1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH NGÀNH BÁNH KẸO VIỆT NAM PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ

47 5,4K 35
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Ngành Bánh Kẹo Việt Nam Phân Tích Công Ty Cổ Phần Kinh Đô
Tác giả Đỗ Thị Thúy Vân, Dương Anh Tuấn, Hồ Kim Vũ, Bạch Thị Hồng Vân, Hoàng Thị Hải Vân, Phạm Thị Thanh Vân, Nguyễn Thị Hải Yến
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo báo cáo của BMI về ngành thực phẩm và đồ uống, tốc độtăng trưởng doanh số của ngành bánh kẹo bao gồm cả socola trong giai đoạn 2010- Dây chuyền công nghệ sản xuất bánh kẹo của các d

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

1 Đỗ Thị Thúy Vân (nhóm trưởng)

2 Dương Anh Tuấn

Trang 2

BẢNG CHI TIẾT CÁC THÀNH VIÊN ĐÓNG GÓP

Đỗ Thị Thúy Vân

Chương I: 4.1 Cơ cấu tài sản 4.2 Doanh thu và chi phíChương II: 1 Tổng quan về công ty CP Kinh ĐôTổng hợp bài

Dương Anh Tuấn

Chương I: 1 Quá trình phát triểnChương II: 2.4.1 Phân tích công ty qua báo cáo KQHĐKD

và BCĐKT

Hồ Kim Vũ

Chương I: 3.1 Triển vọng của ngành bánh kẹo 3.2 Tốc độ phát triển và năng lực sản xuấtChương II: 2.4.3 Phân tích khả năng sinh lợi, tỷ suất sinh lợi của công ty

Bạch Thị Hồng Vân Chương I: 3.3 Khả năng cạnh tranh của ngành

Chương II: 2.4.2 Phân tích cơ cấu tài chính của công ty

Hoàng Thị Hải Vân

Chương I: 2 Đặc điểm ngành bánh kẹo Việt NamChương II: 2.4.5 Một số tỷ số tài chính khác của cty 2.5 Triển vọng công ty

Kết luận

Phạm Thị Thanh Vân

Chương I: 4.3 Đòn bẩy tài chính và đòn bẩy hoạt động 4.4 Các tỷ số tài chính của các cty trong ngànhChương II: 2.1 Vị thế của công ty CP Kinh Đô

2.2 Chiến lược kinh doanh của cty CP Kinh ĐôNguyễn Thị Hải Yến

Chương I: 3.4 Phân tích SWOT các công ty trong ngànhChương II: 2.3 Phân tích SWOT công ty CP Kinh Đô 2.4.4 Phân tích dòng tiền qua BC LCTT

MỤC LỤC

Trang 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGÀNH BÁNH KẸO VIỆT NAM 3

1 Quá trình phát triển 3

2 Đặc điểm ngành bánh kẹo Việt Nam 3

2.1 Đặc tính kỹ thuật 3

2.2 Chu kỳ kinh doanh 4

3 Phân tích ngành bánh kẹo Việt Nam 4

3.1 Triển vọng của ngành bánh kẹo Việt Nam 4

3.2 Tốc độ phát triển và năng lực sản xuất của ngành 5

3.3 Khả năng cạnh tranh của ngành 5

3.4 Phân tích SWOT các công ty trong ngành 5

3.4.1 Điểm mạnh (Strengths) 5

3.4.2 Điểm yếu (Weaknesses) 5

3.4.3 Cơ hội (Opportunities) 5

3.4.4 Thách thức (Threadnesses) 5

4 Tổng quan về tình hình tài chính của các công ty trong ngành 5

4.1 Cơ cấu tài sản 5

4.2 Doanh thu và chi phí 5

4.3 Đòn bẩy tài chính và đòn bẩy hoạt động 5

4.4 Các chỉ số tài chính của các công ty trong ngành 5

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ 5

1 Tổng quan về công ty cổ phần Kinh Đô 5

1.1 Quá trình hình thành, phát triển và những thành tựu của công ty 5

1.2 Ngành nghề kinh doanh chính 5

1.3 Bộ máy tổ chức 5

1.3.1 Sơ đồ tổ chức 5

1.3.2 Ban điều hành 5

1.4 Năng lực và công nghệ 5

1.5 Hệ thống phân phối 5

2 Phân tích công ty 5

2.1 Vị thế của công ty cổ phần Kinh Đô 5

2.2 Chiến lược kinh doanh của công ty cổ phần Kinh Đô 5

2.3 Phân tích SWOT công ty cổ phần Kinh Đô 5

2.4 Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần Kinh Đô 5

2.4.1 Phân tích công ty qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán 5

2.4.2 Phân tích cơ cấu tài chính của công ty 5

2.4.2.1 Phân tích cơ cấu tài sản 5

2.4.2.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn 5

2.4.3 Phân tích khả năng sinh lợi, tỷ suất sinh lợi của công ty 5

2.4.4 Phân tích dòng tiền qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ 5

2.4.5 Một số tỷ số tài chính khác của công ty 5

2.5 Triển vọng công ty 5

KẾT LUẬN 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGÀNH BÁNH KẸO VIỆT NAM

1 Quá trình phát triển

Trang 4

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự gia tăngtrong quy mô dân số với cơ cấu trẻ, bánh kẹo là một trong những ngành có tốc độ tăngtrưởng cao và ổn định tại Việt Nam Tổng giá trị thị trường ước tính năm 2009 khoảng

7.673 tỷ đồng, tăng 5,43% so với năm 2008 – đây là mức tăng thấp nhất kể từ năm

2005 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Tuy nhiên, sự hồi phục củanền kinh tế sau khủng hoảng đã tác động tích cực đến nhu cầu tiêu dùng bánh kẹo,theo đó doanh số ngành bánh kẹo được dự tính tăng trưởng khoảng 6,12% và 10%trong năm 2010-2011 Theo báo cáo của BMI về ngành thực phẩm và đồ uống, tốc độtăng trưởng doanh số của ngành bánh kẹo (bao gồm cả socola) trong giai đoạn 2010-

Dây chuyền công nghệ sản xuất bánh kẹo của các doanh nghiệp khá hiện đại vàđồng đều, đều được nhập khẩu từ các quốc gia nổi tiếng về sản xuất bánh kẹo nhưcông nghệ cho bánh phủ socola (Hàn quốc), công nghệ bánh quy (Đan mạch, Anh,Nhật…

Trang 5

Các công ty thuộc ngành sản xuất và chế biến bánh kẹo có hệ thống phân phối rấtrộng chia làm ba kênh chính là đại lý phân phối, siêu thị và hệ thống bán lẻ….Trong đó KDC là công ty dẫn đầu với hơn 200 đại lý và 400.000 điểm bán lẻ trên cảnước; 25 cửa hàng Kinh Đô Bakery tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh BBC có khoảng

91 đại lý phân phối và 4,000 điểm bán lẻ; HHC có 100 đại lý phân phối tiêu thụ đến90% sản lượng sản xuất hệ thống bán lẻ đang được xây dựng… Như vậy, có thể thấynhờ có hệ thống phân phối rộng rãi mà việc điều tiết giá của các đơn vị sản xuất đếntay người tiêu dùng được thuận lợi hơn và khống chế được việc thao túng giá của cácđại lý trung gian

Việt Nam là một thị trường tiềm năng với tốc độ tăng trưởng cao (10-12%) so vớimức trung bình trong khu vực (3%) và trung bình của thế giới (1-1,5%) Nguyên nhân

là do, mức tiêu thụ bánh kẹo bình quân của Việt Nam hiện nay vẫn khá thấp (1,8kg/người/năm) so với trung bình của thế giới là 2,8kg/người/năm

2.2 Chu kỳ kinh doanh

Thị trường bánh kẹo Việt Nam có tính chất mùa vụ khá rõ nét Sản lượng tiêu thụthường tăng mạnh vào thời điểm từ tháng 8 Âm lịch (Tết Trung thu) đến Tết NguyênĐán với các mặt hàng chủ lực mang hương vị truyền thống Việt Nam như bánh trungthu, kẹo cứng, mềm, bánh qui cao cấp, các loại mứt, hạt Trong khi đó, sản lượng tiêuthu bánh kẹo khá chậm vào thời điểm sau Tết Nguyên đán và mùa hè do khí hậu nắngnóng

3 Phân tích ngành bánh kẹo Việt Nam

3.1 Triển vọng của ngành bánh kẹo Việt Nam

Như chúng ta cũng thấy Việt Nam là quốc gia đông dân số, do vậy ngành bánhkẹo có một thị trường rất tiềm năng mà nhiều doanh nghiệp trong nước cũng như nướcngoài mong muốn nhảy vào chiếm lĩnh thị phần Hiện có khoảng 30 doanh nghiệptrong nước, hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ và một số công ty nhập khẩu bánh kẹo nướcngoài đang tham gia thị trường Các doanh nghiệp trong nước với một loạt các tên tuổilớn như Kinh Đô, Bibica, Bánh kẹo Hải hà, Orion Việt Nam, … Chiếm trên 70% thịphần, còn lại là bánh kẹo ngoại nhập Các doanh nghiệp trong nước ngày càng khẳngđịnh được vị thế quan trọng của mình trên thị trường với sự đa dạng trong sản phẩm(cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau), chất lượng khá tốt, phù hợp với khẩu vị

Trang 6

của người Việt Nam Trong khi đó, các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ đang dần dần bị thu hẹp

về quy mô sản xuất do vốn ít, công nghệ lạc hậu, thiếu sự đảm bảo về chất lượng vệsinh an toàn thực phẩm

Do Việt Nam nhập khẩu hầu hết lượng bột mì nên giá bột mì trong nước sẽ chịuảnh hưởng trực tiếp từ giá lúa mì thế giới Ngược lại, phần lớn nguồn cung đường đến

từ nội địa Thị trường mía đường thoát khỏi sự mất cân bằng cung-cầu như những nămtrước, niên vụ 2012-2013 là lần đầu tiên mà sản lượng đường Việt Nam, gồm cả sảnxuất, nhập khẩu theo WTO và lượng tồn kho – có thể đáp ứng nhu cầu trong vài thángtới Tuy nhiên, nhu cầu đường có xu hướng tăng cao trong tháng Trung thu cũng nhưvào dịp tết Nguyên Đán nên giá đường sẽ tăng nhẹ nhưng không tăng nhiều như cácnăm trước

Ngành bánh kẹo là một trong những ngành có mức tăng trưởng cao và ít nhạy cảmvới sự biến động nền kinh tế Cho nên dù nền kinh tế Việt Nam đang đối đầu với nhiềukhó khăn và thách thức trong giai đoạn hiện nay và sắp tới nhưng ngành bánh kẹo sẽkhông bị ảnh hưởng nhiều Lợi thế về dân số của Việt Nam đã thu hút ngày càng nhiềucác công ty thực phẩm nước ngoài nhảy vào thị trường Do đó các doanh nghiệp trongnước phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt Tuy nhiên, các công ty trong nước cólợi thế trong việc cung cấp các sản phẩm đa dạng với hương vị phù hợp người Việt vàgiá cả cạnh tranh Tuy nhiên, hậu quả của nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, lạm phátgia tăng, và giá hàng hóa cao đã làm giảm đáng kể lợi nhuận của các công ty bánh kẹo

Do đó, khả năng kiểm soát chi phí cũng như kỹ năng quản lý sẽ là nhân tố chính để cáccông ty trong nước bảo vệ lợi nhuận của mình

Cạnh tranh trong ngành bánh kẹo đang ngày càng gay gắt như chúng tôi đã đề cập

ở trên Ngày càng nhiều các công ty mới tham gia vào thị trường Thậm chí các công

ty hàng đầu cũng không dám coi nhẹ vấn đề này Trong cuộc tranh này, mỗi công typhải tìm được chỗ đứng của mình để tồn tại và phát triển Mặc dù đây là cơ hội tốt chocác công ty “tăng tốc” và đạt các mục tiêu của mình trong những tháng cuối năm,nhưng áp lực từ giá nguyên liệu đầu vào cũng như chi phí bán hàng/quản lý tăng có thể

sẽ gây ảnh hưởng lên thành quả của các công ty

3.2 Tốc độ phát triển và năng lực sản xuất của ngành

Trang 7

Việt Nam có đầu đủ các điều kiện để ngành bánh kẹo phát triển mạnh mẽ, đó làmột thị trường tiềm năng với khoảng gần 90 triệu dân, nền kinh tế tăng trưởng ổn định,dân số trẻ, một quốc gia đã gia nhập WTO và có quan hệ thương mại với hầu hết cácquốc gia công nghiệp phát triển, đó là tiền đề của việc không ngừng cải tiến côngnghệ, kỹ thuật phát triển ngành bánh kẹo đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mộtquốc gia đông dân số có tốc độ phát triển kinh tế cao và ổn định

Tỷ lệ tăng trưởng doanh số bán lẻ bánh kẹo ở thị trường Việt Nam trong giai đoạn

từ năm 2008-2012 tính theo USD ước tính khoảng 114,71%/năm Theo ước tính củaCông ty Tổ chức và điều phối IBA (GHM), sản lượng bánh kẹo tại Việt Nam năm

2008 vào khoảng 476.000 tấn, đến năm 2012 sẽ đạt khoảng 706.000 tấn; tổng giá trịbán lẻ bánh kẹo ở thị trường Việt Nam năm 2008 khoảng 674 triệu USD, năm 2012 sẽ

là 1.446 triệu USD

Tỷ lệ tăng trưởng doanh số bán lẻ bánh kẹo ở thị trường Việt Nam trong giai đoạn

từ năm 2008-2012 tính theo USD ước tính khoảng 114,71%/năm, trong khi con sốtương tự của các nước trong khu vực như Trung Quốc là 49,09%; Philippines 52,35%;Indonesia 64,02%; Ấn Độ 59,64%; Thái Lan 37,3%; Malaysia 17,13%

Thị trường bánh kẹo Việt Nam nhiều tiềm năng phát triển kéo theo nhu cầu sảnxuất, tiêu thụ tăng, đòi hỏi phải có công nghệ, máy móc, thiết bị phù hợp để sản xuất racác sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong vàngoài nước

3.3 Khả năng cạnh tranh của ngành

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự gia tăng trongquy mô dân số với cơ cấu trẻ, bánh kẹo là một trong những ngành có tốc độ tăngtrưởng cao và ổn định tại Việt Nam Trong khi các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ đang bị thuhẹp dần thì các công ty bánh kẹo lớn trong nước ngày càng khẳng định được vị thếquan trọng của mình trên thị trường với sự đa dạng trong sản phẩm, chất lượng khá tốt,phù hợp với khẩu vị của người Việt Nam, cạnh tranh rất tốt với hàng nhập khẩu

3.3.1 Thị phần các công ty trong ngành

Hiện nay, với 86 triệu dân, Việt Nam trở thành một thị trường tiêu thụ bánh kẹokhá tiềm năng không chỉ đối với doanh nghiệp trong nước mà cả các công ty nước

Trang 8

ngoài Theo ước tính, hiện có khoảng 30 doanh nghiệp trong nước, hàng trăm cơ sởsản xuất nhỏ và một số công ty nhập khẩu bánh kẹo nước ngoài đang tham gia thịtrường Các doanh nghiệp trong nước với một loạt các tên tuổi lớn như Kinh đô,Bibica, Hải Hà, Hữu Nghị, Orion Việt Nam ước tính chiếm tới 75-80% thị phần cònbánh kẹo ngoại nhập chỉ chiếm 20%-25% Các doanh nghiệp trong nước ngày càngkhẳng định được vị thế quan trọng của mình trên thị trường với sự đa dạng trong sảnphẩm (cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau), chất lượng khá tốt, phù hợp vớikhẩu vị của người Việt Nam Trong khi đó, các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ đang dần dần bịthu hẹp về quy mô sản xuất do vốn ít, công nghệ lạc hậu, thiếu sự đảm bảo về chấtlượng vệ sinh an toàn thực phẩm

Thị phần của thị trường bánh kẹo

3.3.2 Cạnh tranh của các DN trong nước với hàng nhập khẩu

Cách đây 12 năm, phần lớn bánh kẹo lưu thông trên thị trường nước ta đều là hàngcủa Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia nhập về Tuy nhiên, từ 7-8 năm trở lại đây, cácthương hiệu bánh kẹo trong nước đã bắt đầu phát triển và khẳng định được tên tuổi tạithị trường nội địa lẫn xuất khẩu nhờ chất lượng tốt, giá thành ổn định hơn so với hàngnhập Ưu thế của các doanh nghiệp trong nước có được là do:

Thứ nhất: đa phần các sản phẩm trong nước đều có giá thấp hơn các sản phẩm

bánh kẹo nhập khẩu (chính ngạch) từ 10% - 20%

Trang 9

Thứ hai: Xét về góc độ chất lượng, sản phẩm trong nước hiện nay không hề thua

kém so với sản phẩm nhập khẩu, thậm chí còn ngon hơn, nhờ trang bị dây chuyền thiết

bị hiện đại nhập từ Nhật và châu Âu, sử dụng nguyên liệu bơ, sữa nhập khẩu từ NewZealand, Đan Mạch, Hà Lan… Đồng thời các doanh nghiệp áp dụng hầu hết các tiêuchuẩn quốc tế như HACCP, ISO 9001-2010 vào quá trình sản xuất nên đã đáp ứngđược thị trường xuất khẩu

Thứ ba: Tỷ giá đang dần đóng vai trò khá quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất

khẩu và giảm nhập khẩu lĩnh vực bánh kẹo Với việc thực hiện phá giá nội tệ trongsuốt thời gian vừa qua gây khó khăn cho các DN nhập khẩu và tạo cơ hội lớn cho các

DN trong nước chiếm lĩnh thị trường nội địa, khẳng định thương hiệu của mình

Như vậy, trước những lợi thế về giá rẻ, về chất lượng và minh bạch về thông tin,nguồn gốc rõ ràng, bánh kẹo nội đang có ưu thế trong cuộc chiến giành thị phần Nếunhư những quy định về nhãn mác hàng hóa nhập khẩu được quản lý chặt chẽ hơn, ràngbuộc nhiều hơn về việc dán tem nhập khẩu với các ghi chú bắt buộc phải có như đơn

vị nhập khẩu, nơi sản xuất, hạn sử dụng, ngày sản xuất và tích cực chống nhập lậudạng tiểu ngạch… thì bánh kẹo nội có thể sẽ tăng thị phần nhiều hơn ngay trên “sânnhà”

3.4 Phân tích SWOT các công ty trong ngành

3.4.1 Điểm mạnh (Strengths)

 Lực lượng lao động dồi dào với chi phí nhân công thấp

 Người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt là nhóm khách hàng trẻ, thu nhập cao rấtthích dùng các sản phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng Chính vì vậy các sản phẩm bánhkẹo nếu được hậu thuận bằng chiến lược đầu tư và khuyếch trương rầm rộ sẽ có thểnhanh chóng thâm nhập được vào thị trường trong nước

 Khách hàng ở các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh có khảnăng tiếp nhận thông tin và sản phẩm ở mức độ cao

Trang 10

3.4.2 Điểm yếu (Weaknesses)

 Cơ sở hạ tầng còn yếu: đường bộ, đường sắt, cảng biển chưa đáp ứng đượcnhu cầu phát triển kinh tế và kết nối với thế giới

 Nguyên vật liệu đầu vào (bột mì, bánh kẹo, đường) còn chưa chủ động được,phải nhập khẩu nên phụ thuộc vào giá thế giới

 Có sự chênh lệch khá lớn về mức thu nhập giữa thành thị và nông thôn, trongkhi đó khuynh hướng tiêu dùng của người dân lại phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập

3.4.3 Cơ hội (Opportunities)

 Việc gia nhập vào WTO năm 2007 có thể sẽ đem lại nhiều lợi ích cho các nhàxuất khẩu do các nước bạn hàng dỡ bỏ dẫn các rào cản thương mại đối với Việt Nam

 Việt Nam đang có những bước hồi phục kinh tế khá ổn định; tăng trưởng GDP

ổn định; lạm phát được duy trì ở mức 8% có thể sẽ làm tăng chi tiêu của người dân nóichung, và chi tiêu cho bánh kẹo nói riêng

 Cơ hội mua bán, sát nhập hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp bánh kẹo được cổphần hóa

 Người dân hiện nay có xu hướng tiêu dùng sản phẩm sản xuất trong nước

 Thị trường tiêu dùng nội địa lớn có tiềm năng tăng trưởng cao, nhiều cơ hộixuất khẩu

 Thu nhập nguời dân ngày càng tăng và sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùngđang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt tại khu vực thành thị đã làm tăng nhu cầu tiêu dùng sảnphẩm snacks, và các loại bánh kẹo cao cấp

 Đồng Việt Nam (VND) có xu hướng ngày càng giảm giá nên sẽ có những tácđộng nhất định đến giá thành sản phẩm do phải nhập khẩu một số nguyên vật liệu đầu

Trang 11

vào như bột mì, đường, hương liệu, và một số chất phụ gia khác.

4 Tổng quan về tình hình tài chính của các công ty trong ngành

Cùng hoạt động trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo song chiến lược kinh doanh củacác công ty này cũng khác nhau Nếu như HHC và BBC chỉ tập trung đầu tư vào hoạtđộng sản xuất và kinh doanh chính thì KDC lại xây dựng cho mình chiến lược trởthành tập đoàn sản xuất thực phẩm, bất động sản và đầu tư tài chính KDC đang làcông ty có thị phần lớn nhất trên thị trường bánh kẹo nội địa hiện nay với tỷ lệ khoảng20% Thị phần nhập khẩu chiếm khoảng 30%, tuy nhiên các công ty trong nước hiệnnay vẫn đang tiếp tục đầu tư máy móc, dây chuyền công nghệ nhằm dành lại thị phầnnày về phía mình

4.1 Cơ cấu tài sản

Tỷ trọng tổng tài sản ngắn hạn và dài hạn gần như sấp xỉ nhau 47% - 53% Chứng

tỏ nguồn tài trợ từ nguồn vốn chiếm 53% cho đầu tư tài sản dài hạn: tài sản cố định,các khoản đầu tư dài hạn khác và 47% để đáp ứng nhu cầu sản xuất như hàng hóa, vật

tư, tiền, các chứng khoán ngắn hạn

Các sản phẩm bánh kẹo bánh mì tươi có thời gian sử dụng từ 3 đến 7 ngày, sảnphẩm bánh trung thu có thời gian sử dụng 3 tháng, các sản phẩm bánh quy, chocolatehay kẹo cứng, kẹo mềm có thời gian sử dụng khoản 6 tháng Thêm vào đó nguyên liệuchính cho ngành bánh kẹo chủ yếu từ lúa mì, đường, mạch nha đều có hạn sử dụng

từ 6 đến 12 tháng Như vậy các doanh nghiệp trong ngành không thể trữ hàng hóa,thành phẩm và nguyên vật liệu lâu được mà làm sao phải ước tính nhu cầu thị trường,mùa vụ mà nguyên liệu và sản xuất sản phẩm đủ lượng thích hợp tồn kho, không thểmua hàng nguyên liệu hoặc sản xuất để dự trữ được Vì vậy tỷ trọng hàng tồn kho luôn

ở mức từ 6% đến 11% trong tổng tài sản, đây là mức tỷ trọng tồn kho thấp so với tỷtrọng tồn kho các ngành khác như gỗ, điện tử…

Tài sản định chiếm tỷ trọng khoảng 24% tổng tài sản Đây là tỷ trọng hợp lý chodoanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo đầu tư công nghệ để đa dạnghóa sản phẩm bằng các dây chuyển sản xuất hiện đại góp phần tăng năng suất và chấtlượng sản phẩm

Trang 12

Cơ cấu nguồn vốn Tỷ trọng vốn đầu tư của chủ sở hữu trong cơ cấu vốn tươngđối cao, nên tỷ trọng của việc sử dụng nợ là thấp Nợ dài hạn của các công ty khôngđáng kể, nợ ngắn hạn cũng không nhiều bởi nhu cầu vốn lưu động không lớn nên chiphí lãi vay không cao Các công ty này không bị nhiều ảnh hưởng từ sự biến động lãisuất trên thị trường Khả năng thanh toán của các công ty này đều được đảm bảo khiđều lớn hơn một

4.2 Doanh thu và chi phí

Sơ đồ biến động doanh thu theo quý trong năm 2011

Doanh thu của ngành bánh kẹo theo mùa vụ trong năm rõ rệt Trong quý 1 và 2 doanhthu rất ảm đạm, ở mức thấp Trong khi đó doanh thu tăng vọt ở quý 3 và quý 4 với mứctăng gần 200% so với quý 2 vì thời gian từ tháng 8 âm lịch có tết trung thu và quý 4 có tết

Trang 13

nguyên đán Đây là lễ truyền thống nên sức mua sắm người dân mạnh và các công ty bánhkẹo cũng tập trung nguồn lực để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để có lời

Doanh thu của ngành tăng trưởng ở mức khoản từ 25% đến 30%, đây là mức tăngtrưởng cao so với các nước trong khu vực và thế giới vì thị trường bánh kẹo Việt Namcòn cao mà công ty đảm bảo về chất lượng và mẫu mã cái cải tiến đáp ứng nhu cầungười tiêu dùng không nhiều

Chi phí

Đặc điểm hoạt động của các công ty trong ngành sản xuất bánh kẹo Giá vốn hàngbán là chi phí lớn nhất trong tổng cơ cấu chi phí của ngành từ 71% -77%, trong khichi phí nguyên vật liệu chiếm từ 55% đến 60% chi phí giá vốn hàng bán nên lợi nhuậncủa các công ty trong ngành bị phụ thuộc khá lớn vào giá nguyên liệu đầu vào Trong

đó, chi phí bột và đường chiếm tỷ trọng lớn nhất Nguyên liệu đầu vào cho quá trìnhsản xuất có khá nhiều các nhà cung cấp trong và ngoài nước Chỉ riêng có bột mì lànguyên liệu mà nước ta không sản xuất được (80% nhập khẩu từ nước ngoài) nên giá

cả dễ bị biến động bởi giá thế giới và tỷ giá

Thành phần được sử dụng cho quá trình sản xuất phải nhập khẩu một lượng tươngđối lớn từ nước ngoài là bột mì Tuy nhiên, theo dõi diễn biến giá các nguyên liệu nàytrong vòng 1 năm qua, mức giá luôn giao động lên xuống không theo xu hướng nào cả.Như vậy, có thể thấy việc dự báo là vô cùng quan trọng bởi nếu như công ty khôngnắm bắt được thời điểm thích hợp để mua nguyên liệu sản xuất sẽ dễ dẫn đến tìnhtrạng chi phí đầu vào cao, giá bán chưa điều chỉnh theo kịp với tốc độ tăng chi phí sẽảnh hưởng lớn đến lợi nhuận trong tương lai

Đường cũng là một nguyên vật liệu rất quan trọng ảnh hưởng đến giá thành trongbánh kẹo Cùng với tình trạng chung của thế giới, Việt Nam thường xảy ra hiện tượngcung không đáp ứng được cầu - khi diện tích nguyên liệu cho ngành đường có xuhướng giảm, và công suất tối đa của cả nước mới chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu tiêuthụ trong nước Nên giá đường cũng thay đổi thất thường và có xu hướng tăng Hiệnnay BBC là công ty có lợi thế nhất về nguồn nguyên liệu đường khi có tiền thân làxưởng sản xuất bánh kẹo của công ty cổ phần đường Biên Hòa (BHS) nên đườngnguyên liệu luôn được đảm bảo cung cấp ổn định

Trang 14

Theo dõi tình hình đầu tư vào tài sản cố định và chi phí khấu hao của ba công tyniêm yết hiện nay chúng tôi nhận thấy HHC đang là công ty có tỷ lệ khấu hao cao nhất(70%) sau đó đến BBC (50%) và KDC (40%) Vì chiến lược mở rộng lĩnh vực kinhdoanh của mình nên KDC, BBC có một phần lớn tài sản đầu tư vào các tài sản tàichính và các hoạt động khác trong khi HHC chỉ chuyên tâm đầu tư vào hoạt động kinhdoanh chính của mình.

Các yếu tố khác: lương nhân công, lãi vay cũng tác động đến giá vốn của sảnphẩm Chi phí nhân công tăng liên tục do nhà nước tăng mức lương tối thiểu và yêucầu doanh nghiệp phải điều chỉnh theo cho phù hợp Lãi suất ngân hàng luôn ở mứccao từ 13-19% /năm và có lúc tăng lên đến 23% ở 6 tháng đầu năm 2011 đều này cũngảnh hưởng không nhỏ đến giá vốn, cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp

Do bán hàng thông qua hệ thống đại lý phân phối và các cửa hàng bán lẻ nên sốngày thu được tiền từ việc bán hàng của các công ty bánh kẹo lớn hơn hẳn so với cáccông ty trong ngành sản xuất đường Hệ thống phân phối qua các đại lý giúp cho cáccông ty đường thu được tiền nhanh chóng hơn song hệ thống phân phối bán lẻ đến tậntay người tiêu dùng khiến cho việc điều tiết giá bán của các công ty bánh kẹo đượcthuận tiện hơn

Dưới áp lực cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm đến từ nước ngoài, các doanhnghiệp bánh kẹo trong nước buộc phải tăng cường quảng cáo và khuyến mãi, do đó chiphí bán hàng và chi phí quản lý cũng tăng lên đáng kể

4.3 Đòn bẩy tài chính và đòn bẩy hoạt động

Khi một công ty sử dụng nhiều chi phí cố định thì phần trăm thay đổi trong lợinhuận liên quan đến sự thay đổi trong doanh số sẽ lớn hơn phần trăm thay đổi trongdoanh số Với chi phí hoạt động cố định lớn, một 1% thay đổi trong doanh số sẽ tạo ramột sự thay đổi lớn hơn 1% trong lợi nhuận hoạt động

Thước đo của hiệu ứng đòn bẩy được đề cập trong tỷ lện DOL Tỷ lệ này chỉ ramức độ phản ứng của lợi nhuận khi doanh số thay đổi Nói rõ hơn, DOL là phần trămthay đổi trong thu nhập (EBIT) chia cho phần trăm thay đổi trong doanh số sản lượng

bán hàng DOL được xác định bằng công thức sau:

Trang 15

Đòn bẩy cho thấy ảnh hưởng của một khoản nợ vay xác định đối với thu nhập trênmỗi cổ phần của công ty Đòn bẩy tài chính liên quan đến việc sử dụng chi phí cố định

để tài trợ cho công ty và bao gồm cả những chi phí tăng thêm trước thuế và lãi vay.Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, một mức độ đòn bẩy tài chính cao hơnđồng nghĩa là sự dao động trong EPS cũng tăng tương ứng

Công thức xác định tỷ lệ đòn bẩy tài chính như sau:

Hầu hết các công ty đang bị định giá thấp đều mong muốn có một EPS khả quan

và do đó tỷ số DFL có thể được sử dụng để công ty quyết định xem mức độ đòn bẩycông ty cần sử dụng là bao nhiêu để đạt được mục tiêu cần thiết

Hệ số đòn bẩy của ngành bánh kẹo khoảng 1,04 là thấp nên việc sử dụng đòn bẩy này

để làm tăng lợi nhuận trong giai đoạn này của doanh nghiệp sẽ không đạt hiệu quả cao

Trang 16

4.4 Các chỉ số tài chính của các công ty trong ngành

Chỉ số tài chính của một số công ty trong ngành (Năm 2011)

Vốn CSH

Thanh Toán Hiện Hành

TT Nhanh

TT Nợ Ngắn Hạn

Đối với nhóm cổ phiếu ngành bánh kẹo P/E trung bình chung hiện nay xấp xỉ 9

lần Trong đó P/E của KDC được đánh giá cao hơn so với của HHC và BBC Đó là bởi

vì ngoài lĩnh vực kinh doanh chính là chế biến thực phẩm như hiện nay KDC đang có

một số mảng kinh doanh khác như bất động sản những mảng kinh doanh này được kỳ

vọng sẽ mang lại lợi nhuận đột biến cho công ty vào những năm tới khi mảng kinh

doanh chính không có nhiều thuận lợi P/E của KDC được kỳ vọng ở mức 9.5 Trong

khi đó HHC và BBC với quy mô và thị phần nhỏ hơn rất nhiều so với KDC được đánh

giá ở mức P/E hợp lý hơn là 8 lần và 6 lần

Hệ số nợ của của các công ty bánh kẹo khoảng 40% tổng nguồn vốn, trong đó nợ

ngắn hạn chiếm khoảng 32% nợ dài hạn không đáng kể Vì thế nên chi phí lãi vay

không quá lớn so với tổng doanh thu và lợi nhuận Các chỉ tiêu đo lường khả năng

thanh toán của các công ty trong ngành bánh kẹo mặc dù không bằng các công ty trong

ngành mía đường song cũng ở mức có thể chấp nhận được khi đều lớn hơn 1 Nếu như

xét về lợi nhuận thì hiện nay khả năng sinh lời của KDC cao hơn của HHC và BBC

tuy nhiên sự khác biệt này không phải là quá lớn mà chỉ là nhỉnh hơn một chút KDC

kiểm soát được chi phí đầu vào tốt hơn HHC và BBC song những chi phí bán hàng và

quản lý doanh nghiệp lại chiếm tỷ trọng cao hơn nên khoảng cách về khả năng sinh lời

là không đáng kể Vì tỷ trọng nợ trong cơ cấu vốn không cao nên các công ty này đều

không sử dụng đòn bẩy tài chính để khiến cho ROE trở nên hấp dẫn hơn

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ

Trang 17

1 Tổng quan về công ty cổ phần Kinh Đô

1.1 Quá trình hình thành, phát triển và những thành tựu của công ty

Công ty Cổ phần Kinh Đô tiền thân là Công ty TNHH Xây dựng và Chế biến thựcphẩm Kinh Đô, được thành lập năm 1993 theo Quyết định số 216 GP-UB ngày 27/02/1993của Chủ tịch UBND Tp.HCM cấp và Giấy phép kinh doanh số 048307 Trọng tàiKinh tế Tp.HCM cấp ngày 02/03/1993

Trong những ngày đầu thành lập, Công ty chỉ là một xưởng sản xuất nhỏ diện tíchkhỏang 100m2 tại Q6 - Tp.HCM, với 70 công nhân và vốn đầu tư 1,4 tỷ đồng, chuyên sảnxuất và kinh doanh bánh snack, một sản phẩm chưa từng có ở Việt Nam trước đó

Đến năm 1994, sau hơn một năm kinh doanh thành công với sản phảm bánh snack,Công ty tăng vốn điều lệ lên 14 tỷ đồng và nhập dây chuyền sản xuất snack trị giá 750.000USD từ Nhật Thành công của bánh snack Kinh Đô với giá rẻ, mùi vị đặc trưng phù hợp vớikhẩu vị của người tiêu dùng trong nước đã trở thành một bước đệm quan trọng cho sựphát triển không ngừng của Kinh Đô sau này

Năm 1996, Công ty đầu tư xây dựng nhà xưởng mới tại số 6/134 Quốc lộ 13, PhườngHiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức và đầu tư dây chuyền bánh cookies với công nghệ và thiết

bị hiện đại của Đan Mạch trị giá 5 triệu USD Lúc này, số lượng công nhân của công ty lên

500 người

Năm 1997-1998, Công ty đầu tư dây truyền sản xuất bánh mì, bánh bông lan côngnghiệp trị giá 1,2 triệu USD với công suất 25 tấn bánh/ngày.Cuối năm 1998, Công ty đưa dâytruyền sản xuất kẹo chocolate vào khai thác với tổng đầu tư là 800.000 USD

Năm 1999, Công ty nâng vốn điều lệ lên 40 tỷ đồng, đồng thời thành lập trung tâmthương mại Savico - Kinh Đô tại Quận 1, đánh dấu bước phát triển mới của Kinh Đôsang lãnh vực kinh doanh khác ngòai ngành sản xuất bánh kẹo Cũng trong năm 1999,Công ty khai trương hệ thống Bakery đầu tiên, mở đầu cho một chuỗi hệ thống cửahàng bánh kẹo Kinh Đô từ Bắc vào Nam sau này

Đến nay Kinh Đô đã trở thành một hệ thống các công ty trong ngành thực phẩmgồm: bánh kẹo, nước giải khát, kem và các sản phẩm từ Sữa Định hướng chiến lượcphát triển của Kinh Đô là Tập Đoàn Thực phẩm hàng đầu Việt Nam và hướng tới một

Trang 18

Tập đoàn đa ngành: Thực phẩm, Bán lẻ, Địa ốc, Tài chính nhằm đảm bảo sự phát triểnbền vững trong tương lai.

Từ quy mô chỉ có 70 cán bộ công nhân viên khi mới thành lập đến nay Kinh Đô

đã có tổng số nhân viên là 7.741 người Tổng vốn điều lệ của Kinh Đô Group là3.483,1 tỷ đồng Tổng doanh thu đạt 3.471,5 tỷ đồng trong đó doanh thu ngành thựcphẩm chiếm 99,2%, tổng lợi nhuận đạt 756,1 tỷ đồng

Các sản phẩm mang thương hiệu Kinh Đô đã có mặt rộng khắp các tỉnh thànhthông qua hệ thống phân phối đa dạng trên toàn quốc gồm hơn 600 nhà phân phối, 31

Kinh Đô Bakery và 200.000 điểm bán lẻ cũng như các thống phân phối nhượng quyềnvới tốc độ tăng trưởng 30%/năm Thị trường xuất khẩu của Kinh Đô phát triển rộngkhắp qua 35 nước, đặc biệt chinh phục các khách hàng khó tính nhất như Nhật, Mỹ,Pháp, Đức, Singapore

Với phương châm ngành thực phẩm làm nền tảng cho sự phát triển, trong nhữngnăm qua, Kinh Đô đã liên tục đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, thực hiện các chiếnlược sáp nhập, liên doanh liên kết và hợp tác như mua lại nhà máy kem Wall từ tậpđoàn Unilever, mua lại Tribeco, Vinabico, đầu tư vào Nutifood, Eximbank

Đặc biệt năm 2010, Kinh Đô đã tiến hành việc sáp nhập Công ty CBTP Kinh ĐôMiền Bắc (NKD) và Công ty Ki Do vào Công ty Cổ Phần Kinh Đô (KDC) Địnhhướng của Kinh Đô là thông qua công cụ M&A, sẽ mở rộng quy mô ngành hàng thựcphẩm với tham vọng là sẽ trở thành một tập đoàn thực phẩm có quy mô hàng đầukhông chỉ ở Việt Nam mà còn có vị thế trong khu vực Đông Nam Á

Song song đó, với việc định hướng phát triển để trở thành một tập đoàn đa ngành,Kinh Đô cũng mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác như đầu tư kinh doanh bất động sản,tài chính và phát triển hệ thống bán lẻ Theo đó, các lĩnh vực có mối tương quan hỗ trợcho nhau, Công ty mẹ giữ vai trò chuyên về đầu tư tài chính, các công ty con hoạtđộng theo từng lĩnh vực với các ngành nghề cụ thể theo hướng phát triển chung củaTập Đoàn

Trang 19

1.2 Ngành nghề kinh doanh chính

Năm 2010 đánh dấu một thập niên mới và Kinh Đô tiếp tục chiến lược phát triển

là một Tập đoàn Thực phẩm hàng đầu Việt Nam và hướng tới một Tập Đoàn hoạtđộng đa ngành: thực phẩm, địa ốc, tài chính, bán lẻ

Trong đó, ngành thực phẩm là lĩnh vực hoạt động chính và là nền tảng cho sự pháttriển của Kinh Đô Được thành lập năm 1993, khởi đầu với sự thành công của sảnphẩm Snack, ngành thực phẩm của Kinh Đô đã có những bước tiến vượt bậc và là nềntảng cho sự phát triển chung của toàn Tập đoàn

Ngay từ đầu, Kinh Đô đã đi đúng hướng với sự đầu tư đồng bộ trong ngành thựcphẩm Sản phẩm Snack với giá hợp lý, mùi vị đặc trưng ngay lập tức chiếm lĩnh thịtrường, tạo đà cho sự mở rộng sau này của các ngành khác Năm 1996 đánh dấu cộtmốc quan trọng với việc nhập khẩu dây chuyền Cookies của Đan Mạch trị giá 5 triệuUSD – ngành Cookies ra đời Những năm tiếp theo, là chuỗi thành công liên tiếp vớingành bánh mì, bánh bông lan công nghiệp, Chocolate, kẹo cứng, kẹo mềm Điểm nổibật nhất chính là năm 2000, nhập khẩu dây chuyền Cracker từ Châu Âu và sự ra đờicủa nhãn hàng AFC đã tạo nên tên tuổi của Kinh Đô

Trải qua 17 năm, đến nay, hơn 90% doanh thu của cả Tập Đoàn có được từ thựcphẩm và chiến lược đầu tư tài chính của Tập Đoàn cũng tập trung vào ngành này Hiệntại, Kinh Đô phát triển với nhiều Công ty hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm trong đónổi bật là Công ty Cổ Phần Kinh Đô và Kinh Đô Miền Bắc chuyên kinh doanh ngànhbánh kẹo và Công ty Ki Do chuyên về ngành Kem & và sản phẩm từ Sữa Trongtương lai, Kinh Đô cam kết tạo ra những sản phẩm phù hợp, tiện dụng và cung cấp cácthực phẩm an toàn, thơm ngon, dinh dưỡng, tiện lợi và độc đáo cho tất cả mọi người

để luôn giữ vị trí tiên phong trên thị trường thực phẩm

Trang 20

1.3 Bộ máy tổ chức

1.3.1 Sơ đồ tổ chức

Trang 21

1.3.2 Ban điều hành

 Hội đồng quản trị

Ông Trần Kim Thành Chủ tịch

Ông Trần Lệ Nguyên Phó chủ tịch

Ông Wang Ching Hua Thành viên

Bà Vương Bửu Linh Thành viên

Ông Cô Gia Thọ Thành viên

Bà Vương Ngọc Xiềm Thành viên Bổ nhiệm ngày 23/04/2011Ông Trần Quốc Nguyên Thành viên Bổ nhiệm ngày 23/04/2011Ông Mã Thanh Danh Thành viên Bổ nhiệm ngày 23/04/2011Ông Nguyễn Văn Thuận Thành viên Bổ nhiệm ngày 23/04/2011

Ông Trần Lệ Nguyên Tổng giám đốc

Bà Vương Bửu Linh Phó tổng giám đốc

Bà Vương Ngọc Xiềm Phó tổng giám đốc

Ông Wang Ching Hua Phó tổng giám đốc

Ông Nguyễn Khắc Huy Phó tổng giám đốc

Ông Foo Woh Seng Phó tổng giám đốc

Ông Nguyễn Xuân Luân Phó tổng giám đốc

Ông Mai Xuân Trầm Phó tổng giám đốc

Ông Bùi Thanh Tùng Phó tổng giám đốc

Ông Lê Anh Quân Phó tổng giám đốc

Ông Trần Quốc Nguyên Phó tổng giám đốc

Ông Trần Quốc Việt Phó tổng giám đốc

Ông Lê Văn Thịnh Phó tổng giám đốc

Ông Nguyễn Quốc Nam Phó tổng giám đốc

Ông Trần Tiến Hoàng Phó tổng giám đốc Bổ nhiệm ngày 05/01/2011Ông Gariel Magno Torres Phó tổng giám đốc Bổ nhiệm ngày 31/03/2011Ông Kelly Yin Hon Wong Phó tổng giám đốc Bổ nhiệm ngày 16/08/2011Ông Lương Quang Hiển Phó tổng giám đốc Từ nhiệm ngày 15/09/2011

Trang 22

Ban kiểm soát

Ông Lê Cao Thuận Trưởng Ban kiểm soát Bổ nhiệm ngày 23/04/2011Ông Võ Long Nguyên Thành viên

Bà Lương Mỹ Duyên Thành viên

1.4 Năng lực và công nghệ

Hiện nay, Kinh Đô đang sở hữu những dây chuyền sản xuất bánh kẹo hiện đại nhấttại Việt Nam, trong đó có nhiều dây chuyền thuộc lọai hiện đại nhất khu vực Châu Á - TháiBình Dương và thế giới Toàn bộ máy móc thiết bị của Kinh Đô được trang bị mới 100%,mỗi dây chuyền sản xuất từng dòng sản phẩm là một sự phối hợp tối ưu các máy móc hiệnđại có xuất xứ từ nhiều nước khác nhau

Hai dây chuyền sản xuất bánh Crackers:

- Một dây chuyền sản xuất công nghệ Châu Âu trị giá 2 triệu USD, công suất 20tấn/ngày, được đưa vào sản xuất năm 2000

- Một dây chuyền sản xuất của Đan Mạch, Hà Lan và Mỹ trị giá 3 triệu USD, côngsuất 30 tấn/ngày, đưa vào sản xuất đầu năm 2003

Một dây chuyền sản xuất bánh cookies của Đan Mạch, trị giá 5 triệu USD, côngsuất 10 tấn/ngày, đưa vào sản xuất năm 1996 Hiện nay, Kinh Đô đang lắp đặt và vậnhành thử một dây chuyền sản xuất bánh cookies công nghệ Châu Âu, dự kiến đưa vào sảnxuất cuối năm 2007

Một dây chuyền sản xuất bánh trung thu với các thiết bị của Nhật Bản và Việt Nam.Hai dây chuyền sản xuất bánh mì và bông lan công nghiệp:

- Dây chuyền sản xuất trị giá 1,2 triệu USD, công suất 25 tấn/ngày, được đưa vào sảnxuất năm 1997

- Dây chuyền sản xuất bánh mì của Pháp trị giá 2 triệu USD được đưa vào sản xuấtnăm 2004

Năm 2004, Kinh Đô đã đầu tư mới một dây chuyền sản xuất bánh bông lan côngnghiệp của Ý trị giá 3 triệu USD Đây là dự án nằm trong chương trình “ Sản phẩm côngnghiệp chủ lực của Tp.HCM năm 2004”, được UBND Tp.HCM hỗ trợ lãi vay ngân hàng

và các chương trình xúc tiến thương mại

Trang 23

Hai dây chuyền sản xuất bánh snack:

- Một dây chuyền sản xuất bánh snack của Nhật trị giá 0.75 triệu USD được đưa vàosản xuất năm 1994

- Một dây chuyền mới do Ý sản xuất

Một dây chuyền sản xuất bánh quế do Malaysia sản xuất

Một dây chuyền sản xuất kẹo chocolate của Malaysia, Trung Quốc và Đài Loan, trịgiá 0.8 triệu USD, đưa vào sản xuất năm 1998 Đầu năm 2005, Kinh Đô đã nhập thêm mộtdây chuyền định hình chocolate xuất xứ Châu Âu

Một dây chuyền sản xuất kẹo của Đài Loan trị giá 2 triệu USD công suất 2 tấn/giờ vàonăm 2001

1.5 Hệ thống phân phối

Kênh phân phối của Công ty chính thức phủ rộng toàn quốc, với trên 200 nhàphân phối và 120.000 điểm bán lẻ cho ngành hàng thực phẩm và 65 nhà phân phốicùng trên 30.000 điểm bán lẻ của kênh hàng lạnh

Bên cạnh đó, Công ty còn sở hữu kênh bán lẻ gồm chuỗi các cửa hàng Kinh ĐôBakery tại Hà Nội Với thế mạnh về kênh phân phối trải rộng và đa dạng, Công tykhẳng định khả năng vượt trội trong việc phân phối sản phẩm một cách nhanh chóng,theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu

Kênh hàng sản phẩm thực phẩm

Số lượng Nhà phân phối 212

Số điểm bán lẻ 120.000

Kênh kem và sản phẩm từ sữa

Số lượng Nhà phân phối 65

Số điểm bán 30.000

Chuỗi cửa hàng bán lẻ thực phẩm

Chuỗi Kinh Đô Bakery 30

Ngày đăng: 31/12/2013, 10:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CHI TIẾT CÁC THÀNH VIấN ĐểNG GểP - PHÂN TÍCH NGÀNH BÁNH KẸO VIỆT NAM PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ
BẢNG CHI TIẾT CÁC THÀNH VIấN ĐểNG GểP (Trang 2)
Bảng doanh thu các công ty theo quý năm 2011 (đơn vị tính triệu VND) - PHÂN TÍCH NGÀNH BÁNH KẸO VIỆT NAM PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ
Bảng doanh thu các công ty theo quý năm 2011 (đơn vị tính triệu VND) (Trang 11)
Bảng cân đối kế toán 2010-2011 (ĐVT: triệu đồng) - PHÂN TÍCH NGÀNH BÁNH KẸO VIỆT NAM PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ
Bảng c ân đối kế toán 2010-2011 (ĐVT: triệu đồng) (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w