1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy nguồn lực con người ở kon tum hiện nay

96 663 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát huy nguồn lực con người ở tỉnh Kontum hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Hoài Thu
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Hòa
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Huế
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 664 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển của nền kinh tế thế giới đang bước sang trang mới với nhữngthành tựu có tính chất đột phá trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đặcbiệt là trên lĩnh vực khoa học

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ HOÀI THU

PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở

TỈNH KONTUM HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH : TRIẾT HỌC

MÃ SỐ : 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN VĂN HÒA

Huế, 2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ HOÀI THU

Trang 3

Lời cảm ơn

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Hoà đã tận tình giúp đỡ

em hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp này Đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Lý luận chính trị Trường Đại học khoa học Huế và bạn bè đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn cũng như trong suốt thời gian hai năm học qua.

Học viên Nguyễn Thị Hoài Thu

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 6

1 Tính cấp thiết của đề tài 6

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của luận văn 12

7 Kết cấu của luận văn 12

NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI 13

1.1 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về con người 13

1.1.1 Quan niệm về bản chất con người 13

1.1.2.Con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử 23

1.2 Quan niệm về nguồn lực, nguồn lực con người 27

1.2.1 Quan niệm về nguồn lực 27

1.2.2 Quan niệm về nguồn lực con người 30

1.3 Vai trò của nguồn lực con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 42

1.3.1 Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và yêu cầu phát huy nguồn lực con người 42

1.3.2 Vai trò của nguồn lực con người đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất 46

1.3.3 Vai trò của nguồn lực con người trong mối quan hệ với các nguồn lực khác 48

1.3.4 Vai trò nguồn lực con người ngày càng tăng cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội 51

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở TỈNH KON TUM HIỆN NAY 54

Trang 6

2.1 Thực trạng nguồn lực con người ở tỉnh Kon Tum hiện nay 54

2.1.1 Về số lượng nguồn lực con người 55

2.1.2 Chất lượng nguồn lực con người 58

2.1.3 Về cơ cấu nguồn lực con người 63

2.2 Khả năng sử dụng và huy động nguồn lực con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Kon Tum hiện nay 68

2.3 Định hướng và giải pháp phát huy nguồn lực con người ở tỉnh Kon Tum 74

2.3.1 Định hướng 74

2.3.2 Những giải pháp chủ yếu phát triển nguồn lực con người ở Kon Tum hiện nay 77

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, nguồn lực con người là nguồn lực cơ bản, quyết định của lực lượng sản xuất và của quá trình phát triển phát triển kinh tế xã hội Khác với các nguồn lực khác, nguồn lực con người là nguồn lực đặc biệt của quá trình sản xuất; trong quá trình sản xuất các nguồn lực khác không có khả năng sáng tạo và tái sinh; trái lại, nguồn lực con người nếu được đào tạo, bồi dưỡng phát huy một cách hợp lý thì khả năng sáng tạo và tái sinh là vô tận Khả năng sáng tạo và tái sinh của nguồn lực con

Trang 7

người là nguồn cội của mọi sự phát triển của xã hội

Lịch sử phát triển nhân loại đã kiểm nghiệm và đi đến kết luận: nguồn lực conngười là lâu bền nhất trong sự phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp tiến bộ củanhân loại Sự phát triển của nền kinh tế thế giới đang bước sang trang mới với nhữngthành tựu có tính chất đột phá trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đặcbiệt là trên lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, trong đó nhân tố đóng vai tròquyết định dẫn đến sự ra đời của kinh tế tri thức, chính là nguồn lực con người.Trước đây các nhân tố sản xuất truyền thống như số lượng đất đai, vốn được coi làquan trọng nhất, song ngày nay đã có sự thay đổi thứ tự ưu tiên Chính nguồn lựccon người mới được xem là nguồn lực quan trọng nhất Vì vậy, để có được tốc độphát triển cao, các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm tới việc nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực

Sự nghiệp đổi mới ở nước ta là một quá trình biến đổi có tính chất lịch sử trêntất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Vấn đề mấu chốt để thực hiện sự biến đổinày chính là phát huy nguồn lực con người Phát huy nguồn lực con người là nhiệm

vụ hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trong công cuộc đổi mới ởViệt Nam hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát huy nội lựctrước hết là phát huy nguồn lực con người, nguồn lực của toàn dân tộc, khai thác cóhiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và sử dụng tốt nhất các nguồn lực của Nhànước” [10, tr.179] Nguồn lực con người là vốn quý nhất Vì thế, phát huy nguồn lựccon người luôn chiếm vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, vừa

là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển

Kon Tum là đô thị loại ba có vai trò quan trọng trong việc góp phần thực hiệnthành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực Tây Nguyên nói riêng

và cả nước nói chung Vì vậy, hơn bất cứ địa phương nào trong khu vực, đòi hỏi tỉnhphải phát huy nguồn lực con người với đầy đủ các phẩm chất như có đức, có tài,thông minh, sáng tạo, có tri thức, được đào tạo thành thạo về kỹ năng nghề nghiệp,

về năng lực sản xuất kinh doanh

Nhìn lại quá trình xây dựng và phát triển trong 25 năm đổi mới, nhất là 10 nămthực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Kon Tum đã đạt được những thànhtựu to lớn và hết sức quan trọng Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnhKon Tum khóa XIII trình đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã ghi rõ: “Các

Trang 8

nguồn lực đã được chú trọng khai thác, phát huy tương đối hiệu quả Tăng trưởngkinh tế được duy trì ở mức khá cao; các vùng kinh tế động lực đang được hình thành

và bước đầu phát huy tác dụng; bộ mặt đô thị và nông thôn có nhiều khởi sắc Nôngnghiệp phát triển khá Công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ giữ được tốc

độ khá cao Chất lượng nguồn nhân lực và đời sống nhân dân có chuyển biến tíchcực hơn” [3, tr.15] Một trong những nguyên nhân tạo nên những thành tựu trên làphát huy nguồn lực con người trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, bước vào giai đoạn hiện nay, KonTum đã xác định: “Khai thác và sử dụng các nguồn lực để xây dựng tỉnh Kon Tum

ổn định, cơ bản thoát nghèo vào năm 2015 [3, tr.20] Trong việc khai thác và sử dụngcác nguồn lực thì trước hết cần phải quan tâm đến nguồn lực con người - nguồn lực

cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững Do vậy, trong giải pháp củaĐảng bộ tỉnh Kon Tum đưa ra trong nhiệm kỳ 2011 - 2015 đó là: “Tập trung pháttriển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh, đáp ứng mục tiêu đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, xem đây là giải pháp chiến lược lâu dài, vừa mang tính bứcxúc trước mắt của địa phương [3, tr.26]

Cho nên với việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng nguồn lực conngười để có những giải pháp nhằm tạo ra một sự chuyển biến về chất, phát triểnnguồn lực con người nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa của tỉnh Kon Tum trở thành một nhiệm vụ cấp thiết

Với ý nghĩa trên, tác giả đã chọn đề tài: “Phát huy nguồn lực con người ở Kon

Tum hiện nay” để làm luận văn thạc sĩ triết học của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò, vị trí của nguồnlực con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội; về xây dựng, phát triển, huy động

và sử dụng nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đấtnước Tùy theo góc độ và khía cạnh xem xét, những công trình này đã đạt đượcnhiều thành tựu đáng kể, trong số đó có một số công trình liên quan đến đề tài vềnguồn lực con người như sau:

“Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”

của GS.TS Phạm Minh Hạc chủ nhiệm trong đó có một số đề tài nhánh trực tiếpnghiên cứu những biện pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực con người như

Trang 9

“Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” của GS TS, Nguyễn Minh Đường chủ biên, Hà Nội 1996; hay “Gia đình, nhà trường và xã hội

với việc phát hiện tuyển chọn và đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài”

của GS TS, Nguyễn Trọng Bảo chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1996; “Vấn đề phát

triển con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Phạm Minh Hạc

(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996); “Xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp

hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Đà Nẵng” của Vương Quốc Được (Luận văn Thạc sỹ

kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999); “Sử dụng nguồn nhân lực

trong quá trình công nghiệp hóa, hiên đại hóa ở nước ta” của Trần Kim Hải (Luận

án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999); “Phát triển

nguồn lao động trí tuệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thừa Thiên Huế” của Lê Thị Kim Phương (Luận văn Thạc sỹ triết học, Đại học quốc gia

Hà Nội, 1999); “Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học ở Việt Nam” của Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002); “Vấn đề

tạo nguồn lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của GS, TSKH, Vũ Huy

Chương chủ biên, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002); “Sử dụng có hiệu quả

nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS Nguyễn Hữu Dũng (chủ biên), (Nxb Lao

động xã hội, Hà Nội, 2003); “Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Một số vấn đề lý

luận và thực tiễn” của Viện chiến lược phát triển, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2004); “Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp” của Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005); “Nguồn

nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”của TS Đoàn

Văn Khái, (Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005); “Huy động và sử dụng các nguồn

lực trong phát triển kinh tế nông thôn Thực trạng và giải pháp” của Chu Tiến

Quang (chủ biên), (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005); “Triết lý phát triển ở Việt

Nam mấy vấn đề cốt yếu “của GS.TS Phạm Xuân Nam chủ biên, (Nxb khoa học xã

hội, Hà Nội, 2005); “Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của GS TSKH, Lê Du Phong chủ biên,

(Nxb lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005); “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của TS Nguyễn Thanh chủ biên, (Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2005); “Thị trường lao động Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”

của TS Nguyễn Thị Thơm chủ biên, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006);

Trang 10

“Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Đắk Nông” của Đinh

Khắc Đính, (Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,

2007); “Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh

tế ở Việt Nam” của PGS.TS, Võ Văn Đức (chủ biên), (Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội,

2009); “Triết học Mác và thời đại” của PGS.TS, Phạm Văn Đức, PGS.TS, Đặng

Hữu Toàn, TS Nguyễn Đình Hòa (đồng chủ biên), (Nxb khoa học xã hội, Hà Nội,2009)

Ngoài ra các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều bài viết đăngtrên các tạp chí đề cập đến nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội như: Trên

lĩnh vực triết học Hoàng Chí Bảo có bài “Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát

huy nguồn lực con người “(Tạp chí triết học số1, tháng 3/1993); “Nguồn lực con người - yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của

Đoàn Văn Khái (Tạp chí triết học, số 4, tháng 12/1995); “Con người - yếu tố quyết

định nhất của lực lượng sản xuất” của Phương Kỳ Sơn,(Tạp chí triết học số 3 tháng

6/1997); “Mấy suy nghĩ về vấn đề phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Nguyễn Công Toàn (Tạp chí triết học

số 5, tháng 10/1998); “Một số giải pháp nhằm khai thác và sử dụng nguồn lực con

người” của TS Phạm Văn Đức,(Tạp chí triết học số 6, tháng 10/1999); “Một số suy nghĩ về vai trò của giáo dục, đào tạo trong việc phát triển nguồn lực con người” của

TS Phạm Văn Đức, (Tạp chí triết học số 6, tháng 12/2000); “Vấn đề phát huy nhân

tố con người trong phát triển kinh tế “của Hoàng Thái Triển, (Tạp chí triết học, số 2,

tháng 4/2001); “Xây dựng và phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn lực

con người trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Thế

Kiệt, (Tạp chí triết học số 6, tháng 6/2008); “Nhận thức của Đảng Cộng sản Việt

Nam về phát triển con người trong thời kỳ đổi mới” của ThS Hoàng Thanh Sơn,

(Tạp chí triết học, số 7, tháng 7/2008); “Vai trò của con người và vấn đề phát huy

nguồn lực con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay” của Nguyễn

Thành Trung, (Tạp chí triết học, số 7, tháng 7/2008); “Phát triển giáo dục và đào tạo

- một động lực để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay” của PGS.TS,Nguyễn Văn Hoà, (Tạp chí triết học, số 4 năm 2009); “Một số rào cản đối với pháthuy tính sáng tạo của con người Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”của PGS.TS, của Nguyễn Văn Hoà (Tạp chí triết học, số 2, năm 2010)

Trang 11

Nhìn một cách tổng quát, những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến vai tròcủa con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đề cập đến việc làm thế nào để sửdụng có hiệu quả nguồn lực con người Việt Nam nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển,bàn đến vai trò của giáo dục và đào tạo đối với việc phát huy nguồn lực con người,đưa ra các giải pháp để bồi dưỡng, đào tạo nguồn lực con người Việt Nam nhằm đápứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoặc đưa ra các giải pháp để khai thác và

sử dụng nguồn lực con người một cách tốt nhất Nhưng nhìn chung chưa có một côngtrình nào đề cập một cách cụ thể đến vấn đề phát huy nguồn lực con người ở Kon Tumhiện nay Thế nhưng, trên cơ sở những thành tựu đó chính là những chỉ dẫn, gợi ý hếtsức quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài: dưới góc độ của triết học Mác - Lênin, luận văn phân tích

và đánh giá thực trạng nguồn lực con người ở Kon Tum; trên cơ sở đó đề xuất cácđịnh hướng và giải pháp nhằm phát huy nguồn lực này trong việc đẩy nhanh sự pháttriển kinh tế - xã hội ở địa phương trong giai đoạn hiện nay

Nhiệm vụ của đề tài:

- Vạch rõ cơ sở lý luận về phát huy nguồn lực con người trong giai đoạn hiện nay

- Phân tích, đánh giá thực trạng nguồn lực con người và nêu lên các địnhhướng, giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người ở tỉnh Kon Tum hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài đã quy định phạm vi, đối tượng nghiên cứucủa đề tài là: Đối tượng nghiên cứu là con người và phát huy nguồn lực con người ởtỉnh Kon Tum nhằm đưa kinh tế - xã hội ở địa phương phát triển nhanh và bền vững

- Phạm vi nghiên cứu là tập trung làm rõ vấn đề phát huy nguồn lực con người

trong phạm vi tỉnh Kon Tum hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và pháthuy nguồn lực con người, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu: trừu tượng hóa khoa học,điều tra khảo sát, thống kê, thu thập số liệu, tổng hợp, phân tích để rút ra các kết luậncần thiết

Trang 12

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn làm rõ thực trạng nguồn lực con người ở tỉnh Kon Tum, qua đó đề xuấtcác định hướng và các giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người để đẩynhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương một cách bền vững

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văngồm 2 chương, 6 tiết

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phát huy nguồn lực con người

Chương 2: Thực trạng và giải pháp phát huy nguồn lực con người

ở tỉnh Kon Tum hiện nay

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT HUY

NGUỒN LỰC CON NGƯỜI

1.1 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về con người

1.1.1 Quan niệm về bản chất con người

Con người là đối tượng nghiên cứu của mọi trào lưu triết học Các học thuyếttriết học, từ thời cổ đại cho đến nay, đã đặt ra và tìm cách lý giải bằng nhiều cáchkhác nhau về những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất của con người Triết học Mác làtriết học xuất phát từ con người và vì con người, là học thuyết về sự giải phóng conngười, vì sự phát triển toàn diện con người

Trong lịch sử triết học đã có nhiều quan điểm khác nhau về những khía cạnhbản chất của con người Triết học duy tâm cổ đại giải thích nguồn gốc con người mộtcách thần bí, cho con người là do lực lượng siêu nhiên sinh ra và điều khiển

Xuất phát từ thế giới quan duy tâm thừa nhận bản nguyên của thế giới là”tinhthần vũ trụ tối cao” Brahman, Upanshad cho rằng: Con người bao gồm thể xác vàlinh hồn Khi nhận thức được Brahman, người ta sẽ nhận thức được mọi cái còn lại

và có thể giải thoát được linh hồn khỏi sự ràng buộc của thể xác và mọi khổ não củađời sống trần tục Linh hồn con người (Atman) chỉ là biểu hiện, là một bộ phận của

“tinh thần tối cao” Thể xác chỉ là vỏ bọc của linh hồn, là nơi trú ngụ của linh hồn

Về bản chất, linh hồn con người là đồng nhất với “linh hồn tối cao”, cũng như vạnvật trong vũ trụ chỉ là biểu hiện của Brahman

Khổng Tử cho rằng: Con người là kết quả bẩm thụ tinh khí của âm dương trờiđất mà thành Vì vậy con người phải tuân theo “thiên lý”, hợp với đạo trung hòa.Con người sống hay chết, giàu hay nghèo, thành hay bại đều do “thiên mệnh” quyđịnh Tiếp theo Khổng Tử là Đổng Trọng Thư đã phát triển quan điểm duy tâm vềnguồn gốc con người, đã nhân cách hóa “trời” của Khổng Tử, mệnh trời của Khổng

Tử được Đổng Trọng Thư đẩy đến mặt cực đoan Ông đưa ra quan niệm thiên nhâncảm ứng Ông cho rằng mọi hiện tượng tự nhiên - xã hội và trật tự của nó đều đượcxuất phát và sắp đặt theo ý chí của trời Hoạt động của con người dưới trần thế có thể

Trang 14

gây nên những “xúc cảm” ở trời, khiến trời có thể “ban ơn” hay “trừng phạt”.

Song song tồn tại với quan niệm của Nho giáo là quan niệm của Phật giáo Họcho rằng con người là “tự kỉ nhân quả “mà thành chứ không do thượng đế hayBrahman sinh ra Con người chính là nguyên nhân của chính mình Xét ở một khíacạnh nào đó thì quan điểm trên rơi vào một vòng luẩn quẩn duy tâm thần bí Bởi vìquan niệm nhân - quả trong phật giáo dù có mượn được từ kết quả quan sát sự vậtkhách quan thì cũng đã bị rút mất nội dung vật chất của quá trình đó, chỉ còn lại cáithuần túy tinh thần và chuyển hóa thành thần bí

Triết học duy vật mộc mạc cho con người là một bộ phận cấu thành của tồn tại,của thế giới, là một bản nguyên vật chất xác định Trong đó, triết học phương Tây cổđại giải thích bản nguyên ấy là nước, lửa, không khí , là nguyên tử, còn triết họcphương Đông cổ đại thì cho rằng, con người do các yếu tố tự nhiên như đất, nước,lửa, không khí tạo thành và đưa ra quan điểm “thiên nhân hợp nhất”, coi “conngười là một tiểu vũ trụ”, tức là một bộ phận của tự nhiên, mang các tính chất của tựnhiên và chịu sự chi phối của tự nhiên

Bước sang giai đoạn mới triết học chính thống của của xã hội phong kiến Tây Âuthời kỳ trung cổ là chủ nghĩa kinh viện, với đặc điểm chủ yếu của nó là phục tùng thầnhọc; theo chủ nghĩa tín ngưỡng đối lập với tư tưởng khoa học, với tri thức thực nghiệm

và với triết học tự do Mục đích cao nhất của triết học kinh viện là đặt cơ sở lý luận chothế giới quan tôn giáo, do đó nó đã xuyên tạc bóp méo triết học tiến bộ thời cổ

Đại biểu cho thời kỳ này là Ôguytanh cho rằng: Chúa trời là lực lượng siêunhiên sáng tạo ra giới tự nhiên và con người Do vậy chúa định đoạt số phận của conngười Chúa có quyền lực thần thánh có thể ban phước lành hoặc trừng phạt conngười theo ý chúa Con người phải phục tùng tuyệt đối, trung thành và tin vô điềukiện những điều do chúa đặt ra Sang thời kỳ phục hưng, do yêu cầu phát triển của xãhội, các nhà tư tưởng thời kỳ này đã đứng lên chống lại những tư tưởng của giáo hội,bóc trần các học thuyết tôn giáo hoang đường, giải phóng tư tưởng loài người khỏixiềng xích trung cổ, dọn đường cho khoa học và giáo dục phát triển

Trong triết học cổ điển Đức, quan điểm về con người đã phát triển mạnh mẽ cảhai khuynh hướng duy tâm lẫn duy vật Đối với Hêghen nhà triết học cổ điển Đức cócống hiến vô cùng to lớn trong phép biện chứng, có ảnh hưởng rất lớn đối với triết họcMác Hêghen lấy “tinh thần thế giới” làm cơ sở để giải thích các vấn đề của tự nhiên -

Trang 15

xã hội Theo ông con người cũng như các sự vật xung quanh ta đều là hiện thân của

“tinh thần tuyệt đối”, là kết quả của sự tha hóa “tinh thần tuyệt đối” mà có Thông quaquá trình tư duy logic, Hêghen lý giải các giai đoạn phát triển của “tinh thần tuyệtđối” Ông cho rằng nét nổi bật trong quá trình ấy là sự tác động giữa con người với tựnhiên Ở đây con người vừa là chủ thể đồng thời lại vừa là kết quả của quá trình hoạtđộng của mình như trong quan niệm của Senlinh Hêghen cho rằng: Tư duy và trí tuệcủa con người chỉ có thể hình thành và phát triển để đạt được đến “tuyệt đối” trongquá trình nhận thức và cải tạo thế giới để biến tự nhiên từ cái đối lập với con người trởthành cái của mình và đồng nhất với mình Cũng vì vậy mà hoạt động của con ngườiđược coi là phương thức để đạt được “tinh thần thế giới” Trong cách lý giải củaHêghen thì con người hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới cũng chỉ là sự “tồn tạikhác” của “tinh thần tuyệt đối” mà thôi Hoạt động đó được coi như là công cụ để

“tinh thần tuyệt đối “nhận thức chính mình và trở về với chính mình

Đại biểu cho phái dân chủ cấp tiến nhất của giai cấp tư sản ở Đức vào giữa thế

kỷ XIX Lutvich Phoiơbắc lại phát triển cao hơn nữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩaduy vật vô thần lên đến đỉnh cao

Quan điểm duy vật nhân bản là nét nổi bật trong triết học của Phoiơbắc Theoông con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của sự phát triển tự nhiên Giữacon người và tự nhiên nằm trong thể thống nhất hữu cơ không thể tách rời Ở conngười đã chứa đựng tất cả những gì đã có trong tự nhiên Trong mỗi con người cụthể là một sự thống nhất giữa vật chất và tinh thần Do đó chỉ có thể giải quyết đượcquan hệ giữa vật chất và tinh thần trong nhân bản học

Ông cho rằng triết học nghiên cứu con người không thể dựa vào ý thức trừutượng, những thế lực siêu tự nhiên như quan niệm của Hêghen, mà phải xuất phát từbản thân con người - những cá thể người đang sống và làm việc chứ không phải loàingười nói chung Song chủ nghĩa duy vật nhân bản khi phê phán chủ nghĩa duy tâm

đã tuyệt đối hóa con người tự nhiên, con người sinh vật, không thấy được bản chất

xã hội - lịch sử cũng như vai trò của hoạt động thực tiễn của con người

Tóm lại, vấn đề con người đã được đặt ra từ rất sớm, ngay từ thời cổ đại vấn đềcon người đã được đặt ra trong triết học như là một đối tượng trung tâm để xem xét,

lý giải cả phương Đông lẫn phương Tây, từ triết học HiLạp cổ đại đến triết học cổđiển Đức Tuy nhiên, các quan điểm trước C.Mác về con người chưa thoát khỏi tính

Trang 16

chất duy vật siêu hình hoặc duy tâm thần bí Tuy vậy, lịch sử triết học đã để lạinhững tiền đề quý giá về nguồn gốc, bản chất con người làm cơ sở, tiền đề, điều kiệncho triết học Mác kế thừa, phát triển để đưa ra quan điểm khoa học về con người.Triết học Mác không chỉ đem lại quan niệm khoa học hoàn chỉnh về bản chất conngười; mà còn vạch rõ cơ sở khoa học để phát huy nguồn lực con người, con đườngcách mạng và khoa học để giải phóng triệt để con người; cải tạo, xây dựng con ngườimột cách toàn diện Hơn nữa vấn đề con người là vấn đề trọng tâm xuyên suốt củatriết học Mác, bởi sự hình thành và phát triển của triết học Mác không hề mang mụcđích khoa học tự thân, mà nhằm luận giải khoa học cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp

vô sản thế giới cho việc phát huy nguồn lực con người trên con đường đi đến giảiphóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại khỏi ách áp bức bóc lột

Con người là sự thống nhất giữa cái sinh học và cái xã hội

Khác với các nhà tư tưởng trước mình, khi xem xét vấn đề bản chất con người,các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác-Lênin không xem xét vấn đề bản chất con ngườimột cách chung chung, cô lập, trừu tượng mà bằng cách tiếp cận con người hiện thựcdưới ánh sáng của chủ nghĩa duy vật triệt để và phương pháp biện chứng Triết họcMác đã chỉ ra rằng, con người là một chỉnh thể thống nhất giữa cái sinh vật và cái xãhội, là thực thể sinh vật-xã hội Triết học Mác chỉ rõ hai mặt, hai yếu tố cơ bản cấuthành con người về mặt tự nhiên - sinh học và mặt xã hội - văn hóa Về mặt tự nhiêntrước hết con người là một cơ thể sống, bộc lộ đầy đủ các quá trình sinh học, như cáchiện tượng sinh lý, di truyền, thần kinh, điện - hóa và các quá trình khác C.Mác thừanhận con người là một động vật cao cấp nhất, là sản phẩm của sự tiến hóa lâu dài củagiới sinh vật như tiến hóa luận của Đácuyn đã khẳng định Như mọi động vật khác,con người là một bộ phận của thiên nhiên, tìm thức ăn, nước uống từ trong tự nhiên,như mọi động vật khác con người phải “đấu tranh” để tồn tại, ăn uống, sinh con đẻcái Con người là một thực thể sống với tất cả những đặc điểm sinh lý, cấu trúc của

cơ thể và những nhu cầu tự nhiên của nó, con người cũng chịu sự chi phối của cácquy luật sinh học như: Quy luật về sự phù hợp giữa cơ thể với môi trường, về quátrình trao đổi chất, về biến dị và di truyền Khi xem xét về con người triết học,C.Mác không phủ nhận mặt tự nhiên, sinh vật ở con người mà coi “giới tự nhiên làthân thể vô cơ của con người”, “con người là một bộ phận của giới tự nhiên”

Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, nhưng trong mối quan hệ với giới

Trang 17

tự nhiên con người hoàn toàn khác với con vật Hoạt động sản xuất của con ngườikhông chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh học mà còn nhằm phát triển xã hội nữa Convật cũng sản xuất nhưng hoạt động của nó hoàn toàn mang tính bản năng, bầy đàn:Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân mình còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộgiới tự nhiên Trong quá trình sống cả con người lẫn con vật đều phải quan hệ vớimôi trường, con người ngoài việc khai thác tự nhiên, cải tạo tự nhiên, còn phải sángtạo cái mà giới tự nhiên không có Chính phát hiện quan trọng này đã nêu lên tính tấtyếu của sự hài hòa giữa con người với tự nhiên.

Như vậy, cái tự nhiên là cái vốn có trong bản chất con người Nó là cái khôngbao giờ mất đi mà tồn tại vĩnh viễn trong con người Vấn đề là phải làm như thế nàocho cái sinh vật ngày càng nhân tính hóa, nhân loại hóa

Tính loài của con người không phải là tính loài trừu tượng Nó cũng có nghĩa là

“tính xã hội” và loài người chính là “xã hội người” Con người có tính xã hội trước hếtbởi bản thân hoạt động sản xuất của con người là hoạt động mang tính xã hội Do hoạtđộng lao động sản xuất mà con người đã tạo nên “thế giới thứ hai” Thế giới đó chính

là sự thể hiện hoạt động và giao tiếp của con người thông qua các mối quan hệ xã hội.Nhưng hoạt động đó là hoạt động có ý thức mang tính mục đích rõ rệt

Thông qua lao động con người không ngừng làm thay đổi tự nhiên, cải biến tựnhiên theo mục đích và nhu cầu của mình Song vấn đề không dừng ở đó chính nhờlao động có ý thức con người thấy “cần phải nói với nhau một điều gì đấy “ Nhưvậy, chính lao động và trong lao động, ngôn ngữ được hình thành và phát triển Vàchính hoàn cảnh con người do con người sáng tạo ra lại tác động trở lại con ngườilàm cho con người hoàn thiện hơn về thể chất cũng như tinh thần

Như vậy, con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hộithì trong con người cũng có hai mặt không thể tách rời: mặt tự nhiên và mặt xã hội

Về mặt xã hội - văn hóa, con người là một nhân cách văn hóa, bộc lộ các tốchất tâm lý - ý thức, tính cách, tính khí , là chủ thể các quan hệ xã hội, lao động,giao tiếp, sinh hoạt tinh thần và các quá trình hình thành, phát triển của con ngườikhông thể không tuân theo các quy luật xã hội - văn hóa

Đương nhiên, triết học Mác không tách biệt mặt tự nhiên và mặt xã hội mà nhìnnhận con người tồn tại, phát triển trong tính toàn vẹn thống nhất của cả hai quá trình,nhờ sự tương tác thống nhất giữa cơ chế di truyền sinh học và cơ chế nhập thân văn

Trang 18

hóa trong môi trường xã hội Cơ chế di truyền quyết định quá trình tiến hóa sinh họccủa con người, tạo nên cơ sở sinh học cho sự tiến hóa xã hội Quá trình gia nhập hoạtđộng xã hội và bối cảnh văn hóa lịch sử của cộng đồng xã hội đã quyết định sự hìnhthành, phát triển những tố chất xã hội - văn hóa của con người, đồng thời chế ước, cảibiến mặt sinh học, làm cho cái sinh học thích nghi với hoạt động xã hội

Sự thống nhất giữa mặt tự nhiên - sinh học với mặt xã hội - văn hóa còn thểhiện ở môi trường sống của con người Đó không chỉ đơn thuần là môi trường tựnhiên - sinh học, mà ngày càng chủ yếu là môi trường xã hội - văn hóa Môi trường

là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người, theo nghĩa rộng nhấtbao gồm cả môi trường tự nhiên - sinh học và môi trường xã hội - văn hóa Là một

bộ phận của tự nhiên, con người tồn tai trong hệ thống tương tác của tất cả các lựclượng, các quá trình cơ, lý, hóa, sinh học của tự nhiên, trước hết là giao tiếp và thíchnghi với tự nhiên Đương nhiên con người không chỉ tương tác với môi trường tựnhiên bằng sự cộng hưởng thuần sinh học, mà còn tìm ra những khía cạnh văn hóatinh thần, thậm chí khoa học hiện đại đã phát hiện ra sự tương tác giữa “nhịp điệu vũtrụ” với “nhịp điệu sinh học” của con người Mặt khác, con người tồn tại trong môitrường xã hội - văn hóa, thông qua các quá trình xã hội mà thích nghi với tự nhiên.Xét đến cùng, xã hội là một bộ phận, một dạng kết cấu vật chất đặc thù của giới tựnhiên Toàn bộ xã hội loài người hình thành, tồn tại và phát triển không ở đâu khácngoài giới tự nhiên, trong mối quan hệ hài hòa với tự nhiên Nhưng về bản chất thì môitrường xã hội chủ yếu được nhìn nhận ở các giá trị văn hóa của nó, tức là nó chứađựng trình độ người của con người được không ngừng sáng tạo và nhân lên trong lịch

sử con người giao tiếp và thích nghi với tự nhiên không chỉ bằng bản năng, mà cònbằng và ngày càng chủ yếu bằng văn hóa Đương nhiên giữa tự nhiên và xã hội phảihài hòa, vì với môi trường tự nhiên - sinh học thuận lợi cũng chưa chắc nảy sinh môitrường xã hội - văn hóa phát triển cao, còn nếu môi trường tự nhiên - sinh học bị hủyhoại quá giới hạn, thì môi trường xã hội - văn hóa không thể thay thế hay cứu vãnđược C.Mác đã khẳng định: “Chừng nào mà loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ

và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau” [Theo 12, tr.434]

“Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xãhội” [Theo 12, tr.435] Đây là luận điểm cực kỳ quan trọng của triết học Mác - luậnđiểm dẫn đến bước ngoặt về chất trong lịch sử triết học về xã hội, về con người

Trang 19

Trước hết, con người là một nhân cách - một chỉnh thể đơn nhất, với cái riêng do đặcđiểm di truyền, điều kiện riêng của mỗi người quy định Nhờ những phẩm chất riêng

mà phân biệt được cá nhân này với cá nhân khác về trí tuệ, tình cảm, ý chí, động cơhành động, tính cách Với quan niệm đó, C.Mác cho rằng, “con người là một cánhân đặc thù nào đó và chính tính đặc thù của nó làm cho nó thành ra một cá nhân

và một thực thể xã hội cá thể hiện thực” [Theo 12, tr.435] Rằng cá nhân là chủ thểđích thực, năng động của sự phát triển xã hội, là đơn vị tồn tại cuối cùng của xã hội

và là tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử Do vậy “bản thân xã hội sản xuất ra conngười với tính cách là con người như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như thế”[Theo 12, tr.435] Song, con người cá nhân không thể tách khỏi con người xã hộingay trong từng nhân cách Bởi lẽ, mỗi nhân cách là một chỉnh thể năng động, pháttriển thống nhất giữa cái chung, cái đặc thù và cái đơn nhất Những phẩm chất riêng

có trong kinh nghiệm sống, trong phương thức thể hiện tâm lý xã hội của mỗi ngườichỉ có ý nghĩa khi được đặt trong quan hệ với cái đặc thù của một giai đoạn xã hộilịch sử cụ thể, của từng tiểu cộng đồng, như dân tộc, giai cấp, tập đoàn xã hội, tậpthể nhóm, xã hội, gia đình , cũng như thể hiện được theo tiêu chí phổ biến ở nhữngđặc trưng chung của nhân loại Những phẩm chất xã hội của con người mang dấu ấncủa thời đại lịch sử và quan hệ xã hội cụ thể Trong xã hội có giai cấp, chính quan

hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã quyết định sự phân chia các thành viêntrong xã hội thành những giai cấp khác nhau Trong xã hội có giai cấp thì bản chấtcon người không thể thoát khỏi bản chất giai cấp, bản chất này in đậm dấu ấn trongtừng cá nhân Vì thế nói đến bản chất con người trong xã hội có giai cấp tức là nóiđến bản chất giai cấp của nó Đối với các quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa cái tổnghòa và cái chi phối quyết định trong cái tổng hòa đó đã được các nhà kinh điển củachủ nghĩa Mác luận giải rất kỹ càng, từ đó làm sáng tỏ bản chất con người

Các quan hệ xã hội bao gồm nhiều loại Nếu xét mối quan hệ giữa cá nhân và

xã hội, hay giữa cá nhân và con người và cộng đồng xã hội thì có quan hệ gia đình

-họ tộc, quan hệ làng xã, quan hệ giai cấp, quan hệ Dân tộc - Đất nước - Tổ quốc,quan hệ nhân loại Nếu xét về tính chất các quan hệ xã hội thì có quan hệ sản xuất vàcác quan hệ khác, như quan hệ chính trị, quan hệ văn hóa, quan hệ đạo đức, quan hệtôn giáo Nếu xét về sự vận động của các quan hệ xã hội trong thời gian thì có cácquan hệ hiện tồn và các quan hệ hình thành trong quá khứ nhưng đã bị đảo lộn, biến

Trang 20

đổi hoặc được kế thừa trong sự phát triển trong hiện tại Như vậy, các quan hệ xã hộirất đa dạng, phong phú, luôn đan xen với nhau, tác động lẫn nhau, trong đó quan hệsản xuất là quan hệ quyết định, chi phối các quan hệ xã hội khác Mỗi hình thái kinh

tế xã hội khác nhau thì có một kiểu quan hệ sản xuất tương ứng từ đó tạo nên bảnchất con người trong giai đoạn lịch sử đó

Trong giai đoạn hiện nay, ở nước ta nói chung và ở Kon Tum nói riêng để pháthuy nguồn lực con người, chúng ta cần phải quan tâm đào tạo, bồi dưỡng con ngườiViệt Nam với các tiêu chí sau: giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệmcông dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa; có tinh thần quốc tếchân chính Bởi có như vậy, chúng ta mới có được nguồn lực quan trọng nhất, mạnh

mẽ nhất, ổn định nhất và bền vững nhất cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Việc không ngừng gia tăng tính tự giác, năng lực làm chủ, sáng tạo của mỗi người,việc phát huy sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân, kết hợp với sức mạnh của tập thểlao động, của cả dân tộc trên cơ sở một nền tảng tinh thần vững chắc phải được coi

là định hướng chiến lược cho việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người ViệtNam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tuy nhiên không chỉ có những quan hệ hiện tồn mới quyết định nên bản chất củanhững người đang sống mà họ còn kế thừa những tư tưởng của thế hệ trước Do đó khixem xét bản chất con người thì không được tách rời giữa quá khứ và hiện tại Vì thếbản chất con người không phải là trừu tượng, nhất thành bất biến, nó cũng không phải

là sự kết hợp đơn thuần những mặt khác nhau mà là một thể thống nhất của những mặtđối lập Hơn nữa, tính xã hội của con người hoàn toàn khác về chất với tập tính bầyđàn của một số loài động vật “xã hội”, chẳng hạn kiến, ong Tính xã hội của conngười là xã hội - văn hóa, là tập tính có ý thức, được hình thành ngay khi con ngườibước từ cuộc sống bầy đàn sang cuộc sống xã hội và phát triển theo tiêu chí ngày càng

“tách” khỏi động vật và “thoát” khỏi động vật Như vậy, chỉ với tiêu chí này, chúng ta

đã thấy rõ mối quan hệ không thể tách rời giữa cá nhân và xã hội

Cơ sở của mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội là lợi ích Lợi ích là cái kháchquan cần thiết để thỏa mãn nhu cầu con người, quyết định phương thức thích hợpgiữa ý chí và hành động của con người Lợi ích là một thể thống nhất đa dạng, trong

đó lợi ích kinh tế - vật chất là cái quyết định Lợi ích là yếu tố liên kết các cá nhân, là

“chất kết dính” giữa người với người, là động lực của mọi hoạt động lịch sử Do đó,

Trang 21

muốn phát huy nguồn lực con người thì phải hướng đến nhiều lợi ích chính đáng củacon người Đây chính là cơ sở lý luận để chúng ta giải quyết mối quan hệ giữa cáclợi ích Giải quyết tốt mối quan hệ giữa các lợi ích vừa là điều kiện vừa là động lực

để phát triển và phát huy nguồn lực con người Nguồn lực con người sẽ được pháthuy mạnh mẽ khi chúng ta giải quyết các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh

tế gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ Chỉ có thể trên cơ sở giảiquyết tốt mối quan hệ giữa đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợicông dân với đáp ứng nhu cầu trước mắt và chăm lo lợi ích lâu dài cho người laođộng giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội, thì nguồn lực con người mới trởthành động lực, thành năng lực nội sinh Do đó, trong quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước phải hướng tới mục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống cả vậtchất và tinh thần cho mỗi người dân trong nước để trên cơ sở đó tạo ra một đội ngũnhững người lao động có chất lượng, một nguồn nhân lực dồi dào Chúng ta chỉ đạtđược mục tiêu đó khi có sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế nhanh với nângcao chất lượng cuộc sống cho người lao động, nâng cao trình độ học vấn và văn hóacho người lao động, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho con người Hơn nữa mối quan

hệ giữa cá nhân và xã hội luôn mang tính lịch sử Trong xã hội cộng sản nguyênthủy, cá nhân “hòa tan” vào xã hội Trong xã hội có giai cấp, cá nhân được từngbước phát triển, khẳng định vai trò chủ thể sáng tạo xã hội Mỗi bước phát triển của

xã hội đã tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của cá nhân Song, chế độ tưhữu về tư liệu sản xuất cũng là cơ sở khách quan của việc tuyệt đối hóa “cái Tôi” của

cá nhân, nhất là dưới chế độ tư bản chủ nghĩa Lịch sử xã hội loài người tất yếu pháttriển đến xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó có sự kết hợp hài hòa giữa cá nhân và xãhội; sự phát triển tự do và toàn diện của cá nhân vừa là điều kiện, vừa là mục đíchcủa sự phát triển xã hội

Trong xã hội có giai cấp, lợi ích mang tính đối kháng giai cấp, song điều đókhông tước bỏ sự thống nhất biện chứng giữa con người giai cấp và con người nhânloại Khi xã hội bắt đầu phân chia giai cấp, mỗi con người là một thành viên của mộtgiai cấp nhất định và mang địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp đó Địa vị này mang tínhkhách quan, do toàn bộ điều kiện sinh hoạt vật chất quy định, mặc dù mọi thành viêncủa giai cấp có thể ý thức được, hoặc không thể ý thức được điều đó Song con ngườicòn mang tính nhân loại - một thuộc tính vốn có, được hình thành trong suốt chiều dài

Trang 22

lịch sử của cuộc sống cộng đồng, mà cộng đồng rộng lớn và phổ biến nhất chính lànhân loại Tính nhân loại thể hiện trong sự sáng tạo, trong những giá trị văn hóachung, những quy tắc chuẩn mực của đời sống xã hội với tư cách những đạo lý phổquát, như nhân đạo, dân chủ, công bằng xã hội, hòa bình, bảo vệ môi trường sinhthái Yêu cầu khách quan của cuộc sống cộng đồng xã hội - văn hóa buộc con ngườiphải nương tựa vào nhau để tồn tại và phát triển, khai thác sự phong phú của cả cộngđồng để làm phong phú cho mình Nhưng, một khi trong xã hội còn chế độ tư hữu về

tư liệu sản xuất, còn quan hệ đối kháng giai cấp thì con người còn mang tính giai cấp,không bao giờ có “lợi ích nhân loại thuần khiết”; lợi ích luôn được phản chiếu qualăng kính giai cấp, trong cả nhận thức và hoạt động thực tiễn

Thừa nhận ý nghĩa quyết định của mặt xã hội đối với việc hình thành bản chấtcon người song không có nghĩa là chủ nghĩa Mác coi nhẹ mặt tự nhiên của nó Tuyvẫn là những nét chung nhưng mặt sinh học trong con người không còn nguyên dạngnhư con vật mà đã có cải tạo hoặc phát triển ở trình độ cao hơn con vật Bằng hoạtđộng lao động sáng tạo, con người đã vượt lên trên các động vật khác không chỉ ởtrong quan hệ xã hội mà cả trong mối quan hệ sinh học, thậm chí mặt sinh học trongcon người cũng không tồn tại bên cạnh mà tồn tại ngay trong mặt xã hội Bởi vìtrong con người khó phân biệt đâu là mặt sinh học, đâu là mặt xã hội Chỉ có trongnhận thức ta mới phân biệt được chúng

Con người là một động vật đặc biệt, đặc biệt là cấu tạo của bộ óc Khác với convật, con người ngoài tính di truyền còn có tính kế thừa về mặt xã hội, và những kinhnghiệm của thế hệ trước muốn truyền lại cho thế hệ sau chỉ có thể thông qua conđường giáo dục Và cùng với ánh sáng di truyền học hiện đại đã bác bỏ quan điểmsai lầm cho rằng những yếu tố văn hóa, đạo đức, tinh thần cũng được ghi lại trongcác ren di truyền Luận điểm đã một thời biện hộ cho sự phân chia giống ngườithượng đẳng, hạ đẳng và dẫn đến chỗ phủ nhận vai trò của hoàn cảnh, của giáo dụcđối với sự hình thành nhân cách con người Yếu tố di truyền chỉ là cơ sở, khả năngcho sự phát triển năng lực và phẩm chất của con người Và chỉ bằng con đường rènluyện và giáo dục mới làm cho mọi người có điều kiện tiếp thu tất cả các thành tựucủa nền văn hóa vật chất, tinh thần của xã hội loài người Do đó, muốn phát huynguồn lực con người chúng ta cần phải quan tâm đến giáo dục và đào tạo; đặc biệttrong giai đoạn hiện nay - giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với

Trang 23

phát triển kinh tế tri thức Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay,hơn bao giờ hết, giáo dục và đào tạo có sự mệnh vô cùng quan trọng trong việc tạodựng và phát huy nguồn lực con người Đối với nước ta nói chung và đối với KonTum nói riêng để phát huy nguồn lực con người thì phải tiếp tục phát triển giáo dục

và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội Vì chất lượng của con người là sảnphẩm của giáo dục và đào tạo, nên chăm lo phát triển giáo dục và đào tạo là chăm locho sự phát triển của lực lượng sản xuất Với tư cách là động lực cho sự phát triểnkinh tế tri thức, giáo dục và đào tạo chuẩn bị con người phát triển cao về trí tuệ, vềtay nghề, về kỹ năng và kỹ xảo Hơn nữa giáo dục và đào tạo còn giúp chúng ta pháthuy nội lực - trình độ trí tuệ dân tộc Hàm lượng trí tuệ trong lao động do giáo dụcmang lại là cái làm cho con người trở thành nguồn lực đặc biệt của sản xuất, nguồnlực cơ bản, nguồn lực vô tận để phát triển lực lượng sản xuất

Có thể nói chủ nghĩa Mác với cách nhìn bản chất - khoa học về bản chất conngười đã xóa tan lớp “sương mù mờ ảo”, thần bí vây quanh con người, vạch ra bảnchất đích thực, đầy sức thuyết phục về con người, quan niệm của các ông đã có giátrị to lớn cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Quan niệm này đã trở thành cơ sở lý luậncho nhiều ngành khoa học đang nghiên cứu về con người Đồng thời nó cũng là cơ

sở vững chắc cho việc phát huy nguồn lực con người - nguồn lực quyết định của lựclượng sản xuất, để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao nănglực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế Tư tưởng khẳng định “trong tínhhiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” của các ôngcòn cho thấy con người không chỉ tồn tại trong mối liên hệ con người - tự nhiên - xãhội mà còn là chủ thể của lịch sử, sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân mình

1.1.2.Con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử

Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng lịch sử xã hội là do chính hoạt độngcủa con người làm nên chứ không phải do sự sáng tạo của một lực lượng siêu nhânnào Đó chính là kết quả của quá trình con người cải tạo tự nhiên - xã hội và cải tạochính bản thân mình

Về vai trò của con người triết học Mác đã khẳng định con người là chủ thể hoạtđộng thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất vật chất Triết học Mác khẳng định laođộng là điều kiện chủ yếu, quyết định sự hình thành, phát triển của con người Conngười khác con vật ở chỗ, con vật sống dựa hoàn toàn vào tặng phẩm của tự nhiên,

Trang 24

còn con người phải bằng lao động sản xuất để cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra của cảivật chất, thỏa mãn nhu cầu ngày càng phát triển của mình Sự hình thành, phát triểncủa con người là một quá trình gắn liền với lịch sử sản xuất vật chất cùng với cácdạng thức hoạt động thực tiễn phong phú khác Từ vai trò quyết định của quá trìnhsản xuất ra những nhu cầu đầu tiên đối với sự tồn tại và phát triển của con người vàhoạt động sản xuất ra của cải vật chất là hành vi lịch sử đầu tiên C.Mác viết: “Hành

vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt để thỏa mãn những nhucầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất, và đó là hành vi lịch sử - mộtđiều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay cũng giống như hàng nghìn năm vềtrước người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ chỉ nhằm để duy trì đời sống conngười” [17, tr.40]

Con người vừa là sản phẩm cao nhất trong quá trình tiến hóa của tự nhiên vàlịch sử xã hội,vừa là chủ thể sáng tạo ra mọi thành tựu văn hóa trên trái đất Bằnghoạt động thực tiễn, con người còn sáng tạo ra chính bản thân mình với tư cách làtổng hòa các những lực lượng bản chất người được phát triển không ngừng trong lịch

sử Lịch sử sản xuất vật chất cũng là lịch sử con người cải tạo môi trường sống phùhợp với nhu cầu tồn tại và phát triển của mình C.Mác đã khẳng định rằng, “nhờ sựsản xuất đó, giới tự nhiên biểu hiện ra là tác phẩm của nó (con người) và thực tại của

nó “[Theo 12, tr.437], làm cho tự nhiên “có tính người”, tự nhiên được “nhân loạihóa” Lịch sử phát triển của tự nhiên gắn bó hữu cơ với lịch sử phát triển của xã hộiloài người Chính vì vậy theo C.Mác, con người luôn đứng trước “một tự nhiên cótính chất lịch sử và một lịch sử có tính chất tự nhiên “ [Theo 12, tr.438]

Lao động trước hết làm cải biến con người - bản năng tự nhiên thành con người

- bản năng xã hội Triết học Mác và tiếp đó là khoa học hiện đại đã chứng minh rằng,thông qua lịch sử hình thành và phát triển nền sản xuất vật chất, nhờ lao động màmột loài sinh vật mới ra đời, đó là con người có lý tính, mang bản chất xã hội Laođộng đã làm biến đổi bản chất tự nhiên - sinh học của tổ tiên loài người để hìnhthành các tố chất xã hội - văn hóa Mỗi bước tiến của lịch sử phát triển nền sản xuấtvật chất là một bước nhờ có lao động đã cải tạo bản năng sinh học của con người, bắtbản năng phục tùng lý trí, phát triển bản năng con người lên những nấc thang mới vềchất - bản năng xã hội Lao động là điều kiện chủ yếu, quyết định sự hình thành vàphát triển tố chất xã hội - văn hóa của con người Trong lao động, tất yếu hình thành

Trang 25

các quan hệ xã hội cơ bản, và thông qua hoạt động giao tiếp nảy sinh do nhu cầu laođộng mà hình thành nên ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm, ý chí và cả phương pháp tưduy của con người Trên ý nghĩa cao cả nhất thì lao động sáng tạo ra chính bản thâncon người.

Nhờ có lao động mà con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa hòa nhập với tựnhiên, trở thành một thực thể sáng tạo Hoạt động lịch sử đầu tiên mang ý nghĩa sángtạo chân chính của con người là chế tạo ra công cụ lao động Con người bắt đầu lịch

sử của mình từ đó Nhờ công cụ lao động, tư liệu của mọi tư liệu - sức mạnh vật chấtđầu tiên mà con người tách khỏi tự nhiên, tách khỏi loài vật với tư cách là chủ thể hoạtđộng thực tiễn xã hội Bước nhảy vọt từ động vật sang xã hội được thực hiện nhờ cácyếu tố mới về chất trong lối sống của con người, đó chính là nhờ lao động “Lao độngsáng tạo ra bản thân con người” là kết luận về lý luận nguồn gốc loài người củaPh.Ănghen dựa trên thành tựu của các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Điều đókhẳng định vai trò chủ đạo của lao động, cả trong sự hình thành ý thức con người lẫn

sự liên kết những con người với nhau mà cơ sở của chúng là lao động chung, là nềnsản xuất xã hội Đồng thời, bằng hoạt động cải tạo tự nhiên, con người hòa nhập với tựnhiên, biến “tự nhiên thứ nhất” thành “tự nhiên thứ hai”, “tự nhiên thứ ba”, “tự nhiênthứ n” Hơn nữa, con người không chỉ sáng tạo ra của cải, mà còn sáng tạo ra cả trithức và đời sống tinh thần Như vậy, sáng tạo là thuộc tính tối cao của con người Bảnchất con người là sáng tạo ngay từ đầu với đầy đủ ý nghĩa của nó

Có thể khẳng định rằng, lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động của con người theođuổi mục đích của mình Vì vậy, con người với tư cách là chủ thể đã tạo nên một nềnsản xuất xuyên suốt tiến trình lịch sử loài người, đưa loài người đi từ phương thức sảnxuất này đến phương thức sản xuất khác tiến bộ hơn bằng các cuộc cách mạng xã hội

Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì phương thức sản xuất cũng khác nhau mà nhìnvào đó ta có thể phân biệt được chế độ xã hội này với chế độ xã hội khác

Thực tiễn ngày càng khẳng định tính đúng đắn trong quan niệm của các nhàsáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò, vị trí không gì thay thế được của conngười trong tiến trình phát triển của lịch sử, của xã hội loài người Bên cạnh chúng

ta, các nước công nghiệp mới ở châu Á đã cho thấy thành công của họ trong chiếnlược nâng cao chất lượng con người, phát triển nguồn nhân lực, coi con người là tàinguyên vô giá và đầu tư lớn cho việc nâng cao chất lượng, nguồn tài nguyên sức

Trang 26

người vô giá ấy, lấy đó làm đòn bẩy phát triển kinh tế, hiện đại hóa xã hội Bản thâncông nghiệp hóa, hiện đại hóa mà chúng ta đang từng bước thực hiện với nhữngthành công bước đầu của nó cũng ngày càng đòi hỏi mỗi chúng ta phải nhận thứcmột cách sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người,thấy rõ vai trò của con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Do đó, đểthực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng takhông thể không phát triển con người Việt Nam, nâng đội ngũ lao động lên một tầmcao mới Hơn nữa, đó cần được coi là động lực mạnh mẽ nhất giúp cho chúng tanhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu.

Tóm lại với quan niệm coi con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sảnxuất vật chất, là yếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sảnxuất của xã hội, mà hơn nữa nó còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quá trìnhlịch sử của chính mình, lịch sử xã hội loài người Bằng hoạt động thực tiễn của mìnhcon người đã in dấu sáng tạo của bàn tay, trí tuệ của mình vào giới tự nhiên, khôngngừng chinh phục thế giới khách quan, cải tạo hoàn cảnh, phát triển lực lượng sảnxuất và qua đó phát triển và hoàn thiện bản thân mình Con người làm nên lịch sửcủa bản thân mình Lịch sử đó không chỉ là một chuỗi biến cố được tạo nên bởinhững điều kiện khách quan, nhưng chính con người lại là chủ thể của những biếnđổi to lớn của hoàn cảnh Bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người không chỉlàm cho bộ mặt tự nhiên thay đổi mà bộ mặt xã hội cũng thay đổi và ngày càng hoànthiện hơn

Tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, nhìn nhận một cách biện chứng,chính là quá trình giải quyết các mâu thuẫn Lực lượng để giải quyết mâu thuẫn đóchính là con người Con người với khả năng lao động và năng lực sáng tạo của mình

đã làm nên mọi biến đổi và phát triển của xã hội Với những lý do trên thì con ngườichính là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội và là chủ thể của mọi sáng tạo,của mọi nền văn minh ấy Do đó, phát huy nguồn lực con người luôn là nhân tốquyết định của mọi sự biến chuyển trong xã hội

Trong thời đại ngày nay, khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp conngười ngày càng thể hiện vai trò to lớn của mình trong lực lượng sản xuất nói riêngtrong sự phát triển xã hội nói chung Cần thấy rằng các nguồn lực vật chất khác như:vốn, kỹ thuật công nghệ sẽ không phát huy được hiệu quả nếu không có những con

Trang 27

người có trí tuệ và đủ năng lực làm chủ nó Chính con người đã tạo nên những điều kìdiệu từ những thành tựu nhỏ đến lớn, những bước nhảy vọt trong chinh phục tự nhiên

để phát triển xã hội, phục vụ cho nhu cầu không ngừng tăng lên của con người Điều

đó có thể khẳng định lại một lần nữa, phát huy nguồn lực con người là điều kiện tiênquyết để cho mỗi đất nước, mỗi địa phương phát triển nhanh và bền vững

1.2 Quan niệm về nguồn lực, nguồn lực con người

1.2.1 Quan niệm về nguồn lực

- Khái niệm nguồn lực

Vấn đề khai thác thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm mục tiêu pháttriển kinh tế - xã hội đang thu hút sự quan tâm không những của những người làmcông tác lý luận, của phần lớn các nhà khoa học thuộc nhiều ngành khác nhau, màcòn của cả những người làm công tác hoạch định chính sách cũng như chỉ đạo thựctiễn Sở dĩ như vậy là vì để có một chiến lược kinh tế - xã hội đúng đắn, đồng thời đểthực hiện được chiến lược đó thì không có con đường nào khác ngoài việc phân tích,đánh giá các nguồn lực của sự phát triển để trên cơ sở đó khai thác, sử dụng đúngđắn các nguồn lực ấy vào sự phát triển kinh tế xã hội

Hiện nay, thuật ngữ “nguồn lực” được sử dụng phổ biến nhưng khái niệmnguồn lực chưa có được một định nghĩa thống nhất rõ ràng mà chỉ đưa ra quan niệmtổng quát về nguồn lực như: dễ hiểu rằng nguồn lực là toàn bộ các yếu tố cả vật chấtlẫn tinh thần đang góp phần thúc đẩy cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội vàchính trị của quốc gia đó

Trên cơ sở phân tích nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, tác giả Lê Du Phong cho rằng:

“Nguồn lực là tổng hợp các yếu tố vật thể và phi vật thể tạo nên nền kinh tế của mộtđất nước và thúc đẩy nó phát triển” [18, tr.20] Quan niệm này theo tôi là chưa rõ Ởđây khái niệm “vật thể” mà tác giả sử dụng không phải là vật chất mà nó chỉ là một

bộ phận, một thuộc tính nào đó của vật chất, cũng như vậy khái niệm “phi vật thể”cũng không phải là tinh thần mà chỉ là một bộ phận, thuộc tính của tinh thần mà thôi.Điều đó làm cho người ta không hiểu những yếu tố nào là thuộc về nguồn lực trong

vô vàn các sự vật vật chất để tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội

Theo quan niệm của viện chiến lược phát triển (Bộ kế hoạch và đầu tư) đã đưa

ra quan niệm cụ thể và chi tiết hơn: “Nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế,

Trang 28

đó là điều kiện vật chất được sử dụng cho phát triển (Các nguồn tài nguyên thiênnhiên, cơ sở vật chất, nguồn vốn, nguồn nhân lực )” [23, tr.70] Quan niệm này theotôi là hẹp Trong quan niệm đó nguồn lực vật chất được xem là nguồn lực duy nhấttạo nên sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Đây là cách hiểu chưa toàn diện,bởi trong nguồn lực, ngoài nguồn lực vật chất thì còn có nguồn lực tinh thần Do đó,trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nếu chúng ta biết khai tháchợp lý các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người thì nó mới tạo điều kiện cho

sự phát triển bền vững

Theo tác giả Chu Tiến Quang, theo nghĩa hẹp, nguồn lực được hiểu là cácnguồn lực vật chất cho phát triển, ví dụ như tài nguyên thiên nhiên, tài sản vốn bằngtiền , theo nghĩa rộng, nguồn lực được hiểu gồm tất cả các lợi thế, tiềm năng vậtchất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nhất định nào đó Nguồn lực phát triểncủa một quốc gia được hiểu là khả năng cung cấp các yếu tố cần thiết cho việc pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước

Từ những ý kiến trên và khái quát lại, ta có thể hiểu nguồn lực là toàn bộ cácnguồn tài nguyên thiên nhiên, tài sản, con người trong nước và từ nước ngoài và cácyếu tố phi vật chất khác đang được khai thác, sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội

Nghĩa là khái niệm nguồn lực không chỉ bao gồm các yếu tố vật chất mà cònbao gồm các yếu tố phi vật chất; nó chẳng những có phạm vi bao quát rộng; mà cònhàm chứa không chỉ những yếu tố sẵn có đang tạo ra sức mạnh trên thực tế mà cảnhững yếu tố mới ở dạng tiềm năng có thể tạo nên sức mạnh trong tương lai; nókhông chỉ nói lên sức mạnh mà còn chỉ ra nơi bắt đầu, nơi phát sinh hoặc nơi có thểcung cấp sức mạnh; nó phản ánh không chỉ số lượng mà còn cả chất lượng các yếu

tố, đồng thời nói lên sự biến đổi không ngừng các yếu tố đó Các nguồn lực đó sẽphát huy hiệu quả nếu chúng ta biết kết hợp chúng, vận dụng chúng vào trong nhữngđiều kiện, hoàn cảnh phù hợp

- Phân loại nguồn lực

Khái niệm nguồn lực hàm chứa một nội dung hết sức phức tạp Vì thế có nhiềucách tiếp cận và phân loại nguồn lực theo các cơ sở khác nhau:

Nếu căn cứ vào cơ sở phân loại khái quát nhất thì nguồn lực được phân chiathành nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần Nguồn lực vật chất là nguồn lực tồn

Trang 29

tại hiện hữu trong thế giới mà bằng giác quan con người có thể nhận thức được ví dụnhư tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, khoa học kỹ thuật và công nghệ Nguồnlực tinh thần (nguồn lực phi vật chất) là nguồn lực văn hóa, truyền thống dân tộc vàthể chế chính trị, là linh hồn của mỗi nền văn minh.

Nếu căn cứ vào cơ sở phân loại là quan hệ bên trong và bên ngoài của mỗi quốcgia thì nguồn lực được phân chia thành nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài.Nguồn lực bên trong là nguồn lực tồn tại trong đơn vị lãnh thổ của một quốc gia Nóbao gồm con người, vốn trong nước, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài nguyên thiên nhiên,

vị trí địa lý Nguồn lực bên ngoài là nguồn lực mà chúng ta sử dụng nhờ vào sự trợgiúp, học tập của các nước trên thế giới Nó bao gồm các yếu tố như là vốn, côngnghệ thị trường, kinh nghiệm quản lý Cách phân chia này thực chất nhằm phân biệtđược nguồn nội lực và nguồn ngoại lực, và vai trò của chúng đối với việc phát triểnđất nước

Nếu căn cứ vào cơ sở phân loại là quan hệ chủ thể, khách thể thì có nguồn lựcchủ quan (con người) và nguồn lực khách quan (tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý,vốn trong nước và ngoài nước)

Theo quan hệ rộng hẹp, thì những yếu tố tạo nên một nguồn lực nào đó lại trởthành nguồn lực của chính nguồn lực đó, ví dụ: Giáo dục cũng là một nguồn lực gópphần tạo nên nguồn lực con người, hay trí tuệ cũng được coi là nguồn lực trongnguồn lực con người

Nếu căn cứ vào cơ sở phân loại là quan hệ nhân quả, thì tất cả những yếu tố tạonên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển của xã hội đều được coi là nguồn lực Như vậy

nó bao hàm cả nội lực và ngoại lực

Nếu căn cứ vào cơ sở phân loại là tính chất thì nguồn lực được phân chia thành:Nguồn lực sản xuất vật chất (nguồn lực kinh tế) Nó bao gồm các yếu tố như tàinguyên thiên nhiên, vốn, lao động, tiến bộ khoa học và công nghệ Và nguồn lựcmang tính chính trị xã hội (nguồn lực phi kinh tế), bao gồm các yếu tố như: Quanđiểm, đường lối, cơ chế, chính sách, các thành phần kinh tế, các loại hình kinh doanh.Nếu căn cứ vào cơ sở phân loại là sự tác động thì nguồn lực được phân chiathành nguồn lực trực tiếp và nguồn lực gián tiếp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Như vậy các tiêu chí phân loại nguồn lực rất đa dạng, do đó các nguồn lực cũng rấtphong phú, trong đó con người được coi là một nguồn lực - nguồn lực quan trọng nhất

Trang 30

Tóm lại, tùy theo cơ sở phân loại khác nhau mà chúng ta có các nguồn lực khácnhau Nhưng khi nói đến nguồn lực của một đất nước là người ta nói đến con người,đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học công nghệ, đến vị trí địa lý Các yếu tốcấu thành nguồn lực đó tồn tại thống nhất biện chứng với nhau, tác động lẫn nhaulàm cho xã hội vận động và phát triển không ngừng

1.2.2 Quan niệm về nguồn lực con người

- Khái niệm nguồn lực con người

Khái niệm “nguồn lực con người” được sử dụng từ năm 60 ở nhiều nướcphương Tây và một số nước châu Á, và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dự trênquan niệm mới về vị trí, vai trò con người trong sự phát triển Ở nước ta, khái niệmnày được sử dụng tương đối rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 đến nay Tuy nhiên vẫnchưa có tài liệu nào chính thức định nghĩa về khái niệm “nguồn lực con người”, mặc

dù các bài viết về nguồn lực con người, về nguồn nhân lực, về tài nguyên con ngườikhông phải là ít

Tìm hiểu các nghiên cứu gần đây, tôi thấy quan niệm về nguồn lực con ngườikhá đa dạng, được đề cập từ nhiều góc độ khác nhau

Khi nói đến nguồn lực con người, các nhà kinh tế thường hiểu là nguồn nhânlực (Human Reources) Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người thực chất là một,bởi đây chẳng qua là cách dùng từ khác mà thôi Nhân là người, cho nên nguồn nhânlực chính là nguồn lực con người Nguồn lực con người được hiểu là tổng hòa trongthể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhâncách) và tính năng động xã hội của con người Tính thống nhất đó được thể hiện ởquá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người

Nguồn lực con người theo cách hiểu trên là một khái niệm khái quát có tínhtrừu tượng Vì thế, khi xác định nguồn lực của một tỉnh, của một quốc gia trong mộtthời kỳ nhất định cần phải được chỉ tiêu hóa, lượng hóa Hiện nay, có nhiều quanniệm khác nhau về nguồn lực con người

Theo quan niệm của ILO, nguồn lực con người là nguồn lao động hoặc là toàn

bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân Hiện nay, ở Việt Nam, tuổi laođộng được quy định là từ 15 - 60 (đối với nam) và từ 15 - 55 (đối với nữ) Trên thực

tế khi tính toán, thống kê lực lượng lao động, người ta thường quy định: Lực lượnglao động là những người trong độ tuổi lao động có việc làm và những người ngoài

Trang 31

tuổi lao động vẫn tham gia làm việc (thường tính cho những người trên tuổi laođộng) Như vậy, ở đây lực lượng lao động cũng đồng nghĩa với dân số hoạt độngkinh tế Nguồn lao động được hiểu là những người có khả năng lao động dưới dạngtích cực và tiềm tàng, có thể biểu diễn nguồn lao động qua biểu đồ sau:

NGUỒN LAO ĐỘNG

Theo giáo trình Kinh tế lao động, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực conngười, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xãhội; nguồn lực con người khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài chính, nguồnlực vật chất, nguồn lực công nghệ ) nguồn lực con người trong quá trình vận động

nó chịu sự tác động của các yếu tố tự nhiên(sinh,lão, bệnh, tử) và các yếu tố xãhội(việc làm, thất nghiệp) Chính vì vậy nguồn nhân lực là một khái niệm khá phứctạp, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Nguồn nhân lực được hiểu là nơisinh sản, nuôi dưỡng và cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Cách hiểunày muốn chỉ rõ nguồn gốc tạo ra nguồn lực con người, nghiêng về sự biến động tựnhiên của dân số và ảnh hưởng của nó tới sự biến động nguồn nhân lực Nguồn nhân

Nội trợ

Các ngành phi sản xuất

Thất nghiệp

Các ngành sản xuất trong đó có nông nghiệp

Trang 32

lực còn được hiểu như một yếu tố tham gia vào quá trình lao động Cách hiểu này cụthể hơn và có thể lượng hóa được, đó là năng lực lao động của xã hội, bao gồmnhững người có khả năng lao động, tức là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trongnguồn nhân lực.

Theo định nghĩa của UNDP, Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức

và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc đang tiềm năng đểphát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng Như vậy nguồn nhân lực là tổng thểcác tiềm năng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độnhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước Tiềm năng đó bao hàm tổng hòa các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách conngười của một quốc gia, đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh

tế đòi hỏi, thực chất đó là tiềm năng của con người về số lượng, chất lượng và cơcấu Quan điểm đó nhìn nhận nguồn nhân lực một cách toàn diện, coi nguồn nhânlực không chỉ trên góc độ số lượng mà cả về chất lượng Theo cách tiếp cận này,nguồn nhân lực là tất cả các kỹ năng và năng lực của con người liên quan tới sự pháttriển của mỗi cá nhân và cả của quốc gia

Theo thuyết lao động xã hội, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: một là,theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội,cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó nguồn nhân lực bao gồmtoàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (trừ những người dị tật bẩm sinh);hai là, theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lựccho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, cótham gia vào nền sản xuất xã hội tức là toàn bộ cá nhân cụ thể tham gia vào quá trìnhlao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quátrình lao động

Theo thuyết về vốn con người (Human Resouree), yếu tố con người được coi làyếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, là phương tiện để phát triển kinh tế -

xã hội Nguồn lực con người được coi như mọi nguồn lực khác (như vốn, công nghệ,tài nguyên, đất đai ) cho nên cần phải đầu tư cho con người Quan niệm trên đãkhông đánh giá đúng vai trò của con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.Trên thực tế thì các nguồn lực như vốn, tài nguyên, đất đai chỉ phát huy được tácdụng của mình nếu có sự tham gia của con người Do đó nguồn lực con người phải

Trang 33

được xem là nguồn lực quan trọng nhất cần được tập trung đầu tư

Theo Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinhnghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi

cá nhân và của đất nước Theo tôi quan niệm này khi bàn về nguồn nhân lực là chưađầy đủ Họ chỉ xem xét nguồn nhân lực chủ yếu ở phương diện chất lượng con người

và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội chứ không nói đến thể chất,phẩm chất, số lượng nguồn nhân lực, mà các yếu tố đó là điều kiện quan trọng đểxem nguồn nhân lực có phải là động lực lớn tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế -

xã hội hay không

Ở Việt Nam, theo ý kiến của các nhà khoa học tham gia chương trình khoa họccông nghệ cấp nhà nước mã số KX07, “con người Việt Nam là mục tiêu và động lựccủa sự phát triển kinh tế - xã hội” do giáo sư, tiến sĩ khoa học Phạm Minh Hạc làmchủ nhiệm, cho rằng, nhân lực con người được hiểu là số dân và chất lượng conngười, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất.Trong quan niệm này, tác giả đã đề cập đầy đủ cả về số lượng cũng như chất lượngcon người Nhưng khi diễn tả rõ ra thì ta thấy tác giả đã trùng lặp khi đề cập các yếu

tố của nhân lực như thể chất - tinh thần, sức khỏe - trí tuệ

Trong luận án tiến sĩ triết học, nguồn lực con người trong quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, tác giả Đoàn Khái cho rằng: “Nguồn lực con người là kháiniệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm sứcmạnh của nó trong sự phát triển xã hội” [15, tr.23] Quan niệm này không chỉ đề cậpđến số lượng mà còn đề cập đến cả chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt tác giả đãnhấn mạnh được tầm quan trọng của chất lượng con người đối với sự phát triển kinh tế

- xã hội Đây là quan niệm khá đầy đủ Bởi trong nền kinh tế tri thức nếu không có trithức, năng lực, sức khoẻ, đạo đức nghề nghiệp thì sẽ không trở thành một động lực màngược lại còn kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội

Theo quan điểm của tác giả Lê Thị Ngân, trong luận án tiến sỹ, nguồn nhân lựcđược quan niệm là tổng thể sức lao động của xã hội đang và sẽ được vận dụng choquá trình sản xuất xã hội hay nói một cách rõ hơn: Nguồn nhân lực là tổng thể nhữngnăng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong tổng số lực lượng lao động của xã hội vàđược họ đang và sẽ đem ra vận dụng để sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng cho xã hội.Nguồn nhân lực không chỉ được hiểu là toàn bộ năng lực lao động trực tiếp tham gia

Trang 34

vào quá trình sản xuất mà nó còn được hiểu là lực lượng lao động kế cận sẽ tham giavào quá trình sản xuất ra của cải xã hội.

Tóm lại, có rất nhiều quan niệm khác nhau về nguồn lực con người, nhưng theotôi quan niệm đầy đủ nhất về nguồn lực con người đó là quan niệm của Đoàn Kháikhi ông cho rằng: “Nguồn lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số vànhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm sức mạnh của nó trong sự phát triển

xã hội”

Chúng ta có thể hiểu nguồn lực con người là nguồn cung cấp sức lao động cho

xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triểnkinh tế - xã hội của mọi quốc gia

Như vậy, khi nói tới nguồn lực con người phải hiểu đó là toàn bộ những ngườilao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình kinh tế - xã hội và các thế hệnhững người lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội,con người đóng vai trò là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướngtới mục tiêu đã được chọn Cho nên nguồn lực con người còn bao gồm tổng thể cácyếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, phong cách làm việc, đó chính là các yếu tốthuộc về chất lượng của nguồn nhân lực Ngày nay, trước yêu cầu phát triển của nềnkinh tế tri thức, khi nói tới nguồn nhân lực phải nói tới cơ cấu lao động, bao gồm cả

cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề, kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn,đạo đức và nhân cách của con người Ngoài ra khi nói tới nguồn lực con người cầnphải nhấn mạnh sự phát triển của trí tuệ, thể lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụcủa con người, bởi vì trí lực là yếu tố ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triểnnguồn nhân lực

Trong kinh tế tri thức, ưu thế về tri thức trong mỗi quốc gia sẽ đóng vai tròquyết định năng lực cạnh tranh Để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của địaphương và đất nước thì cần phải có một chiến lược phát triển nguồn lực con người

có trí tuệ cao Để thực hiện được điều này thì vai trò chủ yếu thuộc về giáo dục vàđào tạo bởi giáo dục và đào tạo là con đường ngắn nhất để chúng ta thực hiện thànhcông quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trên cơ sở kế thừa lý luận của các nhà khoa học về nguồn nhân lực cho quá

trình phát triển kinh tế - xã hội, theo tác giả của luận văn, nguồn lực con người là

khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và chất lượng con người với tất cả các đặc điểm

Trang 35

của nó làm thúc đẩy nền kinh tế - xã hội.

Như vậy khái niệm “nguồn lực con người” trước hết biểu hiện ra là người laođộng, là lực lượng lao động (số người trong tuổi lao động có khả năng lao động), lànguồn lao động (đội ngũ lao động hiện có và sẽ có trong tương lai gần) Đồng thời

nó cũng phản ánh quy mô dân số thông qua số lượng dân cư và tốc độ tăng dân sốcủa một nước trong một thời kỳ nhất định

- Khái niệm “nguồn lực con người” phản ánh cơ cấu dân cư và cơ cấu lao độngtrong các ngành, các vùng, cơ cấu lao động đã qua đào tạo trong các lĩnh vực và khuvực kinh tế

- Khái niệm “nguồn lực con người” phản ánh chủ yếu phương diện chất lượngdân số, đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động hiện tại và trong tương laigần (dưới dạng tiềm năng) Nghĩa là nói đến nguồn lực con người là phải nói đếnsức lao động (thể lực, trí lực) của con người, nói đến chất lượng con người, baogồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ vàphong cách làm việc Nhưng để nguồn lực con người trở thành nguồn lực quantrọng nhất trong các nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế thì chấtlượng con người phải là yếu tố quyết định Bởi sức lao động chỉ thực sự có hiệuquả khi hội tụ trong nó cả sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ,phong cách làm việc

- Khái niệm “nguồn lực con người” còn hàm chứa cả sự liên hệ, tác động lẫnnhau giữa các yếu tố nội tại trong nó; sự tác động ảnh hưởng của nó đối với cácnguồn lực khác Ngoài ra nó còn chỉ ra rằng con người được xem xét với tư cách làmột nguồn lực, nguồn lực nội tại, cơ bản trong hệ thống các nguồn lực của sự pháttriển xã hội

- Các yếu tố cấu thành nguồn lực con người

Có thể cụ thể hóa và phân loại các yếu tố cấu thành nguồn lực con người theocác nhóm sau đây:

- Quy mô, cơ cấu dân số, lao động và sức trẻ của nguồn lực con người Nhómnày liên quan đến các biến về dân số, lao động tham gia vào phát triển kinh tế - xãhội của một quốc gia trong từng thời kỳ nhất định

- Nhóm yếu tố cấu thành nguồn lực con người thể hiện ở tính năng động xã hội

và sức sáng tạo của con người Nhóm này liên quan tới môi trường, pháp luật, thể

Trang 36

chế và các chính sách, cơ chế, giải phóng sức lao động, tạo động lực để con ngườiphát triển, phát huy tài năng và sức sáng tạo của mình.

- Nhóm yếu tố cấu thành nguồn lực con người liên quan đến truyền thống lịch

sử và nền văn hóa của một quốc gia Nó bồi đắp và kết tinh trong mỗi con người và

cả cộng đồng dân tộc, hun đúc nên bản lĩnh, ý chí, tác phong của mỗi người

- Trình độ dân trí và chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực Đây là yếu tố cấuthành đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định nguồn lực con người trong tiếp thu,làm chủ và thích nghi với kỹ thuật, công nghệ cao và quản lý nền kinh tế tri thức Điềunày liên quan và phụ thuộc vào sự phát triển của nền giáo dục và đào tạo của một quốcgia trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu thế toàn cầu hóa

Như vậy, có rất nhiều yếu tố cấu thành nguồn lực con người như: sức khỏe cơthể và sức khỏe tâm thần, mức sống, tuổi thọ, trình độ giáo dục và đào tạo về vănhóa và chuyên môn nghề nghiệp, trình độ học vấn, trình độ phát triển trí tuệ, nănglực sáng tạo, khả năng thích nghi, kỹ năng lao động, văn hóa lao động, các khía cạnhtâm lý ý thức, đạo đức, tư tưởng, tình cảm, lối sống trong đó trí lực, thể lực, đạođức là yếu tố quan trọng nhất Nhưng yếu tố hàng đầu của nguồn lực con ngườitrước hết là trí tuệ, bởi tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phảithông qua đầu óc của họ, tức là phải thông qua trí tuệ Trình độ trí tuệ phản ánh trình

độ học vấn và tài năng sáng tạo Nó biểu hiện ở khả năng áp dụng những thành tựukhoa học, ở sự nhạy bén thích ứng nhanh và làm chủ được kỹ thuật công nghệ hiệnđại, có kỹ năng lao động nghề nghiệp, năng lực hoạch định chính sách Cuộc cáchmạng khoa học công nghệ ngày nay đã tác động và làm biến đổi mạnh mẽ lao động

xã hội theo hướng tăng tỷ trọng của lao động trí tuệ giảm bớt các hoạt động chân tay,làm cho hoạt động trí tuệ trở thành hoạt động cơ bản của con người Việc ứng dụngtri thức vào quá trình sản xuất đã làm cho tri thức nhanh chóng trở thành yếu tố sảnxuất quan trọng nhất, thành nguồn lực cơ bản nhất của sự phát triển nguồn lực conngười trong điều kiện mới Để có được những năng lực này, ngoài tư chất ban đầu,vai trò chủ yếu thuộc về giáo dục và đào tạo Với tư cách là động lực cho sự pháttriển kinh tế tri thức, giáo dục đào tạo chuẩn bị con người phát triển cao về trí tuệ, vềtay nghề, về kỹ năng và kỹ xảo Hơn nữa giáo dục và đào tạo còn giúp chúng ta pháthuy nội lực, trình độ trí tuệ dân tộc Hàm lượng trí tuệ trong lao động do giáo dục vàđào tạo mang lại là cái làm cho con người trở thành nguồn lực đặc biệt của sản xuất,

Trang 37

nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận nhất để phát triển kinh tế tri thức Và chính sựphát triển kinh tế tri thức đã làm cho tri thức trở thành nguồn lực duy nhất tạo ra lợithế so sánh dài hạn, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Do đó, trong dự thảo cácvăn kiện trình đại hội lần thứ XI của Đảng chủ trương: “Phát triển giáo dục phải thực

sự là quốc sách hàng đầu Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, coi trọng giáo dụcđạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp” [11,tr.34]

Sau trí tuệ là yếu tố sức khỏe - yêu cầu không thể thiếu được đối với người laođộng Bởi muốn lao động trí tuệ có hiệu quả, muốn thúc đẩy năng lực sáng tạo thìngười lao động không những phải có sức khỏe cơ thể tốt, mà hơn thế nữa phải có trílực cao Để có trí lực cao, họ phải có sức khỏe cơ thể tốt; thể lực không khỏe mạnh thì

sẽ hạn chế đáng kể sự phát triển trí lực - yếu tố quyết định phần lớn khả năng sáng tạocủa con người Sức khỏe bao gồm không chỉ sức khỏe thể chất mà còn cả sức khỏetâm thần, đó là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là sức mạnh của niềm tin, ý chí, làkhả năng vận động của trí lực điều này càng có ý nghĩa quan trọng khi lao động trítuệ ngày càng chiếm ưu thế Trí tuệ là tài sản quý giá nhất trong mọi tài sản, nhưngchính sức khoẻ là một tiền đề cần thiết để làm ra tài sản đó” [4, tr.16,17] Sức khỏe làđiều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để truyền tảitri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất cải tạo tựnhiên và xã hội Sau trí lực, thể lực thì yếu tố đóng vai trò quan trọng hàng đầu củanguồn lực con người là đạo đức Bởi trình độ phát triển nhân cách, đạo đức đem lạicho con người khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội của nó, nâng cao năng lựcsáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn xã hội Do vậy, giáo dục - đào tạo con ngườitrong thời đại ngày nay phải theo hướng cân đối giữa “dạy người”, dạy chữ, dạy nghề,trong đó “dạy người” là mục tiêu cao nhất Hồ Chí Minh từng dạy “vì lợi ích mườinăm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người” Muốn xây dựng chủ nghĩa

xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa Vì vậy việc bồi dưỡng thế hệ cách mạngcho đời sau là việc làm rất quan trọng và cần thiết

Đảng ta nhấn mạnh cần phải đào tạo những con người có lý tưởng, yêu nước,yêu chủ nghĩa xã hội , phát triển toàn diện cả về trí lực và thể lực, đạo đức, thẩm mỹ,

có ý chí nhiệt tình, phải đào tạo ra những người lao động lành nghề, chất lượng caophù hợp với sự phát triển của nhiều lĩnh vực Hay nói cách khác phải đào tạo ra

Trang 38

những con người có cả đức lẫn tài, vừa hồng vừa chuyên, không chỉ dạy nghề màcòn dạy cách làm người Trong giai đoạn hiện nay, để đáp ứng được sự phát triểnkhông ngừng của thực tiễn thì yếu tố tài (tức là trí) đóng vai trò quan trọng hơn.Nhưng điều đó không có nghĩa là xem nhẹ mặt đức, mà tài phải đi liền với đức thìmới tạo ra nguồn lao động thực sự có chất lượng

Như vậy, đó là toàn bộ những năng lực và phẩm chất sinh lý - tâm lý - xã hộicủa con người tạo nên nhân cách trong mỗi cá nhân Phát huy nguồn lực con ngườichính là nuôi dưỡng và khai thác có hiệu quả những năng lực và phẩm chất đó

- Đặc điểm của nguồn lực con người

Trước đây khi khoa học công nghệ chưa phát triển, nhiều nước trên thế giới cónền kinh tế phát triển chủ yếu họ dựa vào nguồn tài nguyên dồi dào, lao động thủcông, do đó nước nào giàu tài nguyên hoặc có nhiều lao động, thì nước đó có lợi thếtrong phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại Trong thời đại ngày nay khi mà khoahọc công nghệ phát triển thì các nước giàu tài nguyên và nguồn nhân lực chưa hẳn đã

có lợi thế trong phát triển hơn các nước nghèo tài nguyên hoặc khan hiếm lao độnggiản đơn Trên thực tế một số nước như Singapo, Hồng Kông, Hàn Quốc, NhậtBản là những nước nghèo về tài nguyên, nhưng lại là đất nước đạt tốc độ kinh tếphát triển cao liên tục trong nhiều thập kỷ qua, cho nên đã biến những nước này cónền kinh tế phát triển trên thế giới Để có được kết quả đó thì ngay từ đầu họ đã chútrọng phát huy nguồn lực con người Như vậy quan niệm về nguồn lực con ngườitrong sự phát triển kinh tế bắt đầu có sự thay đổi Nó đơn thuần không chỉ là phươngtiện, là nguồn lực như mọi nguồn lực khác mà nó trở thành động lực, mục tiêu của sựphát triển Trí tuệ con người ngày càng được đề cao, vì nó là nguồn lực to lớn vàmạnh mẽ nhất cho tiến bộ và phát triển xã hội Theo Alvin Toffel, mọi nguồn lực tựnhiên đều có thể bị khai thác cạn kiệt, chỉ có riêng trí tuệ là vô tận, bởi “tri thức cótính chất lấy không bao giờ hết” Chính vì lẽ đó, nguồn lực con người đã trở thànhđối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học và nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau,

và từ đó người ta cũng tìm ra các phương thức khác nhau để nâng cao chất lượngnguồn lực con người và phát huy nguồn lực con người nhằm phục vụ cho phát triểnkinh tế - xã hội Để nâng cao hàm lượng trí thức trong đội ngũ người lao động thì cácbiện pháp về giáo dục và đào tạo đóng vai trò hết sức quan trọng Kinh nghiệm đãchỉ ra rằng không một quốc gia nào, một dân tộc nào trên thế giới có thể trở nên giàu

Trang 39

có và có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao, trước khi đạt được phổ cập giáo dục phổthông Mặt khác, các nghiên cứu gần đây cho thấy đầu tư về nguồn vốn chỉ góp phầnnhỏ vào tăng trưởng kinh tế Hiện nay, phần lớn trong giá trị của sản phẩm thặng dư

do chất lượng lực lượng lao động quyết định

- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Hồ Chí Minh về nguồn lực con người

Với xã hội hiện đại, nguồn tài nguyên của cải đích thực và quý giá nhất củaquốc gia chính là con người của quốc gia đó Vì vậy, mục đích phát triển kinh tế - xãhội, xét đến cùng phải vì con người, tạo điều kiện thuận lợi để con người có cuộcsống hạnh phúc, có sức khỏe, cơ hội phát huy mọi năng lực sáng tạo Tuy nhiên, trênthực tế không phải quốc gia nào cũng nhận thức một cách đúng đắn, đầy đủ và từ đódành mọi nỗ lực để hiện thực hóa điều này

Ở Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc

và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức ngày càng đầy

đủ, đúng đắn hơn về vai trò, nhân tố con người cũng như tầm quan trọng của việcphát triển con người

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, con người có vị trí đặc biệt quan trọng.Mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được Hồ Chí Minh xác định cho cáchmạng Việt Nam là nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội để đi đến giải phóngcon người Con người vừa là chủ thể của cách mạng, vừa là mục tiêu cao nhất củacách mạng Người luôn nhắc nhở, căn dặn chúng ta là:

“Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì có hại cho dân, ta phải hếtsức tránh” [Theo 20, tr.22] “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm nămphải trồng người” [Theo 20, tr.22] Và muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải cónhững con người xã hội chủ nghĩa” [Theo 20, tr.22]

Khi nói tới con người với tư cách là “người chủ xã hội” là cái “vốn quý nhất”,Người không chỉ nói đến trí tuệ, tài năng, sức khỏe của con người, mà còn nói tớinhiều yếu tố khác ở con người, trong đó có nhiều giá trị xã hội được kết tinh trongbản thân từng con người thông qua hoạt động thực tiễn cách mạng và cải tạo xã hội

Đó là thái độ, phẩm chất, là phong cách làm việc, là vấn đề đạo đức, là mối quan hệgiữa đức và tài Theo Hồ Chí Minh, đạo đức phải gắn với tài năng, có đức mà không

có tài chẳng khác dì ông bụt ngồi trong chùa; có tài mà không có đức sẽ gây hại cho

Trang 40

xã hội Nói đến con người xã hội chủ nghĩa với tư cách là lực lượng đóng vai tròquyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta,Người nói đến tính hướng đích, tính định hướng về giá trị, phẩm cách và sự pháttriển toàn diện và không ngừng vươn lên của con người trong việc cải tạo và xâydựng xã hội mới bằng hoạt động lao động sáng tạo của mình Với quan điểm về sựphát triển con người toàn diện, trong suốt năm tháng lãnh đạo đất nước, Người luônchú trọng đến việc giáo dục và thường xuyên nâng cao trình độ văn hóa, khoa học,

kỹ thuật cho mọi người, không ngừng đào tạo các lớp nhân tài; đồng thời khôngngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi tầng lớp nhân dân về ăn, ở, đilại, học hành, phòng và chữa bệnh, vui chơi, giải trí, rèn luyện thể mỹ, làm cho nhândân ta ai cũng được ăn no, mặc ấm, mạnh khỏe

Theo Người, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải có con người xãhội chủ nghĩa Như vậy con người đóng vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế

- xã hội

Trước hết cần khẳng định rằng, những nhận thức đúng đắn của Đảng về vấn đềcon người, và phát triển con người, dựa trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩaMác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như được đúc kết từ kinh nghiệm thựctiễn của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới

Quan niệm về nguồn lực con người, nguồn nhân lực được Đảng ta xác định tạiHội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII: “Đó là người lao động

có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng

và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệhiện đại” [7, tr.9]

Nhận thức rõ vai trò quyết định của nguồn lực con người Việt Nam so với cácnguồn lực khác trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, Đảng ta đã khẳng định:

“Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta,khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp” [Theo 20, tr.77] Bởi lẽ cácnguồn lực khác như vốn, tài nguyên, vị trí địa lý, kỹ thuật công nghệ dù có baonhiêu vẫn cũng là hữu hạn, chúng không có sức mạnh tự thân, và sẽ cạn kiệt dầntrong quá trình khai thác, sử dụng của con người Hơn thế nữa, các nguồn lực này chỉphát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi nó được kết hợp với nguồn lựccon người, thông qua hoạt động có ý thức của con người Do vậy, chỉ có nguồn nhân

Ngày đăng: 31/12/2013, 10:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Tấn Dong (1995), Trí thức Việt Nam trong thực tiễn và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam trong thực tiễn và triển vọng
Tác giả: Phạm Tấn Dong
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành trung ương khoá VII, lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hànhtrung ương khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành trung ương khoá VIII, lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1997
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Dự thảo Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2010
11. PGS.TS. Phạm Văn Đức, PGS.TS Đặng Hữu Toàn, TS Nguyễn Đình Hoà đồng chủ biên (2009), Triết học Mác và thời đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mác và thời đại
Tác giả: PGS.TS. Phạm Văn Đức, PGS.TS Đặng Hữu Toàn, TS Nguyễn Đình Hoà đồng chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
12. PGS.TS Võ Văn Đức (2009), Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Võ Văn Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
13. Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Hội đồng trung ương (1999), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Tác giả: Hội đồng trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
15. TS. Đoàn Văn Khái (2005), Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: TS. Đoàn Văn Khái
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2005
16. C.Mác (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
17. C.Mác (2000), Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
18. GS.TSKH Lê Du Phong (2006), Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực và động lực phát triển trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: GS.TSKH Lê Du Phong
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
20. TS. Nguyễn Thanh (2005), Phát triển nguồn lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: TS. Nguyễn Thanh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
22. Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (2005), Phát huy nguồn nhân lực: Kinh nghiệm của thế giới và của nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy nguồn nhân lực: Kinh nghiệm của thế giới và của nước ta
Tác giả: Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
23. Viện chiến lược phát triển (2004), Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Một sốvấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Viện chiến lược phát triển
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
3. Đảng bộ tỉnh Kon Tum (2010), Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng bộ tỉnh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Thống kê dân số hàng năm phân theo giới tính  và phân theo thành thị, nông thôn - Phát huy nguồn lực con người ở kon tum hiện nay
Bảng 2.1. Thống kê dân số hàng năm phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn (Trang 55)
Bảng 2.2. Số người từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế và không hoạt động kinh tế - Phát huy nguồn lực con người ở kon tum hiện nay
Bảng 2.2. Số người từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế và không hoạt động kinh tế (Trang 57)
Bảng 2.4. Dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ  cao nhất đã được đào tạo, nhóm tuổi và đơn vị hành chính - Phát huy nguồn lực con người ở kon tum hiện nay
Bảng 2.4. Dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ cao nhất đã được đào tạo, nhóm tuổi và đơn vị hành chính (Trang 61)
Bảng 2.5. Lực lượng lao động đang làm việc phân theo ngành kinh tế - Phát huy nguồn lực con người ở kon tum hiện nay
Bảng 2.5. Lực lượng lao động đang làm việc phân theo ngành kinh tế (Trang 64)
Bảng 2.6. Dự báo dân số và nguồn lao động - Phát huy nguồn lực con người ở kon tum hiện nay
Bảng 2.6. Dự báo dân số và nguồn lao động (Trang 76)
Bảng 2.8. Dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo - Phát huy nguồn lực con người ở kon tum hiện nay
Bảng 2.8. Dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w