Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hành chính về đối tượng khởi kiện trong lĩnh vực cạnh tranh và việc vận dụng các quy định đó vào
Trang 11 Sự cần thiết phải xác định rõ chức
năng căn bản của Hiến pháp trong xã hội
Theo Dele Olowu, tác giả cuốn sách về
công cuộc chống tệ nạn tham nhũng của Châu
Phi thì “Một trong những lý do quan trọng giải
thích tại sao ngày nay tình trạng tham nhũng
trong chính phủ lại lan tràn ở châu Phi là:
người ta đã dành quá nhiều nỗ lực để tìm cách
cứu chữa vấn đề đó hơn là để hiểu được nó 1 ”
Chúng tôi cho rằng, nhận định trên không chỉ
đúng cho trường hợp tham nhũng ở châu Phi,
mà còn có thể đúng cho mọi trường hợp, trong
đó cả công cuộc đang tiến hành sửa đổi Hiến
pháp của Việt Nam hiện nay Muốn cho việc
sửa đổi Hiến pháp của chúng ta thắng lợi thì
trước hết chúng ta phải hiểu được những vấn
đề cơ bản của Hiến pháp Một trong những
vấn đề cơ bản đó là chức năng của Hiến pháp
Đúng là vấn đề này cơ bản thật, nhưng tiếc
rằng hiện nay nó không được biết một cách
đầy đủ, rộng rãi Nói vậy có thật đúng không?
Cũng chưa hẳn, bởi sự việc vận động biện
chứng biến đổi theo thời gian: hôm nay vấn
đề này được hiểu như vậy là đúng, nhưng nó
sẽ không đúng trong tương lai Mọi vật đều
biến đổi không ngừng, đúng như câu nói của
Hecraclite (khoảng 530 – 470 tr.CN): Không ai
tắm hai lần trên cùng một dòng sông Nhưng
sự biến đổi đến mấy đi chăng nữa chúng vẫn
* GS-TS, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
**ThS Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học Viện
Chính trị - Hành chính Khu vực II.
1 Dele Olowu, “Governmental Corruption and
Africa’s Democratization Efforts/Corruption and
Re-form”, Modern African Studies Vol 13, 1993, tr 227
giữ cái căn nguyên của chúng, nếu không phải như vậy thì vấn đề đó đã biến mất và vấn đề khác đã xuất hiện…
Cũng như các vấn đề khác, chức năng của Hiến pháp là vị trí, vai trò của Hiến pháp trong
xã hội Mỗi một vị trí vai trò của Hiến pháp bao giờ cũng xuất hiện trong một điều kiện hoàn cảnh nhất định Trong một điều kiện hoàn cảnh mới thì vị trí vai trò chức năng của Hiến pháp cũng thay đổi Nhưng cho dù thay đổi thế nào đi chăng nữa thì Hiến pháp vẫn giữ chức năng căn bản của nó Nếu chức năng căn bản này không còn thì Hiến pháp cũng không còn là nó nữa
Lịch sử lập hiến thế giới có thể chia nhiều
loại: Hiến pháp thành văn và Hiến pháp bất
thành văn Đây là cách chia cổ điển nhằm để
phân biệt giữa Hiến pháp của nước Mỹ được gọi là Hiến pháp thành văn vì nó bao gồm 7 điều được soạn thảo và thông qua năm 1787 cùng 27 sửa đổi, bổ sung trong hơn 200 năm qua (như cách nói của người Mỹ: “Hiến pháp
có thể bỏ túi” được) và Hiến pháp của nước Anh được gọi là bất thành văn, vì ngoài các đạo luật mang tính Hiến pháp, còn có một số
án lệ của Tòa án, cũng như một số tập tục cổ truyền mang tính hiến pháp Cách chia này mang tính chất hình thức mà không nói nên nội dung của các bản Hiến pháp Sang những thế kỷ tiếp theo, loài người càng ngày càng nhận ra vai trò quan trọng của Hiến pháp Không chỉ đơn thuần là văn bản quy định hình thức cơ cấu quyền lực của một nhà nước, Hiến pháp còn góp phần đánh giá bước phát triển của mỗi quốc gia, khẳng định tính chính đáng
BÀN VỀ VAI TRÒ CỦA HIẾN PHÁP
NGUYỄN ĐĂNG DUNG* NGUYỄN THỊ THỦY**
Trang 2của nhà nước Số lượng các nhà nước trên thế
giới có Hiến pháp tăng lên không ngừng Nếu
như cuối thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ 19 chỉ có
Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, một số nước ở châu
Âu và Nhật Bản, Philipin ở châu Á có Hiến
pháp thì từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2 đến
nay hầu hết các nước ở tất cả các châu lục đều
có Hiến pháp Khắc phục cách chia trước,
người ta căn cứ vào nội dung chia các bản
Hiến pháp thành Hiến pháp cổ điển và Hiến
pháp hiện đại Hiến pháp cổ điển là các bản
Hiến pháp được thông qua từ thời ban đầu rất
xa xưa của các thế kỷ trước đây, trước và trong
thời kỳ của Cách mạng tư sản (thậm chí còn xa
hơn nữa của các thời kỳ Trung đại và Cận đại)
Hiến pháp hiện đại là các bản Hiến pháp được
thông qua sau thắng lợi của các cuộc cách mạng
giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN Xét về
mặt nội dung, Hiến pháp cổ điển chỉ tập trung
quy định vấn đề căn bản nhất là giới hạn quyền
lực nhà nước, còn Hiến pháp hiện đại quy định
mở rộng hơn sang cả lĩnh vực kinh tế, xã hội
Chính cách phân chia này đối với các bản Hiến
pháp đã xác định rõ vai trò chức năng của các
bản Hiến pháp trên thế giới
2 Hiến pháp cổ điển là sự giới hạn quyền
lực nhà nước
Muốn biết được chức năng căn bản của Hiến
pháp chúng ta phải lần lại từ các Hiến pháp
trong lịch sử Trong khoa học pháp lý người ta
thường gọi bản Đại Hiến chương Magna Carta
1215 và các đạo luật khác có liên quan của
nhà nước Anh thời trung đại là nguồn gốc của
Hiến pháp bất thành văn ở nước Anh Magna
Charta là bản đại hiến chương của nước Anh,
được ban hành năm 1215 Nội dung của bản
hiến chương này là hạn chế quyền lực của
nhà vua, đồng thời thừa nhận một số quyền tự
do của con người Nhiều tác giả còn bổ sung
thêm rằng Magna Charta dù quan trọng nhưng
không thể được coi là Hiến pháp thành văn
đầu tiên của nhân loại được, đó chỉ đơn thuần
là một trong hàng loạt các đạo luật khởi đầu ở
nước Anh đề cập việc bảo vệ quyền con người,
như: Habeas Corpus (Luật cấm bắt giam người
trái pháp luật, 1679 dưới thời vua Charles II),
Petition of Right (Luật khiếu nại về quyền, được
Nghị viện Anh thông qua năm 1628 qui định một người chỉ có thể bị tống giam khi có phán quyết của Tòa án hoặc lệnh bắt giữ của cơ quan
hành chính [writ]), English Bill of Rights (Luật
về quyền của nước Anh được Nghị viện Anh thông qua năm 1689 qui định về quyền bầu cử Nghị viện và quyền tự do ngôn luận trong hoạt
động của Nghị viện) và Act of Settlement (Luật
về thiết lập trật tự, được Nghị viện thông qua năm 1701 bãi bỏ chế độ cha truyền con nối của
nhà vua (Removal from the succession) ở Anh2.Hiến pháp của nước Anh được coi là hiến pháp bất thành văn Bất thành văn nhưng không có nghĩa là không có Hiến pháp là văn bản Nước Anh vẫn có Hiến pháp nhưng
là Hiến pháp bất thành văn, như trên đã nói, bao gồm nhiều đạo luật, nhưng những đạo luật này không được thừa nhận là đạo luật
cơ bản Bên cạnh những đạo luật thành văn
do Quốc Hội Anh thông qua và được nhà Vua ban hành còn có những tập tục chính trị khác được hình thành dần dần từ xa xưa, mà khi thi hành quyền lực nhà nước, lực lượng cầm quyền buộc phải áp dụng
Sở dĩ nước Anh có Hiến pháp bất thành văn, bởi vì ở họ cho đến cả hiện nay vẫn ngự trị một
thành ngữ quen thuộc: “Quốc hội là tối cao có
thể thông qua bất cứ vấn đề gì trừ việc biến đàn ông thành đàn bà” Quốc hội nước Anh
hôm nay có thể thông qua một đạo luật hiến pháp này và ngày mai có thể thông qua một đạo luật hiến pháp khác, đó là quyền của Quốc Hội Phải chăng điều này chứng tỏ Quốc hội Anh luôn thay đổi Hiến pháp, hay bằng một cách nói tương tự, người Anh không hay tuân thủ Hiến pháp, thường xuyên vi phạm Hiến pháp? Trên thực tế không phải như vậy Với sự bảo thủ và thực dụng, những gì đã chứa đựng trong tập tục trở thành văn hóa của người Anh thì lại rất khó thay đổi Vì vậy, những đạo luật
2 Nguyễn Minh Tuấn: Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr 112
Trang 3của họ có từ thời Trung cổ cách đây 400 - 500
năm nay vẫn không thay đổi, vẫn có hiệu lực
hiện hành Đấy là Hiến pháp của họ Chính vì
lẽ đó mà nước Anh mặc dù là một quốc gia
tư bản phát triển, một nền dân chủ được coi
là khuôn mẫu, hoặc ít ra cũng là nguồn gốc
cần phải tham khảo của nhiều nước dân chủ
khác trên thế giới, nhưng nước Anh vẫn giữ
cho mình một chính thể Quân chủ lập hiến
Như vậy, rõ ràng Hiến pháp của nước Anh
có chức năng giới hạn quyền lực của nhà Vua,
tức là giới hạn quyền lực của nhà nước Sự hiện
diện của một văn bản quy định phạm vi hoạt
động của nhà nước đã bao hàm một ý nghĩa
nhất định là quyền lực nhà nước đã bị giới hạn
Như trên đã nói, Hiến pháp bất thành văn của
nước Anh bao gồm nhiều văn bản và tập tục
Chúng được hình thành một cách chậm chạp,
dần dần không phải một chốc, một lát, ngay sau
một cuộc đấu tranh giành thắng lợi của giai cấp
quý tộc đối với một nhà vua, mà bằng một cuộc
đấu tranh, bao gồm cả sự thương thuyết, sự thỏa
thuận kéo dài hàng chục năm, thậm chí cả một
thiên niên kỷ, giữa tầng lớp quý tộc đang muốn
giành quyền lực và với nhà vua đang nắm quyền
lực một cách vô hạn định, và sau này được thay
bằng giữa các lực lượng đang cầm quyền và các
thế lực đối lập
Kể từ khi có bản manh nha của Hiến pháp
đến khi có một bản Hiến pháp thành văn ở
nghĩa hẹp nhất của nước Mỹ năm 1787 phải
mất đến hơn một nửa thiên niên kỷ tiếp theo
Bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới
cũng được thông qua trong một điều kiện rất
trăn trở không kém Hiến pháp của nước Anh,
cho dù thời gian có ngắn hơn Đó là những
sự lo lắng cho tồn tại mà không bị quay trở
lại thành thuộc địa một lần nữa của 13 bang
đang được tổ chức trong một điều kiện lỏng
lẻo của một Hợp bang vừa thoát khỏi sự phụ
thuộc vào nước Anh “mẫu quốc” Việc thành
lập ra nhà nước liên bang của Hợp chúng quốc
Hoa Kỳ cũng nằm trong điều kiện phải trăn trở
giữa hai thế lực: “vị liên bang”, muốn có một
nhà nước liên bang mạnh mẽ bằng mọi giá
để có thể phòng chống sự xâm lược của các
cường quốc lúc bấy giờ, với phe “chống liên
bang” muốn bảo vệ quyền của từng người dân
và chủ quyền của các bang vừa mới giành giật được từ tay chính quyền phong kiến chuyên chế và độc tài nước Anh Mặc dù được thông qua bản chính văn năm 1787 nhưng liền ngay sau đó phải bổ sung 10 tu chính đầu tiên về các quyền (The Bill of Rights) và mãi 3 năm sau nữa các tu chính này mới có hiệu lực thi hành khi có ít nhất 3/4 tổng số các bang tán thành
Sự giới hạn quyền lực nhà nước của Hợp chúng Hoa Kỳ được thể hiện 2 điểm nhấn cơ bản: Ghi nhận quyền con người trong 10 tu chính sửa đổi đầu tiên và hệ thống kiềm chế và đối trọng Tính sâu sắc của Hiến pháp Hoa Kỳ nằm ở hai điểm căn bản này, chúng đã đem lại tính ổn định phi thường trong hơn hai thế kỷ qua Nhân quyền và những điều sửa đổi kèm theo đã đặt các quyền cơ bản của con người vào trung tâm của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ
Đằng sau khái niệm “kiểm soát và cân bằng”
là một quan điểm hiện thực sâu sắc về bản chất con người của Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa
Kỳ Nhân chi sơ tính bản ác, không phải “tính bản thiện” như quan niệm của phương Đông, một khi tin tưởng rằng ở trạng thái hoàn thiện nhất, luôn có lý trí, có kỷ luật và công bằng, những người làm Hiến pháp này cũng phải công nhận tính dễ bị tổn thương của con người trước
sự đam mê, lòng cố chấp và vị kỷ Sau khi bàn
về các biện pháp cần thiết nhằm giữ gìn quyền
tự do cho con người, Madison, người chắp bút chủ yếu bản Hiến pháp này đã viết:
“Những biện pháp như thế sẽ cần thiết cho
việc kiểm soát sự lạm dụng của chính quyền, điều này có thể là một sự phản ánh về bản chất con người Nhưng bản thân chính quyền
là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người? Nếu con người là những thiên thần thì
sẽ không cần thiết phải có chính quyền Nếu các thiên thần cai quản thì không cần thiết phải có sự kiểm soát đối với chính quyền dù từ bên ngoài hay bên trong Trong việc tạo khuôn
Trang 4khổ cho một chính quyền do con người quản lý
con người, điều khó khăn nhất là ở chỗ: trước
hết, chính quyền phải có khả năng kiểm soát
những người bị quản lý; kế tiếp, chính quyền
phải có nghĩa vụ tự kiểm soát mình”3
Phải nói rằng sự trăn trở, sự suy tư của
những người soạn thảo ra bản Hiến pháp của
Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là rất lớn Thậm chí
như Madison, sau này được gọi là “cha đẻ của
Hiến pháp” này đã phải tập trung trí tuệ của
mình gần một năm trời để phân tích những
điểm mạnh, những điểm yếu của tất cả các loại
hình nhà nước đã tồn tại trong lịch sử của nhân
loại làm bài học cho việc đóng góp và phê bình
các phương án dự thảo Hiến pháp đưa ra Tất
cả những thực tiễn đó cùng với các học thuyết
triết học và luật học đã hun đúc nên một lý
thuyết được gọi là nhà nước pháp quyền, mà
cái lõi của học thuyết này là chủ nghĩa hiến
pháp Thuật ngữ chủ nghĩa hiến pháp hay chủ
nghĩa hợp hiến đều được dịch ra từ một thuật
ngữ tiếng Anh là Constitutionalism, đã có từ
thời Plato & Aristotle hay tư tưởng khế ước xã
hội thế kỷ 17 và 18 của Montesquieu, J Mill,
J Rousseau, được hiểu là những biểu hiện
đặc trưng về một chính phủ hữu hạn mà thẩm
quyền tối hậu của nó luôn luôn phải tuân thủ
sự đồng ý của nhân dân 4
Chủ nghĩa hiến pháp quan niệm rằng, quyền
lực của nhà nước không thể vô giới hạn, phải
bị hạn chế, để tránh sự lạm dụng quyền lực
nhà nước của bất kể thế lực cầm quyền nào
Với tư cách là đạo luật tối cao của mỗi quốc
gia, Hiến pháp phải có chức năng giới hạn
quyền lực của nhà nước
Sự giới hạn quyền lực nhà nước gắn liền với
khái niệm kiểm soát rất gần với các khái niệm
lân cận như kiểm tra, giám sát, giới hạn, hạn
chế, chế ước, trách nhiệm, giải trình… Tuy có
những mức rộng hẹp khác nhau giữa chúng,
nhưng nhiều khi kiểm soát hay giới hạn quyền
3 Federalits, No 10, Khái quát về chính quyền Mỹ
quốc, Nxb Thanh niên, 2006, tr 87.
4 M Shafritz, Từ điển Chính quyền, Nxb Chính trị Quốc
1917, Hiến pháp của Liên bang Nga và một số nước lân cận đã được thông qua một cách kịp thời và nhanh chóng để khẳng định không chỉ thắng lợi của Cách mạng vô sản mà còn phải khẳng định quyền lực nhà nước của Nhà nước chuyên chính vô sản
Hơn thế nữa, với chế độ kế hoạch hoá tập trung, mọi thứ phải đưa vào nhà nước để có
sự chỉ đạo tập trung thống nhất từ trung ương, Hiến pháp của các nước XHCN không còn nguyên hình là một bản Hiến pháp nhà nước,
mà được gọi là Hiến pháp xã hội, tất cả đều được đưa vào Hiến pháp Không có sự phân biệt nhà nước và xã hội, các bản Hiến pháp
này còn được phân tích như là một bản cương
lĩnh chính trị, chứa đựng nhiều mục tiêu phấn
đấu cho tương lai của Đảng cầm quyền Sự thông qua các bản Hiến pháp của các nhà nước này rất nhanh chóng trong một khoảng thời gian nhất định vẫn còn say sưa của những khải hoàn ca chiến thắng, với đầy cảm xúc nhiệt thành, niềm tin thắng lợi của giai cấp giành thắng lợi, không chứa đựng những sự lo toan, tính toán và nhường nhịn, thỏa hiệp như ở các nhà nước Anh, Mỹ đã nêu ở phần trên
Trang 5Cùng với những nhận thức cũ về CNXH,
các bản Hiến pháp này đã làm cho hệ thống
XHCN rơi vào tình trạng khủng hoảng, buộc
phải nhận thức lại con đường phát triển bằng
các cuộc cải tổ và đổi mới Kết quả một hệ
thống XHCN gồm 13 nước chỉ còn lại một số
ít nước kiên định con đường xây dựng CNXH,
trong số đó có Việt Nam
Trên con đường cải tổ và đổi mới, các nhà
nước này đều phải thay đổi Hiến pháp của
mình, điều đó cũng có nghĩa là họ xác định
được vai trò quan trọng của Hiến pháp trong
một nhà nước Ở Việt Nam, Hiến pháp năm
1980 được thay bằng Hiến pháp năm 1992 và
được sửa đổi và bổ sung năm 2001 Từ một
nền kinh tế bao cấp, Nhà nước muốn trang trải,
vun vén, lo toan cho mọi vấn đề của xã hội đã
kịp đổi mới để xây dựng nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường định
hướng XHCN Từ quyết định đúng lúc, kịp
thời đó, Đảng và nhân dân ta đã giành được
nhiều thắng lợi mới trên con đường xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, chế độ chính trị ngày càng
ổn định, đời sống của nhân dân ngày càng
được cải thiện Để tiếp tục kiên định trên con
đường XHCN, phù hợp với điều kiện thực tế
của đất nước, Việt Nam sẽ tiếp tục sửa đổi và
bổ sung Hiến pháp trong thời gian tới
Hiến pháp của các nhà nước đang phát triển
sau các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc
cũng gần nằm trong điều kiện tương tự Trong
điều kiện của chiến thắng, đang ngân khúc
khải hoàn ca, Hiến pháp được thông qua thì rất
dễ cho việc thể hiện những nhận thức đầy cảm
xúc của sự duy ý chí Phe chiến thắng bao giờ
cũng khẳng định quyền lực nhà nước thuộc
về mình một cách vô hạn Việc soạn thảo và
thông qua bản Hiến pháp của các nhà nước sau
này rất là vội vàng, mà không có sự trăn trở,
toan tính, thậm chí là một sự thỏa hiệp giữa
các quan điểm và nhận thức khác nhau như
của nước Anh và của nước Mỹ Đây cũng là
một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay
đổi thường xuyên các bản Hiến pháp của các
nước đang phát triển
Hiến pháp hiện đại không những không nhấn mạnh chức năng giới hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ quyền của cá nhân, chống sự lạm dụng quyền lực của lực lượng cầm quyền,
mà trước hết phải có chức năng duy nhất là phải khẳng định quyền lực nhà nước vô biên của lực lượng vừa giành được chính quyền Việc thông qua một bản Hiến pháp quy định quyền lực nhà nước trong một điều kiện vội vàng như vậy, thậm chí đang trong giai đoạn chan hoà những cảm xúc lớn lao của sự thắng lợi, thì thật khó cho sự hoàn hảo Điều này phải chăng không đúng với sự cảnh báo của Hegel, khi ông dẫn chứng ra trường hợp Hiến
pháp của Tây Ban Nha trong tác phẩm “Triết
học pháp quyền” của Ông:
Hiến pháp (hay thể chế) của một dân tộc phải xuyên thấm mối quan hệ bên trong nó Chẳng hạn Napoléon đã cố mang lại cho Tây Ban Nha một hiến pháp theo kiểu a priori (tiên nghiệm, áp đặt) và kết quả là rất tồi Vì một Hiến pháp không chỉ đơn thuần được “làm ra”; vì nó là lao động nhiều thế kỷ, là ý niệm
và ý thức của cái hợp lý tính (trong chừng mực
ý thức ấy đã được phát triển trong một dân tộc) Vì thế, không một thể chế hay hiến pháp nào có thể được sáng tạo ra một cách thuần tuý chủ quan Những gì mà Napoléon đã mang lại cho người Tây Ban Nha là hợp lý tính hơn nhiều những gì họ đã có trước đó, nhưng họ
đã vất bỏ như cái gì xa lạ, bởi họ chưa được giáo dục đào luyện đến mức đó Thể chế hay hiến pháp phải thể hiện tình cảm của dân tộc
đó về những quyền và về thực trạng (hiện có) của mình; nếu khác đi nó sẽ không có ý nghĩa hay giá trị, cho dù có sự hiện diện của Hiến pháp Thật thế, nhu cầu và khát vọng về một thể chế hay hiến pháp tốt thường có nơi những
cá nhân riêng lẻ, nhưng để cho quảng đại quần chúng của dân tộc ấy thấm nhuần một sự mong mỏi như thế lại là việc hoàn toàn khác,
và việc này chỉ diễn ra muộn màng hơn nhiều Nguyên tắc về luân lý của Socrate hay tính nội tâm của ông là một sản phẩm tất yếu của thời đại ông, nhưng cần có thời gian để nguyên tắc
Trang 6này trở thành (bộ phận) Tự - ý thức phổ biến 5.
Vì được thông qua ở thời điểm như vậy
nên đã làm cho chức năng Hiến pháp có phần
thay đổi, Hiến pháp không những chỉ quy
định về cơ cấu tổ chức nhà nước, mà còn quy
định nhiều lĩnh vực khác về kinh tế và xã hội,
nên việc sửa đổi và bổ sung Hiến pháp của
các quốc gia nói trên là lẽ đương nhiên Việc
chỉnh sửa này cũng là dịp làm cho Hiến pháp
càng gần đúng nghĩa vốn có của Hiến pháp là
văn bản hạn chế quyền lực nhà nước và bảo vệ
nhân quyền
Từ những phân tích ở phần trên có tính chất
vừa so sánh và vừa đối chiếu sự ra đời của
hai loại hình hiến pháp: Một của các nhà nước
phát triển có Hiến pháp cổ điển không phải
thay đổi một cách thường xuyên liên tục, và
loại thứ hai của Hiến pháp cần phải thay đổi
luôn luôn của các Nhà nước XHCN, cũng như
của các nhà nước đang phát triển, có thể trả lời
rằng với tính cách là đạo luật cơ bản có hiệu lực
pháp lý tối cao, Hiến pháp nên và chỉ nên được
thông qua ở một giai đoạn thật sự của sự bình
tĩnh không chứa đựng cảm xúc, nhất là thời
điểm vừa giành được chính quyền, không chứa
đựng mưu toan thâu tóm quyền lực nhà nước
một cách vô biên, không hạn chế, mà phải duy
trì một “sân chơi chính trị”, bảo đảm bình đẳng
cho các lực lượng muốn tham gia; bảo đảm việc
thay đổi chính quyền một cách hòa bình, quyền
lực nhà nước luôn luôn phải được giới hạn
Mà mục tiêu của sự giới hạn này để chống lạm
quyền của bất kể thế lực nào đang cầm quyền,
để bảo vệ nhân quyền cho mọi người dân
Vượt lên trên những tranh chấp chính trị,
Hiến pháp phải có chức năng giải quyết các
tranh chấp quyền lực bằng con đường hòa
bình, thay cho việc giải quyết bằng con đường
súng đạn Muốn vậy, Hiến pháp chỉ cần quy
định việc phân quyền để giới hạn quyền lực
và nhân quyền để bảo đảm nhân quyền không
được vi phạm Hiến pháp có một chức năng
quan trọng trong việc giải quyết bằng con đường
5 G.W.F Hegel, Các nguyên lý của Triết học pháp quyền,
Nxb Tri thức, Hà Nội, 2001 , tr 675.
hòa bình các mâu thuẫn xảy ra đối với khu vực nắm và không nắm quyền lực nhà nước Liên quan đến vấn đề này, theo Barack Obama, Hiến pháp phải là một bản khế ước xã hội đề cao sự thỏa hiệp, thái độ nhún nhường, thỏa thuận vì lợi ích chung của cộng đồng Hiến pháp đảm bảo quyền tự do ngôn luận không phải để chúng
ta có thể lớn tiếng với người khác chừng nào cũng được Nó còn cho chúng ta cơ hội có một thị trường ý tưởng tuyệt vời, một nơi mà “sự
va chạm giữa các đảng phái” xảy ra nhờ “thảo luận và thận trọng”, một nơi mà thông qua tranh luận và cạnh tranh, mở rộng tầm nhìn, thay đổi
ý kiến và cuối cùng không chỉ đạt được đồng thuận, mà còn đồng thuận một cách hợp lý và công bằng 6
Sở dĩ các nước Trung Đông, Bắc Phi hiện nay các lực lượng cầm quyền và phe đối lập
đã và đang giao tranh quyết liệt với nhau buộc phải có sự tham chiến của các quốc gia bên ngoài, bởi lẽ rằng Hiến pháp của các nhà nước này đã không có những quy định trù liệu cho việc giải quyết các tranh chấp quyền lực khi chúng xảy ra, hoặc có đi chăng nữa, thì chúng cũng không đủ hiệu lực cho việc giải quyết các tranh chấp đang xảy ra Và như vậy Hiến pháp có chức năng quan trọng trong việc gìn giữ hoà bình cho mỗi một quốc gia Đây cũng
là một trong những chức năng quan trọng của Hiến pháp trong giai đọan hiện nay
Tóm lại, là đạo luật cơ bản của nhà nước,
Hiến pháp có hiệu lực pháp lý tối cao của mỗi quốc gia, điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng, điển hình nhất, Hiến pháp ngày càng có vị trí vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh đời sống chính trị của mỗi quốc gia Theo thời gian, vai trò của Hiến pháp luôn có
sự thay đổi Nhưng cho dù có thay đổi như thế nào đi chăng nữa thì Hiến pháp vẫn phải giữ lại chức năng cổ điển vốn có của mình là: giới hạn quyền lực nhà nước Sự sửa đổi Hiến pháp của các quốc gia luôn có xu hướng quay trở lại chức năng cũ vốn có này của Hiến pháp..
6 Xem: Barack Obama, Hy vọng táo bạo, Nxb Trẻ,
Hà Nội, 2008, tr 129.
.
Trang 71 Đặt vấn đề
Trong tố tụng hành chính, việc xác định đối
tượng khởi kiện có ý nghĩa quan trọng khi khởi
kiện, thụ lý và giải quyết vụ án Trước hết, đối
tượng khởi kiện là một trong những căn cứ để xác
định Tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết
vụ việc hay không Thứ hai, đối tượng khởi kiện
là cơ sở để xác định người bị kiện trong vụ án1
Thứ ba, xác định đúng đối tượng khởi kiện là
cơ sở giải quyết đúng đắn và triệt để tranh chấp
giữa các bên đương sự trong vụ án Tuy vậy, cơ
sở cho việc xác định đối tượng khởi kiện, trách
nhiệm xác định đối tượng khởi kiện và hậu quả
pháp lý của việc xác định không đúng đối tượng
khởi kiện trong vụ án hành chính là những vấn
đề chưa được pháp luật tố tụng hành chính quy
định cụ thể và hợp lý Điều này ít nhiều đã gây
khó khăn cho việc khởi kiện cũng như việc thụ
lý, xét xử vụ án hành chính
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin
phân tích các quy định của pháp luật tố tụng
hành chính về đối tượng khởi kiện trong lĩnh
vực cạnh tranh và việc vận dụng các quy định
đó vào việc thụ lý và giải quyết vụ án hành
chính thông qua hai vụ án hành chính về cạnh
tranh đầu tiên tại Việt Nam: 1) Công ty Xăng
dầu hàng không Việt Nam kiện Hội đồng cạnh
tranh – Bộ Công thương và 2) Công ty TNHH
Thương mại Tân Hiệp Phát kiện Hội đồng Cạnh
tranh – Bộ Công thương
* ThS Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
1 Theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính, người
bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính,
hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết
định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh, lập danh sách cử tri bị khởi kiện (khoản 7 Điều 3 Luật
TTHC, khoản 6 Điều 4 Pháp lệnh TTGQCVAHC)
2 Xác định đối tượng khởi kiện giữa quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Theo quy định của Luật cạnh tranh năm
20042, khi có khiếu nại hợp lệ về các hành vi vi phạm Luật cạnh tranh (khoản 1 Điều 58 Luật cạnh tranh) hoặc khi cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật cạnh tranh (khoản 2 Điều 86 Luật cạnh tranh) thì Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ
ra quyết định điều tra sơ bộ Nếu kết quả điều tra cho thấy không có hành vi vi phạm thì đình chỉ điều tra, nếu có dấu hiệu của vi phạm thì sẽ chuyển sang điều tra chính thức Sau đó, trên cơ
sở kết quả điều tra chính thức, Thủ trưởng cơ
quan quản lý cạnh tranh sẽ ra quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh (đối với trường hợp cạnh tranh
không lành mạnh) hoặc chuyển hồ sơ cho Hội đồng cạnh tranh xử lý vụ việc (đối với các hành
vi hạn chế cạnh tranh) Hội đồng cạnh tranh sẽ thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh để
xử lý vụ việc thông qua phiên điều trần với kết
quả thông thường là quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh
Trong trường hợp không đồng ý với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Thủ trưởng
cơ quan quản lý cạnh tranh thì các bên liên quan
có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Công thương; không đồng ý với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh thì có quyền khiếu nại đến Hội đồng cạnh tranh 3 Việc khiếu nại nói trên được giải quyết
bằng quyết định giải quyết khiếu nại quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh Nếu các bên vẫn không
2 Sau đây gọi tắt là Luật Cạnh tranh
3 Điều 107 Luật cạnh tranh
XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG KHỞI KIỆN VỤ ÁN
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC CẠNH TRANH
DƯƠNG HOÁN*
Trang 8đồng ý với việc giải quyết khiếu nại của Bộ
trưởng Bộ Công thương hoặc quyết định giải
quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh thì có
quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu
Tòa án xem xét giải quyết4 Vấn đề đặt ra là đối
tượng khởi kiện vụ án để yêu cầu Tòa án xem
xét, đánh giá trong trường hợp này là quyết định
nào trong hai quyết định: quyết định giải quyết
vụ việc cạnh tranh hay quyết định giải quyết
khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh?
Nếu căn cứ vào những quy định của pháp luật
tố tụng hành chính và pháp luật cạnh tranh về
quyền khởi kiện vụ án hành chính thì đối tượng
bị khởi kiện trong trường hợp này là quyết định
giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ công
thương hoặc quyết định của Hội đồng cạnh
tra-nh Cụ thể, tại khoản 1 Điều 115 Luật cạnh tranh
quy định: “Trường hợp không nhất trí với quyết
định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh, các bên liên quan có quyền
khởi kiện vụ án hành chính đối với một phần
hoặc toàn bộ nội dung của quyết định giải quyết
khiếu nại ra Toà án” Tương tự, tại khoản 2 Điều
103 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 (Luật
TTHCC) quy định: “Cá nhân, tổ chức có quyền
khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định
giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh trong trường hợp không đồng ý với
quyết định đó” Phù hợp với những quy định về
quyền khởi kiện nêu trên, khi quy định về thẩm
quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Toà
án trong lĩnh vực cạnh tranh, Luật TTHC xác
định: Toà án có thẩm quyền giải quyết khiếu
kiện đối với quyết định giải quyết khiếu nại về
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh 5 Tuy vậy,
cách xác định này chưa hợp lý, không xác định
đúng bản chất của việc tranh chấp trong vụ án
hành chính ở lý do và mục đích khởi kiện cũng
như đối tượng xem xét, đánh giá và quyết định
của Toà án khi giải quyết vụ án
Để có cơ sở thực tế cho việc phân tích đối
tượng khởi kiện vụ án hành chính trong lĩnh vực
cạnh tranh, chúng tôi xin nêu tóm tắt nội dung
4 Điều 115 Luật cạnh tranh
5 Xem: Khoản 4 Điều 28 Luật TTHC quy định;
khoản 21 Điều 11 Pháp lệnh TTGQCVAHC
vụ án hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh đầu tiên tại Việt Nam như sau:
Do không thống nhất trong quá trình thực hiện Hợp đồng mua bán nhiên liệu hàng không JET A-1 số 34/PA2008 ngày 31/12/2007 giữa Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) và Công ty cổ phần hàng không Pacifi c Airlines – nay là Jetstar Pacifi c Air-lines, Vinapco đã ngừng tra nạp nhiên liệu cho mọi chuyến bay của Pacifi c Airlines từ 0h00 ngày 01/4/2008 Việc này đã gây ra tình trạng rối loạn trong vận chuyển hàng không Trước tình hình đó, Cục Hàng không Việt Nam đã can thiệp và việc cung cấp nhiên liệu sau đó được Vinapco khôi phục.Ngày 22/4/2008, Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh ra Quyết định số 21/QĐ-QLCT về việc điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh đối với Vi-napco và kết quả điều tra sơ bộ cho thấy có dấu hiệu vi phạm cạnh tranh nên ngày 28/5/2008, Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh ra Quyết định số 34/QĐ-QLCT về việc điều tra chính thức Ngày 14/4/2009, Hội đồng xử lý vụ việc ra
Quyết định số 11/QĐ-HĐXL xử lý vụ việc Theo
quyết định này, Vinapco bị xử lý vì đã thực hiện hành vi vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật Cạnh tra-
nh (cấm doanh nghiệp ở vị thế độc quyền áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng); khoản 3 Điều 14 Luật Cạnh tranh (cấm doanh nghiệp lợi dụng vị trí độc quyền đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng) Với các vi phạm đó, Vinapco bị xử phạt 0,05% doanh thu của Công ty này trong năm 2007 (năm trước liền kề với năm xảy ra
vi phạm – tương đương 3.378.086.700 đồng) 6.Không đồng ý đối với Quyết định 11/QĐ-HĐXL của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Vinapco khiếu nại lên Hội đồng cạnh tranh Ngày 26/6/2009, Hội đồng Cạnh tranh đã ra Quyết định số 12/QĐ-HĐCT ngày 26/6/2009 giải quyết khiếu nại, bác yêu cầu của Vinapco,
về cơ bản là ủng hộ những đánh giá và kết luận
6 Nguyễn Ngọc Sơn, Một số bình luận từ thực tiễn
giải quyết vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp điện tử (2/2010)
Trang 9trong Quyết định 11/QĐ-HĐXL của Hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh Tiếp tục không đồng ý,
Vinapco khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án
nhân dân (TAND) Tp Hà Nội
Vấn đề đặt ra là quyết định nào là đối tượng khởi
kiện vụ án hành chính mà Vinapco khởi kiện và
TAND Tp Hà Nội cần xem xét là Quyết định số
11/QĐ-HĐXL xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội
đồng xử lý vụ việc cạnh tranh hay là Quyết định số
12/QĐ-HĐCT ngày 26/6/2009 giải quyết khiếu nại
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng
cạnh tranh? Vấn đề này sẽ được làm rõ thông qua
việc xác định lý do khởi kiện, mục đích khởi kiện
và đối tượng xem xét, đánh giá của Toà án trong
quá trình giải quyết vụ án
2.1 Về lý do khởi kiện
Qua các lập luận của Vinapco trong đơn khởi
kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, có thể
nhận thấy rằng, việc khiếu kiện của Vinapco chủ
yếu xuất phát từ việc họ không đồng ý với các
phân tích, lập luận, kết luận của cơ quan điều
tra và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, cho
rằng việc điều tra và xử lý có nhiều nội dung
không khách quan, không chính xác, dựa trên
kết quả điều tra phiến diện, không đầy đủ; đặc
biệt là kết luận việc Vinapco đã thực hiện hành
vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng
của doanh nghiệp ở vị thế độc quyền (vi phạm
quy định khoản 2 Điều 14 Luật Cạnh tranh), lợi
dụng vị trí độc quyền đơn phương thay đổi hoặc
hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý
do chính đáng (vi phạm khoản 3 Điều 14 Luật
Cạnh tranh) và việc sử dụng tổng doanh thu của
Vinapco trong năm 20077 để tính mức phạt
7 Bên bị kiện trong vụ án lập luận rằng, Vinapco là một
doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề; trong nhiều lĩnh
vực kinh doanh, chỉ có cung ứng dịch vụ tra nạp nhiên liệu
bay là liên quan đến vị thế độc quyền Những lĩnh vực mang
lại doanh thu lớn cho doanh nghiệp như: vận tải, kho bãi, bán
lẻ xăng dầu mặt đất, kinh doanh tài chính… đều nằm ngoài
phạm vi vụ việc bị xử lý Do đó, việc “gộp” cả doanh thu từ
những lĩnh vực kinh doanh không liên quan đến việc cung
ứng dịch vụ tra nạp nhiên liệu bay để tính tỷ lệ mức phạt là
điều không hợp lý Theo Vinapco, khi tính mức tiền xử phạt,
Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh phải tính trên cơ sở doanh
thu từ hoạt động dịch vụ cung ứng dịch vụ tra nạp nhiên liệu
bay mới đúng bản chất vụ việc
(3.378.086.700 đồng) Những lập luận và kết luận và quyết định mà Vinapco phản đối trên đây là nội dung đã được thể hiện trong quyết định xử lý vụ việc số 11/QĐ-HĐXL của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh
Do Luật cạnh tranh quy định khi các bên không đồng ý với quyết định “trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý
vụ việc cạnh tranh, các bên chỉ có quyền khiếu nại lên Hội đồng cạnh tranh”8 (các bên không thể khởi kiện vụ việc ra Toà án, cũng như không thể khiếu kiện đến bất kỳ một chủ thể nào khác)
Vì vậy, khi không đồng ý với Quyết định số 11/QĐ-HĐXL, Vinapco đã khiếu nại vụ việc đến Hội đồng cạnh tranh theo đúng quy định của pháp luật để yêu cầu xem xét lại vụ việc, nhưng những yêu cầu của Vinapco không được Hội đồng cạnh tranh chấp nhận (thể hiện tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 12/QĐ-HĐCT ngày 26/6/2009 của Hội đồng cạnh tranh) nên Vinap-
co tiếp tục khởi kiện vụ việc ra Toà án Những lập luận và yêu cầu khởi kiện của
Vinapco tiếp tục tập trung vào việc xác minh thu thập chứng cứ trong tố tụng cạnh tranh là không đầy đủ từ đó làm cho những kết luận và quyết định đưa ra trong quyết định số 11/QĐ-HĐXL của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh là không chính xác 9 Dù việc khởi kiện được thực hiện sau khi đã có quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh và theo quy định của pháp luật thì việc khiếu kiện ở đây là khiếu kiện đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh10 nhưng sự phản đối của người khởi kiện trong vụ án này không nhằm vào Quyết định số 12/QĐ-HĐCT
mà chủ yếu nhằm vào nội dung được nêu tại Quyết định số 11/QĐ-HĐXL của Hội đồng xử
lý vụ việc cạnh tranh
Qua những lập luận của Vinapco trong vụ khiếu kiện, có thể thấy nguyên nhân xuyên suốt
8 Khoản 1 Điều 107 Luật cạnh tranh
9 Xem thêm: Bản án số 09/2010/HCST ngày 22/12/2010, TAND Tp Hà Nội, tr 5 – tr 6
10 Khoản 4 Điều 28 Luật tố tụng hành chính năm
2010
Trang 10trong quá trình khiếu kiện là vì không đồng ý
với kết luận cho rằng Vinapco đã thực hiện hành
vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng
của doanh nghiệp khi ở vị thế độc quyền, lợi
dụng vị trí độc quyền đơn phương thay đổi hoặc
hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do
chính đáng (theo khoản 2 khoản 3 Điều 14 Luật
Cạnh tranh) cũng như việc quyết định xử phạt
vinapco 3.378.086.700 đồng nêu tại Quyết định
số11/QĐ-HĐXL của Hội đồng xử lý vụ việc
cạnh tranh
2.2 Mục đích khởi kiện
Khi tham quá trình giải quyết vụ án hành
chính, mục đích đầu tiên và chủ yếu của người
khởi kiện là yêu cầu Toà án tuyên bố văn bản
hoặc hành vi mà mình cho là trái pháp luật và
loại bỏ một hoạt động quản lý cụ thể vì cho rằng
hoạt động đó trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi
hợp pháp của người khởi kiện Bằng cách này,
người khởi kiện bảo vệ được các quyền và lợi
ích hợp pháp của mình đang bị xâm phạm bởi
hoạt động quản lý hành chính bị kiện Trong vụ
án mà chúng ta đang bình luận, quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh là quyết định chứa đựng
những nội dung trực tiếp ảnh hưởng đến quyền
lợi của người khởi kiện: Phạt Công ty Vinapco
với mức phạt là 0,05% tổng doanh thu trong năm
2007, tương đương với số tiền là 3.378.086.700
đồng; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tách
công ty Vinapco ra khỏi VNA và cấp giấy phép
cho các doanh nghiệp khác cùng được thực hiện
chức năng cung cấp xăng dầu hàng không; buộc
công ty Vinapco phải chịu phí xử lý cạnh tranh
là 100.000.000 đồng11 Trong khi đó, quyết định
số 12/QĐ-HĐCT ngày 26/6/2009 của Hội đồng
cạnh tranh chỉ là quyết định giải quyết khiếu
nại, chỉ bác bỏ yêu cầu khiếu nại của Vinapco,
nó không chứa đựng những nội dung mới làm
ảnh hưởng xấu đến quyền lợi của Vinapco Do
đó, mục tiêu chính yếu mà Vinapco hướng đến
trong vụ kiện chính là việc huỷ bỏ quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh số11/QĐ-HĐXL của Hội
đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Vấn đề này thể
hiện rõ trong đơn khởi kiện vụ án của Vinapco
11 Quyết định số 11/QĐ-HĐXL ngày 14/4/2009 của
Hội đồng xử lý cạnh tranh
và trong bản luận cứ của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho người khởi kiện 12: tuyên bố công ty Vi-napco không vi phạm các khoản 2 và 3 Điều 14 Luật Cạnh tranh; huỷ bỏ toàn bộ quyết định số ll/QD-HDXL ngày 14/4/2009 của Hội đồng xử
lý vụ việc cạnh tranh
Dù rằng, khi đưa ra yêu cầu khởi kiện cũng như xác nhận yêu cầu tại phiên toà, người khởi kiện có yêu cầu huỷ bỏ quyết định số 12/QĐ-HĐCT, tuy vậy theo chúng tôi, đây chỉ là một yêu cầu kèm theo yêu cầu chính vì không thể có một sự khẳng định Quyết định số ll/QĐ-HĐXL
là đúng đắn (nội dung chính của quyết định số 12/QĐ-HĐCT) trong khi toà án lại tuyên trái pháp luật và huỷ bỏ quyết định này Ngoài ra, nếu không yêu cầu huỷ bỏ quyết định số 12/QĐ-HĐCT thì vụ việc sẽ không được thụ lý vì không thuộc thẩm quyền của Toà án
2.3 Đối tượng cần xem xét, đánh giá để đưa ra quyết định giải quyết vụ án
Về phía Toà án, phạm vi xét xử của Hội đồng xét xử phụ thuộc vào phạm vi yêu cầu của đương
sự Do đó, trong vụ án này, những quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, như: mức xử phạt, căn cứ xử phạt, … thể hiện tại Quyết định
số 11/QĐ-HĐXL của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh chính là những nội dung Toà án cần phân tích, đánh giá Cụ thể, theo những yêu cầu của các bên trong vụ kiện, vấn đề mấu chốt mà Toà án cần xác định là có hay không việc Vinap-
co thực hiện hành vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng của doanh nghiệp ở vị thế độc quyền, lợi dụng vị trí độc quyền đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng theo khoản 2, khoản
3 Điều 14 Luật Cạnh tranh như kết luận của Hội đồng xử lý vị việc cạnh tranh hay không? Trong trường hợp có vi phạm thì việc sử dụng tổng do-anh thu trong năm 2007 để tính tiền phạt có hợp
lý không? Và quy trình tố tụng cạnh tranh tiến hành có đúng theo trình tự luật định hay không? Nói cách khác, Toà án không thể giải quyết vụ
án nếu không xem xét những nội dung nêu trên Chính vì điều này, trong phần nhận định của bản
12 Bản án số 09/2010/HCST ngày 22/12/2010, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội, tr.6-tr7.
Trang 11án sơ thẩm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử
đã dành hầu hết nội dung phân tích để đánh giá
nội dung và thủ tục ban hành Quyết định số 11/
QĐ-HĐXL 13
Về quyết định của Toà án, trong vụ việc mà
chúng tôi đang phân tích, Hội đồng xét xử nhận
thấy việc xử lý vụ việc cạnh tranh là đúng thụ
tục và đúng nội dung do đó Toà án đã bác yêu
cầu của người khởi kiện về việc yêu cầu tuyên
huỷ Quyết định số 12/QĐ-HĐCT mà không
tuyên xử đối với những yêu cầu khác của đương
sự (yêu cầu tuyên bố công ty Vinapco không vi
phạm các khoản 2 và 3 Điều 14 Luật Cạnh tranh;
huỷ bỏ toàn bộ quyết định số ll/QĐ-HĐXL…)
Điều này xuất phát từ việc giới hạn thẩm quyền
của Toà án trong lĩnh vực cạnh tranh là “giải
quyết khiếu kiện đối với quyết định giải quyết
khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh”14 Giả sử trong trường hợp hoạt động
xử lý đối với Vinapco của Hội đồng xử lý cạnh
tranh là trái pháp luật thì quyết định của Toà án
sẽ gặp khó khăn về cơ sở pháp lý Nếu chỉ tuyên
huỷ quyết định số 12/QĐ-HĐCT thì vụ việc
vẫn chưa được giải quyết vì Vinapco vẫn bị xử
phạt theo quyết định số 11/QĐ-HĐXL khi quyết
định này chưa bị huỷ Và như thế, quyền lợi của
người khởi kiện vẫn bị xâm phạm cho dù thắng
kiện Trường hợp Toà án tuyên huỷ cả Quyết
định số 11/QĐ-HĐXL thì thiếu cơ sở pháp lý về
thẩm quyền xét xử của Toà án
Với những lý do vừa phân tích ở trên, theo
chúng tôi, đối tượng khởi kiện vụ án hành chính
trong lĩnh vực cạnh tranh nên được xác định
đúng với bản chất tranh chấp của các bên đương
sự trong vụ án hành chính Đó phải là quyết định
giải quyết vụ việc cạnh tranh (trong trường hợp
này là Quyết định số 11/QĐ-HĐXL) chứ không
phải là quyết định giải quyết khiếu nại đối với
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội
án giải quyết Bởi lẽ, quản lý nhà nước về cạnh tranh, đặc biệt là hoạt động xử lý những trường hợp cạnh tranh không lành mạnh hoặc hạn chế cạnh tranh là một lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi kiến thức không chỉ về hành chính mà còn kiến thức
về nhiều lĩnh vực khác như kinh tế, tài chính, thị trường, hàng hoá… Do đó, việc khiếu nại trước khi khởi kiện, bên cạnh việc trao cho cơ quan quản lý cạnh tranh cơ hội xem xét lại hoạt động
bị kiện của mình, sẽ giúp cho Toà án và người khởi kiện có đầy đủ thông tin chuyên ngành về
vụ việc để từ đó có những yêu cầu phù hợp, những lập luận, đánh giá chính xác
Thủ tục khiếu nại trước khi khởi kiện có
thể đặt ra ở hai cấp độ: Thứ nhất, chỉ được khởi
kiện sau khi đã khiếu nại và đã được giải quyết
mà không đồng ý; Thứ hai, chỉ được khởi kiện
nếu đã khiếu nại nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại vẫn không đồng ý Theo chúng tôi, trong hai cách quy định trên, cách quy định thứ hai là phù hợp hơn vì nó không tạo ra sự lệ thuộc quyền khởi kiện vào việc giải quyết hay không giải quyết khiếu nại
Bên cạnh đó, việc xác định lại đối tượng khởi kiện trong lĩnh vực cạnh tranh là quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh sẽ dẫn đến yêu cầu xác định lại người bị kiện trong vụ án hành chính Theo nguyên tắc, người bị kiện trong vụ
án hành chính là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện16 Do đó, nếu quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh bị kiện thì Thủ trưởng cơ quan quản
lý cạnh tranh là người bị kiện trong vụ án Tuy nhiên, nếu quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
15 Quyền giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Bộ trưởng Bộ Công thương và của Hội đồng cạnh tranh được ghi nhận tại Đều 107 Luật cạnh tranh.
16 Khoản 7 Điều 3 Luật tố tụng hành chính.
Trang 12của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh bị kiện
thì theo chúng tôi, người bị kiện trong vụ án là
Hội đồng cạnh tranh Vì Hội đồng cạnh tranh có
nhiệm vụ tổ chức xử lý các vụ việc cạnh tranh
liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh Trong
quá trình đó, Hội đồng cạnh tranh thành lập ra
Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh để xử lý một
vụ việc hạn chế cạnh tranh cụ thể và Hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh sẽ giải tán sau khi vụ
việc được xử lý xong 17
Nếu những lập luận ở trên được chấp nhận
thì các quy định của Luật tố tụng hành chính
và Luật cạnh tranh về khiếu kiện hành chính
cần được sửa đổi theo hướng ghi nhận Toà án
có thẩm quyền giải quyết đối với “khiếu kiện
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh” 18 Đối với
quyền khiếu kiện của cá nhân, tổ chức cần quy
định lại theo hướng trao quyền khởi kiện vụ án
hành chính đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết
thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật
cạnh tranh mà khiếu nại không được giải quyết
hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý
với cách giải quyết khiếu nại”19
3 Ngoài quyết định giải quyết khiếu nại về
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh Toà án có
thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện đối với
các quyết định khác của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền trong quá trình quản lý cạnh
tranh hay không?
Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về cạnh tranh, tùy từng trường hợp
mà cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành
các quyết định khác nhau để giải quyết các
tình huống phát sinh theo quy định của pháp
luật Một số quyết định phổ biến được chủ thể
17 Xem Điều 53 và Điều 80 Luật cạnh tranh.
18 Điều 28 Luật tố tụng hành chính năm 2010 quy định:
Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, trong
đó khoản có khoản “4 Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu
nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh”
19 Khoản 2 Điều 103 Luật tố tụng hành chính năm
2010 hiện hành: “2 Cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện
vụ án hành chính đối với quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trong trường hợp
không đồng ý với quyết định đó”
có thẩm quyền ban hành trong quá trình quản
lý nhà nước về cạnh tranh có thể kể đến như: Quyết định trường hợp tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm hay không thuộc trường hợp
bị cấm (Điều 23); Quyết định chấp thuận các bên được hưởng miễn trừ hay không chấp thuận các bên được hưởng miễn trừ của Bộ trưởng
Bộ công thương hay của Thủ tướng Chính phủ (Điều 25); Quyết định đình chỉ điều tra, quyết định điều tra chính thức của Cục trưởng Cục quản lý cạnh tranh (Điều 88); Quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh của Hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh (Điều 99)… Các quyết định này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên Trong trường hợp các bên liên quan không đồng ý với một trong các quyết định trên và mong muốn được Toà án xem xét lại theo thủ tục tố tụng thì Toà án lại thiếu cơ sở pháp lý để thụ lý giải quyết Chúng tôi xin lấy vụ việc cạnh tranh giữa công ty Trách nhiệm hữu hạn Tân Hiệp Phát và Công ty Liên doanh Nhà máy bia Việt Nam (VBL) để bình luận
Vào cuối năm 2003, Công ty trách nhiệm hữu hạn Tân Hiệp Phát đưa ra thị trường một loại bia cao cấp - bia Laser nhưng việc phân phối loại bia này gặp nhiều khó khăn, đăc biệt là không thể cạnh tranh được với các loại bia cao cấp khác đang có mặt trên thị trường, như bia Heineken và Tiger của Công ty Liên doanh Nhà máy bia Việt Nam (VBL) Lý do cơ bản trong việc không thể thâm nhập thị trường của bia La-ser là do VBL đã ký hợp đồng độc quyền với các điểm bán bia và tiêu thụ bia tại chỗ (một loại thị trường tiêu thụ bia quan trọng tại Việt Nam) như nhà hàng, khách sạn,… theo nội dung của hợp đồng độc quyền thì các chủ thể đã ký hợp đồng với VBL không được bán các loại bia không do VBL sản xuất Tại thời điểm Tân Hiệp Phát đưa
ra thị trường loại bia Laser thì VBL đã ký hợp đồng độc quyền với hầu hết các điểm bán bia và tiêu thụ bia tại chỗ có mức tiêu thụ lớn Do đó bia Laser của Tân Hiệp Phát không thâm nhập được vào loại thị trường quan trọng này Tân Hiệp Phát cho rằng VBL có hành vi ngăn cản đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường nên
Trang 13đã khiếu nại đến Cục quản lý cạnh tranh
Sau khi điều tra sơ bộ vụ việc và xét thấy có
dấu hiệu của hành vi vi phạm, Cục quản lý cạnh
tranh đã ra quyết định điều tra chính thức và sau
đó chuyển vụ đến Hội đồng cạnh tranh để xử
lý Tuy nhiên, tại giai đoạn này, Cục Quản lý
cạnh tranh lại đề nghị đình chỉ giải quyết vụ việc
cạnh tranh và đề nghị này được Hội đồng xử lý
vụ việc cạnh tranh chấp nhận nên vụ việc cạnh
tranh do Tân Hiệp Phát khiếu nại đã bị đình chỉ
giải quyết bằng Quyết định số
09/QĐ-HĐCT-HĐXL 20 Không đồng ý với cách xử lý đó,
Tân Hiệp Phát khiếu nại vụ việc đến Hội đồng
cạnh tranh để yêu cầu xem xét vụ việc nhưng
tại Quyết định số 15/QĐ-HĐCT giải quyết
khiếu nại về quyết định đình chỉ giải quyết vụ
việc cạnh tranh, các yêu cầu của Tân Hiệp Phát
không được Hội đồng Cạnh tranh chấp nhận
Tân Hiệp Phát tiếp tục không đồng ý và khởi
kiện vụ án hành chính tại TAND Tp Hồ Chí
Minh và đã được Toà án thụ lý 21 Tuy nhiên, sau
đó Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vì
“theo quy định tại khoản 21 Điều 11 Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Toà án
chỉ có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện đối với
quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh, không có thẩm quyền giải
quyết khiếu kiện đối với quyết định giải quyết
khiếu nại về quyết định đình chỉ giải quyết vụ
việc cạnh tranh” 22
Việc Toà án đình chỉ giải quyết vụ án là phù
hợp với quy định của pháp luật tố tụng và pháp
luật cạnh tranh tại thời điểm Toà án giải quyết
vụ án, cũng như phù hợp với pháp luật hiện
hành23 Tuy nhiên, qua vụ việc trên có thể thấy
20 Xem thêm : Nguyễn Thanh Tú, Pháp luật cạnh
tranh, chuyển giao công nghệ và Hiệp định Trips –
kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2010, tr 451 - 460.
21 Hồ sơ thụ lý số 25/HCST ngày 02/11/2010 về
việc khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại đối
với quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh
22 Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số
191/2011/QĐST-HC ngày 21/2/2011 của TAND Tp Hồ Chí Minh
23 Các quy định về thẩm quyền xét xử hành chính
của Toà án trong lĩnh vực cạnh tranh được quy định
trong Luật TTHC 2010 là giống với các quy định của
Pháp lệnh TTGQCVAHC trước đây
quyền khởi kiện vụ án hành chính của các bên liên quan trong vụ việc cạnh tranh cũng như thẩm quyền xét xử của TAND trong lĩnh vực này là rất hẹp vì chỉ có thể khiếu kiện đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh Nói một cách khác, trừ trường hợp ra quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công thương hoặc của Hội đồng cạnh tranh đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, tất cả các hoạt động quản lý cạnh tranh của cơ quan có thẩm quyền đều không thể
bị xem xét lại bởi Toà án theo thủ tục tư pháp Bên cạnh đó, các quy định về phạm vi khiếu kiện hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh chưa thực sự hợp lý nên cơ quan có thẩm quyền có thể
“vận dụng” để tránh việc bị khởi kiện ra trước Toà án Trở lại vụ kiện không thành của Tân Hiệp Phát, dù cùng một nội dung quyết định cho rằng VBL không vi phạm cạnh tranh nhưng thủ tục xử lý khác nhau thì quyền khởi kiện hành chính của các bên cũng như thẩm quyền xét
xử của Toà án là rất khác nhau Cụ thể, nếu cơ quan quản lý cạnh tranh đề nghị đình chỉ giải quyết và Hội đồng xử lý chấp nhận nội dung
đề nghị đình chỉ vì cùng cho là VBL không vi phạm cạnh tranh thì vụ việc không thể đưa ra xem xét lại bằng Toà án Nhưng nếu thông qua phiên điều trần, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh xác định VBL không vi phạm pháp luật cạnh tranh và ra quyết định bác bỏ yêu cầu của Tân Hiệp Phát thì vụ việc có thể được xem xét lại bằng con đường Toà án
Sự khác biệt trên đây xuất phát từ sự phân biệt giữa quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh (Điều 101 Luật cạnh tranh) với Quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh (Điều 105 Luật cạnh tranh) Theo câu chữ của pháp luật cạnh tranh
và pháp luật về tố tụng hành chính cũng như cách giải thích của Toà án trong vụ việc chúng tôi đang bình luận thì quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh không bao gồm quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh Tuy nhiên, theo chúng tôi, quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh trong trường hợp này mang bản chất của một quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Trang 14Trong đó, việc Cục cạnh tranh thống nhất với
Hội đồng xử lý về hành vi của VBL là không
vi phạm và đình chỉ giải quyết (không tiếp tục
giải quyết vụ việc theo khiếu nại của Tân Hiệp
Phát) có ý nghĩa tương đương với việc ra quyết
định xử lý với nội dung xác định VBL không vi
phạm và bác bỏ yêu cầu khiếu nại của Tân Hiệp
Phát Do đó, để đảm bảo quyền khởi kiện của
đương sự, việc thay đổi các quy định liên quan
để Toà án có cơ sở xem xét vụ việc trong trường
hợp vụ việc cạnh tranh bị đình chỉ giải quyết
trong các trường hợp tương tự vụ việc vừa nêu
là điều hết sức cần thiết
Vụ việc được bình luận xảy ra trong thời
gian Pháp lệnh TTGQCVAHC đang có hiệu
lực với những quy định bó hẹp thẩm quyền xét
xử hành chính của Toà án theo lối liệt kê Tuy
nhiên, sau khi Luật Tố tụng hành chính có hiệu
lực (ngày 01/7/2011) với những quy định mở
rộng thẩm quyền của Toà án thì những vướng
mắc về phạm vi thẩm quyền xét xử hành chính
của Toà án trong lĩnh vực cạnh tranh vẫn không
được khắc phục và vẫn tiếp tục bị bó hẹp trong
trường hợp có khiếu kiện quyết định giải quyết
khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Với quy định này, có thể khẳng định tất cả các
quyết định còn lại của người có thẩm quyền ban
hành, tất cả các hành vi của những người này
thực hiện đều không thuộc thẩm quyền xem xét
của Toà án Ở một góc độ khác, chính những
quy định hạn chế thẩm quyền này của Tòa án
đã cản trở quyền tiếp cận Toà án của cá nhân,
tổ chức khi quyền lợi hợp pháp của họ bị xâm
phạm từ những hoạt động của người có thẩm
quyền trong quá trình thực hiện hoạt động quản
lý nhà nước về cạnh tranh
Bên cạnh việc bó hẹp về thẩm quyền giải
quyết các vụ án hành chính của Toà án trong
lĩnh vực cạnh tranh, các quy định của Luật Tố
tụng hành chính và Luật cạnh tranh về vấn đề
này còn nhiều điểm chưa thực sự thống nhất
và rõ ràng Cụ thể, Điều 28 Luật Tố tụng hành
chính quy định những khiếu kiện sau đây thuộc
thẩm quyền giải quyết của Toà án:
"1 Khiếu kiện quyết định hành chính, hành
vi hành chính, trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức"
"4 Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại
về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh".
Với quy định này, các khiếu kiện đối với quyết định xác định trường hợp tập trung kinh
tế thuộc trường hợp bị cấm, quyết định không chấp thuận các bên được hưởng miễn trừ, quyết định đình chỉ điều tra của chủ thể quản lý nhà nước về cạnh tranh đều thuộc thẩm quyền xét
xử của Toá án vì các quyết định trên là các quyết định hành chính và không thuộc các trường hợp
bí mật nhà nước hay quản lý nội bộ theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Tố tụng hành chính Cách xác định này không mâu thuẫn với khoản 4 Điều 28, vì nội dung quy định tại khoản 4 không mâu thuẫn cũng như không loại trừ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 28 của luật này Tuy vậy, xét tổng thể các quy định về thẩm quyền xét xử hành chính của Toà án cũng như quyền khởi kiện của cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực cạnh tranh có thể thấy dụng ý của nhà làm luật chỉ cho phép khiếu kiện và xét xử hành chính đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh Xét riêng
về cách thức quy định, để thể hiện đúng giới hạn xét xử hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh trong hoàn cảnh thẩm quyền xét xử hành chính nói chung đã mở rộng, Điều 28 Luật Tố tụng hành chính cần có những quy định thể hiện rõ
sự khác biệt về phạm vi xét xử đối với các hoạt động quản lý hành chính nói chung và việc xét
xử hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước
về cạnh tranh nói riêng24
có thẩm quyền xét xử hành chính đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.”
Xem tiếp trang 21
Trang 15Qua 25 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt
được những thành tựu to lớn về kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội Cùng với sự phát
triển của đất nước, tình hình tội phạm ở nước
ta cũng diễn biến phức tạp và không ngừng
gia tăng về số vụ, số đối tượng và hậu quả
tác hại gây ra cho xã hội cũng hết sức nặng
nề Để giải quyết tình trạng đó, Nhà nước ta
đã đầu tư rất nhiều tiền của, công sức và thời
gian vào công tác điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án hình sự nói chung và thi hành án
phạt tù nói riêng
Trong công cuộc đấu tranh phòng, chống
tội phạm và bảo vệ pháp luật ở nước ta hiện
nay thì thi hành án phạt tù có vị trí rất quan
trọng Đây là một hoạt động trong lĩnh vực
tư pháp hình sự rất phức tạp, nó có ý nghĩa
quyết định đến mục đích của hình phạt Để
khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng
của nó, đặc biệt trong chiến lược cải cách tư
pháp ở nước ta hiện nay, trong phạm vi bài
viết này chúng tôi tìm hiểu một số vấn đề
lý luận và thực tiễn của hoạt động thi hành
án phạt tù Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của
hoạt động thi hành án phạt tù
1 Khái niệm thi hành án phạt tù
Thi hành án phạt tù là một thuật ngữ pháp
lý được nêu ra trong Bộ luật tố tụng hình sự
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam (các Điều 230, 231, 232) và Pháp lệnh
thi hành án phạt tù và một số văn bản pháp lý
khác Thi hành án phạt tù là một trong những
phần nội dung thi hành án hình sự, là một lĩnh
vực, một bộ phận quan trọng của thi hành bản
án và quyết định của Tòa án Vị trí, vai trò của hoạt động thi hành án phạt tù trong pháp luật thi hành án hình sự ở nước ta hiện nay xuất phát từ những lý do sau đây:
Thứ nhất, trong Bộ luật hình sự nước ta
100% các điều khoản quy định về tội phạm đều có chế tài hình phạt tù, trong đó gần 64% các điều khoản có chế tài là hình phạt tù có thời hạn Chỉ có 30% điều khoản có chế tài lựa chọn giữa hình phạt tù có thời hạn và các hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến việc áp dụng hình phạt
tù của Tòa án trong khi xét xử
Thứ hai, với bản chất là một hoạt động tư
pháp rất phức tạp liên quan nhiều đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của công dân, thi hành án phạt tù là toàn bộ hoạt động quản lý, giáo dục, cải tạo những người
bị kết án tù (tù có thời hạn và tù chung thân) tại trại giam theo thời hạn quy định trong bản
án Quyết định phạt tù của Tòa án nhằm hoàn lương người phạm tội, đưa trở lại cho xã hội những người không còn nguy hiểm và có ích,
do đó luôn đóng vai trò rất quan trọng trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm Xuất phát từ quan điểm này, Điều
1 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù quy định:
“Thi hành án phạt tù là buộc người bị kết
án tù có thời hạn, tù chung thân chấp hành hình phạt tại trại giam nhằm giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống
xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới” 1 Trong hệ thống hình phạt được quy
1 Điều 1 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 2008.
BÀN VỀ KHÁI NIỆM THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ TRONG CHIẾN LƯỢC CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
LÊ HỮU TRÍ *
* ThS, Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân VI.
Trang 16định trong Bộ luật hình sự của nước ta, tù có
thời hạn, tù chung thân là các hình phạt mang
tính cưỡng chế nghiêm khắc Nó tước đi một
cách có thời hạn một phần quyền tự do - một
trong những quyền cơ bản của con người đã
được ghi nhận tại Điều 71 Hiến pháp 1992
Người bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân
bị cách ly khỏi xã hội, khỏi môi trường sống
và hoạt động của các công dân bình thường
khác; bị quản lý, giáo dục, cải tạo trong một
môi trường tách biệt (trại giam) và chịu sự
điều chỉnh của những quy định pháp luật rất
chặt chẽ, nghiêm ngặt Thi hành án phạt tù
là buộc những người bị kết án tù phải chấp
hành hình phạt tại trại giam Cách đặt vấn đề
như vậy là hoàn toàn nhất quán với Khoản
4, Điều 3 Bộ luật hình sự: “Đối với người bị
phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt
tù trong trại giam, phải lao động học tập để
trở thành người có ích cho xã hội” 2
Thứ ba, quá trình tổ chức thi hành án phạt
tù có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời
sống xã hội và do nhiều cơ quan chức năng
phối hợp tổ chức thực hiện mà nòng cốt là lực
lượng Công an nhân dân, dưới sự giám sát
của Nhà nước, các đoàn thể, tổ chức xã hội
và công dân, nhằm đảm bảo cho bản án phạt
tù được thi hành nghiêm chỉnh, loại trừ các vi
phạm có thể xảy ra Các chế định pháp luật
quy định thi hành án phạt tù không những
ghi nhận vai trò, trách nhiệm và hoạt động
của các cơ quan Nhà nước và người có trách
nhiệm thi hành án mà còn điều chỉnh hoạt
động chấp hành án của người bị kết án tù
Một khi bản án có hiệu lực pháp luật tự họ
phải đến chấp hành bản án ấy ở một trại giam
theo quy định của pháp luật, còn nếu họ tìm
cách trốn tránh, cố ý không chấp hành thì bị
cưỡng chế theo pháp luật
Từ những phân tích trên đây chúng ta có
thể đi đến khái niệm về thi hành án phạt tù
như sau: Thi hành án phạt tù là hoạt động tổ
chức thi hành bản án, quyết định phạt tù đã
2 Điều 3 Bộ luật hình sự.
có hiệu lực pháp luật của những cơ quan, cá nhân được Nhà nước giao quyền buộc những người bị kết án tù có thời hạn hoặc tù chung thân phải chấp hành bản án phạt tù tại trại giam nhằm mục đích quản lý giáo dục cải tạo
họ trở thành những người lương thiện có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới
2 Đặc trưng của thi hành án phạt tù
* Đặc trưng về chủ thể tiến hành hoạt động thi hành án phạt tù
Theo Điều 5 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù quy định: “Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về công tác thi hành án phạt tù trong phạm vi cả nước; ban hành quy chế trại giam; quyết định các chế độ, kinh phí và các vấn đề khác có liên quan đến việc thi hành án phạt tù nhằm bảo đảm bản án, quyết định phạt tù đã
có hiệu lực pháp luật phải được thi hành kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ quản lý công tác thi hành án phạt tù và tổ chức công tác thi hành án phạt tù.”
Như vậy, Chính phủ là cơ quan quản lý Nhà nước về công tác thi hành án phạt tù, còn Bộ Công an, Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ quản lý công tác thi hành án phạt tù và tổ chức công tác thi hành án phạt tù
Theo Điều 6, 7, 8 Pháp lệnh Thi hành án phạt
tù quy định: “Toà án, Viện kiểm sát có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý và thi hành
án phạt tù trong công tác thi hành án và kịp thời
ra những quyết định có liên quan đến việc thi hành án theo quy định của pháp luật
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành án phạt tù, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình người
bị kết án tù và công dân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án phạt tù trong công tác
Trang 17thi hành án và giúp đỡ người đã chấp hành xong
hình phạt tù tạo lập cuộc sống bình thường.”
Như vậy, Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan
Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình người bị
kết án tù và công dân là những cơ quan và cá
nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan
quản lý và thi hành án phạt tù trong công tác
thi hành án phạt tù
Qua đó, chúng ta thấy có rất nhiều cơ quan,
tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tiến hành
hoạt động thi hành án phạt tù nhưng không
có người bị kết án tù tham gia
* Đối tượng của hoạt động thi hành án
phạt tù
Đối tượng của hoạt động thi hành án phạt tù
chính là người bị kết án tù theo bản án của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật Nếu một người có
bản án của Tòa án nhưng bản án đó chưa có hiệu
lực pháp luật thì họ vẫn chưa bị coi là người bị
kết án mà họ vẫn coi là bị cáo Bị cáo thì chưa
phải là đối tượng của hoạt động thi hành án phạt
tù Khi người bị kết án tù vào trại giam để chấp
hành hình phạt thì họ trở thành phạm nhân Phạm
nhân được hưởng các quyền công dân trừ những
quyền bị pháp luật tước bỏ, được Nhà nước cấp
các chế độ ăn, mặc, ở, phòng chữa bệnh, được
thăm gặp thân nhân Ngoài ra, trong thời gian
chấp hành án, phạm nhân còn được hưởng các
chế độ về học tập, giáo dục, lao động, học nghề,
vui chơi giải trí… Bên cạnh đó, phạm nhân phải
chấp hành các quy định của pháp luật về giam
giữ, cải tạo ở trại giam Phạm nhân phải tuyệt
đối phục tùng mệnh lệnh, tuân thủ sự hướng dẫn
của cán bộ trại giam, tự giác rèn luyện để trở
thành con người lương thiện 3
* Đặc trưng của hoạt động quản lý giam
giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân
Đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý
giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân chính
là tính cưỡng chế nghiêm khắc Phạm nhân
bị cách ly khỏi xã hội, khỏi môi trường sống
3 Điều 1 Nội quy trại giam.
bình thường và phải chịu sự quản lý, giáo dục trong môi trường tách biệt với những quy định chặt chẽ và nghiêm ngặt Thi hành
án phạt tù là một vấn đề quan trọng thể hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước ta đối với công tác cải tạo, giáo dục những người lầm lỗi Hoạt động thi hành
án phạt tù của chúng ta một mặt nhằm đề cao tính nghiêm minh của pháp luật, đề cao pháp chế XHCN, mặt khác, đó là quá trình giáo dục, cải tạo phạm nhân để giúp họ nhận thức một cách sâu sắc sai lầm của mình và từ đó,
họ tự giác cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, xây dựng
ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của đời sống xã hội, ngăn ngừa hành vi tái phạm tội và hơn nữa là giúp họ sớm hoàn lương để trở về với cộng đồng xã hội Việc áp dụng thi hành án phạt tù ở nước ta phải luôn quán triệt phương châm “kết hợp giữa trừng phạt và cải tạo”, trong đó đặt công tác giáo dục, cải tạo con người lên hàng đầu nhằm giúp người bị kết án tù chuyển hóa về mặt tư tưởng, tích cực sửa chữa thói xấu trong ứng xử trái với chuẩn mực của xã hội để tìm lại chân giá trị của mình trong đời sống xã hội
Thi hành án phạt tù không chỉ là một hoạt động trực tiếp tác động đến người bị kết án
tù mà còn tác động đến gia đình của người phạm tội, đến các thành viên khác trong xã hội Do đó, việc tổ chức thi hành án phạt tù
có ý nghĩa xã hội sâu sắc
3 Vị trí của thi hành án phạt tù
Thi hành bản án hình sự nói chung và thi hành hình phạt tù nói riêng là giai đoạn cuối cùng trong quá trình giải quyết một vụ
án hình sự, là một trong những công việc
hệ trọng của bất kỳ nhà nước nào Bất kỳ người bị kết án tù nào cũng đều phải chấp hành hình phạt của mình tại các trại giam Điều đó không chỉ đảm bảo pháp luật hình sự được thi hành nghiêm chỉnh, mà còn thể hiện quyền uy của nhà nước đối với người phạm tội bị tuyên án phạt tù Tuy nhiên, ở Việt Nam
Trang 18hiện nay, thi hành bản án phạt tù lại gắn liền với
chiến lược cải cách tư pháp trong việc tổ chức
bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan tư
pháp nói riêng Đây là vấn đề rất phức tạp không
chỉ liên quan đến sự thống nhất hoạt động giữa
các cơ quan nhà nước trong điều kiện hiện nay,
mà còn đụng chạm đến chế độ, chính sách đối
với những người đang làm việc tại các cơ quan
này Để hiểu rõ điều này, cần bắt nguồn từ việc
xây dựng nhận thức chung về giai đoạn thi hành
án, trong đó có thi hành bản án phạt tù, và yêu
cầu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta
hiện nay
Tuy nhiên, việc thi hành án hình sự nói chung
và thi hành hình phạt tù nói riêng có phải là một
trong các giai đoạn tố tụng hình sự hay không
đang còn là vấn đề chưa được thống nhất về lý
luận trong khoa học tư pháp hình sự
Có quan điểm cho rằng, thi hành án hình sự,
trong đó có thi hành hình phạt tù là một trong
các giai đoạn tố tụng hình sự độc lập của quá
trình tố tụng được xuất phát từ khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Thi hành
án hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình
xét xử nhằm đảm bảo sự khép kín của quá trình
tố tụng hình sự Chính vì vậy, không phải ngẫu
nhiên Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
cũng đã chỉ rõ: “Bộ luật Tố tụng hình sự quy
định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án hình sự” 4
Quan điểm khác lại cho rằng, thi hành án hình
sự là hoạt động tư pháp, nhưng không phải là
giai đoạn tố tụng hình sự độc lập vì nó gắn liền
với hoạt động xét xử của Tòa án Sau khi bản
án hình sự đã có hiệu lực pháp luật, những công
việc tiếp theo đều là công việc của Tòa án vì
Chánh án Tòa án ra quyết định thi hành án; Tòa
án quyết định việc miễn, giảm thời gian chấp
hành hình phạt; Tòa án quyết định việc xóa án
tích cho người bị kết án… Điều 256 Bộ luật Tố
tụng hình sự cũng quy định: “Trong thời hạn
bảy ngày, kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm
có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận
4 Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự.
được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Tòa án khác cùng cấp
ra quyết định thi hành án”5 Một số điều luật khác liên quan đến thi hành bản án tử hình (các Điều 258, 259); thủ tục giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt (Điều 269); xóa án tích do Tòa án quyết định (Điều 271)… cũng quy định tương tự Chính từ điều này, những người theo quan điểm này xác định thi hành bản án hình sự, trong đó có thi hành hình phạt tù là hoạt động tư pháp mang tính chất hành chính, hay còn gọi là hành chính tư pháp, vì cơ quan tư pháp (Tòa án)
ra các quyết định mang tính chất hành chính để
cơ quan chấp hành phải thực hiện, có tính cưỡng chế nhà nước đối với người có bản án hình sự Quan điểm thứ ba thì cho rằng, thi hành án hình sự đã có hiệu lực pháp luật không phải là hoạt động tư pháp nói chung và không phải là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự nói riêng vì nó không chứa đựng các quan hệ tố tụng Theo những người đưa ra quan điểm này, khi nói đến quan hệ tố tụng hình sự trong hoạt động tư pháp là nói đến quan hệ ngang quyền trong tìm kiếm chứng cứ giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội, trong việc tranh tụng tại phiên tòa để tìm ra sự thật khách quan của vụ án hình
sự để quyết định việc có áp dụng hay không
áp dụng loại và mức hình phạt hình sự Vì vậy, những nguyên tắc cơ bản phải tuân thủ trong hoạt động tư pháp nói chung và tố tụng hình
sự nói riêng là nguyên tắc bình đẳng của những người tiến hành và tham gia tố tụng Giai đoạn thi hành bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật không phải tuân thủ những nguyên tắc này vì
ở đây không có sự bình đẳng Tại giai đoạn này chỉ có quan hệ mệnh lệnh, quyền uy của Nhà nước buộc người có bản án kết tội phải bị thi hành Hay nói cách khác, thi hành án hình sự nằm trong quan hệ hành pháp Khi bản án đã
có hiệu lực pháp luật thì cơ quan của Chính phủ phải ra quyết định và đưa bản án đó vào thi
5 Điều 256 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trang 19hành Xuất phát từ điều này, không phải ngẫu
nhiên, các văn bản pháp luật tố tụng nói chung
và Bộ luật Tố tụng hình sự nói riêng không
quy định những người liên quan đến việc đảm
bảo thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật
là những người tiến hành tố tụng, mà chỉ có
những người trong các cơ quan điều tra, truy
tố, xét xử mới là những người tiến hành tố
tụng (Điều 33 BLTTHS)
Như vậy qua phân tích như trên, để hiểu cho
đúng giai đoạn thi hành án hình sự nói chung
và vị trí của thi hành án phạt tù nói riêng, có
lẽ chúng ta phải nắm vững đặc điểm của hệ
thống pháp luật và tính logíc của công việc cụ
thể liên quan đến thi hành án hình sự Đúng
là nếu coi thi hành án hình sự, trong đó có thi
hành án phạt tù, là một giai đoạn tố tụng hình
sự thì phải quy định trong nó có những người
tiến hành tố tụng; nếu trong nó có những người
tiến hành tố tụng thì hoạt động của những
người này phải hướng vào việc thực hiện hoạt
động tư pháp, những hoạt động đảm bảo xét
xử có căn cứ và hợp pháp Mặt khác, nếu thi
hành án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thì
những người tiến hành tố tụng hình sự không
chỉ bao gồm những người trong cơ quan thi thi
hành bản án phạt tù (công an, quân đội), mà cả
những người trong chính quyền xã, phường,
thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết
án, cư trú hoặc làm việc khi đưa bản án cải tạo
không giam giữ, án treo, quản chế, cấm cư trú,
tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm
chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công
việc nhất định; những người làm việc trong
các cơ sở y tế thi hành quyết định về bắt buộc
chữa bệnh (Điều 257 BLTTHS)
Chúng tôi không đồng ý với quan điểm thứ
nhất và thứ hai cho rằng thi hành án phạt tù là
một giai đoạn của tố tụng hình sự và thi hành
án phạt tù là hoạt động hành chính tư pháp
Chúng tôi đồng ý với những người theo quan
điểm thứ ba cho rằng thi hành án phạt tù đơn
thuần là một hoạt động hành chính, hoạt động
quản lý nhà nước Bởi vì, thi hành án phạt tù không chứa đựng những đặc trưng của quan
hệ pháp luật tố tụng hình sự và trong quá trình tiến hành hoạt động thi hành án phạt tù cũng không tuân thủ nguyên tắc của luật tố tụng hình sự Ngoài ra, các hoạt động của Tòa án trong quá trình tổ chức thi hành án phạt tù chỉ mang tính chất hành chính, tính chất quản lý nhà nước nhằm đảm bảo bản án, quyết định phạt tù của Tòa án được thi hành Các hoạt động đó không mang đặc trưng của hoạt động
tư pháp..
tiếp theo trang 16
XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG KHỞI KIỆN VỤ
ÁN HÀNH CHÍNH
cho phép các bên đương sự có quyền khởi kiện
vụ án hành chính khi không đồng ý với quyết định của cơ quan quản lý cạnh tranh có ý nghĩa
to lớn trong việc đảm bảo pháp chế trong quản
lý cạnh tranh và đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, theo chúng tôi, cần phải thẳng thắn thừa nhận rằng: việc Toà án xem xét lại các quyết định trong lĩnh vực cạnh tranh là một hoạt động còn khá đặc thù
về nội dung và mới mẻ về kinh nghiệm Do đó,
dù việc đưa ra những hạn chế về nội dung xét
xử cũng như thiết lập cơ chế giải quyết phù hợp trong việc giải quyết vụ án hành chính về cạnh tranh là cần thiết, nhưng không vì vậy mà gây
ra những khó khăn về khởi kiện cũng như việc thụ lý và giải quyết vụ án của Toà án Thực tiễn khởi kiện và thụ lý giải quyết hai vụ án hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh đầu tiên ở nước
ta như trên đã đã phân tích, cho thấy yêu cầu này chưa được đáp ứng tốt Thiết nghĩ, việc trao cho Toà án thẩm quyền giải quyết đối với tất cả các khiếu kiện đối với quyết định trong lĩnh vực cạnh tranh với thủ tục tiền tố tụng bắt buộc là điều phù hợp trong thời điểm hiện nay..
Trang 20Đặt vấn đề
Chất lượng của bất kỳ loại hàng hoá nào
cũng phụ thuộc rất lớn ở khâu sản xuất Nếu
khâu sản xuất được áp dụng và tuân thủ những
điều kiện, quy trình chặt chẽ thì hàng hoá làm
ra sẽ đáp ứng những yêu cầu về chất lượng,
đảm bảo an toàn cho người sử dụng Chứng
khoán cũng là một loại hàng hoá Vì vậy,
chất lượng của chứng khoán cũng phụ thuộc
vào khâu chúng được phát hành để bán cho
nhà đầu tư Nếu pháp luật có những quy định
chặt chẽ về điều kiện, thủ tục chào bán thì các
chứng khoán phát hành sẽ được đảm bảo về
mặt chất lượng, giúp các nhà đầu tư (NĐT)
hạn chế được rủi ro và thị trường chứng khoán
(TTCK) có điều kiện phát triển lành mạnh
Chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt,
chất lượng của nó phụ thuộc vào nhiều yếu
tố Trước hết, đó là những yếu tố mang tính
chất nội tại như: kết quả hoạt động sản xuất,
kinh doanh và tình hình tài chính, năng lực
quản trị, điều hành của người quản lý… của tổ
chức phát hành (TCPH) Bên cạnh đó, cũng có
những yếu tố mang tính chất khách quan ảnh
hưởng đến chất lượng chứng khoán như: tình
hình kinh tế vĩ mô của quốc gia, môi trường
đầu tư chứng khoán, các hành vi thao túng giá,
lũng đoạn thị trường… Pháp luật về chứng
khoán của các nước đều có những quy định
về điều kiện mà TCPH phải đáp ứng trước khi
thực hiện chào bán chứng khoán nhằm mục
đích cung cấp cho thị trường những chứng
khoán có chất lượng Pháp luật Việt Nam hiện
hành về chứng khoán cũng có những quy định
về điều kiện chào bán các loại chứng khoán
như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu
tư Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn khá nhiều bất cập, chung chung và không rõ ràng dẫn đến khả năng chứng khoán được phát hành có thể không đảm bảo chất lượng, tạo nên nhiều rủi ro cho NĐT Vì vậy, bài viết này
sẽ tập trung phân tích, đánh giá các quy định
về điều kiện chào bán chứng khoán theo pháp luật Việt Nam hiện hành, qua đó hình thành một số những kiến nghị để hoàn thiện
1 Các hình thức chào bán chứng khoán 6
6 Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành không có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ
“chào bán chứng khoán” Chẳng hạn, Luật doanh nghiệp
2005 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm
2005 (Luật doanh nghiệp 2005) thì sử dụng thuật ngữ
“phát hành chứng khoán” (khoản 3 Điều 77; khoản 3 Điều 130; khoản 2 Điều 141) Trong khi Luật Chứng khoán 2006 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng
06 năm 2006 (tiếp theo gọi là Luật chứng khoán 2006) lại sử dụng thuật ngữ “chào bán chứng khoán” (Điều 1) Nghị định 01/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chào bán cổ phần riêng lẻ ban hành ngày 04 tháng 01 năm
2010 (Nghị định 01/2010/NĐ-CP) thì sử dụng thuật ngữ
“chào bán cổ phần”, Nghị định 52/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp ngày 19/05/2006 (Nghị định 52/2006/NĐ-CP) lại sử dụng thuật ngữ “phát hành trái phiếu riêng lẻ” Chúng tôi cho rằng, thuật ngữ “chào bán chứng khoán” hoặc “chào bán
cổ phần” là chuẩn xác hơn vì nó bao hàm cả việc chào bán chứng khoán dưới dạng dữ liệu điện tử - một hình thức phổ biến hiện nay nhằm tiết giảm chi phí so với việc in ấn và phát hành chứng chỉ vật chất và tiện giao dịch Mặt khác, khái niệm “chào bán chứng khoán” và
“chào bán cổ phần” còn bao gồm cả việc chào bán cổ phiếu và cổ phần của các trường hợp nhằm tái cơ cấu lại vốn nhưng không làm tăng vốn điều lệ (ví dụ như chào bán cổ phần của cổ đông Nhà nước trong trong công ty
cổ phần để giảm tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước, qua đó cơ cấu sở hữu và vốn sẽ thay đổi nhưng không tăng vốn điều lệ) Hình thức này được quy định tại điểm b khoản
1 Điều 3 Nghị định 14/2007/NĐ-CP ban hành ngày 19 tháng 01 năm 2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán (Nghị định 14/2007/NĐ-CP).
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ
ĐIỀU KIỆN CHÀO BÁN CHỨNG KHÓAN TẠI VIỆT NAM
* TS Trưởng khoa Luật, Trường Đại học Kinh
tế-Luật, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
LÊ VŨ NAM *
Trang 21Thực tiễn hoạt động của TTCK trên thế giới
cho thấy, có hai hình thức chào bán chứng
khoán phổ biến là chào bán ra công chúng
(public offerings) và chào bán riêng lẻ hay
còn gọi là chào bán nội bộ (private offerings
hoặc non - public offerings) Trong khoa
học pháp lý, chào bán chứng khoán ra công
chúng là việc chào bán rộng rãi chứng khoán
cho công chúng đầu tư7 Ở Việt Nam, khái
niệm chào bán chứng khoán ra công chúng
được quy định tại khoản 12 Điều 6 Luật
Chứng khoán 2006 Theo đó, chào bán chứng
khoán ra công chúng là việc chào bán chứng
khoán theo một trong các phương thức: (a)
Thông qua phương tiện thông tin đại chúng,
kể cả Internet; (b) Chào bán chứng khoán
cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không
kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;
(c) Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư
không xác định Luật chứng khoán Bulgary
được Quốc hội nước này thông qua ngày
15 tháng 12 năm 1999 cũng có những quy
định tương tự khoản 1, Điều 4 của Luật này
quy định: “Phát hành chứng khoán ra công
chúng là việc chào bán chứng khoán trong
các trường hợp sau đây: (1) Cho tối thiểu
50 nhà đầu tư; hoặc (2) Cho một lượng nhà
đầu tư xác định, bao gồm cả việc thông qua
các phương tiện thông tin đại chúng” Trong
hoạt động chào bán chứng khoán ra công
chúng bao gồm cả chào bán lần đầu (initial
public offerings - IPOs) và chào bán bổ sung
(seasoned offering) Chào bán chứng khoán
lần đầu là lần đầu tiên chứng khoán của một
tổ chức được phát hành được chào bán rộng
rãi ra công chúng để sau đó trở thành công ty
đại chúng (public corporation) để có thêm cơ
hội huy động vốn từ công chúng đầu tư phục
vụ cho sản xuất, kinh doanh Chào bán bổ
sung là những lần chào bán tiếp theo ra công
chúng của tổ chức phát hành để huy động vốn
bổ sung vốn điều lệ sau khi đã chào bán lần
7 Bryan A Garnet (1999), Black’s Law Dictionary,
West Group (7th Ed.), p 1112-1113.
đầu nhằm mở rộng quy mô kinh doanh hoặc tái cấu trúc lại vốn trong công ty Rủi ro của NĐT khi mua chứng khoán phát hành lần đầu
sẽ cao hơn đối với việc mua chứng khoán của những lần phát hành bổ sung Vì khi chào bán chứng khoán lần đầu, TCPH chưa được các nhà đầu tư biết đến nhiều, uy tín và thương hiệu cũng như hiệu quả hoạt động của nó chưa được khẳng định và kiểm chứng Do đó, pháp luật của nhiều nước, trong đó có Việt Nam tập trung quy định điều kiện và trình tự, thủ tục chào bán khá chi tiết để bảo vệ NĐT.Khác với chào bán ra công chúng, chào bán chứng khoán riêng lẻ là hình thức chào bán trong phạm vi hẹp đối với một số đối tượng nhất định (thường là các NĐT có tổ chức như: ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công
ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán…) kèm theo các điều kiện hạn chế, không tiến hành công bố thông tin một cách rộng rãi ra công chúng8 Chúng ta có thể hiểu phạm vi hẹp ở đây là giới hạn người được
sở hữu cổ phiếu và giá trị của đợt phát hành nhỏ Số lượng NĐT cụ thể được mua chứng khoán theo hình thức chào bán này do pháp luật mỗi quốc gia quy định Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán được Quốc hội thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010 (sau đây gọi là Luật chứng khoán sửa đổi, bổ sung)
đã bổ sung khoản 12a Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 về khái niệm chào bán chứng
khoán riêng lẻ Theo đó, “Chào bán chứng
khoán riêng lẻ là việc tổ chức chào bán chứng khoán cho dưới một trăm nhà đầu tư, không
kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet”.
8 Khoản 1 Điều 4 Nghị định 01/2010/NĐ-CP quy
định: “Chào bán cổ phần riêng lẻ là việc chào bán
cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không
sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho một trong các đối tượng sau:
a) Các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; b) Dưới 100 nhà đầu tư không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp”.
Trang 22Như vậy, có thể thấy rằng sự khác biệt cơ
bản giữa hình thức chào bán chứng khoán
ra công chúng và chào bán chứng khoán
riêng lẻ theo pháp luật Việt Nam chủ yếu
dựa vào các tiêu chí như: số lượng nhà đầu
tư mua chứng khoán; việc chào bán có sử
dụng phương tiện thông tin đại chúng hay
không và tính chất của đợt chào bán là có
bán cho một số lượng nhà đầu tư xác định
hay không Việc phân biệt hai hình thức
chào bán ra công chúng và chào bán riêng
lẻ theo những tiêu chí trên là phù hợp với
thông lệ quốc tế Khác với chào bán chứng
khoán riêng lẻ, một TCPH muốn chào
bán chứng khoán ra công chúng phải xin
phép và được sự chấp thuận của cơ quản
lý Nhà nước và phải đáp ứng các điều kiện
nghiêm ngặt, thực hiện kiểm toán báo cáo
tài chính và công bố thông tin theo quy
định của pháp luật Sở dĩ có yêu cầu cao
như vậy đối với chào bán chứng khoán ra
công chúng là nhằm bảo vệ NĐT, do đa
số các NĐT công chúng là không chuyên
nghiệp, có kiến thức và kinh nghiệm hạn
chế nên khó có thể tự phân tích, đánh giá
chất lượng của chứng khoán để đưa ra
quyết định đầu tư
2 Về mô hình quản lý hoạt động chào
bán chứng khoán
Do tính chất của hoạt động chào bán
chứng khoán là hoạt động có thể tác động
đến đời sống kinh tế, xã hội và chính sách
tài chính-tiền tệ quốc gia, tiềm ẩn nhiều rủi
ro cho NĐT nên hoạt động này phải điều
chỉnh bằng pháp luật và đặt dưới sự quản
lý của một cơ quan quản lý nhà nước về
chứng khoán và TTCK là Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước (UBCKNN)9 Trên thế
9 Tên gọi cơ quan này ở các quốc gia có thể khác
nhau Ví dụ: Ở Anh gọi là Ủy ban Đầu tư chứng khoán
(Securities Investment Board-SIB); ở Mỹ gọi là Ủy
ban chứng khoán và Giao dịch chứng khoán
(Securi-ties and Exchange Commission-SEC); ở Nhật Bản gọi
là Ủy ban Giám sát chứng khoán (Exchange
Surveil-lance Commission-ESC)
giới có hai mô hình quản lý và điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ hoạt động chào bán chứng khoán Ở các quốc gia theo
hệ thống thông luật (Common Law) như
Anh, Mỹ, Úc…, pháp luật về công ty điều chỉnh cả hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ và ra công chúng, còn pháp luật về chứng khoán điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh từ các hoạt động và vận hành của TTCK Trong khi đó, tại các nước theo hệ
thống luật dân luật (Civil Law) như Pháp
và một số nước Châu Âu thì pháp luật về công ty điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ, pháp luật về chứng khoán điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng10
Tại Việt Nam, trước thời điểm Luật chứng khoán sửa đổi, bổ sung được thông qua, cơ chế điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ hoạt động chào bán chứng khoán như sau: Luật doanh nghiệp 2005 và Nghị định 01/2010/NĐ-CP điều chỉnh việc chào bán cổ phần riêng lẻ, hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng được điều chỉnh bởi Luật chứng khoán 200611 Theo đó, việc chào bán chứng khoán ra công chúng phải đăng ký với UBCKNN12
10 Lê Vũ Nam (2007), “Pháp luật về phát hành và
niêm yết chứng khoán”, Chuyên đề Lớp Luật áp dụng
trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK, Chương trình
đào tạo cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán của UBCKNN.
11 Kết luận này căn cứ vào phạm nội dung của khoản
6 Điều 87 của Luật doanh nghiệp; Điều 1 của luật chứng khoán 2006 và Điều 1 của Nghị định 01/2010/ NĐ-CP.
12 Tuy nhiên, khoản 2 Điều 13 Luật chứng khoán
2006 quy định các trường hợp sau đây không phải đăng ký với UBCKNN:
“a) Chào bán trái phiếu của Chính phủ Việt Nam; b) Chào bán trái phiếu của tổ chức tài chính quốc
tế được Chính phủ Việt Nam chấp thuận;
c) Chào bán cổ phiếu ra công chúng của doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần;
d) Việc bán chứng khoán theo bản án, quyết định
của Toà án hoặc việc bán chứng khoán của người quản
lý hoặc người được nhận tài sản trong các trường hợp phá sản hoặc mất khả năng thanh toán.”
Trang 23đồng thời phải đáp ứng các điều kiện
nhất định và công bố thông tin theo quy
định của pháp luật Sau khi Luật chứng
khoán sửa đổi, bổ sung có hiệu lực, thì hoạt
động chào bán chứng khoán riêng lẻ cũng
được điều chỉnh bởi Luật này và Luật chứng
khoán 2006 và phải đăng ký với UBCKNN
Riêng việc “chào bán chứng khoán riêng lẻ
của tổ chức phát hành không phải là công ty
đại chúng được thực hiện theo quy định của
Luật doanh nghiệp và các quy định khác
của pháp luật có liên quan” (khoản 1 Điều
10a Luật chứng khoán sửa đổi, bổ sung)
3 Quy định pháp luật về điều kiện chào
bán chứng khoán ra công chúng
Trên thế giới, khi quy định về các điều
kiện chào bán chứng khoán ra công chúng,
các nhà làm luật có nhiều cách tiếp cận khác
nhau Nhưng tựu chung lại, có hai nhóm điều
kiện về chào bán chứng khoán ra công chúng,
bao gồm: nhóm điều kiện đảm bảo tính minh
bạch và tính đúng pháp luật của đợt chào bán
và nhóm điều kiện đảm bảo chất lượng của
chứng khoán được chào bán
Nhóm thứ nhất gồm các điều kiện sau đây:
1) Việc chào bán chỉ được tiến hành sau khi
công ty phát hành đã đăng ký chào bán với cơ
quan quản lý nhà nước về chứng khoán và
TTCK;
2) Việc chào bán và phân phối chứng khoán
phải được tiến hành thông qua một định chế
trung gian là công ty chứng khoán hoặc ngân
hàng thương mại với vai trò là nhà bảo lãnh
phát hành hoặc đại lý phân phối chứng khoán;
4) Việc chào bán được tiến hành cho một
số lượng NĐT không xác định (công chúng
đầu tư) và phải tiến hành công bố thông tin
theo quy định và kết quả đợt chào bán phải
có tối thiểu một số lượng NĐT nhất định mua
được;
5) Quy mô của đợt phát hành phải ở một
mức độ nhất định về khối lượng hoặc giá trị
chứng khoán phát hành
Nhóm điều kiện thứ hai gồm các điều kiện sau:
1) Chỉ những TCPH có quy mô nhất định
về vốn (thường là vốn điều lệ hoặc vốn chủ
sở hữu hoặc tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu hay kết hợp các yếu tố trên);
2) TCPH phải hoạt động kinh doanh hiệu quả trong một số năm liên tục trước khi phát hành;
3) TCPH phải có phương án sử dụng một cách hiệu quả vốn thu được từ đợt phát hành.Tùy theo điều kiện, trình độ phát triển TTCK của từng quốc gia và quan điểm của nhà làm luật mà pháp luật mỗi nước có thể quy định những điều kiện chào bán chứng khoán công chúng là nhiều hay ít và mức độ yêu cầu cho từng điều kiện cụ thể Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng có thể thấy rằng, các nhà làm luật đã tham khảo rất kỹ các kinh nghiệm của thế giới và nhiều quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng cũng
đã chứa đựng những yếu tố tương đồng với thông lệ quốc tế Phần lớn các điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng thuộc nhóm thứ nhất đã được thể hiện rất rõ trong chính khái niệm về chào bán chứng khoán ra công chúng đã dẫn chiếu ở trên Đó là việc chào bán phải sử dụng phương tiện thông tin đại chúng, kể cả internet hoặc phải bán được cho trên 100 nhà đầu tư (không kể nhà đầu tư chuyên nghiệp) hoặc tính chất của đợt chào bán là cho một lượng nhà đầu tư không xác định Việc chào bán ra công chúng phải đăng
ký với UBCKNN được quy định tại khoản
1 Điều 13 Luật chứng khoán 2006 Pháp luật Việt Nam không bắt buộc việc chào bán chứng khoán ra công chúng phải thông qua tổ chức trung gian, trừ việc chào bán cổ phiếu của các trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty
cổ phần kết hợp chào bán cổ phiếu ra công chúng phải có công ty chứng khoán tư vấn
Trang 24lập hồ sơ chào bán cổ phiếu (điểm c khoản 2
Điều 4 Nghị định 14/2007/NĐ-CP); chào bán
cổ phiếu của doanh nghiệp làm chủ đầu tư
xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thuộc
đề án phát triển kinh tế - xã hội của các Bộ,
ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương hoặc doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực công nghệ cao được khuyến khích đầu tư
theo quy định của pháp luật phải có tổ chức bảo
lãnh phát hành (điểm d và điểm b khoản 4 và
khoản 5 Điều 4 Nghị định 14/2007/NĐ-CP)
Liên quan đến nhóm các điều kiện đảm
bảo chất lượng chứng khoán khi chào bán ra
công chúng, Điều 12 Luật chứng khoán 2006
quy định khá cụ thể về điều kiện chào bán cổ
phiếu ra công chúng Qua phân tích các điều
kiện chào bán chứng khoán ra công chúng,
chúng tôi nhận thấy:
Một là, yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu
đã góp là 10 tỷ đồng của doanh nghiệp chào
bán cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng là
khá thấp và chưa đủ để đảm bảo chất lượng
cổ phiếu được chào bán Với điều kiện này,
các nhà làm luật muốn sàng lọc về quy mô
vốn của TCPH phải đạt một mức tối thiểu (10
tỷ đồng) nhằm bảo đảm quyền lợi cho NĐT
Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, vốn điều lệ được
quy định chính là cơ sở để xác định tỷ lệ vốn
góp hay sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp
công ty, qua đó làm tiền đề xác định quyền,
lợi ích cũng như nghĩa vụ của các thành viên,
các NĐT trong công ty Theo ý kiến của một
số chuyên gia, vốn điều lệ là căn cứ pháp lý
trong trường hợp tranh chấp, giải thể, để biết
được liệu một doanh nghiệp đã hoàn thành
nghĩa vụ đầu tiên và trên hết là đóng góp đủ
vốn hay chưa, đồng thời, qua vốn điều lệ và
các phần cấu thành còn lại của vốn chủ sở
hữu, ta cũng có thể hình dung doanh nghiệp
làm ăn có hiệu quả và đang chú trọng vào
lĩnh vực nào13 Các nhà kinh tế cho rằng, do
13 Sự khác nhau giữa vốn điều lệ với vốn chủ sở hữu
và rủi ro trong kinh doanh, tại: http://www.saga.vn/
view.aspx?id=9781.
không có một cơ chế xác định số vốn điều lệ thực tế khi các NĐT thành lập doanh nghiệp, nên vốn điều lệ không có ý nghĩa nhiều trong việc đảm bảo khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ hoặc trả nợ đối với các chủ nợ14 Dưới góc độ pháp lý, vốn điều lệ chỉ mang tính danh nghĩa nhằm xác định cơ cấu sở hữu trong công ty bởi vì, doanh nghiệp với tư cách là một pháp nhân chịu trách nhiệm một cách độc lập về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của mình bằng toàn bộ phần vốn thuộc
sở hữu của mình (vốn chủ sở hữu) chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi vốn điều lệ Kinh nghiệm thế giới cho thấy, ngoài quy định về vốn điều lệ tối thiểu, pháp luật một
số nước còn yêu cầu doanh nghiệp khi phát hành chứng khoán ra công chúng còn phải đáp ứng về mức vốn chủ sở hữu nhất định15 Với vai trò và ý nghĩa của mình, vốn chủ sở hữu mới thật sự phản ánh quy mô và tình hình tài sản, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là những yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng chứng khoán chứ không phải vốn điều lệ
Hai là, quy định điều kiện thời gian kinh
doanh có lãi của TCPH chào bán cổ phiếu
và trái phiếu ra công chúng tối thiểu là một năm và không có lỗ lũy kế16 là chung chung,
14 Xem: nh.net/?mcat=284&mScat=1&cat=216&vietsun=370.
http://dangkykinhdoanh.net/site/dangkykinhdoa-15 Vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công
ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần Có 3 nguồn tạo nên vốn chủ sở hữu: số tiền góp vốn của các nhà đầu tư vào vốn điều lệ, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối) và chênh lệch đánh giá lại tài sản Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn kinh doanh (vốn góp và lợi nhuận chưa chia), chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ của doanh nghiệp như: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi Ngoài ra vốn chủ sở hữu còn gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản và kinh phí sự nghiệp (kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp phát không hoàn lại ) Xem tại: http://www.saga vn/dictview.aspx?id=10588.
16 Có thể hiểu nôm na là lỗ cộng dồn đến một thời điểm nhất định.
Trang 25không phải là thước đo tính hiệu quả trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp huy
động vốn Theo điều kiện này, doanh nghiệp
chỉ cần một năm kinh doanh có lãi, không
quan trọng là bao nhiêu, có thể một đồng
cũng được, miễn là không bị lỗ lũy kế sẽ
được chào bán cổ phiếu và trái phiếu ra công
chúng(!) Quy định như vậy không mang tính
chất sàng lọc nhằm đảm bảo doanh nghiệp
chào bán chứng khoán ra công chúng phải
thực sự hoạt động hiệu quả Tính hiệu quả
phải được chứng minh bằng con số lợi nhuận
cụ thể và phải đạt một tỷ lệ nhất định trên
vốn chủ sở hữu hoặc vốn điều lệ trong một
khoảng thời gian đủ để chứng minh tính hiệu
quả ổn định của hoạt động kinh doanh Ở các
nước có TTCK phát triển, pháp luật thường
quy định điều kiện về tính hiệu quả của
doanh nghiệp khi chào bán chứng khoán ra
công chúng là phải hoạt động sản xuất kinh
doanh có lãi không thấp hơn mức quy định
trong một số năm nhất định (thường từ 2 đến
3 năm)
Ba là, việc Luật chứng khoán sửa đổi, bổ
sung đã bổ sung thêm điều kiện ràng buộc
TCPH phải “cam kết đưa chứng khoán vào
giao dịch trên thị trường có tổ chức trong
thời hạn một năm, kể từ ngày kết thúc đợt
chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông
qua” là không hợp lý và trái với quyền tự
chủ trong kinh doanh của doanh nghiệp được
pháp luật quy định Bởi lẽ, niêm yết là một
sự kiện có ảnh hưởng rất lớn đối với doanh
nghiệp giúp cho doanh nghiệp có cơ hội huy
động được vốn dễ dàng và hiệu quả hơn qua
TTCK, nhưng đồng thời cũng tạo ra cho họ
không ít những áp lực như nghĩa vụ công bố
thông tin và áp dụng các nguyên tắc về quản
trị công ty Vì vậy, chỉ khi nào doanh nghiệp
sẵn sàng đối diện với những thách thức và
áp lực này thì họ sẽ tự nộp hồ sơ lên Sở
giao dịch chứng khoán để niêm yết Vì một
trong những nguyên tắc của niêm yết là tự
nguyện Ngoài ra, quy định này còn thể hiện tính bất hợp lý ở chỗ thời điểm mà doanh nghiệp chọn để chào bán chứng khoán thông thường là thời điểm giá cổ phiếu cao, TTCK tăng trưởng và để đáp ứng điều kiện trên đây doanh nghiệp đã phải cam kết niêm yết sau một năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán Thế nhưng, sau khi chào bán thì giá cổ phiếu sụt giảm liên tục, dẫn đến TTCK rơi vào suy thoái sâu như hiện nay thì doanh nghiệp mặc
dù không muốn vẫn phải đưa cổ phiếu của mình lên niêm yết trên thị trường để thực hiện
“cam kết” trước đây Đó là điều phi lý Song song đó, quy định nêu trên còn tạo ra một rào cản đáng kể đối với các doanh nghiệp mặc dù đáp ứng các điều kiện về chất lượng chứng khoán nhưng vẫn không tiếp cận nguồn vốn trên TTCK vì một lẽ là doanh nghiệp đó chưa muốn niêm yết trên TTCK Có thể dụng ý của nhà làm luật khi đưa ra quy định này là nhằm tạo điều kiện để tăng hàng hóa cho TTCK, thu hẹp thị trường chứng khoán tự do vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhưng bằng cách hạn chế quyền tự chủ của doanh nghiệp, vi phạm nguyên tắc tự nguyện trong niêm yết
và tạo ra sự bất hợp lý không cần thiết là một giải pháp cần xem xét lại
Bốn là, pháp luật Việt Nam chỉ tập trung
quy định các điều kiện chào bán các chứng khoán cơ sở như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ mà chưa đề cập đến điều kiện chào bán các loại chứng khoán phái sinh như: quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn, hợp đồng tương lai… mặc dù các loại chứng khoán này đã được quy định trong Luật chứng khoán 200617 Việc pháp luật chưa có quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục chào bán các loại chứng khoán phái sinh
đã hạn chế sự phát triển của TTCK Việt Nam trong thời gian vừa qua
Từ những nhận xét trên đây, chúng ta dễ
17 Xem: Khoản 1, Điều 6, Luật chứng khoán 2006
và được sửa đổi, bổ sung bởi Luật chứng khoán sửa đổi, bổ sung.
Trang 26dàng thấy rằng, các điều kiện về chào bán
chứng khoán ra công chúng của pháp luật
Việt Nam hiện hành còn nhiều bất cập và
khiếm khuyết Đặc biệt là chưa đáp ứng
yêu cầu tạo ra các chứng khoán thật sự có
chất lượng, có thể tạo nên rủi ro lớn cho
các NĐT và ảnh hưởng đến hoạt động của
thị trường trong thời gian qua
Theo các thông tin từ Bộ tài chính và
UBCKNN, sau khi Luật chứng khoán 2006
và Nghị định 14/2007/NĐ-CP hướng dẫn
Luật này ra đời thì hoạt động chào bán
chứng khoán ra công chúng đã “bùng nổ”
thật sự Năm 2007 có gần 200 đợt phát
hành của 192 công ty và 4 ngân hàng
thương mại được đăng ký với UBCKNN
với tổng lượng vốn huy động lên đến gần
40.000 tỷ VND Về đối tượng chào bán cổ
phiếu, cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện
hữu chiếm 48,9% trong khi tỷ lệ chào bán
cho NĐT chiến lược và thông qua đấu giá
lần lượt là 30,45% và 19,09% Trong năm
2008, do sự sụt giảm của TTCK, tổng số
vốn huy động chỉ đạt hơn 14.300 tỷ đồng
từ trên 100 đợt chào bán chứng khoán ra
công chúng18 Bên cạnh việc chịu sự tác
động nặng nề của cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu năm 2008, sự “bùng nổ”
hoạt động chào bán chứng khoán ra công
chúng giai đoạn 2006-2007 đã để lại một
hệ lụy khá nặng nề cho TTCK Việt Nam
là cổ phiếu bị pha loãng, chỉ số VN-Index
sụt giảm xuống mức thấp nhất vào ngày
24/02/2009 là 235,5 điểm19 Điều đáng
nói ở đây là thay vì sử dụng đồng vốn
huy động được từ việc bán chứng khoán
ở giá cao đầu tư vào hoạt động sản xuất,
18 Bộ tài chính, Báo cáo tình tình thi hành Luật
chứng khoán và hoạt động của thị trường chứng
kho-án (Bản Dự thảo), xem tại:
và không ít các trường hợp là đầu tư vào chính cổ phiếu của mình dưới hình thức mua cổ phiếu quỹ Điều này đã góp phần làm đẩy nhanh quá trình lạm phát ở nước
ta và cho tới nay vẫn còn để lại “dư chấn” khá nặng nề cho nền kinh tế
4 Quy định pháp luật về điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ
Như chúng tôi đã trình bày ở phần trên, hiện nay pháp luật phân định việc chào bán chứng khoán riêng lẻ của những TCPH không phải là công ty đại chúng được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp 2005 và các văn bản khác có liên quan, bao gồm
cả Nghị định 01/2010/NĐ-CP; việc chào bán chứng khoán riêng lẻ của các công ty đại chúng được điều chỉnh bởi Luật chứng khoán 2006 và Luật chứng khoán sửa đổi,
bổ sung
Khoản 2, Điều 10a, Luật chứng khoán
sửa đổi, bổ sung quy định: “Điều kiện chào
bán chứng khoán riêng lẻ của công ty đại chúng bao gồm:
a) Có quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị thông qua phương án chào bán và sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán; xác định rõ đối tượng, số lượng nhà đầu tư;
b) Việc chuyển nhượng cổ phần, trái phiếu chuyển đổi chào bán riêng lẻ bị hạn chế tối thiểu một năm, kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán, trừ trường hợp chào bán riêng lẻ theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty, chuyển nhượng chứng khoán đã chào bán của cá nhân cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, chuyển nhượng chứng khoán giữa các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, theo quyết định của Tòa án hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật;
c) Các đợt chào bán cổ phần hoặc trái
Trang 27phiếu chuyển đổi riêng lẻ phải cách nhau
ít nhất sáu tháng”.
So với điều kiện chào bán chứng khoán
ra công chúng, pháp luật quy định các yêu
cầu cho điều kiện chào bán chứng khoán
riêng lẻ thấp hơn nhiều Các điều kiện
chủ yếu có tính chất ràng buộc về mặt
thủ tục pháp lý và việc chuyển nhượng
chứng khoán mà không quan tâm nhiều
đến các điều kiện đảm bảo chất lượng của
chứng khoán như: điều kiện về thời hạn
kinh doanh có lãi, vốn điều lệ… Bởi vì,
chào bán chứng khoán riêng lẻ thường
tiến hành với đối tượng là nhà đầu tư tổ
chức và nhà đầu tư chuyên nghiệp đã xác
định trước là những NĐT có tiềm lực tài
chính lớn, có khả năng phân tích và chấp
nhận rủi ro đồng thời có thể tự bảo vệ
mình Cách tiếp cận này là phù hợp với
thông lệ các nước có TTCK phát triển Tuy
nhiên, việc quy định các điều kiện “hạn
chế chuyển nhượng cổ phần tối thiểu trong
vòng 01 năm kể từ ngày hoàn thành đợt
chào bán” và “các đợt chào bán cổ phần
hoặc trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ phải
cách nhau ít nhất sáu tháng” là nên xem
xét lại Những hạn chế này cũng được quy
định cho việc chào bán cổ phần riêng lẻ
của những TCPH không phải là công ty đại
chúng tại Nghị định 01/2010/NĐ-CP Bình
luận về điều kiện hạn chế chuyển nhượng
cổ phần, tác giả Nguyễn Ngọc Bích cho
rằng, những hạn chế trên là không cần thiết
vì phần lớn cổ phần được chào bán là cổ
phần phổ thông và việc chào bán là để huy
động vốn phục vụ hoạt động của công ty
cổ phần, sự thay đổi cổ đông sau đó do nhu
cầu chuyển nhượng không ảnh hưởng gì
đến hoạt động của công ty20
Theo quan điểm của chúng tôi, quy
định như vậy là trái với tinh thần của Luật
Doanh nghiệp 2005, đồng thời tạo ra nhiều
20 Nguyễn Ngọc Bích (2010), Một Nghị định vô
hiệu một chế định, Thời báo kinh tế Sài gòn, (16).
mẫu thuẫn giữa các văn bản pháp luật và vi phạm quyền tự do chuyển chuyển nhượng
cổ phần của cổ đông quy định tại điểm d khoản 1 Điều 79 Luật doanh nghiệp 2005 Khoản 5, Điều 84, Luật Doanh nghiệp
2005 chỉ quy định trường hợp hạn chế chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập trong thời hạn 3 năm Mặt khác, dưới góc độ kinh tế, thời gian hạn chế chuyển nhượng một năm là quá dài và có thể xuất hiện nhiều rủi ro, nên thay vì tham gia mua cổ phần phát hành riêng lẻ, NĐT mua chứng khoán trên thị trường tập trung hoặc kênh đầu tư khác để vừa tránh được rủi ro thanh khoản (rủi ro về khả năng chuyển nhượng của chứng khoán), vừa không bị hạn chế thời gian chuyển nhượng Như vậy, rõ ràng quy định này đã ảnh hưởng đến kế hoạch huy động vốn của hàng chục ngàn công ty cổ phần và tính hiệu quả của hoạt động đầu tư chứng khoán, đồng thời không đáp ứng yêu cầu về tính hiệu quả của pháp luật Bên cạnh đó, việc hạn chế
về thời gian giữa các đợt chào bán riêng lẻ
là ít nhất 6 tháng cũng gây bức xúc trong giới chuyên gia vì vi phạm quyền tự chủ của doanh nghiệp trong việc lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và
sử dụng vốn (khoản 2 Điều 8 Luật Doanh nghiệp 2005) Hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ trong tiếp cận, phân bổ, sử dụng nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh, bỏ
lỡ cơ hội đầu tư của doanh nghiệp21 Trên phương diện khách quan, chúng tôi hiểu rằng sở dĩ nhà làm luật đưa ra những hạn chế nêu trên là do lo ngại vì thực tế đã
phát sinh tình trạng “nhiều doanh nghiệp
trong và ngoài nước lợi dụng việc phát hành riêng lẻ để phân phối cổ phiếu ra đại chúng thông qua việc mua đi, bán lại quyền mua cổ phần hoặc phát hành cho một số
21 Xem: Phạm Chí Công, Khía cạnh kinh tế của
pháp luật, tại: http://www.thesaigontimes.vn/Home/
doanhnghiep/phapluat/33228/.
Trang 28đối tượng không phù hợp với mục đích thu
hút các NĐT lâu dài và gắn bó quyền lợi
với công ty, không đảm bảo quyền lợi cho
các cổ đông hiện hữu của công ty, đặc biệt
là các cổ đông nhỏ từ đó phát sinh các
tranh chấp, tiềm ẩn các rủi ro cho hoạt
động chúng của TTCK”22 Chúng tôi cho
rằng, để khắc phục tình trạng trên không
nhất thiết phải sử dụng “công cụ” cấm
đoán hoặc hạn chế mà cần tăng cường hoạt
động kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm
trong quá trình huy động và sử dụng vốn
của doanh nghiệp
5 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp
luật về điều kiện chào bán chứng khoán
Để hoàn thiện các quy định pháp luật
về điều kiện chào bán chứng khoán theo
hướng tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp tiếp cận kênh huy động
vốn hiệu quả qua TTCK, đồng thời sàng
lọ c và đảm bảo chứng khoán được chào
bán phải thực sự là những chứng khoán có
chất lượng trong lĩnh vực này nhằm hạn
chế rủi ro, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho NĐT, chúng tôi kiến nghị một số
giải pháp sau đây:
Đối với các điều kiện chào bán chứng
khoán ra công chúng: Các nhà làm luật
cần xem xét loại bỏ những điều kiện chung
chung, không xác định, thiếu tính hiệu quả
bằng những điều kiện rõ ràng và xác định,
là “thước đo sức khỏe” của doanh nghiệp
và cũng là yếu tố đảm bảo chất lượng của
chứng khoán Chúng tôi đề nghị thay thế
điều kiện về mức “vốn điều lệ tối thiểu đã
góp là 10 tỷ đồng” bằng điều kiện quy định
về quy mô vốn chủ sở hữu của TCPH nhằm
đảm bảo yêu cầu về khả năng chịu trách
nhiệm tài sản của TCPH Bên cạnh đó,
22 Bộ tài chính, Tờ trình Chính phủ về Dự án Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán
(Bản Dự thảo), tại: http://duthaoonline.quochoi.vn/
du-thao-luat/du-thao-luat-sua-111oi-bo-sung-mot-so-111ieu-luat-chung-khoan.
cần thay thế điều kiện về “một năm kinh
doanh có lãi, không có lỗ lũy kế” bằng yêu
cầu cụ thể về tỷ lệ lãi cụ thể là bao nhiêu phần trăm trên vốn chủ sở hữu và nên kéo dài thời hạn kinh doanh có lãi của TCPH chào bán chứng khoán ra công chúng là từ
2 đến 3 năm Đồng thời, loại bỏ điều kiện
về việc TCPH phải “cam kết đưa chứng
khoán vào giao dịch trên thị trường có tổ chức trong thời hạn một năm” vì trái với
quyền tự chủ trong kinh doanh của doanh nghiệp được pháp luật quy định và bảo hộ, trái với nguyên tắc tự nguyện trong niêm yết chứng khoán Ngoài ra, các nhà làm luật cần xem xét bổ sung quy định về điều kiện và thủ tục chào bán ra công chúng các chứng khoán phái sinh Các kiến nghị của chúng tôi xuất phát từ mong muốn TTCK Việt Nam sẽ có những hàng hoá có chất lượng, NĐT ít gặp rủi ro hơn trong quá trình đầu tư và thị trường có cơ hội hoạt động lành mạnh, minh bạch và quyền lợi của NĐT sẽ được bảo đảm hơn
Đối với điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ: Nên chăng các nhà làm luật
cũng cần xem xét hủy bỏ các quy định về điều kiện chào bán chứng khoán riêng lẻ trái với Luật Doanh nghiệp 2005 Đó là những điều kiện liên quan đến việc hạn chế chuyển nhượng cổ phần tối thiểu trong vòng 01 năm kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán và điều kiện hạn chế các đợt chào bán cổ phần hoặc trái phiếu chuyển đổi riêng
lẻ phải cách nhau ít nhất sáu tháng Chúng tôi cho rằng, việc hủy bỏ các quy định này là cần thiết nhằm tạo ra sự đồng bộ và thống nhất giữa Luật chứng khoán sửa đổi, bổ sung và Luật doanh nghiệp 2005, nhưng quan trọng hơn là để phù hợp với những nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu,
tự do chuyển nhượng cổ phần của NĐT, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế..
Trang 291 Giới thiệu chung
Việt Nam ngày càng chủ động, tích cực hội
nhập quốc tế, bao gồm không chỉ hội nhập
kinh tế quốc tế mà còn hội nhập quốc tế về an
ninh-chính trị và văn hóa-xã hội Quá trình
này đang và sẽ diễn ra ngày càng sâu rộng
và đi vào thực chất trên nguyên tắc cùng
có lợi (win-win) Để thực hiện tốt mục tiêu
hội nhập quốc tế như vậy, lực lượng doanh
nghiệp Việt Nam tất yếu phải đóng một vai
trò quan trọng Do đó, Chiến lược phát triển
kinh tế-xã hội 2011-2020 đã xác định rõ yêu
cầu “phát triển lực lượng doanh nghiệp trong
nước với nhiều thương hiệu mạnh, có sức cạnh
tranh cao để làm chủ thị trường trong nước,
mở rộng thị trường ngoài nước, góp phần bảo
đảm độc lập, tự chủ của nền kinh tế”.1
Tuy nhiên, một khi quá trình hội nhập
quốc tế nói chung và hội nhập kinh tế quốc
tế nói riêng càng được mở rộng và đi vào
thực chất, khả năng phát sinh tranh chấp
ngày càng nhiều Các tranh chấp đó có thể
bao gồm tranh chấp: (i) giữa chính phủ (nhà
nước) với chính phủ như tranh chấp giữa các
thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) theo cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO;2 (ii) giữa chính phủ với doanh nghiệp
như tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài
* TS, Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp
1 Ví dụ: tranh chấp giữa Việt Nam và Mỹ tại WTO
trong vụ việc United States – Anti-Dumping
Mea-sures on Certain Shrimp from Vietnam, WT/DS404/R,
11/7/2011.
2 Ví dụ: tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài
(nguyên đơn) và Chính phủ Việt Nam (bị đơn) trong
vụ việc Trịnh Vĩnh Bình (Hà Lan), McKenzie/South
Folk (Mỹ) và DialAsie (Pháp).
và chính phủ trên cơ sở các hiệp định bảo hộ đầu tư;3 và (iii) giữa các doanh nghiệp (DN) với nhau
Đối với tranh chấp phát sinh giữa DN với
DN (hay với cá nhân) trong thương mại quốc
tế, bao gồm cả tranh chấp phát sinh từ hợp đồng và tranh chấp ngoài hợp đồng, đây là nhóm tranh chấp giữa các chủ thể tư nhân (tranh chấp tư) Chính phủ (qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nơi DN nguyên đơn hay bị đơn đăng ký hoạt động hay có trụ sở chính thường không can thiệp (và thậm chí không thể hay không nên can thiệp) vào quá trình giải quyết tranh chấp này Nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, chính phủ cũng cần phải có những tác động, can thiệp nhất định đối với các tranh chấp tư như vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của DN nguyên đơn hay bị đơn; qua đó góp phần bảo đảm công bằng, bình đẳng trong thương mại quốc tế và thực hiện đúng trách nhiệm của chính phủ nước DN liên quan mang quốc tịch Chính phủ Mỹ đã khẳng định các hỗ trợ của Mỹ đối với công dân hay DN Mỹ trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại của đối tượng này với công dân hay DN nước ngoài chỉ giới hạn ở việc giúp công dân hay
DN Mỹ có một số kiến thức cơ bản về hệ thống pháp luật của nước sở tại nơi xảy ra tranh chấp Tuy nhiên, Chính phủ Mỹ có thể can thiệp trong trường hợp hệ thống pháp
3 US Department of State Foreign Affairs Manual
Volume 7, Assistance to Citizens Involved in
Commer-cial, Investment and Other Business Related Disputes Abroad (7 FAM 670).
VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀ DOANH NGHIỆP NƯỚC NGOÀI
NGUYỄN THANH TÚ *
Trang 30luật của nước sở tại không cung cấp cho công
dân hay DN Mỹ cơ chế giải quyết tranh chấp
hiệu quả, công bằng, không thiên vị theo quy
định của pháp luật quốc tế. 4
Trong thời gian qua, các DN Việt Nam
đã tham gia vào nhiều vụ tranh chấp thương
mại quốc tế không chỉ với tư cách bị đơn mà
cũng còn với tư cách nguyên đơn, không chỉ
ở trong nước mà còn ở nước ngoài Nhìn
chung, các DN Việt Nam còn bị động, lúng
túng trong quá trình giải quyết tranh chấp này
Đối với các tranh chấp thương mại quốc tế
được xét xử trong nước bằng con đường tòa
án hay trọng tài thương mại, DN Việt Nam
ít nhiều cũng có một số thuận lợi nhất định
Trong trường hợp này, Chính phủ Việt Nam
vẫn có thể hỗ trợ DN Việt Nam liên quan nói
riêng và quá trình xét xử nói chung ít nhất
thông qua việc yêu cầu nước ngoài tương trợ
tư pháp về dân sự trên cơ sở các hiệp định
tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký với
một số nước, như: tống đạt giấy tờ, hồ sơ,
tài liệu cho người đang ở nước được yêu cầu;
triệu tập người làm chứng, người giám định
đang ở nước được yêu cầu; thu thập, cung
cấp chứng cứ ở nước được yêu cầu để giải
quyết tranh chấp thương mại tại Việt Nam…5
Đối với các tranh chấp thương mại quốc
tế giữa DN Việt Nam và DN (hay cá nhân)
nước ngoài được xét xử ở nước ngoài, DN
Việt Nam thường gặp nhiều bất lợi vì họ còn
khá xa lạ với hệ thống cơ quan xét xử, thủ tục
trong và sau quá trình giải quyết tranh chấp
thương mại này Khi thực hiện các hỗ trợ này,
Bộ Tư pháp đã, đang và sẽ đóng một vai trò
4 Xem Điều 13 Luật Tương trợ tư pháp 2007.
5 Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp
quan trọng, vì một trong những chức năng,
nhiệm vụ của Bộ Tư pháp là “tham gia giải
quyết về mặt pháp lý các tranh chấp quốc tế
có liên quan tới Việt Nam theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ”. 6 Tất nhiên, Bộ Tư pháp cần phối kết hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương và các bộ, ngành khác có liên quan để hỗ trợ DN Việt Nam tối đa trong phạm vi có thể trong các tranh chấp thương mại quốc tế này
Các tranh chấp thương mại quốc tế phát sinh giữa DN Việt Nam và DN (hay cá nhân) nước ngoài được giải quyết tại cơ quan tài phán nước ngoài mà Chính phủ Việt Nam có thể hỗ trợ như đề cập ở trên có thể được chia thành ba nhóm chính sau đây:
Thứ nhất, tranh chấp thương mại đơn thuần
giữa DN tư nhân Việt Nam và DN nước ngoài phát sinh từ hợp đồng hay ngoài hợp đồng; Chính phủ Việt Nam hoàn toàn không liên quan, nhưng có thể cung cấp các hỗ trợ về thông tin pháp luật nước ngoài cần thiết cho
DN Việt Nam
Thứ hai, tranh chấp thương mại đơn thuần
giữa DN nhà nước Việt Nam7 và DN nước ngoài; Chính phủ Việt Nam với tư cách là chủ sở hữu phần vốn góp nhà nước vào các
DN nhà nước này, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế (tổng công ty) nhà nước, có thể cung cấp thêm một số hỗ trợ pháp lý khác so với
hỗ trợ pháp lý cho nhóm tranh chấp thứ nhất nêu trên;
Thứ ba, tranh chấp thương mại phát sinh
giữa DN Việt Nam và DN nước ngoài trong
đó Chính phủ Việt Nam có thể là một bên thứ ba có liên quan, tức tranh chấp phát sinh phần nào từ hành động hay không hành động của Chính phủ Việt Nam, từ việc DN Việt
6 Mối quan hệ giữa DN nhà nước và Nhà nước trong chừng mực nhất định được quy định tại khoản
22 Điều 4 và khoản 1 Điều 168 Luật Doanh nghiệp 2005.
7 Xem ho-thuong-hieu/718-logovn.html.
Trang 31http://www.logovn.com/chuyen-trang/bao-Nam phải tuân thủ các quy định của Chính
phủ Việt Nam, hoặc tranh chấp phát sinh từ
việc cơ quan tài phán nước ngoài đã vi phạm
pháp luật quốc tế, xâm phạm quyền và lợi ích
hợp pháp của DN Việt Nam Trong trường
hợp này, Chính phủ Việt Nam cần có những
can thiệp tích cực ở mức độ cao, ở cả góc độ
pháp lý, ngoại giao và kinh tế, thậm chí cả
vận động hành lang để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của DN Việt Nam
Ngoài ra, tranh chấp liên quan đến các biện
pháp phòng vệ thương mại (trade remedies)
như việc DN nước ngoài kiện DN Việt Nam
vi phạm pháp luật chống bán pháp giá, chống
trợ cấp… của nước sở tại vẫn có thể được
xếp vào nhóm tranh chấp thương mại giữa
DN và DN có liên quan đến Chính phủ Tuy
nhiên, bài viết này không đề cập đến dạng
tranh chấp như vậy
2 Một số vụ việc tranh chấp thương mại
quốc tế giữa doanh nghiệp Việt Nam và
doanh nghiệp nước ngoài có liên quan đến
Chính phủ Việt Nam
Trên cơ sở ba nhóm tranh chấp giữa DN
Việt Nam và DN (cá nhân) nước ngoài được
giải quyết tại cơ quan tài phán nước ngoài
như đã phân loại ở trên, một số vụ việc tranh
chấp thương mại điển hình đã (hay có thể)
xảy ra sẽ được nghiên cứu, phân tích cụ thể
Điều này sẽ giúp làm rõ vai trò của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền trong việc hỗ trợ
DN Việt Nam quá trình giải quyết các tranh
chấp như vậy
2.1 Vụ việc Duy Lợi khởi kiện để bảo
vệ kiểu dáng công nghiệp ở Mỹ và vụ việc
tương tự
Ngày 23/3/2000, DN tư nhân Duy Lợi đã
nộp đơn đến Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam
đề nghị cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công
nghiệp đối với sản phẩm khung võng xếp của
Duy Lợi Ngày 31/7/2003, Cục Sở hữu trí
tuệ đã cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công
nghiệp số 7173 cho sản phẩm này theo quy
định của pháp luật Việt Nam.8 Tuy nhiên, ông Chung Sen Wu (Đài Loan) đã nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế đối với khung võng xếp tương tự sản phẩm của Duy Lợi tại Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu Mỹ (USPTO) vào ngày 15/8/2001 và đã được cấp bằng sáng chế theo pháp luật Mỹ vào ngày 22/10/2002 Trong trường hợp này về nguyên tắc, khung võng xếp của Duy Lợi khi vào thị trường Mỹ sẽ vi phạm pháp luật Mỹ về sáng chế vì bằng độc quyền sáng chế của ông Wu đang có hiệu lực tại Mỹ.9
Trên cơ sở tư vấn của một công ty luật, ngày 29/9/2004, Duy Lợi đã yêu cầu Cơ quan sáng chế và nhãn hiệu Mỹ (USPTO) hủy bằng sáng chế độc quyền cấp cho ông Wu vì sáng chế liên quan đến khung võng xếp đang tranh chấp được USPTO cấp không đảm bảo tính mới theo pháp luật Mỹ Cụ thể, ngày nộp đơn của ông Wu muộn hơn ngày công bố của đơn xin cấp bằng kiểu dáng công nghiệp đối với khung võng xếp của Duy Lợi; và kiểu khung võng xếp do ông Wu đăng ký là sao chép khung võng Duy Lợi Cuối cùng, ngày 19/9/2005, USPTO đã hủy bỏ bằng sáng chế đối với khung võng xếp đã cấp cho ông Wu.10Thành công của Duy Lợi trong vụ kiện về quyền sở hữu trí tuệ này là tiền lệ tốt cho DN Việt Nam khi bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài Tuy nhiên phải thấy rằng thành công này chủ yếu do Duy Lợi đã sớm phát hiện việc xâm phạm và kiên trì theo đuổi
vụ kiện thông qua công ty luật của mình Cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam dường như chưa có hỗ trợ đáng kể nào cho Duy Lợi trong quá trình này
Trên thực tế, việc các thương hiệu của
8 Quyền sở hữu trí tuệ là quyền mang tính lãnh thổ: một tài sản trí tuệ được bảo hộ ở quốc gia nào thì quyền sở hữu trí tuệ đối với tài sản trí tuệ này chỉ được bảo vệ và thực thi trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó.
9 Xem http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story php?d=20051017143255.
10 Xem Nam-da-danh-mat-nhung-thuong-hieu-nao-1814634/.