1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tranh chấp nội bộ trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên

27 610 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tranh chấp nội bộ trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
Người hướng dẫn Th.S Phạm Đức Huy
Trường học Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 171,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tài liệu liên quan đến tranh chấp nội bộ trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên và các phương pháp giải quyết tranh chấp cùng với ví dụ thực tiễn dễ hiểu.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM

Bài tiểu luận môn:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC:

LỜI MỞ ĐẦU: 1

NỘI DUNG: 2

CHƯƠNG 1 :CÔNG TY TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN VÀ THỰC TRẠNG TRANH CHẤP NỘI BỘ CÔNG TY 2

I Công ty TNHH 2 thành viên trở lên 2

II Tranh chấp trong kinh doanh 4

CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ TRANH CHẤP TRONG NỘI BỘ CÔNG TY TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 5

I Tranh chấp về chủ thể góp vốn, chuyển nhượng vốn 5

II Tranh chấp phát sinh từ việc triệu tập và biểu quyết tại HĐTV 9

III Lợi nhuận 11

CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NỘI BỘ CÔNG TY TNHH 2 THÀNH VIÊN 17

I Thương lượng 17

II Hòa giải 17

III Trọng tài 18

IV Tòa án 19

KẾT LUẬN: 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 21

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC: 21

Trang 3

CÁC TỪ VIẾT TẮT

TNHH: Trách nhiệm hữu hạnHĐTV:Hội đồng thành viênLDN: Luật doanh nghiệp

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU:

Các tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp diễn ra ngày càng phổ biến và gay gắt Sau 25năm đổi mới nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nềnkinh tế Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, ngày càng có nhiều doanh nghiệp được thànhlập và hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế Thực tế, không phải doanhnghiệp nào khi được thành lập cũng nhận thức được những khó khăn thách thức mà mình sẽgặp phải

Không ít doanh nghiệp xuất phát điểm là doanh nghiệp gia đình, bạn bè, có quy mônhỏ Ban đầu, họ tin tưởng nhau nên đã bỏ qua các thủ tục pháp lý cần thiết Không ít tranhchấp, xung đột giữa HĐTV đã và đang diễn ra, điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợicủa các bên liên quan, mà còn tác động không tốt đến hoạt động của doanh nghiệp Khidoanh nghiệp phát triển, phát sinh hiện tượng một số người hoặc nhóm người tìm cách thulợi cá nhân từ doanh nghiệp càng nhiều càng tốt, thậm chí tìm cách loại bỏ lẫn nhau…Chođến thời điểm hiện tại, số lượng vụ tranh chấp chưa nhiều nhưng sẽ gia tăng trong thời giantới

Để nghiên cứu sâu sắc hơn về vấn đề trên, cung cấp cho bạn đọc những kiến thức cầnthiết về công ty TNHH 2 thành viên trở lên, đồng thời phục vụ cho môn học Luật Kinh tế,nhóm chúng tôi đã cùng hoàn thành bài tiểu luận với chủ đề “Tranh chấp nội bộ trong công

ty TNHH 2 thành viên trở lên” Bài tiểu luận gồm:

Chương 1: Công ty TNHH 2 thành viên trở lên và tranh chấp nội bộ công ty hiện nay.Chương 2: Các vấn đề tranh chấp trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên

Chương 3: Các phương thức giải quyết tranh chấp

Chúng tôi là sinh viên năm 2 của trường ĐH Ngân hàng TPHCM, tuy đã có một nămkinh nghiệm làm tiểu luận nhưng do thời gian và kiến thức có hạn nên sẽ không thể tránhkhỏi sự sai sót và nhầm lẫn Vì thế mong quý bạn đọc thông cảm Qua đây chúng tôi muốngửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo Phạm Đức Huy đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành bàitiểu luận này

Trang 5

NỘI DUNG:

CHƯƠNG 1 : CÔNG TY TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN VÀ THỰC TRẠNG

TRANH CHẤP NỘI BỘ CÔNG TY

I Công ty TNHH 2 thành viên trở lên

1 Khái niệm

Công ty TNHH là tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân Công ty chịu tráchnhiệm đối với các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty và các thành viên của công

ty chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi góp vốn của mình

2 Đặc điểm của công ty

Công ty TNHH là loại công ty đối vốn nó có những đặc điểm sau đây:

- Là loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, số lượng thành viên không quá 50

- Vốn điều lệ của công ty là do các thành viên góp với các mức cao thấp khác nhautheo khả năng tài chính của mỗi thành viên

- Thành viên của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tàisản khác của công ty trong phạm vi số vốn góp vào doanh ngiệp

- Công ty TNHH không có quyền phát hành cổ phiếu

- Công ty TNHH có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng

kí kinh doanh

3 Một số quy định về thành viên của công ty

- Thành viên của công ty TNHH có thể là cá nhân hoặc tổ chức

- Quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty được quy định tại Điều 41 và 42 LDN.Nội dung là thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết, nếu đến hạn màchưa đóng góp đủ thì số vốn còn thiếu được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty vàchịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ số vốn đã cam kết Thành

Trang 6

viên được chia lợi nhuận sau khi công ty đã nộp thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chínhkhác tương ứng với số vố góp của mình, được quyền chuyển nhượng phần vốn góp đúnggóp đúng với quy định chuyển nhượng của pháp luật về công ty TNHH ( Điều 44 Luậtdoanh nghiệp) Thành viên hoặc 1 nhóm thành viên sở hữu trên 30% vốn điều lệ có quyềnyêu cầu triệu tập họp HĐTV khi có nhu cầu và các quyền khác được quy định tại LDN vềcông ty TNHH.

4 Cơ cấu tổ chức và quản lí công ty

Công ty TNHH 2 thành viên trở lên gồm: HĐTV, Chủ tịch hội HĐTV, Giám đốc(Tổng Giám đốc) và có thể có ban kiểm soát

- HĐTV gồm tất cả các thành viên của công ty, là cơ quan quuyết định cao nhất củacông ty Nếu thành viên là một tổ chức thì cử người đại diện tham gia hội đồngthành viên

- HĐTV họp ít nhất mỗi năm một lần

- HĐTV quyết định phương hướng phát triển của công ty, quyết định tăng hay giảmvốn điều lệ, quyết định thời điểm và phương hướng huy động thêm vốn, quuyếtđịnh phương thức đầu tư và dự án đầu tư có giá trị lớn hơn 50% tổng giá trị tài sảnđược ghi trong sổ kế toán của công ty; bầu, miễn nhiệm nhiệm chủ thịch hội đồngthành viên; bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức giám đốc (Tổng giám đốc); quyếtđịnh mức lương, lợi ích khác đối với giám đốc ( Tổng giám đốc), kế toán trưởng

và các bộ quản lí quan trọng khác và các quyền khác ( Điều 47 Luật doanhnghiệp)

- Chủ tịch HĐTV do HĐTV bầu ra Chủ tịch HĐTV có nhiệm kì 3 năm Nếu Chủtịch HĐTV là người đại diện theo pháp luật thì phải được ghi rõ trong các giấy tờgiao dịch

- Giám đốc (Tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngàycủa công ty, chịu trách nhiệm trước HĐTV về việc thực hiện các quyền và nghĩa

vụ của mình

Trang 7

II Tranh chấp trong kinh doanh.

1 Khái niệm

Tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột vêlợi ích, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các cấp độkhác nhau

2 Thực trạng

2.1 Tranh chấp trong doanh nghiệp ngày càng phổ biến và gay gắt

Hiện nay ở doanh nghiệp Việt Nam tồn tại những loại tranh chấp điển hình là tranhchấp giữa các cổ đông, tranh chấp về quyền quản lý và điều hành công ty

Cho đến thời điểm hiện tại, số lượng vụ tranh chấp chưa nhiều nhưng sẽ gia tăng trongthời gian tới Mức độ và tính chất của các tranh chấp này rất gay gắt Các bên tranh chấpthường không thương lượng, hòa giải, không sử dụng trọng tài, chỉ ra tòa và khiếu nại hànhchính (theo đến hết cấp) Nhiều khi sự can thiệp hành chính làm cho mâu thuẫn gay gắt và

mở rộng thêm Các bên hoặc một số bên tranh chấp không quan tâm đến lợi ích và sự pháttriển của doanh nghiệp, mà vì lợi ích của mình một cách thái quá Hệ quả là đình trệ sảnxuất Các bên đều cố ý can thiệp, ngăn cản hoạt động bình thường của doanh nghiệp dướicác hình thức khác nhau, gây thiệt hại thêm cho chính họ và các bên liên quan

2.3 Giải pháp hạn chế nảy sinh tranh chấp

Trang 8

Tranh chấp trong doanh nghiệp là một tất yếu trong kinh doanh, làm ảnh hưởng rất lớnđến quá trình phát triển của doanh nghiệp cho nên cần phải có cách giải quyết khi có tranhchấp xảy ra để vừa thỏa mãn quyền lợi của mỗi thành viên công ty lại đảm bảo lợi íchchung.

Cần thực hiện quy định của pháp luật một cách chặt chẽ, nghiêm túc và thận trọng Khiphân bổ cơ cấu sở hữu và góp vốn thành lập doanh nghiệp cần có sự cân nhắc kỹ càng Khi

có tranh chấp phát sinh, các bên cần thiện chí và nỗ lực giải quyết vì lợi ích chung là sự ổnđịnh và phát triển doanh nghiệp Nên tìm kiếm tư vấn và ưu tiên sử dụng trọng tài để giảiquyết tranh chấp, trước khi khiếu kiện ra tòa Bên cạnh đó là nâng cao nhận thức, hiểu biết

và tăng cường vai trò của quản trị doanh nghiệp Cần chuyển sang quản lý theo khoa học vàchuyên nghiệp; nên tìm giám đốc là người ngoài có trình độ chuyên môn và kinh nghiệmnghề nghiệp, chứ không phải là người có nhiều vốn nhất…

I Tranh chấp về chủ thể góp vốn, chuyển nhượng vốn

1 Các quy định về vốn trong công ty TNHH

Việc góp vốn được quy định rõ ràng là các thành viên phải góp đầy đủ và đúng hạn như

đã cam kết (Khoản 1 Điều 39 Luật Doanh nghiệp) Tuy nhiên, Luật không quy định thời hạn

Trang 9

cam kết góp mà chỉ buộc người đại diện pháp lý của công ty phải chịu trách nhiệm cá nhân

về các thiệt hại gây cho công ty và người khác vì thông báo chậm hay thông báo sai Thờigian thông báo là 15 ngày kể từ ngày cam kết góp vốn Trong khi ở công ty cổ phần, các cổđông sáng lập bị buộc phải góp vốn đủ 20% trong vòng 90 ngày kể từ ngày có giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh thì công ty TNHH 2 thành viên trở lên lại không quy định thời hạn

mà buộc rằng nếu có thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốnchưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty, và thành viên đó phải chịu tráchnhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết(Khoản 2 Điều 39 LDN) Trên thực tế, trách nhiệm như thế này chỉ phát sinh khi công typhải trả nợ, không có đủ tiền, và người này chưa góp

Theo Khoản 3 Điều 39 LDN quy định: Sau thời hạn cam kết lần cuối mà vẫn có thànhviên chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được xử lý theo một trong các cáchsau đây:

- Một hoặc một số thành viên nhận góp đủ số vốn chưa góp

- Huy động người khác cùng góp vốn vào công ty

- Các thành viên còn lại gốp đủ số vốn chưa góp theo tỉ lệ phần vốn góp của họ trongvốn điều lệ công ty

Sau khi số vốn còn lại được góp đủ theo quy định tại khoản này, thành viên chưa gópvốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty và công ty phải đăng kýthay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của luật này

2 Tình huống tranh chấp

Câu chuyện thực tế: Tháng 12-2010, công ty TNHH X (gọi tắt là công ty X) tổ chức cuộchọp HĐTV Lấy lý do ông A chưa góp đủ phần vốn đã cam kết nên các thành viên góp vốncòn lại giảm số phiếu biểu quyết của ông A

Cơ sở pháp lý được các thành viên công ty X đưa ra là Khoản 3 Điều 18 của Nghị định102/2010, theo đó “Trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếubiểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp Điều lệcông ty quy định khác”

Trang 10

Ông A không chấp nhận cách làm này vì cho rằng ngay cả khi ông chưa góp đủ phần vốncủa mình thì ông vẫn có số phiếu biểu quyết như đã góp đủ Và khi công ty chia lợi nhuậnông vẫn được nhận theo tỷ lệ vốn ông đã cam kết góp thì không có lý gì bây giờ công ty lạihạn chế quyền lợi của ông Những quy định gây tranh cãi Theo quy định tại điều 41 củaLDN 2005, các quyền của thành viên góp vốn trong công ty TNHH đều dựa trên phần vốngóp của mỗi thành viên, tức là dựa trên tỷ lệ vốn mà thành viên công ty TNHH góp vào vốnđiều lệ.

Có thể thấy rằng từ LDN 2005 đến Nghị định 102, khái niệm vốn điều lệ trong công tyTNHH hai thành viên trở lên đều được hiểu thống nhất là số vốn thực góp hoặc cam kết gópcủa các thành viên trong một thời hạn cụ thể và đã được ghi vào điều lệ công ty Như vậy,quyền của các thành viên góp vốn trong công ty TNHH sẽ được dựa trên tỷ lệ vốn mà thànhviên góp vào số vốn đã được ghi vào điều lệ công ty

3 Ví dụ thực tiễn

Công ty TNHH Y gồm có hai thành viên với vốn điều lệ đăng ký là 200 tỉ trong đó thànhviên B cam kết góp 100 tỉ và C cam kết góp 100 tỉ Tại thời điểm tổ chức họp hội đồng thànhviên: B đã góp được 40 tỉ và C đã góp được 50 tỉ Như vậy, phần vốn góp của B và C có thể

sẽ được xác định theo một trong hai cách sau:

Cách 1: B chiếm 40/200 (20%) và C chiếm 50/200 (25%); hay

Cách 2: B chiếm 100/200 (50%) và C chiếm 100/200 (50%)

Bản thân LDN khi đưa ra khái niệm “phần vốn góp” để từ đó làm cơ sở xác định phạm

vi quyền của thành viên cũng không nói cụ thể đó là tỷ lệ sở hữu của thành viên dựa trên sốvốn đã góp hay cam kết góp, mà chỉ đơn giản dùng một chữ “góp”

Như vậy, sự không rõ ràng dẫn đến những cách hiểu khác nhau thật ra đã xuất phát từnhững quy định của LDN chứ không phải đợi đến khi có sự ra đời của Nghị định 102 Chonên theo quan điểm cá nhân của người viết, Nghị định 102 khi quy định “trong thời hạn chưagóp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tươngứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác” suy cho cùngchỉ là một hướng hiểu như cách 1 ở trên khi xác định phần vốn góp chứ không phải là sựmâu thuẫn hay đi ngược lại quy định của LDN

Trang 11

4 Nhận định

Thứ nhất, phần vốn góp của công ty TNHH nên tính là tỷ lệ số vốn cam kết góp trongvốn điều lệ của công ty vì nếu theo nguyên tắc công bằng, quyền và nghĩa vụ phải tươngxứng với nhau thì quyền của thành viên công ty TNHH phải ngang bằng với nghĩa vụ màthành viên gánh chịu

Cam kết thực chất là nghĩa vụ của thành viên đối với công ty Vốn điều lệ của công tyTNHH, phần vốn góp và tỷ lệ góp vốn của thành viên đã được xác định trong điều lệ công

ty, việc thành viên góp hết một lần hay góp bao nhiêu lần, mỗi lần bao nhiêu chỉ là vấn đềthời gian và tùy thuộc vào thỏa thuận giữa các thành viên Chính vì vậy số vốn chưa gópđược coi là nợ của thành viên đối với công ty nếu thành viên không góp đủ và đúng hạn sốvốn đã cam kết và thành viên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do khônggóp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết

Không có lý gì thành viên công ty TNHH phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ vànghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệpnhưng lại chỉ có quyền trên số vốn ít hơn do chưa góp đủ Nếu thành viên công ty TNHH chỉ

có quyền biểu quyết trên số vốn thực góp, đồng nghĩa là tiếng nói của thành viên công tyTNHH khi thảo luận, biểu quyết những vấn đề của công ty bị yếu đi, tức trách nhiệm củathành viên công ty TNHH đối với phương án hoạt động kinh doanh của công ty giảm đi.Vậy tại sao thành viên công ty TNHH vẫn phải chịu trách nhiệm tài sản lớn hơn phần tráchnhiệm từ hành vi thực tế (biểu quyết) của thành viên công ty TNHH?

Thứ hai, phần vốn góp của thành viên công ty TNHH nên tính là số vốn cam kết góp vì

nó sẽ ảnh hưởng đến các quy định về điều kiện tiến hành họp và thông qua quyết định củahội đồng thành viên của công ty Nếu áp dụng cách hiểu phần vốn góp của thành viên đượcdựa trên số vốn thực tế đã góp, e rằng rất nhiều công ty TNHH phải đợi đến lần họp thứ haihay thứ ba mới đủ điều kiện tiến hành vì số thành viên dự họp lần đầu khó mà đáp ứng điềukiện đã góp đủ 75% vốn điều lệ của công ty Tương tự, đối với trường hợp quyết định củahội đồng thành viên được thông qua khi được số phiếu đại diện ít nhất 65% hoặc 75% tổng

số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận, nếu thành viên chỉ có quyền biểu quyếttrên số vốn thực góp có lẽ quyết định của hội đồng thành viên cũng khó mà thông qua được

Trang 12

Thứ ba là đặc trưng của công ty TNHH là một công ty có sự kết hợp hài hòa các đặcđiểm ưu việt của cả hai mô hình công ty đối nhân và đối vốn Chịu ảnh hưởng của mô hìnhcông ty đối nhân, thành viên công ty TNHH thường là những người có mối quan hệ, quenbiết với nhau do đó việc cùng nhau hợp tác thành lập doanh nghiệp dựa trên niềm tin, và vì

lẽ đó mà việc một hay tất cả các thành viên “cam kết” góp vốn trong một thời hạn nhất định

dễ dàng nhận được sự chấp thuận Công ty đối vốn, có nghiã là vốn có giá trị trước hết,không kể đến thân nhân người góp vốn và các thành viên chỉ chịu trách nhiệm đối với cáckhoản nợ của công ty tới phần góp vốn của mình

5 Thực tiễn áp dụng

Từ trước khi Nghị định 102 ra đời, mọi người đã quen với việc xác định phần vốn gópcủa thành viên trong công ty TNHH dựa trên tỷ lệ số vốn cam kết góp mà không chú ý rằngLDN cũng không có quy định nào nói cụ thể phần vốn góp là tỷ lệ số vốn “cam kết góp”

Do vậy, rất nhiều biên bản họp HĐTV đều ghi nhận số phiếu biểu quyết theo tỷ lệ vốncam kết góp của thành viên, dù rằng thành viên đó thực sự chưa góp một đồng nào Trướcngày 15-11-2010, hiện tượng này là phổ biến và thực tế cũng không vấp phải sự cản trở nào

từ cơ quan đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, sau ngày Nghị định 102 có hiệu lực thi hành, cóthể các biên bản họp như thế sẽ không được chấp thuận nếu áp dụng điều 18.3 của Nghị định

102 và nếu “điều lệ công ty không có quy định khác”

Do vậy, khi soạn thảo điều lệ công ty, cần lưu ý các quyền biểu quyết, hưởng lợi tức củathành viên được tính dựa trên phần vốn thực góp theo Nghị định 102 hay theo phần vốn camkết góp Việc này hoàn toàn nằm trong tầm tay của những người soạn thảo điều lệ, tuy nhiênbăn khoăn của người viết không phải ở chỗ cách đối phó với những quy định của Nghị định

102 mà làm thế nào để có cách hiểu thống nhất về phần vốn góp của thành viên trong công

ty TNHH Thiết nghĩ các cơ quan có thẩm quyền cần có một hướng dẫn phù hợp về nội dungnày để tránh những xung đột khó giải quyết như trường hợp của công ty X

II Tranh chấp phát sinh từ việc triệu tập và biểu quyết tại HĐTV

Điều kiện để triệu tập HĐTV trong công ty TNHH được quy định tại Điều 50, Điều 51Luật doanh nghiệp 2005

1 Tình huống tranh chấp

Trang 13

Công ty TNHH X có 4 thành viên, vốn điều lệ là 10 tỷ đồng, trong đó ông A góp 4 tỷđồng, ông B, bà C, ông D mỗi người góp 2 tỷ đồng Theo điều lệ công ty ông A làm Giámđốc kiêm chủ tịch Hội đồng thành viên

Đầu năm 2007, A triệu tập cuộc họp HĐTV, nhưng do bất đồng nên B không dự họp,ông C bận đi công tác xa nên gọi điện báo vắng mặt và ủy quyền miệng nhờ A bỏ phiếu chomình Cuộc họp đã thông qua phương án phân chia lợi nhuận và kế hoạch kinh doanh nămtới

Sau cuộc họp, B gởi đơn đến các thành viên phản đối kế hoạch phân chia lợi nhuận Dovậy A quyết định triệu tập cuộc họp HĐTV (mà không mời B tham dự) để ra quyết định khaitrừ B (cả 3 thành viên dự họp đều bỏ phiếu khai trừ B)

Nếu theo LDN 2005, thì họ làm như vậy có đúng không?

2 Giải quyết tình huống:

Vấn đề thứ nhất: cuộc họp HĐTV để thông qua phương án phân chia lợi nhuận và kếhoạch kinh doanh năm tới A là chủ tịch HĐTV nên đương nhiên là có quyền triệu tập cuộchọp HĐTV

Theo Điều 51 LDN thì cuộc họp HĐTV được tiến hành khi có số thành viên dự họp đạidiện ít nhất 75% vốn điều lệ Ở đây Công ty TNHH X đã có sự tham dự của 80% vốn điều

lệ, như vậy là hợp lệ Việc B có bất đồng và không tham dự cuộc họp HĐTV sẽ không ảnhhưởng đến cuộc họp và quyết định của HĐTV

Vì như đã nói ở trên cuộc họp này là đủ điều kiện và hợp pháp, B không tham dự thì Bmất quyền lợi của mình Tuy nhiên, giả sử B có tham gia cuộc họp HĐTV đi nữa thì với sốphiếu phản đối đại diện cho 20% vốn điều lệ của mình, B cũng không làm thay đổi đượcquyết định của HĐTV, vì đã có số phiếu thuận đại diện cho 80% vốn điều lệ thông qua Như vậy, tôi có thể khẳng định việc B có tham gia hay không cũng không làm ảnhhưởng đến quyết định của HĐTV, vì B nằm ở thế yếu, phải chấp nhận thua thiệt Việc B gửiđơn phản đối quyết định của HĐTV cũng không giải quyết được gì Trong trường hợp này,

Ngày đăng: 30/12/2013, 22:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w