1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Xa hoi dan su nhung khai niem co ban

21 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 57,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn xã hội phát triển theo góc độ lịch sử phát triển của loài người thì ở thời kỳ đồ đá cũ khoảng 200.000 năm, tổ tiên của con người đã biết sử dụng công cụ đơn giản đểsăn bắn, hai lượm

Trang 1

XÃ HỘI DÂN SỰ NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN -

I XÃ HỘI DÂN SỰ- LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ KHÁI NIỆM

I.1 Sơ lược lịch sử phát triển xã hội nói chung và xã hội dân sự:

a Sự phát triển của xã hội: Một hình thức vận động đặc biệt:

- Mọi sự vật và hiện tượng luôn vận động không ngừng Vận động là tuyệt đối.

Đứng yên chỉ là tạm thời; đó là quy luật chung nhất không thể phủ định Từ thế giới vi

mô trong cấu trúc nhỏ nhất ở dạng hạt, dạng sóng, trường đến thế giới vĩ mô là các thiên

hà trong vũ trụ bao la đều đang vận động Xã hội loài người cũng vậy, xét cho cùng cũng

là một phần của tự nhiên, đã được hình thành với một nguồn gốc xa xưa hàng triệu nămgắn với sự hình thành nguồn gốc loài người Phải có con người mới có xã hội Nói cáchkhác, xã hội ở đây là xã hội loài người Như Mác nói: "Xã hội - cho dù nó có hình thức

gì đi nữa - là cái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người"[1]

- Xã hội là một sản phẩm đặc biệt của tự nhiên với hình thái vận động cao nhất(vận động xã hội)[2] Xã hội loài người có quá trình phát triển hàng triệu năm nhưngkhái quát lại cũng chỉ qua 4 nấc thang cơ bản xét theo sự phát triển của hình thái kinh tế

xã hội:

+ Thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ

+ Thời kỳ chiếm hữu nô lệ

+ Thời kỳ phong kiến

+ Thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa

Cho đến thời hiện đại, nếu tính từ cuối thế kỷ XIX trở lại đây, như Mác vàĂngghen dự báo thì loài người đã bước vào thời kỳ phát triển thứ 5 là thời kỳ của chủnghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội Đến Lênin, vận dụng vàohoàn cảnh nước Nga mới, ông cho rằng cần có một thời kỳ quá độ đi lên CNXH Gắnvới các thời kỳ phát triển hàng ngàn vạn năm ấy là các phương thức sản xuất nhất định,

mỗi phương thức sản xuất ấy là một trình độ phát triển có độ dài thời gian ngắn dần như

là một quy luật:

Nếu thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ kéo dài hàng chục vạn năm thậm chí hàng triệunăm tính từ thời mông muội hoang sơ… thì đến thời chiếm hữu nô lệ cũng chỉ còn vàivạn năm, đến thời kỳ phong kiến cũng chỉ vài ngàn năm Bước sang thời kỳ phát triểncủa TBCN cũng chỉ có vài trăm năm trở lại đây Còn về CNXH hiện thực của nó chưađầy 1 trăm năm (70 năm có lẻ) đã sụp đổ một mảng lớn ở Châu Âu và ở ngay cái nôi rađời của CNXH Chủ nghĩa xã hội đang ở thoái trào với sự tồn tại của vài quốc gia vớinhững màu sắc khác nhau trong đổi mới, cải cách mở cửa, hội nhập…

Trang 2

Nhưng dù có phát triển, tồn tại, hưng thịnh, sụp đổ làm lại, đổi mới… thì xã hộiloài người vẫn là một hiện tượng, một sự vật đặc biệt nhất của quá trình tiến hoá Đó làquá trình tiến hoá có biến hoá với đủ các dạng đồng hoá, dị hoá, biệt hoá… Theo nấc

thang cao hơn và có tốc độ nhanh dần đều.

Từ cá nhân đơn lẻ sống theo bầy đàn biết tập hợp thành những bộ tộc, thị tộc, bộlạc và hình thành Nhà nước với các kiểu, hình thức cao hơn, hoàn thiện hơn: Từ Nhànước công xã đơn sơ đến Nhà nước phong kiến tập quyền rồi nhà nước quân chủ chuyênchế sang Nhà nước dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa… Mỗi Nhà nước có mộthình thức chính thể nhất định Các hình thức chính thể khác nhau là cách thức, trình tựlập ra cơ quan quyền lực nhà nước tối cao của mỗi quốc gia khác nhau nhưng phổ biếnhơn cả, khái quát lại có hai hình thức chủ yếu: Nhà nước quân chủ và Nhà nước cộnghoà Từ các hình thức này các nhà nước được gọi bằng các tên hác nhau với loại hình:quân chủ chuyên chế, quân chủ lập hiến (quyền lực không tập trung vào nhà vua mà chiađều cho một nhóm người do dân bầu gọi là Quốc hội hay Nghị viện) hoặc là hình thứccộng hoà quý tộc và công hoà dân chủ [3] …

Nhìn xã hội phát triển theo góc độ lịch sử phát triển của loài người thì ở thời kỳ đồ

đá cũ khoảng 200.000 năm, tổ tiên của con người đã biết sử dụng công cụ đơn giản đểsăn bắn, hai lượm và lúc đó ngôn ngữ cũng bắt đầu phát triển để thông tin trao đổi kinh

nghiệm, chống chọi với thiên nhiên hàng vạn năm để bước sang thời kỳ đồ đá mới khoảng Thiên niên kỷ thứ 9TCN mới hình thành nghề nông, con người biết trồng

trọt, tổ chức xã hội loài người có liên kết chặt chẽ hơn với sự phân công lao động hợp lývăn minh hơn, điển hình là người Sumer vào khoảng Thiên niên kỷ IV TCN chuyển từcông xã nguyên thuỷ sang xã hội có giai cấp Đồng và sắt đã thay thế đá để trở thànhcông cụ trong chiến tranh và trong nông nghiệp trồng trọt "Ở Châu Á các công cụ đồng

đỏ và đồng thau những đồ trang trí và vũ khí bắt đầu trở nên dồi dào vào khoảng 3.000năm TCN"[4]

Hình thành giai cấp phân biệt nô lệ và chủ nô, các chủ nô định ra các quy tắc cai trị,người nô lệ trở thành kẻ bị trị, quyền lợi được phép làm gì, phải tuân thủ các quy địnhcủa chủ nô… Đó là mầm mống đầu tiên của luật pháp và là cơ sở hình thành nhà nước ởthời kỳ sơ khai nhất gọi là các thị tộc và công xã

b Sự hình thành nhà nước - một hình thức tổ chức cao của xã hội loài người:

Vào cuối thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, các thị tộc bước vào quá trình tan rã do xãhội phân hoá giàu nghèo, một bộ phận tích trữ nhiều của cải đi bóc lột những kẻ nghèokhó biến xã hội thành 2 giai cấp đối lập là chủ nô và nô lệ Các chủ nô đã tập hợp thànhlực lượng thống trị với quyền lực nhất định, ở từng lãnh thổ nhất định với sự phân bổ dân

cư nhất định, bộ máy điều hành xuất hiện và đó là mầm mống đầu tiên về sự hình thànhnhà nước - một hình thức tổ chức cao hơn thị tộc, công xã

Ở phương Đông nhà nước đầu tiên đáng nói đến là nhà nước Ai Cập cổ đại xuấthiện vào thời kỳ cổ vương quốc TK XXVIII TCN tức là cách đây khoảng hơn 5000năm

Còn ở Trung Quốc mặc dù con người xuất hiện từ rất lâu vào khoảng 600.000 nămtrước đây Người vượn Bắc kinh với bộ xương hoá thạch tại Chu Khẩu điếm ngoại thànhBắc Kinh nhưng nhà nước cũng xuất hiện vào khoảng 5000 năm nay ở Thiên niên kỷ III

Trang 3

TCN, nhà nước Trung Quốc cổ đại đầu tiên người ta nói đến là nhà Hạ sau đó mới là nhàThương, nhà Chu…

Bộ máy nhà nước cổ đại phương Đông đứng đầu là các vua Pharaon (ở Ai Cập) hay

là Thiên tử (ở Trung Quốc)

Nhà nước Ấn Độ cổ đại xuất hiện muộn hơn vào khoảng cuối Thiên niên kỷ II TCN,tức là cách đây 4000 năm ở lưu vực sông Ấn phía Bắc Ấn Độ ngày nay Người đứng đầunhà nước được gọi là Vua, được luật hoá (Luật Maxu cổ đại của Ấn Độ) coi vua như thầnthánh do trời tạo ra, có quyền lực tối cao để cai trị và che chở cho toàn dân

Ở Việt Nam, nhà nước đầu tiên xuất hiện ở phía Bắc thuộc lưu vực sông Hồng vàokhoảng cuối Thiên niên kỷ III TCN tức là cách đây khoảng hơn 1000 năm gọi là Nhànước Văn Lang Có tài liệu nói 4000 năm từ thời vua Hùng dựng nước với 18 đời tựxưng là Vua gọi là Hùng Vương, nhiều đời sau nối truyền danh hiệu này [5] Tuy nhiên,thời gian đó có thể chỉ là huyền sử nói lên một thời xa xưa "khó xác định được chính xác

về niên đại" Theo Việt sử lược đời Trần thì Văn lang bắt đầu tồn tại từ thế kỷ VIII TCN,tương đương với thời Trang Vương nhà Chu của Trung Quốc [6]

Ở phương Tây, nhà nước sớm nhất điển hình nhất là nhà nước Hy Lạp cổ đại và La

Mã cổ đại, các nhà nước này đều xuất hiện vào thời kỳ đầu Thiên niên kỷ II TCN tức làcách đây khoảng 4000 năm Các hình thức nhà nước phương Tây phát triển phong phú,

đa dạng hơn phương Đông với kiểu cộng hoà quý tộc như chính thể của nhà nước Xpac

có Hội đồng trưởng lão gồm 28 vị và 2 vua

I.2-Xã hội dân sự - lịch sử vấn đề và khái niệm:

Một cách nhìn tổng quát xã hội dân sự (XHDS) là khu vực hình thành tự phát từnhững nhóm, cộng đồng người có chung lợi ích nhu cầu, sở thích, giới tính, chính kiến,nghề nghiệp… Do đó XHDS có lịch sử từ xa xưa khi con người biết tụ tập kết nối kiểuphường hội, nguồn gốc, khởi thuỷ của xã hội dân sự có nhiều ý kiến khác nhau Có ýkiến cho rằng từ thời nô lệ, từ khi có nhà nước là đã có sự hình thành nhóm đối tác hoặcđối trọngdù là tự phát manh mún, cũng có ý kiến cho rằng XHDS chỉ hình thành thời kỳphong kiến 5000 - 7000 năm kiểu gia tộc, liên gia phường hội buôn bán hoặc giao lưuvăn hoá hội hè [7]

Người ta nói nhiều đến XHDS trong thời gian gần đây là sản phẩm thời kỳ pháttriển TBCN với các quan hệ dân sự như là một đối tác, đối trọng với nhà nước phápquyền (NNPQ) xã hội dân sự được hiểu ban đầu là đồng nhất với xã hội công dân Vì từnguồn gốc tiếng Pháp là société civile, tiếng Nga là Grazdanskoe obchtsestvo, tiếng Anh

là civil society do đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Trong quá trình dịch chuyểnngôn ngữ có người dùng là XHDS có người hiểu là xã hội công dân

Khái niệm xã hội công dân (XHCD) thường được hiểu là một chính thể, quốc giađược hình thành từ nhiều loại công dân thường dân, chính dân, thứ dân, giáo dân, lươngdân hoặc dị dân, kiều dân v.v… Khái niệm XHCD được hiểu một cách khác là để phânbiệt với xã hội thần dân (civil people) Như vậy XHCD nghiêng về cấu trúc (structure)kết cấu trong hệ thống xã hội còn XHDS thì được hiểu thêm cả chức năng (function) vàmối quan hệ trong hệ thống

“Xã hội dân sự ở đây được hiểu là một mảng của đời sống xã hội có tổ chức, mangtính tự nguyện, tự tái tạo, (hầu như) tự tài trợ, độc lập với nhà nước, và gắn bó với nhau

Trang 4

bằng một trật tự pháp lý hay một số nguyên tắc chung Xã hội dân sự là một xã hội mà ở

đó người dân biết tự lo lấy cho mình rất nhiều chuyện, biết tự tổ chức lại để phát huynăng lực sáng tạo, hiện thực hoá các ý tưởng và để tương tác với nhà nước nhằm đạt tớimột nền quản trị quốc gia minh bạch, hiệu quả và có trách nhiệm” [8]

Tuy nhiên, cả lịch sử vấn đề cũng như quan niệm về XHCD, XHDS còn có rấtnhiều sự kiến giải khác nhau

Về lịch sử, có người cho rằng XHCD hay là XHDX được Aristote dùng từ thời cổ

Hy Lạp xa xưa, nhưng đến thế kỷ I TCN thì được Ciceron nói đến theo tiếng Latinh:Civilic societias Thuật ngữ “XHDS” lần đầu tiên xuất hiện ở Châu Âu vào khoảng năm

1400 Trong nghĩa ban đầu, XHDS cùng nghĩa với XHCD sự thành và phát triển củađánh dấu một bước tiến trog cách tổ chức xã hội, bao gồm các thiết chế công quyền, cáccông dân, các luật lệ và các quy tắc nhà nước của đời sống xã hội [9]

II NHẬN THỨC VỀ XHDS VÀ CÁC YẾU TỐ, KẾT CẤU CỦA XHDS

II.1-Những nhận thức hạn hẹp phiến diện về XHDS:

Nhận thức về XHDS là vấn đề mang tính thời sự "nóng" nhưng cũng lại là vấn đề

cơ bản Hơn thế nữa, đây cũng là vấn đề rất “nhạy cảm”, có thời kỳ sách báo e ngại, có

đề tài khoa học băn khoăn, phân vân không biết dùng khái niệm gì thay cho thực thể các

tổ chức đang hình thành những nhân tố có thực của một xã hội dân sự … XHDS bị

“khoanh lại” Nói như vậy để thấy rằng nhận thức về XHDS ở Việt Nam nói riêng và ởcác nước XHCN nói chung là một nội dung mới, mới về lý luận, khái niệm, phạm trù lẫnđịnh dạng “chân dung” của XHDS trong thực tiễn Một kiểu tư duy quá cũ, xa xưa chorằng XHDS là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản (CNTB) thậm chí có quan niệm “sợ hãi”trước XHDS, coi XHDS là “sân sau” của diễn biến hoà bình chắc chắn sẽ dẫn đến cáchmạng sắc màu lật đổ Nhà nước Không ít lời lẽ ở diễn đàn chính trị và cả khoa học, lýluận tô vẽ XHDS như một kẻ thù mới với Nhà nước đối kháng, ấu trĩ hơn, có quan chứccho rằng các tổ chức phi Chính phủ (NGO) - một nhân tố hợp thành của XHDS - làXHDS, là vô chính phủ, là đối lập với chính phủ… vì các tổ chức này không phải củaNhà nước, có liên quan với NGO nước ngoài…

Ngược lại, gần như là một “phản ứng” tự nhiên trước sự ấu trĩ như trên về nhậnthức đối với XHDS, có một số ý kiến đã nhấn mạnh một chiều ý nghĩa tích cực củaXHDS, từ đó dẫn đến nhận thức cho rằng XHDS là “cứu cánh” của các giải pháp đã thấtbại từ phía nhà nước hoặc kinh tế thị trường, không hoàn toàn nhưng XHDS sẽ là mộtphần của “cấu trúc đầy đủ với Nhà nước hiện đại và kinh tế thị trường, nó như chiếckiềng 3 chân của sự phát triển” Trong bối cảnh XHDS chưa được coi trọng, quá nhấnmạnh vai trò Nhà nước thậm chí phủ định XHDS, “sợ XHDS” thì đó là nhận thức lệchlạc cần nhận thức lại về vai trò của XHDS Đến nay chúng ta có điều kiện để nghiên cứutìm hiểu để thấy rõ hơn nhiều nội dung của XHDS Đặc biệt cần thấy rõ mối quan hệbiện chứng giữa Nhà nước pháp quyền (NNPQ) và XHDS, ở một trình độ phát triển nào

đó của NNPQ thì có một XHDS tương ứng Thực tế cho thấy Nhà nước xuất hiện từ cáchđây khoảng 6000 năm nhưng xã hội dân sự mới được định danh khoảng vài trăm năm gần

Trang 5

đây, những ý tưởng khởi thuỷ nguyên sơ của XHDS sớm nhất cũng chỉ có khoảng 2000năm từ thời Ciceron còn thuật ngữ XHDS xuất hiện ở Châu Âu khoảng thế kỷ XV nhưng

có rất nhiều sự hiểu biết đánh giá khác nhau về XHDS Thực ra cho đến vài chục năm gầnđây hoặc xa hơn một chút thì từ nửa cuối thế kỷ Xĩ đến nay khái niệm XHDS và vấn đềcủa XHDS mới được bàn đến nhiều và càng bàn luận thì người ta càng thấy có nhiều ýkiến khác nhau, có lẽ đây là một xu hướng

Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam còn nhiều ngộ nhận hoặc đơn giản quy kết,đồng nhất XHDS dẫn đến hiện tượng chính trị hoá một cách siêu cường về XHDS, làm

xơ cứng tư duy, chỉ thấy mặt trái khi XHDS bị lợi dụng Thí dụ: XHDS được coi là đối tác độc lập, đối trọng với Nhà nước thì bị hiểu sai là đối kháng, đối lập chống lại Nhà

nước… mà chống lại Nhà nước tức là phản động, cần “cảnh giác” tiêu diệt là phươnghướng ứng xử cơ bản với XHDS, đó là suy diễn sai lầm, phiến diện, chủ quan

Do đó, từ các sự khác biệt trên đây chúng tôi cho rằng trước hết phải đi từ kháiniệm, tìm lấy cái chung của sự vật và hiện tượng để làm căn cứ định danh cho rõ rànghơn về XHDS, ít nhất là có được những đặc trưng chung nhất của XHDS Trên cơ sởkhung lý thuyết ấy, chúng ta có điều kiện đối chiếu với thực tiễn ở Việt Nam Vấn đề nêulên trong khuôn khổ này cũng chỉ là bước đầu góp phần tìm hiểu về một sự vật và hiệntượng mới nhưng lại luôn động và đa dạng

II.2- Khái niệm XHDS và các cách hiểu khác nhau:

Không thể xác định cấu trúc của XHDS gồm các bộ phận nhân tố nào nếukhông làm rõ nội hàm của khái niệm XHDS, mặc dù là tương đối với các cách tiếpcận khác nhau

- Từ góc độ đối xứng tương tác, người ta cho rằng XHDS là tổ chức ngoài nhànước, bên cạnh nhà nước, không thuộc nhà nước

- Từ góc độ xác định chủ thể của sự vật, hiện tượng thì XHDS là thuộc về cộngđồng, nhân dân, quần chúng

- Theo tổ chức NGO quốc tế "Liên minh thế giới vì sự tham gia của công dân"

(CIVICUS) thì XHDS là Diễn đàn giữa gia đình, Nhà nước và thị trường, nơi mà mọi

người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung [10]

- Đồng nhất khái niệm XHDS với xã hội công dân (XHCD) có tác giả căn cứvào tiếng Anh: Civil Society cho rằng: XHCD bao gồm tất cả các hoạt động có tínhcách tổ chức, vượt trên phạm vi cá nhân hoặc gia đình nhưng không năm trong hệthống chính quyền[11]

- Từ góc độ giáo trình một bài giảng về XHDS có tác giả cho rằng XHDS là lĩnhvực của công chúng hay lĩnh vực thứ ba bao gồm các tổ chức, nhóm hội, mạng lưới đượcnhân dân thiết lập lên, các tổ chức này mang tính tự nguyện của người dân tồn tại độc lậpvới Nhà nước (có tính phi chính phủ), đồng thời có tính phi lợi nhuận tự chủ tài chính,lấy từ nhiều nguồn khác nhau chủ yếu từ ngoài ngân sách của Nhà nước [12]

Từ góc độ triết học và chính trị học, có tác giả cho rằng "trong nghĩa ban đầu của

nó, XHDS đồng nhất với xã hội công dân nhưng ít lâu sau, và cho đến nay thì đó là 2khái niệm, hai thực tiễn khác hẳn nhau (tuy ở ta vẫn có sự nhầm lẫn giữa XHDS vàXHCD…) dân dần ý nghĩa và nội dung khái niệm XHDS biến chuyển và biến chuyểnquan trọng nhất là XHDS tách khỏi XHCD Người có công tách biệt XHDS với nhà

Trang 6

nước là Hegel, thời gian đầu thế kỷ XIX, trong tác phẩm "Triết học pháp quyền"…

Sau đó là Mác vạch rõ chính nhà nước phải phục vụ XHDS Nửa cuối thế kỷ XIXtrở đi cho mãi đến ngày nay Khái niệm XHDS có nghĩa là những thu xếp, những thoảthuận, những quan hệ, những hoạt động ngoài Nhà nước, theo một khung pháp luật tạothuận lợi nhiều hơn kiểm soát [13]

Mặc dù còn có sự khác nhau nhiều về khái niệm của XHDS nhưng khái quát lại,XHDS có các đặc trưng cơ bản sau:

- Là tổ chức ở ngoài Nhà nước, là đối tác với Nhà nước

- Hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện (có tổ chức)

- Tự chủ, độc lập về tài chính (tự trang trải)

- Quy mô, hình thức tồn tại, các thiết chế tổ chức cũng rất đa dạng

- Mục tiêu chung là vì sự phát triển của cộng đồng, phần lớn là tổ chức không vì lợinhuận (non profit)

II.3- Các bộ phận, nhân tố hợp thành XHDS:

Cả về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn, đây cũng là vấn đề có nhiều ý kiến rấtkhác nhau, bởi vì XHDS là hiện tượng mới với chúng ra đồng thời cũng là do điều kiệnlịch sử, nhận thức luôn luôn là một quá trình Mọi sự vật và hiện tượng phải được nhậnthức nó trong quá trình vận động phát triển Hiện tượng Nhà nước có lịch sử phát triển

6000 năm nhưng Nhà nước pháp quyền cũng chỉ xuất hiện vài trăm năm gần đây trên cơ

sở hình thái KT - XH - của CNTB phát triển Tương tự như vậy, kinh tế thị trường cũng

là giai đoạn sau của một gia đoạn lịch sử rất dài của nền sản xuất tự cung tự cấp thờiphong kiến và so với kinh tế hái lượm thời cộng sản nguyên thuỷ thì khoảng cách đó lại

là quá xa tới hàng chục ngàn năm Xã hội dân sự cũng vậy, từ những cá nhân tập hợpthành những cộng đồng, nhóm người sống thành từng bộ tộc, bộ lạc riêng lẻ, chưa cóNhà nước thì cũng chưa có XHDS Cho tới 2 thế kỷ gần đây thì mới xuất hiện nhiều tổchức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, người ta mới bắt đầu phân biệt xã hội thầndân với xã hội công dân, xã hội dân sự với xã hội quân sự, xã hội dân chủ với xã hộiquân chủ, xã hội thần quyền với xã hội dân quyền v.v…

Một cách khái quất không thể phủ nhận được với XHDS đó là một bước tiến củaloài người trong tổ chức của cộng đồng bên cạnh sự tiến bộ của các thiết chế Nhà nướcngày càng hợp lý (Nhà nước từ cai trị sang phục vụ, Nhà nước của dân, do dân, vìdân…) thì xã hội cũng hình thành một loại các thiết chế xã hội đa dạng phong phú hợpvới xu thế phát triển mà các lý luận về CNXH của Chủ nghĩa Mác đã nói: Nhà nước sẽnhỏ đi và xã hội sẽ lớn lên Vai trò của tự quản trong cộng đồng mạnh lên là một chặngđường thăng tiến đáng kể của nhân loại Vai trò tự quản ấy chính là nằm ở các tổ chức xãhội với các thiết chế riêng bên cạnh thiết chế Nhà nước đó là các nhân tố bộ phận hợpthành XHDS

Có thể kể các bộ phận, nhân tố của XHDS gồm có:

a/ Các tổ chức xã hội có tính đại diện giới, ở Việt Nam còn gọi là các tổ chức quầnchúng hay là các tổ chức chính trị xã hội (Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ, HộiCựu chiến binh, Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội người cao tuổi…)

b/ Các tổ chức xã hội có tính đại diện nghề nghiệp, ngành, lĩnh vực (các Hội vàLiên hiệp Hội thuộc các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, văn hoạ nghệ thuật, các Hội nghề

Trang 7

nghiệp…) Ở Việt Nam thường gọi là các tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp hay làcác tổ chức xã hội nghề nghiệp.

c/ Các tổ chức phi chính phủ NGO (Non - Govermantal - Organization) đây là thuậtngữ do (WB) Ngân hàng thế giới đưa ra, được Liên hợp quốc và nhiều nước sửdụng [14]

Các tổ chức NGO rất phong phú, có quy mô ở toàn cầu có nhiều cách gọi khácnhau của NGO Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì NGO có người cho rằng làdùng sai vì nó hàm ý bất cứ cái gì “không phải là phi chính phủ” đều là NGO, thực ranhiều NGO hoạt động lấy nguồn tài chính tự sự tình nguyện của tự nhân nên nhiều NGOngày nay thích dùng từ Tổ chức tình nguyện tư nhân: Private Vontary Organization(PVO)

Ở Mỹ gọi là tổ chức phi lợi nhuận NPO hay là tổ chức được miễn thuế Eos, ở Phápgọi là các tổ chức kinh tế xã hội (ESO)… Tuy nhiên cũng có một số loại tổ chức phichính phủ không phải là hiệp hội nằm trong XHDS: Tổ chức hoạt động vì lợi nhuận,được Nhà nước lập ra, các Đảng chính trị, công đoàn [15]

d/ Các phương tiện truyền thông đại chúng ngoài Nhà nước, các nhà xuất bản, cácđài, báo… kể cả của tư nhân và các nhóm không chính thức Người ta thường gọi làquyền lực thứ tư bên cạnh 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

đ/ Các tổ chức từ thiện của tôn giáo và tổ chức tín ngưỡng Có nhiều tổ chức dùngngân sách của Tôn giáo và các tài trợ tư nhân thành lập các quỹ từ thiện, nhân đạo

Bàn về “Vốn xã hội và phát triển” có ý kiến cho rằng “Cần xác định các đoàn thểquần chúng là một định chế nằm trong XHDS, bên cạnh những định chế khácnhư trường, giáo hội, truyền thông báo chí” [16]

e/ Các pháp nhân cá nhân và mối quan hệ liên cá nhân thành các nhóm nhỏ xã hộikhông chính thức Theo nhà nghiên cứu Việt Phương, ông cho rằng "phần cá nhân từngngười là 1 phạm trù và một thực tế riêng rất quan trọng không nằm trong XHDS chỉ cóthành quả và những hr của các nhân đó mới thuộc về XHDS"

g/ Các tổ chức NGO quốc tế Hiện nay có khoảng 200 NGO có tính toàn cầu lớnnhất hoạt động ở rất nhiều nước, với ảnh hưởng quan trọng Ở quy mô lioên quốc gia vàtoàn cầu rộng hơn có khoảng 60.000 tổ chức NGO Tại Việt Nam hiện nay có khoảnghơn 530 các NGO quốc tế hoạt động (với 150 NGO có văn phòng - Theo danh bạ NGOquốc tế 2003-2005 Payne 2004)[17]

Các NGO quốc tế này có thuộc các nhân tố XHDS ở Việt Nam không? Vấn đềquản lý Nhà nước, vấn đề người Việt Nam trực tiếp tham gia hoạt động… cần được làm

rõ hơn và cần có luật khung (luật về Hội) sớm được ban hành để tạo hàng lang choXHDS hoạt động

Có thể còn có một số bộ phận, nhân tố khác cũng như sự sắp xếp các nhóm tổ chứcmột cách khác nhau về cấu trúc của XHDS, đây chưa phải là một thống kê đầy đủ cuối

Trang 8

cùng và càng không phải là một thống kê hợp lý, chỉ là một loại ý kiến đưa ra để cùngbàn luận Theo Dự án "Đánh giá ban đầu về XHDS tại Việt Nam của VIDS (triển khai2005) có 7 nhóm chính đề xác định khái quát về XHDS ở Việt Nam.

- Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức quần chúng trực thuộc

- Các tổ chức liên hiệp thuộc MTTQ

là một khó khăn, vướng mắc nhiều nhất

Trước hết cần làm rõ hơn những mặt tích cực, những hạn chế của XHDS trong quátrình phát triển Nói một cách khác cần khẳng định vai trò của XHDS những tác độngthuận chiều cũng như tồn tại, khiếm khuyết của XHDS trong lịch sử và xu hướng pháttriển hiện nay

Về mặt lý luận, chúng ta có cơ sở khẳng định vai trò thiết yếu của XHDS mà thờiban đầu của nó theo C.Mác đã từng nói trong tác phẩm: "Góp phê phán triết học phápquyền của Hêghen": "Nhà nước chính trị không thể tồn tại nếu không có cơ sở tự nhiên

là gia đình và cơ sở nhân tạo là XHCD Chúng là conditio sine qua non (điều kiện cầnthiết) của Nhà nước [18]

Gần đây, trong những năm 90 thế kỷ XX tổ chức Phát triển Quốc tế Thuỵ Điển(SIDA) đã công bố tài liệu nghiên cứu vai trò mới của Nhà nước hiện đại của các quốcgia đang phát triển SIDA khẳng định: "Thập kỷ vừa qua là một thập kỷ của những điềuchỉnh cơ cấu và những biến đổi chính trị sâu sắc… ít ai phản đối ý kiến cho rằng, ở đại

đa số các nước đang phát triển trong những thập kỷ đầu sau khi giành độc lập Nhà nướcđược giao một vai trò rộng lớn quá mức bình thường, không có lợi cho thị trường khuvực tư nhân và XHDS[19]

II.4- Mối quan hệ giữa XHDS-NNPQ và Kinh tế thị trường:

Như cách diễn đạt của Triết học: Mọi sự vật và hiện tượng đều vận động, phần mởđầu cũng đã đề cập - Xã hội dân sự, NNPQ và kinh tế thị trường dang vận động theonhững cách thức đặc trưng của mình, tương tự như các vật thể trong vũ trụ, chúng có quỹđạo riêng và tốc độ khác nhau ở những toạ độ khác nhau - Nói cách khác, XHDS, NNPQ

và kinh tế thị trường (KTTT) là những tiểu hệ thốngcó tính độc lập tương đối của nó để

vận động, tồn tại và phát triển

Nhà nước pháp quyền ngày càng được hoàn thiện hơn với các thiết chế của cơ quanquyền lực, kinh tế thị trường sẽ ngày càng hoàn hảo hơn với sự giao thoa của các nềnkinh tế trong bối cảnh hội nhập, còn XHDS sẽ ngày càng được khẳng định rõ ràng hơn

về vai trò, vị trí của nó trong hệ thống Tuy không chặt chẽ như luật pháp của NNPQhoặc không nghiêm ngặt như quy luật của thương trường trong KINH TÕ nhưng sức

Trang 9

mạnh của XHDS cũng không kém phần "nặng ký" với hoạt động theo sự ràng buộc củacộng đồng XHDS có các quy tắc, tín ước điều lệ, không loại trừ cả quyền lực thứ tư nữa(dư luận, báo chí, truyền thông).

Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là XHDS, NNPQ và KTTT tuyệt đối khácnhau, triệt tiêu lẫn nhau như quan niệm phiến diện cực đoan Tính độc lập tương đối củacác tiểu hệ thống là điều hiển nhiên vì mọi hoạt động của các tiểu hệ thống này đều docon người và vì con người Nhân tố con người là mẫu số chung của NNPQ, XHDS vàKTTT Do đó mối quan hệ ở đây phải là mối quan hệ biện chứng là 3 mặt của một vấn

đề, là nương tựa vào nhau nhưng cũng chế ngự nhau để hài hoà hơn trong phát triển.Mối quan hệ đó là mối quan hệ hữu cơ giữa 3 yếu tố, "Ba khu vực thể chế: Nhànước, thị trường và XHDS" [20]

Tính biện chứng của chúng thể hiện ở chỗ Nhà nước pháp quyền nào thì có nềnKTTT phát triển tương ứng và NNPQ nào thì cũng có XHDS phát triển tương ứng.Ngược lại, sự phát triển nhất định của XHDS sẽ là yếu tố tạo điều kiện cho NNPQ vàKTTT phát triển Mỗi một tiểu hệ thống KTTT, XHDS và NNPQ đều có những hạn chếnhất định nhưng nếu có sự "gắn kết" hợp lý thì sẽ dễ dàng hơn trong việc khắc phục

những hạn chế ấy Sự "gắn kết" cần thiết và có thể được tốt chính là nhân tố con người,

thông qua con người, mọi mục tiêu của NNPQ, KTTT và XHDS đều vì con người thìmới có được sự phát triển bền vững Tuy nhiên trong thực tế điều này còn là một bướcdài dài về thời gian và còn là bước khấp khểnh ở nhiều không gian khác nhau Nó phụthuộc rất nhiều vào sự việc tự nhận thức được vai trò mới của NNPQ Nhà nước nào thựcmạnh sẽ là Nhà nước giảm dần vai trò "can thiệp" và để xã hội, cộng đồng (XHDS) cóđược vị thế cao hơn, chủ động hơn trong tự quản Đúng như mong muốn của các nhà lýluận kinh điển Mác - xít

III.VẤN ĐỀ XÃ HỘI HOÁ VÀ VAI TRÒ CỦA XHDS VỚI PHẢN BIỆN XÃ HỘI

III.1- Khái niệm xã hội hoá (XHH):

Là khái niệm không mới, từ những vấn đề có tính nghịch lý như sở hữu mang tính

"tư nhân hoá" đối lập với lực lượng sản xuất ngày càng được "xã hội hoá" cách đây hơn

150 năm C.Mác đã đề cập đến trong tác phẩm "Capital" xã hội hoá trong sản xuất là hiệntượng phát triển các hình thức hợp tác, tập trung hơn, xoá bỏ tình trạng phân tán làm choquan hệ sản xuất không còn mang tính nhỏ lẻ đơn độc mà có tính xã hội cộng đồng caohơn… Do đó cũng có thể hiểu xã hội hoá là tăng cường tính chất xã hội và hiệu quả củacác hoạt động trong một nhà nước bằng cách phát huy vai trò của các tổ chức xã hộitrong cộng đồng với tinh thần tự nguyện cả về ý chí, tinh thần, trí tuệ, các nguồn lực vậtchất… Động viên được mọi thành phần kinh tế, mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoàingước tham gia vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước Xã hội hoá không phải là tưnhân hoá, càng không phải là quá trình nhà nước "buông xuôi", "hết trách nhiệm",

"khoán trắng" hoặc cực đoan coi xã hội hoá là đồng nghĩa với "quốc hữu hoá":

"Xét về lịch sử, đây là một bước phát triển tất yếu khách quan, song thực tiễn chothấy đã có sai lầm lớn là không ít người cộng sản đã rơi vào chủ nghĩa chủ quan, duy ýchí, xã hội hoá bằng quốc hữu hoá, hợp tác hoá một dạng hình thức tràn lan, không tínhđến trình độ phát triển và tính chất của sức sản xuất, đưa đến sự đổ vỡ của nhiều nước xã

Trang 10

hội chủ nghĩa trước đây (Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu) Vấn đề xãhội hoá được thể hiện trong chính sách của các nước thiên về quốc hữu hoá hay tư nhânhoá tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố Một xu hướng nổi bật trên thế giới vào thập kỷ 50-60, kể

từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai là phong trào quốc hữu hoá Có hai nguyên nhânkhách quan chính của tình hình này: một là sự tàn phá của chiến tranh, bắt buộc các nướcphải tập trung mọi nguồn lực vào tay nhà nước để phục hồi và phát triển trên những lĩnhvực mà tư nhân không đủ sức làm, hoặc họ không muốn làm hoặc nhà nước cần phảinắm ví dụ như lĩnh vực năng lượng hạt nhân nguyên tử, chế tạo vũ khí nặng Hai là, cácnhà tư bản Châu Âu dựa vào nguồn vốn to lớn của "Kế hoạch Marshall" để khội phụckinh tế và xây dựng lại hay mới các xí nghiệp nhà nước Về mặt chủ quan, ở một sốnước, phái "tả" có vị trí trong chính quyền sau đại chiến thế giới lần thứ hai, (ví dụ như ởPháp), có xu hướng tiến bộ cho nên quốc hữu hoá chiếm ưu thế Dần dần, phái hữuchiếm ưu thế, cho nên xu hướng tư nhân hoá lại trở nên có vị trí cao hơn Như ở Phápkhi Nghị viện, Tổng thống, Chính phủ thiên tả hay trung tả (Chính quyền Mitterand) thìthiên về quốc hữ hoá; trong khi Chính phủ thiên hữu (Chi-rac) thì thiên về tư nhân hoá".(Nguồn: Học viện hành chính quốc gia "Kỹ năng và cách tiếp cận… cung ứngdụch vụ công" NXB Thống kê.HN2002 tr32.)

Theo G.Endrweit và G.Trommsdorff thì "xã hội hoá" (Socialisation) là quá trìnhthích ứng và cọ sát với các giá trị chuẩn mực và hình mẫu hành vi xã hội mà trong quátrình đó một thành viên xã hội tiếp nhận và duy trì khả năng hoạt động xã hội"[21]

Ở Việt Nam, khái niệm "xã hội hoá" được hiểu theo nhiều ý nghĩa khác nhau

Có ý kiến cho rằng đó là chủ trương "Nhà nước và nhân dân cùng làm", có ý kiến là giaothẳng cho các đoàn thể xã hội làm, xã hội tự quản những lĩnh vực dịch vụ công Nhưngcũng còn quan niệm phiến diện coi xã hội hoá là chỉ việc thu gom sự đóng góp của xãhội, của nhân dân

Gần đây hai lĩnh vực xã hội quan tâm và "nóng bỏng", "bức xúc" nhất là y tế vàgiáo dục Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương cụ thể về vấn đề này trong cácvăn bản: Nghị quyết 90/CP (ngày 21/8/1997), Nghị định 73/1999/NĐ-CP (ngày19/8/1999), Nghị quyết 05/2005 NQCP (ngày 18/4/2005) Tuy nhiên, cho đến nay cácbước tiến hành còn rất lúng túng Từ quan niệm đến những hiệu quả thực sự của việc xãhội hoá các hoạt động y tế giáo dục, văn hoá, thể thao còn nhiều điều phải được khảocứu đánh giá lại

Thực tế cho thấy chủ trương xã hội hoá của Đảng và Nhà nước là đúng đắn, khôngnhững trong lĩnh vực y tế, giáo dục cần được xã hội hoá mà trong nhiều lĩnh vực khácnhư thể dục thể thao, văn hoá, khoa học, kỹ thuật… Nhiều trường hợp đã làm "giảm tải"cho nhà nước và hơn thế nữa quá trình xã hội hoá đó đã đạt hiệu quả rất rõ rệt (một sốloại hình, hoạt động, trong văn hoá, TDTT, môi trường…)

Một số ý kiến gần đây còn mạnh dạn đề xuất đến việc xã hội hóa việc làm luật; kể

cả việc xã hội hoá dịch vụ công chứng và nhiều nội dung, nhiệm vụ khác nữa

Trong lĩnh vực hành chính công với dịch vụ công chứng là rất cần thiết, dân có nhucầu rất lớn nhưng hiện nay nhà nước các cấp đang rất lúng túng như trường hợp dịch vụhành chính công ở Hà Nội mở ra đã thất bại ngay từ những năm đầu tiên Trong tình hìnhnhư vậy, có ý kiến đề xuất việc xã họi hoá công chứng nên cho thành lập cơ quan tự

Ngày đăng: 11/10/2021, 15:33

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w