1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH NGÀNH dầu KHÍ VIỆT NAM

21 1,5K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Ngành Dầu Khí Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài Tiểu Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 629,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ dầu mỏ ngày càng tăng,không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong dài hạn do sự bùng nổ dân số, các ngành côngnghiệp tiếp tục phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ

Trang 1

I Tổng quan về ngành:

I.1 Lịch sử hình thành và phát triển:

Ngành dầu khí Việt Nam còn khá non trẻ và chỉ mới bắt đầu được quan tâm đúng mứccủa Chính Phủ Từ khi hình thành đến nay ngành dầu khí luôn giữ vị thế hàng đầu trongxuất khẩu của Việt Nam cũng như những đóng góp cho ngân sách Nhà nước Lịch sử hìnhthành và phát triển ngành bắt đầu khoảng năm 1945:

o Việt Nam bắt đầu tiến hành khảo sát, tìm kiếm thăm dò dầu khí từ năm 1945

o Năm 1969, Liên đoàn Địa chất 36, tiền thân là Đoàn Địa chất 36, có nhiệm vụ xâydựng, quy hoạch, kế hoạch nghiên cứu tìm kiếm và thăm dò dầu mỏ và khí đốt ởtrong nước

o Năm 1975, Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam được thành lập trên cơ sở Liênđoàn địa chất 36 và một bộ phận thuộc Tổng cục Hoá chất

o Năm 1976, phát hiện dòng khí thiên nhiên đầu tiên ở huyện Tiền Hải - Thái Bình

o Năm 1981, Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt-Xô (Vietsovpetro) được thành lập

o Năm 1984, hạ thuỷ chân đế giàn khoan dầu khí đầu tiên của Việt Nam (MSP-1) tại

o Tháng 6/1990 - Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam được tổ chức lại trên cơ sở các đơn

vị cũ của Tổng cục Dầu khí Việt Nam

o Tháng 5/1992 - Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam trực thuộc Thủ tướng Chính phủ vàtrở thành Tổng công ty Dầu khí quốc gia với tên giao dịch quốc tế là Petrovietnam

o Năm 1993, Luật Dầu khí được ban hành

o Ngày 29/5/1995, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Tổng Công ty Nhà nướcvới tên giao dịch quốc tế là Petrovietnam

o Cuối năm 2005, nhà máy Lọc dầu Dung Quất được khởi công xây dựng với vốn đầu

Trang 2

I.2 Những đặc điểm ngành dầu khí:

Dầu khí không chỉ mang lại nguồn ngoại tệ to lớn cho nhiều quốc gia mà còn là nguồnnăng lượng quan trọng nhất hiện nay cho sự phát triển kinh tế

Đặc điểm nổi bật:

o Dầu khí là nguồn năng lượng có giới hạn và không thể tái tạo

o Dầu khí tập trung chủ yếu ở Trung Đông, chiếm 2/3 trữ lượng dầu khí thế giới, lại làkhu vực không ổn định về chính trị

o Dầu khí phần lớn nằm sâu trong lòng đất, lòng biển nên rất khó khăn trong việc thăm

dò, khai thác

o Dầu thô phải qua chế biến mới sử dụng được nên đòi hỏi công nghệ lọc dầu

o Dầu khí có thể thúc đẩy hoặc cản trở kinh tế phát triển bởi vì cuộc khủng hoảng nănglượng thường kéo theo là cuộc khủng hoảng về kinh tế

Một số đặc điểm của các công ty trong ngành dầu khí:

o Rào cản kỹ thuật và rào cản tài chính lớn Đồng thời, với chiến lược phát triển kinh

tế quốc gia, dầu khí là ngành kinh tế mũi nhọn và hiện đang là ngành kinh tế độcquyền thuộc sở hữu nhà nước nên tạo ra một rào cản độc quyền về pháp lý

o Đối với các doanh nghiệp thương mại các sản phẩm dầu – khí: giá cả đầu vào và đầu

ra chịu tác động mạnh từ giá dầu mỏ của thế giới Do đó, các doanh nghiệp này sẽchú trọng đến quản trị rủi ro kiệt giá tài chính, rủi ro tỷ giá hối đoái,

o Đối với các doanh nghiệp thăm dò, khai thác dầu khí: đòi hỏi phải đầu tư máy mócthiết bị, cơ sở hạ tầng hiện đại Do đó, các doanh nghiệp này có cơ cấu tài sản phần

Trang 3

lớn là tài sản cố định.

II Phân tích triển vọng ngành:

II.1 Nhu cầu thị trường:

Theo OPEC8 nhu cầu sử dụng nguồn nhiên liệu dầu khí ngày càng tăng nhanh, đặc biệt

là các quốc gia đang phát triển Nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ dầu mỏ ngày càng tăng,không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong dài hạn do sự bùng nổ dân số, các ngành côngnghiệp tiếp tục phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của ngành giao thông do nhu cầu đi lạingày càng nhiều… Ngoài ra, đây còn là nguồn năng lượng chưa thể thay thế ngay bằngnguồn năng lượng khác

Theo Viện phân tích An ninh Năng lượng toàn cầu, nhu cầu tiêu thụ dầu toàn cầu sẽtăng khoảng 60% trong năm 2020 so với hiện nay

Theo báo cáo thống kê của hãng dầu khí BP, Anh Quốc (trong bài “BP StatisticalReview of World Energy June 2012”) lượng tiêu thụ dầu và khí gas của Việt Nam đã tănglên rất đáng kể từ năm 1995, và đỉnh điểm vào giai đoạn 2005 – 2010, với mức tiêu thụ kỷlục 16,5 triệu tấn dầu trong năm 2011 (tương đương 358 ngàn thùng/ngày), và hơn 9,4 tỷ

m3 khí gas trong năm 2010, hơn 8,5 tỷ m3 khí gas trong năm 2011 Điều này cho thấy, ViệtNam không nằm ngoài xu thế của cả thế giới, đó là mức tiêu thụ các sản phẩm từ dầu khítăng lên đáng kể, và xu hướng tiếp tục tăng lên rất nhanh trong tương lai Dưới đây là biểu

đồ tiêu thụ dầu và khí gas của Việt Nam qua các năm từ 1965–2011:

Thống kê tình hình sử dụng nhiên liệu dầu và khí gas của Việt Nam qua các năm

Trang 4

-(Nguồn: BP Statistical Review of World Energy June 2012)

II.2 Trữ lượng dầu mỏ ở Việt Nam lớn:

Trữ lượng dầu mỏ ở Việt Nam được thăm dò và tìm thấy tăng lên liên tục qua các năm

từ năm 1989 đến nay Theo PetroVietnam trữ lượng quỹ dầu của Việt Nam ước đạt 4,1 4,9 tỷ tấn, theo BP, Anh là khoảng 4,5 tỷ thùng vào cuối năm 2009, và dao động khoảng4,4 tỷ thùng trong vào cuối năm 2011 Mặc dù các con số về trữ lượng chỉ mang tính chấttương đối nhưng cũng cho thấy trữ lượng dầu khí Việt Nam vẫn còn nhiều và là cơ sở đểngành tiếp tục phát triển lâu dài

-Biểu đồ trữ lượng dầu mỏ tìm thấy ở Việt Nam trong giai đoạn 1989 – 2011:

Trữ lượng dầu mỏ tìm thấy của Việt Nam trong giai đoạn 1989 – 2011 (Nguồn: BP Statistical Review of World Energy June 2012).

-II.3 Khả năng cung cấp:

Ngành dầu mỏ của Việt Nam chỉ mới đi vào khai thác nên vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhucầu sử dụng trong nước Hiện nay, nước ta chủ yếu vẫn là khai thác để xuất khẩu dầu thô,nhập khẩu dầu tinh phục vụ cho nhu cầu nội địa Một số nhà máy lọc dầu đã đi vào hoạtđộng như nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy lọc dầu Nghi Sơn … nhưng mới chỉ cungcấp được khoảng 30% nhu cầu nội địa

Nhận xét :

Từ những phân tích trên cho thấy, nền kinh tế Việt Nam nói riêng và kinh tế Thế giới nói chung vẫn rất cần các sản phẩm dầu khí vì vẫn chưa có loại nhiên liệu nào khác có thể thay thế được với mức giá và hiệu quả phù hợp Nhu cầu về nhiên liệu dầu

Trang 5

khí trong nước thì rất lớn nhưng trình độ, năng lực và quy mô sản xuất trong nước chưa đáp ứng được nên vẫn còn phải nhập khẩu nhiều Do vậy, có thể nói Dầu khí là ngành hiện vẫn có nhiều triển vọng phát triển ở Việt Nam.

III Phân tích tốc độ tăng trưởng của ngành

III.1 Tăng trưởng sản lượng khai thác:

Sản lượng khai thác dầu mỏ của Việt Nam từ năm 2001-2005 có sự tăng trưởng khácao và đều Trong năm 2005, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành dầu khí đạt trên 7 tỷUSD, tăng hơn so với mức kỷ lục đã đạt năm 2004 tới gần 1,33 tỷ USD Ngành dầu khícũng đã nộp ngân sách Nhà nước trên 50.000 tỷ đồng, tăng 1.850 tỷ đồng so với năm

2004

Sản lượng khai thác dầu mỏ của Việt Nam đã tăng lên rất nhanh và duy trì ở mức cao.Theo số liệu thống kê của BP, sản lượng khai thác của Việt Nam đạt cao nhất là 20,8 triệutấn vào năm 2004, và duy trì ở mức hơn 15 triệu tấn/năm từ 2005 đến 2011 Biểu đồ sảnlượng khai thác dầu mỏ của Việt Nam:

Sản lượng dầu mỏ của Việt Nam trong giai đoạn 1987–2011 (Nguồn: BP Statistical Review of World Energy June 2012).

-Bên cạnh đó, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã triển khai thành công hoạt động tìm kiếm,thăm dò khai thác ở nước ngoài Hiện tại PVN tham gia đầu tư vào 13 dự án thăm dò khaithác dầu khí ở các nước Cuba, Indonesia, Iran, Tuynidi, Myanmar, Lào, Campuchia, Công

gô, và ở Madagasca Ngoài ra còn có các dự án phát triển khai thác ở các nước Nga,Venezuela, Algeria, và Malaysia

III.2 Năng lực sản xuất:

Trang 6

Ngành dầu khí Việt Nam hiện nay khá non trẻ với nguồn nhân lực còn hạn chế nênnăng lực cung cấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng Trình độ sản xuất, máy móc thiết bịcòn hạn chế, lạc hậu Do đó, Việt Nam chủ yếu là khai thác và xuất khẩu dầu thô, nhưngphải nhập khẩu dầu tinh lọc về để đáp ứng nhu cầu trong nước, các nhà máy lọc dầu trongnước chỉ mới đáp ứng được 30% nhu cầu trong nước.

Nhưng ngành dầu khí Việt Nam đã cố gắng cao năng lực sản xuất:

o Về thăm dò: PVN đã có thể tự tiến hành thăm dò một phần ở trong nước và đã vươn

ra các nước khác trên thế giới

o Về vận chuyển: PVN đã có những tàu chở dầu thô loại lớn có thể tự vận chuyển dầu

để xuất khẩu Công ty PV Trans, là công ty con của Tập đoàn, là doanh nghiệp cónăng lực vận tải hàng lỏng lớn nhất Việt Nam với đội tàu vận tải hiện đại gồm 17 tàuxuyên đại dương với tổng trọng tải gần 600.000 tấn deadweight Ngoài ra, PV-Transvừa tiếp nhận tàu chở dầu thô có trọng tải lớn nhất Việt Nam lên đến 104.000 tấn

o Về lọc dầu: nhà máy lọc dầu đầu tiên Dung Quất với công suất 6,5 triệu tấn dầu sảnphẩm/ năm (tương đương 148.000 thùng/ngày) và đã có kế hoạch mở rộng nâng cấpcông suất lên 9,5 triệu tấn/ngày Ngoài ra, còn một số nhà máy lọc dầu khác đang và

sẽ đi vào hoạt động như nhà máy lọc dầu Vũng Rô, Nghi Sơn, Long Sơn,

o Về sử dụng khí: Sau khoảng thời gian dài bỏ phí nguồn khí đồng hành do công nghệlạc hậu, hiện nay Việt Nam đã có thể sử dụng khí để sản xuất điện, phân bón,và một

số sản phẩm khác, tận dụng nguồn khí đồng hành đem lại tỷ suất sinh lời cao

III.3 Nguồn nguyên liệu

Như đã trình bày ở phần II.2 Trữ lượng dầu mỏ ở Việt Nam, khối lượng dầu mỏ tìmthấy ở Việt Nam là rất lớn Tuy nhiên, theo tính toán của các chuyên gia PVN, nếu trongvài năm tới, Việt Nam không tìm được mỏ dầu nào có trữ lượng đủ lớn để thay thế mỏBạch Hổ sắp cạn thì chương trình an ninh năng lượng quốc gia sẽ bị ảnh hưởng và ngânsách nhà nước sẽ có nguy cơ sụt giảm Ý thức được điều này nên những năm qua, ngànhdầu khí đã nỗ lực đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò, qua đó đã phát hiện và đưa vàokhai thác các mỏ dầu như: Đại Hùng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Sư Tử Đen Tuy nhiên các

mỏ dầu này đều có trữ lượng nhỏ (mỏ dầu lớn nhất trong số các mỏ mới phát hiện là mỏ

Trang 7

Sư Tử Đen với trữ lượng khoảng 100 triệu tấn, cũng mới chỉ bằng 1/3 mỏ Bạch Hổ) Điều

đó cho thấy, khả năng nguồn dầu mỏ trong nước đủ sức thay thế mỏ Bạch Hổ là rất khó.Theo đánh giá của BP, hệ số Reserves/Production (R/P – Trữ lượng/Khai thác)của ViệtNam vẫn được duy trì ở mức 4,4 cho dầu thô (khai thác chỉ đạt chưa tới 1/4), xếp thứ 4 và0,6 cho khí tự nhiên, xếp thứ 7 so với các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.Tuy nhiên nếu so sánh với các nước khai thác và xuất khẩu dầu mỏ, khí đốt lớn trên thếgiới, trữ lượng dầu khí của Việt Nam như vậy là rất khiêm tốn Mặc dù vậy nhưng ViệtNam vẫn chưa khai thác được nhiều trữ lượng khiêm tốn này

Nhận xét:

Với trữ lượng đã tìm thấy và ước đoán lớn (tuy là khiêm tốn so với các nước khai thác và xuất khẩu dầu khí lớn trên thế giới) nhưng năng lực tìm kiếm và khai thác dầu khí của Việt Nam hiện còn rất hạn chế; năng lực sản xuất kém về nguồn nhân lực, thấp

về công nghệ, cho nên dù ngành dầu khí Việt Nam có tốc độ tăng trưởng về sản lượng khai thác nhanh trong thời gian qua nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu trong nước Nhìn chung ngành dầu khí Việt Nam vẫn chưa đạt được tốc độ tăng trưởng cao

cả về sản lượng lẫn chất lượng sản phẩm đầu ra Trong khi đó, ngành dầu khí Việt Nam phải đối phó với áp lực cạn kiệt nguồn nguyên liệu nhưng trữ lượng thăm dò ngày càng hiếm đã ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng của ngành.

IV.Phân tích khả năng cạnh tranh ngành dầu khí

Từ khi thành lập đến nay Tập đoàn dầu khí Việt Nam luôn là tập đoàn trực thuộc Nhànước Việt Nam do Thủ tướng chính phủ trực tiếp nắm giữ và quyết định phê duyệt cácmục tiêu, chiến lược, kế hoạch, cũng như được sự hỗ trợ đắc lực về nguồn vốn, côngnghệ, Luật Dầu khí và Luật Đầu tư nước ngoài cũng được thông qua với những điều kiệnđịa chất thuận lợi Nhờ đó, Việt Nam đã thu hút sự chú ý của các công ty dầu khí lớn trênthế giới đến hợp tác thăm dò khai thác Ngoài ra, Nhà nước còn hỗ trợ ngành xây dựng nhàmáy lọc dầu Dung Quất song song với việc hỗ trợ Tập đoàn hợp tác tìm kiếm, khai thácdầu thô từ nước ngoài

Ngành năng lượng nói chung và ngành dầu khí nói riêng có tác động rất lớn đến nềnkinh tế đất nước và an ninh quốc gia nên vẫn nằm trong sự kiểm soát và trực tiếp quản lý

Trang 8

của Nhà nước Điều này cũng gây ra tâm lý ỷ lại, thiếu cạnh tranh công bằng làm giảmhiệu quả và gây lãng phí, Trong thời gian tới mức độ cạnh tranh ngày càng gây gắt hơnvới sự tham gia của các tổ chức Quốc tế, tình trạng hưởng lợi từ thế độc quyền cũng sẽgiảm dần

Ngành dầu khí Việt Nam được Chính phủ Việt Nam chỉ đạo và ban hành những chínhsách ưu đãi, cụ thể:

o Trong tháng 7/2012, Chính phủ chỉ đạo nâng công suất Nhà máy chế biếncondensate tại Khu công nghiệp Cái Mép, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu của Tổng công tyDầu Việt Nam (PV Oil) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam lên gấp đôi, từ công suất250.000 tấn/năm lên 500.000 tấn/năm

o Thay đổi vị trí bãi thải xỉ của Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1

o Ban hành chính sách ưu đãi tài chính cho Công ty Lọc hoá dầu Bình Sơn (BSR):được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong thời gian 30năm; được miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong thời gian 9 nămtiếp theo, kể từ năm đầu tiên BSR có thu nhập chịu thuế từ Dự án Nhà máy Lọc dầuDung Quất…

o Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ còn kịp thời biểu dương Tập đoàn Dầu khí ViệtNam (Petrovietnam) về “Thành tích quốc phòng an ninh biển đảo”

Có thể nói khả năng cạnh tranh của ngành dầu khí Việt Nam ngày càng được nâng cao, các DN chủ động hơn trong việc thực hiện tiến độ các dự án đầu tư Phạm vi hoạt động của các dịch vụ không chỉ ở trong ngành, trong nước mà nhiều công ty đã đủ năng lực để vươn ra cạnh tranh dịch vụ ở thị trường quốc tế Hiệu quả của việc phát triển các dịch vụ kỹ thuật dầu khí trong nước đã được thấy rõ thông qua tốc độ tăng trưởng dịch vụ dầu khí liên tục đạt mức kỷ lục trong các năm qua và đây cũng chính là nhân tố quan trọng để ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu, trụ cột của nền kinh tế.

V Phân tích Cơ hội – Thách thức của ngành

V.1 Cơ hội.

Trang 9

o Thị trường tiêu thụ của ngành dầu khí Việt Nam nói chung còn rất lớn, ít nhất làtrong vòng 60 năm nữa.

o Ngành dầu khí Việt Nam được hưởng nhiều ưu đãi vì đây là ngành chiến lược cho sựphát triển kinh tế và an ninh quốc gia

o Thị phần dầu khí trong nước chiếm 35% nhờ kế hoạch phát triển và mở rộng hợp lý

o Đồng bộ hoạt động dầu khí trong tất cả các lĩnh vực từ hoạt động chính như thăm dò

và khai thác, phân phối đến các dịch vụ liên quan đến dầu khí; từ các lĩnh vực đầu racủa dầu khí như điện, đạm đến các lĩnh vực tài chính

o Tiếp tục được sự bảo trợ của nhà nước nên được hưởng nhiều ưu đãi

o Tiềm nằn khai thác còn rất lớn và có thể tiếp tục trong khoảng 60 năm tới

o Chưa có nguồn năng lượng thay thế: các nguồn năng lượng từ mặt trời, sức gió, sóngbiển đòi hỏi đầu tư cao trong khi hiệu quả thấp; nguồn năng lượng hạt nhân rấthiệu quả nhưng lại đang có sự phản đối khá quyết liệt vì hậu quả độc hại của chấtthải phóng xạ

V.2 Thách thức.

o Nhu cầu sử dụng sản phẩm của ngành phụ thuộc vào sự tăng trưởng kinh tế: khi nềnkinh tế phục hồi thì nhu cầu sử dụng dầu gia tăng, tốc độ tăng trưởng nhanh vàngược lại

o Phụ thuộc hoàn toàn vào giá dầu thế giới

o Tập đoàn thuộc sự quản lý của nhà nước nên khả năng linh động trong hoạt độngkinh doanh thấp

o Nhân lực cũng như công nghệ chưa đáp ứng được hoàn toàn nhu cầu của ngành

o Trữ lượng dầu mỏ đang giảm xuống do tốc độ khai thác cao so với tốc độ thăm dò.Dầu khí là một nguồn tài nguyên hữu hạn, nên nỗi lo về việc giảm trữ lượng sẽ ảnhhưởng đến tương lai của các công ty ngành dầu khí

o Việc mở rộng thăm dò khai thác ra vùng biển sâu sẽ rất tốn kém, rủi ro và đang bịtranh chấp mạnh từ phía Trung Quốc

o Việc mở rộng sang các lĩnh vực khác chịu sự cạnh tranh lớn do các tập đoàn và công

Trang 10

ty khác đã có kinh nghiệm lâu năm hơn.

o Tái cấu trúc tập đoàn dầu khí sẽ có ảnh hưởng nhất định đến từng doanh nghiệptrong ngành

VI.Phân tích tình hình tài chính tổng quan một số doanh nghiệp trong của ngành:

PVN đã thiết lập hệ thống công ty con, công ty liên kết bao trùm và khép kín toàn bộcác hoạt động của tập đoàn từ khâu thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàng trữ,phân phối, dịch vụ và xuất nhập khẩu

Các doanh nghiệp thuộc ngành đang niêm yết chỉ mới cung cấp dịch vụ chứ chưa khaithác trực tiếp, nên sự tác động của giá dầu mỏ có độ trễ nhất định Các doanh nghiệp cungcấp giàn khoan sẽ có độ trễ khoảng 6 tháng, trong khi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụphụ trợ cho giàn khoan sẽ chịu tác động chậm hơn, khoảng một năm

Một số thông tin cơ bản của các công ty niêm yết trong ngành:

Ngày đăng: 31/12/2013, 10:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w