1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Trach nhiem boi thuong nha nuoc trong to tung hinh su

105 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 503,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, trước khi hai Bộ luật trênđược ban hành, Nghị quyết 388/NQ/2003/UBTVQH của Ủy ban Thường vụQuốc hội ngày 17/3/2003 đã thực sự tạo ra những tiền đề cơ bản cho sự thayđổi quan đi

Trang 1

Më §ÇU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống của nhândân ngày càng được cải thiện, các quyền của công dân về dân sự cũng được Đảng

và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS), xuthế dân chủ hóa các hoạt động tố tụng ngày càng được củng cố Nghị quyết số08/NQ-TW (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 08) của Bộ Chính trị ngày 2/1/2002

"Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" đã tạo rabước ngoặt mới cho sự nghiệp cải cách tư pháp Tư tưởng chủ đạo của Nghịquyết số 08 về cải cách tư pháp là cải cách nhằm đảm bảo tính dân chủ của hoạtđộng tư pháp, đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân Thể chế hóa tư tưởngcủa Nghị quyết số 08, một loạt các văn bản pháp luật của Nhà nước ra đời,trong đó có những văn bản có giá trị hết sức quan trọng, ảnh hưởng tới toàn

bộ hệ thống tư pháp như Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) ngày 26/11/2003,

Bộ luật tố tụng dân sự ngày 15/6/2004 Đặc biệt, trước khi hai Bộ luật trênđược ban hành, Nghị quyết 388/NQ/2003/UBTVQH của Ủy ban Thường vụQuốc hội ngày 17/3/2003 đã thực sự tạo ra những tiền đề cơ bản cho sự thayđổi quan điểm của các cơ quan tư pháp về vấn đề quyền công dân được bồithường thiệt hại (BTTH) do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng.Thực tiễn triển khai Nghị quyết số 08, BLTTHS và các văn bản liên quan đãđem lại những bước tiến đáng kể trong tiến trình dân chủ hóa hoạt độngTTHS, giảm thiểu các trường hợp oan sai, và lần đầu tiên, những người bị oansai đã được các cơ quan tiến hành tố tụng xin lỗi, bồi thường

Trang 2

Tuy nhiên, cơ chế để công dân được thực hiện quyền BTTH do hành

vi trái pháp luật trong TTHS ở nước ta hiện nay vẫn còn trong giai đoạn vừaxây dựng, vừa hoàn thiện Các quy định của pháp luật được ban hành chưađầy đủ, chưa toàn diện để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến loạiBTTH đặc biệt này Do đó, trên thực tế, công dân vẫn phải phụ thuộc rất lớnvào ý chí chủ quan của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết bồithường Ngược lại, bản thân các cơ quan tiến hành tố tụng cũng gặp rất nhiềukhó khăn từ cơ chế BTTH cho công dân Nhiều vụ việc đòi bồi thường đếnnay chưa có khả năng giải quyết dứt điểm, thậm chí, cả sau khi đã có phánquyết của các cơ quan có thẩm quyền

Các vấn đề mà thực tiễn đặt ra đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu hơn vềmặt lý luận các nội dung đảm bảo BTTH do hành vi trái pháp luật trong TTHS,đặc biệt, phải nghiên cứu vấn đề này với tư cách một nội dung pháp lý của quyềncông dân, từ đó, tạo ra những luận cứ khoa học cho quá trình pháp điển hóacác quy định này, tiến tới việc xây dựng một đạo luật thống nhất điều chỉnh

Như vậy, đảm bảo quyền của công dân được BTTH do hành vi tráipháp luật trong hoạt động TTHS là vấn đề mới, thể hiện những tư tưởng quantrọng của cải cách tư pháp, đòi hỏi phải có sự phân tích, làm rõ sâu hơn vềmặt lý luận Đây cũng là một vấn đề mang tính chất thời sự và cấp bách hiệnnay khi thực tế thực hiện các quy định của pháp luật về BTTH do hành vi tráipháp luật trong hoạt động TTHS còn có những vướng mắc nhất định, gâyphương hại đến lợi ích chính đáng của công dân và uy tín chính trị của hệthống các cơ quan tư pháp

Xuất phát từ những đòi hỏi mang tính chất lý luận và thực tiễn trên,

cùng sự quan tâm nghiên cứu của bản thân, tác giả đã lựa chọn đề tài: "Đảm

Trang 3

bảo quyền của công dân được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay" làm luận văn

Thạc sĩ luật học "Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra" của Nguyễn Hữu Ước năm 2001; các bài nghiên cứu "Bồi thường thiệt hại đối với oan sai trong tố tụng" của TS Dương Thanh Mai và

Nguyễn Hoàng Hạnh trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6, tháng 7/2001;

Chuyên khảo "Bồi thường thiệt hại do bị bắt giữ, xét xử oan sai ở Việt Nam và một số nước trên thế giới" của Viện Nghiên cứu khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp,

năm 2001 Đây là các sản phẩm khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách bao quát

và chi tiết về BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS trong bốicảnh chưa có một văn bản pháp luật độc lập điều chỉnh về vấn đề này Năm

2003, sau sự ra đời của Nghị quyết số 388, các nghiên cứu về "Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra" của Lê Mai

Anh được công bố dưới dạng Luận án Tiến sĩ luật học Đây là công trình nghiêncứu có giá trị khoa học về vấn đề cơ chế giải quyết trách nhiệm BTTH do người

có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra cho công dân Đặc biệt, tớithời điểm năm 2005, sau 2 năm thực hiện Nghị quyết số 388, một loạt các loạtbài viết mang tính chất nghiên cứu, tổng kết, đánh giá thực tiễn được công bố

Trang 4

như: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc Công an nhân dân" của Nguyễn Viết Sách; "Về trách nhiệm của Tòa án đối với việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan" của Hoàng Ngọc Thành; "Qua hai năm thực hiện Nghị quyết 388 trong ngành Kiểm sát nhân dân" của Hoàng Thế Anh… các bài viết này đều

được đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 16, tháng 8/2005 (số chuyên đề về tổng kết

2 năm thực hiện Nghị quyết số 388)…

Tuy nhiên, các công trình khoa học nêu trên mới chỉ đề cập đến vấn đềBTTH do hành vi trái pháp luật giới hạn trong một giai đoạn TTHS hoặctrong một loại cơ quan tư pháp… Mặt khác, tới thời điểm hiện nay, cũng chưa

có một công trình nào nghiên cứu về BTTH do hành vi trái pháp luật tronghoạt động TTHS với tư cách là một quyền của công dân Do vậy, có thể coi

đây là lần đầu tiên đề tài "Đảm bảo quyền của công dân được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay" được nghiên cứu và nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn về quyềncủa công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS, để

từ đó, có những đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyền của côngdân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS nói riêng vàhoạt động tư pháp nói chung

- Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ luật học, đề tài không thể baoquát hết tất cả các giai đoạn, các chủ thể của TTHS Để đảm bảo tính chuyênsâu của luận văn, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở những vấn

đề về đảm bảo quyền của công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật

Trang 5

trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự - những vấn đề mà theoquan điểm của tác giả, là cơ bản và quan trọng hơn cả Những nội dung đượclựa chọn nghiên cứu trong luận văn là những vấn đề tiêu biểu, qua đó làm rõđược về mặt lý luận và khái quát được thực tế việc đảm bảo quyền của côngdân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS hiện nay.

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Luận văn được thực hiện nhằm góp phần đảm bảo quyền của công dânđược BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS hiện nay Để đạtđược mục đích này, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, nội dung quyền của công dân đượcBTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS

- Khảo sát, đánh giá thực trạng pháp luật và thực trạng thực hiện phápluật về quyền của công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạtđộng TTHS, đánh giá nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ xã hộiliên quan đến hoạt động BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS

- Phân tích các quan điểm và phương hướng hoàn thiện pháp luật, phươnghướng giải quyết các vấn đề hữu quan khác trong tiến trình hoàn thiện cơ chếđảm bảo quyền của công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạtđộng TTHS

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn dựa trên các luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, về vấn đề quyền côngdân và quyền con người, các quan điểm, tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt

Trang 6

Nam về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa(XHCN) của dân, do dân, vì dân

- Về phương pháp nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở phương phápluận của Triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các phương phápphân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê…

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên làm rõ cơ sở lý luận đảmbảo quyền của công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt độngTTHS: đưa ra khái niệm, đặc điểm quyền của công dân được BTTH do hành

vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS…

Trên cơ sở đó, luận văn nghiên cứu thực trạng việc đảm bảo quyềncủa công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS ởViệt Nam hiện nay trên cơ sở các số liệu mới nhất, cập nhật nhất hiện nay

Các quan điểm, phương hướng hoàn thiện pháp luật đảm bảo quyềncủa công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHSđược đề xuất Luận văn cũng góp phần luận chứng các quan điểm, các giảipháp trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, cải cách tư pháp được

Bộ Chính trị đề ra tại các Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002, Nghị quyết

số 48/NQ-TW ngày 2/6/2005, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 Đâycũng là những điểm mới của luận văn này

7 Ý nghĩa của luận văn

Như đã phân tích, về mặt lý luận, luận văn sẽ làm sáng tỏ những vấn

đề lý luận về quyền của công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong

Trang 7

hoạt động TTHS: đưa ra và phân tích các khái niệm, quan điểm, các thành tốcấu thành, các điều kiện tác động tới…

Về mặt thực tiễn, luận văn phân tích thực trạng pháp luật và đời sốngthực tế của các quy định pháp luật về BTTH do hành vi trái pháp luật tronghoạt động TTHS, đưa ra phương hướng nhằm hoàn thiện quy định của phápluật và giải quyết các vấn đề hữu quan khác

Như vậy, bên cạnh những ý nghĩa lý luận và thực tiễn mà luận vănđem lại, về mặt học thuật, việc triển khai đề tài góp phần làm phong phú thêmcác kiến thức lý luận - pháp lý về quyền công dân nói chung và quyền củacông dân được được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHSnói riêng, tạo ra những tiền đề cho việc nghiên cứu ở cấp độ cao hơn và phạm

vi rộng hơn trong thời gian tới, và là một tài liệu tham khảo có giá trị đối vớihoạt động học tập, nghiên cứu những vấn đề liên quan

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung luận văn gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÔNG DÂN

ĐƯỢC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT

TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 QUYỀN CÔNG DÂN VÀ QUYỀN CỦA CÔNG DÂN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG THIẾT HẠI DO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1.1 Khái niệm quyền công dân và quyền của công dân được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự

"Quyền" theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, là: "1 Điều mà phápluật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi (quyềncông dân, quyền bầu cử và quyền ứng cử); 2 Những điều do địa vị hay chức

vụ mà được làm (nói tổng quát Có chức có quyền lạm dụng quyền Cầmquyền" [40, tr 815] Tuy nhiên, dù với cách giải thích thứ hai, "quyền" vẫn

là những gì "mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm,được đòi hỏi", là khả năng xử sự nhất định của cá nhân, tổ chức - khả năngnăng được hưởng, được làm, được đòi hỏi từ cộng đồng xung quanh

"Công dân" là khái niệm mang tính xã hội - lịch sử, dù đã manh nhatrong tư tưởng của Aritstốt nhưng phải đến thời điểm ra đời Nhà nước Cộng

hòa Quý tộc chủ nô trong xã hội cổ đại La Mã, khái niệm công dân mới xuất hiện rõ nét Tiếp sau sự xuất hiện khái niệm công dân, khái niệm quyền công dân được đặt ra và nội hàm khái niệm này được từng bước bổ sung, hoàn

thiện, đặc biệt là qua các cuộc Cách mạng Tư sản và sự xuất hiện các Nhà

Trang 9

nước Tư sản ở châu Âu thế kỷ XVII, XVIII, sau các cuộc Cách mạng Vô sản

và sự xuất hiện Nhà nước XHCN thế kỷ XX Trên bình diện thế giới, khái

niệm quyền công dân được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, với nhiều cách hiểu khác nhau, song về cơ bản, quyền công dân được hiểu là những quyền của những con người - công dân, được hiến pháp và pháp luật của một quốc

gia nhất định ghi nhận và bảo vệ

"Công dân" theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, là "người dân,trong mối quan hệ về mặt quyền lợi và nghĩa vụ với Nhà nước" [40, tr.207].Khi con người được coi là công dân, quyền công dân chính là quyền conngười trong một xã hội cụ thể, trong một chế độ xã hội - chính trị cụ thể Điều

này chỉ ra tính khác biệt của quyền công dân so với quyền con người - một khái niệm thường bị hiểu đồng nhất với khái niệm quyền công dân Quyền

con người không chỉ là quyền mang tính chất xã hội của con người - thànhviên trong xã hội, mà còn bao gồm những quyền thể hiện tính chất tự nhiên,

cá nhân, gắn với thuộc tính tự nhiên của con người: quyền ăn, quyền ở, quyềnsống, quyền tự vệ , những quyền này mang tính tự thân, vốn có của conngười mà không cần phải được pháp luật của một nhà nước nào ghi nhận,

điều chỉnh Khái niệm quyền con người rộng hơn khái niệm quyền công dân Nói tới quyền con người là nói tới các quyền của cá nhân mỗi con người

không phân biệt các đặc tính tự nhiên: chủng tộc, màu da, lứa tuổi, giới tính…hay các đặc tính xã hội của con người: trình độ văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng,

chế độ chính trị… Quyền công dân được hiểu là quyền con người giới hạn

trong phạm vi các đặc tính xã hội của con người và trong phạm vi một quốcgia, một chế độ chính trị trong đó con người tồn tại

Trang 10

Trải qua thời gian, các nội dung của quyền công dân luôn được thayđổi và bổ sung cùng với sự phát triển của xã hội, của khoa học pháp lý Ở cácmức độ khác nhau, những năm 50 của thế kỷ XX, quyền công dân được tiếpcận ở góc độ quyền bình đẳng với tư cách là nền tảng của tự do, công lý vàhòa bình trên thế giới - với sự ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về nhânquyền và sự thể hiện tuyên ngôn này trong pháp luật quốc gia Những năm 70,

80 của thế kỷ XX, quyền công dân được ghi nhận trong pháp luật quốc giavới tư cách là sự thể hiện các nội dung vàa quyền con người về quyền dân sự

và chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa theo các Công ước về quyền dân sự vàchính trị, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, 1976.Tới thời điểm hiện nay, tùy theo mỗi quốc gia, mỗi chế độ chính trị khác nhau

mà hệ thống các quyền công dân được thể hiện ở những mức độ khác nhau.Tuy nhiên, quyền công dân được hiểu thống nhất bao gồm các nhóm quyềnlớn: nhóm quyền tự do dân chủ về chính trị (tham gia quản lý nhà nước và xãhội, quyền bầu ứng, ứng cử, quyền tự do báo chí, lập hội, biểu tình…), nhómquyền dân sự (quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo

hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền được bảo vệ, bồi thườngkhỏi những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm của bản thân…), nhóm quyền về kinh tế - xã hội (quyền tự dokinh doanh, sở hữu tài sản, quyền lao động, học tập, phát minh, sáng chế ) Dùvậy, sự phân định giữa các nhóm quyền này chỉ mang tính chất tương đối Cóthể có quyền thuộc nhóm quyền dân sự nhưng lại là tiền đề hoặc hệ quả củaquyền thuộc nhóm quyền kinh tế - xã hội và ngược lại

Trong nhóm các quyền dân sự, có một loại quyền đặc biệt, tương ứngvới quyền này là nghĩa vụ bồi thường của một chủ thể đặc biệt - Nhà nước, đó là

Trang 11

quyền của công dân được Nhà nước BTTH do hành vi trái pháp luật của Nhànước Hành vi trái pháp luật của Nhà nước có thể diễn ra trên các lĩnh vực hoạtđộng của bộ máy nhà nước xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân Lĩnh vực tư pháp mà đặc biệt là tư pháp hình sự có khả năng gây thiệt hạinghiêm trọng ở mức độ đáng kể tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặcbiệt là các quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhânphẩm Đây là lĩnh vực giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân khicông dân bị cho là thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách có lỗi, tráipháp luật, với các hoạt động chứng minh, xét xử và cưỡng chế công dân thựchiện loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất: trách nhiệm hình sự

Hoạt động TTHS được quan niệm là hoạt động của các cơ quan tiếnhành tố tụng trong vụ án hình sự với hoạt động cụ thể của những người tiếnhành tố tụng Cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự là các cơ quannhà nước chuyên trách thực hiện việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự,bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Đây là các cơ quan có vaitrò chủ đạo trong việc giải quyết các vụ án hình sự Người tiến hành tố tụng lànhững công chức trong cơ quan tiến hành tố tụng, được bổ nhiệm vào cácchức danh tố tụng, có thẩm quyền thực hiện những hoạt động tố tụng nhấtđịnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó nhằm góp phần giảiquyết vụ án hình sự Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, hoạt động TTHS cònbao gồm hoạt động của các cơ quan, tổ chức, luật sư và những người tham gia

tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Tuy nhiên, ý kiến nàykhông mang tính chất phổ biến và những hành vi trái pháp luật của các chủthể này trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cũng không thuộc phạm vinghiên cứu của luận văn

Trang 12

Oan sai nếu xảy ra trong TTHS sẽ dẫn đến khả năng công dân phảichịu trách nhiệm hình sự mà đáng lẽ, họ không phải chịu bất kỳ loại tráchnhiệm pháp lý nào hoặc chỉ phải chịu một loại trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn.Nói cách khác, hành vi trái pháp luật của Nhà nước trong TTHS có nguy cơxâm hại nghiêm trọng đến các quyền dân sự của công dân Thậm chí, có ýkiến cho rằng, lĩnh vực TTHS tiềm ẩn những nguy cơ gây thiệt hại cho côngdân cao nhất và khả năng Nhà nước phải bồi thường cho công dân nhiều nhất.

Từ góc độ khoa học pháp lý, với cách đặt vấn đề như trên, có thể hiểukhái quát về quyền của công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật tronghoạt động TTHS là một nội dung của quyền công dân, thuộc nhóm quyền dân

sự, phát sinh giữa Nhà nước và công dân, trên cơ sở thiệt hại do hành vi trái

pháp luật trong hoạt động TTHS gây ra Như vậy, Quyền của công dân được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự

là một loại quyền công dân trong nhóm quyền dân sự, theo đó, công dân được Nhà nước bồi thường do đã thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thiệt hại cho công dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

1.1.2 Các đặc điểm của quyền công dân được bồi thường thiệt hại

do hành vi trái pháp luật của Nhà nước trong tố tụng hình sự

1.1.2.1 Quyền được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong tố tụng hình sự là một quyền thuộc nhóm quyền dân sự

Các quyền dân sự đáp ứng nhu cầu của mỗi cá nhân được tự

do, dân chủ, bình đẳng với mọi người, được thoát khỏi mọi ràngbuộc, cấm đoán vô lý từ mọi phía để vươn lên làm chủ bản thân

Trang 13

mình, cuộc đời mình Đó là chủ quyền thiêng liêng của mỗi người,không ai có thể xâm phạm được [17, tr 29].

Nhóm các quyền về dân sự là các quyền liên quan đến cuộc sống dân

sự hàng ngày của công dân, các quyền tự do cá nhân như quyền sống, quyềnbất khả xâm phạm về thân thể, quyền ăn ở, đi lại, giao thông liên lạc, tham giacác giao dịch dân sự, quyền được đền bù do các hành vi trái pháp luật tronghợp đồng và ngoài hợp đồng Quyền công dân được BTTH do hành vi tráipháp luật trong TTHS là một nội dung của mối quan hệ BTTH ngoài hợpđồng, vì cơ sở phát sinh nghĩa vụ của Nhà nước và quyền của công dân trongtrường hợp này là hành vi trái pháp luật của Nhà nước trong TTHS mà khôngphải do vi phạm thỏa thuận, điều khoản của bất kỳ một hợp đồng nào đượcthiết lập trước đó giữa Nhà nước và công dân Công ước quyền con người vềdân sự - chính trị tháng 12 năm 1966 khẳng định: công dân có quyền đượcBTTH khi các quyền về con người và quyền tự do thân thể của họ bị côngchức nhà nước vi phạm một cách trái pháp luật trong khi thi hành nhiệm vụ.Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước BTTH và Nhà nước có tráchnhiệm bồi thường

Mặt khác, khi phân loại quyền công dân được BTTH do hành vi tráipháp luật trong hoạt động TTHS là một quyền thuộc nhóm quyền công dân vềdân sự - điều này không có nghĩa chỉ giới hạn trong phạm vi nhóm quyền dân

sự một cách tuyệt đối Bởi vì, như đã từng đề cập, sự phân chia quyền côngdân thành những nhóm quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa chỉ cótính chất tương đối, giữa những quyền trong một nhóm quyền này có sự liên

hệ và đan xen lẫn với những quyền trong một nhóm quyền khác Cụ thể,quyền công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS

Trang 14

bao gồm các quyền được công khai xin lỗi, được bồi thường các thiệt hại vềvật chất, được dỡ bỏ các hạn chế về đi lại, được khôi phục một số quyền côngdân trước đó đã bị tước bỏ, do đó, quyền được BTTH ở đây trước hết là quyềnđược khôi phục một cách toàn diện các quyền về dân sự, các quyền về dân sựsau khi được khôi phục sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện các quyền và khôiphục các lợi ích khác về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…

1.1.2.2 Quyền của công dân được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân

Quyền công dân được BTTH chỉ phát sinh khi giữa Nhà nước và côngdân tồn tại một quan hệ "bình đẳng" ở mức độ nhất định Nói cách khác, xã hộiphải đạt tới một trình độ dân chủ nhất định, trong đó người dân được đặt vào

vị trí bình đẳng tương đối với Nhà nước Đây vừa là điều kiện vừa là đặcđiểm của quyền công dân được BTTH

Quyền công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt độngTTHS không thể tách rời khỏi chủ thể đảm bảo cho quyền này được thực hiện

Sẽ là vô nghĩa nếu nói tới quyền công dân nói chung và quyền của dân đượcBTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS nói riêng nếu khôngxác định được ai là người có trách nhiệm thực hiện việc bồi thường cho côngdân Do đó, việc xác định tư cách bồi thường và đảm bảo tư cách bồi thường

Trang 15

Khi công chức nhà nước xâm phạm quyền lợi hợp pháp của công dân thì đóchỉ là hành vi mang tính cá nhân, Nhà nước không phải bồi thường Công chứcnhà nước nào gây thiệt hại cho đương sự thì phải tự chịu trách nhiệm bồithường Trên thực tế, việc bồi thường theo quan điểm này gặp phải khá nhiềukhó khăn, vì công chức nhà nước có nguồn sống chủ yếu dựa vào lương từngân sách nhà nước, thường không đủ để bồi thường những tổn hại đã gây racho công dân Ngoài ra, nếu công chức phải chịu trách nhiệm bồi thường thìtính tích cực và chủ động sẽ giảm đi khi thi hành công vụ, đặc biệt là khi tiếnhành các hoạt động tố tụng, sẽ không quyết đoán đưa ra các quyết định và hành

vi tố tụng cần thiết Tâm lý e ngại phải tự chịu trách nhiệm bồi thường, sẽkhông được tái bổ nhiệm, … là không thể tránh khỏi

Vì vậy, nhằm đạt tới một giải pháp mang tính tích cực hơn, cuối thế kỷXIX và đầu thế kỷ XX, một số quốc gia đã xác định tư cách chủ thể của tráchnhiệm bồi thường trên cơ sở nguyên tắc "chuyển giao lao động tạm thời" Theo

đó, một khi công chức thực thi nhiệm vụ mà có hành vi vi phạm gây thiệt hạicho công dân thì trước hết Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường cho người

bị hại, còn việc xử lý công chức (người lao động) có hành vi vi phạm và tráchnhiệm của người công chức đó tới đâu là thuộc quyền của cơ quan nhà nước(người trực tiếp quản lý và sử dụng lao động) đối với công chức đã gây thiệthại do hành vi sai trái của họ gây ra trong khi thi hành công vụ Tuy nhiên, điểmhạn chế của nguyên tắc này ở chỗ: trong quá trình lao động thì trách nhiệm củangười chủ sử dụng lao động chỉ dừng lại trong phạm vi những việc làm mà chínhmình đã ủy quyền hoặc phê duyệt mà không có nghĩa là với mọi hành vi saiphạm của người lao động Nếu người lao động lợi dụng danh nghĩa công tác củamình để thực hiện những hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho công dân ngoài

Trang 16

phạm vi được thuê, được ủy quyền thì người sử dụng lao động không có tráchnhiệm bồi thường và quyền của công dân được BTTH không được bảo đảm.

Do đó, tư cách chủ thể bồi thường một lần nữa cần được xem xét lại.Đến những thập kỷ gần đây, nguyên tắc "trách nhiệm đại diện" được đề cậpđến và được xem như chìa khóa giải quyết vấn đề chủ thể bồi thường, khẳngđịnh tư cách bồi thường của Nhà nước và trách nhiệm bồi thường của Nhànước, đảm bảo triệt để nhất quyền của công dân được BTTH do hành vi tráipháp luật trong hoạt động TTHS Theo nguyên tắc này, một khi người côngchức có vi phạm gây thiệt hại cho công dân thì trước hết Nhà nước phải cótrách nhiệm bồi thường cho người bị hại còn việc xử lý công chức có vi phạm

và trách nhiệm của công chức đó tới đâu là việc riêng của cơ quan nhà nước.Sau đó, Nhà nước thu lại khoản bồi hoàn từ công chức Bất luận là hành vi viphạm pháp luật đó của công chức do lỗi vô ý hay cố ý, mọi tổn hại trước tiênđều do Nhà nước bồi thường, sau đó căn cứ vào lỗi của cá nhân công chức màđưa ra mức bồi hoàn tương ứng và thích hợp Nguyên tắc "trách nhiệm đạidiện" khắc phục được những hạn chế của nguyên tắc "miễn trừ quốc gia",nguyên tắc "chuyển giao lao động tạm thời", kinh phí BTTH từ nguồn ngânsách nhà nước được thực hiện một cách nhanh chóng và thuận lợi hơn khiviệc bồi thường lấy từ tiền lương của công chức Xác định rõ tư cách bồithường, phân định rõ trách nhiệm của Nhà nước và trách nhiệm của công chứcnhà nước, quyền của công dân được BTTH trong TTHS mới được đảm bảo

1.1.2.3 Quyền của công dân được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự dựa trên cơ sở pháp lý về trách nhiệm dân sự của cơ quan nhà nước

Trang 17

Quyền của công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạtđộng TTHS dựa trên cơ sở pháp lý về trách nhiệm dân sự của cơ quan nhànước, cụ thể hơn là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Cơ sở pháp lý củatrách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là sự kết hợp của các yếu tố: hành vi tráipháp luật trong TTHS được thực hiện một cách có lỗi, thiệt hại gây ra đối vớicông dân và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hạigây ra cho công dân.

Hành vi trái pháp luật là các vi phạm quy định pháp luật Như vậy, từgóc độ pháp lý, việc đánh giá một hành vi là đúng pháp luật hay trái pháp luậtphải dựa trên tiêu chí quy định của pháp luật, dựa trên chuẩn mực pháp luật.Hành vi trái pháp luật là xử sự của một chủ thể không đáp ứng được các yêucầu của pháp luật, thể hiện qua việc thực hiện hoặc không thực hiện các hành

vi nhất định mà theo quy định của pháp luật không được thực hiện hoặc phảiđược thực hiện Theo Điều 604 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 về căn cứphát sinh trách nhiệm BTTH thì đây là những hành vi "xâm phạm tính mạng,sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của

cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác".Trong TTHS, hành vi trái pháp luật thể hiện là những hành vi thực hiện việctruy cứu trách nhiệm hình sự (như khởi tố bị can, truy tố, ra bản án, tuyênhình phạt, áp dụng các biện pháp ngăn chặn) đối với những công dân mà bảnthân họ không phạm tội, hành vi của họ không cấu thành tội phạm, chưa đếntuổi chịu trách nhiệm hình sự, không có năng lực trách nhiệm hình sự, đã hếtthời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân hành vi phạm tội đã được xử

lý bằng một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước đó…

Trang 18

Như vậy, trong lĩnh vực TTHS, hành vi trái pháp luật trước hết là viphạm các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng trực tiếp liên quan đến quyền

và lợi ích chính đáng của công dân Hành vi trái pháp luật có thể là một hành

vi độc lập, mang tính độc đoán cá nhân của người tiến hành tố tụng (ví dụ: bắt,giam người không có căn cứ vì động cơ cá nhân của người có thẩm quyền)hoặc là sản phẩm của các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tắc trách, khôngthu thập đầy đủ chứng cứ, bỏ sót các chứng cứ quan trọng để chứng minhcông dân có tội hay không có tội, do vậy, dẫn đến việc khởi tố bị can không

có căn cứ, ra cáo trạng, bản án đối với người không thực hiện hành vi phạmtội… Trên thực tế, biểu hiện ra bên ngoài của các hành vi trái pháp luật gâythiệt hại cho công dân là những trường hợp: công dân bị khởi tố, tạm giam,tạm giữ nhưng sau đó cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định đình chỉ điềutra vụ án, trả tự do vì đã hết thời hạn tạm giữ, tạm giam mà không chứngminh được người đó đã thực hiện tội phạm hoặc người đó chưa đủ tuổi chịutrách nhiệm hình sự hoặc chứng minh được hành vi của người đó không cấuthành tội phạm mà chỉ bị xử lý hành chính hoặc dân sự; công dân bị áp dụngcác biện pháp ngăn chặn, khám xét, thu giữ, tạm giữ, tạm giam, kê biên tàisản không có căn cứ dẫn đến thiệt hại về vật chất và tinh thần; công dân đã bịtruy tố ra trước Tòa để xét xử nhưng Tòa án tuyên bị cáo không có tội hoặcbản án kết tội của Tòa án cấp dưới bị Tòa án cấp trên hủy, tuyên bố bị cáokhông có tội…

Khi nói tới các hành vi trái pháp luật trong TTHS và hậu quả của hành

vi trái pháp luật này, không thể không đề cập đến khái niệm "oan" và "sai" đây là những khái niệm có liên quan mật thiết Các hành vi trái pháp luật bảnchất là các hành vi thực hiện "sai" quy định của pháp luật, và do thực hiện "sai",

Trang 19

-có thể dẫn tới hậu quả "oan" cho công dân Tuy nhiên, như thế nào là "oan",như thế nào là "sai" hiện còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất Theo Từ điểntiếng Việt thì "oan" có nghĩa là "một người nào đó bị quy cho tội mà họ khôngphạm, phải chịu trừng phạt mà bản thân họ không đáng phải chịu" [40, tr 749]

và "sai" có nghĩa là "một hành vi nào đó không phù hợp với phép tắc, với nhữngđiều qui định" [40, tr 844] Như vậy, khái niệm "sai" có ý nghĩa rất rộng,bao trùm lên cả khái niệm oan Khái niệm "oan" có ý nghĩa hẹp hơn kháiniệm "sai" Ví dụ: công dân A hoàn toàn không liên quan đến vụ án nhưngvẫn bị Viện kiểm sát truy tố bằng một bản cáo trạng và áp dụng biện phápngăn chặn tạm giam Công dân A đã bị truy tố "oan", hạn chế quyền tự do đilại "oan" do cơ quan tiến hành tố tụng đã làm sai

Với ví dụ trên, có thể nhận thấy, "oan" có nghĩa là một công dân nào

đó hoàn toàn không thực hiện bất kỳ hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạmpháp luật nào có liên quan tới vụ án, nhưng đã bị khởi tố, truy tố, xét xử, thihành án, áp dụng các biện pháp ngăn chặn Còn khái niệm "sai" trong TTHS

có nghĩa là một người nào đó đã thực hiện hành vi phạm tội và hành vi phạmtội đó đúng ra phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này, nhưng lại

bị khởi tố, truy tố, xét xử về một tội danh khác hoặc bị áp dụng hình phạtnặng hơn hình phạt lý ra họ phải gánh chịu, hoặc trong quá trình điều tra, truy

tố, xét xử, thi hành án các cơ quan chức năng đã có hành vi vi phạm pháp luậtdẫn đến việc họ phải gánh chịu những thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần Mộtđặc điểm cơ bản để phân biệt khái niệm "oan" với khái niệm "sai" là khi nóitới một người bị oan, có nghĩa là họ hoàn toàn không thực hiện hành vi viphạm pháp luật

Trang 20

Pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quan niệm về oan, sai mộtcách rất chung chung và được hiểu là do các cơ quan tiến hành tố tụng đãnhận định sai sự thật; áp dụng sai pháp luật; vi phạm trình tự, thủ tục tố tụng

mà pháp luật quy định Điều 15 Luật về Nhà nước Cộng hòa nhân dân TrungHoa bồi thường thiệt hại quy định: các cơ quan có chức năng điều tra, truy tố,xét xử, quản lý trại giam và cán bộ của những cơ quan này khi thực thi nhiệm

vụ mà xâm phạm quyền nhân thân, thuộc một trong các trường hợp sau thìngười bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại:

1 Bắt, giữ sai đối với những người bị tình nghi phạm tội nhưng chưa

có dấu hiệu thực tế hoặc chưa có những chứng cứ thực tế chứng tỏ rằng họ đãthực hiện hành vi phạm tội;

2 Tạm giam sai đối với những người chưa thực sự phạm tội;

3 Xét xử lại theo trình tự luật định là vô tội (xét xử theo trình tự phúcthẩm, giám đốc hoặc tái thẩm), nhưng đã chấp hành hình phạt đã tuyên;

4 Có các hành vi bức cung, nhục hình hoặc sai người khác dùng cáchành vi đánh đập dẫn đến công dân bị thương hoặc tử vong;

5 Sử dụng vũ khí, dụng cụ trái pháp luật dẫn đến công dân bị thươnghoặc tử vong [39, tr 155]

Pháp luật Cộng hòa Liên bang Nga cũng chưa có quy định về kháiniệm oan, sai trong trong hoạt động TTHS Tuy nhiên, qua các quy định củaBLTTHS Cộng hòa Liên bang Nga có thể hiểu những hành vi có thể dẫn đếnoan, sai là: người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự một người mà

rõ ràng là người đó không có tội; kiểm sát viên hay người tiến hành điều tra

sơ bộ đình chỉ việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị tình nghi

Trang 21

phạm tội hoặc người đã bị khởi tố về một tội nào đó; hành vi giữ người tráipháp luật; người tiến hành điều tra sơ bộ ép buộc người bị tình nghi, bị can,người bị hại, người làm chứng đưa ra lời khai không đúng sự thật hoặc ngườigiám định đưa ra kết luận giám định sai; những hành vi vi phạm pháp luật gâythiệt hại đối với tài sản bị kê biên, tạm giữ…

Pháp luật Cộng hòa Pháp cũng không phân biệt rõ ràng các trườnghợp oan, sai trong hoạt động TTHS Luật chỉ qui định rằng những người cóquyền yêu cầu BTTH là những người được tuyên vô tội

Luật của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - quốc gia theo nguyên tắc "miễn trừ quốc gia" về việc BTTH do oan, sai trong hoạt động TTHS và theo truyền

thống luật án lệ, Hoa Kỳ cũng không có quy định pháp luật phân biệt giữa oan

và sai mà Tòa án chỉ căn cứ vào những tình tiết cụ thể để giải quyết vấn đềbồi thường

Luật của Nhật Bản cũng không thể đưa ra khái niệm "oan" và "sai" màchỉ quy định những điều kiện để được BTTH

Như vậy, pháp luật của các nước nêu trên đã không thể hiện khái niệmnày và cũng không qui định một cách rạch ròi trường hợp nào là oan, trường hợpnào là sai trong hoạt động TTHS Luật chỉ qui định một cách rất chung chung vàchủ yếu đề cập tới đối tượng nào và trong điều kiện nào thì được yêu cầu BTTH

Hành vi trái pháp luật được thực hiện một cách có lỗi, bị coi là có lỗi nếulựa chọn và thực hiện một xử sự không phù hợp với quy định của pháp luật khi

có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khácphù hợp với quy định của pháp luật Lỗi có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý Lỗi vớitính chất là trạng thái tâm lý của cá nhân Tuy nhiên, trong mối quan hệ bồi

Trang 22

thường giữa Nhà nước với công dân, thì lỗi phải coi là lỗi của Nhà nước chứkhông phải là lỗi của cá nhân người có thẩm quyền trong TTHS Bởi vì, cá nhânnày gây thiệt hại ở tư cách là người có thẩm quyền trong hoạt động TTHS, đượctrao quyền lực nhà nước, là đại diện của Nhà nước Cách xác định này để đảmbảo sự triệt để trong việc thực thi trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân.Nhà nước sẽ không bao giờ phải chịu trách nhiệm về bất cứ điều gì với xã hội và

cá nhân công dân, sẽ "bỏ rơi" xã hội và cá nhân công dân nếu lập luận người gâythiệt hại cho công dân là cá nhân Thủ trưởng Cơ quan điều tra chứ không phảiNhà nước và công dân phải đòi Thủ trưởng Cơ quan điều tra bồi thường màkhông phải Nhà nước bồi thường Công dân sẽ không thể được bảo vệ nếu người

có thẩm quyền tiến hành tố tụng nại ra rằng hành vi tố tụng trái pháp luật là việcthực hiện mệnh lệnh hành chính của cấp trên, là đồng trách nhiệm do hỗn hợp lỗigiữa thủ trưởng và nhân viên, giữa cơ quan tham mưu và người trực tiếp thựchiện… Và do vậy, lỗi của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện hành vi tráipháp luật trong TTHS phải được coi là lỗi suy đoán, nghĩa là khi xác định hành

vi trái pháp luật, tức là hành vi đó đã được thực hiện một cách có lỗi

Những trường hợp Nhà nước không chịu trách nhiệm BTTH là khikhông có lỗi của Nhà nước, ví dụ: những người bị bắt giam do hành vi phạmtội nhưng sau đó được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc miễn chấphành hình phạt Một trường hợp khác, không phải bồi thường cho công dânkhi tồn tại hỗn hợp lỗi của cả Nhà nước và công dân khi công dân cố ý khaisai sự thật hoặc tạo chứng cứ giả nhằm mục đích gây khó khăn, đánh lạc hướngđiều tra, truy tố, xét xử để bị truy cứu trách nhiệm hình sự, giam giữ oan, sai

Việc xác định chủ thể của lỗi trong hoạt động TTHS chỉ được đặt rakhi cần giải quyết vấn đề bồi hoàn, làm rõ trách nhiệm bồi hoàn của cá nhân

Trang 23

có thẩm quyền với Nhà nước (trong quan hệ "đóng cửa bảo nhau" giữa cơquan nhà nước và công chức của cơ quan đó) mà không được phép đặt ratrong việc giải quyết bồi thường giữa Nhà nước và công dân

Hành vi trái pháp luật, được thực hiện một cách có lỗi phải gây ra nhữnghậu quả nhất định Nói cách khác, phải gây ra những thiệt hại thực tế Các thiệthại này bao gồm những tổn thất về tinh thần (danh dự, nhân phẩm, uy tín bị ảnhhưởng), các tổn hại về tính mạng, sức khỏe (bị chết, bị suy giảm sức khỏe do bịgiam, giữ, chấp hành hình phạt…), các quyền tự do thân thể; các tổn hại về tài sản(tài sản bị tịch thu, bị buộc phải trả cho người khác một cách không có căn cứ )

Các hành vi trái pháp luật trong TTHS có thể gây ra một hoặc nhiềuthiệt hại khác nhau, giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả phải có mối quan

hệ lôgíc, hành vi là nguyên nhân tất yếu gây ra hậu quả, phải xảy ra trước hậuquả Tuy nhiên, từ đặc thù của hoạt động TTHS, có thể nhận thấy hành vi tráipháp luật gây ra hậu quả cho công dân lại là hậu quả của một hành vi tráipháp luật khác hoặc hậu quả gây thiệt hại cho công dân là kết quả của nhiềuhành vi trái pháp luật khác nhau Trong mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra vàViện kiểm sát, hầu hết các vấn đề tố tụng quan trọng đều do Cơ quan điều traquyết định với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát Vậy Cơ quan điều tra phảichịu trách nhiệm hay Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm Do đó, rất dễ dẫnđến tình trạng các cơ quan tiến hành tố tụng dễ đùn đẩy nhau trong việc thừanhận hành vi trái pháp luật của mình và thực hiện trách nhiệm với công dânnếu pháp luật thực định không xác định rõ nguyên tắc, chủ thể bồi thường

1.2 NHỮNG YẾU TỐ ĐẢM BẢO QUYỀN CÔNG DÂN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Trang 24

1.2.1 Yếu tố chính trị, tư tưởng

Phạm trù chính trị, tư tưởng tiếp cận ở góc độ đảm bảo quyền côngdân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS thể hiện quamối quan hệ giữa Nhà nước với công dân và các tư tưởng, học thuyết chính trị

về mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân Quyền được BTTH do hành vitrái pháp luật trong hoạt động TTHS là một loại quyền đặc biệt, thể hiện rất rõ

sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, nó phản ánhtính chất dân chủ và bình đẳng (ở mức độ nhất định) giữa công dân với Nhànước Tính chất dân chủ và bình đẳng này chỉ có được trong những kiểu Nhànước đạt tới một trình độ tiến bộ xã hội mức độ cao, ở đó, khi Nhà nước(thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyềntrong các cơ quan nhà nước) thực hiện các hành vi trái pháp luật, gây tổn hạiđến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì phải bồi thường Quyềncông dân được BTTH do hành vi trái pháp luật của Nhà nước phản ánh tráchnhiệm của Nhà nước đối với công dân, thể hiện tính chất dân chủ, dân sự củamột xã hội, một Nhà nước - điều không thể có trong các xã hội, Nhà nướcchuyên chế, chủ nô, phong kiến…

Những tư tưởng tiến bộ về trách nhiệm của Nhà nước đối với côngdân ít nhiều được đưa ra trong các học thuyết của Lôc-kơ, Phơ-bách, Vôn-te,Mông-tes-kiơ, Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh và như

đã đề cập, chỉ có thể được hiện thực hóa khi tồn tại những kiểu Nhà nước đạttới sự bình đẳng và dân chủ nhất định Khi xã hội loài người càng ngày càngphát triển hơn, nhu cầu dân chủ cao hơn và khả năng đáp ứng nhu cầu về dânchủ của công dân được đáp ứng nhiều hơn, khi đó, trong mối quan hệ giữacông dân với Nhà nước, không phải chỉ có công dân có trách nhiệm với Nhà

Trang 25

nước (nếu công dân vi phạm pháp luật thì công dân phải chịu trách nhiệmtrước Nhà nước) mà còn đòi hỏi nếu Nhà nước vi phạm quyền công dân thìNhà nước cũng phải chịu trách nhiệm trước công dân và BTTH cho công dân.

Hệ thống các quyền và nghĩa vụ của công dân tương ứng với quyền và nghĩa

vụ của Nhà nước Nhà nước vừa là thiết chế chính trị có quyền lực lớn nhất đểđiều hành mọi hoạt động của đời sống xã hội, quản lý công dân, vừa là công

cụ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Như vậy, Nhà nướcvừa có quyền với công dân vừa phải có nghĩa vụ với công dân Việc xác địnhtrách nhiệm của Nhà nước nhằm đảm bảo cho công dân được thực hiện cácquyền của mình, tạo điều kiện để công dân được tự bảo vệ mình trước Nhànước - một chủ thể có quyền lực cao nhất bao trùm xã hội và có khả năng gây

ra những thiệt hại nghiêm trọng nhất đối với công dân, đặc biệt là trong lĩnhvực TTHS Ngày nay, trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước phải bồi thường

do hành vi trái pháp luật của các cơ quan nhà nước khi tiến hành TTHS đã trởnên quen thuộc ở nhiều quốc gia trên thế giới trong tiến trình dân chủ hóa vàxây dựng Nhà nước pháp quyền, trở thành một trong những công cụ để bảođảm dân chủ, công bằng xã hội, thước đo của nền dân chủ và tiến bộ xã hội

1.2.2 Yếu tố pháp luật

Với cách tiếp cận và phân tích trên, có thể khẳng định yếu tố chính trị,

tư tưởng tạo ra nền tảng chính trị, tư tưởng cho việc đảm bảo quyền của côngdân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS Giữa cácthành tố của kiến trúc thượng tầng, pháp luật chính là sự thể hiện, sự cụ thểbản chất chính trị, tư tưởng của giai cấp cầm quyền Mối quan hệ Nhà nướcvới công dân trong những kiểu nhà nước tiến bộ đã đề cập, công dân vừa cónghĩa vụ, vừa có quyền, các quyền này được ghi nhận trong các văn bản pháp

Trang 26

luật Như vậy, với sự ghi nhận của pháp luật, công dân có các quyền (màtương ứng là các nghĩa vụ của Nhà nước) mà không phải là sự ban phát, làquà tặng của Nhà nước Pháp luật được coi là một điều kiện thiết yếu để đảmbảo quyền của công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt độngTTHS với vai trò là phương tiện pháp lý để công dân thực hiện yêu cầu bồi

thường thiệt hại và tạo ra cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại

1.2.2.1 Pháp luật là phương tiện pháp lý để công dân thực hiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Nếu không có pháp luật, nếu các quy định của pháp luật không đầy

đủ, công dân sẽ không thể dựa vào pháp luật để đòi lại sự công bằng và các cơquan nhà nước cũng sẽ không có cơ sở pháp lý để thực hiện trách nhiệm bồithường Vì vậy, với tư cách là những xử sự bắt buộc do Nhà nước quy định đểđiều chỉnh quan hệ BTTH về hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS,pháp luật là phương tiện pháp lý để công dân đưa ra yêu cầu bồi thường, tạo

ra sự bình đẳng thực sự giữa Nhà nước và công dân trong quá trình giải quyếtbồi thường

Pháp luật quy định bao quát và biện chứng quyền và nghĩa vụ của cảhai loại chủ thể công dân và Nhà nước, đặc biệt là nghĩa vụ của Nhà nước,ràng buộc trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, đối với hành vi tráipháp luật trong TTHS và hậu quả mà hành vi đó gây ra Khi đã được quy địnhtrong các văn bản của pháp luật, quyền được bồi thường của công dân chínhthức trở thành trách nhiệm của Nhà nước Khi đó, việc giải quyết yêu cầu bồithường trở thành nghĩa vụ pháp lý mang tính bắt buộc, không phải việc thíchthì làm, không thích thì không làm, làm cũng được mà không làm cũng đượccủa các cơ quan nhà nước

Trang 27

Pháp luật xác định đầy đủ các trường hợp được bồi thường để bảo vệtriệt để quyền lợi cho công dân, cũng như xác định rõ các trường hợp khôngđược bồi thường để đảm bảo sự công bằng và uy tín của các cơ quan tiếnhành tố tụng Pháp luật quy định rõ cách xác định oan sai, mức bồi thường,kinh phí bồi thường để đảm bảo việc bồi thường được tiến hành thuận lợi,nhanh chóng và triệt để

Sự bình đẳng về địa vị pháp lý của công dân với Nhà nước trong việcthực hiện yêu cầu bồi thường là một vấn đề rất đơn giản nhưng cũng rất phứctạp Về lý thuyết, rất đơn giản ở chỗ, như đã phân tích tại phần 1.1.1, bản thân

sự bình đẳng giữa Nhà nước và công dân đã là một trong những đặc điểm vốn

có, mang tính cố hữu của quyền của công dân được BTTH do hành vi tráipháp luật của cơ quan nhà nước trong TTHS, nếu không có sự bình đẳng, sẽkhông thể đặt ra quan hệ bồi thường đặc biệt này và cũng sẽ không thể đặt raquyền của công dân được bồi thường dù chỉ trên lý thuyết Sự bình đẳng trongmối quan hệ giữa công dân với Nhà nước sẽ là điều kiện để thực hiện quyềncủa công dân được BTTH

Tuy nhiên, tính phức tạp lại nằm ở khía cạnh thực tiễn của vấn đề việc pháp luật phải đảm bảo sự bình đẳng giữa công dân với Cơ quan đứng rađại diện cho Nhà nước để bồi thường Bình đẳng có nghĩa hai bên ở vị tríngang hàng nhau, có quyền và nghĩa vụ như nhau Sự bình đẳng trong mốiquan hệ này sẽ giúp cho công dân được ở vào vị thế thực sự ngang bằng với cơquan nhà nước, một sự ngang bằng giữa thiểu số và đa số, giữa người hiểu biếtpháp luật ở mức độ phổ thông và những người sử dụng pháp luật chuyên nghiệp

-Do đó, đảm bảo sự bình đẳng thực sự giữa Nhà nước với công dântrong quan hệ bồi thường vừa là sự thể hiện vai trò, ý nghĩa của pháp luật, vừa

Trang 28

là yêu cầu, nhiệm vụ khó khăn mà pháp luật phải đạt được nhằm đảm bảo triệt

để quyền công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong TTHS

1.2.2.2 Pháp luật tạo ra cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại

"Cơ chế" theo Từ điển tiếng Việt, là "cách thức theo đó một quá trìnhthực hiện" [40, tr 214] Do đó, để đảm bảo quyền công dân được bồithường do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS, trên cơ sở pháp luật,Nhà nước tạo ra cơ chế giải quyết vấn đề bồi thường giữa Nhà nước và côngdân thực sự bình đẳng và hữu hiệu

Đưa ra yêu cầu bồi thường có thể được coi là điểm bắt đầu của cơ chếgiải quyết BTTH - nếu các cơ quan nhà nước không chủ động thực hiện tráchnhiệm bồi thường của mình đối với công dân Khi cơ quan có nghĩa vụ bồithường không chủ động thực hiện nghĩa vụ bồi thường, thì công dân có quyềnyêu cầu cơ quan đó phải thực hiện việc bồi thường

Việc đảm bảo quyền của công dân được BTTH do hành vi trái phápluật trong hoạt động TTHS trước hết đòi hỏi pháp luật phải ghi nhận công dân

có quyền đưa ra yêu cầu bồi thường, công dân có một "diễn đàn" hợp pháp để

"lên tiếng" về những oan khuất, bất bình, những mong muốn, nguyện vọng vềviệc giải quyết vụ án Nếu ngay cả quyền nói, quyền kêu oan, quyền khiếu nạicủa công dân cũng không được thực hiện thì không thể khẳng định pháp luật

đã đảm bảo các quyền chính trị - dân sự của công dân Pháp luật sẽ tạo ra cácdiễn đàn thật sự dân chủ để người dân có quyền đưa ra các thông tin về hành

vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS và đề đạt yêu cầu của mình về nhữnghậu quả mà hành vi trái pháp luật đó đã gây ra

Trang 29

Cụ thể, pháp luật tạo ra cơ chế để công dân đưa ra yêu cầu bồi thường.Việc đưa ra yêu cầu bồi thường phải trên cơ sở các quy định về tư cách yêu cầu,

về chủ thể tiếp nhận yêu cầu, về phương thức yêu cầu, về thời hạn yêu cầu…

Các khâu tiếp theo của cơ chế giải quyết yêu cầu bồi thường đượcpháp luật thiết kế trên cơ sở tạo ra hành lang pháp lý cho công dân và cơ quan

có nghĩa vụ bồi thường đi tới thỏa thuận về phương thức bồi thường, mức tiềnbồi thường, những căn cứ và lý do tính mức tiền bồi thường…

1.2.3 Các yếu tố kinh tế - xã hội

1.2.3.1 Yếu tố vật chất - kinh phí bồi thường

Yếu tố vật chất luôn là điều kiện thực tế cho việc thực hiện các hoạtđộng bồi thường Kinh phí bồi thường có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối vớiviệc đảm bảo quyền của công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trongTTHS Bên cạnh các hoạt động công khai xin lỗi, khôi phục danh dự chocông dân, các tổn thất về tài sản cũng như tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh

dự, nhân phẩm, tự do cá nhân đều phải được bồi thường và bồi thường bằngtài sản Cơ quan có trách nhiệm bồi thường không thể xin lỗi "suông" đối vớicông dân Nếu không có kinh phí, chủ thể bồi thường sẽ không thể hoàn thànhnghĩa vụ của mình, cho dù họ có tự nguyện và tự giác đối với trách nhiệm bồithường Nói cách khác, thiếu kinh phí, sẽ không thể thực hiện việc bồi thườngtoàn diện, dứt điểm Thậm chí, trên thế giới, một số tổ chức bảo vệ nhânquyền đã yêu cầu Nhà nước phải chú ý tới vấn đề kinh phí để thực hiện việcbồi thường toàn phần, theo đó, khi các chủ thể (các cơ quan tư pháp hình sự)tiến hành các hành vi TTHS mà có hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại tới cácquyền của công dân được qui định trong luật bồi thường thì các cơ quan này

Trang 30

có trách nhiệm bồi thường toàn phần Việc bồi thường được căn cứ vào nhữngtổn thất thực tế do hành vi vi phạm pháp luật gây ra

Do vậy, điều kiện về tài chính - kinh phí đóng vai trò quan trọng đáng

kể trong việc đảm bảo quyền của công dân được BTTH do hành vi trái phápluật trong hoạt động TTHS

1.2.3.2 Yếu tố ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý

Để đảm bảo quyền của công dân được BTTH do hành vi trái pháp luậttrong TTHS, ngoài các quy định của pháp luật, mỗi quốc gia còn cần xâydựng một hệ thống các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức nhà nước có ýthức trách nhiệm với công dân, có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp Ý thứctrách nhiệm với công dân, lương tâm và đạo đức nghề nghiệp của các cơ quannhà nước và đội ngũ công chức nhà nước chỉ có được nếu Nhà nước và xã hộitạo lập cho họ ý thức pháp luật, văn hóa pháp lý Nếu không, sẽ không thể giảmbớt oan sai trong TTHS, các cơ quan gây ra oan sai sẽ không thể có sự tựnguyện bồi thường, tự nguyện xin lỗi, và khi đó, việc bồi thường sẽ trở thànhgánh nặng, trở thành nghĩa vụ của "kẻ thua cuộc" Các hoạt động bồi thường,xin lỗi công dân vẫn sẽ được thực hiện nhưng bản thân các cơ quan gây ra oansai sẽ không nhận thức được hậu quả đã gây ra cho công dân, không ý thứcđược ý nghĩa nhân văn của trách nhiệm bồi thường

Văn hóa pháp lý bao gồm ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật, việcthực hiện pháp luật và những con người áp dụng pháp luật Văn hóa là cái tựthân trong mỗi cá nhân con người cũng như đặc điểm, cách ứng xử chung,mang tính phổ biến, mang tính tích cực và tiến bộ của cả cộng đồng người Ýthức pháp luật là một thành tố quan trọng của văn hóa pháp lý Ý thức phápluật nếu phân chia theo cấu trúc, trước hết bao gồm ý thức pháp luật nhóm và

Trang 31

ý thức pháp luật cá nhân Theo lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, ý thứcpháp luật nhóm phản ánh quan điểm, tư tưởng, tình cảm của một nhóm xã hộinhất định về pháp luật, ý thức pháp luật cá nhân phản ánh quan điểm, tư tưởng,tình cảm của một cá nhân cụ thể về pháp luật Về lý thuyết, trong lĩnh vựcTTHS, nhóm xã hội này là các chủ thể sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật,

có hiểu biết sâu sắc về pháp luật và có địa vị trong xã hội, chính vì vậy, nếu cóhành vi trái pháp luật trong hoạt động nghề nghiệp, hoạt động tố tụng, thì nhữnghành vi trái pháp luật chủ yếu xuất phát từ sự cẩu thả, tắc trách, thiếu tráchnhiệm, hoặc cố ý thực hiện hành vi trái pháp luật vì động cơ cá nhân, vì thamnhũng hoặc vì các quan hệ chính trị, xã hội mang tính tiêu cực khác Do đó,những người này có xu hướng không thừa nhận hành vi trái pháp luật củamình, bao che cho nhau hoặc thậm chí cố ý gây ra một hành vi trái pháp luậtkhác để che đậy hành vi trái pháp luật trước đó đang có nguy cơ bị phát hiện.Việc những chủ thể này tự giác BTTH cho công dân là điều không đơn giản

Ý thức pháp luật là cơ sở để các chủ thể này thực hiện trách nhiệm bồi thườngmột cách tự nguyện, vừa là trách nhiệm pháp lý, vừa là trách nhiệm đạo đức

Sự tự giác của các cơ quan pháp luật hay ý thức pháp luật và văn hóapháp lý của các cơ quan pháp luật chính là sự đảm bảo về "chất", đảm bảomang tính nội tại cho quyền công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật

Mặt khác, sẽ không thể đảm bảo được quyền của công dân nếu chínhbản thân công dân không ý thức được về quyền của mình, không đóng vai tròchủ động trong quá trình thực hiện pháp luật Sự tự ý thức của công dân giúpcho công dân hiểu rõ về giới hạn quyền của bản thân và những nghĩa vụ mà

họ cũng phải thực hiện trong quá trình giải quyết bồi thường, từ đó tạo điềukiện cho việc giải quyết bồi thường được nhanh chóng, khách quan, hợp lý, ví

Trang 32

dụ: đưa ra yêu cầu bồi thường đúng mức, yêu cầu thực hiện các hoạt động cảichính, công khai xin lỗi ở mức độ phù hợp, giúp đỡ các cơ quan có tráchnhiệm xác minh thiệt hại… tránh việc biến quyền được bồi thường thành cơhội để xuyên tạc, bôi nhọ chế độ, trả thù cá nhân hoặc thỏa mãn các động cơtrục lợi khác.

Ngoài ra, ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của cộng đồng xã hộiđóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra dư luận xã hội lên án các hành vi tráipháp luật gây thiệt hại cho công dân, đấu tranh buộc các cơ quan gây ra oansai phải thừa nhận vi phạm của họ và thừa nhận trách nhiệm đối với công dân,giúp đỡ công dân bị oan sai tái hòa nhập cộng đồng Do đó, có thể khẳng định

ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của cộng đồng xã hội chính là một trongnhững yếu tố gián tiếp đảm bảo cho quyền của công dân được BTTH do hành

vi trái pháp luật trong TTHS

1.3 Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÔNG DÂN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.3.1 Ý nghĩa đối với việc đảm bảo ổn định và phát triển đời sống kinh tế - xã hội

Quyền của công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật của cơ quannhà nước trong TTHS là một quyền dân sự đặc biệt Công dân thực hiện quyềnnày nhằm yêu cầu Nhà nước khôi phục lại các quyền, lợi ích về nhân phẩm,danh dự, uy tín, sức khỏe, kinh tế… Oan, sai do các cơ quan này gây ra có thểkhông chỉ dẫn tới hậu quả hủy hoại sự nghiệp của một cá nhân công dân màcòn ảnh hưởng cả tới con cái và gia đình, cộng đồng nơi công dân cư trú,

Trang 33

công tác, thậm chí gây ra các hậu quả xã hội khác Việc đảm bảo quyền củacông dân được BTTH đưa lại cho cá nhân công dân những điều kiện chính trị -

xã hội - kinh tế mà họ đáng lẽ không bị tước bỏ, trả lại một thành viên chonền kinh tế xã hội đất nước

Mặt khác, trên bình diện xã hội, việc đảm bảo quyền của công dânđược BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS sẽ góp phần đemlại sự ổn định xã hội, đặc biệt ở góc độ tâm lý, dư luận xã hội, gián tiếp đảmbảo uy tín, danh dự của các cơ quan nhà nước nói riêng và thể chế, bộ máynhà nước nói chung Việc đảm bảo quyền của công dân được BTTH sẽ gópphần củng cố uy tín chính trị - ngoại giao của đất nước trong các mối quan hệbang giao với các quốc gia khác, nhất là trong bối cảnh các vấn đề về nhânquyền trong nội bộ một quốc gia luôn được sử dụng như một con bài chính trị

để tăng cường hoặc hạn chế các lợi ích mà các quốc gia đó được hưởng từviệc tham gia vào đời sống hợp tác quốc tế và tiến trình toàn cầu hóa

1.3.2, Ý nghĩa đối với việc thúc đẩy quá trình dân chủ hóa Nhà nước

và xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân và vì dân

Trong mối quan hệ biện chứng giữa Nhà nước và công dân, việc đảmbảo quyền của công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt độngTTHS đóng vai trò nhất định trong việc thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa đời

sống xã hội Trước đây, có rất nhiều quốc gia áp dụng nguyên tắc "miễn trừ quốc gia" thậm chí áp dụng ở mức độ cực đoan trong quan hệ giải quyết bồi

thường với công dân Như đã từng đề cập, nguyên tắc này cho rằng Nhà nướcđược hưởng quyền miễn trừ quốc gia nên không thể bị coi là bị đơn trongnhững vụ kiện yêu cầu BTTH Khi công chức nhà nước xâm phạm quyền lợi

Trang 34

hợp pháp của công dân, tổ chức thì đó là hành vi mang tính cá nhân, Nhànước không phải chịu trách nhiệm bồi thường Công chức nào gây thiệt hạicho đương sự thì phải tự chịu trách nhiệm bồi thường Việc áp dụng nguyên

tắc "miễn trừ quốc gia" trong trường hợp này, là sự thoái thác trách nhiệm và

đi ngược lại dân chủ

Khi bị đặt vào vị thế bình đẳng với công dân trong quá trình giải quyếtBTTH, cơ quan nhà nước sẽ không còn ở vị thế quyền lực nhà nước để tùytiện ban hành các quyết định tố tụng, quyết định hành chính đối với công dân.Nói cách khác, cơ quan nhà nước sẽ không được sử dụng các thẩm quyền tốtụng để ép buộc, để áp đặt ý chí của mình đối với công dân Điều này cũnggóp phần buộc các cơ quan nhà nước phải sử dụng pháp luật để bảo vệ uy tín

và quyền lợi của chính họ, tránh các vụ kiện dân sự, hành chính, các tranhchấp với công dân và các cơ quan nhà nước khác, góp phần tạo dựng thóiquen hành xử theo pháp luật Do vậy, có thể nói, đảm bảo sự bình đẳng trongquá trình giải quyết bồi thường cũng chính là một cơ sở cho tiến trình dân chủhóa đời sống xã hội, cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN củadân, do dân và vì dân

1.3.3 Ý nghĩa đối với việc nâng cao chất lượng tố tụng hình sự và giáo dục ý thức pháp luật cho đội ngũ công chức tư pháp

TTHS là tấm gương phản chiếu bộ mặt dân chủ của nền chính trị vàtính nhân văn của một xã hội Tính dân chủ và nhân văn của chế độ chính trị,của xã hội thể hiện trong TTHS qua mục tiêu, trách nhiệm của TTHS, cáchthức mà nền tố tụng đó đối xử với con người (mà trước hết là người bị tìnhnghi thực hiện tội phạm)

Trang 35

Trách nhiệm, mục tiêu của TTHS là chứng minh trách nhiệm hình sựcủa một cá nhân công dân, thông qua các hoạt động điều tra - truy tố - xét xử,TTHS phải làm sáng tỏ có hay không có sự việc phạm tội xảy ra, do ai thựchiện, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đến tuổi chịu tráchnhiệm hình sự hay chưa, có năng lực trách nhiệm hình sự không, có lỗi haykhông có lỗi, nhân thân người phạm tội và các tình tiết khác có ý nghĩa đốivới hoạt động giải quyết vụ án Một nền tố tụng nhân văn, vì con người là nền

tố tụng chỉ coi một người là tội phạm khi người đó đã vi phạm xử sự pháp luậthình sự cấm trong khi có đầy đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựachọn và thực hiện một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi chung của xã hội; hìnhphạt phải áp dụng đối với hành vi của một con người cụ thể, có nhân thân, sốphận, hoàn cảnh sống, hoàn cảnh phạm tội cụ thể Có như vậy, bản án đượctuyên mới có thể tới gần hơn các khái niệm công bằng, công lý và thể hiện ýnghĩa giáo dục, răn đe của hình phạt, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đốivới công dân phạm tội Sẽ không thể chỉ cần dựa vào kết quả chứng minh tộiphạm có đạt được hay không mà đánh giá chất lượng của một nền tố tụng,chất lượng của một nền tố tụng còn cần được đánh giá ở việc các hoạt động tốtụng được thực hiện như thế nào, cách thức ứng xử với con người trong quátrình đi tới kết quả đó và cách thức mà cơ quan tiến hành tố tụng ứng xử đốivới những sai lầm đã gây ra trong quá trình tố tụng Trong quá trình tố tụng,nếu các cơ quan tiến hành tố tụng bức cung, mớm cung, dùng nhục hình đểbuộc bị can phải khai báo, nếu sử dụng các hoạt động thu thập chứng cứ bấthợp pháp, nếu áp dụng các biện pháp cưỡng chế, biện pháp ngăn chặn trànlan, hoàn toàn thể dẫn đến nguy cơ người bị tình nghi vì quá sợ nên phải nhận

đã thực hiện tội phạm dù trước đó họ không hề thực hiện Cũng để việc chứngminh tội phạm được nhanh chóng, không mất nhiều thời gian, kinh phí và

Trang 36

công sức, Cơ quan điều tra không muốn trong quá trình điều tra có mặt luật

sư, người đại diện hợp pháp của bị can, thậm chí không có mặt Kiểm sát viên,những người ở vị thế đối trọng và giám sát Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát,Tòa án không muốn sự có mặt của luật sư trong giai đoạn truy tố - xét xử đểkhông phải tranh tụng, không phải điều khiển tranh tụng Việc buộc tội và xét

xử sẽ rất dễ dàng nếu được diễn ra như một câu chuyện nội bộ giữa ba ngànhCông an - Kiểm sát - Tòa án, "án tại hồ sơ", "án bỏ túi" Do vậy, việc buộc các

cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường cho công dân, việc đảm bảo quyềncủa công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong TTHS buộc các cơquan này phải minh bạch hơn, thận trọng hơn trong hoạt động tố tụng Thựchiện nguyên tắc công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạtđộng TTHS buộc là một "tấm biển" cảnh báo từ xa đối với những chủ thể tiếnhành tố tụng, mà nói rộng hơn là đội ngũ công chức tư pháp về khả năng phảibồi thường, khả năng phải chịu trách nhiệm nếu làm oan, làm sai, làm ẩu Đểtránh việc làm oan, làm sai, làm ẩu, các cơ quan tiến hành tố tụng phải nângcao chất lượng tố tụng, mở rộng cánh cửa cho các chủ thể đối trọng, giám sáttham gia vào công việc của mình, nhằm giúp phát hiện và loại trừ các vi phạm

tố tụng, bỏ sót chứng cứ có thể mắc phải Ngoài ra, việc đảm bảo quyền đượcBTTH cho công dân do hành vi trái pháp luật trong TTHS ở một khía cạnhnào đó còn nâng cao uy tín của cơ quan đã thừa nhận trách nhiệm, tạo niềmtin cho công dân Một khi đã có niềm tin vào các cơ quan tố tụng, công dân sẽ

tự nguyện hơn trong việc phối hợp, giúp đỡ các cơ quan này trong hoạt động

tố tụng, từ đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng nói riêng vàchất lượng cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung Ngược lại, mộtkhi thiếu lòng tin vào sự đảm bảo của Nhà nước thì công dân bất hợp tác với

cơ quan nhà nước và tự tìm cách giải quyết theo cách riêng của mình, tìm tới

Trang 37

các thiết chế phi nhà nước, thậm chí ngoài vòng pháp luật (tự trả thù, thuê cáccông ty dịch vụ điều tra, thuê các băng nhóm tội phạm chuyên nghiệp…) dovậy, hạn chế hiệu quả của hoạt động tố tụng và hệ thống bộ máy nhà nước.

Đặc biệt, trách nhiệm BTTH cho công dân do hành vi trái pháp luậttrong TTHS chính là biện pháp giáo dục ý thức pháp luật cho các công chức tưpháp Trách nhiệm BTTH có tác dụng răn đe rất lớn đối với bất kỳ ý định lợidụng nghề nghiệp, vị trí công tác tại các cơ quan tiến hành tố tụng, gây ra oansai cho công dân để tham ô, trục lợi Việc bồi thường còn giúp cho những ngườitiến hành tố tụng, các công chức tư pháp nhận rõ hậu quả do oan sai mà côngdân phải gánh chịu, trách nhiệm do những hành vi cố ý hoặc vô ý của mìnhgây ra để tự ý thức hơn về ý nghĩa và trách nhiệm nghề nghiệp của bản thân

1.3.4 Ý nghĩa đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật

Pháp luật là một trong những yếu tố đảm bảo quyền công dân đượcBTTH do hành vi trái pháp luật trong TTHS và ngược lại, chính việc đảm bảoquyền công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong TTHS có tácdụng trở lại, buộc pháp luật phải được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để thực

sự trở thành một hành lang pháp lý thông suốt, minh bạch, thuận lợi cho cácbên tham gia vào quan hệ bồi thường Các quy định pháp luật hiện hành quathực tiễn áp dụng được cọ xát, bộc lộ những điểm tích cực và hạn chế để từ

đó, tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện Trực tiếp điều chỉnh quan hệ BTTHgiữa nhà nước với công dân là pháp luật dân sự và tố tụng dân sự Vì vậy, haingành luật này sẽ phải được hoàn thiện để tương thích và định hướng đốitượng điều chỉnh Mặt khác, việc hoàn thiện pháp luật về BTTH do hành vitrái pháp luật trong TTHS phải phù hợp với các quy định khác của Hiến pháp,của BLDS, các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước… vì vậy, các nhà làm

Trang 38

luật phải tính đến hình thức pháp lý và vị trí pháp lý của chế định BTTH dohành vi trái pháp luật trong TTHS trong hệ thống văn bản pháp luật trong quátrình xây dựng, pháp điển luật

Ngoài ra, đối với pháp luật hình sự và TTHS, việc đảm bảo quyền

công dân được BTTH do hành vi trái pháp luật trong TTHS cũng giúp cho cácnhà làm luật nhận thức được những hạn chế của các quy định của pháp luậthiện hành, các bất cập thuộc về kỹ thuật lập pháp dẫn tới việc tạo ra các lỗhổng pháp lý là điều kiện dẫn đến oan sai Những quy định quá chung chung,

dễ dẫn đến sự vận dụng tùy tiện, các quy định tạo ra sự chủ động quá lớn chonhững người áp dụng pháp luật về việc xử lý hình sự hay xử lý hành chính, vềviệc miễn hay không miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, về việc địnhkhung và chuyển khung hình phạt, về mức hình phạt trong một khung… cầnphải được sửa đổi hoặc loại bỏ Pháp luật TTHS cũng có cơ hội để hoàn thiệnhơn nhằm loại bớt các nguy cơ dẫn đến oan sai bằng việc tạo ra thêm nhiềucác thiết chế giám sát, đối trọng như gia tăng vai trò của luật sư, tăng cườngvai trò kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát và vai trò giám sát xã hội của các

cơ quan, cá nhân, tổ chức khác Ngoài ra, để ngăn chặn nguy cơ xảy ra oansai, pháp luật tố tụng cũng cần phải chặt chẽ hơn về trình tự, thủ tục xác định

tư cách của người bị tình nghi thực hiện tội phạm và các biện pháp cưỡng chế

tố tụng có thể được áp dụng đối với cá nhân đó

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Việc đảm bảo quyền công dân được BTTH do hành vi trái pháp luậttrong TTHS không chỉ có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi công dân bị oansai mà còn góp phần tạo ra một bộ mặt dân chủ và nhân văn hơn cho nềnTTHS, và đối với xã hội, còn đóng vai trò nhất định trong quá trình xây dựng

Trang 39

một Nhà nước pháp quyền do nhân dân, của nhân dân và vì nhân dân Do đó,chương 1 đã nghiên cứu và đánh giá các nội dung đảm bảo quyền công dânđược BTTH cho công dân do hành vi trái pháp luật trong TTHS: những đảmbảo về chính trị - tư tưởng, đảm bảo về pháp luật, đảm bảo các điều kiện xãhội - kinh tế khác Trong những nội dung đảm bảo đó, sự đảm bảo về phápluật có vai trò đặc biệt quan trọng nhất bởi vì, pháp luật luật hóa trách nhiệmcủa Nhà nước đối với việc bồi thường cho công dân, tạo ra nền tảng pháp lý

và cơ chế cho việc giải quyết bồi thường Khi nghiên cứu những đảm bảokinh tế - xã hội, luận văn đã chỉ ra một nhân tố quan trọng khác trong việcđảm bảo hiệu quả của hoạt động bồi thường: đó chính là ý thức pháp luật, vănhóa pháp lý của đội ngũ các công chức trong cơ quan nhà nước Chương 1cũng khẳng định ý thức pháp luật, văn hóa pháp lý của bản thân công dâncũng giúp cho công dân thực hiện tốt hơn nữa quyền được bồi thường củachính bản thân họ, cho chính bản thân họ

Trang 40

Chương 2

THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÔNG DÂN

ĐƯỢC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

2.1 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1.1 Hệ thống các quy định của pháp luật

Trách nhiệm BTTH do hành vi trái pháp luật trong hoạt động TTHS làcái riêng trong mối quan hệ với cái chung là trách nhiệm BTTH do hành vitrái pháp luật của Nhà nước Trách nhiệm BTTH do hành vi trái pháp luật củaNhà nước đã lần đầu tiên được Hiến pháp 1959 quy định Điều 29 Hiến phápnăm 1959 khẳng định: " người bị thiệt hại về hành vi vi phạm của cơ quannhà nước có quyền được bồi thường" Điều 73 Hiến pháp năm 1980 quy địnhchi tiết hơn về vấn đề này: "Mọi hành động xâm phạm quyền, lợi ích chínhđáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh" Đoạn 2Điều 72 Hiến pháp năm 1992 đã quy định cụ thể hơn về trách nhiệm BTTH

do hành vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước trong TTHS: "Người bị bắt, bịgiam, bị truy tố trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất

và phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy

tố và xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh" BLDSnăm 1995, từ Điều 609 đến Điều 633 quy định về trách nhiệm BTTH ngoàihợp đồng, bao gồm các thiệt hại do tài sản bị xâm phạm thiệt hại do sức khỏe

Ngày đăng: 11/10/2021, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w