Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Ai gây thiệt hại thì người đó phải bồi thường - vấn đề này đã được cácnhà làm luật coi đó là một nguyên tắc và cụ thể hóa trong văn bản pháp luậ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ai gây thiệt hại thì người đó phải bồi thường - vấn đề này đã được cácnhà làm luật coi đó là một nguyên tắc và cụ thể hóa trong văn bản pháp luật.Xét về nguồn gốc lịch sử thì chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng ra đời từ rất sớm Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, mỗi quốc giađều có những qui định chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bêncạnh đó còn có những qui định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng trong từng trường hợp cụ thể bởi sự đa dạng về chủ thể gâythiệt hại, đối tượng bị thiệt hại, hoàn cảnh bị thiệt hại
Bộ luật dân sự năm 1995 được áp dụng để giải quyết cho các tranhchấp dân sự nói chung, tranh chấp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng nói riêng kể từ ngày 1/7/1996 Qua gần 10 năm thi hành, Bộ luậtdân sự 1995 đã phát huy tác dụng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hộithuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcho các chủ thể trong giao lưu dân sự, góp phần làm ổn định các quan hệ xãhội Bên cạnh những thành công đã đạt được, Bộ luật dân sự 1995 còn bộc lộnhiều bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Bộ luật dân
sự 2005 ra đời thay thế cho Bộ luật dân sự 1995 với nhiều sự sửa đổi, bổ sungnhất định, trong đó có chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Bộ luật dân
sự 2005 qui định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng từ Điều 604đến Điều 630, trong đó bổ sung qui định về bồi thường thiệt hại do xâm phạmthi thể, bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả, hài cốt và rất nhiều sự sửađổi khác trong từng qui định cụ thể
Trang 2Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệt hại doxâm phạm sức khỏe, tính mạng nói riêng là một trong những loại trách nhiệmgây nhiều tranh cãi về căn cứ phát sinh, mức bồi thường ; hơn nữa qui địnhcủa pháp luật về vấn đề này chủ yếu dừng lại ở các qui định mang tính "địnhtính" mà không "định lượng" nên gây khó khăn rất nhiều cho các cán bộ ápdụng pháp luật Bên cạnh đó, án kiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại doxâm phạm sức khỏe, tính mạng chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong các án kiện
về bồi thường; sự đối lập về tâm lý của người gây thiệt hại với người bị thiệthại hoặc gia đình của người bị thiệt hại làm cho các án kiện về trách nhiệmbồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng bị kháng cáo, khiếunại từ phía đương sự
Xuất phát từ tình hình trên đây, việc nghiên cứu, tìm hiểu các qui địnhcủa pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, bồi thường thiệthại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng nói riêng là một trong những vấn đề có
ý nghĩa pháp lý và thực tiễn sâu sắc
Trang 3Anh: "Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự", Luận văn thạc sĩ luật học; Lê Thị Bích Lan: "Một số vấn
đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín", Luận văn thạc sĩ luật học (xem Phụ lục).
Nhìn chung, các đề tài đó đã nêu và phân tích những vấn đề chung vềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật dân sự; đưa ra các yêu cầu cơ bảntrong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các quy định của phápluật dân sự trong việc bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe,danh dự, nhân phẩm và uy tín, cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường thiệthại, các hình thức và mức bồi thường, những trường hợp miễn hoặc giảmtrách nhiệm bồi thường
Tuy nhiên, các đề tài này hoặc đề cập ở dạng khái quát về trách nhiệm bồithường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng hoặc có đề cập chi tiết cụ thểhơn nhưng vào thời điểm của Bộ luật dân sự 1995 đang tồn tại hiệu lực pháp lý
Tìm hiểu một cách có hệ thống, chi tiết về trách nhiệm bồi thườngthiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng theo Bộ luật dân sự 2005 và cácvăn bản hướng dẫn mới thì chưa có một công trình khoa học nào cho đến thờiđiểm hiện tại
3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Thông qua việc tìm hiểu các qui định của Bộ luật dân sự 2005 và cácvăn bản hướng dẫn thi hành, giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn hoànchỉnh dưới lăng kính pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng, qua đó phục vụ tốt hơn cho công việc thực tế của bản thân Ngoài ra,qua việc nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xâmphạm sức khỏe, tính mạng cũng như việc áp dụng vào thực tiễn sẽ có nhữngkiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực thi, sửa đổi và
Trang 4tuyên truyền pháp luật Để đạt được mục đính này, nhiệm vụ nghiên cứu củaluận văn là tìm hiểu các qui định của các văn bản pháp luật hiện hành về tráchnhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng; tìm hiểu thựctiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tínhmạng, qua đó chỉ ra những bất cập trong các qui định của pháp luật và phươnghướng hoàn thiện qui định của pháp luật về bồi thường thiệt hại nói chung,pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng nói riêng
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi giới hạn nghiên cứu đề tài cao học luật, chúng tôi chỉnghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về trách nhiệm bồi thường thiệthại do có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến sức khỏe và tính mạng, đồngthời xem xét thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự xâm phạm sức khỏe và tínhmạng Luận văn này cũng đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những vướngmắc trong giải quyết bồi thường thiệt hại sức khỏe và tính mạng khi áp dụngcác quy định của Bộ luật dân sự
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận nhận thức của chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Ngoài ra,luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp duyvật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp phântích, tổng hợp, thống kê cũng được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn sẽ đề cập một cách có hệ thống, chi tiết trong qui định củapháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tínhmạng; chỉ ra những khó khăn, bất cập trong việc áp dụng pháp luật, đồng thời
Trang 5có những kiến nghị trong việc hoàn thiện và áp dụng pháp luật trong việc xácđịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng trong luật dân sự
Chương 2: Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe và
tính mạng bị xâm phạm
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường
thiệt hại do xâm phạm sức khỏe và tính mạng
Trang 6Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG LUẬT DÂN SỰ
1.1 KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG LUẬT DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thời kỳ sơ khai, trách nhiệm bồi thường chưa được đặt ra, theo đó
người ta thường áp dụng nguyên tắc "nợ gì trả nấy" khi có hành vi gây thiệt
hại Luật XII bảng được ban hành vào năm 449 trước Công nguyên có quiđịnh: Kẻ nào làm gãy tay người khác thì kẻ đó phải chịu lại tương tự như vậy.Khi áp dụng nguyên tắc trả thù ngang bằng, lợi ích của người bị thiệt hạikhông được bảo đảm, hơn nữa lại có một thiệt hại khác phát sinh Đây chính
là lý do để sau đó người ta xem xét vấn đề bồi thường thiệt hại
Xét về nguồn gốc lịch sử, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng là một trong những chế định có lịch sử sớm nhất của pháp luật dân sự.Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là chế địnhgây nhiều tranh cãi, có nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu luật phápcũng như các cán bộ làm công tác thực tiễn
Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, chế định bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng luôn được hoàn thiện bởi các chuyên gia pháp lý Ở nước ta,trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được qui định trong Quốctriều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ Pháp luật mỗi nước có thể có những qui
Trang 7định khác nhau liên quan đến xác định mức bồi thường, tuy nhiên một nguyêntắc cơ bản luôn tồn tại - đó là: "Người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hạicho người bị thiệt hại" Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long đều chưa có
sự phân biệt rõ nét về trách nhiệm bồi thường dân sự Sự phân biệt rạch ròigiữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự chỉ ra đời trên cơ sở ba bộluật đầu tiên (Bộ luật Nam Kỳ ban hành ngày 10/3/1883; bộ Dân luật Bắc Kỳban hành ngày 01/4/1931; bộ Dân luật Trung Kỳ ban hành ngày 31/10/1936)
và các nguyên lý chung về trách nhiệm bồi thường dân sự lần đầu được ghi nhậnmột cách cụ thể tại Điều 712 đến Điều 716 (Bộ Dân luật Bắc Kỳ); Điều 761đến Điều 767 (Bộ Dân luật Trung Kỳ) và cho đến năm 1972 chính quyền SàiGòn có ban hành bộ Dân luật Sài Gòn từ Điều 729 đến Điều 739 đề cập vềtrách nhiệm bồi thường dân sự
Cách mạng tháng Tám thành công, đánh dấu một bước ngoặt mới: Nhànước Việt Nam dân chủ ra đời, ngay lúc này chúng ta chưa thể ban hành đượccác văn bản quy phạm pháp luật ngay Để điều chỉnh các quan hệ xã hội diễn
ra hàng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lần lượt ký Sắc lệnh số 90/SL ngày10/10/1945 và Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 thừa nhận luật lệ cũ trêntinh thần không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa củaNhà nước ta Những quy định trong Sắc lệnh số 97/SL đã đặt nền móng cho
sự hình thành và phát triển của luật dân sự Lần đầu tiên những nguyên tắcthực sự dân chủ, tiến bộ mang tính nhân dân sâu sắc được pháp điển hóa Như
nguyên tắc: "Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành xử
nó đúng với quyền lợi của nhân dân" hay "người ta chỉ được hướng dụng và
sử dụng các vật thuộc quyền sở hữu của mình một cách hợp pháp và không gây thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân".
Trang 8Việc giải quyết các quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trên cơ
sở tổng kết kinh nghiệm của ngành tòa án Qua thực tiễn xét xử, vận dụng và kếthừa những quy định pháp luật đã có, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông
tư 173/UBTP ngày 23/3/1972 hướng dẫn công tác xét xử, trong đó nói rõ điều kiệnphát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc, cách xác định thiệt hại
Thông tư số 03 ngày 5/4/1983 bổ sung giải quyết bồi thường thiệt hạitrong các vụ tai nạn giao thông đều là văn bản dưới luật, lại ban hành trongđiều kiện nền kinh tế tập trung bao cấp, tuy đề cập đến nhiều vấn đề xong chỉmang tính định hướng, chưa cụ thể Bên cạnh đó, xu hướng phát triển kinh tếđất nước theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đòi hỏi phải có
bộ luật dân sự điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ xã hội rộng lớn Bộ luật Dân
sự ra đời pháp điển hóa một bước quan trọng tạo ra một văn bản pháp luậtthống nhất nhằm khắc phục những tình trạng tản mạn, trùng lặp, mâu thuẫncủa pháp luật dân sự trước đó
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong nhữngtrách nhiệm dân sự, được áp dụng với những người có hành vi trái pháp luậtgây ra thiệt hại cho người khác Chế định "Trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng’’ được hệ thống ở chương V, phần thứ 3 với các qui định từĐiều 604 đến Điều 630 làm cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời giải quyết khách quan,nhanh chóng, công bằng theo quy định của pháp luật
Theo khoản 5 Điều 281 Bộ luật dân sự Việt Nam thì một trong những căn
cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự đó là: "Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật".
Trang 9Theo qui định tại Điều 604 Bộ luật dân sự thì sự kiện "gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật" là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài
hợp đồng Nhà làm luật trong trường hợp này đã đồng nghĩa "trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng" với "nghĩa vụ bồi thường do hành vi tráipháp luật" - Điều 604 Bộ luật dân sự đã xác nhận sự đồng nghĩa này
Pháp luật nhà nước ta sử dụng nhiều phương thức khác nhau để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khi bị xâm phạm bởinhững hành vi trái pháp luật Khi một người có hành vi trái pháp luật gâythiệt hại đối với người khác làm phát sinh các quan hệ pháp luật về bồithường thiệt hại
Điều 604 Bộ luật dân sự quy định:
1 Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.
Như vậy, bồi thường thiệt hại là quan hệ phát sinh từ hậu quả của hành vitrái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uytín, tài sản các quyền lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự,
uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của các chủ thể khác Bồi thường thiệt hại
là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hạiphải bù đắp, đền bù những tổn thất về vật chất, về tinh thần cho bên bị thiệthại Điều kiện để phát sinh trách nhiệm này là phải có thiệt hại, có hành vi trái
Trang 10pháp luật, có quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra
có lỗi của người gây thiệt hại
Vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì? Qua nhữngphân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng như sau:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý, là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước theo đó người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra khi hành vi đó được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý xâm hại tới tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, và các quyền nhân thân khác của cá nhân, tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc của chủ thể khác.
1.1.2 Ý nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Là một loại trách nhiệm pháp lý, được áp dụng khi thỏa mãn nhữngđiều kiện do pháp luật qui định, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng có ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa xã hội sâu sắc, điều đó được thể hiện trênmột số phương diện sau đây:
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Trong các quan hệ xã hội nói chung, giao lưu dân sự nói riêng, chủ thểtham gia nhằm thỏa mãn những lợi ích vật chất hoặc tinh thần của mình Để
xã hội ngày càng phát triển, các chủ thể phải tham gia nhiều quan hệ xã hộikhác nhau và trong các quan hệ xã hội mà chủ thể tham gia thì lợi ích luôn làtâm điểm để chủ thể hướng tới Hiến pháp và các văn bản pháp luật có hiệulực pháp lý sau Hiến pháp luôn ghi nhận và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
Trang 11của các chủ thể Đó có thể là lợi ích vật chất, thể hiện ở quyền sở hữu tài sản,nhưng cũng có thể là lợi ích tinh thần, thể hiện ở các quyền nhân thân đượcpháp luật bảo vệ Bằng việc qui định căn cứ phát sinh, nguyên tắc bồithường thì chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có vai trò quantrọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong cácquan hệ xã hội khác nhau.
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
Nguyên tắc chung của pháp luật là một người phải chịu trách nhiệm
về hành vi và hậu quả do hành vi đó mang lại Bằng việc buộc người gâythiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây
ra cho người bị thiệt hại, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đãgóp phần bảo đảm công bằng xã hội Đây cũng là nguyên tắc, là mục tiêu màpháp luật đặt ra Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã cụ thể hóa
và thể hiện rất rõ nguyên tắc công bằng trong bồi thường thiệt hại Theo chếđịnh này, ai gây thiệt hại thì người ấy phải bồi thường, tuy nhiên sẽ có nhữngtrường hợp riêng biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại như nguyên tắcgiảm mức bồi thường, bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giớihạn phòng vệ chính đáng, bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bịthiệt hại có lỗi
Thứ ba, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chế định góp phần răn đe, giáo dục, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, gây thiệt hại trái pháp luật nói riêng.
Trang 12Ngoài mục đích buộc bên vi phạm phải chịu trách nhiệm do hành
vi vi phạm của mình gây ra - nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự - chếđịnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn thể hiện ý nghĩa nhân đạo, ýnghĩa xã hội sâu sắc Thông qua chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng cùng với việc vận dụng chế định này để giải quyết các tranh chấp liênquan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chế định tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có ý nghĩa răn đe, giáo dục
và phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, hành vi gây thiệthại trái pháp luật nói riêng Ngoài người vi phạm, những người khác cũng
sẽ thấy rằng nếu mình có hành vi gây thiệt hại thì cũng sẽ chịu sự xử lý củapháp luật
Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn có ý nghĩa trongviệc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua những biện pháp chế tàinghiêm khắc Ngoài ra, ý thức pháp luật của người dân cũng ngày một đượcnâng cao hơn
1.2 SO SÁNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM TÀI SẢN VỚI TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM CÁC QUYỀN NHÂN THÂN
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng rất đa dạng, mộttrong những sự đa dạng đó là đối tượng bị thiệt hại Đối tượng bị thiệt hại cóthể là tài sản, nhưng cũng có thể là tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
uy tín (sự cụ thể hóa các quyền nhân thân được pháp luật bảo hộ) Chúng ta
có thể thấy rõ sự giống và khác nhau giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại doxâm phạm tài sản với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm cácquyền nhân thân qua sự phân tích dưới đây
Trang 131.2.1 Những điểm giống nhau
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với trách nhiệmbồi thường do xâm phạm các quyền nhân thân đều là một loại trách nhiệmpháp lý Đây chính là thái độ của Nhà nước đối với hành vi vi phạm và hậu quảcủa hành vi đó gây ra Cả hai loại trách nhiệm này đều là biện pháp cưỡng chếcủa Nhà nước được áp dụng đối với người vi phạm, buộc người vi phạm phảichịu trách nhiệm về hành vi của mình
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản với trách nhiệmbồi thường do xâm phạm các quyền nhân thân đều là một loại trách nhiệmpháp lý nên chỉ phát sinh khi và chỉ khi dựa trên các căn cứ do pháp luật quiđịnh Những căn cứ đó được xác định cụ thể như: có thiệt hại, có hành vi tráipháp luật gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật vàthiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại
Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tài sản vớitrách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền nhân thân còn có nhữngđiểm giống nhau liên quan đến hậu quả (trách nhiệm vật chất), những trườnghợp được loại trừ, những trường hợp không được loại trừ
1.2.2 Những điểm khác nhau
Bên cạnh những điểm giống nhau, trách nhiệm bồi thường thiệt hại doxâm phạm tài sản với trách nhiệm bồi thường do xâm phạm các quyền nhânthân còn có những điểm khác biệt, chúng ta có thể thấy sự khác biệt này quabảng so sánh dưới đây:
TIÊU CHÍ
SO SÁNH
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM
Trang 14XÂM PHẠM TÀI SẢN CÁC QUYỀN NHÂN THÂN
1 Căn cứ phát sinh Phát sinh trong hợp đồng
hoặc ngoài hợp đồng Chỉ phát sinh ngoài hợp đồng
2 Đối tượng bị
xâm hại Tài sản (Khái niệm tài sảnđược quy định tại Điều 163
Bộ luật dân sự: "Tài sản bao
gồm vật, tiền, giấy tờ có giá
và các quyền tài sản")
Các quyền nhân thân được pháp luật qui định và bảo vệ
3 Thiệt hại phải
bồi thường Thiệt hại vật chất - Thiệt hại vật chất; và- Thiệt hại tinh thần.
4 Hậu quả pháp
lý được áp dụng
Bồi thường thiệt hại - Bồi thường; và/
- Xin lỗi; hoặc/
- Cải chính công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng
5 Thay đổi chủ thể Có thể có sự thay đổi chủ thể:
chuyển giao quyền yêu cầu hoặc chuyển giao nghĩa vụ
Không thể thay đổi chủ thể, không thể chuyển giao quyền yêu cầu, Điều 309 khoản 1 điểm a Bộ luật
dân sự quy định: "1 Bên có quyền
yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân
sự có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận, trừ những trường hợp sau đây: a) quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;…"
Trang 152.1 CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO SỨC KHỎE VÀ TÍNH MẠNG BỊ XÂM PHẠM
Là một loại trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉphát sinh khi thỏa mãn các căn cứ do pháp luật qui định Việc xác định căn
cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại có ý nghĩa hết sức quan trọng:
là cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, mức bồi thường Cơ sở phátsinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đề cập tại Điều 307 (Trách nhiệmbồi thường thiệt hại) và Điều 604 (Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
Trang 16thiệt hại) của Bộ luật dân sự năm 2005 Như vậy, trên cơ sở qui định tại haiđiều luật này, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xácđịnh gồm 4 điều kiện:
• Phải có thiệt hại xảy ra;
• Phải có hành vi gây thiệt hại;
• Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả xảy ra;
• Người gây thiệt hại phải có lỗi
2.1.1 Phải có thiệt hại xảy ra
Đây là điều kiện tiên quyết, điều kiện quan trọng nhất của trách nhiệmbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bởi nếu không có thiệt hại thì trách nhiệmbồi thường thiệt hại không bao giờ phát sinh Mục đích của trách nhiệm bồithường thiệt hại là khôi phục, bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hại, do
đó phải có thiệt hại thì mục đích đó mới đạt được
Nếu thiệt hại do tài sản bị xâm phạm thì việc xác định "có thiệt hại" làvấn đề không mấy khó khăn, tuy nhiên trường hợp sức khỏe, tính mạng bịxâm phạm thì thiệt hại sẽ khó xác định, bởi chúng ta không thể "lượng hóa"được thiệt hại trong trường hợp này Vậy có thể hiểu thiệt hại là gì? Thiệt hại
có thể được hiểu theo hai khía cạnh: xã hội và pháp lý
Theo ý nghĩa xã hội, mỗi hành vi trái pháp luật đều gây thiệt hại, bởi
nó làm ảnh hưởng đến những quan hệ xã hội nhất định
Theo luật dân sự Việt Nam thì thiệt hại là những tổn thất thực tế đượctính thành tiền do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín,tài sản của cá nhân và các chủ thể khác Tổn thất thực tế được đề cập ở đây
Trang 17là sự giảm sút, mất mát về lợi ích vật chất, tinh thần, hay những chi phí đểngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu.
Những thiệt hại thực tế xảy ra có thể là thiệt hại vật chất hoặc tinhthần Thiệt hại vật chất là thiệt hại được biểu hiện cụ thể như tài sản đã mấtmát, những chi phí cần thiết để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế tài sản
bị hư hỏng, những khoản thu nhập thực tế bị mất
Khi một người có hành vi trái pháp luật gây ra những thiệt hại về tínhmạng, sức khỏe của người khác thì thiệt hại được xác định như thế nào?Tính mạng, sức khỏe của con người là vô giá không thể tính thành tiền, dovậy bồi thường thiệt hại ở đây không phải là bồi thường về tính mạng, sứckhỏe mà nó là những bồi thường thiệt hại vật chất Những chi phí cho việccứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng cho bên bị thiệt hại hoặcnhững chi phí cần thiết khác
Theo thông tư 173/UBTP-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao ngày
23/3/1972 hướng dẫn thì thiệt hại được xác định: "Đó là thiệt hại vật chất, biểu hiện cụ thể là thiệt hại về tài sản hoặc những chi phí và những thu nhập
bị mất, do có sự thiệt hại về tính mạng, sức khỏe đưa đến Thiệt hại đó phải thực sự xảy ra và tính toán được".
Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 ghi nhận việcbuộc người gây thiệt hại "bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất vềtinh thần" cho người bị thiệt hại, người thân của họ
Pháp luật về dân sự nói chung, chế định bồi thường thiệt hại do danh
dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm nói riêng là những vấn đề rất nhạy cảm và
vô cùng phức tạp, bởi vì những thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vậtchất, không thể có công thức chung để quy ra tiền áp dụng cho các trường
Trang 18hợp Việc giải quyết bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thầncũng chỉ nhằm an ủi, động viên làm dịu đi nỗi đau cho chính nạn nhân Đây làvấn đề rất khó, nhưng cho đến nay, về căn bản các cơ quan có thẩm quyềnchưa có ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể để áp dụng cho thống nhất, vì vậykhi vận dụng vào thực tiễn còn gây nhiều tranh cãi, chưa thống nhất.
Trên thế giới, thiệt hại về tinh thần đã được một số nước ghi nhận từlâu như Liên Xô, Cộng hóa Liên bang Đức Trong cuốn "Trách nhiệm phátsinh do gây thiệt hại" (Nhà xuất bản LGU, Lêningrat, 1973), tác giả Smirnốp
T.V khẳng định: "Nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu vật chất, văn hóa, tinh thần của công dân Xô viết, về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ chỉ là thực hiện đầy đủ khi người bị thiệt hại được bồi thường không những thiệt hại về vật chất mà cả thiệt hại về tinh thần" Tại khoản 3, Điều 307 Bộ luật dân sự của nước ta quy định: "Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại" Như vậy, thiệt hại được hiểu là ngoài những thiệt hại vật chất còn có
những thiệt hại về tinh thần
Thiệt hại xảy ra được đánh giá một cách khách quan, trung thực, đảmbảo công bằng xã hội Trên thực tế, mọi thiệt hại đều mang tính khách quan,tuy nhiên, tiên lượng và đánh giá tính khách quan của sự thiệt hại lại thôngqua ý thức chủ quan của con người Điều đó có nghĩa là trong điều kiện, hoàncảnh thực tế như vậy ai cũng công nhận thiệt hại là có và mọi người đều chấpnhận việc đánh giá mức độ thiệt hại Nhưng nhìn chung thì người bị thiệt hại
có thể phức tạp hóa vấn đề lên, như khai tăng giá trị thiệt hại còn người gâythiệt hại có chiều hướng đơn giản hóa Vì vậy mà người có vai trò đánh giá
Trang 19thiệt hại, đại diện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền là rất quan trọng.Nhìn nhận và đánh giá thiệt hại dựa trên cơ sở pháp luật quy định để xem xét
có thiệt hại xảy ra hay không, mức độ thiệt hại như thế nào
Thiệt hại phải tính toán được tương đương với một số lượng tiền xácđịnh mới đảm bảo đầy đủ cơ sở cho việc bồi thường Tuy nhiên, đối với thiệthại về mặt tinh thần không thể tính toán bằng tiền Hơn thế đây là khái niệmcòn khá trừu tượng, bởi "tinh thần" thì làm sao có thể cân, đo, đong, đếm cụthể để xác định thiệt hại, do vậy Tòa án chỉ có thể căn cứ vào từng trường hợp
cụ thể xác định số tiền bù đắp tổn thất về mặt tinh thần, nhằm đảm bảo quyềnlợi của người bị nạn và gia đình họ, khắc phục phần nào hậu quả xảy ra Tòa
án cũng chỉ chấp nhận những thiệt hại hợp lý mà thôi, những thiệt hại mangtính suy diễn như: "Tôi là người không bao giờ bị tai nạn, trong tháng này tôibắt được 5 triệu đồng" hay "thu nhập của một người nông dân ở vùng quênghèo là từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng /tháng"
Có thiệt hại tức là những tổn thất thực tế, tồn tại khách quan và phảitính được bằng một số tiền cụ thể nhất định, còn những thiệt hại mang tínhsuy diễn, chủ quan sẽ không được thừa nhận nếu không có căn cứ xác đáng
Như vậy, thiệt hại về vật chất là những thiệt hại trị giá được bằng tiền,
đó là thiệt hại thông thường trong các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại Đó lànhững thiệt hại vật chất trong các thiệt hại về tài sản, về tính mạng, sức khỏe,danh dự, uy tín, nhân phẩm…
Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không thể có côngthức chung để quy thành tiền áp dụng cho mọi trường hợp Việc giải quyết bồithường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần tùy vào từng trường hợp
cụ thể nhằm mục đích an ủi, động viên và phần nào đó tạo điều kiện để có thể
Trang 20khắc phục khó khăn, làm dịu đi nỗi đau cho chính người bị thiệt hại hay chonhững người thân thích của họ.
Thiệt hại về tinh thần là sự thiệt hại về giá trị tinh thần, tình cảm hoặc
sự suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân Hình thức biểu hiện thiệt hại vềtinh thần rất đa dạng như: Sự suy sụp tâm lý của người bị thiệt hại sau khi sứckhỏe bị xâm phạm làm cho bị tàn tật, bị biến dạng bề ngoài (ví dụ như bị sẹo
ở mặt, bị gãy chân làm cho người bị thiệt hại đi cà nhắc )
Ngoài những thiệt hại về tinh thần mà bản thân người bị thiệt hạiphải gánh chịu thì có những trường hợp người thân thích của họ cũng phảigánh chịu tổn thất về tinh thần này Ví dụ, đó có thể là sự suy sụp, hoangmang, lo lắng, sự đau thương của những người thân thích với cái chết củanạn nhân Khác với thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần không có tiêu chíchung để xác định cho mọi cá nhân bởi điều kiện, hoàn cảnh của từng cánhân là không giống nhau, nhưng thiệt hại về tinh thần thường đi kèm vớithiệt hại vật chất
Điều 710 Bộ luật dân sự của Nhật Bản quy định: "Một người chịu trách nhiệm về thiệt hại theo quy định của Điều 709 phải bồi thường cả về thiệt hại phi vật chất bất kể thiệt hại như vậy xảy ra đối với quyền lợi, uy tín, hoặc tài sản của người khác".
Ngoài ra, muốn bồi thường, sự thiệt hại phải thỏa mãn các điều kiện:thiệt hại phải chắc chắn, nhất định, thực tế và chưa được bồi thường
Nói đến sự thiệt hại chắc chắn, nhất định, thực tế là nói đến một sựthiệt hại đã xảy ra, hoặc chưa xảy ra nhưng nhất định sẽ xảy ra và có thể ướclượng được Để chứng minh sự thiệt hại chắc chắn, người bị thiệt hại phải đưa
ra những chứng cứ cần thiết và tin cậy như: hóa đơn chứng từ thanh toán
Trang 21những chi phí hợp lý nhằm cứu chữa, phục hồi sức khỏe…Một sự thiệt hạikhông chắc chắn xảy ra hoặc chỉ có tính chất giả định hoặc chỉ là mất đi một
cơ may thì không được bồi thường (Theo Bộ luật dân sự Nhật Bản thì việc
"mất đi một cơ may" được coi là một yếu tố cấu thành thiệt hại).
Bồi thường thiệt hại chính là nhằm khôi phục lại toàn bộ hoặc mộtphần tình trạng tài sản trước khi xảy ra thiệt hại hoặc bù đắp những tổn thất
do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, bị xâm phạm nên thiệt hại đượccoi là điều kiện có ý nghĩa quan trọng Không thể bồi thường thiệt hại khikhông có thiệt hại xảy ra
Thiệt hại được hiểu là: bị tổn thất, hư hao về người và tài sản và đượcxác định bằng một khoản tiền cụ thể Thiệt hại gây ảnh hưởng đến các quan
hệ kinh tế - xã hội được pháp luật bảo vệ, đồng thời cũng phản ánh hậu quảcủa hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cánhân, tổ chức, pháp nhân cũng như của Nhà nước
Pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận có thiệt hại về tinh thần, tuynhiên có quan điểm cho rằng thiệt hại về tinh thần chỉ là khái niệm xã hội và
ở phạm vi tình cảm Nhưng có quan điểm cho rằng, bồi thường bằng tiền cóthể khắc phục phần nào thiệt hại về tinh thần, không thể dùng tiền bù đắpđược Tuy nhiên, pháp luật dân sự Việt Nam quy định mức tiền bồi thườngthiệt hại về tinh thần tại khoản 2 Điều 609 và khoản 2 Điều 610 Nghị quyết số03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 08tháng 7 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số qui định của Bộ luật dân sự năm
2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đã có sự hướng dẫn cụ thể
về bồi thường tổn thất tinh thần
Trang 22Buộc người xâm phạm đến sức khỏe người khác phải bồi thường mộtkhoản tiền bù đắp tổn thất về mặt tinh thần cho người bị thiệt hại và chonhững người thân thích của người bị thiệt hại trong vụ bị xâm phạm tínhmạng là phù hợp cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với phong tục tập quán,truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc Việt Nam.
2.1.2 Phải có hành vi gây thiệt hại
Hành vi gây thiệt hại trước tiên phải là hành vi pháp luật cấm thực hiện,nếu hành vi đó được thực hiện mà pháp luật không cấm thì người thực hiện hành
vi đó không phải bồi thường thiệt hại Không thể có người gây thiệt hại khikhông có hành vi gây thiệt hại Hành vi gây thiệt hại là hành vi có ý thức của conngười diễn ra trái với qui định của pháp luật và gây thiệt hại tới các đối tượngđược pháp luật bảo vệ Hành vi gây thiệt hại có thể bằng hành động hoặc khônghành động, hành động và không hành động đều là những biểu hiện của conngười ra ngoài thế giới khách quan, được ý thức kiểm soát, lý trí điều khiển vàđều có khả năng làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động,gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Hành động gây thiệthại có thể là tác động trực tiếp của chủ thể vào đối tượng gây thiệt hại hoặc cóthể là tác động gián tiếp của chủ thể vào đối tượng thông qua công cụ, phươngtiện gây thiệt hại Không hành động gây thiệt hại là một hình thức của hành vigây thiệt hại, nó làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động,gây thiệt hại cho khách thể bằng việc chủ thể không làm một việc pháp luậtquy định bắt buộc phải làm mặc dù có đầy đủ điều kiện để làm việc đó
Thực tế thì việc xác định hành vi gây thiệt hại bằng hành động khôngkhó, bởi vì nó tác động trực tiếp đến đối tượng bị thiệt hại như: bắn, đâm,chém… Nhưng ở dạng không hành động hoặc được thực hiện thông qua hành
Trang 23vi của người khác thì cần phải xác định mối quan hệ giữa thiệt hại với hành vicủa người gây thiệt hại và trách nhiệm, nghĩa vụ của họ đối với thiệt hại xảy
ra Ví dụ: người gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng, do tình thế cấp thiết thìkhông phải bồi thường Tuy nhiên, nếu hành vi phòng vệ chính đáng và tìnhthế cấp thiết đó mà vượt quá giới hạn cho phép thì các hành vi bị coi là tráipháp luật và phải bồi thường
Trước khi có Bộ luật dân sự thì ngành Tòa án thường căn cứ vàoThông tư số 173/UBTP-TANDTC ngày 23/3/1972 của Tòa án nhân dân tốicao để giải quyết các quan hệ pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoàihợp đồng Theo tinh thần nội dung Thông tư thì hành vi trái pháp luật trong
quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: "Có thể là một việc phạm pháp
về hình sự, một vi phạm pháp luật về dân sự, một vi phạm đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước hoặc một vi phạm quy tắc sinh hoạt xã hội".
Như vậy, khi xác định hành vi gây thiệt hại cho người bị thiệt hại đểphát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chúng ta có thể thấy có những đặcđiểm của hành vi trái pháp luật gây thiệt hại:
Thứ nhất, hành vi gây thiệt hại phải trái pháp luật, nếu không trái pháp
luật thì không phải bồi thường mặc dù có thiệt hại xảy ra Hành vi trái phápluật ở đây được hiểu là hành vi vi phạm các qui định của pháp luật, ngoài ranhững hành vi vi phạm các qui tắc xử sự sinh hoạt trong đời sống cũng có thểcoi là hành vi trái pháp luật nếu gây ra thiệt hại Những hành vi gây thiệt hạinhưng do yêu cầu của nghề nghiệp hoặc gây thiệt hại theo bản án, quyết địnhcủa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì không phải là hành vi trái pháp luật
Ví dụ: để cứu chữa bệnh nhân tránh vết thương bị hoại tử, bác sĩ phải cắt bỏchân của bệnh nhân, những người phá dỡ các công trình xây dựng trái phép,những người thi hành án tử hình
Trang 24Thứ hai, hành vi trái pháp luật có thể được thể hiện dưới dạng hành
động hoặc dưới dạng không hành động
Thứ ba, hành vi gây thiệt hại là hoạt động có ý thức và ý chí Không
thể có hành vi gây thiệt hại mà những biểu hiện bên ngoài của nó không được
ý thức của chủ thể kiểm soát hay không được ý chí của họ điều khiển
2.1.3 Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi gây thiệt hại
Mối quan hệ nhân quả là sự liên hệ giữa hai hiện tượng trong đó cóchứa đựng nguyên nhân và kết quả Phải có sự vận động của hiện tượng là nguyênnhân trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể mới nảy sinh hiện tượng là kết quả.Hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại là hậu quả Xét vềnguyên tắc, nguyên nhân phải xảy ra trước kết quả trong khoảng thời gian xácđịnh và hành vi trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp (nguyên nhân quyết địnhđối với thiệt hại xảy ra) Có nghĩa là thiệt hại đã có sẵn cơ sở trong hành vi Mộthành vi vi phạm nhất định trong một điều kiện xác định thì chỉ làm nảy sinh rahậu quả này chứ không phải là hậu quả nào khác Thiệt hại xảy ra phải đúng làkết quả tất yếu của hành vi vi phạm và ngược lại, nếu không có hành vi thìthiệt hại sẽ không xảy đến Nếu không xác định được mối quan hệ này sẽ khôngxác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có hành vi vi phạm vàkhông buộc được người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại
Nếu chúng ta làm rõ được mối quan hệ nhân quả, sẽ trả lời được haicâu hỏi được đặt ra:
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại có phát sinh không?
Trang 25- Mức bồi thường thiệt hại được xác định như thế nào nếu nhiều ngườigây thiệt hại cho một người hoặc cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hạiđều có lỗi?
Trong thực tế mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy
ra biểu hiện rất phức tạp
Một hành vi trái pháp luật cũng có thể gây nhiều thiệt hại vừa về vậtchất, vừa về tinh thần Có trường hợp thiệt hại xảy ra do một hành vi trái phápluật khác xen vào gây ra chứ không phải do hành vi có chứa đựng khả năngthực tế làm phát sinh thiệt hại
Ví dụ: A gây thương tích cho B, B được mọi người đưa vào cơ sở y tếcấp cứu Với tình trạng vết thương như vậy thì hoàn toàn có thể cứu chữađược người bị hại Tuy nhiên, do tắc trách trong quá trình cứu chữa (bác sĩ đãkhông vô trùng dụng cụ cứu chữa) nên vết thương của B bị nhiễm trùng dẫntới hậu quả là B bị chết
Cần phân biệt giữa nguyên nhân và điều kiện: nguyên nhân trực tiếpgây ra thiệt hại, điều kiện không trực tiếp gây thiệt hại nhưng có tác động đểcho thiệt hại xảy ra nhanh hơn Vậy trong mối quan hệ nhân quả, nguyên nhân
là yếu tố quyết định còn điều kiện là yếu tố quan trọng dẫn đến kết quả.Nguyên nhân và điều kiện trong mối quan hệ nhân quả có thể là một haynhiều hiện tượng, nhưng giữa chúng có một điểm khác nhau ở chỗ quan hệvới hậu quả xảy ra Nếu không có nguyên nhân thì không có hiện tượng, sựvật xảy ra và cũng không tồn tại một điều kiện Nhưng nhiều trường hợp cónguyên nhân xảy ra nhưng không có kết quả nếu không có điều kiện
Về nguyên tắc thì không có việc hiện tượng này chỉ là nguyên nhâncòn hiện tượng kia chỉ là điều kiện Mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa rất quan
Trang 26trọng trong việc xác định thiệt hại.Về mặt lý luận cũng như thực tế để xácđịnh mối quan hệ nhân quả là một vấn đề tương đối khó khăn Bởi vì sự thiệthại thông thường thì do nhiều nguyên nhân chứ không chỉ do một nguyênnhân gây ra Các nguyên nhân này không tồn tại độc lập mà phối hợp vớinhau phát sinh ra kết quả, nếu thiếu một trong các nguyên nhân thì không cókết quả xảy ra Tuy nhiên, mức độ tác động của từng nguyên nhân đối với kếtquả có thể là khác nhau, sự khác nhau này đã tạo ra vai trò chủ yếu và thứ yếucủa từng nguyên nhân Trong thực tiễn thì thiệt hại có thể có nhiều nguyênnhân, vậy xác định nguyên nhân nào là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp,nguyên nhân nào là nguyên nhân thứ yếu và gián tiếp, một thiệt hại có thể kéotheo nhiều thiệt hại khác, thiệt hại đầu tiên có coi là nguyên nhân của thiệt hạisau hay không Chúng ta không thể căn cứ vào thứ tự trước sau của hành vigây thiệt hại để xác định nguyên nhân chủ yếu hay thứ yếu được, nhất là trongcác vụ án có nhiều người tham gia.
Tóm lại, mối quan hệ nhân quả là sự tồn tại khách quan, không phụthuộc vào ý chí của con người, khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi vi phạm và thiệt hại xảy ra phải bảo đảm tính khách quan, phải đặt trongmối liên hệ tất nhiên, nội tại của các hiện tượng chứ không được chủ quan màxác định quan hệ nhân quả
2.1.4 Người gây thiệt hại có lỗi
Lỗi thể hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý Khoản 2 Điều 309quy định:
Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện
Trang 27và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi trái pháp luật củamình và đối với thiệt hại do hành vi gây nên, người có hành vi trái pháp luậtgây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi vi phạm của mìnhgây ra khi họ có lỗi Lỗi được cấu thành bởi hai yếu tố đó là lý trí và ý chí Lýtrí là sự thể hiện năng lực nhận thức thực tại khách quan, còn ý chí là yếu tốbiểu hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở nhận thức thực tại khách quan
Có thể xem xét hành vi của người gây thiệt hại trên các mặt sau:
- Nhận thức của người gây thiệt hại;
- Hành vi gây thiệt hại có đúng pháp luật hay trái pháp luật;
- Hành vi cụ thể của người gây thiệt hại
Nếu xét lỗi dưới góc độ quan hệ của cá nhân thì lỗi của người gâythiệt hại là sự biểu hiện quan hệ giữa bản thân người gây thiệt hại và xã hội
mà nội dung của nó là sự phủ định chủ quan những quy tắc ứng xử chung của
xã hội, đòi hỏi cá nhân phải tôn trọng được thể hiện bằng các quy định củapháp luật
Để bảo vệ triệt để lợi ích của người bị thiệt hại trong quan hệ giữa cáccông dân với nhau và đặc biệt là trong quan hệ giữa công dân với Nhà nước,
Trang 28xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng,quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, pháp luật dân sự quy định lỗi cóthể được suy đoán từ ba điều kiện trên Như vậy, có thể nói rằng: trách nhiệmhình sự, trách nhiệm dân sự hay bất cứ trách nhiệm pháp lý nào khác nào đềuphải dựa trên cơ sở lỗi Một người gây thiệt hại mà không có lỗi thì dù thiệthại tới mức nào cũng không phải bồi thường - đó là nguyên tắc (trường hợpphòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ, tình thế cấp thiết, lỗi hoàn toàn dongười bị thiệt hại gây ra).
Lỗi cố ý biểu hiện trạng thái tâm lý của một người biết hành vi củamình là sai, thấy rõ hậu quả của hành vi đó, mong muốn cho hậu quả xảy rahoặc không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả của hành vi đóxảy ra Lỗi vô ý là biểu hiện trạng thái tâm lý của người gây thiệt hại, thấytrước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệthại đó không thể xảy ra hoặc có thể xảy ra nhưng ngăn ngừa được
Lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức độ bồi thường thiệthại Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi cố ý của người bị thiệt hại thìngười gây thiệt hại không có trách nhiệm phải bồi thường Mức độ bồi thườngphụ thuộc vào mức độ lỗi của người gây thiệt hại Khi nghiên cứu về lỗi vô ý
có thể chia lỗi vô ý ra làm hai loại:
- Vô ý vì cẩu thả
- Vô ý vì quá tự tin
Vô ý cẩu thả là trường hợp người có hành vi vi phạm mặc dù có thểthấy trước và phải thấy trước thiệt hại có thể xảy ra
Trang 29Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người có hành vi vi phạm thấy trướckhả năng hành vi của mình có thể gây thiệt hại và không mong muốn thiệt hạixảy ra nhưng lại tin là có thể ngăn chặn được.
Sự khác nhau giữa vô ý vì cẩu thả và vô ý vì quá tự tin ở chỗ: người
có hành vi vi phạm với lỗi vô ý vì quá tự tin là họ nhận thấy trước được hành
vi của họ có thể gây thiệt hại, còn người có hành vi vi phạm với lỗi cẩu thảkhông nhận thức được thiệt hại có thể xảy ra, trong cả hai trường hợp thìngười có hành vi vi phạm không mong muốn thiệt hại xảy ra
Trong dân sự thì dù lỗi cố ý hay lỗi vô ý đều phải chịu trách nhiệm bồithường Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 623 Bộ luật dân sự quy định:
3 Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi trừ các trường hợp:
a Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại.
b Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Như vậy, ngoài nguyên tắc "phải có lỗi" Bộ luật dân sự còn quy định
cả trường hợp không có lỗi người gây ra thiệt hại vẫn phải bồi thường
Khoản 4 Điều 623 Bộ luật dân sự quy định:
4 Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu,
sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy
Trang 30hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
Cũng do quy định này mà các Thẩm phán khi xét xử có cách hiểukhác nhau cho nên dẫn đến có nhiều cách giải quyết khác nhau Thực tế cóviệc giải quyết khác nhau là do cần phải phân biệt trường hợp nào chủ sở hữungười được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độphải bồi thường thiệt hại với trường hợp nào họ không phải bồi thường cả khi
họ không có lỗi Vậy nên chăng Bộ luật dân sự chỉ nên quy định việc bồithường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà không cần phải quyđịnh chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguyhiểm cao độ gây ra thiệt hại cả khi họ không có lỗi
Như vậy, lỗi là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng Vì vậy, cần phân biệt các hình thức lỗi để xác định mức
độ lỗi trên cơ sở đó ấn định mức bồi thường
2.2 CÁC CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
2.2.1 Pháp nhân - chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại
Khi chưa có Bộ luật dân sự 1995, trách nhiệm của pháp nhân và cánhân được quy định tại Thông tư 173/UBTP-TANDTC của Tòa án nhân dântối cao ngày 23/3/1972 Theo tinh thần của Thông tư này thì công nhân viênchức hay một người đại diện hợp pháp của xí nghiệp, cơ quan trong khi thihành nhiệm vụ, do hành vi liên quan chặt chẽ đến công tác, được xí nghiệp,
cơ quan phân công mà gây thiệt hại theo chế độ trách nhiệm dân sự, rồi sau
đó có quyền đòi hỏi họ hoàn trả việc bồi thường đó theo quan hệ lao động
Trang 31Trong trường hợp công nhân viên chức hoặc đại diện của xí nghiệp,
cơ quan lợi dụng nhiệm vụ do hành vi không liên quan đến công việc đượcphân công, để mưu lợi riêng mà gây thiệt hại cho người khác thì cá nhân họphải bồi thường
Điều 618 Bộ luật dân sự quy định: "Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại
do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao Nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật".
Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền vànghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhântrong giao dịch dân sự Trong quan hệ dân sự pháp nhân có thể đại diện dopháp luật quy định hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặcđược xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện.Pháp nhân chỉ bồi thường thiệt hại trong trường hợp người của pháp nhânquản lý gây thiệt hại
Ví dụ: A là lái xe của công ty B, trên đường đi công tác gây tai nạn.Trong trường hợp này thì công ty B phải bồi thường toàn bộ thiệt hại
Có trường hợp tuy người đó là người của pháp nhân quản lý gây thiệthại nhưng không phải bồi thường Cũng như ví dụ nêu trên, nhưng sau khihoàn thành công việc công ty giao cho, A đã lái xe tranh thủ về thăm quê vàtrên đường về quê đã gây ra tai nạn, trong trường hợp này thì A phải có tráchnhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại, công ty B không phải chịu trách nhiệmbồi thường thiệt hại
Người của pháp nhân quản lý không phải chịu trách nhiệm thay chopháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện Trong
Trang 32trường hợp người của pháp nhân quản lý lợi dụng nhiệm vụ được cơ quan chủquản giao nhưng lại làm một việc vì mục đích cá nhân mà gây thiệt hại thìphải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra.
2.2.2 Cá nhân - chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại
Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia quan hệ dân
sự, Bộ luật dân sự quy định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hạicủa cá nhân phụ thuộc vào các mức độ năng lực hành vi dân sự, khả năng bồithường và tình trạng tài sản của cá nhân
Khoản 1 Điều 606 Bộ luật dân sự quy định: "Người từ đủ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường".
Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có khảnăng bằng chính hành vi của mình xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự(Điều 17 Bộ luật dân sự)
Trên thực tế, khi xét xử đối với người gây thiệt hại từ đủ 18 tuổi trở lên,chưa có việc làm, không có thu nhập, không có tài sản đáng kể và đang sốngchung với cha mẹ, thì Tòa án vẫn xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hạiđối với họ và trong quá trình giải quyết vẫn thừa nhận sự tự nguyện của cha
mẹ người gây thiệt hại bồi thường thay cho con, nhưng về mặt luật pháp thìkhông thể buộc họ bồi thường Thực tế xảy ra cho thấy có người đủ 18 tuổigây thiệt hại nhưng đang học ở một trường nào đó, chưa có tài sản, không cóthu nhập đang phải sống nhờ vào cha, mẹ chu cấp tiền ăn học thì khi thụ lý cơquan Tòa án nên hòa giải, động viên cha mẹ người gây thiệt hại bồi thường
"Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha,
mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, nếu tài sản của cha, mẹ
Trang 33không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu".
Trong cuộc sống phần lớn người dưới mười lăm tuổi không có tài sản
và sự tự lập về kinh tế Điều đó không có nghĩa là tất cả những người này đềukhông có tài sản riêng mà thực tế có nhiều trường hợp những người này đã cótài sản riêng do được hưởng thừa kế, được tặng cho tài sản Nhưng về mặtpháp lý thì khi những người này gây thiệt hại thì cha, mẹ vẫn là những ngườiphải bồi thường thay, chỉ trừ khi việc bồi thường còn thiếu thì mới lấy tài sảnriêng của con bồi thường cho đủ
"Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình Nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình".
Theo luật Bộ luật lao động thì: Người từ đủ mười lăm tuổi trở lên cóthể được tham gia vào quan hệ lao động để có thu nhập và có tài sản riêng cóthể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha, mẹ quản lý và cha, mẹ hoàntoàn có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con Tuy nhiên, những người
ở độ tuổi này chưa đầy đủ về năng lực hành vi dân sự nên phải có người đạidiện cho mình trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự; vì vậy,cha, mẹ của người từ đủ mười lăm đến dưới mười tám tuổi vẫn phải chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại do con mình gây ra
Xem xét hai trường hợp người dưới mười lăm tuổi và người từ đủ mườilăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại với trường hợp người gâythiệt hại là người mất năng lực hành vi dân sự thì nếu những người này có cánhân, tổ chức giám hộ thì cá nhân tổ chức đó được dùng tài sản của ngườiđược giám hộ để bồi thường Khoản 3 Điều 606 Bộ luật dân sự quy định:
Trang 34Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Xuất phát từ qui định trên đây của Bộ luật dân sự, một vấn đề nảy sinhlà: Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám
hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường Vậy trong trường hợpnày sẽ lấy tài sản ở đâu để bồi thường, ai là người phải bồi thường cho người
bị thiệt hại Theo chúng tôi cần có qui định cụ thể trong trường hợp này,chẳng hạn coi đó là rủi ro và người bị thiệt hại phải gánh chịu thiệt hại
2.3 NGUYÊN TẮC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
Khi giải quyết các vụ án liên quan đến sức khỏe và tính mạng bị xâmphạm các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải tuân thủnguyên tắc về bồi thường thiệt hại Dưới góc độ lý thuyết thì nguyên tắc là các
tư tưởng pháp lý chỉ đạo có ý nghĩa bao trùm, xuyên suốt trong quá trình banhành văn bản pháp luật cũng như áp dụng pháp luật các chủ thể phải tuân theo
Điều 605 Bộ luật dân sự quy định:
1 Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trang 352 Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.
3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
Bộ luật dân sự 2005 đã bổ sung nguyên tắc "bồi thường một lần hoặcnhiều lần" Việc bổ sung điều kiện này tạo cho người gây thiệt hại và người bịthiệt hại tự do thỏa thuận theo hoàn cảnh kinh tế và khả năng của mình
Các nguyên tắc bồi thường thiệt hại được qui định tại Điều 605 Bộluật dân sự thể hiện sự công bằng hợp lý của pháp luật dân sự, bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, pháp nhân khi bị xâm phạm, đồng thờicũng thể hiện sự công bằng đối với người gây thiệt hại, đó là người gây thiệthại chỉ phải chịu trách nhiệm về mức độ lỗi mà mình gây ra
2.3.1 Nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời
Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là buộcngười gây thiệt hại phải bù đắp, khắc phục những thiệt hại đã xảy ra cho người
bị thiệt hại, do đó người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại chongười bị thiệt hại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người bị thiệt hại Khoản 1Điều 605 2.3.1 nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời quy định: "Thiệthại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời" Theo Từ điển giải thích từ ngữLuật học của trường Đại học Luật Hà Nội năm 1999 thì cụm từ: "Bồi thường
thiệt hại" được hiểu là: "Hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có
Trang 36hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại".
Vậy hiểu thế nào là "toàn bộ" và "kịp thời"?
Theo chúng tôi thì "toàn bộ" là tất cả các phần, bộ phận của một chỉnhthể Bồi thường toàn bộ thiệt hại là nguyên tắc công bằng hợp lý phù hợp mụcđích cũng như chức năng khôi phục Điều này có nghĩa cực kỳ quan trọng khixác định bồi thường thiệt hại về tính mạng và sức khỏe trong việc cứu chữa,hạn chế thiệt hại bởi các chi phí cứu chữa thường rất cao, trong một số trườnghợp vượt quá khả năng của người bị thiệt hại
Bồi thường "kịp thời" là không chậm trễ, có thể người gây thiệt hạiphải bồi thường ngay mà không cần chờ quyết định của Tòa án Ngành Tòa áncũng nên áp dụng triệt để nguyên tắc này khi giải quyết các vụ việc liên quanđến tính mạng và sức khỏe bị xâm phạm nhằm bảo vệ quyền và lợi ích phápcủa người bị thiệt hại một cách nhanh nhất đồng thời ngăn chặn sự dây dưa,chây ỳ không chịu bồi thường của người gây thiệt hại
Trong trường hợp người gây thiệt hại có khả năng về kinh tế nhưng khôngchịu bồi thường ngay để chữa chạy cho người bị thiệt hại thì tùy từng trườnghợp cơ quan tiến hành tố tụng có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấptạm thời buộc người gây thiệt hại phải bồi thường ngay cho người bị thiệt hại
Ví dụ: Một người bị thiệt hại đang được cứu chữa trong cơ sở y tế bởihành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại và có thể phải điều trị thời gian dài,nhưng người bị thiệt hại do hoàn cảnh khó khăn không thể đáp ứng ngay được.Trong trường hợp này nếu người gây thiệt hại không tự nguyện bồi thường do hành
vi của mình gây ra thì Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộcngười gây thiệt hại phải bồi thường ngay một khoản tiền cho người bị thiệt hại
Trang 37Bồi thường thiệt hại được xác định theo nguyên tắc: người gây thiệthại bao nhiêu thì phải bồi thường bấy nhiêu (bồi thường toàn bộ thiệt hại).Thiệt hại xảy ra có thể là tài sản, sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm (Điều608; Điều 609; Điều 610 Bộ luật dân sự) tùy từng trường hợp có thể áp dụngbồi thường thiệt hại về tinh thần (khoản 2 Điều 609; khoản 2 Điều 610 Bộluật dân sự); chúng ta không chấp nhận những chi phí, thiệt hại không thực tế
và thiệt hại được suy diễn chủ quan
Nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời cũng đã được hướng dẫn trongNghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP-TANDTC ngày 8/7/2006 của Hội đồng Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao Tuy nhiên, để áp dụng nguyên tắc này trong thựctiễn xét xử phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, của toàn xã hội
Nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời không hạn chế sự tự nguyệnthỏa thuận việc bồi thường giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại Đồngthời nghiêm cấm sự ép buộc thỏa thuận và việc thỏa thuận đó không trái luật,tùy theo sự thỏa thuận của các bên có thể cao hơn mức thiệt hại hoặc thấp hơnmức thiệt hại xảy ra trên thực tế Đây cũng là đặc trưng cơ bản trong giao lưudân sự trên cơ sở tự do ý chí, tự do cam kết thỏa thuận
2.3.2 Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu
do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình
Với nguyên tắc này thì người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mứcbồi thường khi có đủ hai điều kiện sau:
- Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại
Nếu người gây thiệt hại mà do lỗi cố ý gây thiệt hại thì không được ápdụng nguyên tắc này bởi vì người gây thiệt hại chủ ý gây ra thiệt hại mà theo
Trang 38lỗi cố ý gây thiệt hại là người gây thiệt hại nhận thức rõ hành vi của mình làgây thiệt hại, thấy trước thiệt hại của hành vi đó và mong muốn thiệt hại xảy rahoặc tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Do vậy người gây thiệt hại phải hoàn toàn chịu trách nhiệm do lỗi củamình về hành vi đó
Đối với lỗi cố ý thì người gây thiệt hại không được giảm mức bồi thường
Họ chỉ được giảm mức bồi thường do lỗi vô ý, còn lỗi cố ý thì phải bồi thườngtoàn bộ dù người gây thiệt hại có hoàn cảnh kinh tế khó khăn về trước mắt vàlâu dài, trừ trường hợp các bên có thỏa thận với nhau về mức bồi thường
Thực tế ở vùng nông thôn, vùng núi, vùng sâu vùng xa các Tòa án đãtuyên mức án phù hợp nhưng người gây thiệt hại vẫn không thể bồi thường dokinh tế khó khăn, nhưng vì pháp luật như vậy nên không thể áp dụng khác
Nguyên tắc này đặt ra nhằm bảo đảm phán quyết của Tòa án đưa rađược thi hành ngay và có hiệu quả, vì thực tế rất nhiều các vụ án các bản án,quyết định của Tòa án ban hành nhưng cơ quan Thi hành án không thi hànhđược thì cũng không có ý nghĩa
- Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu
dài
Khi mức độ thiệt hại có thể lớn hơn khả năng kinh tế trước mắt và lâudài của người gây thiệt hại thì người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồithường thiệt hại Tất nhiên, điều kiện này luôn đi cùng với điều kiện lỗi vô ýcủa người gây thiệt hại
Trong thực tiễn xét xử các vụ án về bồi thường thiệt hại đến sức khỏe
và tính mạng bị xâm phạm, để xác định như thế nào là: "thiệt hại quá lớn so
Trang 39với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình" là một vấn đề khá phứctạp Theo chúng tôi thì tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, căn cứ từngtrường hợp cụ thể của vụ án mà quyết định cho thỏa đáng, tránh trường hợpgiảm quá ít thì không có ý nghĩ thiết thực, và ngược lại, không nên giảm quánhiều do lo ngại không thể thi hành án được.
Hay cụm từ "khả năng kinh tế" cũng là một vấn đề cần xác định rõnhằm để xem xét trường hợp nào thì được giảm mức bồi thường thiệt hại,trường hợp nào thì không được giảm bồi thường, đồng thời cũng là để bảo vệquyền lợi, bảo đảm tính công bằng, tránh sự gian lận, lợi dụng để trốn tránhtrách nhiệm bồi thường của người gây ra thiệt hại
Ví dụ: A trong khi lau súng, do sơ ý không biết súng có đạn và bị cướp
cò, đạn nổ trúng B làm B chết và bị thương C (B là lao động chính, nuôidưỡng mẹ già và 2 con con nhỏ) Qua xem xét thực tế hoàn cảnh của A khókhăn, gia đình không có tài sản gì đáng giá, ngoài ra A còn phải nuôi 1 mẹ già
và 4 con còn nhỏ Vậy trong trường hợp này khi giải quyết, Tòa án phải coi sựthiệt hại mà A gây ra cho B,C là quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt vàlâu dài và cần thiết giảm mức bồi thường cho A là thỏa đáng, còn giảm mứcbao nhiêu thì còn tùy thuộc vào từng trường hợp, điều kiện hoàn cảnh cụ thể
Ngoài hai điều kiện, lỗi của người bị thiệt hại cũng là một trong nhữngyếu tố quan trọng khi chúng ta xác định mức bồi thường Nguyên tắc nàycũng là để áp dụng giảm mức bồi thường cho người gây thiệt hại trong trườnghợp có lỗi của người bị thiệt hại, cũng như phân tích ở trên, vấn đề xác địnhmức bồi thường trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi rất phức tạp, xácđịnh lỗi của người gây ra thiệt hại là bao nhiêu? Hiện nay cũng chưa có vănbản quy phạm pháp luật nào quy định về vấn đề này, trong thực tiễn xét xử
Trang 40Tòa án thường tự ước lượng tỉ lệ % rồi quyết định, cho nên dẫn đến mức bồithường có khoảng cách rất xa nhau.
Ví dụ: Bản án số 113/2006/HSPT ngày 24/7/2006 của Tòa án nhândân tỉnh CM xét xử Nguyễn Thị Phượng về tội cố ý gây thương tích
Nội dung vụ án như sau: Do có mâu thuẫn về điện sinh hoạt nên giữaPhượng và người bị hại Nguyễn Minh Trí xảy ra cãi chửi và thách đố nhau,Phượng đã dùng dao chém 3 nhát vào mặt và vai trái Trí, tỷ lệ thương tật 15%vĩnh viễn, Tòa án huyện PT xử sơ thẩm phạt Phượng 2 năm tù cho hưởng ántreo và nhận xét có phần lỗi của bị hại Sau khi xử sơ thẩm, anh Trí kháng cáo đềnghị cấp phúc thẩm không cho Phượng hưởng án treo và tăng mức bồi thường.Cấp phúc thẩm nhận định người bị hại có lỗi nên không có căn cứ tăng mứchình phạt và mức bồi thường, giữ nguyên bản án sơ thẩm Vậy mức độ lỗi củaTrí ở trong vụ án này là bao nhiêu? thực tế không đơn giản Các Tòa án khigặp những vụ án như thế này thường chỉ xem xét và quyết định một cáchtương đối và như vậy khó tránh khỏi việc sau khi tuyên án các bên sẽ khángcáo không đồng ý cách giải quyết của cấp sơ thẩm, vì trong vụ án này còn liênquan đến hình phạt tù và mức bồi thường thiệt hại Người gây thiệt hại thì yêucầu giảm hình phạt và mức bồi thường người bị thiệt hại yêu cầu tăng hìnhphạt đối với bị cáo và yêu cầu tăng mức bồi thường Hơn nữa điều luật chỉđịnh hình chứ không định lượng, việc giảm mức bồi thường phải phụ thuộcvào điều kiện, hoàn cảnh, mức độ của người gây thiệt hại mà Tòa án ra quyếtđịnh trong những trường hợp cụ thể
2.3.3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người gây thiệt hại, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường