm vi của hội thảo này, dưới góc nhìn của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quản

lý, tư vấn đầu tư, chúng tôi xin phép được đưa ra một vài ý kiến cá nhân đóng góp cho DựThảo lần 3 Luật Đầu Tư (sửa đổi) như sau:

1 Nên bỏ hay giữ lại Luật Đầu Tư

Vấn đề bỏ hay giữ lại Luật Đầu Tư đã được nêu ra từ rất lâu và nhận được các luồng ýkiến trái chiều, trong đó có rất nhiều ý kiến cho rằng nên bỏ hẳn Luật Đầu Tư vì thủ tục

về cấp Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưqui định của Luật đầu tư hiện hành là rườm rà, không cần thiết, trong khi tại các luậtchuyên ngành khác đã qui định các thủ tục liên quan đến các hoạt động triển khai dự ánđầu tư, cũng như khuyến khích về đầu tư

Với lần sửa đổi này, các nhà làm luật tiếp tục theo quan điểm sẽ vẫn giữ Luật Đầu Tưnhưng sửa đổi để đơn giản hóa các thủ tục, bám sát mục tiêu là “tạo bước chuyển biếnmới về cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư” Cụ thể, theo Dự Thảolần 3 Luật Đầu Tư (sửa đổi) thì nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đềuthực hiện việc đăng ký kinh doanh để thành lập doanh nghiệp Sau khi thành lập doanhnghiệp, việc cấp “Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Đầu Tư” chỉ giới hạn trong 4 loại dự án là:

- Dự án đề nghị nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất;

- Dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện;

Trang 21

- Dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật

về môi trường;

- Dự án thuộc diện hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư

Cơ chế liên thông giải quyết thủ tục cấp Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Đầu Tư và thủ tụcliên quan đến sử dụng đất đai, xây dựng cũng được thiết lập Với cơ chế này, cơ quancấp Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Đầu Tư chịu trách nhiệm tổ chức xem xét, lấy ý kiếncác cơ quan chuyên môn về hồ sơ dự án đầu tư mà không yêu cầu nhà đầu tư phải đếntừng cơ quan khác nhau để thực hiện từng thủ tục

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng để các qui định về thủ tục cấp Giấy Chứng Nhận Đăng KýĐầu Tư và cơ chế liên thông qui định tại Luật Đầu Tư (sửa đổi) được triển khai hiệu quảtrên thực tế là không hề đơn giản Thực tế hiện nay cho thấy, việc thiếu phối hợp đồng

bộ giữa các cơ quan nhà nước ở cấp trung ương và địa phương, giữa các cơ quankhác nhau trong cùng một địa phương là một trong những nguyên nhân chính gây ra sựchậm trễ khi thực hiện các thủ tục hành chính hiện nay Năng lực cán bộ chưa đám ứngyêu cầu mới cũng như cơ chế vận hành của các cơ quan nhà nước thiếu đồng bộ,chồng chéo hoàn toàn có khả năng một lần nữa khiến cho mục tiêu cải cách thủ tụchành chính như qui định tại Luật Đầu Tư (sửa đổi) thất bại Vì vậy, quan điểm của chúngtôi là cần bỏ hẳn Luật Đầu Tư hoặc ít nhất là bỏ thủ tục cấp Giấy Chứng Nhận Đăng KýĐầu Tư

2 Khái niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài

Định nghĩa thế nào là “Nhà Đầu Tư Nước Ngoài” là vấn đề rất quan trọng, mà thực tếhiện nay rất nhiều các vướng mắc phát sinh trên thực tế cũng xuất phát từ nguyên nhânLuật Đầu Tư hiện hành chưa qui định rõ khái niệm, cũng như sự thiếu đồng bộ giữaLuật Đầu Tư hiện hành và các luật khác

Vì vậy, trong các dự thảo Luật Đầu Tư sửa đổi, khái niệm “Nhà Đầu Tư Nước Ngoài” đãđược tập trung làm rõ, cụ thể:

Khoản 4 Điều 3 quy định

về nhà đầu tư nước

ngoài:

4 Nhà đầu tư nước

ngoài gồm:

a) Cá nhân không mang

quốc tịch Việt Nam;

b) Tổ chức thành lập theo

pháp luật nước ngoài;

Khoản 4 Điều 3 quy định vềnhà đầu tư nước ngoài:

4 Nhà đầu tư nước ngoài gồm:

a) Cá nhân nước ngoài;

b) Tổ chức thành lập theo phápluật nước ngoài;

c) Doanh nghiệp thành lập tạiViệt Nam có cá nhân, tổ chức

Khoản 3 Điều 3 quy định vềnhà đầu tư nước ngoài:

3 Nhà đầu tư nước ngoài

là nhà đầu tư thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Cá nhân nước ngoài;

b) Tổ chức thành lập theopháp luật nước ngoài;

c) Tổ chức thành lập và hoạt

Trang 22

không mang quốc tịch

Việt Nam làm thành viên

của doanh nghiệp

quy định tại điểm a và b Khoảnnày nắm giữ từ 50% vốn điều lệ[có quyền biểu quyết] trở lên;

công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty hợp danh có cá nhânkhông mang quốc tịch Việt Namlàm thành viên [hoặc có cánhân, tổ chức quy định tại điểm

a và b Khoản này chiếm từ 50%

tổng số thành viên trở lên]

d) Doanh nghiệp thành lập tạiViệt Nam có tổ chức, cá nhânquy định tại điểm a, b, và cKhoản này nắm giữ từ 50% vốnđiều lệ [có quyền biểu quyết]

trở lên

động tại Việt Nam có cánhân, tổ chức quy định tạiđiểm a và b Khoản này nắmgiữ từ 51% vốn điều lệ trởlên; công ty hợp danh có cánhân nước ngoài làm thànhviên

d) Tổ chức thành lập và hoạtđộng tại Việt Nam có tổchức, cá nhân quy định tạiđiểm a, b, và c Khoản nàynắm giữ từ 51% vốn điều lệtrở lên

Không quy định “Doanh

nghiệp có vốn đầu tư

Như vậy, định nghĩa về “Nhà Đầu Tư Nước Ngoài” đến dự thảo lần 3 đã được qui địnhkhá chặt chẽ, tuy nhiên vẫn còn vấn đề cần được Ban soạn thảo xem xét như sau:

- “cá nhân nước ngoài” cần căn cứ theo Luật Quốc Tịch Việt Nam và nên qui định

rõ là “cá nhân nước ngoài bao gồm người không quốc tịch và công dân nước ngoài”;

- Định nghĩa Nhà Đầu Tư Nước Ngoài của dự thảo 3 Luật Đầu Tư sửa đổi khácvới Định nghĩa Nhà Đầu Tư Nước Ngoài của dự thảo 3 Luật Đầu Tư sửa đổi, vì vậy

có sự thống nhất giữa 2 luật này;

- Dự thảo lần 3 Luật Đầu Tư (sửa đổi) không có định nghĩa về “Doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài”, nhưng Luật Đất Đai 2013 có định nghĩa "7 Doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanhnghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần,sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư." và có qui định về cácquyền về sử dụng đất khác với doanh nghiệp trong nước Như vậy có cần phải sựđồng bộ giữa Luật Đầu Tư và Luật Đất Đai về chủ thể này

3 Thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư

Trang 23

Tại Khoản 1 Điều 55 Dự thảo 3 Luật Đầu tư qui định: “Nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư trong trường hợp có sự thay đổi nội dung quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư liên quan đến nhà đầu tư thực hiện dự án, địa điểm đầu tư, mục tiêu, quy mô, vốn đầu tư, tiến độ đầu tư, thời hạn đầu tư.”

Chúng tôi đề nghị đối với nội dung quy định tại Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Đầu Tư liênquan đến nhà đầu tư thì không bắt buộc phải thực hiện thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư

mà chỉ cần gửi văn bản thông báo cho cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, vìnội dung này đã được thực hiện theo thủ tục đăng ký kinh doanh

Ngoài ra, Luật Đầu Tư cần có qui định cụ thể về giá trị hiệu lực của việc điều chỉnh Giấychứng nhận đăng ký đầu tư Nếu các nội dung bắt buộc phải điều chỉnh Giấy chứngnhận đăng ký đầu tư mà Nhà đầu tư không thực hiện thì ngoài việc phải chịu chế tài xửphạt vi phạm hành chính, các nội dung thay đổi dự án chưa được điều chỉnh trên Giấychứng nhận đăng ký đầu tư sẽ không có hiệu lực pháp lý

4 Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực không cam kết của Việt Nam

Khoản 1, Điều 4 Dự thảo 3 Luật Đầu Tư (sửa đổi) quy định: “Nhà đầu tư được đầu tưtrong tất cả các lĩnh vực và ngành, nghề mà pháp luật không cấm”

Trên thực tế, các cơ quan cấp phép rất khó để cấp giấy phép cho những dự án đầu tưvào lĩnh vực dù không bị cấm nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện thủ tục đầu

tư trong lĩnh vực đó như thế nào Cụ thể, từ khi Việt Nam gia nhập WTO, các cơ quanquản lý nhà nước về đầu tư không xem xét hoặc không cho phép đối với các dự án cóvốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực “chưa cam kết” hoặc không được liệt kêtrong biểu cam kết WTO

Vì vậy, Luật Đầu Tư (sửa đổi) cần phải có quy định làm rõ chính sách và thủ tục đầu tưvới các nhà đầu tư muốn đầu tư vào ngành/phân ngành dịch vụ “chưa cam kết” hoặckhông được liệt kê trong biểu cam kết WTO

5 Dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện

Theo qui định tại Điều 44, Dự thảo 3 Luật Đầu Tư (sửa đổi) thì Nhà đầu tư sẽ thực hiệnthủ tục cấp Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Đầu Tư nếu Dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điềukiện

Lĩnh vực đầu tư có điều kiện được qui định tại Điều 25, Dự thảo 3 Luật Đầu Tư (sửađổi), theo đó qui định ngoài các lĩnh vực đầu tư có điều kiện qui định tại khoản 1, Điều

25, “lĩnh vực đầu tư có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài được quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.”

Theo thực tế cấp giấy chứng nhận đầu tư hiện nay thì tất cả các lĩnh vực thuộc biểucam kết dịch vụ của WTO đều thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện Với cách hiểu này thìtrong mọi trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đều phải thực hiện thủ tục cấp GiấyChứng Nhận Đăng Ký Đầu Tư theo qui định tại Điều 44, Dự thảo 3 Luật Đầu Tư (sửađổi) Trong khi đó hầu hết các lĩnh vực dịch vụ theo biểu cam kết WTO đều đã được chophép đến 100% vốn nước ngoài Vì vậy cần làm rõ qui định tại Khoản 2, Điều 25, Dựthảo 3 Luật Đầu Tư (sửa đổi) theo hướng các lĩnh vực đầu tư tại các điều ước quốc tế

Trang 24

mà Việt Nam là thành viên đã cho phép 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc không hạnchế thì không được xem là lĩnh vực đầu tư có điều kiện.

Góp ý Dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) của LS Nguyễn Bính Châu Đoàn Luật sư TP.HCM Hội thảo VCCI (Tp.HCM ngày 11/3/2014)

-VÀI Ý KIẾN ĐÓNG

GÓP NHÂN SỬA ĐỔI LUẬT ĐẦU TƯ

LS Nguyễn Bính Châu (Đoàn Luật sư TP.HCM)

1 Lý do vì Sao ta phải sửa đổi Luật Đầu tư:

Dưới mắt nhà đầu tư , VN ngày càng mất sức hấp dẫn vì nhiều lý do như sau:

- Cơ sở Kinh tế hạ tầng (hệ thống điện nước, đường xá, mội trường, Internet) yếukém

- Các cơ quan công quyền chậm khắc phục khó khăn cho nhà đầu tư, thâm chí cónơi lại cắt xén dự án, hoặc cấp phép quá nhiều dự án trên một khu vực, làm teo tóp lợinhuận và tiêu tan kỳ vọng của nhà đầu tư Cán bộ phục vụ (thuế vụ, môi trường) có khi

ít nhiều gây phiền toái trì trệ và vòi vĩnh, khiến hình ảnh mất đẹp dần thông qua quátrình bắt tay thực sự vào đầu tư

- Những Luật ban hành (dưới Luật đầu tư) quá nhiêu khê, tạo nhiều rắc rối và lựccản, làm nãn lòng nhà đầu tư,

- Chính sách và môi trường pháp lý nặng về hình thức, xa thực tế, không đồng bộ

và không nhất quán ổn định, gây ngỡ ngàng và thất vọng cho nhà đầu tư lỡ mang tiềncủa vào trận đồ bát quái

- Lực lượng Lao động nhiều và trẻ năng động siêng năng nhưng không chuyênmôn, và hay cẩu thả (ẩu), dễ phát sinh tiêu cực trộm cắp (nếu không quản lý tốt) LuậtLao động bảo vệ người công nhân hết sức chặt chẽ khiến nhà đầu tư muốn as thải, phảikhổ sở mất nhiều thời gian tiền bạc

- Có vài cơ quan hoặc doanh nghiệp nhà nước thì chủ trương độc quyền, hết sứclãng phí trong chi tiêu và xây dựng, gây cản ngại đầu tư một cách không thân thiện vàthất thoát tiền của quốc gia, do nhà nước thực sự thiếu hệ thống quản lý hiệu quả, vàngười dân người Lao động thì lại không có trong tay phương tiện phản ánh tố cáo(ngoài việc làm đơn gửi đi các báo đài, nơi này nơi nọ), nên việc tố cáo dễ gặp tìnhtrạng (5C) (con cháu các cụ cả), nước sông không dám đụng nước giếng, dễ bị bưng bítbao che, khó khắc phục

- Đặc biệt chính sách thuế tuy có tiến bộ cởi mở nhưng còn quá nặng nề, khônghấp dẫn, gây thiệt hại nãn lòng cho nhà đầu tư Chúng at chỉ mới trãi thảm đỏ cho nhàđầu tư bằng vẻ bên ngoài hình thức, chưa thuyết phục nhà đầu tư bằng lợi nhuận bảo

Trang 25

đảm, để hấp dẫn nhà đầu tư mạnh dạn bỏ số vốn lớn: mạo hiểm trong kinh doanh vàđược Chính phủ đãi ngộ xứng đáng

- Hệ thống Tòa án và Trọng tài là một vấn đề hết sức hệ trọng đối với nhà đầu tư,chưa nhanh nhạy và hiệu quả, chưa có hệ thống kiểm tra hữu hiệu, còn quá nặng nề vàchậm chạp, khiến nhà đầu tư chưa được yên tâm

- Việc tiếp cận nguồn vốn trong nước hiện nay hết sức khó khăn và nợ xấu ngânhàng tràn LAN, khiến hiện nay, các ngân hàng rất ngại cho các doanh nghiệp trongnước vay

- Số lượng nhà đầu tư ngày càng suy giảm, có nhiều dự án, nhà đầu tư ngại xúctiến tiếp tục vì cầm chắc cái lỗ trong tay

2 Một số ý xin được làm rõ:

- Dĩ nhiên, không phải các cán bộ các cơ quan đều xấu, có rất nhiều cán bộ cơquan được nhà đầu tư quý mến cảm phục do họ đã tận tình giúp đỡ có tư cách và tấmlòng, đã thực sự giúp đỡ nhà đầu tư trong quá trình đầu tư tại VN Trên thực tế, nhiềunhà đầu tư đã thành công và rủ các nhà đầu tư bạn đến VN Nhưng ở đây, thiết nghĩchúng at cần mạnh dạn nêu hết các khuyết điểm để tìm Ra biện pháp tháo gỡ khó khănvướng mắc cho nhà đầu tư Do vậy, theo thiển ý chúng tôi, trước khi lấy ý kiến trìnhQuốc hội, cho ý kiến sửa đổi Luật Đầu tư, chúng at cần tổ chức tổng kết, lấy ý kiến rộngrãi các nhà đầu tư, các doanh nghiệp đang thực tại làm ăn ở VN, để nghe họ trình bàynhững khó khăn vướng mắc, nguyện vọng của họ và ý kiến của họ giúp at thấy đượckhuyết điểm cốt lõi của Luật Đầu tư của chúng at

- Ngoài Ra, chúng tôi cũng xin góp ý là chúng at nên có cách giải quyết đồng bộ,cần sửa đổi Luật Đầu tư trên thực chất, qua phát hiện được những khó khăn vướngmắc của Luật Đầu tư, tạo mội trường pháp lý thuận lợi cho nhà đầu tư, chứ không nênsửa đổi theo kiểu hàn lâm học thuật, o bế đoạn văn và điều luật Sao cho trọn vẹn (nặng

về hình thức) Đó không phải là Tinh thần Pháp luật

- Một dự án Luật thì phải thể hiện cho được cái Tinh thần Pháp luật Tinh thần phápluật không phải là sự áp đặt ý chí của nhà Cầm quyền bắt mọi người dân phải tuântheo Tinh thần pháp luật là Luật pháp đó phải có tính khả thi, phải phục vụ cho nhândân và đất nước, phải phù hợp với đạo lý và nguyện vọng của người dân (của nhà đầutư), phải mang lại lợi ích cho nhân dân (cho nhà đầu tư), lợi ích cho xã hội và phát triểnđất nước Do vậy, Luật Đầu tư sửa đổi, cần phải minh thị việc kêu gọi đầu tư và bảođảm đãi ngộ xứng đáng cho nhà đầu tư, không bỏ lỡ cơ hội canh tân phát triển đấtnước một lần nữa, (trong thời gian qua, nước ta đã mất nhiều cơ hội canh tân đấtnước), góp phần quảng bá đầu tư, thu hút vốn đầu tư, cạnh tranh hiệu quả với cácnước khu vực

3 Một số ý kiến đóng góp:

2 Cần phải có chính sách ưu đãi đầu tư như tăng tỷ lệ khống chế các chi phí (từ 10đến 20 %) trên doanh thu cho nhà đầu tư (thay vì 10 % như hiện nay) vì lý do vật giá leothang, các chi phí đều thực tế đã đội giá rất cao (do lạm phát và chi ngoài luồng) so vớilúc ban đầu cấp phép đầu tư

3 Không nên hạn chế chi phí quảng cáo của doanh nghiệp quá thấp (10-15 %) , vìhai lý do, nó không phù hợp với mặt bằng giá của thế giới, nếu thực hiện quảng cáo ở

VN thì ta đã thu lợi nhuận từ các hợp đồng quảng cáo, việc hạn chế chi phí quảng cáo

Trang 26

chỉ kiến các doanh nghiệp quen thói giả dối khó khăn cho doanh nghiệp (dấu chi phí,phân bổ cho các năm sau).

4 Cần tạo điều kiện để chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài được yên tâmtrong việc bảo đảm an toàn đầu tư, bảo đảm thu hồi vốn quản lý (thuê chuyên viên nướcngoài về kiểm toán, điều hành quản trị) bằng cách cho phép giảm miễn thuế thu nhậpcho các chuyên viên Lý do qua sự làm việc của các chuyên viên nước ngoài dạn dàykinh nghiệm, phía VN có thể học hỏi nâng cao trình độ thay vì phải bỏ tiền đi đào tạo tạinước ngoài (bình quân 40.000 USD/năm)

5 Đối với các dự án đầu tư mà toàn bộ các công trình đầu tư (nhà máy, khách sạn)

sẽ bàn giao cho phía VN sau 10, 20 năm (Bình quân giá trị công trình từ 20-30 triệuUSD/dư án đầu tư) Ta cần phải có chính sách ưu đãi, miễn thuế thu nhập cá nhân nhàđầu tư và giảm ½ thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà đầu tư Vì trên thực tế, có một

số doanh nghiệp nhà nước (thuộc loại phá gia chi tử) có trong tay số vốn lớn (tiền chùa,chứ không phải tiền túi cá nhân ông Giám đốc) mà còn tiếp tục đục khoét ăn vào vốn,phát sinh lỗ dài dài, không hề tạo ra hiệu quả đầu tư nào Do vậy, ta cần trả công đãingộ xứng đáng cho nhà đầu tư dám bỏ tiền của ra, góp phần xây dựng đất nước vàthông qua hoạt động đầu tư: góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, cảithiện hình ảnh VN, đào tạo nhân tài cho VN, góp phần phát triển đất nước

6 Cần có chính sách ưu đãi giảm thuế nhiều hơn cho các chuyên viên, người laođộng VN đang làm việc tại các công ty nước ngoài, phải tạo động lực cho họ cầu tiến,nâng cao trình độ Bình quân một doanh nghiệp nhỏ cũng đào tạo được khoản từ 3-5chuyên viên, doanh nghiệp lớn đào tạo huấn luyện được cả trăm, ngàn chuyên viên Vớiviệc đánh thuế thu nhập cao đối với các chuyên viên, vô tình ta đã triệt tiêu chính sáchđãi ngộ nhân tài cho đất nước và tước của họ quyền phát triển nghề nghiệp, tịch thukinh phí tự đào tạo của nhân tài đất nước

o Một sinh viên đi du học nước ngoài trong 5 năm, bình quân phải chi phí50.000 USD x 5 năm: 250.000 USD Khi về nước làm việc chỉ thu nhập 2.000USD/ tháng, một năm chỉ mới thu hồi được 24.000 USD (không ăn uống) “Đi chibạc chẳn về lượm bạc lẻ”, 10 năm sau, họ mới thu hồi vốn Như vậy, liệu đánhthuế thu nhập từ đồng lương sinh viên du học về, không cần biết số chi phíngười ta đã đều tư cho việc học, có phải là bất hợp lý không?

o Trường hợp các công nhân đi hợp tác lao động nước ngoài cũng thế Ở nướcngoài và thực tế ở trong nước Người công nhân còn phải có những chi tiêu hợp

lý cho cuộc sống ở nước ngoài, ta nên cân nhắc mà giảm trừ thuế thu nhập cánhân của người công nhân lao động hợp tác

o Trường hợp chuyên viên không có đi du học, nhưng làm việc tại các Doanhnghiệp nước ngoài Ta đã quên tÍnh chi phí đầu tư của họ trong nước, và nên tạođiều kiện họ nghiên cứu mua sách vở tài liệu nước ngoài Chính sách Thuế phảinâng cao dân trí và đãi ngộ nhân tài của đất nước

o Việc giảm miễn thuế cho các thành phần đặc biệt như trên, có gây thất thoáttài chính cho ta không? Tôi không cho là có Một chuyên viên cao cấp nướcngoài sống và làm việc ở VN, sẽ là cơ hội bằng vàng cho việc xuất khẩu tại chỗ -thu ngoại tệ tại chỗ Họ sẽ có nhu cầu thuê mua nhà, thuê mua xe, nhu cầu giảitrí du lịch, thuê người giúp việc, thuê công nhân cắt cỏ chăm sóc cây cảnh…Quốc gia sẽ thu từ họ một số tiền không nhỏ Chưa kể, họ sẽ góp phần đào tạo

Trang 27

một số chuyên viên giỏi cho VN mà ta không tốn tiền thuê giáo sư nước ngoàitới dạy, hoặc tốn tiền cử cán bộ đi tu nghiệp Tính ra, ta có lãi hơn tận thu thuế

mà không suy nghĩ kỹ Tương tự như vậy, phấn khởi do thu nhập cao sẽ tạo tâm

lý tiêu xài và góp phần tiêu thụ kích cầu thương mại dịch vụ trong nước

7 Cần ưu đãi miễn giảm thuế kêu gọi các dự án đầu tư nước ngoài như: xây dựng

cơ sở hạ tầng đường xá cầu cống, xây nhà ở xã hội, công nghệ mới, sản xuất điện từrác, công nghệ làm sạch và cải tạo môi trường, giáo dục (đặc biệt là liên kết đào tạo vớicác đại học và cao đẳng nghề của nước ngoài), bệnh viện, các dự án đầu tư nhằm xóa

bỏ độc quyền điện nước xăng dầu, hoặc xây dựng các trạm dừng chân hiện đại trênquốc lộ để nâng cấp quốc gia và giảm thiểu tai nạn giao thông

Góp ý Dự thảo Luật Đầu tư (sửa đổi) của Ông Hoàng Văn Sơn - Thạc sĩ luật học, Trưởng văn phòng luật sư VNC - Hội thảo VCCI (Tp.HCM ngày 11/3/2014)

THAM LUẬN

LẤY Ý KIẾN DOANH NGHIỆP SỬA ĐỔI HOÀN THIỆN LUẬT ĐẦU TƯ

(Tại hội thảo diễn ra ngày 11/3/2014

do VCCI phối hợp với Bộ kế hoạch và Đầu tư tổ chức)

Hoàng Văn Sơn

Thạc sĩ luật học, Trưởng văn phòng luật sư VNC

Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch đang là đòi hỏi cấp bách của nhà nước tahiện trong việc phát triển nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền theo đúngnghĩa của nó, để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tham gia một cách bình đẳng,không phân biệt đối xử, các bên cùng có lợi, đồng thời qua đó cũng phần nào tạo được uy tínquốc gia để thu hút các nguồn vốn đầu tư từ các nhà đầu tư bên ngoài Hoàn thiện Luật đầu tưcũng nhằm đảm bảo các yêu cầu nêu trên, để phản ánh đầy đủ vấn đề còn vướng mắc, gâycản trở cho hoạt động hợp pháp của các nhà đầu tư, đưa ra những kiến nghị mà trong thực tiễnchúng tôi thấy còn những vướng mắc khi thực hiện các thủ tục đầu tư, thủ tục thay đổi trongquá trình hoạt động đầu tư, chúng tôi xin đóng góp một số ý kiến của mình như sau

Trang 28

1 Một số nhận xét về Luật đầu tư 2005 và Dự án sửa đổi luật này

1.1 Luật đầu tư năm 2005

Luật đầu tư 2005 tuy còn nhiều khiếm khuyết, nhưng lần đầu tiên sau 20 năm đổimới nó đã tạo ra cho các nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước một khung pháp lýchung về đầu tư, cùng với đó từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trongtiến trình hội nhập với kinh tế thế giới

Những tồn tại của luật này chủ yếu đó là : Cũng như nhiều văn bản luật khác, luật này vẫn

mang tính chất luật “ống” luật “khung” cần nhiều văn bản hướng dẫn thi hành dẫn đến chồng

chéo lẫn nhau làm cho các nhà đầu tư than phiền, còn cơ quan quản lý lúng túng khi thực hiện.Mặt khác, văn bản pháp luật quy định là một việc, vấn đề áp dụng nó như thế nào lại là việckhác, thực tế cho thấy việc áp dụng pháp luật ở các địa phương cũng khác nhau, thực thi phápluật có lẽ là vấn đề yếu nhất trong hoạt động điều hành của nhà nước ta hiện nay Mặc dù,Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc cải cách thủ tục hành chính, nhưng sự chuyển biếncủa nó vẫn rất chậm chạp, không đáp ứng được đòi hỏi trong công cuộc phát triển đất nướchiện nay

1.2 Về dự án Luật đầu tư 2014

Tại tờ trình về Dự án Luật đầu tư sửa đổi của Bộ kế hoạch và Đầu tư gửi Chính phủ đã nêu

ra sự cần thiết phải sửa đổi luật này, trong đó đã nêu ra những tồn tại của Luật đầu tư 2005 vàmục tiêu định hướng sửa đổi Luật đầu tư có những đột phá mạnh mẽ Tuy nhiên, khi đọc Dự ánLuật đầu tư sửa đổi, chúng tôi thấy rằng ban soạn thảo vẫn chưa khắc phục được những hạnchế của Luật đầu tư 2005 như đã nêu trong tờ trình

Cụ thể là : Dự án luật này vẫn mang tính chất luật khung phải cần nhiều văn bản hướng dẫn thihành (trước mắt theo tờ trình là 3 nghị định hướng dẫn, nhưng chưa biết bao nhiêu thông tư)

Dự án luật cũng chỉ sửa chữa có thể gọi là chắp vá một số điều của Luật đầu tư 2005 nhưng lạigọi với tên mới Luật đầu tư 2014 mà chưa tạo được bước đột phá mạnh mẽ hơn nữa như Tờ

trình đã nêu Hai vấn đề đặc biệt quan trọng là “Thủ tục đầu tư” (thủ tục hành chính) và “Các

biện pháp bảo vệ đầu tư” không có gì thay đổi Chẳng hạn như luật cần nhiều nghị định

hướng dẫn; “Thực hiện đúng các cam kết quốc tế” tại sao chỉ thực hiện đúng mà không có

bước đi nhanh hơn các cam kết đó nếu có lợi cho đất nước, nhà đầu tư…

Trang 29

2 Một số ý kiến đóng góp vào Dự án Luật đầu tư 2014

2.1 Về ý kiến tổng thể :

Một là, đề nghị chi tiết các thủ tục đầu tư vào Dự án luật không để các văn bản hướng dẫn

quy định về thủ tục hành chính, phân loại các thủ tục đầu tư khác nhau thành những yêu cầu tạicác điều luật khác nhau Chẳng hạn : Thủ tục đầu tư đối với các dự án xây dựng hạ tầng giaothông, dự án bất động sản cần những gì tách thành một điều luật; thủ tục đối với nhà đầu tư vềsản xuất hàng hóa như thế nào tách thành một điều luật; thủ tục đối với nhà đầu tư trong lĩnhvực dịch vụ như thế nào; thủ tục đối với dự án về thương mại?… Đây mới là bước đột phá vềminh bạch thủ tục đầu tư, tuy nó hơi dài, nhưng so với tổng thể cả nghị định và thông tư thì vẫngọn gàng hơn, làm cho các nhà đầu tư tin tưởng hơn so với nhiều nghị định và thông tư Nếuchúng ta vẫn cố giữ lại một số quyền để giải quyết các lợi ích của một bộ phận dưới danh nghĩađảm bảo việc quản lý nhà nước thì sửa đổi luật lần này cũng không đạt được mục đích đã đềra

Hai là, tách thủ tục giải quyết tranh chấp thành một chương riêng và cụ thể hơn nữa về việc

chọn hệ thống pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp đối với tranh chấp có nhà đầu tưnước ngoài tham gia Thực tiễn cho thấy, đây là một trong những biện pháp bảo vệ nhà đầu tưhiệu quả nhất, nội dung của chương này có thể bao gồm cả những hành vi vi phạm của nhàđầu tư và cơ quan quản lý sẽ được giải quyết theo thủ tục tư pháp, các biện pháp chế tài cho viphạm này…

Bổ sung phần xử lý việc nhà đầu tư mất tích để tránh thiệt hại lớn hơn, thực tế hiện nay các

cơ quan nhà nước thường lúng túng trong việc giải quyết nhà đầu tư mất tích mà các phương

tiện truyền thông thường gọi là “bỏ trốn” Việc giải quyết này bằng biện pháp tư pháp theo trình

tự tố tụng đặc biệt sẽ thuyết phục hơn, tránh bị kéo dài gây thiệt hại lớn hơn cho các bên, đặcbiệt là người lao động

2.2 Ý kiến cụ thể vào Dự án luật

- Về phạm vi điều chỉnh được quy định tại Điều 1, cần bổ sung thêm “Quyền hạn và trách

nhiệm của cơ quan quản lý trong hoạt động đầu tư”, chứ không quy định chung

chung “quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư” Vì như vậy mới xác định rõ thẩm quyền,

trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực thi pháp luật chứ không quy định chung chungnhư hiện nay, cơ quan nhà nước chỉ thích quyền chứ không muốn chịu trách nhiệm, nên dễ

Trang 30

dẫn đến gây khó khăn cho nhà đầu tư hoặc làm theo ý riêng của mình từ những điều luậtkhông rõ ràng.

- Về giải thích từ ngữ tại khoản 1 Điều 3, “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn để tiến hành

các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và pháp luật có liên quan” Theo chúng

tôi giải thích này là chưa chính xác, nó chẳng khác nào nói “Đầu tư là đầu tư” Cần định nghĩa

rõ ràng hơn như “Đầu tư là hoạt động bỏ vốn, nhân lực vào một lĩnh vực nào đó nhằm tìm

kiếm lợi nhuận theo quy định của pháp luật” hoặc có thể tham khảo từ điển tiếng Việt “Đầu

tư là bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì trên cơ sơ tính toán hiệu quả kinh tế,

xã hội”[1]

Giải thích này là hợp lý vì mục đích của đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận đã được nêu tại Điều 1

của luật này “Luật này quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh” Trong khi đó, Luật doanh nghiệp 2005 tại khoản 2 Điều 4 giải thích “Kinh doanh là việc thực hiện

liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư…nhằm mục đích sinh lợi”, còn đầu tư để giải quyết việc xóa đói, giảm nghèo, giải quyết vấn đề xã hội được quy

định ở văn bản pháp luật khác

- Về quy định tại khoản 5 của Điều 3 cũng tương tự “Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ

vốn để đầu tư theo quy định tại luật này” Đề nghị sửa lại là “Hoạt động đầu tư là việc bỏ vốn, nhân lực vào lĩnh vực nào đó nhằm tìm kiếm lợi nhuận theo quy định của luật này” Hoặc như định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 nêu trên.

- Về quy định tại Điều 5 của Dự án luật “Vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư

không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính” Cần bổ sung

thêm “Nhà nước bảo hộ vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị tổ

chức, cá nhân khác xâm phạm trái pháp luật”.

- Về quy định tại Điều 11 Giải quyết tranh chấp giữa cơ quan nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài Như chúng tôi đã kiến nghị tại phần chung, chế định này cần được tách thành

một chương riêng bao gồm cả các hành vi lạm quyền của nhà quản lý phải được giải quyếtbằng thủ tục tư pháp, cả trong trường hợp thu hồi dự án của nhà đầu tư

Đối với nhà đầu tư nước ngoài có thể chọn hệ thống luật áp dụng và cơ quan giải quyếttranh chấp, phải ghi rõ ràng, cụ thể hơn nữa trong thủ tục giải quyết tranh chấp và trách nhiệmbồi thường thiệt hại của các bên Trong trường hợp tranh chấp nhiều bên có cả nhà đầu tư

Trang 31

nước ngoài, cơ quan quản lý và nhà đầu tư trong nước thì việc chọn luật áp dụng, cơ quan giảiquyết tranh chấp phải rõ ràng, để hạn chế việc kéo dài thời gian gây thiệt hại cho các bên Cơquan giải quyết tranh chấp sẽ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để tránh thiệt hại lớn hơn,thay vì một số việc giải quyết bằng thủ tục hành chính như hiện nay.

Việc giải quyết bằng thủ tục tư pháp cũng phải được giải quyết đối với nhà đầu tư mất tích

mà các phương tiện truyền thông thường gọi là bỏ trốn như hiện nay Khi giải quyết nhữngtrường hợp này, cơ quan tư pháp sẽ áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời như bán tài sản

dễ hư hỏng, bảo trì máy móc thiết bị… để hạn chế các thiệt hại về tài sản, đặc biệt là đối vớingười lao động, họ sẽ có cơ hội tìm việc khác sớm hơn thay vì chỉ chờ đợi như hiện nay, các

cơ quan giải quyết theo thủ tục hành chính thường lúng túng, đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhaudẫn đến kéo dài thời gian mà không thuyết phục được nhà đầu tư

- Về quy định ban hành danh mục đầu tư có điều kiện và cấm đầu tư tại khoản 2, 3 Điều

26 Khoản 2 quy định“Căn cứ pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên,

Bộ, cơ quan ngang Bộ công bố lĩnh vực cấm đầu tư và điều kiện đầu tư trong các lĩnh vực quy định tại Điều 24, 25 Luật này, gồm căn cứ áp dụng, đối tượng, phạm vi áp dụng

và nội dung điều kiện đầu tư cụ thể áp dụng đối với từng lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước” Khoản 3 quy định “Các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không được ban hành quy định lĩnh vực cấm đầu tư, lĩnh vực đầu tư có điều kiện và các ưu đãi đầu tư vượt khung quy định của pháp luật”.

Hai khoản này mâu thuẫn với nhau, khoản 2 thì quy định các bộ, cơ quan ngang bộ công bốlĩnh vực cấm đầu tư và đầu tư có điều kiện, nhưng khoản 3 lại quy định các bộ, cơ quan ngang

bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không được ban hành quy định lĩnhvực cấm đầu tư và đầu tư có điều kiện

Theo chúng tôi không nên giao thẩm quyền quy định lĩnh vực cấm đầu tư và đầu tư có điềukiện cho bộ, cơ quan ngang bộ, mà giao Chính phủ quy định vấn đề này, tiến tới thẩm quyềngiao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Quy định thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư tại Điều 33, đề nghị quy định một thủ tục chung là

khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng kí đầu tư hoặc hợp đồng hợp tác đầu tư, cơ quancấp giấy chứng nhận đăng kí đầu tư và nhà đầu tư xác định mức độ ưu đãi theo đúng pháp luật

để ghi vào giấy chứng nhận, chứ không để nhà đầu tư tự xác định ưu đãi sẽ phát sinh tranhchấp về sau với cơ quan thuế Vì pháp luật của chúng ta thường chồng chéo, mâu thuẫn làmthiệt hại cho nhà đầu tư hoặc nhà nước

Ngày đăng: 11/10/2021, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w