Thị trường vàng: Bước sang năm 2011, với nhiều giải pháp quản lý điều hành vĩ mô, nhất làđối với thị trường ngoại tệ, thị trường vàng ở trong nước đã ổn định trở lại, tốc độtăng của giá
Trang 1Câu hỏi:
Những thách thức đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc đưa
ra chính sách trước bối cảnh kinh tế bất ổn của VN hiện nay.
Nhóm 4:
- Nguyễn Văn Thanh © - Xay Som Boun Tengbriachue
Trình bày:
Để trả lời câu hỏi “Những thách thức đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Namtrong việc đưa ra chính sách trước bối cảnh kinh tế bất ổn của VN hiện nay”, bàithuyết trình này bao gồm 3 phần chính
I Bối cảnh kinh tế Việt Nam 2011: Đưa ra một cái nhìn chung nhất về toàn
cảnh nền kinh tế Việt Nam 2011
II Đánh giá chính sách của NHNN trong năm 2011: Chỉ ra ưu điểm, khuyết
điểm của các chính sách mà NHNN đã đưa ra trong năm 2011
III Thách thức và giải pháp: Từ những nội dung ở hai phần trên, rút ra một
cách tổng quát những thách thức hiện tại của NHNN và đưa ra những giải pháp chonhững thách thức, khó khăn đó
Nội dung chính:
I Bối cảnh kinh tế Việt Nam 2011:
1 Tổng quan chung về nền kinh tế Việt Nam
a Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước chín tháng năm 2011 ước tính tăng 5,76% so vớicùng kỳ năm 2010 ( GDP thực tế 2011: 406.308 tỷ đồng - GDP thực tế năm 2010 -384.087 tỷ đồng) Dự báo tăng trưởng GDP cả năm sẽ thấp, chỉ có thể ở khoảng 6-6.5%
b Chỉ số giá tiêu dùng:
Trang 2Nối tiếp năm 2010, Việt Nam phải đối mặt với tình trạng lạm phát hai con sốtrong năm 2011 với mức độ nghiêm trọng hơn Tính đến tháng 11/2011, CPI tăng0.39% so với tháng 10, tăng 17,5% so với tháng 12/2010
c Dự trữ ngoại hối – Tỷ giá ngoại tệ
Năm 2010 chứng kiến sự mất giá của VND so với đô la Mỹ bất chấp việcđồng đô la Mỹ mất giá mạnh so với các ngoại tệ mạnh khác như đồng Yên củaNhật Bản, đồng, Nhân dân tệ của Trung Quốc … trên thị trường thế giới Tính đếnhết tháng 10/2010, đã 2 lần NHNN thực hiện điều chỉnh tỷ giá chính thức liên ngânhàng lên mức 18.554 VND/USD và 18.932 VND/USD vào 11/2 và 18/8, tínhchung cả năm tỷ giá đã tăng hơn 5% Sau khi điều chỉnh lần 2, tỷ giá trong hệthống ngân hàng được duy trì ở mức trần biên độ trong suốt quý IV/2010 , với mứcgiao dịch tại 19.445-19.500 VND/USD Tuy nhiên tỷ giá trên thị trường tự do đã
có chênh lệch khá lớn so với tỷ giá trong hệ thống ngân hàng, có lúc mức chênhlệch lên tới 10% và được giao dịch ở mức 21.500 VND/USD
Dự trữ ngoại hối của Việt Nam đến tháng 9/2011 là 7 tuần nhập khẩu, tăng
so với mức thấp nhất vào tháng 2/2011 là 3,5 tuần nhập khẩu Nhìn chung, dự trữngoại hối của Việt Nam tới thời điểm hết quý III đã tăng đáng kể so với đầu năm
2011 và kì vọng đến cuối năm sẽ tiếp tục tăng
Trang 3d Thị trường Chứng khoán, thị trường Vàng, thị trường Bất động sản:
Thị trường chứng khoán:
Trong năm 2011, TTCK lao dốc mạnh Nhiều nhà đầu tư không buồn ngóngàng đến thị trường, công ty chứng khoán thua lỗ, thu hẹp hoạt động, còn doanhnghiệp thì lần lượt xin hủy niêm yết vì giá trị doanh nghiệp liên tục sụt giảm Nhiều
cổ phiếu hiện đang niêm yết trên cả 3 sàn HOSE, HNX, UPCOM có giá quá thấp:Trong số 700 doanh nghiệp niêm yết thì có tới hơn 400 doanh nghiệp có thị giáthấp hơn mệnh giá 10.000 đồng (với nhiều mã đứng ở mức 2.000-5.000 đồng/cổphiếu, thậm chí có cổ phiếu giá chỉ còn 600 đồng/cổ phiếu vào ngày 24/11), trongkhi giá trị sổ sách của hơn 90% các doanh nghiệp này cao hơn so với mệnh giá.Điều này cho thấy, có rất nhiều doanh nghiệp mà giá cổ phiếu đang không phảnánh đúng giá trị doanh nghiệp bởi TTCK chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố nhưchính sách, dòng tiền, niềm tin
Thị trường bất động sản:
Trang 4Trong nền kinh tế chúng ta đều thừa nhận rằng bất động sản là lĩnh vực lớn,
và có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực khác Từ khoảng 5 năm trở lại đây,thị trường bất động sản Việt Nam đã phát triển rất nóng, giá nhà đất tăng rất nhanh
và vượt quá khả năng thu nhập của đại bộ phận người dân dẫn đến sự đóng băngcủa lĩnh vực BĐS trong năm 2011 Theo thống kê sơ bộ, giá bất động sản tại VNtăng khoảng từ 50% - 300% so với năm 2006, và mức giá này hiện nay cao gấp 4đến 6 lần so với các nước trong khu vực như Thái Lan hay Trung Quốc, nhữngnước có thu nhập bình quân cao hơn hẳn Việt Nam
Trong năm 2011, thị trường bất động sản có chiều hướng xì hơi, và đi vàotrầm lắng Quý 4/2011 có thể là giai đoạn khắc nghiệt nhất đối với giới đầu cơ vàđầu tư địa ốc Những gì chưa được bộc lộ vào thời điểm giữa năm 2011 thì đếntháng 11/2011 đã hiện ra: đã bắt đầu xuất hiện những doanh nghiệp BĐS buộc phảirời khỏi vũ đài Đáng chú ý tỷ lệ cho vay BĐS tại các ngân hàng thương mại nhỏ làrất cao, lên đến 30% - 40% thậm chí có ngân hàng lên tới 50%, phân bổ chủ yếu ở
2 thành phố lớn là Tp.HCM là 45% và HN là 18% Nợ xấu cho vay BĐS trong 6tháng 2011 đã tăng 37% so với thời điểm 31/12/2010
Thị trường vàng:
Bước sang năm 2011, với nhiều giải pháp quản lý điều hành vĩ mô, nhất làđối với thị trường ngoại tệ, thị trường vàng ở trong nước đã ổn định trở lại, tốc độtăng của giá vàng đã chậm lại (sau 6 tháng chỉ tăng 5,18% - thấp chưa bằng mộtnửa tốc độ tăng 13,29% của giá tiêu dùng) Biến động thị trường vàng trong thờigian vừa qua cho thấy, đã có sự tham gia của giới đầu tư vào thị trường này saumột thời gian dài im ắng Trong khi kênh chứng khoán, bất động sản đang khókhăn và đầy rủi ro thì sức tăng mạnh mẽ của vàng có thể sẽ là kênh đầu tư an toàn
Tuy nhiên hiện tại vấn đề của thị trường vàng đang phải đối mặt là tình trạngbuôn lậu vàng tăng cao, đồng thời cũng kéo theo nhiều bất ổn của xã hội (cướp của,giết người…) Việc xuất nhập khẩu vàng cũng gây ra thâm hụt cán cân thương mại.Tính riêng trong 6 tháng đầu năm đã có khoảng hơn 20 tấn vàng được xuất khẩu vàtrong tháng 7 tái xuất vàng tiếp tục ở mức cao, ước tính thêm khoảng gần chục tấnvàng nữa
e Vấn đề dola hóa:
Tình trạng đô la hóa tại Việt Nam đang ngày càng lớn ADB cho biết mức độđôla hoá của Việt Nam là khá cao, luôn nằm ở mức độ trên 20% Những năm qua,lượng tiền gửi tuyệt đối bằng USD tại các ngân hàng đã không ngừng tăng lên, đặcbiệt là ở hệ thống ngân hàng tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh
Trang 5Bên cạnh đó, 1 hệ thống bị đôla hoá mạnh đó là bán hàng qua mạng các sảnphẩm nhập khẩu, nhất là đồ điện tử Tại các trang wed, các cửa hàng bán đồ nhậpkhẩu đều thể hiện đồng thời 2 loại hình thanh toán bằng đô và tiền đồng Việt Nam.Mọi thanh toán đều thông qua USD: nếu khách hàng trả bằng tiền đồng thì sẽ đượcquy đổi theo tỷ giá mà cửa hàng niêm yết trước Nguyên nhân dẫn đến việc này là
do hầu hết các cửa hàng nhập khẩu đều theo USD
f Cán cân thương mại – tỷ giá
Nhập siêu hàng hóa tháng Mười Một ước tính đạt 700 triệu USD, bằng 8,1%kim ngạch hàng hóa xuất khẩu Nhập siêu mười một tháng năm nay ước tính 8,9 tỷUSD, bằng 10,2% kim ngạch hàng hóa xuất khẩu Nếu loại trừ yếu tố vàng thì nhậpsiêu hàng hóa mười một tháng năm nay ước tính 9,2 tỷ USD, bằng 10,8% kim ngạchxuất khẩu Bên cạnh đó, cán cân dịch vụ cũng được hỗ trợ nhờ hoạt động xuất khẩu
du lịch Trong 9 tháng đầu năm 2011, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam ướcđạt 4,3 triệu lượt người, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2010 Nhờ đó thu từ xuấtkhẩu du lịch đạt 2,8 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm và ước đạt trên 4 tỷ USD trong
9 tháng đầu năm 2011 Ngoài ra, chuyển tiền một chiều của khu vực tư nhân trong
7 tháng đầu năm 2011 có sự cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm 2010 Trong 7tháng đầu năm 2011, Việt Nam đã thu hút được 5,6 tỷ USD chuyền tiền một chiềucủa khu vực tư nhân (bao gồm cả chuyển tiền của người lao động Việt Nam ở nướcngoài và kiều hối), tăng 42,7% so với cùng kỳ năm 2010
Ngân hàng Nhà nước nhận định, với những yếu tố tích cực nêu trên, cán cânvãng lai đã được cải thiện đáng kể Tính chung 7 tháng đầu năm 2011, cán cânvãng lai thặng dư 1,3 tỷ USD (cùng kỳ năm 2010 thâm hụt 3,2 tỷ USD) Cùng với
đó, thặng dư cán cân vốn và tài chính tăng khá so với cùng kỳ năm 2010 Cụ thể,trong 9 tháng đầu năm 2011, FDI ước tính đạt 6,1 tỷ USD, tương đương mức cùng
kỳ năm 2010 Về vốn đầu tư gián tiếp trong 9 tháng đầu năm 2011, ước đạt 1 tỷUSD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2010
2 Thực trạng NHTM cuối năm 2010:
Đi cùng với tình hình bất ổn của nền kinh tế là thực trạng không mấy khảquan từ hệ thống NHTM Phong trào thành lập NH nở rộ từ năm 2006, số lượngcác NHTM hiện nay tương đối nhiều nhưng quản trị ngân hàng, cụ thể là quản trịnguồn vốn và quản trị rủi ro còn kém nên tiềm ẩn nhiều rủi ro gây mất an toàn, dễ
bị tổn thương mỗi khi môi trường kinh doanh biến động bất lợi
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối năm 2010, hệ thống ngânhàng Việt Nam đã có 1 ngân hàng phát triển, 1 ngân hàng chính sách xã hội, 5NHTM NN hoặc có cổ phần chi phối của Nhà nước, 37 NHTMCP, 50 CN ngânhàng nước ngoài, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh Số
Trang 6lượng các Ngân hàng ở VN khá tương đồng so với các nước cùng khu vực nhưThái Lan, Philipin Một số đặc điểm của hệ thống NHTM ở Việt Nam hiện nayđang làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách có thể điểm tên như sau.
Thứ nhất, sự phân bố các CN, PGD lại không đồng đều, có sự khác biệt quálớn giữa thành thị và nông thôn
Thứ hai, quy mô vốn giữa các NH có sự chênh lệch rất lớn: Vốn điều lệ củanhiều ngân hàng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của NHNN trong lộ trình đã xâydựng về đảm bảo VĐL cho các NHTM hoạt động ổn định và chất lượng 23 NHTMbuộc phải tăng vốn điều lệ tối thiểu lên 3000 tỷ đồng trong năm 2010 Mặc dù đãđược chính phủ phê duyệt gia hạn thời gian tăng vốn điều lệ tới ngày 31/12/2011,nhưng đến thời điểm 8/11/2011 vẫn còn 4 ngân hàng TM chưa hoàn thành đủ 3000tỷ đồng vốn điều lệ (Đệ nhất, Phương Tây, Sài Gòn Công thương, Bảo Việt)
Bảng 1 : Danh sách các NHTM chưa đáp ứng đủ điều kiện VĐL
Thứ ba là vấn đề thanh khoản trong hệ thống NHTM: Lo sợ với tình trạng
lạm phát cao và khó dự báo trước như vừa qua, người dân đã không lựa chọn hìnhthức gửi tiền vào NH mà chọn những tài sản có tính an toàn cao hơn như vàng,USD, bất động sản, hoặc gửi tiền nhưng với kỳ hạn ngắn nên ảnh hưởng lớn đếntính thanh khoản của các NH Khan hiếm nguồn tiền đầu vào, các NH tham gia vàocuộc đua lãi suất để thu hút vốn nhàn rỗi, đẩy lãi suất huy động hoặc lãi suất liênngân hàng lên rất cao Những tháng cuối năm 2010, lãi suất huy động vượt trần 12
% , trung bình là 14 – 16% , có nơi lên tới 18 % Lãi suất cho vay cũng theo đó lêntới 19 – 20% , gây khó khăn cho việc tiếp cận vốn vay của các DN, kéo theo sản
Trang 7xuất đình trệ, tăng trưởng kinh tế bị giảm sút Tình trạng này vẫn đang duy trì chođến nay.
Thứ 4 là tỷ lệ nợ xấu tăng và chất lượng tín dụng thấp Tốc độ tăng trưởng
tín dụng nhanh nhưng không hiệu quả, các DN được tiếp cận nguồn vốn rẻ trước đó
đã đầu tư tràn lan kém hiệu quả, kết quả phải đóng cửa sản xuất hoặc phá sản, gây
ra nợ xấu tăng cao trong hệ thống NH Tỷ lệ nợ xấu (NPL) tăng từ 1,9 % cuối năm
2009 lên 2,5 % vào cuối năm 2010 Đặc biệt là khoản nợ lên tới 26.000 tỷ đồng liênquan tới 10 NHTM cho Vinashin vay đẩy tỷ lệ NPL lên tới 3,2% Bên cạnh vấn đềchất lượng thẩm định tín dụng và quy trình tín dụng, các khoản cho vay ở lĩnh vực
có độ rủi ro cao như bất động sản, chứng khoán tăng lên đáng kể trong năm 2010(tăng 23,5 % so với năm 2009, dự nợ trong 2 lĩnh vực này chiếm 12 % tổng dư nợ )cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng nợ xấu trên
Như vậy những vấn đề mà NHNN phải giải quyết trong bối cảnh kinh tế
2011 có thể tóm gọn lại ở những điểm trọng tâm sau:
- Tình trạng lạm phát ở mức độ hai con số
- Duy trì mức độ tăng trưởng ổn định
- Tình trạng bất ổn của hệ thống NHTM ở Việt Nam
- Tình trạng đô la hóa đang ngày càng trở nên nghiêm trọng
3 Cơ sở lý thuyết :
Dựa vào những thông tin ở các phần trên, có thể thấy NHNN hiện nay phảiđối mặt với rất nhiều vấn đề Tuy nhiên căn cứ vào mục tiêu định hướng của chínhphủ trong năm 2011, ta tập trung đưa ra các chính sách của NHNN dựa trên cơ sở
lý thuyết tập trung mục tiêu kiềm chế lạm phát
Để kiềm chế lạm phát, NHNN cần thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt,thông qua 3 công cụ chủ yếu là: Hoạt động thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc vàtỷ lệ lãi suất chiết khấu
Hoạt động thị trường mở là hoạt động mua bán Chứng khoán do NHNN thực
hiện trên thị trường mở, qua đó tác động đến cung tiền nền kinh tế Khi muốn hạnchế lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế, NHNN thực hiện bán Chứng khoán chocác NHTM hoặc cho công chúng Đây là công cụ linh hoạt hiệu quả của chính sáchtiền tệ vì có thể tính toán chính xác lượng tiền cần bơm hay rút khỏi nền kinh tế,tuy nhiên vì thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên còn phụ thuộc vào các chủthể tham gia vào thị trường
Thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 1 công cụ khác của NHNN Các NHTM bắt
buộc phải có 1 khoản tiền gửi tại NHNN gọi là dự trữ bắt buộc Khoản này khôngđược hưởng lãi hoặc đầu tư cho vay, thường được tính theo 1 tỷ lệ nhất định trêntổng số tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ
Trang 8thống NH Khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, NHNN có thể tăng tỷ lệ dự trữbắt buộc, từ đó làm giảm số nhân tiền, hạn chế đáng kể khả năng tạo tiền củaNHTM , đồng thời giảm khả năng cho vay của các NH
Cuối cùng là tăng lãi suất chiết khấu Lãi suất chiết khấu là lãi suất NHNN
cho các NHTM vay khi các NHTM chưa đảm bảo đầy đủ dự trữ theo quy định.Tăng lãi suất chiết khấu sẽ hạn chế việc các NHTM vay NHNN từ đó giảm mứccung tiền trong nền kinh tế
Ngoài ra trong thực tế, NHNN còn có thể sử dụng một trong các công cụ sau
để nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát là kiểm soát hạn mức tín dụng, quản lý lãisuất của NHTM
Với việc sử dụng công cụ kiểm soát hạn mức tín dụng có thể giúp hạn chế
việc tạo tiền quá mức của NHTM làm tăng tổng khối lượng tiền tệ trong nền kinh
tế NHNN sử dụng công cụ này bằng cách quy định hạn mức tín dụng tối đa chotừng NHTM trong từng thời kỳ khác nhau, có nghĩa là NHTM chỉ được phép cấptín dụng cho nền kinh tế tối đa bằng hạn mức tín dụng quy định Tuy nhiên cũngcần bàn thêm rằng việc sử dụng chính sách kiểm soát hạn mức tín dụng có thể làmcho lãi suất thị trường tăng lên, làm giảm cạnh tranh giữa các NHTM, làm sai lệch
cơ cấu đầu tư của các NHTM, cũng có thể phát sinh các thị trường tài chính ngầmnằm ngoài sự kiểm soát của NHNN, gây khó khăn trong việc tiếp cận vốn của cácdoanh nghiệp nhỏ
Tiếp theo là việc sử dụng công cụ quản lý lãi suất của NHTM để thực hiện
các mục tiêu của chính sách tiền tệ của NHNN - quy định các khung lãi suất hoặctrần lãi suất cho vay của các NHTM NHNN kiểm soát lãi suất có thể tác độngmạnh tới tiết kiệm, đầu tư và qua đó tác động tới tăng trưởng kinh tế Để tránh rủi
ro, bảo đảm quyền lợi của các NHTM, trong những trường hợp lãi suất tự do vượtquá tầm kiểm soát của mình, NHNN sẽ ban hành các quy định lãi suất trần tối thiểucho tiền vay và lãi suất sàn tối đa cho tiền gửi Nếu nhằm đảm bảo quyền lợi chokhách hàng của NHTM thì NHNN sẽ quy định mức lãi suất tối thiểu cho tiền gửi
và mức lãi suất tối đa cho tiền vay Một vấn đề cũng cần bàn đến ở đây khi sử dụngcông cụ này của NHNN đó là sẽ làm giảm tính cạnh tranh trong hoạt động của cácNHTM
II Đánh giá chính sách NHNN trong năm 2011:
Trang 9Căn cứ vào Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về những giải phápchủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xãhội, mục tiêu của chính phủ phủ trong năm 2011 là: Kiềm chế lạm phát và ổn địnhkinh tế vĩ mô (CPI đạt 15-17% ổn định tỷ giá, giữ vững thanh khoản, tăng trưởngtín dụng nhỏ hơn 20%, tổng phương tiện thanh toán đạt 15-16%, nhập siêu khôngquá 15% xuất khẩu; bội chi ngân sách không quá 5%) Vì hạn chế về thời gian, bàiviết sẽ chỉ tập trung vào một số chính sách chủ đạo của NHNN trong năm 2011.
1 Chính sách lãi suất:
a Chính sách lãi suất cho VNĐ:
Như đã biết, lãi suất trong năm 2010 diễn biến khá phức tạp và tăng cao, đặcbiệt vào thời điểm cuối năm khi lãi suất huy động VND đã tăng vọt từ 11 – 11,5%lên đến 17% ở một số ngân hàng thương mại với những kì hạn ngắn, đồng thời lãisuất cho vay cũng leo thang từ 13 – 14% lên 19 – 21%/năm tùy từng khoản vay.Mặc dù lãi suất cao là một trong những công cụ để kiềm chế lạm phát, nhưng trongtrường hợp ở Việt Nam một mức lãi suất quá cao sẽ tác động tới đường cung mạnhhơn do chi phí đẩy tăng mạnh, kéo theo đường cung dịch chuyển sang trái và lạm
phát gia tăng Vì vậy, ngày 03/03/2011, NHNN đã ban hành Thông tư số TT-NHNN quy định: tổ chức tín dụng ấn định lãi suất huy động vốn bằng đồng
02/2011-Việt Nam không vượt quá 14% Tuy nhiên trên thực tế là các NHTM đều huy độngtiền gửi với lãi suất vượt trần 14% rất nhiều (có thể lên tới 18%-20%) Cách “lách”luật của các NHTM rất đa dạng, thường là khách hàng đi gửi tiền nhận được lãisuất tiền gửi không quá 14% (đúng như quy định của NHNN) và đồng thời nhậnđược một phần “quà tặng” bằng tiền mặt, hoặc bằng các phụ lục thưởng, phụ lụcphạt Đây có thể coi là giai đoạn thị trường tự điều chỉnh lãi suất không có sự canthiệp của chính phủ trong bối cảnh nền kinh tế vĩ mô thế giới và trong nước đanglâm vào khó khăn, khi nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp vẫn rất cao để duy trì sảnxuất kinh doanh và vẫn có các doanh nghiệp sẵn sàng trả lãi suất cao để vay vốn
Ngày 7/09/2011, Thống đốc NHNN đã ra Chỉ thị 02/CT-NHNN về chấn
chỉnh việc thực hiện quy định về mức lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam vàbằng đôla Mỹ của các TCTD và chi nhánh nước ngoài (gọi chung là TCTD) Theo
đó, đối với các TCTD phải thực hiện đúng mức lãi suất huy động bằng đồng Việt
Nam theo Thông tư số 02/2011-TT-NHNN Theo chỉ thị này, các TCTD vi phạm
quy định về lãi suất huy động vốn sẽ bị đình chỉ hoặc miễn nhiệm chức vụ củangười quản lý, người điều hành của TCTD;…Chỉ thị 02/CT-NHNN cũng tạo cơchế cho các TCTD đối thủ có điều kiện “tố” lẫn nhau: Chỉ thị này yêu cầu các đơn
vị TCTD và ngân hàng chủ động phát hiện và báo cáo về NHNN những TCTDcạnh tranh không lành mạnh vi phạm mức lãi suất huy động đồng Việt Nam theo
Trang 10qui định của NHNN Đây là một biện pháp hành chính rất mạnh tay của Tân thốngđốc Nguyễn Văn Bình nhằm hiện thực hóa cam kết giảm lãi suất cho vay xuốngcòn 17% - 19% (đối với các lĩnh vực được coi là sản xuất) Sau khi NHNN phát đichỉ thị này, đã có nhiều ngân hàng thương mại hưởng ứng Đến ngày 8/9/2011, đã
có 34/42 NHTM ban hành văn bản chỉ đạo trong toàn hệ thống về việc chấp hànhđúng quy định của NHNN về mức lãi suất huy động Mặc dù phải viện tới biệnpháp hành chính rất mạnh tay và bị không ít các chuyên gia trong và ngoài ngành
ngân hàng nghi ngại về tính “phi thị trường” trong quyết định của ông, Thống đốc
đang làm được hai việc hết sức quan trọng là một là cứu hệ thống doanh nghiệpkhỏi nguy cơ đổ vỡ hàng loạt do mất thanh khoản và hai là tạo ra một kỳ vọng mới
về mặt bằng lãi suất và hi vọng về mặt bằng lạm phát thấp hơn so với giai đoạntrước khi ông nhậm chức
Tiếp đó, đối mặt với tình trạng một số TCTD lách luật bằng cách cho phéphuy động lãi suất 1 tuần, 2 tuần vẫn ở mức 14% (như vậy nếu gửi liên tục cả gốc vàlãi thì tính ra lãi suất năm sẽ vượt quá 14%), ngày 28/9/2011, NHNN ban hành
Thông tư 30/2011-TT–NHNN có hiệu lực 01/10/2011 thay thế Thông tư
02/2011-TT-NHNN, quy định: lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VNĐ của tổ chức, cánhân tại TCTD như sau: với tiền gửi KKH và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 6%/năm; từ
1 tháng trở lên là 14%
Ưu điểm:
Giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các Ngân hàng trong cuộc đua lãisuất khi mà các ngân hàng có vốn nhà nước phải tuân thủ các quy định trần lãi suấtcủa NHNN nên không thể huy động được vốn do lãi suất thấp hơn nhiều so với cácNHTM vượt trần
Tạo điều kiện cho những người đi vay (giảm chi phí) đặc biệt là nhữngdoanh nghiệp sản xuất; có thể không khuyến khích dân chúng gửi tiền vào ngânhàng mà phần nào có ý nghĩa khuyến khích dân chúng tập trung tiền vốn vào sảnxuất kinh doanh (đầu tư sản xuất) => hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Sức ép để tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng theo hướng lành mạnh, ổnđịnh
Kiềm chế lạm phát (Việc áp đặt một mức lãi suất thấp (lãi suất thực âm),giảm chi phí cho doanh nghiệp sản xuất, tăng tổng cung, giảm giá => giảm lạmphát)
Nhược điểm:
Gây khó khăn cho Ngân hàng nhỏ, tính thanh khoản của NH rơi vào tìnhtrạng báo động (Với một mức lãi suất trần như vậy (lãi suất thực âm), dân chúng sẽ
Trang 11có xu hướng gửi vào những NH lớn, uy tín hơn hoặc tệ hơn là rút vốn khỏi hệthống NH để đầu tư vào thị trường tín dụng đen gây bất ổn cho xã hội)
Vi phạm tính cạnh tranh trên thị trường, thể hiện sự thiếu công bằng (có lợicho doanh nghiệp đi vay, thiệt cho người gửi tiền và NH nhỏ)
Giảm sức hút huy động tiền (Tiền trôi nổi trên nền kinh tế, người dân dùngtiền đầu tư vào vàng, USD, bất động sản, chứng khoán, tín dụng đen làm cho việcđiều hành chính sách trở nên khó khăn hơn, tạo ra vòng luẩn quẩn: Ví dụ, mọingười đầu tư vào USD, cầu thị trường USD tăng => tăng tỉ giá, VNĐ mất giá kéotheo lạm phát tăng cao)
Sự quản lý chưa thực sự nghiêm túc của NHNN gây ra tình trạng nhiềuNHTM vẫn có các biện pháp vượt rào lãi suất, tạo ra sự cạnh tranh không lànhmạnh giữa các NH, ảnh hưởng bất lợi đến mục tiêu giảm lãi suất cho vay, sự ổnđịnh của thị trường tiền tệ cũng như hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng
Để cứu các ngân hàng thương mại nhỏ thì NHNN buộc phải cung tiền (dođặt lãi suất trần dưới mức cân bằng của thị trường gây ra thiếu hụt), gây khó khăncho các chính sách thắt chặt tiền tệ vì mục tiêu kiềm chế lạm phát
b Chính sách quản lý USD:
Nhằm chống hiện tượng USD hóa ở VN hiện nay (để gia tăng giá trị củaVNĐ), trong năm 2011, NHNN đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để kiềm hãm sựgia tăng của quá trình đô la hóa trong hệ thống NHTM, cụ thể là:
Ngày 9/04/2011, NHNN ban hành Thông tư số 09/2011/TT-NHNN về quy
định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng USD tại TCTD của tổ chức là 1%; cá
nhân là 3% Sau đó là Thông tư số 14/2011/TT-NHNN được ban hành (hiệu lực
2/06/2011) thay thế Thông tư trên quy định quy định mức lãi suất huy động vốn tối
đa bằng USD tại TCTD của tổ chức là 0,5%; cá nhân là 2% Chỉ chưa đầy 2 tháng,NHNN đã đưa ra 2 thông tư về quy định mức lãi suất huy động tối đa bằng USD tạiTCTD giảm xuống cho thấy rằng NHNN khá mạnh tay trong việc kiểm soát huyđộng USD
Đồng thời, NHNN còn kết hợp với chính sách dự trữ bắt buộc với một loạtcác quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc USD từ 6% lên 8% (Quyết định 750/QĐ –NHNN ngày 9/04/2011 tỷ lệ dự trữ bb là 6%=> Quyết định 1209/QĐ –NHNN ngày1/06/2011, tỷ lệ dự trữ bắt buộc USD là 7% => Quyết định 1925/QĐ –NHNN ngày26/8/2011, tỷ lệ dự trữ bắt buộc USD là 8%)
Ngoài ra, NHNN cũng đã ban hành văn bản số 8608/NHNN-QLNH gửi Tổng
Giám đốc (Giám đốc) Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng 100% vốnnước ngoài tại Việt Nam về việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản lýngoại hối Công văn nêu rõ, ngày 20/10/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số