1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Danh gia ve nhung bat cap cua bo luat dan su 1995

27 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 97,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự ra đời của Bộ luật dân sự là mộtbớc tiến quan trọng trong việc khẳng định và cụ thể hóaHiến pháp năm 1992 về các quyền cơ bản của con ngờitrong lĩnh vực dân sự, tạo cơ sở pháp lý nhằm

Trang 1

Phần thứ nhất

những bất cập và Sự cần thiết của sửa đổi bộ luật dân sự

Bộ luật dân sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam đợc ban hành ngày 28/10/1995 và có hiệu lực thihành từ ngày 1/7/1996 Sự ra đời của Bộ luật dân sự là mộtbớc tiến quan trọng trong việc khẳng định và cụ thể hóaHiến pháp năm 1992 về các quyền cơ bản của con ngờitrong lĩnh vực dân sự, tạo cơ sở pháp lý nhằm tiếp tục giảiphóng mọi năng lực sản xuất, phát huy dân chủ, bảo đảmcông bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cánhân, pháp nhân và các chủ thể khác, lợi ích nhà nớc, lợiích công cộng, bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệdân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu vậtchất, tinh thần của nhân dân và thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã hội của đất nớc trong thời kỳ đổi mới

Trong hệ thống pháp luật nớc ta, sau Hiến pháp năm

1992, BLDS giữ vị trí đặc biệt quan trọng, đây là vănbản pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn các quan

hệ xã hội là các giao lu dân sự của cá nhân, pháp nhân vàcác chủ thể khác Qua 9 năm thi hành, về cơ bản, BLDS đã

đi vào đời sống xã hội Việt Nam, phát huy vai trò to lớntrong việc tạo lập hành lang pháp lý cho các giao lu dân sự,tạo chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể khi

Trang 2

tham gia các giao dịch, góp phần làm lành mạnh quan hệ xãhội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể.

Tuy nhiên, qua 9 năm thực hiện, BLDS cũng đã bộc lộnhững hạn chế, bất cập nh sau:

Theo cách quy định của BLDS thì BLDS phải là đạoluật chung trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan

hệ xã hội giữa các chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng

nh các quan hệ về hôn nhân và gia đình, kinh tế - thơngmại, lao động Song thực tiễn xây dựng và áp dụng phápluật của nớc ta cho thấy nhiều văn bản pháp luật đềukhoanh vùng áp dụng của các văn bản đó, không có quy

định về mối quan hệ với BLDS nên hiệu lực áp dụng củaBLDS đã bị hạn chế rất nhiều

Một số quy định trong BLDS không còn phù hợp vớithực tế Qua nghiên cứu và khảo sát thực tế cho thấy trongBLDS có những quy định đã bị lạc hậu so với sự phát triểnkinh tế - xã hội hiện nay Ví dụ: những quy định về cácbiện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nhất là về cầm

cố, thế chấp tài sản

Có những quy định không rõ ràng hoặc không đầy

đủ, quy định quá chung, cha cụ thể: ví dụ, nhiều quy

định ở Phần thứ hai "Tài sản và quyền sở hữu" còn mangtính chất chung; cha làm rõ đợc nội dung các quyền củangời không phải là chủ sở hữu đối với tài sản

Trong BLDS còn có những quy định thuộc quan hệhành chính thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nớc (thông quacác cơ quan hành chính) với công dân nh quy định về

Trang 3

đăng ký hộ tịch, xử lý giao dịch dân sự vô hiệu bằng chếtài hành chính, quy định thủ tục đăng ký, xin phép, phêduyệt đối với một số hợp đồng mà đúng ra phải đợc quy

định trong các văn bản pháp luật hành chính

Từ khi có BLDS đến nay Nhà nớc đã ban hành nhiềuluật mới (hoặc sửa đổi luật) có nội dung liên quan đếnBLDS nhng BLDS cũng cha kịp sửa đổi, bổ sung cho phùhợp dẫn đến sự mâu thuẫn, bất cập trong hệ thống phápluật, nh quy định về quyền sử dụng đất của cá nhân, hộgia đình, tổ chức theo Luật đất đai năm 2003, quy định

về các đối tợng sở hữu công nghiệp mới

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nớc ta

đã ký kết các Hiệp định thơng mại (trong đó có Hiệp

định thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ) và chuẩn bị gia nhập

Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO) cho thấy có những quy

định của BLDS cha tơng thích với các Điều ớc quốc tế vàthông lệ quốc tế trong đó có các quy định về hợp đồng,

sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ

Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung BLDS là cần thiết vàcấp bách nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hộicủa nớc ta hiện nay và trong tơng lai

Phần thứ hai

những đóng góp của học viên về dự thảo

bộ luật dân sự

Trang 4

I Một số nội dung cơ bản của dự thảo bộ luật

1 Về phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự

a) Quy định về quyền sử dụng đất

Quyền sử dụng đất là quyền về tài sản đặc biệtphát sinh trong quan hệ sử dụng đất Quan hệ về chuyểnquyền sử dụng đất là một loại giao dịch dân sự đặc thù,

có điều kiện Trên thực tế, các giao dịch dân sự liên quan

đến quyền sử dụng đất diễn ra rất phổ biến theo nguyêntắc bình đẳng, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, đòi hỏicần có sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Về bản chấtcác quyền chuyển đổi, chuyển nhợng, cho thuê, thừa kế,thế chấp quyền sử dụng đất là các quyền dân sự đợc thựchiện chủ yếu thông qua các hợp đồng Vì vậy đề nghị giữphần thứ năm - Những quy định về quyền sử dụng đấtcủa Bộ luật dân sự hiện hành có chỉnh lý theo hớng chỉquy định các nội dung về quyền sử dụng đất với tính chất

là một quyền dân sự, còn các nội dung mang tính hànhchính về chuyển quyền sử dụng đất thì do pháp luật đất

Trang 5

trong Bộ luật dân sự hiện hành Từ năm 1996, hệ thống cácvăn bản pháp luật về quyền tác giả, quyền sở hữu côngnghiệp và chuyển giao công nghệ đợc cụ thể hóa, hoànthiện trên cơ sở các quy định của Bộ luật dân sự Thực tếcho thấy các quan hệ về sở hữu trí tuệ và chuyển giaocông nghệ đợc xác lập theo nguyên tắc bình đẳng, tựnguyện cam kết, thỏa thuận Tuy nhiên cũng có những nộidung về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ thuộcquan hệ hành chính cần đợc quy định trong các văn bảnpháp luật chuyên ngành.

Vì vậy, đề nghị giữ Phần thứ sáu - Quyền sở hữutrí tuệ và chuyển giao công nghệ của Bộ luật dân sự hiệnhành đồng thời sửa đổi theo hớng chỉ quy định nhữngvấn đề mang tính đặc trng dân sự, còn các vấn đề khác

về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ mang tínhhành chính thì sẽ đợc nghiên cứu quy định trong Luật sởhữu trí tuệ và Luật chuyển giao công nghệ

2 Về chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

a) Về tổ hợp tác

Tôi thấy, theo quy định của Bộ luật dân sự hiệnhành thì tổ hợp tác là một chủ thể hạn chế, đợc hìnhthành trên cơ sở hợp đồng hợp tác từ ba cá nhân trở lên cùng

đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việcnhất định, cùng hởng lợi và cùng chịu trách nhiệm Khi xác

định t cách chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự thì

Trang 6

tổ hợp tác không phải là cá nhân và cũng không phải làpháp nhân, do đó việc xác định trách nhiệm pháp lý củachủ thể này là không rõ Do đó, đề nghị không quy định

tổ hợp tác là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

b) Về hộ gia đình

Theo truyền thống của dân tộc ta thì gia đình giữmột vị trí đặc biệt quan trọng, điều này không chỉ thểhiện ở mối quan hệ về huyết thống giữa các thành viêntrong gia đình mà còn thể hiện ở mối quan hệ về tài sảnchung của hộ gia đình do các thành viên cùng nhau tạo lập,quản lý, sử dụng và định đoạt Thực tiễn cho thấy, hộ gia

đình đã tham gia giao dịch trong nhiều quan hệ dân sự,trong đó chủ hộ thờng là ngời đại diện Ghi nhận thực tếnày, pháp luật đất đai và pháp luật bảo vệ và phát triểnrừng, đã có quy định hộ gia đình là một trong những chủthể của quan hệ giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sửdụng đất Với các quy định trong Bộ luật dân sự và phápluật hiện hành thì hộ gia đình có đủ t cách pháp lý đểthực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự một cách độc lập Do

đó, đề nghị giữ các quy định về hộ gia đình là chủ thểquan hệ dân sự trong Bộ luật dân sự hiện hành, đồng thời

có sửa đổi, bổ sung cho cụ thể, đầy đủ và chặt chẽ hơn

3 Về vấn đề hộ tịch

Trang 7

Mục 4 về hộ tịch trong Bộ luật dân sự hiện hành cónội dung chủ yếu liên quan đến mối quan hệ giữa cá nhânvới cơ quan hành chính nhà nớc (cơ quan đăng ký hộ tịch)trong các hoạt động về đăng ký các việc về hộ tịch.Trênthực tế, khi xảy ra các khiếu nại, tranh chấp liên quan đến

đăng ký hộ tịch thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơquan hành chính Tuy nhiên, cũng có một số nội dung về hộtịch liên quan mật thiết đến quyền nhân thân đã đợc Bộluật dân sự quy định và bảo vệ nh quyền đợc khai sinh,quyền đợc khai tử, quyền đợc nuôi con nuôi và quyền đợcnhận làm con nuôi Vì vậy, đề nghị bỏ Mục 4 Chơng IIIcủa Bộ luật dân sự hiện hành và đa những quy định về

hộ tịch mang tính dân sự của cá nhân lên Mục 2 về quyềnnhân thân

4 Về một số quyền nhân thân

a) Về quyền hiến các bộ phận cơ thể, hiến xác

Quyền hiến các bộ phận cơ thể ngời, hiến xác là mộtquyền nhân thân của cá nhân, thể hiện sự sự định đoạtcủa họ đối với bộ phận của cơ thể, xác của mình sau khichết Chế định về việc hiến các bộ phận cơ thể ngời,hiến xác của dự thảo Bộ luật đợc quy định trên nguyên tắckhông mang tính thơng mại mà nhằm mục đích chữabệnh nhân đạo hoặc nghiên cứu khoa học Để bảo đảmtôn trọng và phù hợp với phong tục, tập quán của dân tộc ta,

Trang 8

cần giữ quy định về quyền hiến bộ phận cơ thể ngời,hiến xác trong dự thảo Bộ luật, đồng thời, bổ sung quy

định: "Việc hiến xác, hiến bộ phận cơ thể của ngời chếtchỉ đợc thực hiện với sự đồng ý của cha mẹ, vợ, chồng vàcon đã thành niên của ngời đó"

b) Về quyền xác định lại giới tính

Theo tôi, quyền xác định lại giới tính là một trong cácquyền nhân thân, quyền tự do của mỗi cá nhân khi ngời

đó thuộc một trong những trờng hợp do pháp luật quy định

đợc xác định lại giới tính nh do khuyết tật bẩm sinh; cha

định hình chính xác giới tính mà cần phẫu thuật để xác

định lại giới tính Do đó, cần giữ quy định về vấn đềnày trong dự thảo Bộ luật và chỉ quy định vấn đề này với

t cách là quyền dân sự còn các vấn đề cụ thể sẽ đợc quy

định tại văn bản pháp luật chuyên ngành

c) Về một số quyền nhân thân khác

- Về quyền cho phôi, quyền mang thai hộ và nhânbản vô tính: những nội dung này là khá mới, xuất hiện cùngvới sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nên cần có sựnghiên cứu sâu hơn Việc ghi nhận các quyền này nhnhững quyền dân sự hiện nay ở nớc ta chỉ đợc áp dụng

đối với quyền cho phôi theo Nghị định 12/NĐ-CP ngày 12tháng 02 năm 2003, nhng cũng cần có thời gian kiểmnghiệm thêm; còn đối với quyền mang thai hộ và sinh sản

Trang 9

vô tính thì cha đợc áp dụng Do đó, đề nghị không quy

định các quyền này trong dự thảo Bộ luật dân sự

- Về quyền đợc cho con: vấn đề này đã có quy địnhgián tiếp tại Điều 44 của dự thảo Bộ luật là quyền đợc nuôicon nuôi và quyền đợc nhận làm con nuôi Do đó, không bổsung quyền này vào dự thảo Bộ luật dân sự

- Về quyền đợc chết: theo phong tục tập quán củaViệt Nam nếu quy định vấn đề này trong điều kiện hiệnnay, thì không phù hợp Do đó, không bổ sung quy địnhnày vào dự thảo Bộ luật dân sự

5 Về các hình thức sở hữu

Tôi nhất trí với dự thảo Bộ luật về các hình thức sởhữu So với Bộ luật dân sự hiện hành, dự thảo Bộ luật cónhững điểm tiến bộ hơn, bao quát đợc tất cả các hìnhthức sở hữu trong xã hội hiện nay

II Một số vấn đề cụ thể của dự thảo bộ luật

1 Hiệu lực của Bộ luật dân sự (Điều 2)

Đề nghị sửa lại khoản 1 Điều 2 nh sau: " Bộ luật dân

sự đợc áp dụng đối với các quan hệ dân sự đợc xác lập kể

Trang 10

từ ngày Bộ luật này có hiệu lực, trừ trờng hợp Bộ luật nàyhoặc nghị quyết của Quốc hội có quy định khác".

2 áp dụng pháp luật

Đề nghị bỏ quy định: "Trong trờng hợp có sự khácnhau giữa quy định của pháp luật chuyên ngành và Bộ luậtdân sự về một quan hệ xã hội, thì áp dụng quy định củapháp luật chuyên ngành về quan hệ đó" để bảo đảm tínhthống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với điều 80Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

3 áp dụng tập quán, áp dụng tơng tự pháp luật (Điều 3)

Tôi thấy, áp dụng tập quán, áp dụng tơng tự pháp luật

là nguyên tắc áp dụng luật đã phổ biến, còn luật tục là vấn

đề có tính đa dạng và có liên quan đến nhiều dân tộc,vùng miền khác nhau và đợc thể hiện trong nhiều loại giaodịch dân sự Vì vậy, đề nghị giữ nh quy định trong dựthảo Bộ luật về vấn đề này

4 Nguyên tắc hòa giải (Điều 12) và căn cứ xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 13)

Đề nghị giữ lại nguyên tắc hòa giải nh quy định của

Bộ luật dân sự hiện hành Việc bỏ quy định này với lý do

là Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định là không hợp lý vìhòa giải theo pháp luật về tố tụng dân sự thuộc giai đoạngiải quyết các tranh chấp trong vụ án dân sự

Trang 11

5 Năng lực hành vi dân sự của ngời cha thành niên từ đủ sáu tuổi đến cha đủ mời tám tuổi (Điều 20)

- Việc xác định độ tuổi để quy định cho phép

ng-ời cha thành niên có thể tự mình xác lập, thực hiện giaodịch dân sự mà không đòi hỏi phải có sự đồng ý của ngời

đại diện theo pháp luật trong giao dịch dân sự ở lứa tuổi

từ đủ mời lăm là phù hợp với quy định tại Điều 6 Bộ luật lao

động và khoản 6 Điều 57 Bộ luật tố tụng dân sự Vì vậy,

đề nghị giữ nh quy định trong dự thảo Bộ luật

Độ tuổi kết hôn đợc quy định tại Điều 9 Luật hônnhân và gia đình là trờng hợp mang tính đặc thù và khôngmang tính phổ biến trong các giao dịch dân sự khác Tuynhiên, để bảo đảm sự phù hợp giữa các quy định của Luật hônnhân và gia đình với các nguyên tắc của Bộ luật dân sự, cuốikhoản 1 Điều 20 dự thảo đã đợc bổ sung một đoạn "hoặcpháp luật có quy định khác"

6 Bảo vệ quyền nhân thân (Điều 25)

Đề nghị giữ quy định tại Điều này trong Bộ luật dân

sự hiện hành Vì thực tiễn cho thấy khi một ngời bị xâmphạm quyền nhân thân thì ngời đó không chỉ có quyềnyêu cầu Tòa án mà còn có quyền yêu cầu các cơ quan, tổchức khác buộc ngời vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin

Trang 12

lỗi, cải chính công khai hoặc bồi thờng thiệt hại về vật chất

và thiệt hại về tinh thần

7 Quyền đối với họ, tên (Điều 26)

Quyền đối với họ, tên là quyền gắn với nhân dân củamỗi ngời Do đó, mỗi ngời khi sinh ra và trởng thành đều

có quyền đối với họ, tên của mình Mặt khác, tại khoản 3

Điều 26 quy định việc thực hiện quyền dân sự về họ, têncủa mỗi ngời phải phù hợp với đạo đức, văn hóa dân tộc vàquy định của pháp luật Vì vậy đề nghị giữ nh quy địnhtrong dự thảo Bộ luật

8 Quyền xác định dân tộc (Điều 28)

Đề nghị quy định độ tuổi của ngời cha thành niêntại khoản 3 Điều 28 là từ đủ mời lăm tuổi trở lên, tạo sựthống nhất với quy định tại khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều

38 dự thảo Bộ luật

9 Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 31)

Về nguyên tắc thì việc sử dụng hình ảnh của cánhân phải đợc sự đồng ý của ngời đó; trong trờng hợp ng-

ời đó đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì phải

đợc sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niênhoặc ngời đợc ủy quyền của họ Tuy nhiên, trong thực tiễn

có một số trờng hợp pháp luật cho phép các cơ quan, tổchức có thẩm quyền đợc sử dụng hình ảnh của một ngờingay cả trong trờng hợp không đợc sự đồng ý của họ hoặc

Trang 13

ngời thân của họ, nh trờng hợp công bố ảnh khi thực hiệnlệnh truy nã tội phạm, công bố hình ảnh để phục vụ choviệc tìm ngời mất tích Do đó, Bộ luật dân sự cần quy

định các trờng hợp đợc pháp luật cho phép công bố màkhông phụ thuộc vào ý chí của ngời đợc công bố hình

ảnh Vì vậy, đề nghị giữ quy định nh trong dự thảo Bộluật

10 Quyền bí mật đời t (Điều 38)

"Bí mật đời t" là một khái niệm rộng tùy thuộc vàotừng tình huống cụ thể trong cuộc sống và đối với từng đốitợng Do đó, Bộ luật chỉ quy định mang tính khái quát.Còn "bí mật đời t" đối với các tình huống cụ thể đã đợcquy định trong văn bản pháp luật riêng Vì vậy, đề nghịgiữ quy định nh trong dự thảo

11 Giám sát việc giám hộ, ngời giám hộ đơng nhiên của ngời cha thành niên (Điều 59 và Điều 61)

Trên thực tế không phải trong mọi trờng hợp ngời giám

hộ đều là ngời thân thích, vì giám hộ là việc cá nhân, tổchức (gọi là ngời giám hộ) đợc pháp luật quy định hoặc đ-

ợc cử ra để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp của ngời cha thành niên, ngời bị bệnh tâmthần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức,làm chủ đợc hành vi của mình Hơn nữa, việc tranh chấpgiữa những ngời có cùng huyết thống là một vấn đề tự

Ngày đăng: 11/10/2021, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w