Về những quy định chung của Bộ luật Lao động Các quy định chung của Bộ luật Lao động thể hiện ở Chương 1, nội dung tập trung chủ yếu vào việc quy định đối tượng, phạm vi điều chỉnh; quyề
Trang 1NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP NĂM 2012
Trang 2CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN:
Nguyễn Thúy Hiền, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Trưởng Ban chỉ đạo Đề án
BIÊN TẬP:
Nguyễn Duy Lãm, Vụ trưởng Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp Phạm Thị Hòa, Phó Vụ trưởng Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp
THAM GIA BIÊN SOẠN:
1 Ngô Hoàng - Vụ Pháp chế Bộ Lao động - Thương binh
và Xã Hội
2 Nguyễn Văn Truyền - Cục Quản lý giá Bộ Tài chính
3 Dư Ngọc Bình - Cục Văn hóa cơ sở Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch
4 Đoàn Thái Sơn - Vụ Pháp chế Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
5 Nguyễn Thị Hà - Vụ Pháp chế Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
6 Vũ Thu Hiền - Học viện Tư pháp
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Thực hiện Quyết định số 270/2009/QĐ-TTg ngày
27/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án
"Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi
mới, phát triển của đất nước" và Quyết định số 1726/QĐ-BTP
ngày 23/6/2010 về việc ban hành Chương trình bồi dưỡng kiến
thức pháp luật, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho
nguồn nhân lực thực hiện công tác này, Ban chỉ đạo Đề án biên
soạn cuốn "Sổ tay pháp luật dành cho doanh nghiệp".
Cuốn sách cung cấp những quy định pháp luật mới trong
các lĩnh vực lao động, giá, quảng cáo, bảo hiểm tiền gửi và
phòng, chống rửa tiền, giúp đội ngũ cán bộ pháp chế Bộ,
ngành và doanh nghiệp nâng cao kiến thức pháp luật
Nội dung cuốn sách bao gồm:
Chuyên đề 1: Giới thiệu Bộ luật Lao động
Chuyên đề 2: Giới thiệu Luật Giá
Chuyên đề 3: Giới thiệu Luật Quảng cáo
Chuyên đề 4: Giới thiệu Luật Bảo hiểm tiền gửi
Chuyên đề 5: Giới thiệu Luật Phòng, chống rửa tiền
Ban chỉ đạo Đề án trân trọng cám ơn sự tham gia nhiệt
tình của tập thể tác giả và sự phối hợp tích cực của Vụ Phổ
biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp và các đơn vị thuộc cácBộ: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa - Thểthao và Du lịch, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
để hoàn thành cuốn sách này
Xin trân trọng giới thiệu và mong nhận được những ýkiến đóng góp của bạn đọc
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
BAN CHỈ ĐẠO ĐỀ ÁN
Trang 4Chuyên đề 1 GIỚI THIỆU BỘ LUẬT LAO ĐỘNG
I THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT LAO
ĐỘNG TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT LAO
ĐỘNG (SỬA ĐỔI)
1 Về những quy định chung của Bộ luật Lao động
Các quy định chung của Bộ luật Lao động thể hiện ở
Chương 1, nội dung tập trung chủ yếu vào việc quy định
đối tượng, phạm vi điều chỉnh; quyền và nghĩa vụ của
người lao động, người sử dụng lao động, công đoàn, tổ
chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao
động; vai trò của Nhà nước trong việc quản lý lao động và
những nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt nội dung của Bộ luật
Lao động
1.1 Những kết quả tích cực đạt được
- Phân biệt rõ đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh
của Bộ luật Lao động là quan hệ lao động giữa người sử dụng
lao động và người lao động trong các tổ chức kinh tế, dịch vụ
và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế Từ sự phân biệt này,
Bộ luật Lao động đã quy định chế độ tuyển dụng, làm việc,
lao động trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang, các hợp tác xã…
do các luật tương ứng điều chỉnh
- Khẳng định quyền làm việc của mọi người có khả nănglao động, quyền tuyển chọn lao động của người sử dụng laođộng; đồng thời, quy định các quyền cơ bản của người laođộng, người sử dụng lao động trong quan hệ lao động
- Quy định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của côngđoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệlao động; và vai trò quản lý lao động của Nhà nước
1.2 Những tồn tại, hạn chế
a) Chưa có điều giải thích thuật ngữ để thống nhất cách
áp dụng trong Bộ luật Lao động một số khái niệm như:
“người lao động”, “người sử dụng lao động”, “phân biệt đối xử”, “thương lượng tập thể”
b) Chưa tuyên bố rõ chính sách của Nhà nước về lao động để quán triệt trong các chương, điều cụ thể của Bộ luậtLao động
c) Chưa có quy định về vị trí, vai trò của tổ chức đại diệnngười sử dụng lao động trong việc xác lập và tiến hành quan
hệ lao động
2 Về việc làm
Trang 52.1 Những kết quả tích cực đạt được
- Bộ luật Lao động khẳng định mọi hoạt động lao động
tạo ra nguồn thu nhập mà không bị pháp luật cấm đều là việc
làm, người làm việc trong hay ngoài khu vực nhà nước đều có
quyền và nghĩa vụ, lợi ích như nhau, được và hưởng bảo hiểm
xã hội như nhau, được đối xử bình đẳng trước pháp luật nên
đã góp phần làm thay đổi nhận thức xã hội về việc làm Từ
chỗ người lao động cho rằng có sự phân biệt đối xử giữa
người làm khu vực nhà nước với ngoài khu vực nhà nước,
phân biệt đối xử giữa dấu vuông, dấu tròn, dấu đỏ, dấu đen, có
và không có bảo hiểm nên đã ỷ lại, trông chờ vào sự bố trí
việc làm của Nhà nước thì nay đã chuyển sang chủ động tìm
làm việc trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã, đi làm việc có
thời hạn ở nước ngoài hoặc tự tạo việc làm
- Các chính sách giải quyết việc làm, chương trình quốc
gia về việc làm được ưu tiên thúc đẩy trong chương trình
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Quỹ Quốc gia về
việc làm với tổng vốn khoảng 3.155 tỷ đồng phân bổ cho cả
63 tỉnh, thành phố trong cả nước và các tổ chức chính trị
-xã hội để giải quyết việc làm; đã có 34 địa phương thành
lập Quỹ việc làm của địa phương với tổng số tiền lên đến
380 triệu đồng (số liệu năm 2009) Do đó, đã góp phần tạo
và giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động (bình quân
mỗi năm giải quyết việc làm cho 1,5 triệu người) giảm tỷ lệ
thất nghiệp khu vực thành thị và nâng tỷ lệ sử dụng thờigian lao động ở nông thôn
- Các hình thức chắp nối cung cầu cho thị trường laođộng được tích cực thúc đẩy và hoạt động hiệu quả: đã thànhlập được 148 trung tâm giới thiệu việc làm ở tất cả các địaphương trên cả nước; xuất hiện ngày càng nhiều hơn cácdoanh nghiệp hoạt động giới thiệu việc làm, các website giớithiệu việc làm hội chợ việc làm, sàn giao dịch việc làm đãđược tổ chức thường xuyên tại hầu hết các tỉnh, thành phố lớntrong cả nước góp phần làm cầu nối trực tiếp giữa bên cầu vàbên cung lao động, không qua trung gian
2.2 Những tồn tại, hạn chế
- Về các quy định của pháp luật:
+ Thiếu các quy định về hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu
về lao động việc làm, thị trường lao động phục vụ yêu cầu củaviệc hoạch định chính sách
+ Chưa có quy định để điều chỉnh các hình thức giới thiệuviệc làm mới phát sinh gần đầy như: doanh nghiệp hoạt độngdịch vụ việc làm theo Luật Doanh nghiệp có thẩm quyền cấpphép hoạt động dịch vụ việc làm; doanh nghiệp cho thuê lạilao động
+ Chưa cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài, người nước ngoài hoạt động giới thiệu việc làm
Trang 6+ Quy định về vấn đề thu phí giới thiệu việc làm của
Trung tâm giới thiệu việc làm công và doanh nghiệp hoạt
động giới thiệu việc làm còn chưa khả thi
+ Việc thay đổi cơ cấu, công nghệ là việc tổ chức lại sản
xuất và lao động được tiến hành bởi người sử dụng lao động
sau khi đã có quan hệ lao động, cho nên điều khoản này nên
đặt ở Chương hợp đồng lao động thì phù hợp hơn
- Về tổ chức thực hiện:
+ Trách nhiệm cung cấp thông tin, báo cáo thông tin về
lao động việc làm và thị trường lao động chưa được thực hiện
nghiêm túc, thường xuyên
+ Hoạt động của các trung tâm, doanh nghiệp giới
thiệu việc làm còn chú trọng quá nhiều vào việc đào tạo
nghề, liên kết đào tạo nghề; trong khi hoạt động tư vấn,
giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động chưa
thực sự hiệu quả
+ Việc lập Quỹ giải quyết việc làm địa phương cũng chưa
được tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiện mới chỉ có 34 địa
phương thành lập Quỹ việc làm địa phương
3 Về học nghề
3.1 Những kết quả tích cực đạt được
Nội dung của Chương này đã khẳng định quyền tự do lựachọn nghề và nơi học nghề của người lao động; người lao độngđược nâng cao tay nghề trong quá trình lao động, sản xuất hoặcđược đào tạo nghề khác trước khi làm việc khác trong doanhnghiệp, do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ…, ngườilao động học nghề để làm việc cho doanh nghiệp được trả côngtrong quá trình học nghề nếu làm ra sản phẩm; độ tuổi tối thiểuđược đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề; quyền và nghĩa vụcủa người lao động, người sử dụng lao động, cơ sở dạy nghềtrong quá trình dạy nghề và học nghề
3.2 Những tồn tại, hạn chế
Chưa quy định cụ thể: trách nhiệm của người sử dụng laođộng về đào tạo nghề, nâng cao tay nghề cho người lao độngtại doanh nghiệp; hợp đồng đào tạo nghề, chi phí đào tạonghề; trách nhiệm bồi thường chi phí đào tạo nghề nếu mộttrong hai bên vi phạm; về học nghề, tập nghề để làm việc chodoanh nghiệp; các chế độ khuyến khích mở các trường lớpdạy nghề cạnh doanh nghiệp để dạy nghề cho mọi đối tượng
có nhu cầu
Nhiều trường hợp người lao động được người sử dụng laođộng trả chi phí cho việc đào tạo, nâng cao tay nghề nhưngsau đó lại không làm việc cho doanh nghiệp, bỏ đi làm chonơi khác mà không hoàn trả chi phí đào tạo nên các doanhnghiệp không mặn mà với việc tổ chức nâng cao trình độ cho
Trang 7người lao động.
4 Về hợp đồng lao động (HĐLĐ)
4.1 Những kết quả tích cực đạt được
- Pháp luật về hợp đồng lao động đã góp phần quan trọng
cho việc phát triển quan hệ lao động ở Việt Nam theo hướng
thị trường1, từng bước góp phần thúc đẩy sự hình thành và
phát triển lành mạnh thị trường lao động Nội dung quy định
của pháp luật về hợp đồng lao động hiện hành đã điều chỉnh
tốt sự vận động của thị trường lao động, bảo đảm tính linh
hoạt, tự do, tự nguyện, của các bên trong quan hệ lao động
- Vai trò, ý nghĩa của HĐLĐ ngày càng được khẳng định
Hợp đồng lao động có vị trí quan trọng trong việc thiết lập và
vận hành quan hệ lao động Nó là cơ sở pháp lý quan trọng để
bảo đảm quyền lợi cho người lao động, giải quyết tranh chấp
lao động cá nhân và là một công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà
nước quản lý, điều chỉnh quan hệ lao động Kết quả thực tế
thực hiện cho thấy đa số các doanh nghiệp, người lao động đã
thấy được vai trò và thực sự quan tâm đến vấn đề ký kết
HĐLĐ, một số vụ đình công có nội dung đòi ký kết hợp đồng
lao động; số lao động đã giao kết HĐLĐ hiện nay trong các
1 Từ quan hệ lao động mà người lao động phụ thuộc trực tiếp vào chủ sử dụng
lao động duy nhất là nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đến quan
hệ lao động được xác lập và tiến hành thông qua thương lượng, thoả thuận giữa
người lao động và người sử dụng lao động trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
doanh nghiệp đạt khoảng 96,6%, trong đó công ty nhà nướcđạt 99,2%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạtkhoảng 96,2%, doanh nghiệp khác đạt khoảng 93,9%; tỷ lệ kýkết HĐLĐ không xác định thời hạn khoảng 36,6%, xác địnhthời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng khoảng 46,8%, còn lại làhợp đồng lao động mùa vụ chiếm khoảng 16,6%
- Cùng với các chế định khác của pháp luật lao động(như: thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động, tiềnlương, thời giờ làm việc, an toàn lao động, bảo hiểm xãhội ), pháp luật về hợp đồng lao động đã góp phần tạo nênmột hệ thống các cơ sở pháp lý đồng bộ để thiết lập mốiquan hệ lao động chặt chẽ, lành mạnh trong quan hệ laođộng ở doanh nghiệp
4.2 Những tồn tại, hạn chế
1 Người lao động, trong đó nhiều người lao động ngoạitỉnh vào thành phố làm việc chưa nhận thức rõ ý nghĩa và sựcần thiết phải giao kết hợp đồng lao động
2 Giao kết hợp đồng lao động sơ sài, không có thông tin
rõ cho nhau biết, nhất là bên người sử dụng lao động: về côngviệc cụ thể, nơi làm việc và thời gian làm việc, tiền lương vàphụ cấp (nếu có), bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an toàn vệsinh lao động và điều kiện làm việc, thời hạn hợp đồng…Chính vì vậy, thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp làm
Trang 8thêm giờ nhiều nhưng không được trả lương làm thêm giờ,
nhiều người lao động không được tham gia bảo hiểm xã hội
bắt buộc
3 Có tình trạng người sử dụng lao động lợi dụng kéo dài
thời gian thử việc để trả lương thấp
4 Có tình trạng ký hợp đồng lao động ngắn hạn nhiều
đợt, nhất là đối với người lao động ngoại tỉnh
5 Trước khi nhận việc, người lao động không được
hướng dẫn về an toàn lao động nên đã xảy ra nhiều vụ tai nạn
lao động, nhất là trong các công việc xây dựng và đối với
người lao động từ nông thôn vào thành phố tìm việc làm
6 Quy định đối với người không tham gia bảo hiểm xã
hội bắt buộc (dưới 03 tháng làm việc) người sử dụng lao động
phải trả thêm ngoài lương một khoản bảo hiểm xã hội để
người lao động tự lo bảo hiểm nhưng hầu như không được
thực hiện, người lao động cũng không biết để bảo vệ quyền
lợi chính đáng cho mình
7 Về loại hợp đồng lao động đang có ý kiến khác nhau:
- Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, chỉ
người lao động có hợp đồng không xác định thời hạn được
chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do nhưng phải báo
trước Những người sử dụng lao động cho rằng như vậy là bất
công đối với bên người sử dụng lao động
- Nhiều nước quy định mỗi bên có quyền chấm dứt hợpđồng lao động không xác định thời hạn theo ý muốn nhưngphải báo trước một thời hạn Nhiều nước Âu, Mỹ, một số nướcASEAN cũng đã quy định như vậy Pháp có quy định thêm
“nhưng phải bồi thường thiệt hại nếu có”, cụ thể là nếu người
lao động chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn
để sang làm việc cho doanh nghiệp khác, nếu doanh nghiệpmới là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp cũ thì sẽ bị điều tra,doanh nghiệp mới sẽ phải bồi thường liên đới nếu rủ rê ngườilao động hoặc đã biết người lao động đang có hợp đồng vớidoanh nghiệp khác mà vẫn tiếp nhận người lao động TrungQuốc và một số nước ASEAN cũng áp dụng quy định này.Nhưng ở nước ta, có ý kiến quan ngại là như vậy sẽ làmcho quan hệ lao động không ổn định, người sử dụng lao động
dễ thay người lao động lâu năm để tuyển người lao động trẻ,khỏe; người lao động dễ thay đổi chỗ làm việc để chạy theothu nhập cao hơn; mỗi bên đều không có lợi, xét về lâu dài Vìvậy, cần có lý do của việc chấm dứt
ILO có quan điểm nghiêng về quy định quyền của mỗibên trong đó có quyền của người lao động, biểu hiện quyền tự
do lao động
a) Nhiều quy định về hợp đồng lao động hiện hành cònvướng mắc, hoặc thiếu các quy định cần thiết để bảo đảm thiếtlập mối quan hệ lao động thực sự đầy đủ, lành mạnh, phù hợp
Trang 9theo cơ chế thị trường, thể hiện trên các khía cạnh:
- Về điều kiện giao kết HĐLĐ còn chưa xác định rõ chủ
thể về ký kết trong trường hợp doanh nghiệp thuê Tổng giám
đốc, Giám đốc, người được xác định là chủ sử dụng lao động
trong doanh nghiệp (nhiều trường hợp người lao động có yêu
cầu đối với doanh nghiệp nhưng giám đốc làm thuê không
giải quyết được với lý do phải chờ ý kiến của chủ sở hữu);
chưa có những chính sách quy định đồng bộ trong việc xử lý
đối với người lao động cùng lúc ký kết nhiều hợp đồng lao
động như vấn đề đóng hưởng bảo hiểm xã hội, thực hiện chế
độ bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
- Chưa có quy định về việc nghỉ việc hưởng hưu trí có
phải là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hay không?;
người lao động nghỉ hưu, không tiếp tục làm việc thì hợp
đồng lao động đã giao kết còn hiệu lực không? Đây là vấn đề
chưa có tiền lệ trên thế giới Có ý kiến cho rằng, người đến
tuổi nghỉ hưu vẫn phải được trợ cấp thôi việc
- Pháp luật mới chỉ quy định chung chung về HĐLĐ vô
hiệu (tại Điều 166 Bộ luật Lao động và Điều 16 của Nghị định
số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao
động về hợp động lao động) chứ chưa quy định cụ thể: trường
hợp nào thì hợp đồng lao động vô hiệu, hậu quả pháp lý và cơ
chế xử lý hợp đồng lao động vô hiệu như thế nào?
- Chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, với mứcchi trả không phù hợp với khả năng của doanh nghiệp khithực hiện bảo hiểm thất nghiệp từ năm 2009 Trợ cấp mất việclàm thực chất là trợ cấp thất nghiệp, cho nên từ khi chế độ trợcấp thất nghiệp được thực hiện, có ý kiến cho rằng đã đến lúcphải bỏ trợ cấp mất việc làm và chế độ trợ cấp thôi việc hoặcphải quy định rõ từng trường hợp được hưởng và khống chếmức tối đa để giảm bớt khó khăn về tài chính cho doanhnghiệp, nhất là nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn lớntrong tình hình suy giảm kinh tế toàn cầu
Hiện quy định về trợ cấp thôi việc cũng đang bị lợi dụng,nhất là những người đã có nhiều năm công tác, gần đủ tuổinghỉ hưu nhưng không làm thủ tục nghỉ hưu, mà thực hiệnđơn phương chấm dứt hợp đồng lao động để hưởng trợ cấpthôi việc, sau đó chờ đủ tuổi để hưởng lương hưu Ngoài ra,
do khủng hoảng kinh tế, thời gian qua ở một số doanh nghiệp,trong đó chủ yếu là doanh nghiệp dệt may cũng xảy ra hiệntượng người lao động xin thôi việc cùng lúc với số lượng lớn
để hưởng trợ cấp thôi việc, điều nay đã gây ra một số bức xúc
và làm cho một số doanh nghiệp gặp khó khăn do phải tăngchi phí lớn
- Trách nhiệm của người sử dụng lao động mới phải tiếptục thực hiện hợp đồng lao động mà người lao động đã ký vớichủ sử dụng lao động cũ theo quy định tại Điều 31 Bộ luật
Trang 10Lao động là không phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị
trường và nguyên tắc tiến hành quan hệ lao động và đang đặt
ra gánh nặng cho doanh nghiệp, nhất là đối với những doanh
nghiệp nhà nước Bởi vì khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách
doanh nghiệp thì chủ thể của quan hệ lao động (phía người sử
dụng lao động) đã thay đổi và do đó hai bên cần thiết phải
thoả thuận lại việc thiết lập quan hệ lao động mới chứ không
phải là thực hiện theo thoả thuận cũ
- Thời gian thử việc chưa xác định rõ trong hợp đồng lao
động hay ngoài hợp đồng, điều này dẫn tới sự áp dụng tuỳ tiện
trong thực tế, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao
động (về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho người lao động),
nhất là khi phát sinh tai nạn lao động trong thời gian thử việc
- Một số vấn đề mới trong thực tế đang đặt ra nhưng chưa
được thể chế cụ thể trong hệ thống pháp luật lao động như:
cho thuê lại lao động, hợp đồng lao động không trọn thời gian,
hợp đồng lao động trong một số ngành đặc thù như nông, lâm,
ngư, diêm nghiệp…
b) Thực tiễn thi hành các quy định về hợp đồng lao động
cũng phát sinh nhiều vấn đề bất cập, thể hiện trên một số khía
cạnh chủ yếu là:
- Việc giao kết sai loại hợp đồng còn diễn ra phổ biến,
gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động Tỷ lệ lao
động ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong
doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân đạt tỷ lệ rất thấpkhoảng trên 20% (theo kết quả điều tra tiền lương và bảo hiểm
xã hội trong các loại hình doanh nghiệp năm 2008), tình trạngdoanh nghiệp ký hợp đồng lao động có thời hạn xác định vớingười lao động làm công việc có tính chất ổn định thườngxuyên, lâu dài còn diễn ra phổ biến Vẫn còn hiện tượng nhiềudoanh nghiệp chỉ ký kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới
03 tháng để trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế
- Còn diễn ra khá phổ biến tình trạng chấm dứt hợp đồnglao động trái pháp luật của cả người lao động và người sửdụng lao động
5 Về thoả ước lao động tập thể (TƯLĐTT)
2 Ngày 31/12/1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thỏa ước lao động tập thể.
3 Ngày 11/11/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 196/CP.
Trang 11đảm được quyền và lợi ích của người lao động; bảo đảm
quyền tự quyết của các bên trong quan hệ lao động thông qua
cơ chế thương lượng và thoả thuận
- Theo báo cáo của các địa phương, tỷ lệ doanh nghiệp đã
xây dựng thoả ước lao động tập thể đạt khoảng 25 - 30%,
trong đó số doanh nghiệp nhà nước có thoả ước lao động tập
thể đạt 100% Đa số doanh nghiệp sau khi ký kết TƯLĐTT
đều đã đăng ký theo đúng quy định
- Nội dung một số bản TƯLĐTT của doanh nghiệp đã có
những thoả thuận có lợi hơn cho người lao động so với quy
định của pháp luật lao động như giảm giờ làm việc trong tuần,
tăng số ngày nghỉ hàng năm, ngày nghỉ vì việc riêng, mức
lương tối thiểu; thưởng hàng tháng, thưởng tháng lương thứ
13, thưởng từ lợi nhuận; nghỉ học tập tính vào giờ làm việc;
hỗ trợ tiền ăn giữa ca, tiền xăng xe, tiền tàu xe do nghỉ hàng
năm, tiền thuê nhà trọ; gửi cán bộ công nhân đi bồi dưỡng
nâng cao trình độ nghề ở nước ngoài; mua bảo hiểm thương
mại, mua bảo hiểm nhân thọ cho những người lao động “cốt
cán” cần giữ lại sử dụng lâu dài; tặng quà mừng ngày tết, ngày
8/3, ngày 20/10; tổ chức đi tham quan nghỉ mát, thăm hỏi ốm
đau, ngày hiếu hỉ…
5.2 Những tồn tại, hạn chế
- Tỷ lệ ký kết thoả ước lao động tập thể còn thấp trong
các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI Một trong
những nguyên nhân của tình trạng này là do công đoàn cơ
sở chưa được thành lập ở rất nhiều doanh nghiệp ngoài khuvực nhà nước
- Do chưa nhận thức rõ ý nghĩa của việc thương lượngtập thể và ký kết thỏa ước lao động tập thể cho nên tình trạng
ký kết TƯLĐTT một cách hình thức chỉ nhằm mục đích đăng
ký chứ không thực hiện còn diễn ra phổ biến Đa số doanhnghiệp khi ký kết TƯLĐTT đều không có sự thương lượngthực sự giữa các bên, không có sự tham vấn giữa công đoàn
và người lao động theo quy định Do đó, nội dung TƯLĐTTcủa đa số các doanh nghiệp thường do chủ doanh nghiệp tựquy định, không thực chất, chủ yếu sao chép các điều luật và
ít có những quy định mang lại điều kiện có lợi hơn cho ngườilao động
- Pháp luật hiện hành chưa quy định về trình tự, thủ tục
và chủ thể đại diện ký kết TƯLĐTT ngành nên cho đến nayvẫn chưa ký kết được thoả ước ngành nào Bên cạnh đó, còn
có khó khăn trong việc xác định khái niệm ngành để làm rõcác bên của ngành trong việc thương lượng tập thể và kýthỏa ước ngành
6 Về tiền lương
6.1 Những kết quả tích cực đạt được
Trang 12- Đã xác định được nguyên tắc cơ bản của việc trả lương
cho người lao động theo nguyên tắc thị trường: lương của
người lao động được xác định thông qua thoả thuận giữa hai
bên, căn cứ vào năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả
công việc; mức lương đó không được thấp hơn mức lương tối
thiểu do Chính phủ quy định; hàng năm thực hiện nâng bậc
lương cho người lao động (tốc độ tăng tiền lương bình quân
của người lao động hàng năm là 10 - 15%)
- Cơ chế xác định tiền lương tối thiểu cũng đã được thực hiện
theo những nguyên tắc của quan hệ lao động (là lấy ý kiến của
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và tổ chức đại diện của người
sử dụng lao động) và cơ chế thị trường (là: ấn định theo giá sinh
hoạt, và được điều chỉnh phù hợp theo từng thời kỳ)
- Đã quy định hành lang pháp lý để các bên thương lượng
và thoả thuận về tiền lương trả cho người lao động trên cơ sở
thang bảng lương
- Tiền lương bình quân của người lao động trong các
doanh nghiệp năm 2009 ước đạt được 2,840 triệu đồng (trong
đó: doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3,350 triệu
đồng/người/tháng, doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài ước
đạt 2,650 triệu đồng/người/tháng, doanh nghiệp dân doanh
ước đạt 2,050 triệu đồng/người/tháng) Ngoài ra, doanh
nghiệp còn quy định các khoản phụ cấp, trợ cấp, tiền thưởng
và phúc lợi khác cho người lao động nên nhìn chung mức
sống của người lao động có bước cải thiện nhất định, tuy cònrất khó khăn, nhất là trong tình hình giá cả nhiều mặt hàngtiêu dùng thiết yếu tăng nhanh
6.2 Những tồn tại, hạn chế
- Mức lương tối thiểu của người lao động ở mức thấp,chưa đảm bảo tái sản xuất sức lao động giản đơn và tái sảnxuất sức lao động mở rộng, chưa đảm bảo thực tế nhu cầusống tối thiểu của người lao động Việc xác định mứclương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng hiện cònchưa theo quy luật cung cầu của thị trường lao động, chủyếu căn cứ vào khả năng chi trả của ngân sách đối với laođộng khu vực nhà nước, hơn là nhìn vào thực tế đời sốngngười lao động
Theo báo cáo “Lương tối thiểu liệu có gây ra lạm phát”của tác giả Nguyễn Việt Cường (Đại học Kinh tế quốc dân) thì:lương tối thiểu danh nghĩa (theo quy định pháp luật) tăng thêmkhoảng 225% trong thời kỳ 1994 - 2009 nhưng chỉ số giá tiêudùng CPI lại tăng tới 245% cùng thời kỳ Do đó, tiền lươngthực tế của người lao động tăng không đáng kể, thậm chí lạigiảm ở một số năm (1997 - 2000, 2008 - 2009), thể hiện qua Sơ
đồ Lương tối thiểu chung thời kỳ 1994 - 2009 sau đây:
Đơn vị: Nghìn đồng
Trang 13- Còn có sự bất bình đẳng trong các quy định về tiền lương
tối thiểu, nguyên tắc xây dựng định mức, thang lương, bảng
lương giữa các loại hình doanh nghiệp Theo đánh giá của
chuyên gia ILO (Dr Chang Hee Lee) thì Việt Nam là nước duy
nhất trên thế giới còn xác định mức lương tối thiểu theo thành
phần sở hữu, do đó dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh giữa
người lao động cùng làm một công việc nhưng mức lương lại
khác nhau do làm việc không cùng loại hình doanh nghiệp
- Cơ chế tiền lương trong doanh nghiệp cứng nhắc và
thấp (chủ yếu dựa trên quy định về lương tối thiểu và
thang bảng lương) dẫn đến tình trạng năng suất, chất lượng
lao động chưa cao
- Hệ thống quy định về tiền lương chưa đồng bộ, khó thựchiện cả đối với cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp,đặc biệt là các quy định về thang bảng lương, định mức laođộng, hệ thống tiêu chí thống kê báo cáo định kỳ về lao độngtiền lương Quy định cứng về thang lương, bảng lương vàđịnh mức lao động của doanh nghiệp nhà nước đã tỏ ra khôngphù hợp với hội nhập thương mại và việc xây dựng năng lựccạnh tranh doanh nghiệp
- Việc xây dựng và đăng ký thang lương, bảng lương củacác doanh nghiệp đầu tư đạt khoảng 30% và doanh nghiệp tưnhân rất thấp chỉ khoảng 10% Nhiều doanh nghiệp xây dựngthang lương, bảng lương thành nhiều bậc, tách tiền lươngthành nhiều khoản phụ cấp, trợ cấp để trốn đóng bảo hiểm xãhội, quy định tiêu chuẩn nâng lương, điều kiện hưởng trợ cấp,phụ cấp, tiền thưởng và cách thưởng tháng, quý, năm cũng rấtphức tạp, khó khăn cho người lao động và tập thể lao động thụhưởng, theo dõi và giám sát việc thực hiện
- Chưa có cơ chế kiểm soát hữu hiệu về việc trả lươngtrong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhànước chi phối Mức lương đối với một số nhân sự cao cấp củadoanh nghiệp nhà nước quá cao, trong khi hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp thấp là điều gây bức xúc cho dư luậnnhư đã từng xảy ra đối với Tổng công ty kinh doanh vốn nhànước SCIC, Công ty cổ phần hàng không Jetstar
Trang 14- Còn nhiều điểm chưa thống nhất về tiền lương để đóng
BHXH, tiền lương để quyết toán với cơ quan thuế và tiền lương
thực nhận của người lao động Thực tế cho thấy, trong mỗi
doanh nghiệp đang tồn tại 3 loại lương: một chỉ để tham gia bảo
hiểm xã hội và giải quyết chế độ chính sách, một để quyết toán
thuế, và một để chi trả thực tế cho người lao động hàng tháng
Điều đó gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc
quản lý chính sách tiền lương đối với các doanh nghiệp
7 Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
7.1 Những kết quả tích cực đạt được
Phần lớn doanh nghiệp áp dụng chế độ làm việc 48
giờ/tuần, một số doanh nghiệp đã áp dụng chế độ làm việc 44
giờ hoặc 40 giờ/tuần Nhiều doanh nghiệp thực hiện tốt chế độ
nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, tết, nghỉ về việc riêng hưởng nguyên
lương cho người lao động
7.2 Những tồn tại, hạn chế
- Còn tình trạng nhiều doanh nghiệp tổ chức làm thêm
quá số giờ quy định, nhất là những doanh nghiệp may mặc,
chế biến thủy sản làm hàng xuất khẩu thường bị động về thời
gian với bên đặt hàng gia công sử dụng nhiều lao động, có tới
70% doanh nghiệp các ngành này vi phạm quy định làm thêm
giờ với số giờ làm thêm trong năm của người lao động dao
động trong khoảng 300 - 700 giờ Ngoài ra, vẫn có hiện tượng
một số doanh nghiệp huy động người lao động làm thêm giờnhưng lại không trả lương làm thêm giờ cho người lao động
- Một bộ phận người lao động muốn làm thêm giờ để tăngthu nhập
- Có ý kiến đề nghị tăng số giờ làm thêm trong nămkhông vượt quá 300 giờ
- Có ý kiến đề nghị tăng số giờ làm thêm trong năm lên
500 giờ
- Có ý kiến cho rằng, chỉ nên quy định số giờ làm thêmtrong tháng (để thống kê), không quy định theo năm nhưnhiều nước đã thực hiện
8 Về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất
8.1 Những kết quả tích cực đạt được
- Nội dung của pháp luật về kỷ luật lao động, trách nhiệm vậtchất đã quy định đầy đủ những nội dung liên quan đến quyền,nghĩa vụ, trách nhiệm của người sử dụng lao động, người laođộng trong việc xử lý kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất
- Việc xây dựng, ban hành nội quy lao động được cácdoanh nghiệp nghiêm túc thực hiện, có khoảng 70% doanhnghiệp đã ban hành nội quy lao động
- Các hình thức xử lý kỷ luật lao động được pháp luật đặt
Trang 15ra tương đối chặt chẽ, rõ ràng đặc biệt là xử lý kỷ luật lao
động bằng hình thức sa thải
- Ý thức chấp hành kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất
của người lao động, người sử dụng lao động đã được nâng lên
một bước
8.2 Những tồn tại, hạn chế
- Công tác lấy ý kiến của công đoàn cơ sở gần như không
thể thực hiện được trong thực tế vì nhiều doanh nghiệp chưa
thành lập tổ chức công đoàn cơ sở Do vậy, có nhiều nội quy
lao động do người sử dụng lao động áp đặt, có những điểm
không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc quy định quá
khắt khe; có doanh nghiệp lạm dụng quyền ban hành nội quy
quy định xử lý kỷ luật đối với người lao động không tham gia
làm thêm giờ, hạn chế quyền kết hôn, sinh con dẫn đến đình
chỉ công việc, sa thải tuỳ tiện
- Việc đăng ký nội quy lao động với cơ quan nhà nước
chưa được nghiêm túc thực hiện: thành phố Hà Nội chỉ có
5,2% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn đăng ký nội quy lao
động, tỉnh Nam Định có 8% doanh nghiệp đăng ký nội quy
lao động trong khi có 68% doanh nghiệp trên địa bàn đã xây
dựng nội quy lao động
- Luật quy định việc áp dụng hình thức xử lý kỷ luật
chuyển làm việc khác trong thời hạn tối đa 06 tháng Thực
hiện quy định này, cơ sở khó giải quyết khi người bị xử lý hết
hạn trở về vị trí cũ đã có người thay thế nhưng không có côngviệc để chuyển đổi
- Còn một số quy định chưa rõ ràng gây lúng túng trongviệc áp dụng pháp luật như: ai là người đại diện cho người laođộng khi xử lý kỷ luật lao động tại doanh nghiệp chưa có tổchức công đoàn; sự phân biệt giữa nghỉ việc không có lý dovới đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không báotrước; thời hạn xử lý kỷ luật lao động, các hình thức kỷ luậtvẫn chưa cụ thể, không đủ mạnh, chưa đa dạng, khiến doanhnghiệp rất khó quy định các mức kỷ luật lao động
- Một số doanh nghiệp không quy định mức giá trị thiệthại khi người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bímật công nghệ kinh doanh… Một số doanh nghiệp quy địnhmức giá trị thiệt hại rất thấp trong nội quy lao động để sa thảingười lao động vi phạm
9 Về an toàn - vệ sinh lao động
9.1 Những kết quả tích cực đạt được
- Nội dung của Chương đã quy định tương đối đầy đủquyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của người sử dụng lao động,người lao động và của Nhà nước trong việc đảm bảo An toànlao động - vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường trong quátrình lao động sản xuất Thực hiện các quy định của Bộ luậtLao động, Chính phủ đã có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 16như Chỉ thị thông qua Chương trình quốc gia về bảo hộ lao
động, Chỉ thị tăng cường bảo hộ lao động và an toàn lao động,
Quyết định thành lập Hội đồng quốc gia về an toàn vệ sinh lao
động, Thông tư về thủ tục chẩn đoán và phát hiện bệnh nghề
nghiệp, Nghị định về an toàn hóa chất… Đồng thời, đã quy
định rõ trách nhiệm của Chính phủ trong việc lập Chương
trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn - vệ sinh lao động,
phát động tuần lễ quốc gia về an toàn lao động - vệ sinh lao
động, tháng an toàn - vệ sinh lao động, các chương trình đó đã
được các bộ, ngành và các cơ sở hưởng ứng tích cực
- Các cơ sở sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp may mặc xuất khẩu
đã chấp hành tốt các quy định về an toàn - vệ sinh lao động
Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất còn phải tuân thủ các quy
định về bộ tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội (SA 8000) có nội
dung về an toàn lao động giống các quy định của Bộ luật Lao
động nên công tác bảo đảm an toàn lao động, đặc biệt là các
biện pháp kỹ thuật được thực hiện tốt, người lao động được
cải thiện điều kiện làm việc
- Công tác cải thiện điều kiện làm việc của người lao động,
tăng cường các biện pháp giảm thiểu tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp được đa số doanh nghiệp nỗ lực thực hiện Theo kết
quả điều tra năm 2003, 78% người lao động có trang bị bảo hộ
lao động cá nhân, 38% máy có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn
vệ sinh lao động có đăng ký kiểm định, 28% cơ sở có tổ chức
khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động, 4,3% cơ sở có đokiểm tra môi trường lao động, 39% cơ sở có tổ chức huấn luyện
an toàn, vệ sinh lao động, 13,8% người sử dụng lao động đượchuấn luyện an toàn, vệ sinh lao động
- Việc đăng ký kiểm định các chất, máy thiết bị có yêucầu nghiêm ngặt về an toàn lao động vệ sinh lao động đượcnhiều cơ sở quan tâm thực hiện Việc tổ chức khám sức khoẻđịnh kỳ cho người lao động được các doanh nghiệp thực hiệntương đối tốt
- Đã xây dựng bộ hồ sơ quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động
- Các quy định về chế tài xử phạt vi phạm về an toàn, vệsinh lao động còn ở mức thấp, chưa làm cho các đối tượngtuân thủ triệt để
- Quy định về công tác quản lý nhà nước về an toàn lao
Trang 17động còn phân tán, chồng chéo Chưa có quy định cơ quan, tổ
chức nào thẩm định luận chứng về các biện pháp bảo đảm an
toàn, vệ sinh lao động
- Các quy định về trung tâm kiểm định an toàn còn lạc
hậu, chưa hướng tới xã hội hoá về công tác kiểm định an toàn
- Quy định về việc bồi thường tai nạn lao động chưa rõ
ràng, gây lúng túng cho việc áp dụng pháp luật, như: tai nạn
lao động trong trường hợp người lao động bị tai nạn giao
thông, trách nhiệm chi trả chi phí y tế của người sử dụng lao
động cho người lao động bị tai nạn lao động
- Quy định về bồi dưỡng hiện vật tại chỗ theo ca làm việc
rất khó thực hiện nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ lẻ Thực tế
cho thấy, có trên 90% doanh nghiệp trả bằng tiền cho người
lao động thay vì bồi dưỡng hiện vật
b) Về công tác tổ chức thực hiện
- Một số doanh nghiệp chưa chú ý tới công tác đảm bảo
an toàn, vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện lao động nên tai
nạn lao động còn xảy ra nhiều Trung bình mỗi năm, số vụ tai
nạn lao động tăng 17,38%, số người chết tăng 7,5%, số người
bị mắc bệnh nghề nghiệp từ năm 1990 đến 2008 đã tăng gấp
ba lần giai đoạn từ 1976 - 1990 (Theo báo cáo của Cục an
toàn lao động) Xuất hiện nhiều vụ tai nạn lao động lớn,
nghiêm trọng như sập cầu Cần Thơ, sập mỏ khai thác than…
- Môi trường lao động ở nhiều doanh nghiệp, nhiều khucông nghiệp đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do các yếu tố độchại ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động vượt quá giới hạncho phép Một số vụ vi phạm nghiêm trọng về an toàn vệ sinhlao động như vụ xả nước thải ô nhiễm của Công ty Vedan làmối quan tâm, bức xúc của dư luận
- Trình độ kiểm định viên, thanh tra viên, an toàn laođộng, vệ sinh lao động còn hạn chế, lực lượng mỏng Quyđịnh của Nhà nước về ngành, nghề, công việc nặng nhọc, độchại, nguy hiểm còn thiếu và ban hành không kịp thời, nhất lànhiều doanh nghiệp FDI sản xuất một số mặt hàng mà ViệtNam chưa có
10 Về những quy định riêng đối với lao động nữ
10.1 Những kết quả tích cực đạt được
- Những quy định của Chương này đã góp phần nâng caonhận thức của xã hội về vai trò của người lao động nữ, khẳngđịnh quyền bình đẳng về mọi mặt của lao động nữ đối vớinam giới
- Đã quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc đưa
ra những chính sách và biện pháp để từng bước tạo thêmnhiều việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độnghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, tăng cường phúc lợi mọi mặtcho người lao động nữ phát huy năng lực của mình, đảm
Trang 18nhiệm chức năng gia đình và xã hội của họ.
- Với sự ra đời của Luật Bình đẳng giới, người lao động
nữ được chồng, con chia sẻ thêm trách nhiệm gia đình, có
thêm điều kiện để tham gia hoạt động kinh doanh và công tác
xã hội
- Đã đề cập đến trách nhiệm và nghĩa vụ của người sử
dụng lao động đối với lao động nữ; những hành vi của người
sử dụng lao động bị nghiêm cấm khi sử dụng lao động nữ; và
có quy định ưu đãi riêng đối với lao động nữ trong quá trình
lao động… góp phần bảo vệ lao động nữ trong quá trình sử
dụng lao động nữ
10.2 Những tồn tại, hạn chế
- Việc có những quy định phần nào mang cảm tính và bảo
vệ người lao động nữ có phần thiếu căn cứ khoa học, vô hình
chung làm cho một số doanh nghiệp sử dụng lao động nữ phải
tính toán lại để giảm bớt chi phí hoặc hạn chế nhận người lao
động nữ vào làm việc như các quy định về: cấm sử dụng lao
động nữ bất kỳ độ tuổi nào làm việc thường xuyên dưới hầm
mỏ hoặc ngâm mình dưới nước theo khoản 2 Điều 113 Bộ luật
Lao động; việc chuyển người lao động nữ khi có thai đến
tháng thứ 7 sang làm công việc nhẹ hơn hoặc giảm bớt một
giờ làm việc hàng ngày mà vẫn hưởng đủ lương… Những nội
dung này theo khuyến nghị của một số chuyên gia của tổ chức
lao động quốc tế (ILO) là hạn chế quyền và cơ hội lao động
của lao động nữ
- Một số quy định ưu đãi đối với người lao động nữkhông triển khai thực hiện được vì thiếu những quy địnhhướng dẫn thực hiện như: việc giảm thuế, ưu đãi thuế đối vớinhững doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ theo quy địnhtại khoản 2 Điều 110 Bộ luật Lao động
11 Về những quy định riêng đối với lao động chưa thành niên và một số lao động khác
11.1 Những kết quả tích cực đạt được
- Những quy định của Chương này đã cơ bản tạo ra hànhlang pháp lý điều chỉnh việc sử dụng lao động chưa thànhniên, lao động là người khuyết tật, lao động là người cao tuổi,lao động có chuyên môn kỹ thuật cao, lao động cho các tổchức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, người nước ngoài laođộng tại Việt Nam, một số lao động khác và người lao độngViệt Nam đi làm việc ở nước ngoài
- Đã được các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân chấp hànhnghiêm chỉnh các quy định của Chương này trong việc sửdụng, quản lý và điều hành người lao động đặc thù này
11.2 Những tồn tại, hạn chế
- Về độ tuổi được làm việc của thiếu niên, Bộ luật Laođộng không quy định nên văn bản dưới Luật hướng dẫn chưa
Trang 19phù hợp với Công ước ILO: phải từ 13 tuổi trở lên, nhưng
thông tư hướng dẫn trẻ 12 tuổi được làm công việc nhẹ mà
không giải thích rõ những công việc nhẹ là công việc gì
- Giữa của Bộ luật Lao động với Luật Người cao tuổi
đang có sự khác nhau về quy định độ tuổi của người lao động
cao tuổi Theo Điều 123 của Bộ luật Lao động, người lao
động cao tuổi là người lao động nam trên 60 tuổi, nữ trên 55
tuổi; nhưng theo quy định tại Điều 1 của Luật Người cao tuổi
năm 2010 thì người cao tuổi là người từ đủ 60 tuổi trở lên
không phân biệt nam hay nữ
- Về lao động khuyết tật có một số vướng mắc trong quy
định của pháp luật lao động thì đã được Luật Người khuyết tật
tháo gỡ (như quy định tỷ lệ phải nhận người lao động khuyết
tật của doanh nghiệp)
- Quy định pháp luật về lao động là người nước ngoài làm
việc tại Việt Nam, đặc biệt là sau khi bỏ tỷ lệ sử dụng người
lao động nước ngoài đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản
lý nhà nước, làm giảm cơ hội việc làm của người lao động
Việt Nam trong các công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao Đã xuất hiện ngày càng nhiều lao động nước ngoài
phổ thông sang làm việc ngắn hạn trong các công trình do nhà
thầu nước ngoài trúng thầu với thời gian thi công ngắn gây
bức xúc cho dư luận
12 Về bảo hiểm xã hội
- Chế độ Bảo hiểm xã hội được xã hội phấn khởi đónnhận, có tác động tích cực đến nhận thức về việc làm vàgiúp ích rất lớn xoá bỏ định kiến phân biệt đối xử về địa vị
xã hội, nhất là về chính sách, chế độ đối với lao động trongkhu vực ngoài nhà nước Số lượng người tham gia bảohiểm xã hội và bảo hiểm y tế đã tăng mạnh từ 3,2 triệungười vào năm 1996 lên 8,5 triệu người vào năm 2008,ngoài ra còn có khoảng 6.200 người tham gia bảo hiểm xãhội tự nguyện
- Các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động đượccải thiện
12.2 Những tồn tại, hạn chế
- Hiện tượng doanh nghiệp không thực hiện chế độ bảohiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động hoặc chỉ đăng kýmột phần trong tổng số người lao động phải tham gia bảohiểm xã hội còn diễn ra phổ biến Tỷ lệ người lao động tham
Trang 20gia bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà
nước chiếm tỷ lệ thấp khoảng 50%
- Quy định pháp luật về tiền lương làm cơ sở tham gia
bảo hiểm xã hội còn nhiều bất cập, chưa đúng với mức thu
nhập thực tế của người lao động nên mức lương đóng bảo
hiểm xã hội của người lao động rất thấp (chỉ bằng hoặc cao
hơn một chút so với lương tối thiểu), không phải là mức lương
thực tế của người lao động Năm 2007, bình quân mức lương
đóng bảo hiểm xã hội của người lao động làm việc tại doanh
nghiệp dân doanh là 680.000 - 750.000 đồng/tháng và
800.000 - 1.000.000 đồng tháng với doanh nghiệp FDI
- Tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội còn diễn ra nhiều
với mức nợ đọng cao, kéo dài Tại thành phố Hồ Chí Minh, có
53 doanh nghiệp nợ đọng bảo hiểm xã hội kéo dài với mức 45
tỷ đồng, 776 doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội trên 12 tháng
với mức 67,084 tỷ đồng
- Chế tài xử phạt vi phạm về bảo hiểm xã hội thấp, dẫn
đến việc chấp hành pháp luật bảo hiểm xã hội không nghiêm
13 Về công đoàn
13.1 Những kết quả tích cực đạt được
- Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn đều quy định
Công đoàn Việt Nam là tổ chức đại diện của người lao động
tại doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động;
là một trong những chủ thể của quan hệ lao động tập thể, cóvai trò quan trọng trong việc củng cố, xây dựng và phát triểnquan hệ lao động Đã có 20 điều luật của Bộ luật Lao độngquy định về quyền, trách nhiệm của công đoàn cơ sở trongviệc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người laođộng trong doanh nghiệp
- Theo báo cáo của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, cảnước đã có khoảng 93.000 công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn vớikhoảng 6,1 triệu đoàn viên Trong đó có 71.000 công đoàn cơ
sở thuộc khu vực nhà nước, với khoảng 3,8 triệu đoàn viên,22.000 công đoàn cơ sở thuộc khu vực ngoài nhà nước vớikhoảng 2,3 triệu đoàn viên
- Hoạt động tích cực của công đoàn đã góp phần xâydựng và phát triển quan hệ lao động, được thể hiện trên cácmặt sau:
Một là, Công đoàn tham gia hoạch định chính sách và xây
dựng pháp luật về quan hệ lao động bằng nhiều hình thức nhưtham gia soạn thảo trực tiếp hoặc tham gia ý kiến bằng văn bản,góp ý trực tiếp thông qua các diễn đàn với cơ quan nhà nước
Hai là, công đoàn tổ chức tuyên truyền phổ biến, giáo
dục và tư vấn pháp luật lao động cho người lao động thôngqua nhiều hình thức như phát hành tài liệu, tổ chức tậphuấn, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật lao động…
Đã thành lập được 47 trung tâm và văn phòng tư vấn pháp
Trang 21luật, 394 tổ tư vấn pháp luật tại 56 Liên đoàn lao động cấp
tỉnh, công đoàn ngành với gần 1.000 tư vấn viên pháp luật
và đã thực hiện tư vấn miễn phí cho 50.000 lượt công nhân
lao động
Ba là, công đoàn tham gia, phối hợp tổ chức kiểm tra việc
thực hiện pháp luật lao động, luật công đoàn tại các địa
phương, doanh nghiệp có công đoàn cơ sở Hàng năm, ngành
Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với công đoàn
tổ chức kiểm tra liên ngành việc thực hiện pháp luật lao động,
luật công đoàn tại các địa phương, doanh nghiệp nhằm phát
hiện, uốn nắn, xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật và kịp thời
phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong thực tế để kiến
nghị hoàn thiện pháp luật lao động
Bốn là, xây dựng nhiều mô hình hoạt động có hiệu quả
của tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp, xây dựng quan hệ lao
động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp
13.2 Những tồn tại, hạn chế
- Nhiều doanh nghiệp chưa thành lập được công đoàn cơ
sở: 80% doanh nghiệp dân doanh và 60% doanh nghiệp vốn
đầu tư nước ngoài chưa thành lập được công đoàn cơ sở Theo
báo cáo của các địa phương tại báo cáo tổng kết 13 năm thi
hành Bộ luật Lao động thì tại các tỉnh, thành phố lớn, ngay
việc thành lập công đoàn cơ sở cũng gặp rất nhiều khó khăn
và chiếm tỷ lệ thấp như: thành phố Hồ Chí Minh là 50%, Đà
- Nội dung hoạt động của nhiều tổ chức công đoàn cơ sởcòn sơ sài, chủ yếu là thăm hỏi động viên lúc ốm đau, machay, hiếu hỉ và một số hoạt động thể thao
- Một số doanh nghiệp chưa tạo điều kiện cho việc thànhlập và hoạt động của tổ chức công đoàn Cơ chế bảo vệ chongười làm công tác công đoàn trong doanh nghiệp chậm đượcban hành
Trang 2214 Về giải quyết tranh chấp lao động
14.1 Những kết quả tích cực đạt được
- Đã quy định vai trò, trách nhiệm của các cơ quan giải
quyết tranh chấp lao động như: hội đồng hoà giải lao động cơ
sở, hoà giải viên lao động, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện,
Hội đồng trọng tài lao động, Toà án nhân dân
- Đã tạo hành lang pháp lý về tranh chấp lao động và giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân cũng như tranh chấp lao
động tập thể; đình công và giải quyết đình công
- Khẳng định nguyên tắc thương lượng, hoà giải là gốc rễ
của việc giải quyết tranh chấp lao động giữa các bên; trường
hợp các bên không tự thương lượng, giải quyết được thì mới
nhờ đến các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết
- Có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan địa phương và tổ
chức công đoàn cùng cấp trong việc giải quyết các cuộc đình
công không theo trình tự pháp luật quy định, nhiều tỉnh, thành
phố phía Nam đã thành lập Ban chỉ đạo giải quyết các cuộc
đình công không theo trình tự pháp luật quy định
14.2 Những tồn tại, hạn chế
- Số vụ tranh chấp lao động tăng nhanh:
Một là, số vụ tranh chấp lao động cá nhân tại Toà án từ
1996 - 2008 có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt trong thời gian
gần đây Cụ thể theo sơ đồ sau:
Hai là, số vụ đình công vẫn tăng cao và hầu hết các cuộc
đình công đều diễn ra tự phát, ngoài khuôn khổ pháp lý Từnăm 1995 đến tháng 12/2010, cả nước đã xảy ra 3.284 cuộcđình công trong tất cả các loại hình doanh nghiệp, bình quângần 218 cuộc/năm Cụ thể theo sơ đồ sau:
Trang 23- Chưa quy định trách nhiệm và chế tài xử phạt cho
chủ thể nào có hành vi tổ chức hoặc tham gia đình công không theo
trình tự pháp luật (thực chất đây là hành vi vi phạm pháp luật)
- Về quy định của pháp luật, một số ý kiến vẫn chưa đồng
thuận với các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp
lao động tập thể, mặc dù năm 2006, Chương XIV của Bộ luật
Lao động được thay thế, có gọn hơn, dễ thực hiện hơn trước,
nhưng sau hơn một năm kể từ ngày Luật Sửa đổi, bổ sung năm
2006 được ban hành, chưa có vụ tranh chấp lao động tập thể nào
được thực hiện theo quy định mới đó Hiện nay, nhiều địa
phương đã lập Tổ công tác liên ngành giải quyết bước đầu các
vụ đình công không đúng quy định của pháp luật lao động
- Hiệu quả giải quyết tranh chấp lao động của các cơ quan
theo quy định pháp luật chưa đạt kết quả mong muốn:
+ Trong thời gian qua, số lượng doanh nghiệp đã thành
lập hội đồng hòa giải cơ sở còn ít, ở những doanh nghiệp chưa
thành lập công đoàn thì cũng không có hội đồng hòa giải cơ
sở Những doanh nghiệp đã thành lập thì hoạt động của hội
đồng hòa giải cơ sở cũng hạn chế, chỉ hòa giải được một số vụ
tranh chấp lao động cá nhân
+ Hòa giải viên lao động cấp huyện được lập ở hầu hết
tỉnh, thành phố Mặt khác, hiệu quả hoạt động hòa giải của
hòa giải viên lao động không cao vì các hòa giải viên lao động
đều là kiêm nhiệm, kinh phí, thù lao cho họ cũng hạn chế
+ Hội đồng trọng tài lao động ở các tỉnh, thành phố kể từkhi thành lập, năm 1999 đến nay, chỉ thụ lý giải quyết đượcmột số ít vụ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích (Đồng Nai
04 vụ, Bình Dương 01 vụ)
+ Thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án hiệnchưa được đơn giản nên thời gian để giải quyết một vụ án laođộng không kịp thời (bình quân từ 04 - 06 tháng) Hầu hết các
vụ tranh chấp lao động trong thời gian qua đều không đúng trình
tự quy định do tự phát và không có người tổ chức, lãnh đạo nênTòa án cũng không thể phán quyết một cuộc đình công nào
II NỘI DUNG VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG (SỬA ĐỔI)
Bộ luật Lao động hiện hành gồm có Lời nói đầu, 17chương và 223 điều Bộ luật Lao động (sửa đổi) được Quốchội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳhọp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 thay thế Bộluật Lao động (đã qua 3 lần sửa đổi) có hiệu lực thi hành từngày 01 tháng 5 năm 2013, bao gồm 17 chương và 242 điều
Chương I: Quy định chung
Chương I Bộ luật Lao động (sửa đổi) gồm có 8 điều Sovới Bộ luật Lao động hiện hành, Chương này về cơ bản vẫngiữ nguyên phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và có một
số điểm mới Các vấn đề bổ sung gồm:
Trang 24- Bổ sung 01 điều về giải thích từ ngữ, trong đó bổ sung
một số khái niệm mới như: tổ chức đại diện người sử dụng lao
động; cưỡng bức lao động; quan hệ lao động;
- Bổ sung quyền đóng cửa tạm thời doanh nghiệp; quyền
gia nhập hoạt động trong Hội nghề nghiệp của người sử dụng
lao động; Quy định về trách nhiệm đối thoại của người sử
dụng lao động với tập thể lao động, về nghĩa vụ thực hiện quy
chế dân chủ tại cơ sở của người sử dụng lao động;
- Bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm cho phù hợp với các
quy định của các Công ước quốc tế về lao động mà Việt Nam
đã phê chuẩn Bổ sung quy định cấm sử dụng lao động chưa
qua đào tạo nghề đối với những công việc đòi hỏi phải được
đào tạo, có chứng chỉ
Pháp luật là thể chế hoá chính sách của Đảng và Nhà nước,
theo Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Bộ luật Lao động tuyên bố
chính sách của Nhà nước về lao động là nhà nước bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp, bảo đảm hài hoà lợi ích của người lao động
và người sử dụng lao động, hướng dẫn hai bên xây dựng mối
quan hệ lao động hài hoà và ổn định, cùng nhau hợp tác vì sự phát
triển của doanh nghiệp và của xã hội, hai bên cùng có lợi
Để đảm bảo bình đẳng thực hiện quyền liên kết của cả
người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời căn cứ
tình hình thực tế, Nhà nước đã cho phép người sử dụng lao
động được gia nhập và hoạt động các Hội nghề nghiệp, nên
pháp điển hoá quyền thành lập, gia nhập và hoạt động côngđoàn của người lao động, quyền gia nhập, hoạt động trongHội nghề nghiệp liên quan của người sử dụng lao động; ngườilao động có quyền đình công theo quy định của pháp luật,người sử dụng lao động có quyền đóng cửa tạm thời doanhnghiệp theo quy định của pháp luật; vai trò của công đoàn vàcủa tổ chức đại diện những người sử dụng lao động tham giacùng với cơ quan nhà nước xây dựng quan hệ lao động hàihoà và ổn định
- Quy định về chính sách của Nhà nước về lao động, baogồm cả quản lý nguồn nhân lực, dạy nghề, thị trường laođộng, quan hệ lao động
Chương II: Việc làm
Chương II Bộ luật Lao động (sửa đổi) gồm có 06 điềuquy định về: việc làm; quyền làm việc của người lao động;
quyền tuyển chọn lao động của người sử dụng lao động; chínhsách của Nhà nước về việc làm; chương trình việc làm; tổchức dịch vụ việc làm
- Chương việc làm là một trong các chương của Bộ luật Laođộng hiện hành đi vào cuộc sống có hiệu quả rõ rệt, làm chuyểnbiến nhận thức và hành vi của người lao động, số lao động làmviệc trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ ngoài khu vựcnhà nước ngày một tăng cao, các địa phương tích cực xây dựng
và thực hiện chương trình giải quyết việc làm, quỹ giải quyết việc
Trang 25làm, có tác dụng tích cực, mỗi năm hàng triệu người thoát nghèo
nhờ giải quyết được việc làm có thu nhập
Tuy nhiên, trong tình hình dân số tăng nhanh, kinh tế
chưa phát triển mạnh, vấn đề việc làm trong xã hội và trong
các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vẫn luôn là vấn đề
bức xúc, cần phải tiếp tục không ngừng giải quyết cả vấn đề
chính sách, thể chế và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ XI đặt mục tiêu nhiệm vụ phát triển đất
nước 05 năm 2011 - 2015 phải tập trung giải quyết vấn đề
việc làm và thu nhập cho người lao động, giải quyết việc
làm cho 08 triệu lao động
Thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về lao
động, việc làm, thị trường lao động thể hiện qua các nghị
quyết Đại hội Đảng, Bộ luật Lao động (sửa đổi) quy định
Chương này cơ bản được giữ nguyên theo Bộ luật Lao động
hiện hành, có bổ sung, sửa đổi một số điểm như sau:
a) Cụ thể hoá các quy định trong Bộ luật Lao động hiện
hành là các doanh nghiệp có trách nhiệm tham gia thực hiện
chương trình việc làm, Điều 15 hướng dẫn và khuyến khích
các doanh nghiệp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn và khả
năng của mình, tích cực tham gia thực hiện chương trình việc
làm, góp phần tạo thêm việc làm, giảm tỷ lệ người thất
nghiệp, thiếu việc làm
b) Sau khi Luật Doanh nghiệp được ban hành, cho phép
thành lập doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, nên bổsung hệ thống tổ chức giới thiệu việc làm bao gồm các trungtâm giới thiệu việc làm và các doanh nghiệp hoạt động dịch
vụ việc làm được thành lập theo Luật Doanh nghiệp; có thêmchức năng đăng ký việc làm và thất nghiệp, giúp đỡ người thấtnghiệp được đào tạo lại nghề và tìm việc làm mới
c) Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội, người tham gia bảo hiểmthất nghiệp sẽ không hưởng trợ cấp thôi việc và trợ cấp mấtviệc làm khi thôi việc để hưởng trợ cấp thất nghiệp, vì vậy sửađổi quy định về tính thời gian để hưởng trợ cấp mất việc làm,không tính thời gian người lao động tham gia bảo hiểm thấtnghiệp để phù hợp với Luật Bảo hiểm xã hội
d) Quy định rõ quyền làm việc của người lao động và quyềntuyển chọn lao động của người sử dụng lao động bằng hai điềukhoản riêng biệt và bỏ quy định về quỹ dự phòng mất việc làm
Chương III: Hợp đồng lao động:
Chương này gồm 44 điều và được chia thành 5 mục:
- Mục 1: Giao kết hợp đồng lao động
- Mục 2: Thực hiện hợp đồng lao động
- Mục 3: Sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động
- Mục 4: Hợp đồng lao động vô hiệu
- Mục 5: Cho thuê lại lao động
Trang 26Những sửa đổi, bổ sung ở chương này tập trung chủ yếu
vào những vấn đề chính sau đây:
- Thêm một mục có nội dung hoàn toàn mới về cho thuê lại
lao động, gồm 6 điều trong đó quy định những vấn đề cơ bản, chủ
yếu về hình thức sử dụng lao động mới là cho thuê lại lao động; tạo
lập khung pháp lý về vấn đề này nhằm điều chỉnh quan hệ lao động
mới phát sinh từ việc cho thuê lại lao động, cũng như đảm bảo vai
trò quản lý nhà nước về lao động trong điều kiện thị trường lao
động ngày càng linh hoạt đối với việc sử dụng lao động
Do đây là vấn đề mới nên cần có một Nghị định riêng của
Chính phủ quy định về vấn đề này, trong đó sẽ có một số nội
dung chủ yếu như cấp phép cho hoạt động cho thuê lại lao
động, quy định về việc ký quỹ và danh mục các công việc
được phép thực hiện cho thuê lại lao động v.v
Phương thức cho thuê lại lao động là một người sử dụng lao
động (A) tuyển chọn người lao động (C), ký hợp đồng lao động
với C, trả lương và các quyền lợi khác cho C theo luật định, nhưng
chuyển giao quyền sử dụng C cho một người sử dụng lao động
khác (B) theo hợp đồng cho thuê lại lao động đã ký kết trước với
B
Phương thức này xuất hiện do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Nhiều doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện đại ngày
càng chuyên môn hóa sâu, thường xuyên sử dụng dịch vụ
trong thời gian ngắn trên cơ sở tạm thời, người sử dụng laođộng thường sử dụng trung gian để được cung cấp các dịch
vụ, trong đó có dịch vụ cung ứng lao động, nhất là những lúcthiếu hụt tạm thời nhân lực
- Người lao động thực hiện quyền nghỉ làm việc: nghỉ hàngnăm, nghỉ thai sản, nghỉ vì tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,hoãn thực hiện hợp đồng thì doanh nghiệp cần có ngay ngườithay thế tạm thời để bảo đảm duy trì hoạt động bình thường
Ưu điểm của phương thức này là:
- Người sử dụng lao động (B) không phải tốn thời gian,chi phí và nhân lực để lo các việc tìm kiếm nhân lực, ký kếthợp đồng, thử việc, trả lương và các quyền lợi khác cho ngườilao động, không phải bận tâm về thực hiện các trình tự, thủtục do pháp luật quy định về giao kết và chấm dứt hợp đồnglao động, tuyển dụng, cho thôi việc, thanh toán tiền lương vàtrợ cấp xã hội mà vẫn có được nhân lực cần thiết, nhất là bùđắp được kịp thời nhu cầu nhân lực trong tình huống đột biếntạm thời thiếu hụt nhân lực, tập trung được sức lực, thời gian,tiền vốn cho đảm bảo và phát triển sản xuất, kinh doanh
- Người sử dụng lao động (A) có nguồn thu nhập từ hoạtđộng cho thuê lại lao động
- Người lao động, nhất là người đang thất nghiệp, ngườichưa có việc làm thì có cơ hội tiếp cận việc làm và nghề
Trang 27nghiệp, được giải quyết việc làm, dù chỉ là tạm thời, công việc
còn bấp bênh, chưa rõ định hướng phát triển ổn định, lâu dài
- Thị trường lao động có thêm một kênh giao dịch giải quyết
việc làm, cung ứng lao động, giảm bớt một phần thất nghiệp
Phương thức này đã được áp dụng gần 50 năm nay ở Anh,
Mỹ, nhiều nước châu Âu Một số nước châu Á như Nhật Bản,
Hàn Quốc, Trung Quốc cũng lần lượt áp dụng và luật hóa, ví dụ:
Nhật Bản có Luật số 88 (ngày 05/7/1985) về cho thuê lại lao động
gọi là Luật bảo đảm hoạt động của doanh nghiệp cho thuê lại lao
động và cải thiện điều kiện làm việc của lao động cho thuê lại,
bao gồm 04 chương 62 điều; Hàn Quốc có Luật bảo vệ người lao
động cho thuê lại (Luật số 5512 ngày 20/02/1998) bao gồm 05
chương, 46 điều; Luật hợp đồng lao động (2007) của Trung Quốc
quy định 11 điều về cho thuê lại lao động
Ở nước ta, qua báo cáo của các tỉnh, địa phương về hoạt
động cho thuê lại lao động, thì các doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ cho thuê lao động chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm ở
các tỉnh phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh có 59 doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ cho thuê lao động, nhiều nhất là quận Gò Vấp
có 26 doanh nghiệp, quận Bình Tân có 13 doanh nghiệp và quận
7 có 9 doanh nghiệp; Tỉnh Bình Dương có 51 doanh nghiệp đã
và đang cung cấp dịch vụ cho thuê lại lao động; Cần Thơ có 32
doanh nghiệp; Đà Nẵng có 25 doanh nghiệp và Đồng Nai có ít
nhất 20 doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp đang sử dụng bình
quân khoảng 120 - 150 lao động Tuy nhiên, do chưa được phápluật điều chỉnh, chưa được hướng dẫn, các doanh nghiệp đều ápdụng tự phát nên nhận thức không thống nhất, chưa phân biệt rõgiữa cho thuê lại lao động với các phương thức như cung cấpdịch vụ (làm vệ sinh, bảo vệ tại cơ quan, doanh nghiệp ) hoặcnhận thầu (cai thầu, thầu lại trong xây dựng ); quyền và trách
nhiệm của mỗi bên trong quan hệ “tay ba” không rõ ràng; nhất
là quyền lợi của người lao động không được đảm bảo về tiềnlương và điều kiện làm việc khác (lương thấp, trả lương chậm,làm việc cho doanh nghiệp FDI nhưng trả lương theo doanhnghiệp Việt Nam ); không báo cáo cơ quan nhà nước có thẩmquyền nên cơ quan này không thể thống kê được số doanhnghiệp cho thuê lại, số doanh nghiệp đã thuê lại, số người laođộng được thuê lại, những công việc đã sử dụng người lao độngthuê lại để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với loạidịch vụ mới này
Vì vậy, Bộ luật Lao động sửa đổi quy định thêm các điềukhoản về cho thuê lại lao động; trong đó quy định rõ về:quyền và trách nhiệm của người cho thuê lại, người thuê lại vàngười lao động được thuê lại; hợp đồng cho thuê lại lao độngnhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao độngkhông thấp hơn so với người lao động có cùng trình độ, làmcùng công việc hoặc công việc tương tự trong doanh nghiệpthuê lại Chính phủ sẽ quyết định chi tiết về điều kiện đượccho thuê lại lao động, được cấp giấy phép hoạt động cho thuê
Trang 28lại, những công việc được sử dụng người lao động thuê lại,
thời hạn cho thuê lại, chế độ thống kê báo cáo về cho thuê lại
lao động và chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan nhà
nước có liên quan đối với loại dịch vụ này
- Bổ sung nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động trên tinh
thần tự do, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực và hợp
tác nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập
thể (nếu có) và đạo đức xã hội
- Bổ sung quy định “trước khi nhận người lao động vào
làm việc” thì người lao động và người sử dụng lao động phải
trực tiếp giao kết hợp đồng lao động, nhằm khắc phục tình
trạng người sử dụng lao động nhận người lao động vào làm
việc nhưng chần chừ, kéo dài hoặc không giao kết hợp đồng
lao động, dẫn đến tranh chấp lao động không đáng có, và nội
dung về nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan trực tiếp đến
việc giao kết hợp đồng lao động khi có yêu cầu của một trong
hai bên trước khi giao kết hợp đồng lao động
Quy định này bảo đảm người lao động mỗi khi nhận làm
việc cho một người sử dụng lao động đều phải biết rõ nội dung
công việc và những quyền lợi cơ bản, giảm bớt những thắc
mắc, bất đồng trong quá trình làm việc do không hiểu rõ từ
trước khi vào doanh nghiệp Người sử dụng lao động tuyển
dụng lao động thì bắt buộc phải giao kết hợp đồng lao động,
chia sẻ thông tin về quyền, nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ
lao động, về công việc người lao động sẽ làm, mức lương, thờigian làm việc, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội, thời hạnhợp đồng Người sử dụng lao động có quyền yêu cầu ngườilao động phải bảo vệ bí mật kinh doanh nếu có, không đượcyêu cầu người lao động phải đặt cọc để phòng người lao độnglàm mất, làm hỏng dụng cụ, thiết bị đắt tiền khi làm việc
Đây là một quy định mới, đòi hỏi hai bên liên quan phải chia
sẻ thông tin ngay từ lúc bắt đầu thiết lập quan hệ lao động và duytrì trong suốt quá trình làm việc, hạn chế tranh chấp lao động
- Bổ sung những hành vi người sử dụng lao động khôngđược làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động như giữbản chính, giấy tờ tùy thân, văn bằng chứng chỉ của người laođộng hoặc yêu cầu người lao động phải nộp một khoản tiềnhoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động
- Về loại hợp đồng lao động, Bộ luật Lao động (sửa đổi)lần này cơ bản vẫn giữ như quy định hiện hành Tuy nhiên,đối với hai loại hợp đồng lao động: Hợp đồng lao động xácđịnh thời hạn và loại hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo mộtcông việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng, thì trongtrường hợp đã hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làmviệc, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; Nếu không
ký kết hợp đồng lao động mới thì loại hợp đồng lao động xácđịnh thời hạn mà hai bên đã giao kết trở thành hợp đồng laođộng không xác định thời hạn; còn loại hợp đồng lao động
Trang 29theo mùa vụ hoặc theo một công việc có thời hạn dưới 12
tháng trở thành loại hợp đồng lao động xác định thời hạn với
thời hạn là 24 tháng Quy định này nhằm khắc phục việc giao
kết hợp đồng lao động chuỗi, không bảo vệ được quyền và lợi
ích hợp pháp của người lao động
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động xác định
thời hạn tương tự như đối với hợp đồng lao động không xác
định thời hạn, nhưng thời hạn báo trước, thời hạn diễn ra sự
cố (chủ yếu là do ốm đau) ngắn hơn
Quy định rõ những trường hợp coi là chấm dứt hợp đồng
lao động trái pháp luật và mức bồi thường ngoài tiền bồi
thường chi phí đào tạo nếu có và cụ thể cách tính thời gian để
hưởng trợ cấp thôi việc như hiện hành, nhưng không tính thời
gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp nếu có, để phù hợp với
Luật Bảo hiểm xã hội
- Về nội dung của hợp đồng lao động, Bộ luật Lao động
(sửa đổi) đã bổ sung hai nội dung quan trọng, cụ thể:
+ Chế độ nâng bậc, nâng lương;
+ Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề
Đối với người lao động được thuê làm giám đốc trong
doanh nghiệp có vốn Nhà nước, thì nội dung hợp đồng lao
động có thể có một số nội dung khác so với hợp đồng lao
động thông thường Chính phủ sẽ quy định nội dung của hợp
đồng lao đông đối với trường hợp này
Về hợp đồng lao động đối với các công việc trong nôngnghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, bổ sung quyđịnh người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏathuận trả lương một phần bằng hiện vật nhưng việc cung cấphiện vật phải phù hợp với lợi ích của người lao động
- Bổ sung quy định mới về Phụ lục hợp đồng lao động, theo
đó khi cần sửa đổi, bổ sung nội dung của hợp đồng lao động, haibên có thể dùng phụ lục hợp đồng để giao kết những nội dungmới so với nội dung đã có, thay vì phải thay thế toàn bộ bản hợpđồng lao động đã giao kết, nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tránhlãng phí cho người sử dụng lao động và người lao động
- Nâng mức lương thử việc của người lao động trong thờigian thử việc, ít nhất phải bằng 85% mức lương cấp bậc củacông việc đó so với mức 75% được quy định tại Bộ luật Laođộng hiện hành
- Về các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng laođộng, ngoài các trường hợp tạm hoãn hợp đồng lao động như:người lao động đi thực hiện nghĩa vụ quân sự; người lao động
bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật và cáctrường hợp khác được hai bên thoả thuận, thì Bộ luật Laođộng (sửa đổi) bổ sung thêm 02 trường hợp:
+ Người lao động phải chấp hành quyết định áp dụngbiện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cainghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc
Trang 30+ Lao động nữ trong thời gian mang thai nếu có xác nhận
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận
nếu tiếp tục làm việc thì sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi
- Bổ sung quy định mới về hình thức làm việc không trọn
thời gian để đáp ứng với nhu cầu của thị trường lao động,
cũng như đảm bảo các chế độ lao động đối với người lao động
khi thỏa thuận với người sử dụng lao động lựa chọn hình thức
làm việc này theo nguyên tắc: người lao động làm việc không
trọn thời gian được hưởng lương, các quyền và nghĩa vụ như
những người lao động làm việc trọn thời gian; có quyền bình
đẳng về cơ hội, không bị phân biệt đối xử, bảo đảm an toàn
lao động, vệ sinh lao động trong khi làm việc
Làm việc không trọn thời gian là một chế độ làm việc khá
phổ biến hiện nay ở nhiều ngành, nghề Có hai lý do chủ yếu:
+ Sản xuất ngày càng chuyên môn hóa sâu, có công đoạn,
công việc hàng ngày chỉ phải thực hiện trong một thời gian ngắn,
không kéo dài liên tục cả ngày làm việc; nếu sử dụng người làm
trọn thời gian thì người lao động không sử dụng hết thời gian lao
động của ngày hoặc tuần, tháng, gây lãng phí lao động, người sử
dụng lao động khó quản lý và phải trả lương như trọn thời gian
+ Xã hội có những người có nhu cầu chỉ làm việc một
phần thời gian trong ngày để vừa có việc làm có thu nhập vừa
có thời gian để giải quyết công việc gia đình Có những người
khuyết tật vì sức khỏe có hạn; người thất nghiệp chưa tìm
được việc làm trọn thời gian; người cao tuổi muốn có việc làm
để tham gia hoạt động kinh tế; người lao động cần có thờigian để thực hiện một dự án có thời hạn xác định; sinh viên,học sinh có thời gian ngoại khóa cần có việc làm để có thunhập trả học phí… Bộ luật Lao động hiện hành đã quy địnhchế độ này đối với lao động nữ và người lao động cao tuổinhưng chưa có hướng dẫn thực hiện, hơn nữa trên thực tếkhông phải chỉ có lao động nữ mà cả lao động nam cũng cónhững trường hợp có nhu cầu làm việc không trọn thời gian.Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật Lao động (sửađổi) thì làm việc không trọn thời gian là thời gian làm việcngắn hơn so với số giờ làm trọn thời gian chính thức hàngngày của doanh nghiệp Bên cạnh đó, Đieuè luật này còn quyđịnh trách nhiệm của người sử dụng lao động không đượcphân biệt đối xử đối với người làm không trọn thời gian vềtiền lương và điều kiện làm việc so với người làm trọn thờigian có cùng trình độ làm cùng công việc hoặc công việctương tự trong doanh nghiệp
- Về các trường hợp chấp dứt hợp đồng lao động, theoquy định của Bộ luật Lao động hiện hành thì hợp đồng laođộng được chấm dứt trong 5 trường hợp:
+ Hết hạn hợp đồng lao động;
+ Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động; + Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động;
Trang 31+ Người lao động bị kết án tù giam hoặc bị cấm làm công
việc cũ theo quyết định của Tòa án;
+ Người lao động chết, mất tích theo tuyên bố của Tòa án
Bộ luật Lao động (sửa đổi) đã bổ sung một số nội dung quan
trọng về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động, cụ thể:
+ Người lao động bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành
vi dân sự;
+ Người lao động chết;
+ Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án
tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã
chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm
dứt hoạt động;
+ Người lao động bị xử lý kỷ luật dưới hình thức sa thải;
+ Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng theo
quy định của pháp luật;
+ Người sử dụng lao động đơn phương chấp dứt hợp đồng
lao động theo đúng quy định tại Điều 38 Bộ luật Lao động (sửa
đổi) và trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động
thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc về lý do kinh tế hoặc
do sáp nhập, hợp nhất chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã
Một trong những điểm mới đáng chú ý đối với các trường hợp
chấm dứt hợp đồng lao động trong Bộ luật Lao động (sửa đổi) lần
này là: đối với trường hợp hết hạn hợp đồng lao động, thì theonguyên tắc chung là đều thuộc diện chấm dứt hợp đồng lao động,riêng đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyêntrách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng laođộng thì được gia hạn hợp đồng lao động đến hết nhiệm kỳ
- Bổ sung trường hợp người lao động được quyền đơnphương chấm dứt hợp đồng lao động khi người đó bị “quấyrối tình dục”
- Bổ sung quy định trong đó chỉ rõ thế nào là đơn phươngchấm dứt hợp đồng lao động trái luật, nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho người lao động, người sử dụng lao động và cơquan quản lý nhà nước về lao động trong việc giám sát thựchiện pháp luật lao động
- Bổ sung mức tiền mà người sử dụng lao động phải bồithường cho người lao động trong trường hợp người sử dụnglao động không muốn nhận lại người lao động khi đơnphương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật mà người lao độngcũng đồng ý không muốn trở lại nơi làm việc cũ Cụ thể,ngoài khoản tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trongnhững ngày người lao động không được làm việc cộng với ítnhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và tiền trợcấp thôi việc cứ mỗi năm làm việc được trợ cấp nửa tháng tiềnlương nếu người lao động đã làm việc thường xuyên tại doanhnghiệp từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động phải
Trang 32bồi thường thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất
phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động của
người lao động để chấm dứt hợp đồng lao động
- Bổ sung điều mới về nghĩa vụ phải lập phương án sử dụng
lao động của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi
cơ cấu, công nghệ, vì lý do kinh tế, sáp nhập, hợp nhất, chia tách
doanh nghiệp, hợp tác xã mà việc này có nguy cơ làm nhiều
người lao động mất việc làm, thôi việc với 04 nội dung cụ thể:
+ Danh sách về số lượng người lao động tiếp tục được sử
dụng, người lao động đưa đi đào tạo lại để tiếp tục sử dụng;
+ Danh sách và số người lao động nghỉ hưu;
+ Danh sách và số lượng người lao động được chuyển
sang làm việc không trọn thời gian; số người lao động phải
chấm dứt hợp đồng lao động;
+ Biện pháp và nguồn tài chính bảo đảm thực hiện phương án
- Bổ sung nhóm quy định mới, gồm 03 điều quy định về
hợp đồng lao động vô hiệu, trong đó quy định 04 trường hợp
được coi là hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ, gồm:
+ Toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động trái pháp luật;
+ Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền;
+ Công việc mà hai bên đã giao kết trong hợp đồng lao
động là công việc bị pháp luật cấm;
+ Nội dung của hợp đồng lao động hạn chế hoặc ngăn cảnquyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của ngườilao động
Và trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu từng phần khinội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnhhưởng đến các phần còn lại của hợp đồng lao động
Và quy định trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ nộidung của hợp đồng lao động có quy định quyền lợi của ngườilao động thấp hơn quy định trong pháp luật lao động, nội dunglao động, thoả ước lao động tập thể đang áp dụng hoặc nội dungcủa hợp đồng lao động hạn chế các quyền khác của người laođộng thì một phần hoặc toàn bộ nội dung đó bị vô hiệu
Chương IV: Học nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề
1 Chương học nghề theo quy định của Bộ luật Lao độnghiện hành gồm 06 điều và đặt sau chương việc làm, trướcchương hợp đồng lao động với quan niệm trước khi bước vàolao động (giao kết hợp đồng lao động), thì học nghề coi làđiều kiện cần có đối với mỗi người lao động
2 Năm 2006, Quốc hội ban hành Luật Dạy nghề có hiệulực từ ngày 01/6/2007 Trong đó quy định rất cụ thể về việcdạy nghề theo ba cấp trình độ: sơ cấp, trung cấp và cao đẳngnghề Vì vậy, Bộ luật Lao đông (sửa đổi) chỉ giữ lại số điều
Trang 33khoản về trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với việc
đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động
đang làm việc tại doanh nghiệp, có bổ sung, sửa đổi một số
điểm mà không mâu thuẫn với Luật Dạy nghề
3 Bộ luật Lao động (sửa đổi) quy định 04 điều về vấn đề
học nghề, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề
với nội dung:
Trách nhiệm của người sử dụng lao động về đào tạo, bồi
dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề; Việc nâng cao trình độ,
kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc tại doanh
nghiệp là trách nhiệm của người sử dụng lao động Người sử
dụng lao động phải có kế hoạch hàng năm và dành kinh phí để
thực hiện vì lợi ích của doanh nghiệp, vừa có lợi cho chất lượng
lao động của doanh nghiệp, thúc đẩy nâng cao năng suất và chất
lượng sản phẩm, dịch vụ, vừa xây dựng đội ngũ lao động có kỹ
thuật cho doanh nghiệp và xã hội Học nghề, tập nghề để làm
việc cho người sử dụng lao động
Việc đào tạo của người sử dụng lao động với người lao
động được thông qua hợp đồng đào tạo nghề, trong đó có
những điều khoản quy định rõ mức chi phí, thời hạn người
lao động phải làm việc cho doanh nghiệp sau khi được đào
tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, mức bồi thường nếu
vi phạm cam kết, khắc phục tình trạng khá phổ biến hiện
nay là người lao động được doanh nghiệp đào tạo rồi tự ý
bỏ đi làm việc cho doanh nghiệp khác mà không phải bồithường chi phí đào tạo
Tóm lại, chương này chủ yếu quy định về vấn đề dạynghề, tập nghề tại doanh nghiệp để làm việc cho doanhnghiệp Do vậy, có một số điểm mới so với Bộ luật Lao độnghiện hành như sau:
- Về tuổi học nghề phải đủ 14 tuổi (Bộ luật Lao động hiệnhành quy định 13 tuổi là tuổi học nghề);
- Hết thời gian học nghề, tập nghề nếu đủ các điều kiệntheo quy định của Bộ luật Lao động (sửa đổi), thì hai bên phải
ký kết hợp đồng lao động;
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo điều kiện đểngười lao động tham gia đánh giá kỹ năng nghề để được cấpchứng chỉ kỹ năng nghề
Chương V: Đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể
1 Chương V Bộ luật Lao động hiện hành tập trung vàothỏa ước lao động tập thể với 11 điều và chủ yếu đề cập đếnthỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp
2 Bộ luật Lao động (sửa đổi) bổ sung thêm 02 nhóm nộidung: Đối thoại tại nơi làm việc và thương lượng tập thể với
27 điều và chia thành 5 mục:
- Mục 1: Đối thoại tại nơi làm việc;
Trang 34- Mục 2: Thương lượng tập thể;
- Mục 3: Thỏa ước lao động tập thể;
- Mục 4: Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp;
- Mục 5: Thỏa ước lao động tập thể ngành;
3 Tư tưởng chung của chương này là nhằm ổn định quan
hệ lao động giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động
thông qua cơ chế đối thoại tại nơi làm việc; khuyến khích các
bên có sự đồng thuận để có thoả ước lao động tập thể thực
chất, Chương này có một số nội dung mới sau đây:
- Thêm mục đối thoại tại nơi làm việc; trong đó quy định
rõ mục đích, hình thức đối thoại hạt nhân là việc thực hiện
quy chế dân chủ cơ sở tại nơi làm việc sẽ được quy định bởi
một Nghị định của Chính phủ Trong đó quy định 06 nhóm
nội dung mà hai bên phải đối thoại gồm:
+ Tình hình sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động;
+ Việc thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập
thể, nội dung, quy chế và cam kết, thỏa thuận khác tại nơi làm việc;
+ Điều kiện làm việc;
+ Yêu cầu của người lao động, tập thể lao động với người
sử dụng lao động;
+ Yêu cầu của người sử dụng lao động với người lao động,
tập thể lao động;
+ Nội dung khác mà hai bên quan tâm
Và phải tiến hành việc đối thoại định kỳ ba tháng một lầnhoặc theo yêu cầu của một bên
- Bổ sung mục thương lượng tập thể gồm 07 điều để quyđịnh về mục đích, nguyên tắc, quyền yêu cầu thương lượngtập thể, đại diện thương lượng, nội dung, quy trình và tráchnhiệm của các bên trong thương lượng tập thể
- Về mục đích của thương lượng tập thể, Bộ luật Lao động(sửa đổi) quy định:
+ Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.+ Xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiếnhành ký kết thỏa ước lao động tập thể
+ Giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thựchiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động
- Về nguyên tắc thương lượng tập thể, ngoài nhữngnguyên tắc đã được đề cập tại Bộ luật Lao động hiện hành thì
Bộ luật Lao động (sửa đổi) lần này nêu thêm nguyên tắc:+ Thương lượng tập thể được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất
+ Thương lượng tập thể được thực hiện tại địa điểm dohai bên thỏa thuận
Trang 35Từ “thương lượng” được hiểu là các bên quan hệ có lợi ích
chung và cũng có lợi ích riêng khác nhau, ngồi lại cùng nhau thảo
luận nhằm tìm kiếm một thoả thuận chung về một hoặc một số
vấn đề cụ thể Thương lượng tập thể là thương lượng giữa hai bên
quan hệ lao động nhằm tìm kiếm một thoả thuận chung về các
vấn đề lao động và sử dụng lao động trong quan hệ lao động, kể
cả về trách nhiệm xã hội, để khắc phục những nhược điểm trong
quy định hiện hành chưa thật rõ và chưa được nhận thức đầy đủ
Chương này quy định rõ mục đích thương lượng tập thể,
ngoài việc để ký kết thoả ước lao động tập thể doanh nghiệp
hoặc ngành, còn có thể và cần thông qua thương lượng có
thiện chí và thành nề nếp tốt đẹp giữa người sử dụng lao động
và tập thể lao động để giải quyết những bất đồng thường nảy
sinh trong quá trình quan hệ lao động
- Về đại diện thương lượng tập thể, theo quy định của Bộ
luật Lao động hiện hành, thì đại diện thương lượng thỏa ước tập
thể bên tập thể lao động tại doanh nghiệp là Ban chấp hành công
đoàn sở sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời
Bộ luật Lao động (sửa đổi) quy định: đại diện thương
lượng tập thể trong phạm vi doanh nghiệp là tổ chức đại diện
tập thể lao động sở sở
Theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Lao động (sửa đổi) về
giải thích từ ngữ của Bộ luật thì: Tổ chức đại diện tập thể lao
động tại cơ sở là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban
chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp ở nơi chưa thành lậpcông đoàn cơ sở
- Về nội dung thương lượng tập thể gồm 05 nhóm nộidung, trong đó những nội dung của thương lượng tập thể được
mở rộng hơn so với quy định hiện hành là các bên có thể đưathêm những nội dung khác nếu thấy cần thiết mà cả hai bêncùng quan tâm
Nội dung thương lượng tùy theo sự lựa chọn của các bênkhông nhất thiết phải theo đủ hết những điều quy định của điềuluật mà tuỳ thực tế tình hình và tiềm năng của doanh nghiệp, củangành, có thể mở rộng hơn hoặc chỉ chọn một số điểm cho sáthợp và những điểm lựa chọn phải có lợi cho người lao động sovới quy định của pháp luật hoặc do pháp luật lao động chưa quyđịnh Nếu chỉ nhắc lại, sao chép những quy định đã rõ trong Bộluật Lao động và các văn bản dưới luật thì không coi đó là thươnglượng mà chỉ là nhắc nhở nhau thực hiện đúng pháp luật lao động.Điều cần lưu ý ở đây là những nội dung để hai bênthương lượng gồm 05 nhóm nội dung như đã nói ở trên, cònviệc ký kết thì chỉ được tiến hành khi hai bên đạt được các nộidung đã thoả thuận và với điều kiện có trên 50% số người củatập thể lao động biểu quyết tán thành đối với thoả ước laođộng tập thể hoặc có trên 50% đại diện Ban chấp hành côngđoàn cơ sở biểu quyết tán thành (công đoàn cấp trên cơ sở)đối với thoả ước tập thể ngành
Trang 36- Về quy trình thương lượng tập thể, Bộ luật Lao động
(sửa đổi) quy định gồm 2 bước:
+ Quy trình chuẩn bị thương lượng;
+ Quy trình tiến hành thương lượng;
Và trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp
thương lượng tập thể, đại diện của bên tập thể lao động phải
phổ biến rộng rãi, công khai biên bản phiên họp và lấy ý kiến
biểu quyết của tập thể lao động về các nội dung mà hai bên đã
thỏa thuận
Quy định về quy trình thương lượng tập thể, trước hết làm
tốt công tác chuẩn bị từ việc yêu cầu người sử dụng lao động
thông tin những nét chính về tình hình hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp, những thuận lợi, khó khăn và
cả những yêu cầu đối với tập thể lao động, đến việc lấy ý kiến
của tập thể lao động về những nội dung cần đặt ra để thương
lượng, thông báo về những nội dung sẽ thảo luận để mỗi bên
đều chuẩn bị ý kiến và ngày, giờ, địa điểm mở cuộc thượng
lượng Kết quả thương lượng được ghi thành biên bản, những
nội dung nhất trí được ghi nhớ bằng bản thỏa thuận hoặc lập
thành thoả ước lao động tập thể nếu thương lượng nhằm mục
đích ký kết thỏa ước lao động tập thể
Trong trường hợp mà hai bên không thể thỏa thuận được
những nội dung đưa ra trong khi thương lượng, thì có thể
chọn lựa: tiếp tục thương lượng hoặc tiến hành các thủ tục giảiquyết tranh chấp lao động theo quy định
- Bộ luật Lao động (sửa đổi) lần này cũng quy định rõ
về trách nhiệm của tổ chức công đoàn, tổ chức đại diệnngười sử dụng lao động và cơ quan quản lý nhà nước về laođộng trong thương lượng tập thể, theo nguyên tắc là khôngtrực tiếp can thiệp vào quá trình thương lượng, thoả thuậncủa hai bên, nhưng phải hỗ trợ tích cực hai bên trong quátrình đàm phán, thương lượng, ký kết thoả ước lao động tậpthể Cụ thể:
+ Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng thương lượng tập thể;+ Tham dự phiên họp thương lượng nếu được đề nghị của
ít nhất là một bên thương lượng tập thể;
+ Cung cấp trao đổi các thông tin liên quan đến thươnglượng tập thể
- Về thẩm quyền tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vôhiệu, Bộ luật Lao động hiện hành quy định: cơ quan quản lýnhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
có quyền tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu từngphần hoặc vô hiệu toàn bộ
Theo quy định tại Điều 79 Bộ luật Lao động (sửa đổi), thìthẩm quyền tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu là Tòa
án nhân dân
Trang 37- Đối với những thoả ước lao động tập thể hết hạn mà hai
bên vẫn tiếp tục thương lượng để kéo dài thời hạn của thoả
ước hoặc ký kết thoả ước lao động tập thể mới thì thời hạn
của thoả ước được kéo dài thêm trong Bộ luật Lao động hiện
hành là 03 tháng, Bộ luật Lao động (sửa đổi) quy định trong
trường hợp này thì thỏa ước lao động tập thể cũ vẫn được tiếp
tục thực hiện trong thời gian không quá 60 ngày
- Về số bản thỏa ước lao động tập thể được lập và nơi gửi
bản thoả ước lao động tập thể; Bộ luật Lao động hiện hành
quy định:
+ Thỏa ước lao động tập thể đã được ký kết phải làm
thành 04 bản
+ Thỏa ước lao động tập thể được gửi tới 04 địa chỉ
Bộ luật Lao động (sửa đổi) quy định:
+ Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp phải làm thành
05 bản
+ Gửi tới 05 địa chỉ trong đó có tổ chức đại diện người sử
dụng lao động mà người sử dụng lao động là thành viên
- Về thỏa ước lao động tập thể ngành (Mục 5)
Bộ luật Lao động hiện hành khi đề cập đến việc
thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể ngành
chỉ có một điều quy định về việc áp dụng theo nguyên tắc
chung của Chương V - Thỏa ước lao động tập thể (Chương
V đề cập chủ yếu đến loại hình thoả ước lao động tập thểtại doanh nghiệp)
Bộ luật Lao động (sửa đổi) dành hẳn một mục gồm 03điều quy định về thỏa ước lao động tập thể ngành với các nộidung: đại diện ký kết thỏa ước lao động tập thể ngành, quan
hệ giữa thỏa ước lao động tập thể ngành với thỏa ước lao độngtập thể doanh nghiệp và thời hạn của thỏa ước ngành
- Về đại diện ký kết thỏa ước lao động tập thể ngành:+ Bên tập thể lao động là Chủ tịch công đoàn ngành.+ Bên người sử dụng lao động là đại diện của tổ chức đạidiện người sử dụng lao động đã tham gia thương lượng thỏaước lao động tập thể ngành
- Thỏa ước lao động tập thể ngành được làm thành 04 bản.Ngoài việc hai bên lưu giữ thì còn được gửi cho Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội và công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở.Điểm khác biệt cơ bản của quy định này giữa Bộ luật Laođộng hiện hành và Bộ luật Lao động (sửa đổi) là không cònquy định việc đăng ký thỏa ước lao động tập thể Do vậy,ngày có hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể (gồm các thỏaước tập thể doanh nghiệp) sẽ là ngày được ghi trong thỏa ướctập thể Trường hợp trong thỏa ước tập thể không ghi ngày cóhiệu lực thì hiệu lực của bản thỏa ước tập thể được tính từngày hai bên ký kết
Trang 38- Về quan hệ giữa thỏa ước tập thể ngành với thỏa ước lao
động tập thể doanh nghiệp:
+ Đối với trường hợp những nội dung của thỏa ước lao
động tập thể doanh nghiệp quy định về quyền, nghĩa vụ lao
động thấp hơn những nội dung tương ứng của thỏa ước ngành
thì phải sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể doanh
nghiệp trong thời hạn 03 tháng tính từ ngày thoả ước lao động
tập thể ngành có hiệu lực
+ Trường hợp doanh nghiệp chưa có thoả ước nhưng là đối
tượng áp dụng của thỏa ước lao động tập thể ngành thì doanh
nghiệp có thể xây dựng thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp
Thỏa ước này không nhất thiết giống thỏa ước ngành mà chỉ cần
đề cập những nội dung có lợi hơn cho người lao động
+ Đối với thỏa ước lao động tập thể ngành thì thời hạn
được quy định từ 01 đến 03 năm
Chương VI: Tiền lương
Chương Tiền lương Bộ luật Lao động hiện hành có 13 điều
Chương Tiền lương Bộ luật Lao động (sửa đổi) gồm 14
điều (từ điều 90 đến điều 103)
So với Bộ luật Lao động hiện hành thì Chương Tiền
lương trong Bộ luật Lao động (sửa đổi) có một số nội dung
mới sau:
- Về cơ cấu tiền lương, Bộ luật Lao động (sửa đổi) quyđịnh: Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chứcdanh, phụ cấp lương, các khoản bổ sung khác Việc trả lươngphải được thực hiện một cách bình đẳng, không phân biệt giớitính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau
- Căn cứ xác định mức lương tối thiểu ngoài các tiêu chínhư trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, điềukiện lao động bình thường như Bộ luật Lao động hiện hành đãquy định, thì còn có thêm yếu tố đảm bảo nhu cầu sống tốithiểu của người lao động và gia đình họ
Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ
và được xác lập theo vùng, ngành Không quy định mứclương tối thiểu chung như quy định tại Bộ luật Lao động hiệnhành vì mức lương tối thiểu chung thực chất chỉ áp dụng chođối tượng làm việc tại khu vực công mà đối tượng này khôngthuộc đối tượng áp dụng của Bộ luật Lao động
Để giảm bớt thủ tục hành chính, Bộ luật Lao động (sửa đổi)
bỏ quy định về đăng ký thang lương, bảng lương, thay bằng saogửi cho cơ quan, tổ chức có liên quan Thang lương, bảng lương,định mức lao động do các doanh nghiệp tự xây dựng và ban hànhtheo các nguyên tắc quy định của pháp luật
- Thành lập hội đồng tiền lương quốc gia trong đó có sựtham gia của tổ chức đại diện người sử dụng lao động ởtrung ương, là cơ quan tư vấn cho Chính phủ để nghiên cứu,
Trang 39khuyến nghị Chính phủ trong việc điều chỉnh, công bố mức
lương tối thiểu
- Trong trường hợp người sử dụng lao động thay đổi hình
thức trả lương thì phải thông báo cho người lao động biết
trước ít nhất 10 ngày
- Đối với trường hợp trả lương qua tài khoản được mở
tại ngân hàng thì người sử dụng phải thỏa thuận với
người lao động về các loại phí liên quan đến việc mở, duy
trì tài khoản
- Về tiền lương làm thêm giờ trong trường hợp người lao
động làm thêm giờ vào ban đêm, Bộ luật Lao động (sửa đổi)
quy định người lao động khi làm thêm giờ vào ban đêm thì
ngoài việc được trả lương theo quy định đối với các trường
hợp làm thêm giờ và làm việc vào ban đêm còn được trả thêm
20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương
theo công việc làm vào ban ngày
- Quy định cụ thể về thời gian tạm ứng tiền lương trong
trường hợp người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện
nghĩa vụ công dân từ 01 tuần trở lên và mức tạm ứng là tối đa
không quá 01 tháng lương và phải hoàn trả lại số tiền đã tạm
ứng trừ trường hợp thực hiện nghĩa vụ quân sự
- Quy định cụ thể các khoản trích nộp như: Bảo hiểm xã
hội bắt buộc, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu
nhập cá nhân, thuế thu nhập được loại trừ khỏi tiền lươnghàng tháng để tính mức khấu trừ 30% trong các trường hợp đểbồi thường thiệt hại do người lao động làm hư hỏng dụng cụ,thiết bị của người sử dụng lao động
- Về Chương này, có ý kiến cho rằng mức lương tối thiểuhiện hành điều chỉnh hàng năm làm cho doanh nghiệp gặpkhó khăn vì cứ phải điều chỉnh tiền lương, tiền đóng bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp hàng năm Nhất làmức lương tối thiểu sau nhiều lần điều chỉnh vẫn không đápứng nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của người lao động, mứclương của doanh nghiệp dựa trên mức lương tối thiểu thấp chonên tiền lương của người lao động không đủ bù đắp sức laođộng, không đủ sống
Tuy nhiên, Bộ luật Lao động, cũng như luật Lao độngnhiều nước, không thể quy định mức lương tối thiểu theo con
số cụ thể, chỉ có ở Mỹ và một vài nước quy định mức lươngtối thiểu bằng con số tuyệt đối, cụ thể trong luật lao động.Việc xác định lương tối thiểu phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh
tế thị trường khác nhau, do vậy nếu quy định cứng nhắc mộtmức cụ thể trong Bộ luật sẽ không đảm bảo được tính linhhoạt trước sự thay đổi của thực tiễn
Chương VII: Thời giờ làm việc, Thời giờ nghỉ ngơi
Bộ luật Lao động hiện hành gồm 14 điều (Từ Điều 68 đếnĐiều 81)
Trang 40Bộ luật Lao động (sửa đổi) gồm 14 điều (từ Điều 104 đến
Điều 117)
So với Bộ luật Lao động hiện hành thì Bộ luật Lao động
(sửa đổi) có những điểm mới như sau:
- Về giờ là việc ban đêm, Bộ luật Lao động hiện hành
chia ra 2 mốc: Từ 22 giờ đến 6 giờ (áp dụng từ Thừa Thiên
Huế trở vào các tỉnh phía Bắc); từ 21 giờ đến 5 giờ (từ Quảng
Nam - Đà Nẵng trở ra các tỉnh phía Nam)
Bộ luật Lao động (sửa đổi) lần này quy định thống nhất
một mốc chung để áp dụng trong cả nước: giờ làm việc ban
đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau
- Ngoài việc quy định thời giờ làm việc theo ngày, theo
tuần như quy định hiện hành, Bộ luật Lao động (sửa đổi) còn
quy định người sử dụng lao động có quyền quy định làm việc
theo giờ
- Quy định những trường hợp đặc biệt làm thêm giờ như:
Thực hiện lệnh động viên, huy động đảm bảo nhiệm vụ quốc
phòng an ninh trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, an
ninh theo quy định của pháp luật, hay phải thực hiện các công
việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong phòng ngừa và khắc phục hậu quả thiên
tai, hỏa hoạn, dịch bệnh và thảm họa
Trong trường hợp nói trên thì người sử dụng lao động có
quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ vào bất kỳ ngàynào và người lao động cũng không được từ chối
- Về nghỉ trong giờ làm việc, đối với trường hợp nhữngngười làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theoquy định mà thời giờ làm việc không quá 6 giờ trong một ngày thìthời gian nghỉ giữa giờ ít nhất là 30 phút và tính vào giờ làm việc
- Về nguyên tắc, tiền tàu xe và tiền lương những ngày điđường sẽ do hai bên thỏa thuận, tuy nhiên đối với người lao độngmiền xuôi làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hảiđảo và người lao động vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hảiđảo làm việc ở miền xuôi, thì được người sử dụng lao động thanhtoán tiền tàu xe và tiền lương những ngày đi đường
- Nghỉ lễ, tết theo quy định hiện hành thì người lao độngđược nghỉ tổng cộng là 09 ngày Bộ luật Lao động (sửa đổi)giữ nguyên các ngày nghỉ lễ, tết mà người lao động được nghỉlàm việc hưởng nguyên lương khác, chỉ bổ sung ngày nghỉ tết
âm lịch từ 04 ngày lên 05 ngày, nâng tổng số ngày nghỉ lễ, tếttrong một năm là 10 ngày
- Về các trường hợp nghỉ không hưởng lương cũng đượcquy định cụ thể theo hướng mở rộng hơn các trường hợp như:khi ông, bà nội ngoại, anh chị em ruột chết, bố hoặc mẹ kếthôn, anh chị em ruột kết hôn, thì người lao động được nghỉkhông hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sửdụng lao động