1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Chiến lược phát triển ngoại thương của Việt Nam

25 1,8K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến lược phát triển ngoại thương ở Việt Nam
Chuyên ngành Ngoại thương
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 201,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận Chiến lược phát triển ngoại thương của Việt Nam

Trang 1

Lời mở đầu

Ngày nay khi nói đến sự phát triển quốc gia, chúng ta không thể không nhắc đến những chỉ

số tăng trưởng như GNP/người, GNI và đặc biệt là GDP Trong đó, một thành tố đóng vaitrò quan trọng là tăng chỉ số này chính là các hoạt động thương mại quốc tế, hay còn gọi làngoại thương

Ngoại thương nước ta trong thời gian qua đã thực sự giúp cho nền kinh tế đất nước khaithác thế mạnh trong sản xuất hàng hóa hướng về xuất khẩu Ngoại thương đóng góp rất lớncho tốc độ tăng trưởng kinh tế và thay đổi bộ mặt ngành công nghiệp, dịch vụ và cả trongsản xuất nông nghiệp

Những năm đầu thế kỉ 21, trong xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam có nhiều điều kiệnthuận lợi để phát triển hoạt động kinh tế ngoại thương, tạo điều kiện cho đất nước hòa nhậpvới nền kinh tế thế giới Tuy nhiên còn nhiều khó khăn trở ngại cho tiến trình này Việc đề

ra một đường lối phát triển ngoại thương phù hợp cho phép khai thác những lợi thế, hạnchế tối thiểu những trở ngại mang tính cấp bách và thiết thực

Vậy nên, đề tài “Chiến lược phát triển ngoại thương ở Việt Nam” được thực hiện nhằm xâydựng một chiến lược ngoại thương phù hợp để tận dụng mọi nguồn lực trong nước mộtcách hiệu quả, đưa nước ta thoát khỏi nhóm các nước nghèo và tiến tới một nền kinh tếhiện đại, hiệu quả, bền vững

Nội dung

1 Sơ lược ngoại thương Việt Nam qua các thời kì

1.1Ngoại thương Việt Nam trước năm 1975

1.1.1 Hoạt động ngoại thương VN dưới thời phong kiến

- Là một nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp

- Sản xuất hàng hóa giản đơn và một thị trường trong nước chật hẹp, chia cắt

Trang 2

- Ngoại thương thời kì này không có cơ sở kinh tế bên trong thúc đẩy, có tính chất bị động.

- Hàng bán ra bao gồm nông lâm hải sản quý hiếm do thiên nhiên sẵn có được khai thácđem bán như: Lâm sản, hàng thủ công nghiệp.Việc mua bán hầu như do bọn quan độcquyền để kiếm lời cho bản thân Họ tiến hành ngoại thương một cách tùy tiện, độc đoán

- Quan hệ buôn bán của Việt Nam thời kì này chủ yếu là với Trung Quốc, Nhật Bản, HàLan, Bồ Đào Nha

1.1.2 Ngoại thương Việt Nam dưới thời Pháp thuộc

- Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam là một “thuộc địa khai thác”

- Nền kinh tế vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kĩ thuật canh tác cổ truyền

- Ngoại thương kém phát triển cả về quy mô, mặt hàng và thị trường

- Xuất khẩu chủ yếu của nước ta trong thời kì này là nông sản và khoáng sản với ba mặthàng chủ yếu

- Nhập khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng và một số nguyên liệu như xăng, dầu, bông, vải

- Để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi trong lĩnh vực ngoại thương, Pháp thực hiện ở Đông Dươngmột hàng rào thuế quan rất chặt chẽ, có lợi cho chúng

+ Ngày 11/11/1892, Pháp ban hành luật về “đồng hóa thuế quan”: Hàng của Pháp nhậpkhẩu vào Việt Nam được miễn thuế nhập khẩu, còn hàng của các nước khác thì bị hàng ràothuế quan ngăn trở với thuế suất cao Hàng của Việt Nam nhập vào nước Pháp được tự do

và không phải nộp thuế

+ Chế độ “thuế quan tự trị” ngày 1/1/1941:Hàng của nước Pháp nhập khẩu vào các nướcĐông Dương và của các nước Đông Dương nhập vào Pháp không được miễn thuế, trừnhững mặt hàng chính phủ Pháp quy định Thuế suất nhập khẩu áp dụng ở Đông Dương docác nước Đông Dương quy định nhưng phải được chính phủ Pháp chuẩn y

1.1.3 Ngoại thương Việt Nam sau Cách Mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975.

- Xuất khẩu tăng rất chậm Trong kim ngạch nhập khẩu, tỷ trọng viện trợ không hoàn lạilớn

- Cơ chế hàng xuất khẩu phản ánh trình độ phát triển kinh tế lạc hậu và không ổn định,hàng cuất khẩu chủ yếu là nông sản, khoáng sản và gỗ

2

Trang 3

- Ngoại thương chủ yếu với các nước XHCN (chiếm 85 – 90% tổng kim ngạch buôn bánvới nước ngoài)

- Nhập siêu cực kì lớn

1.2 Ngoại thương Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay.

1.2.1.Giai đoạn trước khi đổi mới nền kinh tế 1976 – 1985

- Chúng ta tiếp tục nhận được sự hợp tác và hỗ trợ của các nước XHCN Tuy nhiên, Mĩ vàcác nước phương Tây thực hiện cấm vận kinh tế và phân biệt đối xử trên thị trường quốc tếnhư ngừng viện trợ đầu tư, ngừng các khoản tín dụng đã cam kết đã gây cho ta rất nhiềukhó khăn trong phát triển ngoại thương Ngoài ra nguyên tắc Nhà nước độc quyền về ngoạithương và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác được coi là nền tảng để hình thành cơ chếquản lý và tổ chức hoạt động ngoại thương lúc này đã kìm hãm sự phát triển

- Trong vòng 10 năm, từ năm 1976 đến 1985 tỉ lệ xuất khẩu chỉ đạt 21 – 40% so với nhậpkhẩu

1.2.2.Ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

* Tích cực:

Công cuộc đổi mới, mở của nền kinh tế được Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng

từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khóa IV) họp cuối năm 1986 Nhờ thực hiện chính sách

mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, đến năm 1995 nước ta đãquan hệ buôn bán với hơn 100 nước và lãnh thổ thuộc đủ các châu lục trên thế giới; kíHiệp định hợp tác thương mại với EU; bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ(1995); gia nhập ASEAN (28/7/1995)

Từ cuối thập niên 80 đến nay, trước tình trạng nhập siêu, Nhà nước đã chuyển giaiđoạn chiến lược thay thế hàng nhập khẩu sang giai đoạn chiến lược khuyến khích xuấtkhẩu, từ đó tạo động lực mới cho hoạt động ngoại thương Chúng ta tập trung và chú trọngnhiều vào điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu bằng cách mở rộng chính sách và hình thứcđầu tư, tạo điều kiện trong các quy định hành chính và cơ sở luật pháp Trong những nămgần đây, chúng ta đã và đang tiến hành đổi mới nhiều mặt trong quá trình hội nhập:

Trang 4

- Về thuế quan: chỉ áp dụng thuế chủ yếu trên hàng nhập khẩu, còn với hàng xuất khẩu thìđược ưu đãi với mức thuế suất không đáng kể, từng bước chuyển đổi mức thuế xuất – nhậpkhẩu sao cho phù hợp với yêu cầu của CEPT sau khi Việt Nam gia nhập AFTA.

- Về cơ chế quản lý xuất – nhập khẩu: cho phép mọi thành phần kinh tế hợp pháp đượcquyền trực tiếp xuất – nhập khẩu hàng hóa theo ngành nghề trong giấy phép kinh doanh,vươn tới sự thống nhất trong hoạt động thương mại, không phân biệt nội thương hay ngoạithương

- Về nguyên tắc: Mọi chủ thể kinh tế đều có quyền xuất – nhập khẩu mọi chủng loại hànghóa, trừ các mặt hàng cấm xuất – nhập và một số loại hàng xuất – nhập khẩu có điều kiệntheo quy định của pháp luật

- Thay đổi nhiều trong việc phân bố quota xuất khẩu: đối với gạo, Chính phủ cấp hạnngạch qua UBND các tỉnh, thành phố có thừa gạo để phân bố lại cho các đầu mối xuấtkhẩu gạo tại địa phương Đối với hàng dệt may tiến hành phương thức đấu thầu

- Thủ tục quản lý xuất – nhập khẩu: được đơn giản hóa nhiều, tạo môi trường thông thoángcho hoạt động ngoại thương Giảm tối đa thời hạn quản lý hàng xuất – nhập khẩu tại hảiquan bằng cách phân luồng theo thứ tự ưu tiên

- Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia xuất – nhập khẩu: Chính phủ quyết định thànhlập quỹ thưởng xuất khẩu áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tếtrong việc xuất khẩu các sản phẩm mới, chất lượng cao, mở rộng thị trường và thâm nhậpthị trường mới

* Hạn chế, khó khăn:

- Các doanh nghiệp chưa đảm bảo được chất lượng hàng xuất theo hợp đồng đã kí kết

- Với những mặt hàng có chất lượng cao, tạo được uy tín trên thị trường quốc tế thì chúng

ta không nắm vững luật lệ và văn hóa kinh doanh của các nước bạn nên gặp không ít khókhăn trong việc phát triển và bảo vệ thương hiệu của mình

- Trên thực tế, xuất khẩu Việt Nam đang đi theo hướng “cái ta có” chứ chưa đáp ứng được

“cái người ta cần”

2 Những lợi thế và khó khăn trong phát triển ngoại thương của Việt Nam

2.1 Những lợi thế

4

Trang 5

2.1.2.Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên

- Về đất đai: 50% diện tích đất đai cả nước là đất vào nông nghiệp và ngư nghiệp, khí hậunhiệt đới mưa nắng điều hòa cho phép chúng ta phát triển nông lâm sản xuất khẩu có hiệuquả cao như gạo, cao su và các nông sản nhiệt đới Chiều dài bờ biển 3260 km, diện tíchsông ngòi và ao hồ hơn 1 triệu ha, cho phép phát triển ngành thủy sản xuất khẩu và pháttriển thủy lợi, vận tải biển và du lịch

- Về khoáng sản: dầu mỏ hiện nay là nguồn tài nguyên mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng

kể, sản lượng khai thác hàng năm gia tăng và là nơi thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài.Than đá và mỏ sắt có trữ lượng cao; cả 3miền Bắc, Trung, Nam đều có nguồn clanh – ke

để sản xuất xi măng dồi dào

2.1.3 Lợi thế về lao động

- Đây là thế mạnh của nước ta Lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, khoảng 0,16 USD/1giờ lao động, tỉ lệ thất nghiệp lớn (khoảng 20 – 30% số người trong độ tuổi lao động) Laođộng là một lợi thế cơ bản để phát triển các ngành hàng sử dụng nhiều lao động như dệt,may, chế biến nông lâm thủy sản, lắp ráp sản phẩm điện, điện tử

Trang 6

- Tài nguyên phong phú nhưng phân bố không đều Giao thông vận tải kém nên khó khaithác, trữ lượng chưa xác định và chưa khoáng sản nào có trữ lượng lớn để trở thành mặthàng chiến lược Tài nguyên rừng, biển, thủy sản bị khai thác quá mức mà không đượcchăm hồi.

- Vị trí địa lí đẹp nhưng cơ sở hạ tầng yếu kém, các hải cảng ít và nhỏ, đường sá và phươngtiện giao thông lạc hậu

- Trình độ quản lí kinh tế, xã hội kém, bộ máy chính quyền kém hiệu quả, quan liêu, thamnhũng; chính sách, pháp luật không rõ ràng, thiếu đồng bộ, lại hay thay đổi gây cản trở chocho quá trình đổi mới kinh tế

- Trình độ quản lý của cán bộ và tay nghề công nhân còn thấp cho nên năng suất lao độngthấp, chất lượng hàng hóa chưa cao

- Công nghệ và trang thiết bị của nhiều ngành kinh tế Việt Nam còn ở trình độ thấp,hànghóa của Việt Nam chưa mang tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế

3 Chiến lược phát triển ngoại thương ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020

- Kiên trì định hướng công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu Đây là chủ trương cần đượcquán triệt trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới Đốivới Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, thị trường trong nước chưa pháttriển, cần tranh thủ nguồn lực bên ngoài, nhất là FDI, để nâng cao sức cạnh tranh của nềnkinh tế Phát triển xuất khẩu là con đường để Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giátrị toàn cầu, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới

6

Trang 7

- Để nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu cần phải nhanh chóng thay đổi mô hìnhtăng trưởng Trong những năm qua, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu dựa vàokhai thác lợi thế so sánh sẵn có về tài nguyên và lao động rẻ Lợi thế nói trên hiện tại vàmột vài năm tới vẫn đang phát huy tác dụng Tuy nhiên, dễ dàng nhận thấy rằng, nguồn lực

tự nhiên ngày càng cạn kiệt Những hạn chế mang tính cơ cấu về lợi thế tự nhiên làm giảmtốc độ tăng trưởng xuất khẩu trong dài hạn Đó là chưa kể đến những tác động tiêu cực đếnmôi trường được xem như một hạn chế cản trở tăng trưởng xuất khẩu Lợi thế lao động rẻcũng ngày càng giảm dần trong bối cảnh chênh lệch tiền lương lao động ở nước ta và cácnước giảm dần và nhu cầu cao trên thị trường thế giới về những hàng hóa có hàm lượngcông nghệ và khoa học ngày càng cao Do đó, dựa vào mô hình tăng trưởng theo chiềurộng trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh sẵn có, xuất khẩu Việt Nam khó có thể duy trìđược tốc độ tăng trưởng ở mức cao Bên cạnh đó, cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh suythoái kinh tế toàn cầu cũng là áp lực phải nhanh chóng chuyển sang mô hình tăng trưởngtheo chiều sâu,dựa vào việc khai thác lợi thế cạnh tranh động để nâng cao năng suất, chấtlượng và hiệu quả xuất khẩu trên cơ sở đẩy mạnh cải cách thể chế, sử dụng công nghệ tiêntiến, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại Chuyển từ pháttriển xuất khẩu theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ việc dựa chủ yếu vào lợithế so sánh sẵn có (tĩnh) sang lợi thế cạnh tranh động là nhân tố quyết định chất lượng tăngtrưởng xuất khẩu; duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng caokhả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu, phù hợp với xu hướng biến đổi của thịtrường, do đó, hạn chế được rủi ro khi thị trường thế giới biến động bất lợi Thực hiện địnhhướng phát triển xuất khẩu theo chiều sâu cũng là giải pháp để đẩy nhanh quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khắc phục nguy cơ tụt hậu, bẫy thu nhập trung bình,nâng cao vị thế quốc gia, đảm bảo phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ

- Trong giai đoạn tới, chất lượng phát triển phải là mục tiêu hàng đầu Cần khắc phục tưtưởng coi trọng số lượng, chạy theo thành tích cục bộ và ngắn hạn Nhiều chỉ tiêu xuấtkhẩu trong giai đoạn vừa qua chỉ phản ánh về mặt số lượng mà chưa phán ánh được hiệuquả đầu tư, các tác động về mặt xã hội, môi trường Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng,trong thời gian qua, nước ta đã đầu tư quá mức cho xuất khẩu mà chưa tính toán đến hiệu

Trang 8

quả của nó Điều này dẫn đến sự hao phí nguồn lực, sử dụng không hiệu quả vốn đầu tư,làm nảy sinh hành vi tiêu cực như tham nhũng, gian lận thương mại Cần phải tính toánxem mỗi một đô la giá trị xuất khẩu mà ta mang về đem lại bao nhiêu lợi nhuận đóng gópvào tăng trưởng kinh tế.

3.1.2.Phát triển xuất khẩu trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, hạn chế ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên, nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của hàng hóa xuất khẩu.

- Trước hết, tăng trưởng xuất khẩu phải trên cơ sở khai thác hợp lý và sử dụng hiệu quả tài

nguyên thiên nhiên Cần nhận thức đầy đủ rằng, bảo tồn và phát triển tài nguyên thiênnhiên là cơ sở của sự phát triển bền vững Đối với Việt Nam, một đất nước được thiênnhiên ưu đãi, có trình độ phát triển thấp, khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên sẽtạo thuận lợi để tích lũy ban đầu cho công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa Lợi thế

về điều kiện tự nhiên đã tạo thuận lợi cho Việt Nam xếp thứ hạng cao hiện nay về xuấtkhẩu một số sản phẩm như gạo (thứ hai thế giới), cà phê (thứ hai thế giới), hạt tiêu (số mộtthế giới), hạt điều (thứ ba thế giới) Một số mặt hàng khác như dầu thô, thủy sản đang cólợi thế cạnh tranh tuyệt đối trên thị trường thế giới

Tuy nhiên, trong thời gian qua, chúng ta chưa khai thác một cách hợp lý tài nguyên thiênnhiên Tăng trưởng xuất khẩu một số mặt hàng như cà phê, hạt điều, cao su, chè kéo theo

sự suy giảm diện tích rừng và đa dạng sinh học Tương tự, khai thác thủy sản theo lối hủydiệt, quá mức làm suy giảm nghiêm trọng sinh quyển biển Tăng diện tích nuôi trồng thủysản cùng với giảm diện tích rừng ngập mặn Tăng trưởng xuất khẩu của nước ta đang tiềm

ẩn nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và mất cân bằng sinh thái Khai thác quá mức tài nguyênthiên nhiên sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trong tương lai và gây nên những hệlụy đối với môi trường và xã hội

- Thứ hai, tăng trưởng xuất khẩu phải đi đôi với việc hạn chế ô nhiễm môi trường Trong

những năm tới, Việt Nam phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quátrình này sẽ khuyến khích khai thác tài nguyên và sử dụng ngày càng nhiều năng lượng vànguyên liệu đầu vào Xuất khẩu trong giai đoạn tới sẽ tập trung vào tăng tỷ trọng các mặt

8

Trang 9

hàng chế biến Nếu không có những biện pháp kiểm soát ô nhiễm, môi trường sinh tháinước ta sẽ ô nhiễm nghiêm trọng Ô nhiễm môi trường còn làm giảm khả năng xuất khẩu

và ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu

- Thứ ba, phát triển xuất khẩu trong giai đoạn tới phải chú trọng nâng cao khả năng đáp

ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của hàng hóa xuất khẩu, áp dụng các quy trình

và phương pháp sản xuất thân thiện với môi trường Xu hướng áp dụng các tiêu chuẩn môitrường trong thương mại quốc tế ngày càng phổ biến để giải quyết các vấn đề toàn cầu vàbảo vệ lợi ích của người tiêu dùng Các tiêu chuẩn môi trường đối với sản phẩm, quy trìnhchế biến ngày càng được các nước áp dụng rộng rãi và ở mức cao hơn như những rào cản

kỹ thuật trong buôn bán quốc tế Việt Nam xuất khẩu nhiều mặt hàng nhạy cảm với môitrường và an toàn như nông sản, thủy sản Đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trườngphải được nhìn nhận như là một biện pháp để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và cảithiện môi trường trong nước

- Thứ tư, phát triển xuất khẩu bền vững ở nước ta trong giai đoạn tới phải dựa trên cơ sở

khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn chophép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền Từng bước thực hiện nguyên tắc “mọimặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi”, trong đó ưu tiên cho phát triển kinh tế.Cần khắc phục quan điểm cực đoan trong việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên Bảo tồnthiên nhiên quá mức sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, công cuộc xóa đói giảmnghèo và hậu quả là gây khó khăn cho việc quản lý tài nguyên Khai thác hợp lý và cóchính sách quản lý môi trường linh hoạt sẽ khuyến khích người hưởng lợi có ý thức chấphành các quy định về bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển chúng để khai thác bền vữngtrong tương lai Tuy nhiên khai thác quá mức tài nguyên để đạt được sự tăng trưởng nhanhtrong ngắn hạn sẽ dẫn đến suy thoái và cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng đến sự phát triểnbền vững của các thế hệ tương lai

3.1.3.Phát triển xuất khẩu góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo, tạo nhiều việc làm đảm bảo công bằng xã hội, chia sẻ lợi ích hợp lý giữa các thành phần tham gia xuất khẩu.

Trang 10

- Thứ nhất, phát triển xuất khẩu góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, tạo việc

làm Các cấp, các ngành, địa phương cần quán triệt quan điểm này trong hoạch định chínhsách phát triển trong giai đoạn tới Hơn 70% dân số sống ở nông thôn, dựa chủ yếu vàonguồn lợi tự nhiên Phát triển xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thủy sản trong thời gianqua đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nhất là những vùng trồng cà phê, cao su (TâyNguyên), lúa gạo, thủy sản (Đồng bằng sông Cửu Long) Xuất khẩu các mặt hàng sử dụngnhiều lao động như dệt may, da giày, thủy công mỹ nghệ, điện tử, đồ gỗ thu hút mộtlượng lao động lớn, cải thiện đời sống của người dân lao động Mặc dù, xuất khẩu củanước ta trong thời gian qua chưa thể hiện được xu hướng công nghiệp hóa, nhưng đónggóp về mặt xã hội là rất to lớn

- Thứ hai, phát triển xuất khẩu đóng góp vào nâng cao chất lượng lao động, trình độ quản

lý Cần nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng hàngcông nghiệp chế biến và giá trị gia tăng cao để cải thiện nguồn nhân lực, thu hút lao độngnông nghiệp Chất lượng lao động và trình độ quản lý của các doanh nghiệp nước ta cònhạn chế Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chính sách đào tạo nguồn nhân lực và khuyếnkhích sử dụng người có trình độ chuyên môn cao là một trong những yếu tố quan trọng đểnâng cao chất lượng tăng trưởng xuất khẩu

- Thứ ba, cần có chính sách để giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình

công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu Trước hết, cần giải quyết các vấn đề xã hội dotập trung lao động (nhất là lao động nữ) ở một số ngành như da giày, dệt may Đây làmột vấn đề đang bức xúc mà chưa được sự quan tâm của các ngành Cần tạo môi trườngsinh sống ổn định cho người lao động như nhà ở, các dịch vụ phục vụ đời sống hàngngày Thứ hai, cải thiện môi trường lao động để đảm bảo sức khỏe và an toàn cho côngnhân Thứ ba, cần tính đến những vấn đề khác như việc xây dựng gia đình cho côngnhân, cuộc sống con cái của họ sau này

- Thứ tư, cần có chính sách chia sẻ lợi ích thu được từ xuất khẩu một cách hợp lý giữa

những nhóm xã hội, nhất là trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên Xử lý tốt vấn đề này

sẽ tăng hiệu quả xuất khẩu, khai thác hợp lý tài nguyên và tránh được các xung đột xã hội

có liên quan Hiện nay, chúng ta chưa có một thiết chế hữu hiệu để kiểm soát phân phối thu

10

Trang 11

nhập giữa các bên tham gia vào chuỗi giá trị Một vấn đề nữa là chia sẻ lợi ích giữa nhữngngười dân bản địa, nơi có tài nguyên đa dạng sinh học Những người khai thác là nhữngngười ở nơi khác đến Mở rộng diện tích trồng cà phê, nuôi tôm ở vùng có rừng tự nhiên vàngập mặn làm mất đi nguồn lợi sinh sống của người dân bản địa Họ phải đi sâu vào cáccánh rừng khác và tiếp tục phá hoại môi trường Như vậy, chia sẻ lợi ích giữa các nhóm xãhội không những là vấn đề xã hội mà còn là vấn đề môi trường

Vấn đề chênh lệch giàu nghèo ở nước ta hiện nay cũng có nguyên nhân từ việc chia sẻchưa hợp lý lợi ích từ xuất khẩu Trong nền kinh tế thị trường, khác nhau về năng lực dẫnđến khác nhau về thu nhập là tất yếu khách quan Tuy nhiên, một bộ phận dân cư giàu lênnhanh chóng bằng cách dựa vào khai thác nguồn lợi tự nhiên một cách phi pháp, trục lợibằng những cách thức kinh doanh thiếu lành mạnh Kinh doanh xuất khẩu mang lại lợinhuận cao và cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ phân hóa sâu sắc giàu nghèo

- Thứ năm, cần có quan điểm tổng thể, dài hạn trong quản lý, khai thác tài nguyên và tài

sản quốc gia Trước hết là đảm bảo lợi ích quốc gia, sự phát triển cân đối giữa các vùng vàhài hòa lợi ích của các thế hệ Khắc phục cách nhìn cục bộ địa phương, tư duy ngắn hạn,nhiệm kỳ trong quản lý và khai thác tài nguyên, sử dụng tài sản công Tài nguyên quốc gia

là tài sản chung của toàn dân, các công dân các thế hệ khác nhau có quyền được hưởng lợi.Không xử lý tốt vấn đề lợi ích trong khai thác và sử dụng tài sản quốc gia sẽ làm nảy sinhnguy cơ xung đột xã hội, giảm niềm tin của nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhànước

3.1.4 Đẩy mạnh nhập khẩu công nghệ tiên tiến, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất được, hạn chế nhập khẩu hàng hóa nguy hại đối với môi trường và sức khỏe, cân đối xuất, nhập khẩu theo hướng hạn chế nhập siêu, tiến tới cân bằng cán cân thương mại.

Chính sách quản lý nhập khẩu trong giai đoạn 2011-2020 cần tập trung vào việc xử

lý những vấn đề như: cân bằng cán cân thương mại, khuyến khích nhập khẩu cạnh tranh,trước hết là công nghệ nguồn; hạn chế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuấtđược; quản lý nhập khẩu hàng hóa không đảm bảo các quy định về sức khỏe và môi

Trang 12

trường Trong bối cảnh bất ổn kinh tế vĩ mô như lạm phát gia tăng, cán cân thanh toánthâm hụt, hạn chế nhập khẩu hợp lý có vai trò quan trọng góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Để giảm nhập siêu, biện pháp dài hạn là phát triển các ngành công nghiệp thay thế nhậpkhẩu và đẩy mạnh xuất khẩu, trên cơ sở nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vàhàng hóa Việt Nam, quản lý nhập khẩu đối với các doanh nghiệp nhà nước và đẩy mạnh tự

do hóa thương mại

3.2 Định hướng phát triển xuất – nhập khẩu thời kì 2011 – 2020

3.2.1.Định hướng phát triển xuất khẩu

Chiến lược phát triển xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn đến 2020 cũng đề ra mục tiêu là:

“Nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ; chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nângcao giá trị gia tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, các loại sản phẩm có hàm lượngcông nghệ và chất xám cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ; mở rộng và đa dạng hóa thị trường

và phương thức kinh doanh; hội nhập thắng lợi vào kinh tế khu vực và thế giới”

Trên cơ sở mục tiêu định hướng chung nêu trên, một số định hướng cụ thể phát triển xuấtkhẩu trong giai đoạn 2011-2020 là:

- Xác định phát triển xuất khẩu các mặt hàng mới phù hợp với xu hướng biến đổi của thịtrường thế giới và lợi thế của Việt Nam là khâu đột phá trong phát triển xuất khẩu của ViệtNam giai đoạn 2011-2020 Các mặt hàng mới là các mặt hàng chế tạo công nghệ trungbình và công nghệ cao

- Giai đoạn 2011-2015 tập trung phát triển xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế về điềukiện tự nhiên và lao động rẻ như thuỷ sản, nông sản, dệt may, điện tử, các sản phẩm chế táccông nghệ trung bình Tuy nhiên cần chuẩn bị điều kiện để gia tăng tỷ trọng xuất khẩuhàng chế biến

- Giai đoạn 2016-2020 tập trung phát triển các mặt hàng công nghiệp mới có giá trị giatăng cao, hàm lượng công nghệ và chất xám cao, trên cơ sở thu hút mạnh đầu tư trongnước và nước ngoài vào các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu, những ngành chế tạocông nghệ trung bình và công nghệ cao

12

Ngày đăng: 31/12/2013, 01:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w