Theo Điều 16, Luật chuyển giao công nghệ: “Trường hợp công nghệ là đốitượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu côngnghệ phải được thực hiện cùng với v
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 3MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
I NHẬN THỨC CHUNG VỀ LI XĂNG 3
1 Các khái niệm 3
2 Hợp đồng Li xăng 3
3 Phân loại Li xăng 4
4 Nội dung hợp đồng Li xăng 5
5 Vai trò của việc chuyển giao Li xăng 7
II NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN LI XĂNG 9
1 Vấn đề về cơ sở pháp lý 9
2 Vấn đề phát sinh trong thực tế ký kết và thực hiện li xăng 11
3 Những vấn đề cần lưu ý khi thực hiện và ký kết và thực hiện li xăng 17
III MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM HẠN CHẾ CÁC VẤN ĐỀ PHÁT SINH KHI KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LI XĂNG 18
1 Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước 18
2 Về phía các doanh nghiệp 20
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do thực hiện đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển giao li xăng là một trong những chiếnlược quan trọng trong việc khai thác và thương mại hóa các tài sản sở hữu trí tuệ nhưsáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu…Cùng với điều đó đốivới bên mua thì việc chuyển giao công nghệ, li xăng là phần không thể tách rời đảmbảo khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, việc định giá tài sản trí tuệ trong việc chuyểngiao, li xăng cũng như phương thức đàm phán, soạn thảo các Hợp đồng liên quan lại làvấn đề hết sức phức tạp và đòi hỏi có chuyên môn sâu về Luật pháp, kiến thức về Luật
sở hữu trí tuệ, và các kinh nghiệm về tranh chấp, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu những vấn đề liên quan đến hợp đồng li xăng, cácbước cần chuẩn bị trong việc ký kết và thực hiện li xăng, các yếu tố cần quan tâm đểđảm bảo tính pháp lý của hợp đồng li xăng Tăng cường sự hiểu biết về pháp luật trongkinh doanh, nhóm G11-QTKD K6.2 quyết định chọn: “Những vấn đề đặt ra trong việc
ký kết và thực hiện li xăng” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích của đề tài
Tìm hiểu thực trạng việc ký kết và thực hiện li xăng Từ đó đưa ra những đánhgiá nhận xét và đề xuất để đảm bảo tính pháp lý, nâng cao hiệu quả trong việc thỏathuận và đàm phán li xăng
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các điều khoản trong ký kết và thực hiện lixăng
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các thủ tục ký kết, đăng ký, giải quyết tranhchấp li xăng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những kiến thức cơ bản về li xăng, các bước ký kết và thực hiện lixăng
- Tìm hiểu thực trạng việc ký kết và thực hiện li xăng, từ đó đưa ra các đánhgiá, nhận xét và các đề xuất bổ sung, hoàn thiện
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 5Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài dự định sử dụng các phương phápnghiên cứu sau đây:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, trên cơ sở các văn bản pháp luậtliên quan, khái niệm về hợp đồng li xăng, yêu cầu trong việc ký kết và thực hiện lixăng
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn Sử dụng các thông tin, dữ liệuthu thập được từ thực tế ký kết và thực hiện li xăng
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài trang bìa chính, bìa phụ, mục lục, tài liệu tham khảo, cấu trúc của đề tàinhư sau:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
- Phần kết luận
- Phần tài liệu tham khảo
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng em xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn,chỉ bảo tận tình của PGS,TS Tăng Văn Nghĩa giúp chúng em thực hiện tốt đề tài
Hà nội, ngày 30 tháng 09 năm 2010
Nhóm G11 QTKD- K6.2
Trang 6NỘI DUNG
I NHẬN THỨC CHUNG VỀ LI XĂNG
1 Các khái niệm
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thươngmại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền
chống cạnh tranh không lành mạnh (điều 4 luật Sở hữu trí tuệ 2005).
Chuyển nhượng quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (li xăng) là
việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụngđối tượng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình
Một số điểm chú ý đối với việc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN là:
- Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tên thương mại không được chuyển giao
- Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cánhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó
- Bên được chuyển quyền không được ký kết hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba,trừ trường hợp được bên chuyển quyền cho phép
- Bên được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có nghĩa vụ ghi chỉ dẫn trên hànghoá, bao bì hàng hoá về việc hàng hoá đó được sản xuất theo hợp đồng sửdụng nhãn hiệu
Theo Điều 16, Luật chuyển giao công nghệ: “Trường hợp công nghệ là đốitượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu côngnghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theoquy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.”
2 Hợp đồng Li xăng
Hợp đồng li xăng là văn bản pháp lý thể hiện những cam kết giữa các bên thamgia ký kết hợp đồng nhằm thiết lập, thay đổi hoặc đình chỉ mối quan hệ, nghĩa vụ vàquyền lợi của các bên đối với đối tượng li xăng
Việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải được thực hiệndưới hình thức hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức tương đương văn bản Đểchuyển giao li xăng, các Bên (Bên giao và Bên nhận) phải tiến hành đàm phán về nộidung li xăng và ký kết Hợp đồng li xăng bằng văn bản với nội dung và hình thức phù
Trang 7hợp với quy định của pháp luật và phải tiến hành đăng ký Hợp đồng li xăng tại cơquan Nhà nước có thẩm quyền.
Đăng ký Hợp đồng li xăng là thủ tục hành chính bắt buộc theo quy định để Hợpđồng có hiệu lực pháp lý Việc ký kết và thực hiện Hợp đồng li xăng mà không đăng
ký sẽ không được pháp luật thừa nhận và còn bị coi là vi phạm hành chính và bị xửphạt hành chính
3 Phân loại Li xăng
Li xăng có thể được phân chia theo các tiêu chí khác nhau Có thể phân chia lixăng theo một số tiêu chí sau:
3.1 Về phạm vi quyền của Bên nhận li xăng
Li xăng độc quyền: là dạng li xăng mà theo đó Bên giao chuyển giao độcquyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp cho Bên nhận và Bên giao không cònquyền sử dụng cũng như không được chuyển giao quyền sử dụng cho Bên thứ ba (Chỉduy nhất Bên nhận có quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp trong thời hạnhiệu lực của Hợp đồng li xăng)
Li xăng không độc quyền: là dạng li xăng mà theo đó Bên giao chuyển giaoquyền sử dụng Đối tượng sở hữu công nghiệp cho Bên nhận và Chủ sở hữu côngnghiệp vẫn có quyền sử dụng và có thể vẫn được hoặc không còn được chuyển giaoquyền sử dụng cho Bên thứ ba trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng
3.2 Về Bên giao li xăng
Li xăng cơ bản: là dạng li xăng, trong đó Bên giao chính là Chủ sở hữu côngnghiệp
Li xăng thứ cấp: là dạng li xăng mà Bên giao, không phải là Chủ sở hữucông nghiệp mà là người được chuyển giao li xăng độc quyền và được phép chuyểngiao li xăng cho Bên thứ ba (li xăng thứ cấp) Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữucông nghiệp thứ cấp có bên chuyển quyền là người được chuyển giao quyền sử dụngđối tượng sở hữu công nghiệp đó theo một hợp đồng khác
3.3 Về ý nguyện chuyển giao của Bên giao
Li xăng theo Hợp đồng (hay li xăng tự nguyện): là li xăng cấp theo thoảthuận giữa Bên giao và Bên nhận
Trang 8 Li xăng không tự nguyện: là li xăng cấp theo quyết định của Cơ quan nhànước có thẩm quyền trong một số trường hợp nhất định khi hai Bên không đạt đượcthoả thuận.
4 Nội dung hợp đồng Li xăng
4.1 Hình thức hợp đồng Li xăng
Hợp đồng li xăng phải được làm bằng văn bản, thể hiện đầy đủ thoả thuận củahai bên Mọi thoả thuận bằng miệng, công văn, thư từ, điện báo đều không có giá trịpháp lý
Hợp đồng li xăng có thể là một phần của Hợp đồng khác (ví dụ hợp đồngchuyển giao công nghệ, mua bán thiết bị ) với điều kiện nội dung về li xăng phảiđược lập thành một bộ phận riêng biệt
4.2 Nội dung hợp đồng Li xăng
Hợp đồng li xăng cần được soạn thảo có lưu ý tới các điểm sau đây:
- Điều khoản về các Bên ký kết hợp đồng phải nêu rõ tên và địa chỉ đầy đủ của Bên giao và Bên nhận, tên và chức vụ của người đại diện cho mỗi Bên (nếu có).
Điều khoản về căn cứ chuyển quyền sử dụng phải khẳng định tư cách chuyểnquyền sử dụng của Bên giao, bao gồm:
Tên, số, ngày cấp và thời hạn hiệu lực của Văn bằng bảo hộ thuộc quyền sởhữu của Bên giao, hoặc
Tên, ngày ký, số đăng ký (nếu có) và thời hạn hiệu lực của hợp đồng chuyểnquyền sử dụng cấp trên- quyền sử dụng được cấp cho Bên giao và Bên giao được phépchuyển quyền sử dụng thứ cấp (đối với chuyển quyền sử dụng thứ cấp)
Điều khoản về dạng hợp đồng phải chỉ rõ hợp đồng chuyển quyền sử dụng làhợp đồng độc quyền hay không độc quyền; có phải là hợp đồng thứ cấp hay không.Điều khoản về phạm vi chuyển quyền sử dụng phải chỉ ra các điều kiện giới hạn quyền
sử dụng của Bên nhận, trong đó bao gồm:
Đối tượng được chuyển quyền sử dụng: Phạm vi đối tượng sở hữu côngnghiệp mà Bên nhận được sử dụng: một phần hay toàn bộ khối lượng bảo hộ được xáclập theo Văn bằng bảo hộ.Giới hạn hành vi sử dụng mà Bên nhận được phép thực hiện(tất cả hay một số hành vi sử dụng thuộc quyền của Bên giao);
Trang 9 Lãnh thổ chuyển quyền sử dụng: Phạm vi lãnh thổ mà tại đó Bên nhận đượcphép sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (một phần hay toàn bộ lãnh thổ Việt Namhoặc lãnh thổ chuyển quyền sử dụng cấp trên).
Điều khoản về thời hạn chuyển quyền sử dụng phải xác định khoảng thời gian
mà Bên nhận được phép sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (thuộc thời hạn hiệulực của Văn bằng bảo hộ, hoặc thời hạn hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụngcấp trên)
Điều khoản về giá chuyển quyền sử dụng và phương thức thanh toán:
Điều khoản về giá chuyển quyền sử dụng phải quy định khoản tiền mà Bênnhận phải thanh toán cho Bên giao để được sử dụng đối tượng SHCN theo các điềukiện đã thỏa thuận trong hợp đồng Giá do các Bên thỏa thuận dựa trên cơ sở ước tínhhiệu quả kinh tế (mà Bên nhận có thể thu được từ việc sử dụng đối tượng sở hữu côngnghiệp) và phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan
Đối với chuyển quyền sử dụng miễn phí, hợp đồng cũng phải ghi rõ điều đó
Điều khoản về phương thức thanh toán phải quy định thời hạn, phương tiện,cách thức thanh toán
- Điều khoản về quyền và nghĩa vụ của mỗi Bên cần thỏa thuận các quyền vànghĩa vụ của mỗi Bên đối với nhau với điều kiện không trái với các quy định của phápluật Điều khoản về quyền và nghĩ vụ của mỗi Bên có thể bao gồm các nội dung sauđây:
Nghĩa vụ của Bên giao: (1) Đăng ký hợp đồng (nếu có thỏa thuận); (2) Nộpthuế chuyển quyền sử dụng theo pháp luật về thuế; (3) Giải quyết các tranh chấp vớiBên thứ ba nếu việc chuyển quyền sử dụng gây ra tranh chấp; (4) Thực hiện các biệnpháp cần thiết và phù hợp chống lại các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệpcủa Bên thứ ba gây thiệt hại cho Bên nhận
Nghĩa vụ của Bên nhận: (1) Đăng ký hợp đồng (nếu có thỏa thuận); (2) Trảphí chuyển quyền sử dụng cho Bên giao theo mức và phương thức thanh toán đã đượcthỏa thuận; (3) Chịu sự kiểm tra về chất lượng hàng hóa, dịch vụ (nếu có thỏa thuận vềđiều này); (4) Ghi chỉ dẫn trên sản phẩm, bao bì sản phẩm rằng sản phẩm được sảnxuất theo sự chuyển quyền sử dụng (sự cho phép) của Bên giao và chỉ ra tên của Bêngiao Nội dung này là bắt buộc trong trường hợp chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
Trang 10Hợp đồng chuyển quyền sử dụng không được phép có những điều khoản hạnchế bất hợp lý quyền của Bên nhận, đặc biệt là những điều khoản không xuất phát từquyền của Bên giao đối với đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc không nhằm để bảo vệcác quyền đó, ví dụ:
Trực tiếp hoặc gián tiếp hạn chế việc xuất khẩu sản phẩm được sản xuấttheo hợp đồng chuyển quyền sử dụng sang các vùng lãnh thổ mà Bên giao không nắmđộc quyền nhập khẩu các sản phẩm đó
Buộc Bên nhận phải mua toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định các nguyên liệu,linh kiện, thiết bị từ nguồn do Bên giao chỉ định, mà không nhằm bảo đảm chất lượnghàng hóa, dịch vụ như đã thỏa thuận
Cấm bên nhận cải tiến công nghệ được chuyển giao, buộc Bên nhận phảichuyển giao miễn phí cho Bên giao các cải tiến do Bên nhận tạo ra hoặc quyền nộpđơn yêu cầu bảo hộ sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu công nghiệp đối với các cải tiếnđó
Cấm Bên nhận khiếu nại về hiệu lực của quyền sở hữu công nghiệp, quyềnchuyển quyền sử dụng của Bên giao
Hợp đồng có thể có thêm các điều khoản không trái với quy định của pháp luậthiện hành, đặc biệt là các điều khoản sau:
Điều khoản về điều kiện sửa đổi, đình chỉ, vô hiệu hợp đồng: Thỏa thuậncác điều kiện theo đó có thể sửa đổi, đình chỉ, vô hiệu hợp đồng phù hợp với các quyđịnh của pháp luật
Điều khoản về cách thức giải quyết tranh chấp: Lựa chọn trong số các cáchsau để giải quyết tranh chấp giữa các Bên: (1) tự thương lượng; (2) thông qua trọngtài; (3) thông qua tòa án; hoặc (4) kết hợp các phương thức trên
5 Vai trò của việc chuyển giao Li xăng
Chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN là một hình thức khai thác quyền
sở hữu công nghiệp, qua đó Chủ sở hữu công nghiệp thu về một khoản lợi nhuận (phíchuyển giao li xăng) mà không phải trực tiếp sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp.Hình thức này đặc biệt thích hợp đối với những chủ sở hữu công nghiệp không hoạtđộng kinh doanh hoặc không có năng lực kinh doanh
Li xăng còn góp phần phổ biến công nghệ, nâng cao hiệu quả đầu tư nghiêncứu, triển khai, hạn chế độc quyền và thúc đẩy việc tạo ra công nghệ mới Có thể nói
Trang 11rằng, chuyển giao li xăng đem lại lợi ích cho cả Chủ sở hữu công nghiệp, người đượcchuyển giao li xăng và toàn xã hội nói chung.
Vai trò cụ thể của việc ký kết và thực thi hợp đồng li xăng thể hiện trên một sốphương diện sau:
Góp phần đắc lực vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thểsáng tạo, chủ thể quyền Hình thức chuyển giao quyền sử dụng để thu về những khoảnlợi ích vật chất nhất định nhằm bù đắp chi phí và công sức chủ thể sở hữu công nghiệp
đã bỏ ra trong quá trình nghiên cứu, sáng tạo
Góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chung của xã hội, của người tiêu dùng.Kết quả của hoạt động thực hiện pháp luật về quyền sử dụng đối tượng sở hữu côngnghiệp sẽ từng bước ngăn chặn và hạn chế nạn hàng giả, hàng nhái trên thị trường.Điều này sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng
Chuyển giao li xăng sẽ từng bước thiết lập lên một môi trường kinh doanhlành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, khuyến khích các hoạt động đầu tư, thúc đẩytăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế
Chuyển giao li xăng còn tạo ra động lực để thúc đẩy các hoạt động sáng tạo,đổi mới kỹ thuật, khuyến khích chuyển giao công nghệ Thực tế cho thấy, để tạo ramột công nghệ mới, một sản phẩm mới với năng xuất, chất lượng cao hơn, kiểu dánghấp dẫn hơn hay để gây dựng được một nhãn hiệu nổi tiếng hoặc có uy tín, các chủ thểsáng tạo đã phải đầu tư rất nhiều thời gian, công sức và tiền của mới có được Cho nên,những chi phí mà họ đã bỏ ra cần được tính đến và bù đắp
Do đó, chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN trên thực tế sẽ đóng gópmột phần rất quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội và hội nhậpkinh tế quốc tế
Trang 12II NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN LI XĂNG
sở hữu trí tuệ ra đời vào năm 1883 (Công ước Paris) Như vậy, trong lĩnh vực phápluật sở hữu trí tuệ, chúng ta “xuất phát muộn hơn” các quốc gia khác vài trăm năm.Cũng chính vì nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của sở hữu trí tuệ, chúng ta chưa đầu
tư thích đáng cho việc xây dựng pháp luật sở hữu trí tuệ và chưa cho lĩnh vực phápluật này một vị trí xứng đáng trong hệ thống pháp luật Việt nam Cụ thể, các văn bảnpháp luật sở hữu trí tuệ có hiệu lực thấp; các vấn đề liên quan đến lĩnh vực sở hữu trítuệ không được quy định tập trung trong một văn bản mà quy định tản mạn, không có
tính hệ thống và tính thống nhất Ví dụ, trong luật chưa chỉ ra sự khác biệt rõ ràng giữa
đối tượng của sở hữu công nghiệp và công nghệ Điều này làm cho doanh nghiệp khi
ký kết hợp đồng li- xăng không biết rõ ràng nguồn luật áp dụng điều chỉnh để thựchiện cho đúng Đây cũng cho thấy sự chồng chéo của văn bản luật (liên quan tới hợpđồng chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có tới nhiều nguồnluật điều chỉnh: luật sở hữu trí tuệ 2005, luật chuyển giao công nghệ 2006, bộ luật dân
sự 2005 và nhiều văn bản pháp luật khác)
Chưa xác định đúng vị trí của pháp luật sở hữu trí tuệ trong hệ thống pháp luật
là hạn chế cơ bản nhất, lớn nhất, điều này kéo theo nhiều bất cập khác Bởi vậy, trong
Trang 13quá trình hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ, trước tiên cần xem xét và giải quyết hạnchế này.
1.2 Pháp luật sở hữu trí tuệ chưa được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các ngành luật có liên quan
Các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ được ban hành quá biệt lập mà khôngđược đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với quy định pháp luật của nhiều ngành luật liênquan khác như luật hành chính, luật hình sự, luật thương mại, luật tố tụng dân sự, thậmchí ngay cả các quy định khác của pháp lụât dân sự Đây đã từng là đặc điểm của hoạtđộng xây dựng pháp luật Việt nam những năm về trước nhưng hiện nay về cơ bản đãđược khắc phục Tuy nhiên, đối với các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ, đặc điểmnày vẫn nổi bật và đáng lưu tâm Cụ thể, giữa các ngành luật có những quy định chồng
chéo về cùng một vấn đề hoặc có vấn đề không được ngành luật nào đề cập, không
thống nhất trong quy định giữa các văn bản pháp luật khác nhau và giữa các ngànhluật Chính điều này làm giảm hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ
1.3 Các quy định rất tản mạn, chưa có tính hệ thống và tính thống nhất
Đặc điểm tản mạn, chưa có tính hệ thống, tính thống nhất của các quy địnhpháp luật sở hữu trí tuệ chính là hệ quả của việc chưa xác định đúng vị trí của phápluật sở hữu trí tuệ trong hệ thống pháp luật Việt nam Đặc điểm này thể hiện cụ thểnhư sau: một vấn đề được quy định trong rất nhiều văn bản, những văn bản này cóhiệu lực khác nhau thậm chí có hiệu lực như nhau nhưng do các cơ quan khác nhauban hành Các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ không được quy định chung trong mộtvăn bản pháp luật, sau đó được hướng dẫn cụ thể tại một số văn bản pháp luật có hiệulực thấp hơn Kết quả, người tài tình đến mấy cũng không thể vẽ nổi mô hình hoàn mỹ
về các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt nam Pháp luật sở hữu trí tuệ củachúng ta đang thiếu hai đặc điểm cơ bản của pháp luật là tính hệ thống và tính thốngnhất Đối với trường hợp chuyển giao li xăng thì có thể thấy là đối tượng của các loạihợp đồng này (quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp) nằm trong phạm vi rộnghơn – đó là công nghệ Do đó việc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN chịu
sự điều chỉnh của luật chuyển giao công nghệ Nhưng chính trong luật này lại dẫnchiếu rằng riêng đối với phần công nghệ là đối tượng SHCN thì việc chuyển giao lạichịu sự điều chỉnh của luật sở hữu trí tuệ Trong khi đó Luật sở hữu trí tuệ có quy định