1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phạm trù nhân của khổng tử với sự nghiệp trồng người ở việt nam hiện nay

62 674 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phạm Trù Nhân Của Khổng Tử Với Sự Nghiệp Trồng Người Ở Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 338,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất không phải là mộtvấn đề mới, tuy nhiên, việc nghiên cứu nhân tố người trong lực lượng sảnxuất là một vấn đề mang tính thời sự phải diễn

Trang 1

MỤC LỤC Trang 1

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 5

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 8

4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu đề tài 9

5 Phạm vi nghiên cứu đề tài 9

6 Đóng góp của đề tài 9

7 Kết cấu của đề tài 10

CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ NHÂN TỐ NGƯỜI TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 11

1.1 Trình bày quan niệm triết học Mác – Lênin về sản xuất và những nhân tố của quá trình sản xuất vật chất 11

1.1.1 Khái niệm sản xuất, sản xuất vật chất 11

1.1.2 Những nhân tố của quá trình sản xuất vật chất 14

1.2 Kết cấu và vị trí của các yếu tố trong lực lượng sản xuất 15

1.3 Vai trò của nhân tố người trong việc phát triển lực lượng sản xuất 22

1.3.1 Quan niệm của triết học Mác – Lênin về con người và nhân tố người trong lực lượng sản xuất 22

1.3.2 Con người – nhân tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất 23

Tiểu tiết chương 1 27

CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN NHÂN TỐ NGƯỜI – ĐIỀU KIỆN QUYẾT ĐỊNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY 28

2.1 Vài nét về huyện Tiên phước 28

2.2 Thực trạng lực lượng sản xuất ở huyện Tiên phước 32

2.2.1 Thực trạng nhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước 33

2.2.2 Thực trạng tư liệu sản xuất trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước 41

2.3 Giải pháp cho phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước 44

2.3.1 Cơ sở lí luận của giải pháp 44

2.3.2 Phương hướng phát triển nhân tố con người ở huyện Tiên Phước tỉnh Quảng Nam hiện nay 44

2.3.3 Giải pháp cho phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước tỉnh Quảng Nam 52

Tiểu tiết chương 2 58

KẾT LUẬN 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Con người với nguồn tiềm năng trí tuệ vô tận, là nguồn lực quyếtđịnh, là mục tiêu là động lực của sự phát triển Trong bất kì thời đại nào conngười vẫn luôn là lực lượng sản xuất cơ bản và quan trọng nhất của xã hội,giữ vị trí trung tâm trong sự phát triển kinh tế Ngay trong những buổi đầutiên của xã hội loài người, thời kỳ nguyên thủy, con người sống thành bầyđàn trong các thị tộc, bộ lạc, lúc đó trình độ nhận thức còn thấp họ tồn tạibằng những hoạt động thường ngày như săn bắt, hái lượm nhưng chính bảnthân họ ngay lúc đó đã là chủ thể duy nhất của hoạt động này Với việckhám phá ra những công cụ, phương tiện lao động mới cùng với sự pháttriển ngày càng cao của bộ óc con người Họ đã không ngừng cải biến tựnhiên, làm chủ tự nhiên để phát triển mặt xã hội của mình Ngày nay, nhờcác tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, các máy móc thiết bị và côngnghệ hiện đại ra đời đã giải phóng phần nào sức lao động của con người, cảlao động chân tay và lao động trí óc Nhờ đó năng suất lao động tăng lêngấp nhiều lần Mặc dù vậy, những thành tựu của khoa học đó không thể xóanhòa vai trò của con người cũng như thay thế vai trò của con người trongquá trình phát triển kinh tế, xã hội Máy móc dù hoàn thiện đến đâu, dùthông minh như thế nào đi chăng nữa thì cũng chỉ là khâu trung gian chohoạt động của con người, do con người sản xuất ra và chịu sự điều khiển bởicon người Vì vậy, trong bất kì thời đại nào nhân tố con người vẫn sẽ lànhân tố quyết định quan trọng nhất và là chủ thể duy nhất của mọi hoạtđộng trong xã hội

Phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất không phải là mộtvấn đề mới, tuy nhiên, việc nghiên cứu nhân tố người trong lực lượng sảnxuất là một vấn đề mang tính thời sự phải diễn ra thường xuyên trong cácgiai đoạn lịch sử, ở tất cả các quốc gia Con người vừa là chủ thể của lịch sử

Trang 3

vừa là sản phẩm của lịch sử do đó việc phát triển con người gắn liền vớiviệc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Đối với đất nước ta hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhậpquốc tế và kinh tế tri thức thì nhân tố người cần được chú trọng và phát triểntoàn diện trên tất cả các mặt Có như vậy thì mới có thể đảm bảo cho sựphát triển cả mặt chất cũng như mặt lượng của xã hội Trong những nămgần đây, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đảng vàNhà nước ta đã chú trọng đầu tư phát triển lực lượng sản xuất và đầu tư pháttriển con người thu được nhiều thắng lợi đáng kể Tuy nhiên, thực trạng chothấy nền kinh tế nước ta phát triển không đồng đều giữa các vùng miền, cáckhu vực mà một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng trên là do nhân

tố người trong lực lượng sản xuất chưa được quan tâm và phát triển đúngmức cho từng địa phương cụ thể, đặc biệt là ở những vùng miền núi có nềnkinh tế kém phát triển Nếu tình trạng này kéo dài thì đây thực sự là một trởngại lớn đối với nước ta trong thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đạihóa Như vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra là tiến hành nghiên cứu ở những khuvực có nền kinh tế kém phát triển để không những tạo ra sự phát triển nơiđây mà còn tạo ra động lực phát triển chung cho nền kinh tế của nước ta

Với tinh thần là người con của quê hương Tiên Phước, em thấy rằng,Tiên Phước là một huyện miền núi có nền kinh tế kém phát triển, đời sốngngười dân nơi đây còn rất khó khăn, do vậy em đã hình thành nên đề tài:

“Phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước, tỉnhQuảng Nam hiện nay” Đây là việc làm cần thiết đối với huyện Tiên Phước.Trên cơ sở đó có thể nắm bắt được một cách đầy đủ tình hình sử dụng vàbồi dưỡng phát huy nhân tố con người trong những năm qua của huyện,đồng thời qua đó có thể chỉ ra những điểm hợp lý cũng như những hạn chế,bất cập từ đó đề xuất phương hướng, góp phần vào việc phát triển con ngườiTiên Phước một cách hiệu quả trong sự nghiệp phát triển kinh tế hiện nay

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Con người là chủ thể của mọi sự sáng tạo, là nguồn gốc của mọi củacải vật chất Vì vậy liên quan đến đề tài này có rất nhiều tài liệu nghiên cứu.Gần đây nhất có các công trình nghiên cứu của các tác giả như:

Tác giả Nguyễn Thị Trâm, với công trình nghiên cứu nghiên cứu củamình “Vấn đề nguồn lực con người trong thời kỳ đổi mới” in trong tácphẩm, “Đổi mới ở Việt Nam tiến trình, thành tựu và kinh nghiệm”, nhà xuấtbản Chính trị Quốc gia, Hà Nội -2004 Tác giả đã đề cập đến vai trò quyếtđịnh của nhân tố người trong lực lượng sản xuất Tác giả khẳng định vai tròquan trọng của nguồn lực con người trên lập trường của chủ nghĩa Mác -Lênin Tuy nhiên, vai trò của nhân tố người chỉ được phát huy một cách caonhất khi kết hợp với nguồn lực và nhân tố khác Cũng trong tác phẩm này,tác giả nêu lên một số bất cập về nguồn lực con người hiện nay ở Việt Nam

Đó là sự bất cập về yêu cầu của thể lực đối với con người Việt Nam, vớinhững hạn chế về trí lực Bất cập trong cơ cấu đào tạo Trên cơ sở đó tác giả

đã đưa ra một số giải pháp để phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệpđổi mới hiện nay như: Giải pháp về kinh tế xã hội, về giáo dục trong đó chútrọng đến giáo dục đại học

Cũng bàn về nhân tố người trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giảNguyễn Văn Tài với công trình nghiên cứu của mình “Tư tưởng Hồ ChíMinh về con người và phát huy nhân tố con người”, Tạp chí triết học, số2(153), tháng 4 năm 2004 Tác giả đề cập con người trong tư tưởng Hồ ChíMinh là sự thống nhất giữa con người cá nhân và con người xã hội Tưtưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người và vấn đề phát huy vai trò nhân

tố con người là cơ sở khoa học cho đường lối quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam Theo tác giả, phát huy nhân tố con người trước hết đó là quantâm đến lợi ích của con người, thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của con

Trang 5

người, coi con người vừa là mục đích vừa là động lực của sự phát triển củacách mạng Việt Nam Thứ hai, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷluật, pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa Thứ ba, đó là phát triển sựnghiệp giáo dục - đào tạo nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, phải thực sự coi giáo dục là sự nghiệp quốc sách hàng đầu

để phát triển toàn diện con người Việt Nam

Tác giả Trần Nhân trong tác phẩm “Tư duy lý luận với sự nghiệp đổimới”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội - 2004, với phần “Phát triểnnguồn lực con người - nhân tố quyết định thắng lợi của đổi mới và pháttriển” Tác giả đã coi nhân tố con người là nhân tố quyết định cho sự pháttriển nhanh, có hiệu quả và bền vững Trên cơ sở đó, tác giả đã đề cập đếnvấn đề đào tạo và sử dụng đội ngũ nhân tài của đất nước hiện nay Trong sựphát triển phải đặt lực lượng sản xuất lên hàng đầu, trong việc phát triển lựclượng sản xuất thì việc phát triển khoa học và công nghệ lên vị trí hàng đầu.Còn trong phát triển khoa học và công nghệ và chuyển giao công nghệthành lực lượng sản xuất thì vấn đề phát triền đội ngũ nhân tài phải giữ vị trí

ưu tiên Ngày nay, nói tới khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sảnxuất trực tiếp là nói tới tầm quan trọng đặt biệt của đội ngũ nhân tài trongviệc phát triển lực lượng sản xuất

Hay tác giả Trần Văn Bính, “Xây dựng chiến lược con người - mộtđòi hỏi cấp thiết”, trong tác phẩm “Về định hướng xã hội chủ nghĩa và conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốcgia, Hà Nội - 2001 Tác giả đã chỉ ra tính chất quyết định đối với các chế độ

xã hội khác nhau là phụ thuộc vào chiến lược phát triển nhân tố con người.Đầu tư cho con người là đầu tư không những cho sự phát triển trước mắt mà

đó là chiến lược lâu dài Với xã hội Việt Nam hiện nay, đầu tư cho conngười có nghĩa là đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuật Chỉ có thểđẩy mạnh phát triển kinh tế, vượt qua đói nghèo, biết đầu tư phát triển mộtnền giáo dục hiện đại, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài

Trang 6

Tác giả Tống Tất Đường, nghiên cứu về “Phát triển nhân tố ngườitrong lực lượng sản xuất ở tỉnh Nghệ An hiện nay”, tác giả cho rằng: Nhân

tố người trong lực lượng sản xuất là một nhân tố mang tính quyết định đến

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay Nhân tố conngười được đầu tư phát triển đúng mức là động lực cơ bản quyết định đếntất cả các lĩnh vực xã hội khác, bởi vì con người là lực lượng sản xuất sốmột Không có nhân tố con người thì quá trình sản xuất và tái sản xuất xãhội không được thực hiện Nhân tố con người là quyết định đối với tư liệusản xuất, song không thể coi thường các nhân tố khác, bởi vì, nếu không cócác nhân tố khác thì nhân tố con người có phát triển đến mức độ nào đichăng nữa thì không thể phát huy đươc vai trò và tác dụng trong sản xuất xãhội Hơn nữa, nhân tố người trong lực lượng sản xuất có quan hệ với cácnhân tố khác một cách biện chứng Đầu tư phát triển lực lượng sản xuất làđầu tư cho cả hệ thống các yếu tố cấu thành trong đó nhân tố người giữ vaitrò chủ đạo Bởi nhân tố con người là lực lượng sáng tạo đối với các nhân tốkhác, là động lực của sự tiến bộ đối với các yếu tố còn lại của lực lượng sảnxuất

Tác giả Hồ Văn Dũng cũng khai thác “Nhân tố người trong lực lượngsản xuất và việc phát huy nhân tố đó ở nước ta hiện nay” Qua công trìnhcủa mình, tác giả đã trình bày vấn đề con người trong nội dung của lựclượng sản xuất, phân tích đặc điểm của người lao động Việt Nam và đề xuấtmột số giải pháp để phát huy nhân tố này

Tác giả Nguyễn Văn Thiện với công trình “Góp phần bàn thêm vềnhân tố người”, Tạp chí nghiên cứu trao đổi Tác giả đã đi sâu vào nghiêncứu nhân tố người, sự phân biệt với các khái niệm khác khi chỉ về conngười Nhân tố người theo tác giả là nói đến bản chất xã hội của con người,

là hạt nhân cốt lõi đặc trưng cho mặt chất lượng của nguồn lực con người,nhấn mạnh vai trò chủ thể, tích cực, năng động, sáng tạo của con người.Đưa ra khẳng định về tính quyết định của nhân tố con người đối với sự phát

Trang 7

triển của xã hội nói chung, với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóanước ta hiện nay nói riêng.

Tác giả Lê Quang Hoan với luận án tiến sỹ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh

về con người và vấn đề phát huy nhân tố người trong đổi mới hiện nay”.Tác giả đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh khi bàn về vấn đề conngười và nhân tố con người Tác giả nêu lên vấn đề “Phát huy nhân tố conngười có thể hiểu là phát huy nguồn lực con người, khi con người trở thànhmột điều kiện, một tiềm năng cần phát huy để tạo ra động lực phát triển củamột quá trình xã hội” Tác giả đã vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân

tố con người đối với sự nghiệp cách mạng để đưa ra cách thức phát triển vàphát huy nhân tố con người trong giai đoạn hiện nay

Đối với huyện Tiên phước chỉ có những công trình nghiên cứu về lựclượng sản xuất một cách chung chung, hầu như không có công trình nghiêncứu về nhân tố người trong lực lượng sản xuất Các công trình nghiên cứutrên tuy đa dạng phong phú nhưng không có công trình nghiên cứu nào mộtcách có hệ thống và trùng lặp với đề tài này Xuất phát từ thực tiễn đó vàvới tâm huyết về mảnh đất nơi đây của chính bản thân mình, em đã chọn đềtài “Phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phướctỉnh Quảng Nam hiện nay” Qua quá trình nghiên cứu đề tài này sẽ góp phầnlàm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển nhân tố người trong lựclượng sản xuất ở huyện Tiên phước, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội nơiđây

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

Mục đích:

Tìm hiểu thưc trạng việc sử dụng và phát triển nhân tố người tronglực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước, qua đó đưa ra một số giải phápcũng như những bài học để phát huy nhân tố con người một cách hiệu quảvào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở huyện Tiên Phước hiện nay

Nhiệm vụ:

Trang 8

Để thực hiện được mục đích đó, đề tài phải làm rõ những nhiệm vụsau:

- Trình bày quan niệm của triết học Mác - Lênin về nhân tố ngườitrong lực lượng sản xuất

- Phân tích thực trạng lực lượng sản xuất hiện nay

- Tìm ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy cho sự phát triểnnhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu đề tài:

Cơ sở lý luận:

Việc nghiên cứu và trình bày khóa luận dựa trên cơ sở lý luận của chủnghĩa Mác - Lênin về hình thái kinh tế xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh cùngvới các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các vấn đề về conngười, vấn đề về lực lượng sản xuất Khóa luận có kế thừa, tiếp thu nhữngthành quả của công trình nghiên cứu trước như các bài viết, các tư liệu điềutra trước đây để khái quát lại và đưa ra ý kiến của mình

Phương pháp nghiên cứu:

Khóa luận sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp phân tích - tổng hợp,logic - lịch sử, so sánh, thống kê…khóa luận đặc biệt chú ý đến quan điểmthống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu cũng như trong trìnhbày đề tài này

5 Phạm vi nghiên cứu đề tài:

Khóa luận chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản về sử dụng và pháttriển con người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước tỉnh QuảngNam, qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần vào việc phát huynhân tố con người trong lực lượng sản xuất

6 Đóng góp của đề tài:

Về lý luận:

Trang 9

Góp phần cũng cố nhận thức lý luận về học thuyết hình thái kinh tế

xã hội, về vai trò của các nhân tố trong lực lượng sản xuất, đặc biệt vai tròcủa nhân tố người trong lực lượng sản xuất

Về thực tiễn:

Những giải pháp để phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất

ở huyện Tiên Phước có thể áp dụng cho những vùng có nền kinh tế kémphát triển, có điều kiện tương tự như huyện Tiên Phước

Đề tài này có thể để tham khảo và cung cấp thông tin cho huyện TiênPhước trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội

7 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

đề tài được kết cấu gồm 2 chương 6 tiết sau:

Chương 1: Quan niệm của triết học Mác - Lênin về nhân tố ngườitrong lực lượng sản xuất

1.1 Trình bày quan niệm triết học Mác - Lênin về sản xuất vànhững nhân tố của quá trình sản xuất vật chất

1.2 Kết cấu và vị trí của các yếu tố trong lực lượng sản xuất

1.3 Vai trò của nhân tố người trong lực lượng sản xuất

Chương 2: Phát triển nhân tố người - điều kiện quyết định sự pháttriển lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam

2.1 Một vài nét về huyện Tiên Phước

2.2 Thực trạng lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước

2.3 Giải pháp cho phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất

ở huyện Tiên Phước tỉnh, Quảng Nam hiện nay

Trang 10

CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ NHÂN TỐ

NGƯỜI TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

1.1 Trình bày quan niệm triết học Mác - Lênin về sản xuất và những nhân tố của quá trình sản xuất vật chất.

1.1.1 Khái niệm sản xuất, sản xuất vật chất.

Khái niệm sản xuất: “Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người

và xã hội loài người Sản xuất xã hội bao gồm: Sản xuất vật chất, sản xuấttinh thần và sản xuất ra bản thân con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽvới nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của

sự tồn tại và phát triển của xã hội” [2, 287] Theo Ăngghen “Điểm khác biệtcăn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ, loài vật may mắnlắm chỉ biết hái lượm, trong khi con người lại sản xuất” [17, 241]

Khái niệm sản xuất vật chất: “Sản xuất vật chất là quá trình con người

sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chấtcủa giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tồn tại vàphát triển của con người” [2, 287]

Vậy sản xuất là khái niệm có nội hàm rộng hơn khái niệm sản xuấtvật chất, sản xuất vật chất chỉ là một mặt của sản xuất mà thôi

Con người cũng giống như con vật luôn tồn tại trong quan hệ với môitrường Song quan hệ sống giữa con người và môi trường luôn có bản tínhhoạt động, làm cho con người trong quan hệ này cũng thường xuyên rơi vàotình trạng mất cân bằng với môi trường Khi rơi vào tình trạng này thì mộtcách tất yếu, ở con người nảy sinh ra những đòi hỏi về các điều kiện vàphương tiện sinh tồn Những đòi hỏi như thế của con người chính là nhu cầu

Trang 11

mà trước hết là nhu cầu tồn tại và về sau còn nảy sinh ra cả nhu cầu pháttriển Đến lược nhu cầu sau khi xuất hiện lại thúc đẩy con người hoạt động

để thỏa mãn nhằm bảo đảm cho họ tồn tại và phát triển

Nhu cầu của con người càng ngày càng tăng trong khi đó môi trường

tự nhiên thì nghèo đi, những sản vật trong tự nhiên không còn đáp ứng đượcnhu cầu ngày càng tăng của con người Đến lúc này, nhu cầu của con ngườichỉ được thỏa mãn khi con người tác động tích cực bằng lao động vào giới

tự nhiên Bằng lao động và thông qua lao động con người sản xuất ra đờisống xã hội của mình mà trước hết là đời sống vật chất - một đời sống dochính con người tạo ra cho mình, khác về chất so với đời sống chỉ biết sửdụng những gì có sẵn trong tự nhiên của họ

Xuất phát từ đời sống hiện thực của con người C.Mác đi đến xácđịnh tiền đề đầu tiền của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đềcủa mọi lịch sử đó là “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm

ra lịch sử” Nhưng muốn sống được thì trước hết phải có thức ăn, thức uống,nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên làviệc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất

Trong Bản thảo kinh tế triết học năm 1844, Mác chứng minh rằng conngười ngay từ đầu là một thực thể tự nhiên và điều đó có nghĩa là hoạt độngsống của con người được thực thể hóa theo hai nghĩa: Thứ nhất, nó đượcphú cho sức mạnh tự nhiên, đến chừng mực nào đó thì những vật thể tựnhiên bên ngoài được nó đồng hóa, chiếm lĩnh đến chừng mực ấy nếukhông có chúng thì con người không thể tồn tại được; Thứ hai, bởi vì nhữngsức mạnh chủ quan của con người mang tính vật thể, cho nên tác động củachúng trong hoạt động người cũng là những tác động mang tính vật thể.Trong tác phẩm này Mác dùng từ “vật thể” để chỉ “vật chất”

Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho sự tồn tại và pháttriển của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ các mặt của đờisống xã hội Tất cả các quan hệ về Nhà nước, pháp quyền, đạo đức, nghệ

Trang 12

thuật, tôn giáo…đều hình thành biến đổi trên cơ sở sản xuất vật chất Kháiquát lịch sử phát triển của nhân loại, C.Mác đã kết luận “Việc sản xuất ranhững tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp và chính mỗi giai đoạn phát triểnkinh tế nhất định của mỗi dân tộc hay một thời đại tạo ra một cơ sở, từ đó

mà người ta phát triển các thể chế Nhà nước, các quan điểm pháp quyền,nghệ thuật và thậm chí những quan niệm tôn giáo của con người ta” [14,500]

Trong quá trình sản xuất vật chất, con người không ngừng làm biếnđổi tự nhiên, biến đổi xã hội, đồng thời làm biến đổi chính bản thân mình.Sản xuất vật chất không ngừng phát triển Sự phát triển của sản xuất vậtchất quyết định sự biến đổi, phát triển các mặt của đời sống xã hội, quyếtđịnh phát triển xã hội từ thấp đến cao

Sản xuất vật chất được tiến hành trong những điều kiện tất yếu nhưmôi trường tự nhiên và dân số (bao gồm sự tăng dân số và mật độ dân cư)

Môi trường tự nhiên bao gồm những điều kiện địa lý tự nhiên (đấtđai, rừng núi, sông ngòi, khí hậu…), của cải trong tự nhiên (tài nguyên,khoáng sản, thú rừng, hải sản…) và những năng lượng tự nhiên (sức gió,sức nước, ánh sáng mặt trời…) Tất cả những cái đó đều ảnh hưởng quantrọng đến đời sống con người và tiến bộ xã hội, song mức độ ảnh hưởng củachúng đến đâu thì tùy thuộc vào trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật của conngười từng giai đoạn lịch sử, tùy thuộc vào tính chất của chế độ xã hội.Trong giai đoạn xã hội phát triển còn thấp, khi chưa có kỹ thuật, côngnghiệp cơ giới, nếu môi trường tự nhiên, trước hết là hoàn cảnh địa lí củamột nước mà phong phú có nhiều tài nguyên thì con người ở đấy tốn ít thờigian và sức lực trong việc tạo ra tư liệu sinh hoạt và tư liệu lao động cầnthiết cho đời sống và sản xuất của nước đó Ngược lại, những nơi có hoàncảnh địa lí không thuận lợi, tài nguyên nghèo nàn thì khả năng và điều kiệnphát triển sản xuất có những hạn chế và khó khăn nhất định, song con ngườivới tư cách là chủ thể tích cực, sáng tạo, với trình độ khoa học kỹ thuật ngày

Trang 13

càng phát triển thì con người có khả năng khắc phục những khó khăn củamôi trường, tạo điều kiện sản xuất với tốc độ nhanh.

Cùng với môi trường tự nhiên, dân số cũng là điều kiện cần thiết củasản xuất vật chất Mỗi một quốc gia dân tộc phải có một dân số nhất định để

có được số lượng người lao động cần thiết cho việc tổ chức sản xuất Dân

số, tốc độ phát triển dân số của một nước ít nhiều có ảnh hưởng đến sinhhoạt vật chất, đến sự tồn tại và phát triển của nước đó

Nhìn chung sản xuất vật chất có những vai trò quan trọng sau:

- Sản xuất vật chất làm cho con người thay đổi tư thế dáng đi, làm chotay chân thuần thục

- Sản xuất vật chất tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu thiết yếu củacon người

- Sản xuất vật chất gắn các cá thể người lại với nhau thành xã hội

- Sản xuất vật chất là điều kiện thuận lợi cho con người hiểu thế giớikhách quan sâu hơn, thông tin về nó nhiều hơn, vì vậy bộ não của con ngườiphát triển

- Sản xuất vật chất là điều kiện thuận lợi cho con người suy ngẫm cảitiến công cụ sản xuất, thay đổi cách thức quản lí nhằm nâng cao năng suấtlao động Vì vậy, sản xuất vật chất là nhân tố quan trọng nhất, quyết địnhnhất đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

1.1.2 Những nhân tố của quá trình sản xuất vật chất

Để tiến hành được một quá trình sản xuất vật chất, về cơ bản cần có

ba yêu tố: Hoạt động vật chất có mục đích của con người; Những tư liệu vậtchất cho chính hoạt động ấy và những đối tượng vật chất khách quan màhoạt động này hướng vào nhằm thay đổi chúng

Trong sản xuất vật chất, con người phải sử dụng các năng lực vốn cócủa mình, trước hết là những sức mạnh vật chất để tác động vào đối tượngvật chất làm thay đổi tính chất, cấu trúc, hình thái của chúng Nghĩa là, conngười phải tiến hành các quá trình trao đổi vật chất với những đối tượng

Trang 14

khách quan Những sức mạnh vật chất vốn có của mình mà con người dùng

để trao đổi với đối tượng khách quan được Mác gọi là “Năng lực thuộc vềbản chất” - cái mà ngay từ đầu giới tự nhiên đã phú cho con người và về saungày càng phát triển thêm nhờ vào lao động

Trong Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị và Tư bản, Mác chỉ

rõ năng lực đó của con người là sức lao động Vấn đề là sức lao động củacon người được sử dụng và phát huy như thế nào và ở mức độ nào trong sảnxuất vật chất, thì điều đó phụ thuộc vào mục đích nhu cầu, năng lực và trình

độ của họ, phụ thuộc vào những đối tượng, tư liệu và phương tiện hoạt độngcủa họ, phụ thuộc vào cách thức tổ chức quá trình sản xuất, phụ thuộc vàonhững điều kiện khách quan diễn ra trong quá trình sản xuất Ngoài ra, khi

đi vào quá trình sản xuất vật chất, con người không thể không đưa vào quátrình sản xuất các sức mạnh của mình như kinh nghiệm và kỹ năng laođộng, sở thích và thị hiếu, tình cảm và niềm tin Những sức mạnh này khônggiữ vai trò quyết định, song chúng luôn ảnh hưởng theo những mức độ khácnhau đến quá trình sản xuất vật chất Về sau lao động của con người ngàycàng mở rộng và nâng cao lên thì những lực lượng đó sẽ thâm nhập sâu vàosản xuất vật chất và vai trò của chúng sẽ tăng lên

Hoạt động sản xuất vật chất có những đối tượng vật chất Thông qualao động những đối tượng này sẽ thay đổi tính chất, kết cấu trạng thái và sẽtrở thành sản phẩm Những đối tượng mà con người dựa vào để cải biếnthành sản phẩm có hai nhóm, một nhóm là những đối tượng “thuần tựnhiên”, nhóm kia là những đối tượng do con người tạo ra bằng chính laođộng của mình Nhóm thứ hai ngày càng tăng lên và chiếm đa số, nhóm thứnhất ngày càng giảm đi và dần trở thành thiểu số

1.2 Kết cấu và vị trí của các yếu tố trong lực lượng sản xuất.

Khái niệm lực lượng sản xuất: “Lực lượng sản xuất là toàn bộ các lựclượng được con người sử dụng trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất

Nó bao gồm người lao động với một thể lực, tri thức, kĩ năng lao động nhất

Trang 15

định và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Trong quá trình sảnxuất, sức lao động của co người kết hợp với tư liệu sản xuất, trước hết làcông cụ lao động tạo thành lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất biểu hiệnmối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất Nó thểhiện năng lực hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất racủa cải vật chất” [ 4, 391].

Kết cấu lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất là hệ thống bao gồm các yếu tố có quan hệ tácđộng qua lại với nhau gồm người lao động và tư liệu sản xuất Bản chất củalực lượng sản xuất được thể hiện ở các đặc trưng sau:

Thứ nhất, lực lượng sản xuất là nhân tố khách quan, là nền tảng vậtchất của toàn bộ lịch sử loài người Lực lượng sản xuất được kế thừa vàphát triển liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác Mỗi một thế hệ khi mớisinh ra thích ứng với một trình độ lực lượng sản xuất nhất định, không tùythuộc vào sự lựa chọn của mình vì “lực lượng sản xuất là kết quả của nănglực thực tiễn của con người, nhưng bản thân năng lực này bị quyết định bởinhững điều kiện trong đó người ta sống, bởi những lực lượng sản xuất đãđạt được, bởi hình thái xã hội đã có trước họ, không phải do họ tạo ra mà dothế hệ trước tạo ra” [12, 430]

Thứ hai, trong mỗi nền sản xuất vật chất, lực lượng sản xuất thể hiệnmối quan hệ giữa con người với tự nhiên và hoạt động của mỗi yếu tố tronglực lượng sản xuất đều có tư cách là sự thực hiện trực tiếp hay dán tiếp mộtphương diện nào đó của mối quan hệ này Vì vậy, tính chất và trình độ củalực lượng sản xuất nói lên tính chất và trình độ chinh phục và làm chủ giới

tự nhiên của con người

Thứ ba, lực lượng sản xuất mang tính năng động, ít bền vững, dễ thayđổi và thường xuyên phát triển Sự phát triển của các nền sản xuất vật chất

là cơ sở cho sự phát triển của các chế độ xã hội trong lịch sử, và xét đếncùng là do lực lượng sản xuất quyết định

Trang 16

Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất thì người lao động giữ

vị trí hàng đầu V.I Lênin viết “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thểnhân loại là công nhân là người lao động” [12, 430] Chính con người chếtạo ra tư liệu lao động, luôn luôn cải biến và sử dụng nó để tiến hành sảnxuất Tư liệu lao động dù có ý nghĩa lớn lao đến đâu nhưng nếu không đượccon người sử dụng thì không thể phát sinh tác dụng, không thể trở thành lựclượng sản xuất có ích cho xã hội Do đó “Lực lượng sản xuất là lực lượngcủa bản thân con người và trình độ của lực lượng sản xuất cũng chính làtrình độ phát triển của chính bản thân con người, là sự phát triển năng lựclàm chủ tự nhiên xã hội và bản thân con người qua các giai đoạn lịch sửkhác nhau” [5, 84] Trình độ đó không chỉ tồn tại trong bản thân con người(trí tuệ, tinh thần, kĩ năng) dưới dạng tiềm năng mà còn được vật hóa biểuhiện ra ở các công cụ, phương tiện sản xuất và nhất là trong hoạt động sảnxuất đạt được mục đích thực tiễn của con người Do đó, cần làm chủ đượcnhững sức mạnh tự nhiên, xã hội và bản thân thì trình độ của lực lượng sảnxuất của con người càng cao Nghĩa là hiệu quả của sản xuất của con ngườingày càng cao

Qua các thời đại khác nhau, trình độ phát triển của người lao độngđược phản ánh thông qua sự phát triển của quá trình nhận thức và cải tạogiới tự nhiên của con người thông qua sự phát triển của công cụ lao động.Trong thời đại ngày nay, phát triển nguồn lao động đóng vai trò quan trọngđối với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta Sau hơn hai mươinăm đổi mới và từng bước hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực Việt Nam có

sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Đất nước hiện nay có độingũ nhân lực khá dồi dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.Tính đến hết năm 2007, cả nước có trên 44 triệu lao động trên tổng số 85triệu dân, đứng thứ hai trên khu vực và đứng thứ mười ba trên thế giới vềquy mô dân số Việt Nam là một trong số ít quốc gia trong khu vực có tỷ lệ

về cơ cấu độ tuổi của dân số và lao động khá lý tưởng (trên 50% số dân

Trang 17

trong độ tuổi từ 15 - 60 (độ tuổi lao động), trong đó 45 % trong tổng số laođộng dưới độ tuổi 54) Đây là yếu tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế xãhội

Về chất lượng, việc đặt mục tiêu xây dựng và phát triển một nền giáodục hướng về cộng đồng với sự tham gia đóng vai trò chủ đạo và quản lýchặt chẽ của Nhà nước đã góp phần nâng cao mặt bằng dân trí cho mọi tầnglớp nhân dân Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trong khu vực có tỷ

lệ người lớn biết chữ và trẻ em trong độ tuổi đến trường khá cao Lực lượnglao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đã tăng từ 7,6 % (1986) lên gần

30 % (2007) Người lao động Việt Nam có những phẩm chất tốt đẹp nhưthông minh, cần cù, chịu khó, khả năng nắm bắt các kỹ năng lao động, đặcbiệt là kỹ năng sử dụng các công nghệ hiện đại tương đối nhanh Đây là lợithế cạnh tranh quan trọng của nguồn nhân lực nước nhà trong quá trình hộinhập và tham gia thị trường lao động quốc tế Tuy nhiên so với yêu cầu củaquá trình phát triển nền kinh tế đất nước trong bối cảnh có sự hội nhập quốc

tế ngày càng sâu rộng, thì trên thực tế chất lượng nguồn nhân lực nước tahiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế

Sau hơn ba mươi năm tiến hành công nhiệp hóa, vẫn còn khoảng

78 % lao động cả nước thuộc lĩnh vực nông nghiệp, và các nguồn lao độngphần lớn chưa qua đào tạo nghề Tỷ lệ học sinh, tỷ lệ các trường trung học,đại học, tỷ lệ tốt nghiệp đại học, tỷ lệ các học vị tiến sỹ trên triệu dân củanước ta đều cao hơn tất cả các nước có mức thu nhập bình quân theo đầungười tương đương, nhưng chất lượng có nhiều vấn đề Điều tra của Bộ giáodục và đào tạo cho thấy, cả nước có tới 63 % sinh viên ra trường không cóviệc làm, 37% số còn lại có việc làm thì hầu hết phải đào tạo lại mà cónhiều người không làm đúng ngành mình học…Theo điều tra diễn đàn kinh

tế thế giới (WEF) năm 2005, nguồn nhân lực Việt Nam được xếp hạng53/59 quốc gia được khảo sát và mất cân đối nghiêm trọng Ở Việt Nam cứ

Trang 18

1 cán bộ tốt nghiệp đại học có 1,16 cán bộ tốt nghiệp trung cấp và 0,92 côngnhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này ở thế giới là 1,4 và 10

Theo một hướng điều tra khác cũng cho thấy mức độ sẵn sàng thamgia vào sân chơi thế giới của người lao động nước ta còn hạn chế Kết quảcuộc thăm dò ý kiến trên báo điện tử VnExpress mới đây cho thấy, chỉ 8,6

% độc giả trả lời rằng họ hiểu rất rõ về tổ chức thương mại thế giới (WTO),

và tiến trình gia nhập của Việt Nam, 28,5 % nói hiểu tương đối, 41,2 % nóihiểu lơ mơ, số còn lại không hiểu và thậm chí không quan tâm đến vấn đềnày Trước thực trạng về nguồn nhân lực Việt Nam và yêu cầu hội nhậpquốc tế, một yêu cầu cấp bách đặt ra là phải có những giải pháp cụ thể choviệc phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cả về số lượng và chất lượng nhằmthúc đẩy kinh tế xã hội của đất nước một cách vững chắc

Tư liệu sản xuất:

Tư liệu sản xuất là những cái dùng trong sản xuất, điều kiện vật chấtcủa sản xuất [7, 13] Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượnglao động

Tư liệu lao động là một hay nhiều hệ thống vật thể làm khâu trunggian truyền tải sức lao động từ con người lên đối tượng lao động nhằm biếnđổi đối tượng lao động thành sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của con người.Trong tư liệu lao động gồm có công cụ lao động và các phương tiện khác hỗtrợ cho con người khi sử dụng công cụ cũng như khi tiến hành lao động nóichung Trong tư liệu lao động thì công cụ lao động là thành phần quan trọngnhất, bởi đây là nơi tập trung nhất sức mạnh của tư liệu lao động, cái truyềntải sức lao động trực tiếp nhất đến với đối tượng Vì vậy, trong quá trình sảnxuất con người không ngừng đúc kết kinh nghiệm của mình cải tiến công cụlao động để nâng cao năng suất và tạo ra nhiều thành phẩm cho xã hội.Công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất của lực lượng sảnxuất Sự phát triển của công cụ lao động là nguyên nhân sâu xa làm biến đổi

xã hội C.Mác cho rằng: “Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh

Trang 19

chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản côngnghiệp” [16, 187] Hay trong Tư bản, Mác viết: “Những thời đại kinh tếkhác nhau không phải là ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúngsản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” [13, 388].

Đối tượng lao động “Là những vật bị lao động của con người tácđộng trong quá trình lao động sản xuất” [7, 13] Đối tượng lao động hay cònđược gọi là toàn bộ những vùng của tự nhiên được con người đưa vào sảnxuất Nó trước hết là những cái có sẵn trong tự nhiên, loại này con người chỉcần dùng lao động tác động vào để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Nhữngcái không có sẵn buộc con người phải tìm mọi cách để tạo ra nó như: Sợitổng hợp, vật liệu xây dựng, các hóa chất, loại này thông qua lao động sángtạo của con người để cải biến ít nhiều phục vụ cho sản xuất Xã hội ngàycàng phát triển nhu cầu của con người ngày càng tăng điều này tỉ lệ nghịchvới những sản vật có sẵn trong tự nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt Khi màmôi trường tự nhiên mất cân bằng buộc con người phải tìm mọi cách chế tạo

ra những điều kiện nhân tạo để phục vụ cho quá trình sản xuất Vậy, đốitượng lao động rất phong phú, thông qua đối tượng lao động ta có thể biếtđược sức sáng tạo của con người Sự phong phú của đối tượng lao động làđiều kiện thuận lợi để con người tác động, khai thác tạo ra những vật chấtmới cho xã hội loài người

Mọi đối tượng lao động đều bắt nguồn từ tự nhiên nhưng không phảimọi yếu của tự nhiên đều là đối tượng lao động Bởi vì chỉ những yếu tố tựnhiên nào mà do con người tác động trong quá trình sản xuất nhằm biến đổi

nó phù hợp với mục đích của mình mới gọi là đối tượng lao động Để đảmbảo cho quá trình sản xuất vật chất của xã hội loài người diễn ra thườngxuyên và ổn định thì con người cần phải nâng cao ý thức bảo vệ môi trường,bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Hiện nay vấn đề mất cân bằng hệ sinh tháiđang là vấn đề nóng bỏng, vì thế con người không nên chỉ thấy những

Trang 20

nguồn lợi trước mắt mà khai thác bừa bãi môi trường tự nhiên trong khithiệt hại về sau thì vô cùng khủng khiếp.

Điều đó có ý nghĩa là khoa học đã phát triển tới mức trở thành điểmxuất phát trực tiếp cho những biến đổi to lớn trong kỹ thuật sản xuất và tạo

ra những ngành sản xuất mới đồ sộ Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiệnđại đã kết hợp với khoa học và kỹ thuật thành một thể thống nhất khôngtách biệt được Khoa học lại đề ra hàng loạt phương tiện kỹ thuật và quátrình công nghệ mới về chất lượng trong sản xuất Trước kia khoa học chủyếu là tổng kết từ thực nghiệm và sản xuất trực tiếp Nhưng ngày nay, việcnghiên cứu khoa học dẫn đến tạo ra kỹ thuật sản xuất, ngược lại muốn giảiquyết những vấn đề kỹ thuật sản xuất đòi hỏi phải nghiên cứu cơ bản từkhoa học Tri thức khoa học được vật chất hóa, được kết tinh vào mọi nhân

tố của lực lượng sản xuất Tri thức khoa học bao hàm trực tiếp trong hoạtđộng của người lao động sản xuất dần dần chiếm địa vị chỉ đạo thay chothói quen và kinh nghiệm thông thường Người lao động sản xuất tiến lênvận dụng tri thức khoa học để điều khiển, kiểm tra quá trình sản xuất, đềxuất sáng kiến, sử dụng hợp lý thiết bị, nguyên liệu, năng lượng và để tổchức hoạt động của mình một cách hiệu quả nhất Chức năng của con ngườitrong quá trình sản xuất đã và sẽ có những biến đổi to lớn, con người khôngcòn là nhân tố thao tác trực tiếp trong hệ thống kỹ thuật mà chủ yếu là sángtạo điều khiển quá trình đó “Khoa học không còn đứng ở bên ngoài sảnxuất mà chuyển thành một mắt khâu bên trong, thống nhất chặt chẽ vớinhững mắt khâu khác trong lực lượng sản xuất” [1, 28] Chúng ta sẽ thấyđiều này ở sự thâm nhập mạnh mẽ của khoa học vào lĩnh vực kỹ thuật thế

kỷ XX Sử dụng những kết quả của vật lý, hóa học, người ta đã cải tiến kỹthuật thăm dò và khai thác dầu khí, cung cấp nguồn năng lượng cho côngnghiệp hiện đại Thành tựu của vật lý nguyên tử, vật lý hạt nhân đã được sửdụng để tạo ra kỹ thuật khai thác nguồn năng lượng nguyên tử, chế tạo bom

A, bom H Kết quả nghiên cứu nhiệt động học, cơ học lượng tử, vật lý chất

Trang 21

rắn được sử dụng và chế tạo động cơ phản lực, làm thay đổi căn bản kỹthuật vận tải như chế tạo máy bay hiện đại, các vệ tinh và tàu vũ trụ Ứngdụng sinh học vào kỹ thuật tạo giống, chế tạo phân bón, thuốc trừ sâu Ứngdụng sinh học vào phát hiện ra bệnh hiểm nghèo và điều trị nó Vậy sự thâmnhập ngày càng sâu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã làm cho lựclượng sản xuất có bước nhảy vọt, tạo thành cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện đại.

Như vậy, các yếu tố trong lực lượng sản xuất đều có vị trí và vai trònhất định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, trong đó người laođộng là lực lượng sản xuất hàng đầu Cùng với người lao động, công cụ laođộng đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất Ngày nay, với sự thâmnhập ngày càng sâu rộng của tri thức khoa học vào trong sản xuất tạo cholực lượng sản xuất có bước phát triển mới về chất so với trước đây

1.3 Vai trò của nhân tố người trong việc phát triển của lực lượng sản xuất.

1.3.1 Quan niệm của triết học Mác- Lênin về con người và nhân tố người trong lực lượng sản xuất.

Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề con người và nhân tố ngườitrong lực lượng sản xuất Tuy nhiên, vấn đề này chỉ được hiểu đúng đắn vàkhoa học trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, khi con người khôngđược hiểu theo một cách chung chung, trừu tượng

Quan niệm của triết học Mác Lênin về con người: Chủ nghĩa Mác Lênin cho rằng con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hộiđồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh Con người trong quá trình tồn tạikhông chỉ tác động vào tự nhiên mà con người còn quan hệ với nhau tạo nênbản chất con người, làm cho con người khác với con vật “Bản chất của conngười không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trongtính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ

-xã hội” [15, 11]

Trang 22

Quan niệm về nhân tố người trong lực lượng sản xuất: Nhân tố ngườitrong lực lượng sản xuất hay nguồn lực con người là “Tổng thể những nhân

tố thuộc về chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xãhội tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng,phát huy trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước và trong hoạtđộng xã hội” [3, 271-272]

Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhân tố người,trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh đã khẳng định

“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hộichủ nghĩa” [20, 310] Trong đời sống xã hội, thực tiễn vận dụng sáng tạo vàkhoa học chủ nghĩa Mác - Lênin về con người tại hội nghị lần thứ tư củaban chấp hành Trung ương khóa VII đề ra nghị quyết và thông qua nghịquyết về việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là “Độnglực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa

xã hội” Đó là con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Bởi lẽ người lao động nước

ta đóng vai trò ngày càng quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

và trong sự phát triển nền kinh tế đất nước theo cơ chế thị trường, dưới sựquản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì chất lượng củangười lao động là nhân tố quyết định Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII của Đảng khẳng định “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huynguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợicủa công cuộc đổi mới đất nước” Thực tiễn đã chứng minh xã hội ta hiệnnay tình trạng mất hài hòa về sự phát triển của bản thân mỗi cá nhân Cánhân phải được phát triển toàn diện và hài hòa về đạo đức, trí tuệ, thể lực làmục tiêu xây dựng con người trong chủ nghĩa xã hội, nhưng mục tiêu cơbản và quan trọng hơn cả là vấn đề con người phải trở thành nhân tố quyếtđịnh lịch sử xã hội và lịch sử của chính mình

1.3.2 Con người – nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất.

Trang 23

Như đã trình bày trong phần kết cấu và vị trí của các nhân tố tronglực lượng sản xuất, ở đó đã khẳng định lực lượng sản xuất hàng đầu làngười lao động Mọi thành tố cấu thành trong lực lượng sản xuất đều có vịtrí và vai trò nhất định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, nếu thiếumột trong những nhân tố đó thì lực lượng sản xuất sẽ không được duy trì vàphát triển Xét trong mối quan hệ giữa nhân tố con người với những thành

tố cấu thành lực lượng sản xuất ta thấy:

Nhân tố người trong mối quan hệ với tư liệu sản xuất thì: Con ngườivới tư cách là chủ thể, các yếu tố cấu thành tư liệu sản xuất là khách thể Ởđây con người đóng vai trò quyết định, bởi vì: Con người là chủ thể sáng tạo

ra mọi giá trị của cải vật chất, tinh thần của xã hội, trong đó có sự sáng tạo

ra những tư liệu sản xuất Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học

kỹ thuật, sự ra đời của những máy móc thiết bị hiện đại Trước tình hình đó

đã không có ít luận điểm xuyên tạc vai trò của con người, họ cho rằng conngười đã mất chỗ đứng, thay vào đó là khoa học kỹ thuật Quả thật khoa học

có phát triển, nhưng không vì thế mà làm lu mờ đi vai trò của con ngườitrong quá trình sản xuất vật chất cho xã hội Nói như vậy, không phải ở đây

ta bác bỏ sự tác động trở lại của tư liệu sản xuất đối với nhân tố con người.Con người là nhân tố sáng tạo, quyết định song tư liệu sản xuất đóng vai tròchi phối, trong một số trường hợp còn gây ảnh hưởng lớn đến nhân tố conngười Con người không thể tự tìm ra hay trực tiếp biến các sản phẩm của tựnhiên thành sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống ngày càng cao củamình được Trong Tư bản Mác chỉ ra rằng “Một hàng hóa bất kỳ luôn có sựkết tinh bên trong nó sức lao động của con người, nhưng nếu mổ xẻ hànghóa này ra thì ta không thể nhìn thấy một gam hay một tinh thể sức lao độngnào ở trong đó Cho nên, sức lao động không tự hoạt động để đến với đốitượng được nếu thiếu tư liệu lao động” [25, 44 ]

Ngày nay, việc nhìn nhận vai trò của con người và tư liệu sản xuấttrong sự phát triển của lực lượng sản xuất đóng vai trò vô cùng quan trọng,

Trang 24

do đó cần phải thường xuyên theo dõi và đánh giá một cách khách quan vaitrò của hai yếu tố này Có như vậy mới đảm bảo phát huy một cách tốt nhất

sự phát triển của lực lượng sản xuất trong xã hội

Xét nhân tố người trong mối quan hệ với đối tượng lao động: Trongmối quan hệ này, một bên là đối tượng khai thác, một bên là chủ thể của sựkhai thác

Môi trường tự nhiên bản thân nó rất phong phú, tuy nhiên tự bản thân

nó không thể sáng tạo ra các giá trị mới đáp ứng cho cuộc sống xã hội củacon người Chỉ có người lao động với tiềm năng trí tuệ của mình đã tìm mọicách tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên để xây dựng cho mình cuộcsống đầy đủ hơn Như Mác đã nói: Giới tự nhiên không chế tạo ra bất kỳmáy móc nào, không chế tạo ra xe hơi, đường sắt, điện báo, máy dệt chúng

là sản phẩm lao động của con người Vậy, trong mối quan hệ này, nhân tốcon người đóng vai trò quan trọng và quyết định nhất, là chủ thể của sự sángtạo ra những giá trị vật chất Con người đã vượt lên trên tất cả để khẳngđịnh vị thế cao nhất của mình trong mối quan hệ với tự nhiên Mức độ chinhphục giới tự nhiên trong sản xuất của con người chứng tỏ con người đãquyết định đến tính chất và mức độ phát triển của các thành tố trong lựclượng sản xuất

Với lao động, con người không những có được sự đáp ứng về mặt vậtchất cho các nhu cầu của con người mà còn giúp con người giải phóng mộtphần nào đó sự lệ thuộc của con người vào tự nhiên Bằng chứng là conngười đã chế tạo ra những máy móc trang thiết bị hiện đại để nghiên cứumôi trường tự nhiên, từ đó có thể tránh được những tác động xấu mà môitrường tự nhiên gây ra Con người có thể dự báo được hướng đi của bão, sựtăng lên của mức nước lũ và những diễn biến phức tạp của nó Từ những

dự báo đó con người sẽ tìm mọi cách để phòng tránh được thiệt hại lớn nhất

về sức người cũng như sức của

Trang 25

Trong các nguồn lực có thể khai thác được như: Nguồn lực tự nhiên;nguồn lực khoa học công nghệ; nguồn vốn, thì nguồn lực con người là quyếtđịnh nhất Bởi lẽ, những nguồn lực khác chỉ có thể được khai thác hiệu quảkhi nguồn lực con người được phát huy Chúng ta biết rằng, điều kiện tựnhiên, khí hậu, địa lý, nguồn vốn có vai trò quan trọng trong một quốc gia,song những yếu tố đó ở dưới dạng tiềm năng, tự chúng là những khách thể “bất động”, chúng chỉ trở thành nhân tố “khởi động” và phát huy tác dụngkhi kết hợp với nguồn lực con người Nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt,ngược lại nguồn lực con người ngày càng đa dạng và phong phú.

Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, ngoại trừ conngười, những thành tố khác trong lực lượng sản xuất ngày càng lỗi thời, tấtyếu phải thay thế cho phù hợp với quá trình sản xuất, chỉ có bản thân conngười mới làm được điều đó Con người cải tiến công cụ lao động, conngười làm biến đổi giới tự nhiên Như đã trình bày ở trước, công cụ laođộng là yếu tố động nhất trong tư liệu sản xuất, nó thường xuyên thay đổi,

sự thay đổi thường xuyên đó thể hiện vai trò của nhân tố người Sự pháttriển của lực lượng sản xuất xét một cách sâu xa thì đó là sự phát triển củacon người Vì vậy, “Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sửthể hiện trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch

sử đó” [4, 394]

Vai trò quyết định của nhân tố người trong lực lượng sản xuất cònđược thể hiện ở khả năng sáng tạo vô tận của con người Với quá trình laođộng ngày càng phức tạp, đòi hỏi ngày càng cao thì sự đáp ứng của conngười ngày một đầy đủ hơn Con người dường như chưa bao giờ biết mệtmỏi, luôn lao động, sáng tạo ra những cái mới Nếu ở thời điểm này, tronglĩnh vực sản xuất con người chưa nhận thức một cách đầy đủ nên trong quátrình sản xuất cho ra năng suất thấp, con người không dừng lại ở đó, họ luôntìm mọi cách để cải tiến quá trình sản xuất, nâng cao năng suất lao động.Con người chưa bao giờ chịu bất lực bởi khả năng vô tận của chính bản thân

Trang 26

mình Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất là nguồn tài nguyên vôtận, nó là cơ sở cho nền sản xuất xã hội phát triển, cải tạo năng lực sản xuấthiện tại và thay thế vào đó một trình độ sản xuất xã hội tiến bộ hơn.

Ngày nay, khoa học đã trở thành một bộ phận quan trọng hàng đầucủa lực lượng sản xuất, tuy nhiên vai trò của con người trong lực lượng sảnxuất không vì thế mà bị xem nhẹ Nhân tố người trong lực lượng sản xuấtvẫn là nhân tố hàng đầu và quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, khôngthể thay thế Vai trò quyết định của nhân tố người trong lực lượng sản xuấtcòn được thể hiện ở khả năng sáng tạo vô tận của con người Khoa học kỹthuật có phát triển như thế nào đi chăng nữa mà thiếu sự điều khiển củanhân tố người thì cũng không thể tiến hành quá trình sản xuất được Do đótrước sự phát triển của khoa học kỹ thuật chúng ta phải có cái nhìn kháchquan, sáng suốt, đừng quá đề cao vai trò của kỹ thuật mà xem nhẹ nhân tốcon người Trong bất kỳ hoàn cảnh nào bản thân người lao động vẫn là chủthể của quá trình sản xuất

Từ việc phân tích vai trò của nhân tố người trong lực lượng sản xuất

và thấy được rằng nhân tố người là nhân tố quan trọng nhất trong lực lượngsản xuất sẽ giúp chúng ta biết đầu tư phát triển nhân tố người một cách hiệuquả tạo ra động lực phát triển chung cho lực lượng sản xuất Lực lượng sảnxuất là nền tảng vật chất kỹ thuật của mỗi chế độ xã hội Sự phát triển củalực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển, thay thế lẫn nhaugiữa các chế độ xã hội Vì vậy, trong quá trình đầu tư phát triển lực lượngsản xuất ta phải biết đầu tư đúng mức các thành tố trong lực lượng sản xuất,cần phát huy một cách tối ưu nhất nhân tố người Đối với nước ta hiện naytrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì vấn đề phát huynhân tố con người là yêu cầu cấp thiết, có đào tạo nguồn lực con người,nâng cao trình độ trí tuệ của họ thì mới có thể đảm bảo thực hiện được mụctiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà Đảng và Nhà nước ta đề ra là xâydựng cuộc sống của nhân dân ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc

Trang 27

Tổng kết chương 1:

Hành vi lịch sử đầu tiên của con người là sản xuất vật chất, sản xuấtvật chất đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Sản xuất vật chấtđược tiến hành trong những môi trường tất yếu như tự nhiên, dân số Trongquá trình sản xuất vật chất con người không ngừng làm biến đổi tự nhiênbiến đổi xã hội, đồng thời làm biến đổi bản thân mình Sản xuất vật chấtkhông ngừng phát triển, sự phát triển của sản xuất vật chất quyết định sựbiến đổi của các mặt của đời sống xã hội, quyết định sự phát triển xã hội từthấp đến cao

Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất kỹ thuật của xã hội Trong lựclượng sản xuất bao gồm hệ thống các yếu tố cấu thành nó như người laođộng, tư liệu sản xuất, trong đó người lao động là nhân tố trung tâm và quantrọng nhất Không có con người lực lượng sản xuất không thể phát huyđược vai trò sức mạnh của nó, cũng như không có vai trò sáng tạo của conngười thì các yếu tố của lực lượng sản xuất sẽ không có được Con ngườiđóng vai trò trung tâm vậy việc nhìn nhận và đầu tư nhân tố con người trởthành một trong những ưu tiên và là cơ sở cho sự phát triển sản xuất cho xãhội Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học con người được giảiphóng một phần nào đó sức lao động của mình, tuy nhiên không vì thế mà

hạ thấp vai trò của con người

Vậy vấn đề cấp thiết hiện nay là phải đầu tư vào việc phát triển nhân

tố người trong lực lượng sản xuất Đối với địa phương có nền kinh tế kémphát triển như huyện Tiên Phước tỉnh Quảng Nam thì việc phát triển nhân tốngười hiện nay là điều kiện quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất

CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NHÂN TỐ NGƯỜI - ĐIỀU KIỆN QUYẾT ĐỊNH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

Trang 28

2.1 Một vài nét về huyện Tiên Phước.

* Vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên:

Tiên phước là một huyện miền núi phía Tây tỉnh Quảng Nam, cáchthành phố tỉnh lỵ Tam Kỳ 27 km về hướng Đông, phía Nam giáp huyện BắcTrà My, phía Bắc giáp huyện Thăng Bình, phía Tây giáp huyện Hiệp Đức,phía Đông giáp huyện Phú Ninh

Tọa độ địa lý được giới hạn bởi vĩ tuyến 15021’ đến 15036’ vĩ độ Bắc

và kinh tuyến từ 10804’ đến 108027’56’’ kinh Đông

Huyện có 14 xã miền núi và một thị trấn, trung tâm huyện lỵ đặt tạithi trấn Tiên Kỳ nằm trên tỉnh lộ ĐT 616, là cầu nối giữa tỉnh lỵ Tam Kỳvới huyện Bắc Trà My Vì vậy thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa

và hỗ trợ nhau giữa các huyện đồng bằng và miền núi của tỉnh Quảng Namtrong công cuộc xây dựng phát triển cũng như đảm bảo an ninh quốc phòng

Do sự chi phối của địa hình nên khí hậu của huyện Tiên Phước mangđặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lại có đặc điểm chuyển tiếpgiữa vùng núi và đồng bằng nên mùa mưa thường đến sớm ở miền núi hơnđồng bằng Nhiệt độ bình quân năm 250C, cao nhất 400C, thấp nhất 180C,tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng 5, 6 Lượng mưa trung bìnhnăm là 2200 - 2600mm Độ ẩm bình quân năm là 84,4 % Gió mùa thịnhhành về mùa Đông theo hướng Tây Bắc - Bắc, gió thịnh hành về mùa Hạtheo hướng Tây Nam - Nam Diện tích đất tự nhiên là 45.322 ha với dân sốhiện nay khoảng 75.001 người

Tài nguyên thiên nhiên của huyện Tiên Phước rất đa dạng, đặc biệt là

hệ thực vật rừng có các loại gỗ quý như Lim, Chò, Huỹnh, Sơn Huyết, Gõ,Dỗi; Có các loại dược liệu quý như Sa Nhân; Có các loại động vật hoang dãquý hiếm như Voi, Gấu, Nai

Tiên phước được đánh giá không chỉ là miền của những ngôi nhà cổrêu phong, trầm mặc, những lối mòn ngõ đá những thắng cảnh thiên nhiênđẹp đến nao lòng Tiên Phước còn là vùng đất có truyền thống văn hóa lâu

Trang 29

đời Những trầm tích của văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện trên đôi bờ sôngTranh, sông Tiên đã phát họa sơ lược bức tranh thời tiền sử ở vùng TiênPhước Sông Tiên tuy không phải là con sông lớn của tỉnh Quảng Namnhưng sông Tiên đã đi vào ca dao thơ mộng:

“ Sông Tiên nước chảy đôi đường,

Ai về nhắn bậu người thương vẫn chờ”.

Nơi đây là minh chứng cho sự tồn tại của những người cổ trên địa bàn củahuyện Tiên Phước cách ngày nay 2000 - 2500 năm, cùng với những ngườidân vùng đồng bằng, họ đã để lại một nền văn hóa nổi tiếng - văn hóa SaHuỳnh ở giai đoạn sơ kỳ đồ đá

* Con người Tiên Phước.

Vùng đất Tiên Phước là nơi sản sinh ra nhiều tộc người, trước kia cóngười Chăm, thị tộc Karikelavamca cư trú ở phía Đông từ Quán Rầm

(thôn 3 Tiên Thọ) ngang qua Địch Tây đến Eo Gió (Tiên Cẩm), ngườithượng thị tộc Keratas, trong đó có bộ tộc Dvach cư trú phía Tây Nam và bộtộc Plich cư trú phía Tây Bắc của huyện Hiện nay trên địa bàn huyện ngườiKinh chiếm đa số, ngoài ra còn có đồng bào dân tộc Kor sinh sống ở hai xãTiên An và Tiên Lập

Tiên Phước tự hào mà mảnh đất đã sinh ra các bậc đại khoa, mộttiếng sỹ, ba phó bảng và nhiều nhà yêu nước khác, trong đó điển hình nhưHuỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Lê Cơ, Trần Huỳnh, Lê Vĩnh Huy.Những nhân vật lịch sử này nổi tiếng với lòng yêu nước thương dân, đâycũng chính là niềm tự hào của người dân Tiên Phước Nếu như trong thờichiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Tiên Phước đã tích cực thamgia cách mạng Tiên Phước là hậu phương lớn của Liên khu V và Đông BắcCampuchia, cung cấp nhiều sức người sức của cho sự nghiệp cách mạng.Khi kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, hàng ngànngười dân Tiên Phước đã đi dân công hỏa tuyến, vận chuyển súng đạn,thuốc men, lương thực, thực phẩm hàng ngàn thanh niên trai tráng ở trong

Trang 30

huyện cũng tham gia Vệ quốc đoàn Trong kháng chiến chống Mỹ Đảng bộhuyện và nhân dân Tiên Phước vừa tổ chức chiến đấu, vừa xây dựng lựclượng vũ trang về mọi mặt, giữ vững địa bàn hoạt động, đánh bại chiến dịch

“tràn ngập lãnh thổ” của địch Với sự nỗ lực đó ngày

10/ 03/ 1975 Tiên Phước hoàn toàn giải phóng Thì trong thời bình nhân dântiên phước đã không ngừng tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế xã hội đạtđược những kết quả đáng khích lệ

Do hoàn cảnh địa lý và lịch sử đã hình thành ở con người Tiên Phướccác đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo, nhanh nhẹn tiếp thu cái mới, ứngdụng mạnh mẽ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhờ đó những tiềm năng củahuyện ngày càng được khai thác có hiệu quả, khẳng định được thế mạnh củahuyện trong sự nghiệp phát triển chung của tỉnh Quảng Nam

* Tình hình kinh tế xã hội:

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cán bộ và nhân dân huyện TiênPhước cùng chung tay góp sức xây dựng quê hương và đạt được nhữngthành tựu rất quan trọng Trong công cuộc đổi mới, dưới ánh sáng của Nghịquyết Trung Ương Đảng, Đảng bộ tỉnh, Tiên Phước đã bám sát tình hình cụthể của địa phương, xác định đúng đắn phương hướng, mục tiêu phát triểncho từng chặng đường, phát huy tiềm năng thế mạnh của huyện nhà, đẩymạnh phát triển kinh tế xã hội, cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân Trên lĩnh vực nông nghiệp, với chủ trương phát triểnnông lâm toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, thực hiện chuyển đổi cơcầu cây trồng vật nuôi, áp dụng mạnh mẽ tiến bộ khoa học kỹ thuật vàotrong sản xuất đã nâng cao dần trình độ sản xuất của nhân dân Thực hiệngiao quyền sử dụng đất lâu dài cho nhân dân, phát triển giao thông, thủy lợi

đã thiết thực khơi thông sản xuất Năng suất cây trồng, vật nuôi tăng nhanh

Đã biến huyện Tiên Phước từ một huyện thiếu đói đến nay đã đủ ăn vềlương thực Phong trào phát triển chăn nuôi, kinh tế vườn, kinh tế trang trạingày càng mở rộng quy mô, tăng diện tích, đi đôi với chú trọng đưa tiến bộ

Trang 31

khoa học kỹ thuật, giống mới vào sản xuất tăng đáng kể năng suất, chấtlượng cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị trên đơn vị diện tích Toàn huyện,hàng chục trang trại đạt tiêu chí với diện tích hàng trăm ha, trồng mới hơn7.000 ngàn ha rừng, cải tạo, mở mới trên 5000 ha vườn nhà, vườn đồi thànhvườn có hiệu quả kinh tế Tổng đàn gia súc gần 60.000 con Bằng việc cụthể hóa cơ chế khuyến khích sản xuất kinh doanh đã thu hút các thành phầnkinh tế đầu tư phát triển mở rộng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp,thương mại, dịch vụ, đưa giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp tăng bìnhquân mỗi năm 25 %, đến nay đạt gần 20 tỷ đồng Hệ thống cơ sở hạ tầngđược đầu tư xây dựng, tạo tiền đề và năng lực thúc đẩy phát triển kinh tế,văn hóa, xã hội Mạng lưới điện quốc gia đã hạ thế phục vụ sản xuất sinhhoạt ở tất cả các thôn xóm, tỷ lệ hộ dùng điện 90 % Lĩnh vực đầu tư xâydựng mạng lưới giao thông phát triển rất nhanh …Sự phát triển tiến bộ vượtbậc trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội tạo radiện mạo nông thôn Tiên Phước ngày càng văn minh hiện đại.

Quy mô nền kinh tế huyện nhà năm 2010 so với năm 2006 tăng gấp1,49 lần như vậy tăng bình quân hàng năm là 10,48% Trong đó: Nông, lâm,thủy sản tăng 1,24 lần; công nghiệp, xây dựng tăng 2,61 lần; dịch vụ tăng1,39 lần Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 là 323.000 đồng/người,đến năm 2009 tăng lên 560.000 đồng/người [9, 4]

* An ninh quốc phòng:

Để đảm bảo cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội, trong lãnh đạo,chỉ đạo của các cấp ủy đảng luôn quán triệt quan điểm gắn nhiệm vụ quốcphòng - an ninh với phát triển kinh tế xã hội Công tác giáo dục nâng caotinh thần cảnh giác cách mạng, chống diễn biến hòa bình của các thế lực thùđịch được xem là nhiệm vụ trọng tâm, kết hợp với cũng cố, xây dựng thếtrận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, cũng cố tổ chức, nângcao chất lượng dân quân tự vệ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, giữ vữngtrật tự an toàn trên địa bàn huyện

Ngày đăng: 30/12/2013, 21:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu học sinh ở huyện Tiên Phước năm 2010 [23,141] - Phạm trù nhân của khổng tử với sự nghiệp trồng người ở việt nam hiện nay
Bảng s ố liệu học sinh ở huyện Tiên Phước năm 2010 [23,141] (Trang 37)
Bảng số liệu hộ nghèo trên địa bàn huyện Tiên Phước năm 2010[23,   145]. - Phạm trù nhân của khổng tử với sự nghiệp trồng người ở việt nam hiện nay
Bảng s ố liệu hộ nghèo trên địa bàn huyện Tiên Phước năm 2010[23, 145] (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w