1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy một số giá trị tích cực trong đạo đức nho giáo vào việc xây dựng đạo đức thanh niên việt nam hiện nay

64 881 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Huy Một Số Giá Trị Tích Cực Trong Đạo Đức Nho Giáo Vào Việc Xây Dựng Đạo Đức Thanh Niên Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 414,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những giá trị tích cựctrong đạo đức Nho giáo như trung, hiếu, tiết, nghĩa, về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín đã từng là thước đo giá trị đạo đức của con người Việt Nam ta.. Để làm rõ thực trạ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xuyên suốt lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, dù trong thời giannào, hoàn cảnh nào thì vấn đề đạo đức luôn là vấn đề cốt lõi, trọng tâm, là cơ

sở để xây dựng và phát triển con người

Văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhânloại Nơi đó đã sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đếnnền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới, kể cả Việt Nam Một trong số

đó phải kể đến trường phái triết học Nho gia Ngay từ khi du nhập vào ViệtNam , ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống xã hội cũng như tinh thần conngười Việt Nam là rất lớn, nhất là về vấn đề đạo đức Những giá trị tích cựctrong đạo đức Nho giáo như trung, hiếu, tiết, nghĩa, về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín

đã từng là thước đo giá trị đạo đức của con người Việt Nam ta Và dù cho xãhội có biến thiên, nhiều giá trị đạo đức bị mai một, lung lay thì những giá trịtích cực đó vẫn còn nguyên giá trị, vẫn có ảnh hưởng nhất định trong xâydựng đạo đức con người hiện nay

Theo xu thế phát triển, đất nước ta cũng mở cửa hội nhập giao lưu quốc

tế Bên cạnh những mặt tích cực của hội nhập thì vẫn xuất hiện nhiều yếu tốtiêu cực ảnh hưởng đến lối sống và đạo đức của con người Việt Nam hiện naynhư hám danh, hám lợi, chạy theo đồng tiền, du nhập lối sống, văn hóa laicăng mà đánh mất đi những giá trị tốt đẹp của đạo đức truyền thống Và mộtđiều đáng buồn là chính tầng lớp thanh niên, những người chủ tương lai củađất nước lại là những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các yếu tố tiêucực đó Vấn đề đạo đức của thanh niên hiện nay đang ở tình trạng báo động

và có nhiều điều phải bàn đến

Năm 2011 này được chọn làm năm thanh niên Điều đó cho thấy sựquan tâm của Đảng và Nhà nước ta đến tầng lớp thanh niên hiện nay là rấtlớn Đó là những người chủ tương lai của đất nước, gánh trên vai trọng tráchxây dựng một nước Việt Nam giàu đẹp, hạn phúc, văn minh, sánh vai với bạn

bè năm châu, bốn biển Muốn làm được điều đó, chúng ta phải xây dựng chođược những con người - mà cụ thể ở đây là những thanh niên Việt Nam mới

có đầy đủ cả phẩm chất đạo đức lẫn tài năng Trong đó, vấn đề đạo đức luônluôn là vấn đề then chốt và được đặt lên hàng đầu

Trang 2

Để làm rõ thực trạng cũng như góp một phần nhỏ vào việc xây dựng

đạo đức thanh niên, tôi đã chọn đề tài: " Phát huy một số giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo vào việc xây dựng đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay" để làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xung quanh vấn đề Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng đã

có nhiều tác giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu theo những phương diện khác nhau, nhưng có thể phân định thành một số nhóm vấn đề sau đây:

- Nhóm thứ nhất, đi sâu luận giải nguồn gốc, nội dung của Nho giáo và những

yêu cầu đạo đức của Nho giáo, để từ đó thấy được sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với sự phát triển của xã hội Nội dung trên được đăng tải ở các tạp chí

chuyên ngành như: tạp chí Cộng sản, tạp chí Nghiên cứu lý luận, tạp chí Triết

học v.v hay trong các sách chuyên luận như: “Nho giáo” của Trần Trọng Kim;

“Khổng học đăng” của Phan Bội Châu; “Nho giáo xưa và nay” của Quang Đạm;

“Một số vấn đề Nho giáo ở Việt Nam” của Phan Đại Doãn; “Nho học và nho học Việt Nam” của Nguyễn Tài Thư; “Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện;

“Nho giáo tại Việt Nam” của Lê Sỹ Thắng,… Các tác giả đã trình bày, phân tích

những tư tưởng cơ bản của Nho giáo trong quá trình hình thành và phát triển của

nó Khi đánh giá về Nho giáo, bên cạnh phê phán đạo đức Nho giáo là khắt khe, trói buộc con người đặc biệt đối với phụ nữ, các tác giả đều đề cao những nhân

tố tích cực của Nho giáo, cho rằng đạo đức Nho giáo có vai trò to lớn trong việc giáo dục đạo đức con người và ổn định trật tự xã hội

- Nhóm thứ hai, xuất phát từ kinh nghiệm của một số nước chịu ảnh hưởng của

Nho giáo nhưng vẫn đạt được một số kết quả khả quan về ổn định xã hội và phát triển kinh tế do biết phát huy những yếu tố tích cực của Nho giáo, từ công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi chúng ta phải giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá của dân tộc, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam, nêu rõ ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực đạo đức, chính trị - xã hội, hệ tư tưởng, văn hoá, giáo dục - khoa cử Liên quan đến vấn

đề này có: Tác giả Nguyễn Đăng Duy với “Nho giáo với văn hoá Việt Nam”, Quang Đạm với “Nho giáo xưa và nay”, Vũ Khiêu với “Nho giáo và đạo đức”;

“Nho giáo và sự phát triển ở Việt Nam”, Nguyễn Tài Thư với “Nho học và Nho học ở Việt Nam”, Nguyễn Hùng Hậu với “Triết lý trong văn hoá phương

Đông”, Các tác phẩm trên, bên cạnh việc phê phán những ảnh hưởng tiêu cực

của Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng, nhiều tác giả còn đặt ra vấn đề kế thừa và phát triển những giá trị tích cực của nó nhằm khắc phục nhữngmặt tiêu cực, góp phần xây dựng đạo đức mới ở nước ta hiện nay

Nhìn chung, các công trình nêu trên hoặc là nêu những nét khái quát nội dung của Nho giáo, hoặc là tập trung giải quyết những phương diện lý luận mà các tác

Trang 3

giả đặt ra cho mình Trên thực tế, nghiên cứu về đạo đức Nho giáo, ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với con người Việt Nam đang còn là vấn đề mở, còn nhiền vấn đề cần chuyên sâu nghiên cứu Với tinh thần cầu thị, tiếp bước các công trình nghiên cứu trước về Nho giáo, thông qua khóa luận này đi sâu vào nghiên cứu những phạm trù cơ bản của Nho giáo để tìm ra những giá trị tích cực của nó trong việc xây dựng đạo đức con người ngày nay, đặc biệt trong việc xây dựng đạo đức cho thanh niên.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những giá trị tích cực trong đạo đứcNho giáo và đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là bàn đến những yếu tố tác động đếnđạo đức của tầng lớp thanh niên Việt Nam hiện nay bao gồm nhiều yếu tố nhưkinh tế thị trường, sự du nhập văn hóa lối sống từ bên ngoài trong quá trìnhhội nhập, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Nhưng ở đây, luậnvăn chỉ nghiên cứu một số giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo và trên cơ

sở đó phát huy nó vào việc xây dựng đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay

4 Mục đích và nhiệm vụ

Mục đích: đề tài đi sâu vào phân tích và làm rõ một số giá trị tích cựctrong đạo đức Nho giáo Trên cơ sở đó, phát huy những giá trị này vào việcxây dựng đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ: để thực hiện mục đích trên, đề tài cần phải đi sâu vào làm rõnhững vấn đề cơ bản sau:

- Những giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo được thể hiện như thếnào

- Làm rõ sự phát huy những giá trị tích cực đó vào việc xây dựng đạođức thanh niên Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng - chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối củaĐảng ta về vấn đề đạo đức Ngoài ra, còn có các quan điểm của Đảng CộngSản Việt Nam về xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và nghịquyết về thanh niên

Trang 4

Phương pháp nghiên cứu: đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiêncứu như logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, đối chiếu,

so sánh, Nhưng phương pháp xuyên suốt của cả đề tài vẫn là phương phápduy vật biện chứng

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,khóa luận gồm 2 chương 5 tiết

Trang 5

NỘI DUNGCHƯƠNG 1

NHO GIÁO VÀ MỘT SỐ GIÁ TRỊ TÍCH CỰC CỦA

ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO

1.1 Một vài nét về Nho giáo Trung Quốc

1.1.1 Khái lược quá trình hình thành và phát triển

Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớmnhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục Và có thể nói vănminh Trung Hoa là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Bêncạnh những phát minh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơisản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minhChâu Á cũng như nền văn minh trên toàn thế giới Trong số các học thuyếttriết học lớn đó, phải kể đến trường phái triết học Nho gia

Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ "Nho" TheoHán tự "Nho"là chữ "Nhân" (người) đứng cạnh chữ "Nhu" (cần, chờ đợi).Nho gia còn gọi là nhà nho, người đã học thấu sách thánh hiền được thiên hạcần để dạy bảo người đời ăn ở cho hợp luân thường đạo lý Trước thời Xuânthu, nhà nho được gọi là "Sỹ" chuyên học văn chương và lục nghệ góp phầntrị vì đất nước Đến đời mình, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng vàtri thức trước đây trở thành học thuyết, gọi là Nho gia hay Nho học Người tacũng gắn học thuyết này với tên tuổi người đã sáng lập nên nó, gọi là Khổnghọc

Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người làng Xương Bình, huyệnKhúc Phụ, nay thuộc Phủ Duyện Châu, Tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Ôngsinh vào năm 551 TCN Đó là lúc xã hội Trung Hoa cổ đại loạn lạc triềnmiên, các vua chúa chỉ lo hưởng thụ và chém giết lẫn nhau để xưng hùng,xưng bá Đạo lý nhân luân xáo trộn, vinh nhục không rõ ràng, thiện ác khóphân biệt Học thuyết của Khổng Tử lập thành hệ thống, lấy nhân, nghĩa, lễ,trí mà dạy người Lấy đạo cương thường mà hạn chế nhân dục để giữ trật tự ởtrong xã hội cho bền vững

Trang 6

Trong thập niên 70 của thế kỷ 20, một học giả người Mỹ đã xếp Khổng

Tử ở ngôi vị thứ 5, chỉ sau chúa Zê - xu, Thích - ca - mầu - ni, trong 100nhân vật có ảnh hưởng trong lịch sử Khổng Tử là người sáng lập ra họcthuyết Nho giáo ở Trung Quốc Hơn 2000 năm qua, tư tưởng Nho giáo ảnhhưởng đến với Trung Quốc không chỉ là chính trị, văn hóa mà còn trong sinhhoạt, ứng xử của con người Có học giả còn ví tư tưởng Nho giáo là tư tưởngtôn giáo của Trung Quốc Trong thực tế, trường phái Nho giáo chỉ là mộttrong rất nhiều trường phái thời cổ Trung Quốc Nó là một tư tưởng triết họcchứ không phải là một tôn giáo, chẳng qua nó được coi là tư tưởng chínhthống trong xã hội phong kiến hơn 2000 năm ở Trung Quốc và có ảnh hưởngtới một số nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và trong đó có cả ViệtNam

Khổng Tử sống trong thời Xuân thu Thời kỳ này, thể chế thống nhấtcủa quốc gia bị phá vỡ, sản sinh ra nhiều chư hầu lớn nhỏ Khổng Tử sốngtrong nước Lỗ là nước có nền văn hóa tương đối phát triển Học thuyết củaKhổng Tử chiếm vị thế thống trị trong thời đại phong kiến một phần vì tưtưởng đẳng cấp nghiêm ngặt, cho rằng nếu làm trái với cấp trên hoặc trái vớicha mẹ đều là tội nghiêm trọng Theo lý luận này, bậc quân vương phải quản

lý tốt đất nước, thường dân phải trung thành với quân vương Mỗi người đều

có nhiều thân phận, có thể là con, có thể là cha, có thể là thần tử, nhưng đềuphải duy trì ranh giới tôn ti nghiêm khắc Như vậy nhà nước mới thái bình,nhân dân mới có được cuộc sống yên ổn

Học thuyết của Khổng Tử mới xuất hiện không trở thành tư tưởng chủyếu ngay lập tức mà mãi đến thế kỷ thứ 2 TCN thì tư tưởng đó mới có được vịtrí độc tôn Trung Quốc lúc đó đã trở thành một nhà nước theo chế độ tậpquyền trung ương lớn mạnh và thống nhất Trải qua nhiều nỗ lực của giai cấpthống trị và các đại sĩ phu thời Hán, Khổng Tử và tư tưởng Nho gia của ôngmới trở thành tư tưởng chính thống cho nhà nước phong kiến Trung Hoa

Thời Xuân thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ lụckinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân thu vàkinh Nhạc Về sau Kinh nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thườngđược gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lờidạy của thầy để soạn ra cuốn luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử làTăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau

đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn

Trang 7

Trung Dung Đến thời chiến quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau nàyhọc trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hìnhthành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đờiTần) Khổng giáo hay là "tư tưởng Khổng - Mạnh" từ đây mới hình thành nênhai khái niệm Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tính học thuât, nội dungcủa nó còn được gọi là Nho học Còn Nho giáo mang tính chất tôn giáo ỞNho giáo, Văn Miếu trở thành đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lýchính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành.

Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào lễ ký Hán Vũ Đếđưa Nho giáo lên làm quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước

về tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệchế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt 2000 năm Nho giáo thời kỳ này cònđược gọi là Hán Nho Điểm đặc biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho

đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, thiên tử là con trời, dùng "lễ trị" đểche đậy "pháp trị"

Nho giáo truyền đến cuối đời Đông Hán, bề ngoài thì rất thịnh mà bêntrong thì thật là suy Các học giả chỉ chăm chăm về lối chương cú, chia ra chi

nọ phái kia Mỗi phái học theo một lối, rồi cãi nhau về nghĩa từng câu, từngchữ.Sách Hán Thư Nghệ Văn Chỉ có nói: có khi một câu năm chữ mà bàn rađến mấy vạn lời

Đến đời nhà Tống, các vua rất sùng bái Nho học, Khổng Tử và Mạnh

Tử rất được tôn trọng Thời kỳ này có những danh nho như Âu Dương Tu làm

bộ sử đời "Ngũ Quý", phân biệt rõ kẻ gian, người ngay, đem hai chữ liêm sĩ

đề xướng lên, dựng lại cái nền nho hạnh của sĩ phu

Đời Tống, Đại học, Trung Dung được tách ra khỏi lễ ký và cùng vớiluận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh làsách gối đầu giường của các nhà Nho Nho giáo thời kỳ này được gọi là TốngNho, với các tên tuổi Thiệu Ung, Chu Đôn Di, Trương Tái với học thuyết lýhọc Rồi hai anh em họ Trình là Trình Hạo và Trình Di

Trong khi về đường học vấn có phái lý học phát triển thì về đườngchính trị cũng chia làm hai phái: Tân Đảng và Cựu Đảng Tân Đảng cóVương An Thạch đứng đầu, còn cựu Đảng đứng đầu là Tư Mã Quang Haibên đều lấy cái chủ nghĩa Nho giáo mà công kích nhau kịch liệt Tân Đảng thìmuốn theo thời mà sửa đổi, nhằm cho binh cường nước mạnh Cựu Đảng thì

Trang 8

cho rằng việc trị nước cần theo chế độ đời trước, cốt làm cho dân chúng được

an cư lạc nghiệp Thường thì những danh nho thời bấy giờ như Trình Di, TôThức, đều đứng về phía Cựu Đảng Tân Đảng và Cựu Đảng tranh giànhnhau lúc tiến, lúc thoái, mãi đến cuối đời Nam Tống mới thôi

Nho học thời Nguyên không được thịnh hành như thời Tống nhưng vẫn

có nhiều danh nho như Triệu Phục, Hứa Hành và Hứa Khiêm Nho giáo đờinhà Nguyên tuy so với đời trước thì không bằng, nhưng cũng rất thịnh đạt.Những học giả như Triệu Phục, Hứa Hành và Hứa Khiêm đều là người có đứchạnh, rất xứng đáng là danh nho một thời Tuy nhiên, Nho học trong thờiNguyên chỉ bó hẹp trong phạm vi Trình Chu mà thôi, bởi ai cũng cho rằngNho học đến đó là cùng cực rồi Bởi vậy, Nho học thời Nguyên chỉ nhằm giữlấy cái danh tiết cho trong sạch chứ không ai phát triển thêm được điều gì caominh hơn nữa

Đến thời nhà Minh, sau khi Chu Nguyên Chương lấy được lấy được đấtKim Lăng,đón mời các nho sĩ, mở nhà quốc tử học và làm miếu thờ Khổng

Tử thì nền Nho học có nhiều bước phát triển Thời kỳ đầu, các học giả vẫncòn theo lối học của nhà Nguyên, chưa ai đề xướng ra học thuyết nào mới cả.Thời kỳ này có những danh nho như Lưu Cơ (1311 - 1375) Tống Liêm tự làCảnh Liêm (1309 - 1373) Đến thời kỳ thứ hai, từ đời vua Nhân Tông (1425)đến vua Mục Tông (1567 - 1572), trong khoảng thời gian hơn một thế kỉ rưỡi

đó, Nho giáo thịnh hành hơn trước và có nhiều học giả trứ danh Người thì ralàm quan, người thì ẩn cư ở chốn quê mùa nhưng ai nấy đều có chí làm sáng

rõ đạo của thánh hiền Đến quãng thời gian suy tàn của nhà Minh, kể từ đờivua Thần Tông (1572 - 1620), nền Nho học tuy không thịnh đạt như trước,nhưng nhiều người muốn lấy sự học để cứu vớt nhân tâm con người nên đãlập ra nhiều học phái để giảng dạy đạo thánh hiền Trong đó có Đông Lâmphái với người sáng lập là Cố Hiến Thành và Cao Phan Long, Thủ Thiện pháivới người sáng lập là Châu Nguyên Tiêu Xét ra, Nho học đời Minh không rangoài phạm vi Tống học dù có phái Diêu Giang chuyên về mặt tâm học hayphái Hà Đông tôn sùng cái học của Trình Chu "Cái học ấy từng chia ra chi

nọ, phái kia nhưng kết cục vẫn theo cái tôn chỉ thiên địa vạn vật nhất thể, và

về đường thiết thực vẫn cố giữ cái khí tiết của học giả" [8; 669]

Thời nhà Thanh, nhất là đời vua Khang Hy, không những các pháitrong Nho giáo như phái Hán học và phái Tống học đều thịnh hành mà pháiTây học cũng có thế lực Thời kỳ này vẫn chú ý để dạy Nho học nhưng vẫn

Trang 9

bảo thủ các văn hóa cũ của người Mãn Châu nhà Thanh Trong lúc đó, cónhiều nhà Nho học không chịu ra làm quan với nhà Thanh, mà ở nhà chuyêntâm học tập Lại có nhiều học giả thấy sự học của Nho gia cuối đời Minh đãsuy đồi nên tìm phương pháp sửa đổi Nho học đời nhà Thanh tuy là rất thịnhnhưng đa số các học giả đều làm sách vở, nghiên cứu tường tận theo phươngpháp khoa học nên "Thanh Nho chỉ có cái tư cách khoa học mà không có cáitinh thần triết học.Những danh nho trong khoảng ba thế kỷ đó đều là ngườibác học, song không có mấy người hiểu biết chỗ uyên thâm của Nho giáo nhưđời Tống và đời Minh." [8; 720].

Các sách kinh điển của Nho giáo đều hình thành từ thời kỳ Nho giáonguyên thủy Sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư Hệ thốngkinh điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa,

ít viết về tự nhiên Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về chính trị, xãhội, về đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia

Ngũ Kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch

do Khổng Tử san định các sách của đời trước để lại và ngài còn viết sáchXuân Thu để bộc lộ rõ quan điểm của mình

Kinh thi là bộ sách chép những bài thơ dân gian của người Trung Hoa

cổ đại, hay còn gọi là những bài ca, bài dao được Khổng Tử san định thành

3000 thiên Những bài ca, bài dao này vừa bộc lộ niềm tin vào thượng đế, ướcnguyện sâu xa của thánh hiền thời cổ, vừa phác họa mọi khía cạnh của cuộcsống và các hạng người trong xã hội Khổng Tử san định Kinh thi để mongngười đời hiểu điều hiếu trung, biết thương, biết ghét và mở mang tri thức.Ông thường nói với học trò rằng, Kinh thi làm cho mình hưng tâm khởi trí,nhờ nó mà mình biết hợp quần xã hội

Kinh thư là bộ sách về sử các vua chúa từ đời vua Nghiêu đến đời TầnMục Công (Khoảng từ năm 2350 - TCN đến 620 - TCN) Bộ sách này trìnhbày tỉ mỉ hoạt động, đường lối và tư tưởng của người cổ về đối nhân xử thế,

đề cao phương pháp trị vì thiên hạ bằng đạo lý, thuận theo thiên thời, địa lợi,nhân tâm mà các thánh vương Nghiêu, Thuấn,Vũ, Thang ngày xưa đã sửdụng

Kinh Lễ gồm ba bộ: Chu Lễ, Nghi Lễ và Lễ Ký Trong đó Chu Lễ nói

về cách tổ chức hành chính, chính trị xã hội thời Chu Nghi lễ quy định thểthức lễ nghi trong cuộc sống còn Lễ Ký là phần do các môn đệ của Khổng Tử

Trang 10

bình về các phong tục Kinh Lễ là sự vận dụng các quan điểm của vũ trụ vàocuộc sống để quy định mọi cử chỉ hành vi, bổn phận của con người từ khi tấm

bé cho đến khi qua đời Có thể nói Kinh Lễ là bộ sách lý luận và biện pháp tổchức xã hội mà Khổng Tử rất tâm đắc

Kinh Dịch nguyên là sách giải thích sự vận hành của vũ trị để bóinhững điều lành dữ trong đời sống con người Khổng Tử đã giải thích các ýnghĩa của sách dịch và viết thêm một số thiên tạo nên cơ sở nhân sinh quancủa kinh dịch

Kinh Xuân Thu là bộ sách Khổng Tử viết về chuyện nước Lỗ, từ đời

Lỗ Ân Công (khoản 722 - TCN) đến đời Lỗ Ai Công (Khoảng 480 - TCN) làchuyện về nhà Chu và các nước chư hầu khác Có thể coi đây là bộ biên niên

sử và Khổng Tử trong khi tránh đụng chạm đến các thế lực cầm quyền đãdùng nó để vạch ra nguyên nhân loạn lạc của xã hội đương thời Khổng Tửviết Xuân Thu để khen thiện, chê ác và dạy phép trị vì thiên hạ cho các thiên

tử Phép trị nước này là thuyết "chính danh" - Thuyết xuyên suốt sách XuânThu mà suốt đời Khổng Tử luôn tuân theo

Kinh Nhạc do Khổng Tử hiệu đính nhưng sau khi ông mất và nhất làqua các chính sách đốt sách chôn nhà nho của Tần Thủy Hoàng mà sách nhạckhông giữ được bao nhiêu Khi đạo Nho được phục hưng (Đời Hán Vũ Đế -năm 130 TCN), sách nhạc chỉ còn một thiên, được đem nhập vào bộ Lễ kí vàđược gọi là Nhạc kí Như vậy, Lục kinh chỉ còn lại Ngũ kinh

Tứ Thư gồm có Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung và Mạnh Tử

Luận Ngữ là sách ghi lại những lời dạy của Khổng Tử do học trò củaông ghi chép lại sau khi ông mất Luận ngữ còn có nghĩa là các lời bình

Đại Học là sách dạy phép làm người để trở thành bậc quân tử Sách này

do Tăng Sâm còn gọi là Tăng Tử, học trò xuất sắc của Khổng Tử, dựa trên lờidạy của thầy mà soạn ra Đại học có nghĩa là sự học lớn

Trung Dung là sách dạy người ta cách sống trung hòa, không thiênlệch Sách này do người cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, học trò củaTăng Tử soạn ra Trung là ý muốn nói cái tâm không lệch bên này hay bênkia Dung có nghĩa là dung dưỡng, giữ mãi mức như vậy

Trang 11

Mạnh Tử là sách ghi lại những lời dạy của Mạnh Tử Mạnh Tử tên thật

là Mạnh Kha (390 -305 TCN) Ông là người đã phát triển tư tưởng của Khổng

Tử và là nhân vật tiêu biểu nhất của Nho giáo sau Khổng Tử

1.1.2 Những tư tưởng cơ bản của đạo đức Nho giáo và một số giá trị tích cực của nó

Để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội,Khổng Tử đã đặt ra một loạt Tam cương, Ngũ thường, Tứ đức và tư tưởngHiếu đễ Tam cương và Ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo.Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo Còn Hiếu đễ là lẽ đạođức mà con người cần phải có Khổng Tử cho rằng, người trong xã hội giữđược Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức thì xã hội được an bình

1.1.2.1 Học thuyết "Tam Cương"

Trong các mối quan hệ xã hội, triết học Nho gia xác định ba mối quan

hệ cơ bản và thông thường của mỗi đời người trong thiên hạ gọi là Tamcương, gồm quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ Mỗi quan hệ lại có từngtiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng như vua nhân từ, tôi trung thuận, chahiền, con thảo, chồng biết tình nghĩa, vợ nghe lẽ phải Vào thời mình, Khổng

Tử đã đề cập đến những mối quan hệ và những tiêu chuẩn này, song ông nhấnmạnh nhiều hơn đến quan hệ vua - tôi và cha - con

Trong xã hội, quan hệ vua - tôi là quan hệ mà Nho giáo chú ý nhiềunhất Vua còn được gọi là thiên tử (con trời) có sứ mệnh to lớn nhất là thaytrời để giáo dân, trị dân, do vậy vị trí của vua là cao nhất, quyền uy của vua làtuyệt đối và bao trùm thiên hạ Tôi (bề tôi) có thể là mọi người nói chungdưới quyền thống trị của vua, là dân đen, lực lượng đối lập với tầng lớp thốngtrị gồm có vua, quan.Hoặc là tầng lớp quan lại,những người giúp vua trongviệc cai trị, có vai trò trị nước, trị dân, giáo dân

Dù nằm trong thành phần nào, cấp độ nào thì trách nhiệm, nghĩa vụ của

bề tôi là phụng sự vua hết lòng, coi vua là cha mẹ Cho nên đức trung còn làđức hiếu, tận trung cũng là tận hiếu với vua Còn vua đối với bề tôi, vua phảitheo mệnh trời mà nuôi dưỡng, giáo hóa dân, bởi vì họ cũng do trời sinh ra.Đối với quan hệ vua - tôi, Khổng Tử chống việc truyền ngôi vua theo kiểu chatruyền con nối Ông cũng đòi hỏi "Vua phải biết trọng dụng người có đức độ

và có năng lực làm việc và phải biết rộng lượng đối với cộng sự của mình".[3; 60] Khổng Tử và Mạnh Tử đã đưa ra các quy phạm đạo đức nhân - nghĩa

Trang 12

- hiếu - trung nhằm ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ lẫn nhau giữa nhà vua

và bề tôi Tuy nhiên, từ Đổng Trọng Thư trở đi đã đề cao tuyệt đối hóa vai tròcủa cá nhân nhà vua, coi vua là thiên tử, quyền uy của vua là cao nhất bắtbuộc mọi người phải tuyệt đối phục tùng vô điều kiện Còn vai trò của dân,của người bị thống trị lu mờ, phải tuân thủ một cách đầy đủ, nghiêm chỉnhquyền lực của nhà vua, của kẻ thống trị

Trong gia đình, quan hệ cha - con là một trong ba quan hệ cơ bản củacon người Để duy trì quan hệ này, Nho giáo đưa ra hai chuẩn mực đạo đức là

từ và hiếu Đức từ (đối với con) cũng chính là để sai khiến dân chúng Đứchiếu (đối với cha) cũng chính là để thờ vua Nho giáo coi trong đức hiếu, đức

từ là nhằm duy trì chế độ tông pháp và địa vị thống trị của nhà vua

Trong mối quan hệ này, các nhà Nho đề cao vị trí của người cha là bềtrên của con, sinh ra con nên Nho giáo nhấn mạnh đức hiếu tức là nhấn mạnhtrách nhiệm, nghĩa vụ của người con đối với cha Mạnh Tử còn nói, trong cácviệc phụng sự thì phụng sự cha là trọng đại hơn hết, là gốc vậy Người con cónghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, kính trọng cha, phải tuyệt đối phục tùngmệnh lệnh của cha Người con có đạt được đức hiếu đó mới là người có nhân,

có lễ, nghĩa, trí Trong quan hệ cha con, người làm cha phải có đức nhân Chaphải có nghĩa vụ yêu thương con mình, nuôi dạy con nên người Khi con cònnhỏ phải lo lắng, chăm sóc cho con khôn lớn Khi con trưởng thành phải dạy

dỗ, uốn nắm, làm gương cho con,dạy con biết đạo làm người trong xã hội,biết trung với vua, biết hiếu với cha, biết kính người trên và biết đễ với anh

em, biết làm việc nghĩa

Theo Khổng Từ, cái hiếu của con cái không chỉ là của cải dành cho cha

mẹ, không chỉ là phụng dưỡng người sinh ra mình mà trước hết phải là lòngthành kính Khi cha mẹ mất, thì giữa tiền bạc và tấm lòng, sự buồn thươngcao hơn tiền bạc "Đặc biệt quan điểm về hiếu nghĩa của Khổng Tử khôngphải là quan điểm một chiều, không phải con cái nhất nhất nghe lời cha mẹ.Ông thường dạy rằng, phận làm con thấy cha mẹ lỗi lầm thì phải can gián mộtcách nhẹ nhàng" [3; 61] Ngoài ra, quan điểm "cha ra cha, con ra con" cũngđòi hỏi cha mẹ phải đối xử với con cái theo đúng đạo của mình

Quan hệ chồng - vợ cũng là một trong ba quan hệ cơ bản của conngười Để duy trì quan hệ chồng - vợ, Nho giáo đưa ra phạm trù nghĩa Nghĩa

là chuẩn mực đạo đức để ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ giữa chồng - vợ

Trang 13

với nhau Chồng vợ phải yêu thương và có trách nhiệm với nhau Tuy nhiên,địa vị xã hội và vai trò của người phụ nữ được nhìn nhận và đánh giá thấp hơn

so với người đàn ông Đặc biệt từ Đổng Trọng Thư trở đi, các nhà Nho đềuđòi hỏi người phụ nữ, người vợ trong gia đình phải tuyệt đối phục tùng chồng,

kể cả cha mẹ chồng Có như vậy, người vợ mới được coi là người có đạo đức,tiết hạnh Nho giáo phản đối sự dân chủ trong gia đình Với Nho giáo, giađình là một nước nhỏ, người chồng là chúa tể của người vợ Người vợ chỉ làngười chịu sự sai khiến chỉ bảo của chồng Đó là hạn chế trong quan hệ vợchồng của Nho giáo Tuy nhiên, theo Nho giáo, trong gia đình thì ngườichồng phải biết yêu thương vợ con, chăm lo và là chỗ dựa cho vợ con Người

vợ phải biết chăm lo, vun vén cho gia đình mình và gia đình chồng.Nho giáo

đề cao gia đình hòa thuận, coi thuận vợ, thuận chồng là cái gốc của xã hội tháibình Đây là điểm rất tích cực về quan hệ chồng - vợ trong đạo đức Nho giáo

1.1.2.2 Học thuyết "Ngũ thường"

Nho giáo nói về năm đức chủ yếu (ngũ thường) là năm tiêu chuẩn đạođức căn bản nhất thường có ở con người Theo Khổng Tử, muốn hợp lễ thìngười quân tử phải có nhân, trí, dũng Mạnh Tử bỏ dũng và nói nhiều về lễnghĩa thành bốn đức: nhân - nghĩa - lễ - trí Đổng Trọng Thư thêm tín thànhnăm đức (ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín)

Nhân theo nghĩa hẹp là một phẩm chất đạo đức cơ bản, là chuẩn mựcđạo đức để con người tự tu dưỡng và hoàn thiện nhân cách của mình Theonghĩa rộng, thì những đức cần có khác của con người như nghĩa - lễ - trí - tín -hiếu - trung đều là biểu hiện cụ thể của đức nhân Nhân là đạo làm người, làcách cư xử của mình với người, là yêu người, bác ái Theo Khổng Tử "Nhân"không chỉ là riêng một đức tính nào mà chỉ chung mọi đức tính Người cónhân đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên nhân là nghĩa của đạo làmngười "Kẻ có nhân là người tình cảm chân thật, hết lòng vì nghĩa, cho nên cónhân thì bao giờ cũng hiếu để, lễ nghĩa, trung thực Kẻ bất nhân thì đầy nhữngtrí thuật, rất khôn khéo, linh lợi mà tình cảm đơn bạc không thành thực, chỉ vìlợi mà không có lễ nghĩa, dối trá, gian ác, phản loạn, lừa trên gạt dưới" [3;64] Tuy nhiên, học thuyết nhân của Khổng Tử có nội dung giai cấp rõ ràng.Chỉ có người quân tử, tức giai cấp thống trị mới có thể có được đức nhân, còn

kẻ tiểu nhân (tức nhân dân lao động) không thể có được đức nhân Nghĩa làđức nhân chỉ là đức của người quân tử, của giai cấp thống trị

Trang 14

Lễ là một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực đạo đức dùng để chỉ tôn ti,trật tự, kỷ cương của xã hội mà mọi người, mọi giai cấp trong xã hội phải học,phải làm theo Nếu nhân là nội dung thì lễ chính là hình thức của nhân Lễ lànhững chuẩn mực, những quy tắc, những yêu cầu trong các hoạt động của conngười và trong các mối quan hệ xã hội Vua phải yêu thương bề tôi, bề tôiphải tận tuy với vua Cha mẹ phải yêu thương con cái, con cái phải hiếu kínhđối với cha mẹ Con người thi hành lễ là để rèn luyện, tu tâm dưỡng tính, tạocho con người có điều kiện thực hiện đức nhân và có những hành vi đúngmực, tốt đẹp Lễ phân ra trật tự khác nhau để cho vạn vật có thứ tự phânminh Lễ là một trong những biện pháp chính trị cơ bản nhất để thi hànhđường lối đức trị Trong Nho gia, lễ có tác dụng rất lớn bao trùm hết tất cả cáchành vi của con người và xã hội, là khâu chủ yếu của đạo làm người và được

cụ thể hóa thành những nguyên tắc đạo đức để đánh giá đạo đức con người

Phạm trù nghĩa trong đạo đức Nho giáo là sự đối nhau với nhân Nếunhân thể hiện trong các mối quan hệ với người khác thì nghĩa là sự thể hiệntrong tự vấn lương tâm mình Lòng hổ thẹn là đầu mối của nghĩa Nghĩa cónghĩa đen là điều nên nói, việc nên làm Ngoài ra, nghĩa còn là cách cư xử vớimọi người theo công bằng và lẽ phải Trong thử thách đạo làm người, chữnghĩa trong đạo đức Nho gia giúp cho con người ta biết phân minh việc phảitrái, làm việc tốt, việc thiện ở đời và hành xử công bằng theo lẽ phải ĐếnĐổng Trọng Thư thì chữ nghĩa đi liền với lợi Ông cho rằng trời sinh ra ngườikhiến người sống ở cái nghĩa và cái lợi Lợi để nuôi thân thể, nghĩa để nuôicái tâm Tâm không có nghĩa, không thể được, thân thể không có lợi, khôngthể yên được.Trong thời đại ngày nay,lòng hổ thẹn và tinh thần vì nghĩathường bị nhiều thứ làm cho lung lay, mất đi tính tốt đẹp vốn có như uy vũcủa kẻ quyền thế, địa vị công danh, tiền tài, lợi lộc

Trong quan điểm về trí, khi được Phàn Trì hỏi về Trí, Khổng Tử đáp:

"Trí là biết người" Trong học thuyết Nho gia, Trí được hiểu là sự minh mẫnnói chung để phân biệt, đánh giá con người và tình huống,qua đó xác định chomình cách ứng xử cho phải đạo Nói chung, theo Khổng Tử, phải có trí thìcon người mới vươn tới được đức nhân nên không thể là người nhân mà thiếutrí Đề cập tới trí, Khổng Tử một mặt tin vào mệnh trời và cho rằng tri thứcbẩm sinh là tri thức thượng thặng, là thượng trí, trời sinh ra đã có sẵn vàkhông biến đổi Mặt khác, ông đã xếp trí vào một trong những tiêu chuẩnquan trọng nhất của con người hoàn thiện Ông cho rằng trí là kết quả của quá

Trang 15

trình học hỏi trong đời sống Nếu không học hỏi thì dù có thiện tâm đến đâucũng bị cái ngu muội, lầm lạc, phản loạn làm biến chất Chữ trí trong Nho giagiúp con người ta luôn luôn phấn đấu học tập để hoàn thiện bản thân mình.Trí là biết người, là dùng người trực, bỏ kẻ gian Như vậy có thể giáo hóa kẻgian thành người trực.Trí là biết được một cách đúng đắn, rõ ràng, phải tráitrong mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống

Chữ tín theo Nho giáo là lòng thật thà, niềm tin, đức tính giữ lời hứahẹn, giữ đúng, làm đúng những điều đã nói ra Chữ tín trong đạo đức Nhogiáo hướng con người đến sự ngay thẳng, chân thật trong hành xử, trong đốinhân xử thế Đối với bằng hữu thì phải làm cho người ta tin, có như vậy tìnhbạn mới bền vững được Đặc biệt, với những người trị nước, trị dân thì đứctín càng quan trọng hơn

1.1.2.3 Học thuyết "Tứ đức"

Không chỉ nói về đạo đức nam giới, Nho giáo còn đề ra những tiêuchuẩn cho người phụ nữ với học thuyết tứ đức Tứ đức trong quan điểm Nhogiáo là bốn đức tính cần thiết mà người phụ nữ phải có, đó là: Công - Dung -Ngôn - Hạnh

Công: Theo Nho giáo đó là khéo léo trong công việc Đạo đức Nhogiáo đòi hỏi người phụ nữ thời xưa trong nữ công gia chánh phải khéo léo

Đó là những công việc như may, vá, thêu thùa, bếp núc Với người phụ nữgiỏi thì có thêm cầm kì thi họa Bên canh đó chữ "công" trong Nho giáo còn

có thêm việc nuôi dạy con cái Đây là những khuôn phép, chuẩn mực mà đạođức Nho giáo đề ra cho người phụ nữ Thời xưa, khi mà người đàn ông làngười chủ gia đình, vai trò của phụ nữ chỉ hạn chế ở công việc nhà cửa thì sựđòi hỏi về độ giỏi giang, khéo léo trong công việc nhà của người phụ nữ càngcao

Chữ "Dung" trong đạo đức Nho giáo không chỉ nói về nhan sắc mà chủyếu nói về dáng điệu, sắc diện Dung có nghĩa là hòa nhã trong sắc diện, gọngàng trong dáng đi, điệu bộ Chữ dung đòi hỏi người phụ nữ phải biết tôntrọng hình thức bản thân mình và chăm chút đến nó

Đạo đức Nho giáo đòi hỏi người đàn ông phải biết tề gia trị quốc bìnhthiên hạ, tức là phải có tài năng trong khi đó lại hạn chế về tài năng của nữgiới Chính vì vậy, người con gái muốn có một tấm chồng như ý, một đức

Trang 16

lang quân tài năng thì chữ "Dung" ở người phụ nữ là rất cần thiết và quantrọng.

Chữ Ngôn trong đạo đức Nho giáo có nghĩa là lời ăn tiếng nói phảikhoan thai, dịu dàng, mềm mỏng Nho giáo coi "ngôn" cùng là điểm quantrọng trong đạo đức của người phụ nữ Bởi vì tính nết, đức hạnh của ngườiphụ nũ thể hiện khá nhiều qua lời ăn tiếng nói, qua cung cách giao tiếp hàngngày

Đức "Hạnh" trong đạo đức Nho gia đòi hỏi sự nhu mì, hiền thảo trongtính nết của người phụ nữ Theo đạo đức Nho giáo thì người phụ nữ ở tronggia đình phải luôn hiền thảo, nết na Đó là phải biết kính trên nhường dưới,trên thì nghe lời chồng và cha mẹ chồng, dưới thì phải thương yêu, chăm sóccon cái và sống tốt với anh em họ nhà chồng Khi ra ngoài xã hội, khi đốinhân xử thế thì "Hạnh" có nghĩa là sự nhu mì, chính chắn, không hợm hĩnh,cay nghiệt với người khác

Tất cả những điều trên đã tạo ra một mẫu người phụ nữ lý tưởng, hoànhảo trong xã hội cũ Đạo đức Nho gia đã đưa ra những chuẩn mực về Công -Dung - Ngôn - Hạnh cho người phụ nữ, là thước đo đạo đức cho người phụ

nữ ở hàng bao thế kỷ Đó là những người phụ nữ đảm đang, khéo léo việcnhà, hiền thảo nết na trong gia đình và nhu mì, chính chắn ở ngoài cuộc sống

xã hội Tuy nhiên, những khuôn phép mẫu mực đó đã trói buộc người phụ nữvào một khuôn khổ của công việc, của sự cam chịu, phục tùng mà không hềcoi trọng, chú ý đến tài năng hay những phẩm chất tốt đẹp khác mà người phụ

nữ có

1.1.2.4 Tư tưởng "Hiếu đễ"

"Hiếu đễ" là một nét đặc sắc trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Hiếu ởđây có nghĩa là lòng yêu thương, hiếu kính của con cái đối với cha mẹ, vớibậc sinh thành Còn "đễ" có nghĩa là anh em trong một nhà phải có tình thânmật, anh phải biết bao bọc và che chở cho em và phải biết nhường nhịn em

Em phải biết kính trọng anh, nghe lời anh

Cái nền của Hiếu Đễ là ái và kính Khổng Tử đã từng nói: "Dựng lòng

ái khởi đầu từ cha mẹ, là dạy dân hòa mục vậy Dựng lòng kính khởi đầu từngười huynh trưởng, là dạy dân kính thuận vậy, lấy từ mục mà dạy dân thìdân biết quý có cha mẹ, lấy kính người huynh trưởng mà dạy dân thì dân biếtphụng sự theo mệnh lệnh của người trên Hiếu là để thờ cha mẹ, thuận là để

Trang 17

vâng mệnh lệnh người trên, đem những điều ấy mà thi thố ra thiên hạ, thìkhông có điều gì là không làm được" [8; 147].

Theo đạo đức nho gia, người có hiếu trước hết phải nuôi cha mẹ Nuôithì phải kính, chứ nếu không kính yêu thì không phải là hiếu Khi cha mẹ còn,không được làm điều gì cho cha mẹ lo buồn Nếu làm cha mẹ đau lòng, lobuồn thì đó là tội nặng, đó là bất hiếu Khổng Tử đề cao việc lấy lễ và thờ cha

mẹ nhưng không phải cha mẹ làm gì trái đạo cũng đều nghe theo, "Khi cha

mẹ có làm điều gì trái đạo thì con phải dùng cách ôn hòa mà can ngăn Nếucha mẹ không nghe thì lại tỏ lòng cung kính và hiếu thảo, rồi dần lựa cách mànói cho cha mẹ biết lẽ phải để sửa đổi lại Dẫu có khi cha mẹ giận mà đánhđập, dẫu phải chịu khổ sở, cũng không oán Việc giữ gìn cái danh tiết của cha

mẹ được trong sạch là cái bổn phận của người con hiểu đạo hiếu vậy" [8;149]

Chữ Đễ trong đạo đức Nho giáo gắn liền với quan hệ anh - chị - em.Nho giáo đòi hỏi phải có "Đễ", tức là anh em một nhà phải có tình thân mậtvới nhau Anh em một nhà phải biết yêu thương gắn bó với nhau Anh phảibiết chỉ bảo, che chở cho em, em phải biết kính trọng và nghe lời anh "Đễ"chính là điều cốt lõi mà anh em trong một nhà phải ghi nhớ và thực hiện theo.Bởi lẽ xã hội Nho giáo là một xã hội quyền huynh, thế phụ, anh là người cóquyền thay cha giải quyết mọi công việc trong gia đình Bởi vậy, người anhphải biết uốn nắn, dạy dỗ điều hay lẽ phải cho em và phải là một tấm gươngmẫu mực để em noi theo Khi em sai trái, anh phải nghiêm khắc chỉ bảo, dạy

dỗ Khi em khó khăn anh phải giúp đỡ, đùm bọc và quan tâm Cũng chính vìvậy mà em phải luôn kính trọng, nghe lời chỉ bảo của anh, không được cóhành động vô phép với anh Dù cho em sau này trưởng thành, thành đạt, giàu

có thì đối với anh phải luôn luôn lễ phép, kính cẩn nhất mực Tất cả nhữngđiều trên tạo nên một mối quan hệ anh em thuận hòa, yên ấm mà giá trị giáodục của nó vẫn được lưu giữ cho đến hôm nay và mai sau

1.2 Một vài nét về Nho giáo Việt Nam

1.2.1.Quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam.

Vào cuối đời Tây Hán và đầu đời Đông Hán, cùng với chính sách cai trị

và "Hán hóa" vùng đất cổ Việt Nam thời đó gọi là Giao Chỉ, Cửu Chân, vănhóa Hán bắt đầu được truyền bá vào Việt Nam từ tên tuổi hai tên quan màsách sử Việt Nam cũng như sách sử Trung Hoa đều ca ngợi họ có công trong

Trang 18

việc "khai hóa", mở mang phong tục mới là Tích Quang và Nhâm Diên.Nhưng sự hiện diện tương đối rõ nét của Nho giáo ở nước ta chỉ thật sự bắtđầu vào cuối thời Đông Hán với vai trò tích cực của Sĩ Nhiếp (187-226) SĩNhiếp là người gốc huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô nay thuộc QuảngTây, Trung Quốc Ông từng được phong làm quan huyện lệnh của huyện VũDương (Trung Quốc) sau đổi sang làm thái thú Giao Chỉ (vùng Bắc Bộ nước

ta ngày nay) Đó là những năm cuối thời hậu Hán (khoảng cuối thế kỉ thứ II).Tại đây, Sĩ Nhiếp đã ra sức quảng bá Nho giáo vào Việt Nam, tự mình mởmang việc học Nho giáo Vì thế, ông được nhiều thế hệ Nho giáo tôn là Namgiao học tổ (vị tổ của nền Nam giao, tức đất nước ta) Những cây đại bút nhưBảng nhãn Lê Văn Hưu, Tiến sĩ Ngô Sĩ Liên, Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ v.v.đều đánh giá rất cao vai trò của Sĩ Nhiếp trong việc truyền bá Nho giáo Ngô

Sĩ Liên đã từng bình luận trong sách "Đại Việt sử kí toàn thư" về vai trò của

Sĩ Nhiếp với nước ta là "thông thi thư, tập lễ nhạc" Từ thời Tích Nhâm Diên rồi Sĩ Nhiếp đến trước đời Đường (618-907), Nho giáo đượctruyền bá sang Việt Nam là Hán Nho Từ thời Tùy - Đường thống trị nước tađến khi Ngô Quyền giành lại được quyền độc lập năm 938, Nho giáo cùngvăn hóa Hán vẫn tiếp tục được truyền bá vào Việt Nam, nhưng trong mấytrăm năm nay, diện mạo Nho giáo như thế nào không được sử sách đề cậpđến

Quang-Trong thời kì Bắc thuộc, lực lượng truyền bá Nho giáo chủ yếu là quanlại phong kiến Trung Quốc đô hộ Sát cánh cùng quan lại đô hộ là các nho sĩTrung Quốc di cư sang nước ta Tất cả họ đều có mối quan hệ với bộ máychính quyền đương thời Những sĩ Nho này được quan lại đô hộ huy động vàothực hiện âm mưu đồng hóa dân tộc ta "Thời Bắc thuộc, Nho giáo chỉ đượccoi là một trong những vũ khí lợi hại, được nhà nước phong kiến Trung Quốc

sử dụng để đồng hóa và nô dịch nhân dân ta Không ai phủ nhận rằng để cóthể truyền bá, quan lại đô hộ phải mở trường và dạy chữ (nghĩa là cũng cónhững tác dụng tích cực khách quan nhất định của nó) nhưng mục đích tối cao

và bao trùm của Trung Quốc lúc bấy giờ vẫn coi Nho giáo là một thứ công cụ

nô dịch" [11; 52] Giai đoạn này, chỉ một số người nhất định trong số một sốđịa phương nhất định, thuộc tầng lớp trên của xã hội mới được tiếp xúc vớiNho giáo Đa số họ đều là con em của đội ngũ quý tộc thống trị cũ

Nội dung truyền bá chủ yếu của Nho giáo ở nước ta thời kì Bắc thuộccũng chỉ gói gọn trong mấy điều nhỏ hẹp Đó là tìm cách khẳng định và cổ vũ

Trang 19

mạnh mẽ cho tiếng nói tôn quân mà đỉnh cao của nền tôn quân này là Hoàng

đế Trung Hoa Những tư tưởng cực đoan nhất của Nho giáo đã được triệt đểkhai thác để phục vụ cho ý tưởng này Bên cạnh đó, sự truyền bá nội dung củaNho giáo vào nước ta liên tục gieo rắc tư tưởng trọng nam khinh nữ, nam quý

nữ tiện, làm băng hoại nền đạo lí tốt đẹp vốn có ngàn đời của ông cha ta.Khuôn mẫu “tứ đức” được đem ra để đánh giá đức hạnh của người phụ nữ.Sợi dây “tam tòng” được đem ra để trói buộc phụ nữ ta Điều đáng chú ý lànhững khái niệm như “tam tòng tứ đức”… đều được hiểu và vận dụng vớitinh thần lạc hậu, bảo thủ và cực đoan nhất Các Nho sĩ chỉ lo cổ vũ mạnh mẽcho tiếng nói tôn quân, cho tư tưởng trọng nam khinh nữ, cho nên nền Nhogiáo nước ta thời Bắc thuộc chỉ là một quá trình lợi dụng, cắt xén và áp đặtthô bạo chứ chưa thật sự có được một quá trình truyền bá tự nhiên đúngnghĩa Bấy giờ, chỉ có một bộ phận rất nhỏ tầng lớp trên của xã hội chịu tiếpnhận của Nho giáo Người ta học Nho giáo không phải để học phép đối nhân

xử thế, học làm người (như những thế hệ học trò theo Nho giáo ở Trung Quốcthời Tiền Hán) Cũng không phải để học để làm quan, để có thể “chăn dân”

“trị dân” mà học để có thể cộng tác, có thể làm tay sai cho chính quyền đô hộTrung Quốc Trải qua hơn một ngàn năm, Nho giáo chỉ bước đầu xác lậpđược một vị trí hết sức khiêm tốn trong đời sống tư tưởng của xã hội nước talúc bấy giờ

Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông BạchĐằng Từ đó trở đi, một kỉ nguyên mới của lịch sử nước nhà bắt đầu được mở

ra Đó là kỉ nguyên của độc lập, tự do và thống nhất Một cuộc vận động ráoriết nhằm nhanh chóng chiếm lĩnh vũ đài chính trị và tư tưởng nước ta bắtđầu Trong bối cảnh hoàn toàn mới mẻ như vậy, quá trình quảng bá, du nhậpcủa Nho giáo hẳn nhiên cũng phải khác trước Lúc này, lực lượng truyền báNho giáo ở nước ta chủ yếu là Nho sĩ người Việt, mặc dù ở giai đoạn đầu thì

số Nho sĩ ở Trung Quốc di cư sang vẫn giữ một vai trò nhất định “Trong kỉnguyên độc lập, tự chủ và thống nhất, Nho giáo có vị trí hoàn toàn khác hẳn

Từ đây, Nho giáo được coi là hệ thống tri thức quan trọng nhất của xã hội Vềsau, Nho giáo còn được coi là một hệ thống những bậc thang danh vọng,những quy phạm về đạo đức và những định chế của pháp luật Người tadường như quên đi nguồn gốc ngoại lai và những nội dung truyền bá vừa hạnhẹp vừa mang tính áp đặt thô bạo của Nho giáo trong thời kì Bắc thuộc trướcđó” [11;52] Nho giáo đã tự tìm cho mình một con đường thâm nhập vào xãhội Việt Nam có vẻ chậm chạp nhưng khá chắc chắn Đó là con đường đi từ

Trang 20

chiếm lĩnh dần địa hạt giáo dục, tiến tới chiếm lĩnh địa hạt chính trị và tưtưởng Từ đó, Nho giáo đã được người dân Việt Nam chủ động thừa nhận nhưmột văn hóa chủ thể và xác lập địa vị cao sang của nó khi nền độc lập dân tộchoàn toàn ổn định vững chắc và đi vào phục hưng dân tộc ở vương triều Lý,bắt đầu từ năm 1010_ Năm Triều Lý dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về ThăngLong (Hà Nội ngày nay)

Năm 1070 dưới thời Lý Thánh Tông (1054-1072) triều đình cho xâymiếu thờ Khổng Tử tức Văn miếu Ngay sau khi xây văn miếu, Thái tử đã đếnhọc tập, mở đầu quá trình rèn luyện trước khi lên ngôi chí tôn ở địa điểm này

Năm 1075, dưới thời vua Lý Nhân Tông, triều đình cho mở khoa thiMinh kinh bác sĩ và thi Nho học tam trường Khoa thi này Lê Văn Thịnh đỗđầu Lịch sử thi cử Nho giáo ở nước ta chính thức khai sinh kể từ đó

Năm 1076, nhà Lý cho xây Quốc Tử Giám Từ đây con em quý tộc họ

Lý bắt đầu được chính thức đào tạo chủ yếu theo Nho giáo Tuy đối tượngđào tạo có phần hạn hẹp, nhưng bản thân sự có mặt của Quốc Tử Giám đã lànguồn khích lệ lớn lao cho nền giáo dục Nho giáo đương thời Tất cả sự kiệnnay trở thành mốc quan trọng đánh dấu một bước phát triển có ý nghĩa lịch sửđối với vai trò của Nho giáo trong đời sống văn hóa, giáo dục ở Việt Nam

Thời nhà Trần đã đặt ra những học vị cao cấp của Nho học Năm 1232,nhà Trần đặt ra học vị đầu tiên cho thi cử Nho giáo ở nước ta, đó là học vịThái Học Sinh Xét về đẳng cấp, Thái Học Sinh là học vị thuộc hàng cao nhất.Năm 1242, nhà Trần đặt ra lệ Tam Khôi (tức là học vị) riêng cho 3 người đỗcao nhất khoa thi Thái Học Sinh Tương tự như Trung Quốc, Tam Khôi nước

ta gồm: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa Năm 1304, nhà Trần thêmmột học vị mới là Hoàng Giáp, xét về thứ bậc, Hoàng Giáp xếp thứ tư sauTrạng Nguyên, Bãng Nhãn và Thám Hoa nhưng lại trên Thái Học sinh Tớiđây hệ thống học vị trong thi cử học tập của Nho giáo gần như đã hoàn chỉnh

Sau khi đánh đuổi quân Minh, giải phóng đất nước, Vương triều Lêchính thức được thành lập (1428) và bắt đầu công viêc xây dựng, phát triểnnền văn hóa độc lập dân tộc Lê Thái Tông lên ngôi năm Giáp Dần (1434).Thái Tông đã cho họp triều đình bàn về việc mở khoa thi tiến sĩ và đưa điều lệthi Hương, thi Hội cùng phép thi ở các kì Nhưng phải tới tháng 3 năm NhâmTuất (1442) thời Lê nhân Tông, triều Lê mới chính thức cho thi đối sách ở sânđiện để lấy tiến sĩ Năm này, nhà Lê đã đổi Thái Học Sinh thành Tiến sĩ và

Trang 21

nước ta quen gọi Tiến sĩ từ đó Cũng từ năm này, nhà Lê cho soạn văn bia vàchứng bia để khắc ghi tên những người đỗ Tiến sĩ Bia Tiến sĩ bắt đầu có từđây để tôn vinh Nho học, tôn vinh người đỗ đại và biểu thị lòng kính trọng kẻ

sĩ chân Nho của triều đình nhà Lê Khoa thi Tiến sĩ năm Nhâm Tuất là cộtmốc quan trọng xác lập vị trí độc tôn của Nho giáo ở Việt Nam hồi thế kỉ XV

Để tỏ lòng tôn sùng Nho học, vào tháng 2 mùa xuân năm Ất Mão(1435), vua Lê Thái Tông cho chọn ngày Thượng đinh, sai thiếu bảo Lê QuốcHưng làm lễ cúng Khổng Tử ở Văn Miếu, vị tổ khai sáng ra đạo Nho, từ đó

về sau định làm thường lệ Văn Miếu thờ Khổng Tử tại các bộ được nhà nướccấp phụ trông non quét dọn Đạo đức Nho giáo như lòng trung thành với vua,

sự tiết hạnh của phụ nữ được cổ vũ, tuyên dương Nho giáo ở thời Lê thế kỉ

XV đến triều Thánh Tôn Thuần Hoàng Đế (1460-1497) thì đạt đỉnh cao thịnhvượng Đến đời Lê Thánh Tông, diện mạo Nho giáo đã rõ ràng với những đặcđiểm cụ thể, dễ nhận biết Người xưa học Nho có hai phép: Học nghĩa lý vàhọc từ chương Học nghĩa lý là học chuyên sâu với mục đích dò tới nguồn gốccủa Khổng giáo Còn lại từ chương là học kinh nghĩa, thơ phú, văn sách cốt

để thi làm quan, cũng được gọi là học khoa cử

Trong khoảng thời gian này, Nho giáo đã giành trọng trách biên soạnluật, khôn khéo biến một số tư tưởng về một phép trị nước của Nho giáothành pháp luật xã hội Bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta là Hình thưđược biên soạn xong vào năm 1042 dưới thời trị vì của vua Lý Thái Tông(1028-1054) Thời Lê Thánh Tông, bộ luật Hồng Đức được biên soạn xongvào năm 1483 Nội dung cơ bản của luật Hồng Đức là bảo vệ quốc gia thốngnhất, bảo vệ thể chế tập quyền mà đỉnh cao là thể chế ấy là Hoàng đế nhà Lê.Quy mô quảng bá của Nho giáo càng mở rộng, nhất là từ buổi đầu của thời Lê

sơ trở đi Biết cứ ai, dù ở đâu và thuộc tầng lớp nào trong xã hội, nếu có điềukiện cũng đều có thể tiếp nhận Nho giáo Học trò nước ta cũng được họcnhững sách kinh điển của Nho giáo như Tứ thư, Ngũ kinh, Bách gia chư tử…Nền Nho giáo ở nước ta và Trung Quốc đã không còn khác nhau bao nhiêu

Nếu vào thời Bắc thuộc, Nho giáo được truyền bá vào đất nước ta chủyếu là Hán Nho thì trong kỉ nguyên độc lập, tự chủ và thống nhất, Tống Nhochi phối ảnh hưởng ở nước ta Tuy nhiên, ảnh hưởng của Tống Nho thời này

là không lớn Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIII, vị trí Nho giáo rất khiêm nhường,chỉ ở địa hạt giáo dục chứ chưa tìm đến chính trị và tư tưởng Ngay trong thế

kỉ XIV, ảnh hưởng của phái Tống Nho đã thể hiện khá rõ ràng trong một bộ

Trang 22

phận Nho gia ở nước ta nhưng đã vấp phải sự phản đối từ đông đảo các Nhogia khác Đỉnh cao nhất của sự truyền bá Tống Nho là vào thời trị vì của LêThánh Tông (1460-1497) Nhưng với thời gian ngắn ngủi như vậy cũngkhông đủ để Tống Nho tạo ảnh hưởng sâu sắc trong việc truyền bá Nho giáovào Việt Nam.

Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, Nho giáo đã dần dần xác lập vị trí độc tôncủa mình trong xã hội Việt Nam Thời kì này, ở nước ta đã xuất hiện rất nhiềunhà Nho nổi tiếng như Lý Thường Kiệt (1019-1105), Trần Quốc Tuấn (1380-1442), Lê Thánh Tông Họ đã làm cho Nho giáo ở nước ta trong kỉ nguyênnày ngày một thịnh đạt và có ảnh hưởng ngày một rộng lớn, sâu sắc đối với

xã hội Đại Việt

Trong thời kì nội chiến lâu dài (1527-1801), cùng với sự sụp đổ củanền thống nhất quốc gia, Nho giáo nước ta cũng bị sụp đổ từng bước một cáchthảm hại Trong thời gian này, Nho giáo đã gặp một số trở ngại lớn, đó là sựphục hưng mạnh mẽ của Phật giáo, Đạo giáo, là sự truyền bá của Thiên ChúaGiáo vào nước ta, đặc biệt là những cuộc khởi nghĩa của nông dân Bấy giờ,nông dân không chỉ tấn công vào toàn bộ cơ đồ của giai cấp phong kiến thốngtrị mà còn tấn công vào nền tảng tư tưởng của giai cấp này là Nho giáo Hai

xu hướng của Nho sĩ nước ta lúc bấy giờ là Nho xuất và Nho xử Nho xuất lànhững người theo nghiệp bút nghiên, thi đỗ và ra làm quan cho triều đình.Nho xử là những người không chịu ra làm quan và quy về ở ẩn Thời kì này,nước ta có nhiều nhà Nho xuất chúng như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn,Phùng Khắc Khoan (1528-1613), Phạm Công Trứ (1602-1675), Nguyễn GiaThiều(1741-1798), Lê Hữu Trác (1720-1792), Nguyễn Thiếp (1723-1804)Phạm Quý Thích (1759-1825) Tuy nhiên, những cố gắng của các bậc chânNho cũng không đủ để vực dậy một nền Nho học đã bắt đầu mục rỗng, suytàn

Dưới thời nhà Nguyễn, Nho giáo được chấn hưng Mặc dù trước đó,Nho giáo đã lâm vào khủng hoản triền miên, kẻ có tiền là có thể có được chức

vị, học vị; nhân cách giai cấp thống trị bị băng hoại, lí tưởng của kẻ sĩ bị sụp

đổ Tuy nhiên, triều Nguyễn cũng chỉ có thể lấy Nho giáo làm nền tảng tưtưởng cho triều đại của mình Nhà Nguyễn đã thanh lọc đội ngũ Nho sĩ, tổchức thi cử để chọn văn thần, giàu nhiệt huyết và thật sự trung thành vớimình, cùng chính sách cầu người hiền tài Bên cạnh đó, nhà Nguyễn đã thốngnhất chế độ giáo dục và thi cử chính quy trên phạm vi cả nước, đồng thời

Trang 23

thay đổi hệ thống học vị cũ Thời nhà Nguyễn xuất hiện hai thi xã lớn là BìnhDương Thi Xã và Bạch Mai Thi Xã – hai diễn đàn quảng bá mạnh mẽ tiếngnói của Nho gia.

Nho giáo thời Nguyễn bao hàm nhiều xu hướng khác nhau, trong đónổi bật nhất là ba xu hướng thể hiện ba đặc tính ảnh hưởng khác nhau củaHán Nho, Đường nho và Tống nho Ba xu hướng chịu ảnh hưởng này có ba

vị trí khác nhau đối với Nho giáo đương thời nhưng điều đặc biệt là ranh giớigiữa các xu hướng chỉ là tương đối mà thôi

Từ sau thế kỉ XIX, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta Sự sụp đổcủa nhà Nguyễn kéo theo sự sụp đổ của nền Nho giáo mới được chấn hưng.Nho giáo đã tỏ ra lạc hậu, bấc lực và xa lạ với những biến đổi mới mẻ vànhanh chóng của thời cuộc Nho giáo dần dần đi vào quên lãng như một cuộcrút lui lặng lẽ sau ngót hai nghìn năm thăng trầm từ khi du nhập vào ViệtNam

1.2.2 Một số giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo Việt Nam

Sự du nhập, tồn tại, phát triển rồi đi đến chỗ tàn lụi của Nho giáo ởnước ta trải qua ngót hai ngàn năm lịch sử Từng ấy thời gian, với bao biến cốthăng trầm của xã hội, Nho giáo dần dần đi vào đời sống, tinh thần con ngườiviệt và để lại nhiều dấu ấn đậm nét trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Mộtđiều đặc biệt là khi tiếp nhận Nho giáo, các nhà Nho nước ta đã biết “gạn đụckhơi trong” Đó là ông cha ta đã biết tiếp thu những giá trị tốt đẹp của Nhogiáo,loại bỏ đi những giá trị tiêu cực để làm nên một nền Nho giáo mang bảnsắc dân tộc, nhất là những giá trị đạo đức Đạo đức Nho giáo Việt Nam là sựkết hợp hài hòa những giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo Trung Quốcvới những giá trị tốt đẹp của đạo đức truyền thống dân tộc, lại vừa mang tínhgiáo dục sâu sắc thấm đượm tinh thần Việt Điều đó thể hiện rất rõ qua nhữnggiá trị tích cực của đạo đức Nho giáo Việt Nam

Học thuyết “Tam-cương” của Nho giáo đề cập rất nhiều đến mối quan

hệ Vua - Tôi Trong đạo đức Nho giáo, vua được coi là thiên tử (con trời),được thay trời trị dân, trị thiên hạ Uy quyền của vua là tuyệt đối Bề tôi phảituyệt đối phục tùng mệnh lệnh của vua, coi vua như cha mẹ Có như thế mớitrung với vua Cũng chính vì quá đề cao vai trò của vua mà Nho giáo thường

có ý nhất thể hóa trung quân với ái quốc, thậm chí cho rằng trung quân cũngchính là ái quốc Chữ “Trung” của tôi với vua trong đạo đức Nho giáo mang

Trang 24

tính áp đặt, hà khắc, dù cho ông vua đó là đấng minh quân hay kẻ hôn quân.Các Nho sĩ Việt Nam khi tiếp nhận Nho giáo cũng nhấn mạnh mối quan hệnày, xây dựng tinh thần trung quân ái quốc nhưng không mù quáng trungquân mà vẫn đặt ái quốc lên hàng đầu Nguyễn Phi Khanh khi bị áp giải sangTrung Quốc đã dặn dò Nguyễn Trãi: “Con là người có học, có tài, nên tìmcách rửa nhục cho nước và trả thù cho cha, như thế mới là hiếu, là trung, đâu

cứ phải đi theo khóc lóc như đàn bà con gái mới là trung, là hiếu”

Ngay như thời Nguyễn, xu hướng chịu ảnh hưởng của Tống Nho mạnhhơn thời trước Vì vậy, tiếng nói tuyệt đối hóa chế độ quân chủ chuyên chếđược cổ vũ, quyền uy hoàng đế được thực hiện, đạo vua-tôi cũng được đề cao.Những khi buộc phải lựa chọn giữa trung quân với ái quốc, người thức thời đãkhông ngần ngại từ bỏ trung quân và đặt chữ ái quốc lên hàng đầu ViệcTrương Định không theo mệnh lệnh vua Tự Đức, ở lại để tiếp tục lãnh đạonhân dân đánh Pháp là một ví dụ điển hình Nhà Nho Nguyễn Đình Chiểutrong tác phẩm “Văn tế Trương Định” đã viết:

Bởi lòng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền

Theo bụng dân phải chịu tướng quân thù, gánh vác một vai khổn ngoại.

Như vậy, trong đạo đức Nho giáo Việt nam, đạo trung quân, trung vớivua không phải là một sự trung quân mù quáng, bề tôi không phải chỉ nghetheo mệnh lệnh của vua mới gọi là trung Chữ trung trong đạo đức Nho giáoViệt nam xuất phát từ một điều khác, quang trọng hơn, thiết thực và thiêngliêng hơn, đó là nền độc lập tự chủ của đất nước, là lợi ích căn bản của dântộc

Đạo trung quân, chữ “trung” trong đạo đức Nho giáo đã được Hồ ChíMinh phát biểu lên đỉnh cao, vượt qua tư tưởng đạo đức của Nho giáo HồChí Minh cũng là một nhà Nho và Người đã vận dụng và sáng tạo một cáchxuất sắc đức “trung” trong đạo đức Nho giáo Theo Người, là một người cán

bộ, là đầy tớ của nhân dân thì “trung”ở đây trước hết phải “trung với nước”,trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa, với lợi ích thiết thực của quốc gia,dân tộc Chữ “trung” của Người đã vượt qua phạm vi nhỏ hẹp của Nho giáo

Nó tiến bộ, tích cực hơn nhiều và chuẩn mực cho tầng lớp cán bộ cũng nhưnhân dân ta học tập và làm theo trong thời kì cách mạng cũng như thời đạingày nay

Trang 25

Một nét đặc sắc trong giá trị đạo đức nho giáo Việt Nam là chữ hiếu.Hiếu trong đạo đức nho giáo Trung Quốc được thể hiện ở lòng kính yêu, biết

ơn cha mẹ, ở hành động nuôi nấng, chăm sóc mẹ của con cái Phận làm conphải biết nghe lời dạy của cha mẹ Có như vậy mới là người con có chí hiếu.Khi du nhập sang Việt Nam, các nhà nho Việt Nam đã biết kế thừa, phát huynhững giá trị tốt đẹp đó của nho giáo Trung Quốc Đến thời Hồ Chí Minh,chữ hiếu đã phát triển lên một tầm cao mới Hiếu trong đạo đức Hồ Chí Minhkhông chỉ là hiếu với cha mẹ, với bậc sinh thành mà còn với nhân dân Hiếuvới nhân dân tức là mỗi người cán bộ phải biết yêu thương nhân dân, phải họchỏi nhân dân và coi mình là đầy tớ của nhân dân Đạo hiếu ở đây đã vượt rakhỏi phạm vi giữa con cái với cha mẹ Nó đã được làm mới trên cơ sở pháthuy những giá trị tốt đẹp vốn có để biến thành cội nguồn sức mạnh của dântộc Với tinh thần ấy, cách mạng đã xây dựng được khối đoàn kết trong toàndân, biến nhân dân thành sức mạnh vô địch trong công cuộc giành độc lập tự

do và xây dựng tổ quốc Đạo hiếu trong đạo đức nho giáo quá đề cao vai tròcủa người cha trong gia đình,coi đó không những là đạo đức mà còn là phápluật Ông cha đã vận dụng đạo hiếu của nho giáo Trung Quốc nêu ra để xâydựng và cũng cố gia giáo Nhưng nó đã được vận dụng với một tình cảm sâusắc, cảm động hơn:

Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Đạo hiếu trong nho giáo Việt Nam là vậy, rất gần gũi, bình dị mà cảmđộng Nó đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ nền tảng đạo lý tốt đẹp vốn

có ngàn đời của tổ tiên ta

Trong đạo đức nho giáo, chữ nhân gần như bao trùm lên toàn bộ Nhântrong nho giáo Trung Quốc chính là lòng yêu thương với con người Nhưngnền Nho học Trung Quốc từ Khổng Tử, Mạnh Tử đến Đổng Trọng Thư đềucho rằng chỉ có quân tử mới có đức nhân, còn kẻ tiểu nhân thì không Các nhànho Việt Nam đã kế thừa chữ nhân trong đạo đức nho giáo, chắt lọc giá trịtinh túy của nó để xây dựng nên đức nhân đậm tính dân tộc Nguyễn Trãi làmột nhà nho giáo xuất sắc của đất nước ta ở thế kỉ XV Ông đề cao chữ nhânnhưng trước hết theo ông nhân là lòng yêu thương nhân dân bị áp bức,hành hạdưới sự tàn bạo của kẻ thù Chính vì vậy, việc nhân nghĩa mà người quân tử

Trang 26

phải làm là đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc no ấm cho nhân dân Ông

đã từng viết trong bài Bình Ngô Đại Cáo rằng:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Cũng chính từ tấm lòng nhân đó mà ông đau đớn, xót xa trước cảnh dânđen bị vùi dập dưới chế độ hà khắc của kẻ thù:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Nếu trong đạo đức nho giáo Trung Quốc, chữ nhân chỉ là trong lòngyêu thương của con người thì ở nho giáo Việt Nam đó còn là lòng nhân từ,khoan dung đối với kẻ thù của mình Nguyễn Trãi là người đã phát triển chữnhân lên đến đỉnh cao trong đạo đức nho giáo Việt Nam Khi kẻ thù đã đầuhàng, Nguyễn Trãi đã nêu lên tôn chỉ: cho kẻ thù nghị hoà, mở đường sốngcho chúng và cũng thể hiện tấm lòng hiếu sinh của dân tộc ta Ngay cả kẻ thùkhông đội trời chung mà ta còn có lòng nhân từ thì chữ nhân trong đạo đứcnho giáo đã được phát huy một cách tích cực qua đạo đức nho giáo của ôngcha ta Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô Đại Cáo rằng:

Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh

Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,

Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc, Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,

Về đến nước mà vẫn tim đập chân run.

Chữ nhân trong đạo đức nho giáo Việt Nam rộng lớn và sâu sắc nhưvậy đó Cũng chính bởi vậy mà một nhà nho như Nguyễn Trãi đã coi cốt lõinhân nghĩa là ở dân, của dân, dân chỉ mến người có nhân mà thôi Nếu Khổng

Tử xem nhân dân lao động là hạng tiểu nhân, còn Đổng Trọng Thư thì xemnhư lũ ngu si không biết gì thì Nguyễn Trãi_ một nhà Nho chân chính lại coinhân dân là cái gốc của đất nước, là động lực của cuộc chiến dựng nước vàgiữ nước Trong mối quan hệ của đạo vua tôi,ông luôn đề cao vai trò của nhândân Ông coi nhân dân là nước, vua, triều đình là thuyền Nước có thể chởthuyền và cũng có thể lật thuyền Nếu Nho giáo Trung Quốc mong muốn có

Trang 27

một vị minh quân đủ tài đức mà thờ phụng thì Nguyễn Trãi lại mong chonhân dân có được một cuộc sống thanh bình, ấm no, khắp hang cùng, ngõhẻm không có một tiếng oán hờn Ông cho rằng mọi chính sách của triều đìnhnói riêng và việc triều đình thi hành đường lối đức trị nói chung phải xuấtphát và căn cứ vào lòng dân Như vậy, có thể thấy rằng đạo lý nhân nghĩa ởNguyễn Trãi chiếm vị trí cao nhất, chi phối mọi suy nghĩ, hành động của conngười, mọi mối quan hệ của con người, hình thành và củng cố đạo lý làmngười cho mỗi người Đó là những chuẩn mực đạo đức mà Nho giáo nước tatrên cơ sở tiếp thu đạo đức Nho giáo Trung Quốc mà nêu lên Đạo đức nhânnghĩa trong Nguyễn Trãi không chỉ là biểu hiện những giá trị tích cực củaNho giáo Khổng - Mạnh mà các giá trị truyền thống của của dân tộc, đặc biệt

là lòng khoan dung, nhân ái cũng được tiếp thu và phát triển đến đỉnh cao

Đạo vợ chồng được Nho gia coi là một trong tam cương: vua tôi, cha con, vợ - chồng Như vậy, đủ thấy Nho gia Trung Quốc rất coi trọng đạo vợchồng trong hệ thống đạo đức của mình Tuy nhiên, mối quan hệ đạo vợchồng của Nho gia là mối quan hệ lệ thuộc, trong đó quyền uy người chồng làrất lớn và người vợ phải luôn phụ thuộc, phục tùng chồng, làm theo mọi yêucầu của chồng Đạo đức Nho giáo ở Việt Nam khi bàn về đạo vợ chồng lạikhác Đạo vợ chồng trong Nho giáo Việt Nam ngỡ như giản dị mà lại rất tinh

-tế và sâu sắc.Ở đó, tình và nghĩa luôn luôn quyện chặt với nhau, lòng chungthủy sắt son được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu của đạo vợ chồng

Đói no một vợ một chồng Một niêu cơm tấm giàu lòng ăn chơi

Đạo đức Nho giáo Việt Nam coi hạnh phúc vợ chồng là cội nguồn củamọi thành công trong cuộc sống gia đình Vợ chồng bình đẳng yêu thương,gắn bó keo sơn với nhau, cùng đồng cam cộng khổ với nhau là cội nguồnhạnh phúc chồng vợ Như vậy, đạo vợ chồng của đạo đức Nho giáo Việt Namvừa thể hiện mối quan hệ hài hòa, bình đẳng giữa vợ và chồng, vừa thấmđượm tình nghĩa yêu thương, phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc ta

và cùng bao gồm những nét tích cực trong đạo đức Nho giáo Trung Quốc

Nho gia thường ghép chung đạo hiếu với đạo anh em, gọi chung là hiếu

đễ Nói hiếu là hiếu với cha mẹ, mà trước hết là cha, còn nói "Đễ" tức là nóiđến sự tôn kính đối với bậc huynh trưởng Nho giáo Trang Quốc rất coi trọng

vị trí của người anh Anh là người chăm sóc, chỉ bảo, che chở cho em, là tấm

Trang 28

gương tốt để em học hỏi và noi theo Nếu như cha mất thì anh là người thaycha nuôi dạy em khôn lớn, trưởng thành Cũng chính vì quá đề cao vai trò củangười anh trong đạo đức anh - em mà Nho giáo Trung Quốc đòi hỏi ở phậnlàm em phải nhất mực cung kính, nghe lời anh, làm theo những lời chỉ dạycủa anh Khi tiếp nhận tư tưởng này của Nho giáo Trung Quốc, Nho giáo ViệtNam đã có một số thay đổi mang tính tích cực hơn rất nhiều Đạo đức Nhogiáo Việt Nam ta cũng đề cao vai trò của bậc huynh trưởng, nhưng cái chính

là không phải đề cao người huynh trưởng mà đạo đức Nho giáo nước ta luôn

đề cao tình nghĩa ruột thịt lên trên hết Nho giáo Việt Nam đòi hỏi anh emphải biết yêu thương đùm bọc nhau, gắn bó với nhau không thể tách rời

Anh em như thể tay chân Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần

Đạo anh em trong đạo đức Nho giáo nước ta vừa có tính độc lập tươngđối rõ rệt, vừa gồm phải hai chiều tốt đẹp như nhau Chiều thứ nhất là trênkính dành cho phận làm em, chiều thứ hai là dưới nhường dành cho phận làmanh Đạo đức anh em của Nho giáo nước ta cho rằng, anh em mà biết trênkính dưới nhường thì mới thật là anh em hòa thuận Trên kính dưới nhường ởđây vừa thể hiện sự quan tâm, chăm sóc, đùm bọc của anh đối với em, vừaphải thể hiện lòng tôn kính, biết ơn của em đối với anh Anh em một nhà nếubiết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, lo lắng cho nhau thì mới có được gia đìnhyên ổn, hạnh phúc Đạo lý anh em trong đạo đức Nho giáo Việt Nam mangtính nhân văn sâu sắc, là cơ sở để xây dựng mối quan hệ anh em hòa mục bềnvững, làm nên giá trị đạo đức tốt đẹp của nền Nho giáo Việt Nam và là mộttrong những chuẩn mực của đạo làm người

Tình bạn trong Nho giáo Vệt Nam cũng có những điểm khác so với đạobằng hữu của Nho giáo Trung Quốc Trong đạo bằng hữu, Nho giáo TrungQuốc lấy chữ "tín", là một trong "ngũ thường" gồm nhân - lễ - nghĩa - trí - tínlàm chuẩn Sách Đại Học của Nho giáo viết rằng: "Dữ quốc nhân gian, chỉ ưtín" Nghĩa là việc kết giao với mọi người trong nước chỉ cần thiết ở một chữtín mà thôi Tuy nhiên, đối với đạo đức Nho giáo Việt Nam, trong mối giaokết bạn bè thì cần nhất vẫn là "tâm thành" Điều đó có nghĩa là, với đạo đứcNho giáo nước ta khi nói về mối quan hệ bạn bè thì đặt sự chân thành đồngcảm với nhau lên trên hết Có như vậy tình cảm bạn bè mới bền chặt, bạn bèmới trở thành chỗ dựa tin cậy cho nhau những lúc khó khăn được Đạo đức

Trang 29

Nho giáo nước ta vẫn coi trọng chữ tín trong mối quan hệ bạn bè, nhưng đặt

sự chân thành làm cơ sở Đó là một nét đặc sắc của Nho giáo Việt Nam khibàn đến mối quan hệ bạn bè trong đạo đức của mình

Nho giáo Trung Quốc vốn trọng nam khinh nữ Nếu như đàn ông làngười "tề gia trị quốc, bình thiên hạ" với những vai trò to lớn như vậy thìngười phụ nữ trong Nho giáo Trung Quốc lại đứng ở địa vị thấp hèn của xãhội Khổng Tử coi đàn bà cũng ở hạng tiểu nhân Đổng Trọng Thư xếp đàn bàvào hạng ngu si và cần phải dạy bảo Chính vì vậy mà Nho giáo đã đề ranhững nguyên tắc bắc buộc người phụ nữ phải làm Đó là "tam tòng" với tạigia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử Tuy nhiên, đạo đức Nho giáoViệt Nam ta không hoàn toàn như vậy Vai trò của người phụ nữ trong đạođức Nho giáo Việt Nam không chỉ là nghe theo lời chồng, làm những gì cóthể cho nhà chồng mà Nho giáo Việt Nam cũng đề cao vai trò của người phụ

nữ khi coi người phụ nữ cũng là người chủ của gia đình Chính vì vậy đạo đứcNho giáo Việt Nam đòi hỏi người phụ nữ phải biết quản lý tốt công cuộc giađình, giữ trọng trách nuôi dạy các con khôn lớn, nên người và đóng vai tròtích cực trong việc giúp đỡ chồng về công việc xã hội Rất nhiều nhà Nhonước ta đã từng ca ngợi vai trò, công lao của những người phụ nữ anh hùngnhư Hai Bà Trưng, Bà Triệu Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm "Thư gửi bàTrưng Trắc" để giãi bày tấm lòng yêu nước trước cảnh nước mất nhà tan vàkêu gọi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc ở mỗi người dân Việt Nam

Tóm lại, mặc dù tiếp thu và ít nhiều ảnh hưởng những tư tưởng đạo đứccủa Nho giáo Trung Quốc, nhưng đạo đức Nho giáo Việt Nam ta không hoàntoàn khô cứng, bảo thủ như thế Các nhà Nho chân chính của đất nước ta, quabao thế hệ đã vận dụng đạo đức Nho giáo Trung Quốc vào việc xây dựng nềnđạo đức cho dân tộc một cách xuất sắc Đó chắc lọc từng cái tốt đẹp, tinh túytrong Nho giáo Trung Quốc, cải tiến những cái bảo thủ, bất hợp lý, phát triểnnhững giá trị đạo đức tốt đẹp lên đến đỉnh cao Chính những điều đó đã tạonên một nền đạo đức Nho giáo Việt Nam mang đậm đà bản sắc dân tộc, vừaphù hợp với những giá trị đạo đức truyền thống, lại vừa phù hợp với lối sốngcủa người Việt Nam Đó chính là những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp mà Nhogiáo Việt Nam xây dựng, trở thành thước đo cho đạọ đức con người Việt Nam

ta qua hàng thế kỷ với bao thế hệ mà vẫn lưu lại những giá trị tốt đẹp cho đếntận ngày nay

Trang 31

CHƯƠNG 2

ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN VÀ VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC

THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Đạo đức thanh niên và vai trò của việc xây dựng đạo đức thanh niên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.

2.1.1 Thanh niên và đạo đức thanh niên

Trong lịch sử nước nhà, dù trong bất kỳ thời gian nào, hoàn cảnh nào,thanh niên luôn là rường cột, là chủ nhân tương lại của đất nước, là lực lượngxung kích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Với thời đại ngày nay, thanhniên là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xãhội Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, pháthuy nhân tố và nguồn lực con người Chính bởi tầm quan trọng của thanh niênnhư vậy mà việc chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là độnglực bảo đảm cho sự phát triển ổn định và bền vững của đất nước Tâng lớpthanh niên là những con người trẻ, khỏe, có tài năng, có khát vọng sống, làmviệc và cống hiến Thanh niên có thể làm được những việc to tát, lớn lao bằngchính tài năng và nghị lực của mình Hồ Chí Minh đã tặng thanh niên bốn câuthơ:

Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên.

Đó chính là sự khẳng định một cách chắc chắn vai trò to lớn của thanhniên và đánh giá cao những gì mà thanh niên có thể làm được

Truyền thống dân tộc Việt Nam ta từ ngàn xưa đến nay vẫn xem đạođức là cái gốc của con người Gốc có vững thì cành lá mới tốt tươi Con người

có đạo đức thì mới có thể học tập, lao động và cống hiến cho đất nước, cho xãhội Với tầng lớp thanh niên, điều đó luôn luôn đúng và là lý tưởng mà mỗi

Trang 32

thanh niên phải hiểu rõ, phải thấm nhuần để từ đó học tập và làm theo Thực

tế cho ta thấy rằng, những thanh niên có nhiều cống hiến cho nước nhà, đemlại rạng rỡ, vinh quang cho tổ quốc luôn là những con người có phẩm chấtđạo đức tốt đẹp, có lý tưởng sống đúng đắn và lối sống lành mạnh, văn minh.Những giá trị đạo đức luôn gắn với mỗi thanh niên, là thước đo phẩm chấtcho họ trong cuộc sống xã hội cũng như trong cuộc sống đời thường Mốiquan hệ, sự cần thiết có giữa thanh niên và đạo đức thanh niên là ở chỗ đó

Đạo đức thanh niên ở mỗi thời kỳ lịch sử đều có đôi nét khác nhau.Nếu ở xã hội phong kiến, khi đất nước ta vừa xây dựng đất nước, vừa ra sứcchống lại sự xâm lược của giặc phương Bắc thì tiêu chí giết giặc cứu nước làtiêu chí đầu tiên cho mỗi người thanh niên Chính vì vậy, mà lịch sử nước tamới có tấm gương anh hùng của Trần Quốc Toản Vào lúc đất nước đang lâmnguy với sự xâm lược của giặc Nguyên - Mông, Trần Quốc Toản đã tập hợpđược 600 nghìn nghĩa sĩ, rèn luyện võ nghệ và ra trận giết giặc Với lá cờ thêusáu chữ vàng "Phá cường địch, báo hoàng ân", Trần Quốc Toản đã tích cựcgóp công của mình vào công cuộc giết giặc cứu nước, giành lại chủ quyềncho nước nhà Dù đã hy sinh nhưng phẩm chất anh hùng và lý tưởng yêunước của Trần Quốc Toản vẫn sống mãi trong lòng bao thế hệ trẻ Việt Nam

Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta, thanh niên luôn

là lực lượng xung kích, tiên phong đánh giặc cứu nước Đây chính là thời đạithể hiện rực rỡ những cống hiến to lớn của thanh niên trong công cuộc đánhgiặc cứu nước, đem lại độc lập tự do, hạnh phúc cho tổ quốc, bình yên chonhân dân Lịch sử dân tộc luôn giành những trang sử vẻ vang nhất để ghi côngnhững con người xả thân vì nước, hi sinh vì lý tưởng cao đẹp Với lý tưởng:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai

Hay:

Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh

Bao thanh niên ưu tú của đất nước Việt Nam như Nguyễn Văn Thạc,Đặng Thùy Trâm hay xa hơn nữa là Võ Thị Sáu, Lý Tự Trọng, Nguyễn VănTrỗi đã lần lượt ngã xuống cho đất nước được độc lập, cho tổ quốc được táisinh Lý tưởng đạo đức thanh niên Việt Nam thời kỳ này thấm đượm chủnghĩa yêu nước, lòng tự hào với truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha

Ngày đăng: 31/12/2013, 10:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1994), Từ điển Hán Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
2. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1999), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
3. Doãn Chính (2002), Đại cương triết học Trung Quốc, Nhà xuất bản Thanh niên Khác
4. Doãn Chính (1999), Tuyển tập triết học Trung Quốc cổ đại, Nhà xuất bản Trẻ Khác
5. Quang Đạm (1994), Nho giáo xưa và nay, Nhà xuất bản văn học, Hà Nội Khác
6. Trần Văn Giàu (1990), Các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội Khác
7. Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển xã hội – kinh tế, Nhà xuất bản văn hóa xã hội, Hà Nội Khác
8. Trần Trọng Kim (2009), Nho giáo, Nhà xuất bản văn hóa thông tin Khác
9. Dương Xuân Ngọc (2001), Lịch sử tư tưởng chính trị, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Khác
10. Trần Nhu (2003), Từ triết học hướng nội đến chủ nghĩa duy vật biện chứng , Nhà xuất bản trẻ Khác
11. Nguyễn Khắc Thuần (2002), Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản giáo dục Khác
12. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Khác
13. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Khác
14. Văn kiện hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành trung ương khóa VIII (1998), Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Khác
15. Hoàng Ngọc Vĩnh. Tập bài giảng lịch sử triết học Phương Đông. Huế, 2000. Violet.vn/hngocvinh54/ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w