Học thuyết chính trị - xã hội Nho giáo đãđược vương triều cát cứ họ Nguyễn và triều đình nhà Nguyễn đưa lên vị trí độctôn trong nền tảng tư tưởng của đời sống tinh thần người Việt, cùng
Trang 1NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐỐI VỚI LỐI SỐNG NGƯỜI DÂN THỪA THIÊN - HUẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội được hình thành từ thế kỷ VItcn trong xã hội Trung Hoa cổ đại Suốt chiều dài hơn 2500 năm hình thành vàphát triển, nó đã ghi đậm dấu ấn cho nền văn hoá Trung Hoa, tạo nên mộtnước “Phương Đông” đặc thù về văn hoá chính trị Nho giáo là một hệ thống tưtưởng của giai cấp phong kiến Về mặt lịch sử thì nó đã được xếp vào hạng “disản”, nhưng do đặc thù của nó là tư tưởng thống trị trong đời sống chính trị - xãhội của nhà nước phong kiến phương Đông một thời gian dài, nên cho đến naykhông dễ gì đã xoá bỏ nó một cách sạch trơn, triệt để Những tư tưởng của nó
dù dưới hình thức hay hình thức khác vẫn tồn tại Nho giáo với tư cách là hệthống tư tưởng của giai cấp phong kiến thống trị nó đã tạo ra cho các nước
“đồng văn” (kể cả “nước mẹ đẻ”) một hình thái xã hội riêng biệt đặc sắc độcđáo như nước Nhật, Triều Tiên, Singapo, Đài Loan và Việt Nam Riêng ThừaThiên - Huế, nơi có thành phố Huế, một thành phố xinh đẹp nằm bên bờ sôngHương thì ảnh hưởng lại càng đậm nét Huế một thời là thủ phủ của các chúaNguyễn, là kinh đô của chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyềnthống nhất cuối cùng ở Việt Nam Học thuyết chính trị - xã hội Nho giáo đãđược vương triều cát cứ họ Nguyễn và triều đình nhà Nguyễn đưa lên vị trí độctôn trong nền tảng tư tưởng của đời sống tinh thần người Việt, cùng với nhữngnét truyền thống văn hoá người Việt, nó kết hợp với văn hoá bản điạ mà đã tạonên một nét riêng đặc trưng trong lối sống ở Thừa Thiên - Huế (TT-Huế)
Một học thuyết ra đời cách đây hơn 2500 năm, tất nhiên sẽ có nhiều hạnchế về tư tưởng, nhưng những gì mà nó tồn tại cho đến hôm nay thì rõ ràngkhông thể phủ nhận những mặt tích cực của Nho giáo Trong xây dựng nền
văn hoá tiên tiến hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc, việc nghiên cứu “Nho giáo
và ảnh hưởng của Nho giáo đối với lối sống người dân TT-Huế trong giai đoạn hiện nay” là việc làm cần thiết, có ý nghĩa.
II Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài “Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo đối với lối sống người dân TT-Huế trong giai đoạn hiện nay” là một luận văn tốt nghiệp cử nhân
chuyên nghành triết học Hy vọng nó chỉ ra những gì mà dấu ấn của Nho giáo
để lại, và lý giải phần nào đó mà con người TT-Huế có những điểm khác biệtvới những nơi khác, qua đó chỉ ra những đóng góp và hạn chế của Nho giáotrong đời sống của con người xứ này Dù có rất nhiều công trình khoa họcnghiên cứu về đề tài này hoặc tương tự ví dụ như: “Nho giáo tại Việt Nam”của nhóm tác giả do GS TS Lê Sĩ Thắng chủ biên, năm 1994; “Nho giáo vàvăn hoá Việt Nam” của Nguyễn Đăng Duy, năm 1998; “Nho giáo và ảnhhưởng của Nho giáo ở Việt Nam” khoá luận tốt nghiệp cử nhân nghành GD -
Trang 2CT, ĐHSP Huế của Nguyễn Hà Giang, năm 2000, và rất nhiều các bài báo vàphóng sự khác Nhưng ở đây tác giả chỉ muốn tiếp cận nó ở một khía cạnh cụthể hơn nhằm muốn tổng hợp đưa tới cho những ai quan tâm về Nho giáo vàvăn hoá xứ Huế một số thông tin khái quát, để góp phần trang bị cho hànhtrang tri thức của tác giả và của bạn ngày càng phong phú thêm Đây là mộtcông trình đầu tay nên chắc chắn không tránh được những sai sót tác giả rấtmong được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn nhằm giúp tác giả nghiêncứu nó ngày càng được hoàn thiện hơn.
III Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Khái lược lịch sử hình thành và phát triển của Nho giáo
- Khái lược sự du nhập của Nho giáo và biểu hiện của nó trong đời sốngchính trị - xã hộiViệt Nam
- Chỉ ra quá trình hình thành phát triển của Nho giáo ở Thừa Thiên - Huế
và những biểu hiện ảnh hưởng của nó trong lối sống người dân TT-Huế tronggiai đoạn hiện nay
IV Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Tư tưởng tiêu biểu của Nho giáo trong lịch sử Trung Quốc và Việt Nam
- Sự hiện diện của nó trong lối sống người dân Thừa Thiên - Huế ở giaiđoạn hiện nay
V Phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật và điều tra xã hội học mà cụthể là các phương pháp lịch sử - lôgích, phương pháp diễn dịch - quy nạp,phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp thống kê toán học đượcdùng mà hoàn thành công trình này
VI Kết cấu của đề tài.
Ngoài các phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được chia làm
ba chương, 8 tiết:
Chương 1 - Những nét khái quát về Nho giáo của Trung Quốc.
1.1 Hoàn cảnh ra đời
1.2 Các thời kỳ hình thành và phát triển
1.2.1 Nho giáo thời kỳ Tiên Tần
1.2.2 Nho giáo sau thời kỳ Tiên Tần
1.2.2.1 Nho giáo thời kỳ Lưỡng Hán (202 TCN- 220SCN)
1.2.2.2 Nho giáo thời kỳ Nguỵ - Tấn và Nam Bắc triều (220 - 590)
1.2.2.3 Nho giáo thời kỳ Tuỳ - Đường (518 - 618 và 618 - 960)
1.2.2.4 Nho giáo thời kỳ Tống - Nguyên (960 - 1368)
1.2.2.5 Nho giáo thời kỳ Minh - Thanh (1368 - 1911)
1.2.2.6 Nho giáo thời kỳ cận và hiện đại từ 1911 đến nay
Chương 2 Khái quát sự du nhập của Nho giáo vào xã hội Việt Nam.
2.1 Nho giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc(207 TCN - 938 SCN)
Trang 32.2 Nho giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh gìn giữ độc lập dân tộc
và thời kỳ ổn định thịnh trị của xã hội phong kiến (938 - 1527)
2.3 Nho giáo ở Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng của xã hội phongkiến (1527 - 1802)
2.4 Nho giáo ở Việt Nam trong thời kỳ nhà Nguyễn (1802 - 1945)
2.5 Nho giáo ở Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay
Chương 3 Nho giáo ở Thừa Thiên Huế.
3.1 Nho giáo ở TT-Huế trong các triều đại phong kiến của 9 đời Chúa và
3.2.3 Biểu hiện ảnh hưởng của Nho giáo trong quan hệ giao tiếp ứng xử
xã hội của người TT-Huế
3.3 Đánh giá đóng góp và hạn chế của Nho giáo trong lối sống con ngườiTT-Huế hiện nay
Trung Quốc là một nước thuộc miền Đông Á với diện tích rộng lớnkhoảng 9,5 triệu km2 , dân số hiện nay khoảng 1,2 tỷ người gồm 60 dân tộc,trong đó dân tộc Hán chiếm đại đa số, chiếm gần 90% dân số Trung Quốc.Theo lịch sử thì cho đến ngày nay người Trung Hoa đã trải qua gần 6000 năm.Tuy vậy, theo tài liệu khảo cổ thì giai đoạn Tam Hoàng, Ngũ Đế là không đángtin cậy Chứng cứ xác thực, khoa học nhất về lịch sử Trung Hoa là bắt đầu từthời nhà Hạ
Thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc chuyển từ thời kỳ đồ đồng sangthời kỳ đồ sắt Về chính trị xã hội, lúc này chế độ tông pháp của nhà Chukhông còn được tôn trọng, các mối quan hệ với các nước như hầu trở nên cóphần lỏng lẻo, thiên tử không uy quyền như trước với chư hầu nữa Nước nhỏ
bị ăn hiếp, nước lớn tổ chức xâm chiếm thôn tính nước nhỏ nhằm mở mang bờcõi, nhằm giành địa vị bá chủ thiên hạ Cương thường bị đảo lộn, đạo đức suy
Trang 4đồi xảy ra Bọn thống trị sống trong xa hoa cực lạc, xa xỉ bao nhiêu thì nhândân lao động bị đày đoạ, cùng cực bấy nhiêu, và điều đó là động lực cho sự cáochung của chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Hoa
Các lĩnh vực khác trong thời kỳ này, Trung Quốc đã có nhiều cống hiếncho nhân loại như Toán học, Y học, Văn học, Thiên văn học, Sử học Các bộmôn khoa học này được hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiễn lâu dài củanhân dân lao động Những tri thức khoa học này đã góp phần thúc đẩy, pháttriển đời sống người dân Trung Hoa cổ đại Hơn thế nữa nó là tiền đề cơ sởcho thế giới quan triết học nảy nở và phát triển mạnh mẽ
Cũng chính trong thời đại lịch sử có nhiều biến đổi mạnh mẽ này đã đặt
ra những vấn đề triết học, chính trị - xã hội, tâm lý, đạo đức, kinh tế, pháp luật,quân sự, kích thích, gợi mở lòng trắc ẩn, khiến cho bậc tài trí đương thời quantâm lý giải cốt tìm ra phương pháp giải quyết “cứu người, cứu đời” Chính vìvậy mà làm nảy sinh một loạt các nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường pháitriết học lớn Các nhà tư tưởng của các học phái đó là người đại diện cho lợiích các giai cấp, tầng lớp khác nhau vừa kế thừa tư tưởng của nhau vừa đấutranh với nhau đã tạo nên một bầu không khí sôi động trong đời sống tinh thần
xã hội Trung Quốc cổ đại
Tư Mã Thiên (146 - 86)TCN trong Luận Lục Gia Yếu Chỉ đã chia “Báchgia chư tử ” thành 6 phái chính: Nho gia, Âm - Dương gia, Mặc gia, Pháp gia,Danh gia, Đạo đức gia Theo Ban Cố (32-92) tác giả của Hán Thư Nghệ vănchí thì ở sách Thất Lược của Lưu Hâm (46 TCN) và Lưu Hướng (79- 8 TCN)cho rằng chư tử trước đời Tần gồm 189 người, có thể xếp thành 10 nhà là: Nhogia, Mặc gia, Đạo gia, Âm dương gia, Danh gia, Pháp gia, Tung Hoành gia,Nông gia, Tạp gia, Tiểu thuyết gia Trong đó có học thuyết Nho giáo là mộthọc thuyết chính trị - đạo đức nổi bật nó mang nhiều yếu tố tích cực và cũngnhiều hạn chế song nó có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của lịch sử TrungQuốc Toàn bộ tư tưởng của học thuyết của Nho gia được trình bày một cách rõràng trong bộ sách kinh điển vĩ đại là Tứ thư gồm Luận ngữ, Trung dung, Đạihọc, Mạnh tử và Ngũ kinh gồm Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, KinhXuân Thu, về sau có vài tác phẩm luận bình chú giải về nó
1.2 Khái lược về các giai đoạn hình thành và phát triển của Nho giáo.
1.2.1.Nho giáo thời kỳ Tiên Tần
Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ “Nho”, theo Hán
tự thì nó gồm chữ “nhân” đúng cạnh chữ “nhu” Nho gia còn gọi là nhà nho,người đã học thấu đạt sách thánh hiền, được thiên hạ cần để dạy người khác ăn
ở sao cho phù hợp luân thường đạo lý của người đời Khổng Tử đã hệ thốnghoá tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết gọi là Nho giáo hay Nhohọc Đôi khi người ta cũng gắn tên gọi của nó với tên tuổi người sáng lập ra nó,gọi là Khổng học Nho gia gắn liền với các tác gia tiêu biểu là Khổng Tử,Mạnh Tử, Tuân Tử
Trang 51.2.1.1 Khổng Tử: Tên gọi là Khâu, tự là Trọng Ni, người làng XươngBình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ngay nay, ông sinh năm 551 TCN đời
Lỗ Tương Công năm 22, Chu Linh Vương năm 21 tại ấp Trâu, nước Lỗ Đây làthời kỳ mà xã hội Trung Hoa loạn lạc triền miên, các Vua chúa chuyên quyền,đang tâm hưởng thụ hoặc chém giết lẫn nhau để xưng hùng xưng bá, đạo lýnhân luân bị xáo trộn, vinh nhục không rõ ràng, thiện ác khó phân biệt đã làmảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của Khổng tử sau này Cha ông là Thúc NgộtLương làm quan võ của triều đình nước Lỗ, mẹ là Nhan Thị Cha ông mất khiông 3 tuổi, gia cảnh từ đó bần hàn nhưng bà Nhan Thị vẫn quyết tâm nuôi con
ăn học
Từ nhỏ Khổng Tử vẫn là một đứa bé siêng năng và ham học hỏi, thíchchơi trò cúng tế Năm 33 tuổi, Khổng Tử đến nước Chu để khảo sát việc tế lễ
ở miếu đường, gặp lúc loạn lạc Khổng Tử bỏ qua nước Tề sau đó trở về nước
Lỗ dạy học và nghiên cứu sách Năm 53 tuổi, Khổng Tử được vua Lỗ mời ralàm Trung Đô Tể (quan coi ấp Trung Đô), lúc này tư tưởng chính trị của ôngđược thi hành nhiều nơi Chẳng bao lâu ông được phong Đại Tư Khấu rồiNhiếp Tướng Bộ coi việc hình án, ấn định luật lệ, phép tắc trong nước Thờigian làm quan, Khổng Tử đã đem lại cho nước Lỗ cảnh thanh bình, ban đêmngủ không đóng cửa, ban ngày ra đường không ai nhặt của rơi, luân thừơng đạo
lý được coi trọng
Sau đó vua nước Lỗ say sưa trong cảnh thanh bình mà đam mê tửu sắc,
bỏ bê việc triều chính làm cho Khổng Tử chán nản, bỏ sang nước Vệ, nước Vệkhông trọng dụng, ông bỏ sang nước Trần rồi lại về nước Vệ Từ nước Vệông sang nước Tống lại qua nước Trần, rồi về nước Vệ Sau 14 năm bôn bacùng học trò mong có người sử dụng học thuyết của mình, song ông đã thấtvọng Trở lại nước Vệ sống khoảng 5-6 năm ông mới thấy bất lực việc làmchính trị, nên trở về nước Lỗ dạy học và san định lại các kinh sách đời trước.Ông mất vào năm 479 TCN ở quê nhà, vào đời Lỗ Ai Công năm 16, Chu KínhVương năm 41, thọ khoảng 72 tuổi
Có thể nói cả cuộc đời ông là việc “học không biết chán, dạy không biết
mỏi” ( Luận ngữ, Thuật nhi) Với phương châm “thuật nhi bất tác” ông đã san
định lại các sách của người xưa để lại gồm Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Lễ,Kinh Nhạc, Kinh Thư, và viết thêm Kinh Xuân Thu để bộc lộ quan điểm củamình Ông nói người đời sau hiểu ông hay không chính là ở bộ Kinh Xuân Thu
đó (Mạnh Tử, Đằng văn công hạ) Nhiều quan điểm của ông cũng thể hiện qua các cuộc đàm đạo mà nội dung của nó được ghi lại trong bộ Luận ngữ do học
trò của ông chép lại Sau này cuộc “Phần thư Khanh Nho” của Tần ThuỷHoàng mà sách của đạo Nho không còn là bao Kinh Nhạc còn một thiên làNhạc ký sau đó gộp vào bộ Lễ ký, nên cuối cùng bộ tác phẩm này còn lại nămkinh (ngũ kinh), đó là Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh XuânThu
Trang 6Trong hệ thống triết học của mình, Khổng Tử chủ yếu đi sâu vào các vấn
đề chính trị - xã hội Nhưng ở các tác phẩm của ông và sách vở do học trò ghilại thì cho thấy rằng ông cũng đã đề cập nhiều đến các vấn đề của triết học, thểhiện quan điểm của ông trong các vấn đề về thế giới, về chính trị - xã hội, vềluân lý đạo đức và cuộc sống con người
- Quan niệm về thế giới: Khổng giáo tin rằng trời là chủ lễ cả vũ trụ có ý
chí mạnh mẽ điều hoà thế gian Nhưng Khổng Tử không quan niệm về trời nhưcác quan niệm của tôn giáo, tức trời có hình dáng, cảm tình như con người.Theo ông, trời là cái lý vô hình, huyền diệu, một năng lực khi thi hành thikhông sao cưỡng lại được Quỷ thần theo Khổng Tử đó là cái khí linh thiêngcủa trời đất, không hiện hữu nhưng có tất cả trong muôn vật Khổng tử chorằng trời, quỷ thần rất thông minh chính trực, không thiên tư, “trời có nói gì
đâu mà bốn mùa vẫn cứ vận hành, vạn vật vẫn cứ sinh hoá mãi” (Luận ngữ, Dương hoá) Vạn vật, trời đất, quỷ thần, con người tất cả đều có quan hệ với
nhau sống trong một cái lý chung của trời Con người trong vũ trụ không táchrời cái quy luật chung đó Nó được gọi là “đạo”, tất cả đều thu về một mối, “tất
cả mọi vật đều trôi đi như dòng nước chảy, không có vật nào ngưng
nghỉ”(Luận ngữ, Vệ Linh Công) Con người sống trong vũ trụ chịu theo đạo
trời đó là “thiên mệnh” “Thiên mệnh” đó là sự định đoạt của trời đối với mỗimột con người từ khi sinh thành đến khi chết đi, mọi sự kiện, biến động, trạngthái của con người đều do trời sắp sẵn, là cái tất nhiên sẽ đến trong cuộc đời
Từ đó, Nho giáo khuyên con người nên sống theo mệnh trời, “sống chết có
mạng, giàu sang tại trời”(Luận ngữ, Nhan uyên) Còn người quân tử là kẻ cai
trị thiên hạ thì phải biết mệnh trời Biết mệnh trời để phục tùng nó một cáchtuyệt đối, đó là phận sự của người quân tử và để thi hành cho đời cái đạo củathánh nhân Thi hành đường lối trị nước của Khổng Tử chính là thi hành đạocủa Chu Công, ông luôn coi Chu Công - một công thần của nhà Chu - là bậcthánh mà đạo của Khổng Tử cũng chính là đạo của Chu Công Tuy nhiên tronghoàn cảnh xã hội loạn lạc, suy vi như vậy Khổng Tử khuyên mọi người hãy tậptrung giải quyết vấn đề trước mắt đó là lập lại kỷ cương trật tự xã hội “quân
quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” (Luận ngữ, Nhan uyên) Có nghĩa rằng vua
phải xứng đáng là vua, thần phải xứng đáng là thần, cha phải xứng đáng là cha,con phải xứng đáng là con Còn việc đối với trời đất, quỷ thần thì ông tỏ ra thờ
ơ ở đây một điểm đáng lưu ý là: vì ông xuất phát từ giai cấp quý tộc trên đàsuy yếu để đề xuất học thuyết của mình nên phải mượn “tấm áo choàng thầnbí” khoác lên, làm cho học thuyết của mình có sự tin cậy, có uy tín cao hơn.Mặt khác, ông cũng thấy rõ rằng trời, quỷ thần không thực sự tham gia vào đờisống thực tiễn Chính sự không triệt để và mâu thuẫn này của ông mà sau nàyNho giáo chia thành hai khuynh hướng có quan điểm về thế giới trái ngượcnhau: khuynh hướng duy tâm của Mạnh Tử và khuynh hướng duy vật của Tuân
Tử Ông nói “đối với quỷ thần thì kính nhi viễn chi”(Luận ngữ, Ung giã), tức
đối với quỷ thần thì cung kính mà tránh xa Khi Quý Lộ - học trò của ông - hỏi
Trang 7về đạo thờ quỷ thần, ông nói: “đạo thờ người còn chưa thấu hiểu sao biết đạo
thờ quỷ thần Sự sống còn chưa biết, sao biết được sự chết” (Luận ngữ, Tiến tấn) Ông muốn mọi người đề cao năng lực của chính mình và khuyên mọi
người hãy nỗ lực, tận tâm làm việc, sau đó thành bại mới nói đến mệnh trời
- Quan niệm về chính trị - xã hội: có thể nói đóng góp nổi bật nhất trong
triết học của Khổng Tử là lý luận về chính trị - xã hội Trên cơ sở về nhu cầu
xã hội của xã hội Trung Quốc cổ đại về việc chuyển giao giữa hai hình thái xãhội mà ông trực tiếp chứng kiến, ông muốn xây dựng một học thuyết nhằmgiúp các bậc trị nước lập lại kỷ cương xã hội phù hợp với sự chuyển biến củalịch sử Để thực hiện được điều này theo Khổng Tử xã hội phải thi hành mộtcách nhất quán những tư tưởng về “Nhân, Lễ, Chính danh”, đặc biệt phải thựchành giáo dục đối với tất cả mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội Vì theoKhổng Tử thì chỉ có giáo dục và thông qua giáo dục con người trong xã hộimới có “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Dũng” và mới thi hành được “Chính danh” Nhân: được coi như là phạm trù trung tâm và cơ bản nhất của triết họcKhổng Tử Nhân gồm chữ “nhân đứng” và chữ “nhị” ghép lại, theo Lệ thầnTrần Trọng Kim thì đó là sự kết hợp giữa cái đức chung của mọi người đều cólại với nhau “Nhân” không chỉ riêng một đức tính nào mà nó chỉ chung chomọi đức tính Người có “nhân” là người hoàn thiện nhất có thể sánh với “thánhnhân”, là thần, thánh Suy cho cùng “nhân” tức là đạo làm người Đạo làmngười nó thể hiện bằng tất cả mọi động thái của con người trong cuộc sống xãhội của con người đối với bản thân và đối với người khác Có thể hiểu “nhân”một cách nôm na là thái độ cư xử với mình và với người
Đối với mình, người có “nhân” “trước hết phải làm việc khó sau đó hưởng
thành quả mới gọi là nhân” (Luận ngữ, Ung giã) Người có “nhân”, cái cao cả
nhất là “đức nhân” của mình tức là vì nhân mà hại thân chứ không phải vì thân
mà hại nhân Cũng vì “nhân” mà con người phải tự khép mình khuôn theo lễtiết của xã hội Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về “nhân” ông đáp: “khắc kỷ phục lễ
vi nhân” (Luận ngữ, Nhan uyên), tự mình, răn mình, sửa mình, dạy mình theo
khuôn phép thì trở thành “nhân” Khổng Tử nói với Tử Trương: “người có đứcnhân là người nghiêm trang tề chỉnh, rộng lượng, khoan dung, đức tính, lòng
thành, siêng năng, cần mẫn và biết thi ân bố đức” (Luận ngữ, Dương hoá).
Đối với người, người có “nhân” không chỉ đối với mình có “nhân” màđối với người cũng phải như vậy Người “nhân” muốn tự lập lấy mình thì trướchết phải lập cho người đã, muốn thành đạt thì cũng lo cho người thành đạt,
“người nhân ứng xử với mình thế nào thì đối với người cũng thế ấy” (Luận ngữ, Ung giã) Người “nhân” không khi nào làm trái đạo, cái lẽ hành động, thi
hành đức nhân của Nho gia được thể hiện trên một lập trường kiên định, trướcsau như một Nhân là yêu người như yêu mình “điều gì mà mình không muốn
thì đừng đem đến cho người” (Luận ngữ, Vệ Linh Công) Phạm trù “nhân” của
Khổng Tử vừa mang hàm ý cao siêu chỉ có thánh nhân mới đạt được, vừa có ýbình thường mà ai cũng có được : “người như Nhan Hồi mà “nhân” chỉ có thể
Trang 8giữ được ba tháng còn người khác chỉ có thể giữ được một ngày thôi”(Luận ngữ, Ung giã) Ông cho rằng chỉ người quân tử mới có “nhân” và cũng chính
họ mới biết cách làm thế nào để những hành vi xử sự của họ đúng với “nhân”,cũng như đánh giá hành vi của người khác về “nhân”
Phạm trù “nhân” của Khổng Tử nói tóm lại là biểu hiện của hai chữ
“Trung” và “Thứ” “Trung” là thành tâm thành ý, là trung thành, là mẫn cánluôn chung thuỷ một lòng Người quân tử khốn cùng vẫn giữ đạo, kẻ tiểu nhânkhốn cùng thì làm càn “Thứ” là tấm lòng thông cảm, hiểu biết chia sẻ, hoáthân, đặt lòng mình vào lòng của người khác, đặt vị trí của mình vào vị trí của
họ Chính vì thế mà “đạo” của Khổng Tử chỉ cần một chữ cũng đủ để bao quáttất cả Khổng Tử nói rằng : “đạo của ta chỉ có một mà quán thông hết thảy”Tăng Tử đáp “dạ vâng, quả vậy” Môn nhân khác bèn hỏi: “vậy có nghĩa là gì”,
Tăng Tử đáp: “đạo của thầy chỉ có “trung thứ ”vậy” (Luận ngữ, Lý nhân).
Kẻ có nhân là kẻ có tình cảm chân thành, bao giờ cũng hết lòng vì nghĩa,cho nên người đó bao giờ cũng hiếu đễ, lễ nghĩa, trung thứ Khổng Tử nói : “
cương nghị mộc nột cận nhân ”(Luận ngữ, Tử lộ), nghĩa là cứng cáp mà lời nói
chất phác là gần với nhân vậy Nhờ có “lòng nhân” nên mọi người mới coinhau như anh em, cả đoàn thể coi như một người Như vậy, một người đau thìnhiều người buồn Bởi vì, mọi người như các bộ phận trên cơ thể con ngườivậy, một bộ phận bị đau thì các bộ phận khác ảnh hưởng Kẻ bất nhân thìthường khôn khéo, trí thuật vì lợi ích mà lừa trên gạt dưới, dối trá, phản loạn,
không thực lòng Khổng Tử nói: “xảo ngôn, lịnh sắc tiễn hĩ nhân”(Luận ngữ, Học nhi), nghĩa là bề ngoài nét mặt không thuần chính, giả tạo, lời nói sắc sảo
thì ít nhân
Như đã nói trên “nhân” là một phạm trù đóng vai trò trung tâm của Khổnggiáo Nhờ có nhân mà con người sống với nhau trong xã hội có bầu không khíchan hoà thân ái, “người” hơn, có cuộc sống thái bình, thịnh trị Người quân tử,đặc biệt là vua nắm chính sự, cai trị muôn dân mà không có “nhân” thì xã hội
sẽ bị loạn Bởi vì, đức “nhân” là cứu cánh của họ, người có “nhân” thì “như
sao Bắc Đẩu, mọi ngôi sao khác phải hướng về”(Luận ngữ, Vi chính), không
dùng đức “nhân” mà trị thì xã hội rối loạn Ông chủ trương dùng đường lối
“Nhân trị” để thi hành “đạo” của mình nhằm ổn định chính trị xây dựng quốcgia thái bình
Lễ Con người thể hiện “đức nhân” của mình thông qua các hành vi ngônngữ, thái độ gọi là “lễ” Chữ “lễ” trước hết dùng để chỉ cách thờ thần tức làcúng tế, hành lễ Sau nữa là dùng chỉ những qui chế, phong tục tập quán được
xã hội thừa nhận Cuối cùng là để chỉ những qui ước bắt buộc của vua chúa đốivới thần dân thuộc quyền cai quản của họ “Lễ” là hành vi biểu hiện ra bênngoài của con người khi thực hiện “nhân”, rõ ràng trong trường hợp này “lễ” làhình thức, sự biểu hiện bên ngoài của “nhân” Còn “nhân” là cái bên trongđược thi hành biểu hiện ra ngoài bằng cách thông qua “lễ” Như vậy, “nhân” lànội dung, “lễ” là hình thức
Trang 9Thi hành “lễ theo Khổng tử đó là giữ hoà khí cho xã hội, nghĩa là nhờ “lễ”
mà xã hội duy trì thịnh trị, thái bình, hoà thuận trung dung, ông viết: “tác dụngcủa lễ là lấy hoà làm quí ” Khổng tử chủ trương với con người ai ai cũng phảithực hành “lễ” Từ khi chào đời cho đến khi nhắm mắt ngay cả khi ngồi mộtmình cũng phải thực hành “lễ” Ông cho rằng việc thực hành “lễ” rất quantrọng, cần thiết và nhất là phải thành tâm Theo Lệ Thần Trần Trọng Kim thì
“lễ” của Nho giáo thực thi nhằm 4 mục đích:
Thứ nhất, mục đích của nó là rèn luyện con người, tu tâm, dưỡng tính tạocho con người có điều kiện phát dương “đức nhân” “Lễ” theo mục đích này làchú trọng đến đạo đức tạo cho con người một trạng thái tình cảm nhân ái, trongsáng, thành tâm, thanh cao Ví như khi tế lễ tổ tiên, ba ngày trước đó để ý chămchăm vào việc tế lễ, đến ngày tế lễ thì coi như thật là trông thấy cha ông, tổtiên, thành ra cái tình cảm nó trào dâng mạnh mẽ Ông cho rằng: “tế không
phải là cái vật ở bên ngoài đến, mà nó ở trong bụng, tâm ta tự sinh ra”(Lễ kí,
“đạo nhân” trong một chừng mực, qui củ, tránh tự do, thái quá Vì nếu tự do
mà hành động thì mắc phải sai lầm, chệch lối Quá cũng không được, thiếucũng không nên, đó chính là phù hợp với đạo trung Nhan Uyên là bậc thấu đạt
“đạo nhân” hơn cả Khổng tử bảo rằng: “sắc gì không phải lễ thì đừng nhìn,điều gì không phải lễ thì đừng nghe, lời gì không phải lễ thì đừng nói, việc gì
không phải lễ thì đừng làm “(Luận ngữ, Nhan uyên) Đó là cách giữ cho hành
vi của con người có một chừng mực nhất định, lấy “lễ” làm tiêu chuẩn cho mọihành vi
Hai mục đích này có mối quan hệ với nhau mật thiết Đạo Khổng thihành “lễ” không những để cho con người có một hành vi đạo đức tốt đẹp, nhânđạo mà còn khiến cho những hành vi đó được thực thi sao cho đúng, ngaythẳng, không thiên lệch Đây là điều trọng yếu trong Nho giáo, bởi nó khôngchỉ cần con người có tâm tính tốt, nhân ái, mà còn đòi hỏi con người phải xử
sự, hành động một cách công minh, phù hợp, không thiên vị
Thứ ba, mục đích của “lễ” là phân định phải trái, trật tự, phân minh Nhờvậy mà định danh phận, địa vị của con người trong xã hội được rõ ràng ở trong
xã hội có vua tôi, cha con, vợ chồng, có kẻ thân người sơ, có việc trái việc phảicho nên cần có “lễ” để phân biệt cho rõ mọi lẽ, khiến cho mọi người trong xãhội hành động đúng, hợp với “lễ” Nhờ có “lễ”mà xã hội có trật tự, nhờ vậy màmọi vật đều được phân định rõ ràng, “nếu không có lễ thì làm thế nào mà biếtcách thờ trời đất, quỉ thần cho phải, lấy gì mà phân biệt đạo vua tôi cho
Trang 10phải”(Lễ ký) Lễ cũng là phép tắc để tổ chức thi hành đạo đức, luân thường
trong gia đình, kỷ cương, luật lệ trong xã hội
Thứ tư, mục đích của “lễ” là để tiết chế, kìm hãm cái tư dục, trái đạo củacon người Theo Khổng tử, con người là thụ khí tính của trời, của tự nhiên dotiếp xúc với đời mà sinh ra động, vì động mà sinh ra tình, vì do có tình là cái tưriêng cho nên phải có “lễ” để tiết chế kìm hãm tình lại, nếu không tình sẽ làmcho “thiên tính” mất đi Khổng giáo vốn trọng tình cảm, nhưng vẫn biết tìnhcảm của con người mà không có lí trí thì sẽ bị hư hỏng, sai lầm Cái tư tình củacon người thường ở dạng tiềm ẩn không thể nào mà diệt trừ nó được nên “lễ”chính là “rào cản” ngăn nó lại, không cho nó tự ý vươn vượt ra ngoài Giáo hoácủa “lễ” có tác dụng ngăn chặn thói hư, tật xấu nhằm hướng con người dần tiếnđến điều thiện, “người giàu biết lễ thì không dâm tà, kiêu căng; người nghèo
mà biết lễ thì không làm bậy, nản chí; người làm vua làm chúa biết lễ thì mới
trị được nước, mới yên được dân” (Lễ ký, Kinh giãi).
Tóm lại, “lễ” có một tác dụng rất to lớn, nó bao trùm tất cả mọi hành vicủa con người trong xã hội Bậc thánh nhân sử dụng “lễ” mà cai trị thì ân trạchđưa đến cho muôn dân, xã tắc yên bình thịnh trị Khổng Tử rất chú trọng “lễ”,không chỉ cần cho thiên hạ mà còn rất cần cho cả bản thân mình “khắc kỉ phục
lễ vi nhân”, tự sửa mình theo lễ là nhân Ngay cả chính bản thân ông là mộttấm gương sáng về thực hành “lễ” Sách Luận ngữ, ở thiên Hương Đảng có ghirằng “khi vua lâm triều thì ông cung kính có vẻ không yên tâm, mà không mất
đi vẻ uy nghi Khi vô cửa lớn của triều đình ông lom khom như cửa quá thấp,khi đi ngang qua ngai vàng của vua (dù không có vua) ông cũng biến sắc, chânbước run run, nói như chẳng ra lời ” Không phải ông quá sợ sệt hay mất tự tin
mà như vậy, điều mà ông muốn thể hiện ra đây đó là “lễ” “Lễ”của chế độ nhàChu mà Chu Công Đán là người được Khổng tử coi là bậc thánh nhân truyềnlại, và ông sẽ là người khôi phục Và điều mà ông muốn nói ở đây nữa là phảitôn trọng “danh”, thực ra ông chỉ tôn cái địa vị mà ông vua kia ngồi thôi, là cáingôi vua ấy còn con người làm vua đấy thì chắc gì
Chính danh: từ việc dùng “lễ” để thực hành “đức nhân” ông chủ trươnghọc thuyết “chính danh” “Chính danh” thực ra là bước cụ thể hoá “lễ” được
áp dụng vào tư tưởng chính trị “Chính danh” được coi như là một phát kiếnmới của ông Xuất phát từ sự biến đổi trật tự của xã hội Trung Hoa cổ đại
“vương đạo suy vi, bá đạo lấn át” vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không
ra cha, con không ra con , giới cầm quyền sa đoạ, chính sự rối ren, qui tắc lềlối, bị phá vỡ ông chủ trương lập lại trật tự xã hội bằng việc thực hiện “chínhdanh” “Chính danh” là đưa lại công dụng cho con người, sự vật mà công dụng
đó đã được định trước phù hợp với tên gọi mà họ đã đặt nên, người ta gọi nôm
na là “danh” với “thực” hợp với nhau tức là “danh chính” Khổng Tử chủtrương học thuyết “chính danh” vào việc thi hành chính sự Ông đề ra: “chính
sự là làm cho mọi việc ngay thẳng, công minh, nếu ngài (Quý Khương Tử,người đoạt ngôi vua nước Lỗ ) đi đầu trong dân chúng về việc này thì ai dám
Trang 11ăn ở hai lòng, hai dạ” (Luận ngữ, Nhan uyên) Theo ông mỗi người, mỗi vật
trong xã hội đều có một công dụng nhất định, nằm trong mối quan hệ xác địnhmỗi vật, mỗi người đều có địa vị bổn phận và tương ứng với nó là một “danh”nhất định Mỗi “danh” đều có tiêu chuẩn riêng Người nào, vật nào mang
“danh” nào phải thực hiện và thực hiện bằng được những tiêu chuẩn của
“danh” đó gọi là “chính danh”, nếu không thì phải gọi bằng “danh khác” Phân
“danh”, định phận xong rồi thì xã hội mới trị, Khổng Tử nói rằng: “nếu danhbất chính thì lời nói không đúng; lời nói không đúng thì dẫn tới việc làm sai;nếu việc làm sai thì lễ nhạc không thành; lễ nhạc không thành thì chế độ khôngđược lập; chế độ không được lập thì hình phạt không đúng; hình phạt khôngđúng thì dân biết làm sao cho phải, cho nên người quân tử đã dùng cái danh ắt
phải nói ra được, điều gì đã nói ra được ắt phải làm được”(Luận ngữ, Tử lộ).
Chính vì điều này mà những kẻ quân tử, nhà cai trị phải nắm chắc “chínhdanh” và luôn thực hiện “chính danh” để chính trị được thịnh vượng Nếukhông thì “dân không có chỗ cậy trông, nhờ vã; không cậy trông, nhờ vã đượcthì dân mất lòng tin; mất lòng tin thì không phục tùng tất xã tắc khó mà tránh
khỏi suy sụp”(Luận ngữ, Nhan uyên) Người trên phải giữ mình cho ngay chính
và làm việc gì cũng phải giữ cái danh cho ngay chính Một hôm Tử Lộ hỏithầy, nếu vua Vệ giao chính sự cho thầy thì thầy phải làm việc gì trước?
Khổng Tử trả lời: “ắt phải chính danh trước”(Luận ngữ, Tử lộ) Một điều nữa,
đó là chính danh của người trên sẽ làm cho người dưới nhìn nhận mà làm theo,
“mình ngay chính thì không sai khiến người ta cũng làm theo, mình không
ngay chính thì tuy có sai khiến cũng không có ai theo” (Luận ngữ, Tử lộ).
Khổng Tử đã áp dụng “chính danh” trong hành động của ông một cáchnhất quán Trong Kinh Xuân Thu đã thể hiện điều này rất rõ ràng Ông thậntrọng trong việc dùng từ ngữ, chữ nghĩa để phân biệt đúng đắn các hiện tượng
xã hội Cái chết của thiên tử trong Kinh Xuân Thu được ông gọi là “băng”, cáichết của vua như hầu được gọi là “hoăng”, cái chết của vua tiếm ngôi gọi là
“tồ”, cái chết của quan chính trực, liêm khiết gọi là tốt, cái chết của kẻ nịnhthần gọi “tử” Trong lễ nghi nhà Chu được Chu Công truyền lại quy định:
“thiên Tử dùng vũ “bát dật” gồm có tám hàng, mỗi hàng có tám người múa hát;như hầu dùng vũ “lục dật” gồm có sáu hàng, mỗi hàng có sáu người múa hát;quan đại phu thì dùng vũ “tứ dật” gồm bốn hàng, mỗi hàng có bốn người múahát Quan đại phu nước Lỗ là Quý Hoàn Tử theo lễ thì chỉ được dùng vũ “tứdật”, nhưng ông ta lại dùng lễ vũ “bát dật” tức tự cho mình ngang hàng vớithiên tử, trên cả vua nước Lỗ Khổng tử cho rằng Quý Hoàn Tử đã “tiếm lễ”,khi quân phạm thượng trái với nguyên tắc ”chính danh” mà ông đã đặt ra, việcnhẫn tâm này mà làm được thì không có việc nhẫn tâm nào mà không dám làm.Ông cũng nói rằng “chính danh” là làm tròn bổn phận của bản thân mình vớicông việc của mình “bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính”, là không ở chức vị nàothì không được mưu tính công việc của chức vị đó Thiên hạ, xã tắc sẽ loạn nếuthứ dân bàn đến chính trị Đại phu nắm chính quyền mà dân lại đi bàn việc
Trang 12nước rõ ràng trái với quy tắc “chính danh” Danh đã chính, thì việc nào cũng cócông dụng riêng của nó những điều tà thuyết không thể làm lu mờ được nó.Mọi người, mọi vật đều có địa vị chính đáng của mình trên dưới phân minh,cao sang thấp hèn đã rõ, ai có phận nấy Nếu người kém cỏi đứng ở địa vị caotheo Không Tử đó là “ăn cắp” địa vị, phải nhường lại cho người giỏi hơn Giữtrật tự cho phân minh rõ ràng danh phận đúng đắn, nghiêm minh đó là đều cănbản của “chính danh” mà Khổng Tử mong muốn thi hành
- Quan điểm về giáo dục, để xã hội thực hiện ‘chính danh” thật tốt, trước
hết phải có một nền giáo dục thật tốt, mỗi người phải được giáo dục và tự giáodục, chính nhờ giáo dục mà mỗi con người nhận thức được vị trí, thân thế củamình mà hành động cho đúng “lễ” Lý luận về giáo dục của Khổng Tử là lýluận quan trọng trong hệ thống triết học của ông Tư tưởng của nó, đã vượt quanhững hạn chế mà lịch sử mắc phải như tư tưởng về giai cấp, hạn chế về nhậnthức, ông chủ trương “hữu giáo vô loài” Mục đích tối cao nhất trong quanđiểm giáo dục của Khổng Tử là dạy làm người, dạy cho con người trở nên nhânnghĩa, trung chính để trở thành người quân tử Ông đề cao giáo dục coi đó làmột phương tiện để bậc quân tử đạt được điều “nhân”, trong phạm trù “nhân”này có nhiều nội dung, đầu tiên và quan trọng đó là “trí”
Theo Khổng Tử người có “nhân” là người có “trí” Nhưng ông nói rằng
“trí” là không phải do tự nhiên mà có, nó phải trãi qua quá trình học tập, tudưỡng, đây phải là quá trình bền bỉ lâu dài Khổng Tử cho rằng : “trí là biếtngười, là dùng người trực, bỏ kẻ gian, như vậy có thể giáo hoá kẻ gian thành
người trực” (Luận ngữ, Nhan uyên) “Trí” là sự minh mẫn, trí tuệ dùng để phán
xét, đánh giá, xử sự tình huống cho phải đạo, Khổng Tử nói: “hãy để bị lừa gạt
bởi những điều có lý chứ đừng bị mê hoặc bởi những điều đần độn” (Luận ngữ, Ung giã) “Trí” là một thuộc tính của “nhân”, không thể có “nhân” mà
không có “trí” , “trí” là một quá trình học hỏi trong cuộc sống, “học tức đi gần
đến với trí” (Trung dung) nếu không học thì dù có thiện tâm đến đâu cũng bị
cái ngu muội, phóng đãng, lầm lạc, phản loạn làm biến chất
Mục đích cao nhất của việc học theo Khổng Tử là để nhậm chức triềuđình, tham gia gánh vác công việc của quốc gia, để biết kỷ cương xã hội màtuân theo “trong lúc xã hội rối ren không ra làm quan không phải là người trí,
không ra giúp đời không phải là người nhân” (Luận ngữ, Dương hoá) Sự học
của con người là làm sáng cái đức sáng của thánh nhân, học để hành theo cáiđức sáng đó Học đức sáng của người xưa ban ân trạch cho muôn dân là mongmuốn thực sự của kẻ sĩ nho học Vì vậy, Khổng Tử nói: “người xưa vì mình
mà học, người nay vì người mà học” (Luận ngữ, Hiến vấn) “Học để làm quan
nên chỉ cần học đủ lễ, nghĩa, tín thì dân bốn phương đem con đến phục vụ
mình cần chi phải học nghề cày cấy” (Luận ngữ, Tử lộ) Ông cho các nghề
khác là nghề của kẻ bậc dưới, người có đức nhân chỉ cần tu tâm dưỡng tínhcủa bậc thánh nhân thì thiên hạ đổ về mà phục tùng như sao Bắc Đẩu toả sáng
để các ngôi sao khác hướng về vậy
Trang 13Giáo trình dạy học cơ bản của Khổng Tử dùng để khai sáng là Kinh Thư,Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu Là một nhà giáo dục lớn ôngchủ trương dạy cho tất cả mọi người không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo,chủng tộc Nhưng mặt khác ông lại chủ trương “đối với dân việc gì cần thiết thìsai khiến chứ không nên giảng giải vì họ không có khả năng hiểu ý nghĩa của
việc mình làm”(Luận ngữ, Thái bá) Giải thích cho ý kiến có vẻ mâu thuẫn
trên, chúng ta làm quen với quan điểm “tính tập luận” của ông, con người sinh
ra vốn giống nhau nhưng do tập nhiễm mà khác nhau, mục đích của việc giáodục là tác động vào con người để cải tạo, giáo hoá trở thành con người tốt hơn,tuy con người sinh ra nhân cách bẩn sinh là giống nhau nhưng do hoàn cảnh,địa lý, môi trường, điều kiện sống và phong tục mà dần đem lại sự phát triểnkhác nhau Ông vua học để làm ông vua sáng, thứ dân học để biết tiếp nhận sựcai trị
Trong quá trình giáo dục ông khuyên học trò nên tự tin ở chính bản thânmình, “không oán trời , không trách người, về đạo lý thì khởi học từ thấp đến
cao” (Luận ngữ, Hiến vấn), và điều quan trọng là phải biết nghe nhiều, học
nhiều, biết được điều hay, để học thấy được điều dở để tránh Ông trình bàymột phương pháp học tập tiến bộ, đó là xoá bỏ tính thụ động của người học,phát huy năng lực tư duy sáng tạo trong quá trình tiếp thu kiến thức Ông nói:
“kẻ nào không cố công tìm kiếm thì ta chẳng chỉ vẽ, kẻ nào không bộc lộ được
tư tưởng của mình ta chẳng khai sáng cho, kẻ nào học một mà không biết hai
thì ta chẳng dạy nữa” (Luận ngữ, Thuật nhi) Ông quả là một nhà giáo dục vĩ
đại, phương pháp dạy học của ông cách đây 2500 năm cho đến bây giờ người
ta vẫn còn áp dụng Trong các trường đại học trên thế giới hiện nay, các giáo
sư, thầy giáo chỉ là người hướng dẫn còn chính sinh viên là người tự đi tìm lờigiải đáp cho mình bằng các hướng dẫn của thầy giáo Ông bắt học trò phải suynghĩ nghiền ngẫm, “học mà không suy nghĩ thì không thấu tình đạt lý, khônghiểu rõ ràng, suy nghĩ mà không học thì bế tắc, mờ tối dẫn đến chuyên quyền,độc đoán bảo thủ Ông khuyên học trò phải: “tự hỏi mình rằng ta phải làm
sao?, phải làm bằng cách nào?, có như vậy mới học thành tài được” (Luận ngữ,
Vệ Linh Công).
Về bản thân mình, trong giáo dục ông rất coi trọng nguyên tắc làm gương.Điều đó được phản ánh trong các buổi đàm đạo về chính sự với quan lại triềuđình và những lời khuyên dành cho học trò Chính bản thân ông luôn luôn tựmình “khắc kỷ phục lễ vi nhân” trọn cuộc đời Ngoài ra ông cũng coi trọng
“thuyết giáo tuỳ nghi”, tức xem qua ngôn ngữ và hành vi của học trò mà truyềncho nội dung giáo dục phù hợp
Tất cả những gì mà Khổng Tử đã cống hiến cho giáo dục của nhân loại làhoàn toàn xứng đáng để ông trở thành một nhà giáo dục lớn, xứng đáng đểngười đời sau tôn vinh ông là “vạn thế sư biểu”, người thầy của muôn đời.Song quan điểm giáo dục của Khổng Tử mới chỉ dừng lại ở mức độ giao tiếp,
lễ nghi chứ không hẳn là để mở mang dân trí nói chung
Trang 14Theo Khổng Tử người có “nhân” có “trí” khi hành động phải có “dũng”.
“Dũng” đó là lòng can đảm, là sức mạnh để làm chủ tình thế của con người.Ông nói: “người trí chẳng bị mê hoặc, người nhân chẳng buồn rầu người dũng
chẳng sợ sệt” (Luận ngữ, Tư hãn) Với Khổng Tử không bao giờ có việc tách
rời, phân chia giữa “nhân - trí - dũng” Khổng Tử cha bao giờ giảng giải chohọc trò bốn việc: “quái dị”, “dũng lực”, “phản loạn”, “quỷ thần” Vì bàn vềquái dị khiến người ta bỏ lẽ thông thường; bàn về dũng lực khiến người ta gâygỗ; bàn về phải loạn khiến người ta sinh tâm nghịch tặc; bàn đến quỷ thầnkhiến người ta u mê ám muội Tuy vậy, ai đủ “nhân, trí, dũng” thì tất nhiên họ
đã thấu đạt lẽ phải trái nên không lo họ sai lầm, họ đã đủ “chín” để phân biệt lẽcông bằng, “nếu thấy việc nghĩa mà không làm thì người đó thiếu dũng khí”
(Luận ngữ, Vi chính)
- Về đạo đức, trong giáo dục do nhìn thấy sức mạnh của đạo đức mà ông
đề xuất đường lối chính trị “đức trị” Đạo đức và pháp luật đều là nhữngnguyên tắc, chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người với con người, giữa
cá nhân và xã hội Tuy vậy, giữa pháp luật và đạo đức không hoàn toàn đồngnhất, pháp luật là những yêu cầu tối thiểu còn đạo đức là những yêu cầu tối đa;pháp luật từ bên ngoài bắt buộc phải làm, đạo đức từ bên trong, thực hiện tựgiác Hình phạt sẽ được đưa ra đối với những hành vi phạm pháp căn cứ vàohậu quả đã xảy ra, chứ không thể trừng trị sự vi phạm đang còn nằm trong ý đồcủa kẻ phạm tội Đạo đức thì khác, ý thức đạo đức sẽ “trừng trị” mình ngay khimình nghĩ đến hành động gây ra hậu quả sai trái nào đó Chính vì vậy, khi vaitrò của đạo đức được đề cao đến một mức độ nhất định và sự tự ý thức bị trừngphạt bên trong cao hơn sự tự ý thức trừng phạt bên ngoài thì sự thi hành phápluật trở nên thừa Điều này có thực hiện được hay không phụ thuộc rất nhiềuvào ý thức đạo đức của mỗi thanh viên trong xã hội, vào sự tiếp nhận sự giáodục và tự giáo dục của mỗi thành viên đó Trong cuộc đời của mình Khổng Tử
đã cố gắng sử dụng vai trò của giáo dục để hình thành ý thức, đạo đức cho mọingười, để đề cao vai trò giáo dục và tự giáo dục cho mọi người Với chính trị,đạo đức luôn thống nhất với chính trị Không có quy phạm đạo đức nào màluôn phù hợp với các chế độ chính trị khác nhau, tức là tương ứng với một chế
1.2.1.2 Mạnh Tử (372 - 289 TCN)
Mạnh Tử tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư người gốc nước Trâu thuộc miềnnam, tỉnh Sơn Đông ngày nay Ông sinh vào đời Chu Liệt vương thứ 4 và mấtvào đời vua Chu Noãn Vương thứ 26 Cha ông là Khích Công Nghi mất khi
Trang 15ông lên ba tuổi thuộc dòng họ Mạnh Tôn, quý tộc ở nước Lỗ Mẹ là của ông làCừu Thị, nuôi dưỡng giáo dục con cái với lễ nghĩa rất chặt chẽ Trong sử Liệt
Nữ có chép rằng nhà ông ở gần nghĩa địa, lúc ấy Mạnh Tử còn nhỏ hàng ngàythường vào nghĩa địa chơi, thấy người ta chôn cất người chết rồi khóc lóc, ôngcũng rủ chúng bạn cùng chơi trò đám tang Mẹ ông cho rằng: “chỗ này chẳngtiện cho con ta ở” bà bèn dời nhà đến gần chợ Con bà lại bày trò chơi raohàng, bưng bánh, bán thịt Bà lại tự nhũ: “chổ này chẳng tiện cho con ta ở ”, bàdọn nhà đến gần trường học Con bà mới bày trò chơi học theo lễ nhạc, Bànghĩ chỗ này mới đáng cho con ta ở vậy Sử củ gọi là tích “Mạnh mẫu tamthiên” Sử ký của tư Mã Thiên chép rằng, khi lớn lên Mạnh Tử theo học thầy là
Tử Tư (cháu đích tôn của Khổng Tử) Hiểu rõ đạo lý của Khổng tử, lại có tàibiện thuyết nên đã trở thành một trong ba đại Nho của thời cổ đại Với nhữngđóng góp của ông, người đời sau phong làm á Thánh Để phát huy và bảo vệnhững tư tưởng của Khổng Tử, mong muốn dùng thuyết của mình để cứu đời,Mạnh Tử đã đi khắp các nước chư hầu để truyền bá tư tưởng, chủ trương củamình Nhưng thủa đó các vị vua thường chỉ lo việc chiến tranh, cướp đất để tồntại nên không ai chú trọng đến nhân nghĩa do đó đạo của ông không được thihành Sau khi về nhà ông mở trường dạy học và cùng các học trò chép lạinhững lời ông đã bàn luận đối đáp với các vị chư hầu, tập hợp lại mà làm rabảy thiên sách Mạnh Tử Sau này đến đời Tống, Chu Hy xếp nó vào nhữngsách kinh điển của Nho giáo gọi là Tứ Thư
Thời kỳ lịch sử mà ông đang sống có thể gọi là thời kỳ bế tắc của xã hộiTrung Hoa về mặt chính trị Các bậc trí giã nỗ lực tìm kiếm những giải pháphữu hiệu nhằm cai trị xã hội thái bình nhưng chưa giải quyết được Có thể coithời kỳ này là thời kỳ của “Bách gia chư tử”, trăm hoa đua nở, trăm nhà lêntiếng, nổi bật lên trong đó có các trường phái như Mặc gia của Mặc Địch, ĐạoLão Trang của Trang Tử, Dương Chu, Pháp gia của Thận Đáo, Thương Ưởng,ngoài ra còn có Tung Hoành gia theo nghiệp du thuyết ngoại giao, Âm - Dươnggia thiên về thiên văn, tướng số Tư tưởng của mỗi nhà chẳng hề giống nhau,nhưng mỗi nhà đều có sự tự do về suy nghĩ và biểu đạt tư tưởng của mình.Trong quá trình chống lại các trường phái triết học khác thời Chiến Quốc,nhằm kế thừa và phát triển hơn nữa tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử đã dựnglên một hệ thống triết học duy tâm chủ nghĩa của nhà nho trên nền tảng củanhững tư tưởng như “thiên mệnh”, “sinh nhi chi tri” chính tâm thành ý củaKhổng Tử và các học phái kế tục học thuyết của Khổng Tử như Tử Tư, TăngSâm, Mạnh Tử đã phát triển thế giới quan duy tâm trong triết học của Khổng
Tử lên đỉnh cao
- Quan điểm về thế giới: Mạnh tử cho rằng trời là một đấng anh minh, tối
cao, sáng tạo và chi phối vạn vật trong vũ trụ Mọi sự vật, hiện tượng của thếgiới, từ sự biến hoá của thế giới tự nhiên đến sự biến đổi của đời sống xã hội;
từ sự thay thế của các triều đại này bằng các triều đại khác trong lịch sử, đếnchức tước của bọn quí tộc và địa vị của người thường dân cũng đều bị chi phối
Trang 16bởi ý chí và quyền uy của trời Trời có thể ban thưởng chức tước bổng lộc chongười hiền đức và trừng phạt những kẻ tàn ác Rõ ràng với Mạnh Tử, ông trờiđược thể hiện như là một con người quyền uy vô song, đây là một đấng chí tôntheo quan niệm của tôn giáo, dù không thể hiện ra bên ngoài nhưng ông trờiđứng đằng sau chi phối tất cả Với quan niệm duy tâm chủ nghĩa thần bí, ôngcho rằng bản tính con người cũng do trời phú Từ ý chí, tâm tính con người đếncác quy tắc, đạo đức luân lý của đời sống xã hội, không đâu là không do trờiđịnh sẵn Do vậy mà ông khuyên nhủ con người luôn luôn phục tùng mệnh trờimột cách tuyệt đối, không cưỡng lại, không trái mệnh trời, an bài đón nhậnmệnh trời một cách tự nguyện, vô điều kiện: “không có việc gì xảy ra là không
do mệnh trời, người ta phải thuận theo mà nhận lấy cái số mệnh chính đáng ấy”
(Mạnh Tử, Tận tâm thượng)
Mạnh Tử cho rằng vạn vật, vũ trụ đều tồn tại trong ý chí của con người,con người hết lòng hết dạ thì biết được bản tính của mình, biết được bản tínhcủa mình là biết được tính trời Nghĩa là phải hết lòng hết dạ mà cung phụng,phục vụ cái bổn phận, nghĩa vụ làm người Đem hết tâm trí mình mà suy xét thìmình có thể thấu đạt được cái tính đó, sẽ hiểu được mọi lẽ huyền vi của trờiđất Đây là sự thần bí hoá của tư tưởng về mối quan hệ giữa người với trời.Mạnh Tử đã bộc lộ tính chất duy tâm trong thế giới quan của ông Thế giớiquan đó đã khuyếch đại những yếu tố duy tâm, những mặt hạn chế, nhữngđiểm tiêu cực trong hệ thống triết học Khổng Tử Chính thế giới quan duy tâmcủa ông đã chi phối toàn bộ những quan điểm về chính trị xã hội, luân lý đạođức của ông nói riêng cũng như hệ thống triết học Nho giáo sau này nói chung
- Quan điểm về chính trị - xã hội: Tư tưởng cốt lõi, chủ yếu nhất trong
triết học Mạnh Tử là vấn đề triết lí nhân sinh, trọng tâm của nó là học thuyết
về “tính thiện” Học thuyết này của Mạnh Tử là nền tảng của chính sách trịnước theo chủ nghĩa “nhân chính”, vừa là căn cứ để ông đấu tranh chống lạicác tư tưởng học thuyết đối lập đương thời
Tính thiện của Mạnh Tử đã kế thừa “tính thiện” của Khổng tử và đã pháttriển thành học thuyết về tính thiện Ông nói “cái bản tính của con người ta vốn
là thiện cũng như bản tính tự nhiên của nước là chảy xuống chỗ thấp vậy.Không một người nào sinh ra tự nhiên mà mất thiện, cũng như không có mộtthứ nước nào sinh ra mà không chảy xuống chỗ thấp Giả sử như người tađánh xuống nước mà làm cho nó vọt lên có thể quá trán, cũng như chặn dòngnước nó dâng cao vượt núi thì đó là cái thế của nước chứ không phải là bảntính của nước Con người cũng vậy, nếu khiến họ làm điều bất thiện thì cái
bản tính vốn thiện của họ sẽ có sức phản phục lại ngay” (Mạnh Tử, Cáo Tử thượng) Như vậy, theo Mạnh Tử con người luôn hướng thiện, nếu có làm điều
bất thiện thì cũng không phải là do tại bản chất của con người
Tính thiện của con người được thể hiện trong bốn đức lớn “nhân, nghĩa,
lễ, trí” mà Mạnh Tử gọi là “tứ đoan”, khác với Khổng Tử đề cao “nhân lễnghĩa” thì Mạnh Tử lại đề cao “nhân nghĩa” Đức “nhân nghĩa”, theo Mạnh Tử
Trang 17là đức của bậc quân tử, đức của bậc đế vương: “người có đức ấy đi đến đâu thìcảm hoá đến đó, nghĩ gì thì cảm ứng rất thần diệu, đạo đức cùng với trời đất
cùng vận chuyển lưu hành”(Mạnh Tử, Tận tâm thượng), cho nên bậc đế vương
cai trị thiên hạ dùng đức nhân nghĩa của mình mà soi sáng đạo trời, ban ơn chodân chúng: “đem lòng nhân mà thi hành nhân chính thì dễ như trở bàn
tay”(Mạnh Tử, Công tôn sửu) Ông vua mà có lòng nhân thì trong thiên hạ
không ai sánh nổi Theo Mạnh Tử, thì nhân là ngôi nhà của con người, cònnghĩa là con đường đi mà suốt đời con người phải theo Bốn đức lớn “tứ đoan”của con người bắt nguồn từ thiện còn gọi là “thiện đoan”: ai cũng có lòng trắc
ẩn nên mới thương người, ai cũng có lòng tu ố nên mới biết thẹn ghét, ai cũng
có lòng từ nhượng nên mới biết cung kính, ai cũng có lòng thị phi nên mới biếtphải trái Lòng thương người sinh ra đức nhân, lòng thẹn ghét sinh ra đứcnghĩa, lòng cung kính sinh ra đức lễ, lòng phải trái sinh ra đức trí Tính thiện làbản chất chung của tất thảy mọi người, không biết khuếch sung thì ngay cả
việc thông thường như thờ cha mẹ cũng không làm được (Mạnh Tử, Công tôn sửu) Bản tính con người được trời phú cho nên phải biết nuôi dưỡng, khuyếch
sung nên mới ngày càng phát triển Tính thiên xuất phát từ tâm con người Tâm
có những quan năng trời phú đó là “lương tri” và “lương năng” “Lương tri” làcái không cần suy nghĩ mà hay “Lương năng” là cái không học mà biết Tínhthiện của con người đôi khi bị hoàn cảnh chi phối, do tư tâm của mình mà đánhmất Vậy muốn đến mức độ vững vàng, ổn định thì Mạnh Tử cần đến giáo dục.Nhưng sự giáo dục của ông mang tính tu thân, hướng thiện, đó chính là sựgiảm bớt đi những điều ham muốn mà ông gọi là “quả dục” Tâm tính chịu ảnhhưởng của vật dục, mà thế giới vật dục luôn luôn tác động, lôi cuốn Cho nên,muốn tu tâm dưỡng tính, con người cần phải siêng năng, mẫn cán trong học tập
tu dưỡng đạo lý Đấy là một công việc phải làm và làm suốt đời Nó như làmục đích sống của con người vậy
Trong con người, theo Mạnh Tử ngoài phần tâm tính cao quý, trời còn bancho phần “khí” “Khí” là một phạm trù mới mẻ trong Nho giáo Mạnh Tử chorằng, “khí” lưu hành khắp nơi, ngưng tụ thành hình thể tạo nên vạn vật và conngười Con người, vạn vật lại nhờ có “khí” mà sinh trưởng Ông cũng cho rằng
“tâm tính, ý chí” và “khí” trong con người luôn tồn tại và gắn bó mật thiết vớinhau: “khí” chính là phần thể chất khí chất; còn “chí” là tính, là phần ý thức,tinh thần của con người Cho nên ông cha ta bảo rằng, cùng với việc “tồn tâm”phải dưỡng cả “khí” nữa Trong con người “chí là nguyên soái điều khiển cáikhí, khí là phần sung mãn lưu thông trong cơ thể, cao nhất là cái chí rồi tới cái
khí cho nên phải giữ bền cái chí, đừng làm hư hại cái khí” (Mạnh Tử, Công tôn sửu thượng) Giữa cái “khí” và cái “chí” tuy có phân biệt cao thấp, nhưng trong
con người cần phải giữ vững sự điều hoà, ổn định giữa “khí” và “chí” Thế cânbằng giữa hai cái đó sẽ giúp con người tồn tại và phát triển một cách thuận lợi
“Khí” có nguồn gốc từ tự nhiên, rất lớn, rất mạnh Mạnh Tử gọi đó là “hạonhiên khí” Con người vốn là bẩm thụ tinh khí của trời đất mà sinh thành, vậy
Trang 18muốn tồn tại và phát triển khoẻ mạnh về thể chất cũng như lành mạnh về tinhthần thì phải nuôi dưỡng “khí hạo nhiên”
Phương pháp nuôi dưỡng “khí hạo nhiên” của Mạnh Tử là phải phối hợpviệc nghĩa với việc đạo, tức phải tuân theo đạo lý và nhân nghĩa Con người,nhất là bậc quân tử, sự bảo tồn và phát triển tâm tính, chí khí luôn được đặt lêntrên hết Mạnh Tử chủ trương cần phải có sự tu dưỡng rèn luyện, giáo dục đạo
lý cho mọi người Đây chính là đóng góp to lớn của Mạnh Tử vào lĩnh vực lýluận giáo dục mà người đời sau kế thừa
- Về chính trị: Do xuất phát từ quan điểm thế giới quan duy tâm mà Mạnh
Tử tuyên truyền một thứ lý luận mang tính thần quyền, trời định sẵn tất cả từvua chúa đến muôn dân, minh quân đều là người thực thi mệnh lệnh của trời
Do đó cho nên, ông đưa tới quan điểm duy tâm về lịch sử cho rằng, thánh nhân
là động lực phát triển của lịch sử, thánh nhân làm nên lịch sử Hơn nữa, ôngcho rằng quy luật biến đổi của xã hội theo hướng “nhất loạn, nhất trị” mangtính tuần hoàn luận Ông khẳng định, cứ năm trăm năm theo chu kỳ vận chuyểncủa ngũ hành thì sẽ xuất hiện một đấng minh quân hiền đức trị vì thiên hạ Ông chia con người trong xã hội ra làm hai hạng là lao tâm và lao lực.Hạng thứ nhất là vua chúa, quan lại Hạng thứ hai là quần chúng nhân dân Lẽthường ông cho rằng hạng lao lực phải có trách nhiệm nuôi hạng lao tâm, tuy
cả hai hạng người này có cùng chung bổn phận là làm cho thiên hạ thái bình.Đây là lý luận biện hộ cho sự hợp lý của giai cấp thống trị trong xã hội phongkiến mà ông là đại biểu của giai cấp đó
Dựa trên “tính thiện” ông cũng kế thừa đường lối “nhân trị” của Khổng
Tử và đề ra thuyết “nhân chính” của mình Ông chủ trương lấy phép tắc, đạo
lý, công đức của tiền nhân làm chuẩn mực để giáo dân, trị nước Cần nói thêmthuyết “nhân chính” đó là việc trị dân bằng “nhân” chứ không vì lợi, Mạnh Tửbảo: “vua hà tất phải nói đến lợi, chỉ cần nhân nghĩa mà thôi Nếu vua nói làmthế nào có lợi cho nước, quan đại phu nói làm thế nào có lợi cho nhà, dânchúng nói làm thế nào có lợi cho thân; kẻ trên người dưới ai cũng nghĩ lợi mà
tranh nhau thì xã tắc nguy khốn” (Mạnh Tử, Lương huệ vương)
Trên cơ sở tư tưởng nhân nghĩa và chủ trương “nhân chính” ông đã đềxuất một quan điểm độc đáo và tiến bộ, đó là quan điểm “dân vi bản” thể hiệnbản lĩnh của một chính trị gia tầm cỡ Ông nói “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân
vi khinh”(Mạnh Tử, Tận tâm hạ) Sở dĩ ông dám coi dân trong nước là quí là
vì theo ông, dân là gốc của nước, có nước mới có vua, vua là do dân đặt rachứ không phải vua đặt nên dân Một ông vua sáng trị dân cần phải nhân đứcgiảm nhẹ hình phạt, bớt thuế để dân no ấm mà học điều hay lẽ phải Ông cũngchủ trương cai trị, yên dân bằng cách tạo ra cho họ một sản nghiệp để sinhsống ổn định, lúc đó tâm lí, tinh thần họ cũng ổn định theo Theo đó, ông chủtrương cải cách chế độ thuế khoá, điền địa công bằng tạo cho xã hội thái bìnhthịnh trị Ngoài ra ông còn chủ trương giáo hoá dân, đó là việc dạy học Nhànước cần lập nên những trường học phân bố từ trung ương đến địa phương để
Trang 19dạy dân về trí thức, đạo lý, phong tục và võ nghệ Ông tổng kết “chính trị haythì dân sợ mà tuân theo, giáo hoá hay thì dân yêu mà kính phục; chính trị hay
thì được của dân, giáo hoá hay thì được lòng dân” (Mạnh Tử, Tận tâm thượng).
Tử tưởng chính trị của Mạnh Tử đại diện cho quyền lợi của giai cấp thốngtrị đương thời, nhưng dù sao nó cũng phần nào đó phản ánh cuộc sống hiệnthực, xu thế thời đại, khát vọng sâu xa của quần chúng nhân dân lao độngTrung Hoa trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc
kí của tư Mã Thiên thì khi ông 30 tuổi mới du học ở nước Tề, do tài cao, đứcdày mà nước Tề tôn ông là “Liệt đại phu” Sau đó ông sang Tần, đến Triệucuối cùng đến nước Sở làm huyện lệnh huyện Lan Lăng và mất tại đó
Thời của ông là thời “Bách gia chư tử”, các trường phái triết học nhưNho gia, Mặc gia, Lão gia có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội bây giờ Các họcthuyết này vừa kế thừa tư tưởng vừa công kích, đấu tranh lẫn nhau tạo ra mộtbầu không khí sôi động trong tư tưởng xã hội lúc đó Tuân Tử dựa trên thế giớiquan duy vật và lối biện luận sắc sảo của mình để phê phán, phản bác lại các tưtưởng của các học phái khác như tư tưởng về “đạo” của Lão -Trang; học thuyết
“tính thiện” của Mạnh Tử, cùng sự nguỵ biện của phái Danh gia Điều đóchứng tỏ ông là một người uyên thâm đã từng nghiên cứu nhiều học thuyết thờibấy giờ, những sự phê phán các học thuyết khác của ông có nhiều giá trị choviệc nghiên cứu sau này
- Quan điểm về thế giới, Tuân Tử đã đưa ra một quan điểm về vũ trụ hoàn
toàn mới mẽ, thể hiện tư tưởng duy vật của ông Ông khẳng định toàn bộ thếgiới chia làm ba bộ phận “trời có bốn mùa, đất có sản vật, người có văn
tự”(Tuân Tử, Thiên luận) Trong đó trời chỉ là một bộ phận của tự nhiên và bản
thân tự nhiên chỉ là cơ sở cho sự hình thành và biến hoá của vạn vật Trời cócác hiện tượng vật chất như “các vì sao thay nhau vận hành, mặt trăng, mặt trờithay nhau chiếu sáng, bốn mùa thay nhau chi phối âm dương, biến hoá sinh
thành vạn vật, gió mà tuôn xuống khắp nơi”(Tuân Tử, Thiên luận) Ông còn
cho rằng theo đạo trời, mỗi loại sự vật trong giới tự nhiên đều thông qua sựcạnh tranh giữa cái này với cái kia, để cắt bỏ cái không phải loại để nuôi cáiloại chính Đạo của trời vận hành theo lẽ tự nhiên không liên quan đến đạongười Trời không có ý thức gì cả, tự nhiên vận hành theo qui luật khách quanvốn có của nó Đây là quan điểm duy vật tiến bộ
Trang 20Ông còn cho rằng con người nên thuận theo trật tự, đạo của giới tự nhiênthì sẽ có hạnh phúc, may mắn; nếu trái lại sẽ bất hạnh và rủi ro Ông khuyêncon người nên tự tin, làm chủ bản thân mình và ra sức sản xuất, tiết kiệm thìcon người không nghèo khổ; giữ gìn thân thể khoẻ mạnh, ăn uống điều độ thìkhông bệnh tật Con người có thiên chức, nhiệm vụ của con người Trời cóthiên chức, nhiệm vụ của trời Người quân tử, bậc chí nhân là người thấu hiểuđạo trời, không ỷ lại trời, không phụ thuộc vào trời, không tranh thiên chức củatrời mà luôn luôn làm tốt việc của người Qua đó chúng ta thấy rằng, Tuân Tửdám tin tưởng và khẳng định vai trò hoạt động nhận thức, cải tạo thế giới củacon người là rất quan trọng Ông cũng đề cập đến việc đòi hỏi con người luôn
có sự vươn lên, phát huy tinh thần tự lực, tự cường không nên ỷ lại, trông chờvào sự ban phát hay thụ động trong hành động Đây là quan điểm tiến bộ nónhằm cổ vũ cho tinh thần, ý chí tiến thủ của con người trong cuộc sống, là mộtcuộc cách mạng mang tính triết lí nhân sinh cao trong lịch sử Trung Hoa
Trên cơ sở thế giới quan duy vật, ông đã phát triển học thuyết về tự nhiênlên một mức độ cao hơn Ông giải quyết mối quan hệ giữa con người và giới tựnhiên, giữa chủ thể và khách thể một cách đúng đắn, trong đó khẳng định vaitrò tích cực của chủ thể trong hoạt động nhận thức và cải biến hiện thực
Trong quan điểm về thế giới, Tuân Tử đã đưa ra học thuyết về “khí”, xem
“khí” là yếu tố vật chất cấu tạo nên vạn vật Đồng thời dựa trên những tri thứckhoa học sơ khai mà ông vạch ra sự khác nhau giữa vật chất vô cơ, thực vật,động vật và con người Trong đó con người không chỉ là một bộ phận của thếgiới tự nhiên mà còn là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên Về mối quan hệgiữa vật chất và tinh thần mà ông gọi là tinh thần và thể xác, ông nói rằng hìnhthể của con người là cái có trước, sau đó mới sinh ra tinh thần, ý thức, tìnhcảm: “những hiện tượng tinh thần của con người sẽ mất đi khi thể xác không
còn tồn tại”(Tuân Tử, Thiên luận)
Trên đây là những đóng góp to lớn của ông cho sự phát triển của chủnghĩa duy vật Trung Quốc cổ đại Tuy vậy, khi ông cho rằng trời đất tự khikhai sinh, cho đến nay vẫn không có gì thay đổi thì ông lại bị đánh giá là hạnchế do phương pháp siêu hình
- Quan niệm về con người: Khác với Khổng Tử, Mạnh Tử, xuất phát từ
bản năng sinh lý của con người mà ông cho tính con người là ác, học thuyếttính ác của ông dựa trên cơ sở lòng ham muốn thoả mãn nhu cầu của conngười: “mắt ham nhìn màu sắc, tai thích nghe âm thanh, miệng khoái nếm mùi
vị, tâm ưa chuộng lợi lộc, xương thịt ưa muốn khoái lạc tất cả đều nẩy sinh từ
tính tình của con người”(Tuân Tử, Chính danh) Nếu như thoả mãn “tính tình”
đó của con người tất dẫn đến sự tranh đoạt Ông cho rằng con người thực hiệntính thiện là do dạy bảo, học tập chứ không phải là do bản tính
- Quan điểm về giáo dục: Do thừa nhận tính ác của con người nên Tuân
Tử đề cập đến giáo dục như là một cứu cánh của chính trị xã hội Theo ông tính
ác có thể cải hoá để tiến bộ Đạt địa vị của người quân tử là phải nhờ đến sự
Trang 21giâo dục lễ nghĩa, bằng sự tu thđn tích đức Sự phđn biệt giai cấp trong xê hội,theo ông không phải lă “thiín tính” mă lă do kết quả của sự tích luỹ đạo đứctrong cuộc sống Ông cũng chứng minh sai lầm tính hợp lý tất yếu của câc thểchế nhă nước vă khuôn phĩp lễ nghi của giai cấp qủ tộc phong kiến đươngthời Giâo dục vă cải biến trật tự xê hội theo Tuđn Tử lă phải dùng câc biệnphâp hănh động do con người lăm ra từ bín ngoăi âp đặt văo, nghĩa lă có tínhcưỡng chế, cho nín ông rất coi trọng “lễ” vă “nhạc” Quan niệm của Tuđn Tử
về “lễ” đó không chỉ lă qui tắc ứng xử trong gia tộc mă còn lă nguyín tắc cănbản để trị nước “không tuđn theo lễ mă lăm, không coi trọng lễ đó lă không
giữ chính đạo: tuđn theo lễ mă lăm, lại coi trọng lễ gọi lă chính trực”(Tuđn Tử,
Lễ luận) Có thể coi “lễ” lă hạt nhđn trong tư tưởng chính trị của Tuđn Tử.
Cùng với “lễ” lă “nhạc” Nhạc lă phương tiện điều hoă tính khí, di dưỡng tinhthần, hướng dẫn con người ta đi đến đạo chđn chính Thực chất về quan niệmgiâo dục của Tuđn tử lă cải tạo xê hội, phủ nhận chế độ cha truyền con nốitrong xê hội phong kiến Đđy lă một điều tiến bộ, tuy nhiín nó vẫn chưa vượtqua thời đại
- Quan điểm về xê hội: khi nghiín cứu về xê hội, Tuđn Tử cho rằng con
người khâc động vật ở chỗ lă có sự phđn biệt thứ bậc, có tổ chức xê hội vă sinhhoạt xê hội theo tính chất cộng đồng Theo ông con người tổ chức thănh xê hội
lă do nhu cầu sinh tồn Trong xê hội ai có phận nấy, có địa vị, trâch nhiệm nhấtđịnh, tạo thănh một thể thống nhất Danh phận được định ra rõ răng nhờ quitắc, thể chế xê hội Hệ thống qui tắc, thể chế của xê hội đó chính lă lễ nghĩa vănhă nước Nhờ có nó mă xê hội trânh được sự tranh chấp tạo sự ổn định chocộng đồng Quan niệm về nguồn gốc nhă nước vă thể chế chính trị của Tuđn
Tử chính lă sự hợp lý hoâ chế độ đẳng cấp của giai cấp thống trị đương thời mẵng lă người đại biểu
- Quan niệm về chính trị: Tuđn Tử một mặt đề cao “nhđn nghĩa” trọng “lễ
nhạc” trong đạo trị nước: “coi quđn tử như cđy nến, cđy nến ngay thì bóng
ngay; quđn tử như câi mđm, mđm tròn thì nước tròn” (Tuđn Tử, Quđn đạo),
phí phân câch trị nước bằng quyền lực tăn bạo Mặt khâc ông chú trọng đếnphương phâp trị nước bằng hình phâp Theo ông, lễ lă nguồn gốc của trị, nhưdùng lễ thôi thì chưa đủ để trị nước, giâo hoâ dđn mă còn phải nghiím trị hìnhphạt Chỉ có “lễ” vă “phâp” kết hợp mới khiến cho đất nước “hợp văn lí, quy ưtrị” Vì vậy, ông chủ trương “nguyín tắc trị nước: lễ nghĩa kỉm hình phạt”.Ông cho rằng phâp luật nghiím minh, ngăn cấm được điều bạo ngược, ghĩt bỏđiều âc, răn đe điều xấu xảy ra; phâp lệnh thi hănh thì phong tục tốt đẹp
Chính những tư tưởng năy của Tuđn Tử, mă sau năy câc nhă triết học phâiPhâp gia như Hăn Phi, Lý Tư thừa kế vă phât triển chuyển hẵn từ phương phâp
lễ trị sang phâp trị giúp Tần Thuỷ Hoăng thống nhất đất nước Trung Hoa
- Về quan điểm nhận thức: Đđy lă một đóng góp lớn cho lịch sử triết học
về lí luận nhận thức Quan điểm lí luận nhận thức của Tuđn Tử được xđy dựngtrín nền tảng thế giới quan duy vật đặc sắc Ông khẳng định con người có đủ
Trang 22khả năng nhận thức vạn vật trong thế giới, coi nhận thức chính là sự phản ánhcác sự vật hiện tượng khách quan bởi con người Trong đó sự kết hợp giữanăng lực nhận thức của con người với sự vật khách quan là điều kiện tạo nên trithức.
Trong quá trình nhận thức, Tuân Tử khẳng định rằng quá trình nhận thứccủa con người bắt đầu từ kinh nghiệm cảm giác và mỗi giác quan đều có khảnăng nhận thức được các sự vật bên ngoài tác động vào các giác quan của conngười Chính các giác quan này đem lại cho con người những hiểu biết riêng lẽbên ngoài Muốn nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về sự vật hiện tượng thì conngười dựa vào sự hoạt động của khí quan tư duy mà ông gọi là “tâm trí” Tâmlàm rõ sự biết mới nhờ trí mà nghe tiếng được, mới nhờ mắt mà biết được hình
(Tuân Tử, Chính danh) Tâm là chủ tế của tinh thần của con người, điều khiển
các cơ quan cảm giác và có khả năng đặc biệt gọi là “lương tri”, có nghĩa làkhả năng phân tích, tổng hợp khái quát hoá, trừu tượng hoá những qui ước,những cái gì giống với nó Như vậy suy lí phải dựa trên cảm giác đó Ông đãgiải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa cảm giác và tư duy Tuynhiên, ông lại phóng đại vai trò hoạt động của “tâm”, coi nó là chủ tế của ýthức, điều khiển mọi họat động của nhận thức, nên nhận thức luận của ông cònmang tính hạn hẹp và nghiêng về phía chủ nghĩa duy tâm
Trong cuộc đấu tranh với bọn nguỵ biện duy tâm, Tuân Tử đã trình bày líluận lôgích học của mình, đó là việc trình bày một cách duy vật quá trình hìnhthành công dụng ý nghĩa của danh từ, khái niệm “Danh” được hình thành trên
cơ sở nhận thức sự vật, phản ánh sự vật Đó là sự bao quát tương đối sự vật ởmột đặc điểm chung giống nhau “Danh” có “danh chung” và “danh riêng”
“Danh chung” gọi là “vật” dùng để chỉ nhiều sự mà muốn gọi tới tất cả Có lúcmuốn gọi tới một mặt, một sự sự vật thì đó là “danh riêng” Như vậy “danhchung” là kết quả của quá trình suy lí tổng hợp, còn “danh riêng” là kết quả củaquá trình suy luận phân tích
Tuân Tử cho rằng “danh” hay “khái niệm” cái mà con người dựa vào sựđồng, dị của sự vật khách quan để nêu ra, mang tính quy ước, được mọi ngườitrong xã hội thừa nhận Từ đó, ông áp dụng vào trong xã hội để thi hành chủtrương, đường lối chính trị “chính danh” của mình Ông viết: “nhà vua chếdanh, danh có định thì thực mới rõ, đạo mới thi hành thì có thể dẫn đến chỗnhất trí Cho nên lựa lời làm danh láo để loạn chính danh khiến dân nghi hoặc,nhiều người kiện tụng, ấy gọi là đại gian, tội cũng như là tội mạo dấu hiệu đo
lường” (Tuân Tử, Chính danh) Qua lí luận lôgích của mình, Tuân Tử đã phê
phán và vạch ra tính chất nguỵ biện của các học phái triết học thời đó khi luận
về “danh” và “thực”, đặc biệt là tư tưởng của danh gia và Mặc gia hậu kì
Những thành quả trong hệ thống triết học của ông như chủ nghĩa vô thầntriệt để trong quan niệm về tự nhiên, sự phát triển về lí luận nhận thức vàlôgích học, cũng như quan điểm về vai trò tích cực của con người trong hoạtđộng nhận thức và cải biến thế giới, so với những quan điểm duy tâm thần bí,
Trang 23chiết trung nguỵ biện của các nhà triết học đại diện cho quan điểm bọn quý tộc
cũ, đã là một bước tiến dài trong lịch sử triết học Trung Hoa cổ đại
1.2.2 Nho giáo sau thời kỳ Tiên Tần.
1.2.2.1 Nho giáo thời kì Lưỡng Hán (202 TCN - 220 SCN).
Nho giáo thực sự đã được khẳng định ở thời Mạnh Tử, cùng ngang hàngvới thế lực Lão giáo và Mặc giáo Đến đời Tần, Pháp gia của Hàn Phi Tử đãgiúp Tần Thuỷ Hoàng thống nhất đất nước Trung Hoa làm cho Nho giáo bị lấn
át Từ thời Tây Hán trở đi, dần dần Nho giáo được khôi phục, đến thời ĐôngHán thì Nho giáo chiếm một vị trí quan trọng trong chính quyền và nhân dân.Thực ra Nho giáo thời kỳ Lưỡng Hán nội dung của nó không có gì nổi bật sovới vẻ bề ngoài của nó là được chính quyền trọng dụng Những người theo pháiNho giáo chỉ biết tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, ngoài mục đích đó ra
kẻ sĩ Nho học không biết làm gì hơn ở thời kỳ này những hình mẫu người “kẻsĩ” theo Nho học, đó là học sách thánh hiền theo lối tầm chương trích cú, nốichí làm quan cai trị thiên hạ, lưu danh thiên cổ Thời kỳ này, nổi bật có ba nhàđại diện cho tư tưởng Nho giáo
Đổng Trọng Thư (179 - 104)TCN, là người đặt nên móng cho tư tưởngtriết học chính thống thời Lưỡng Hán Học thuyết triết học về cơ bản lấy Nhogia Tiên Tần làm cơ sở, đồng thời tiếp thu quan điểm triết học khác phái, đặcbiệt là học thuyết Âm Dương, Ngũ Hành làm thành một hệ thống mang tínhthần học duy tâm với các luận đề “trời người hợp nhất”, “trời người cảm ứng”,
“trời không biến đổi đạo cũng không biến đổi” Áp dụng quan điểm thần họcduy tâm của mình vào xã hội, ông cho rằng trời là vị chúa tể cai trị tất cả vũtrụ, vương quyền ở hạ giới là trời trao lại cho thiên tử, toàn thể xã hội phảituân theo trách nhiệm, địa vị của mình Đây là luận điểm xuyên tạc nhằm biện
hộ cho sự tồn tại hợp lí của chế độ phong kiến Ông cũng dựa vào học thuyết
Âm - Dương, Ngũ Hành về sự tương sinh, tương khắc mà nêu lên sự duy trì,trật tự xã hội, tính hợp lý phân định giai cấp trong xã hội mang đậm màu sắcmục đích luận Trong vấn đề luân lý xã hội, Đổng Trọng Thư đã hệ thống hoácác phạm trù đạo đức thành hệ thống các mối quan hệ cơ bản của xã hội, đó là
“tam cương, ngũ thường” Khác với Khổng Tử, dưới sự chi phối của thầnquyền mà các quan niệm này của Đổng Trọng Thư trở nên xơ cứng và có phầnkhắc nghiệt, chi phối toàn bộ đời sống xã hội Trung Quốc suốt thời kỳ phongkiến Về con người, Đổng Trọng Thư cho rằng trong con người có âm dương.Khi sinh ra chưa gọi là “thiện” mà chỉ mang mầm móng “thiện” trong đó, nhưcây lúa sẽ cho hạt lúa Và ông chia tính người thành 3 hạng: thượng, trung, hạ.Tính thượng thuộc về thánh nhân và có quyền cai trị xã hội Tính trung thì cũng
có thể trở thành thiện nếu được luân lý đạo đức phong kiến giáo hoá, cũng cóthể trở thành ác nếu không được giáo hoá; tính hạ thì ngu dốt, tham lam do vậy
mà khó cải hoá, đó là từng lớp nhân dân lao động trong xã hội Thực chất củathuyết “ tính tam phẩm” là sự thổi phồng mặt tiêu cực của luận điểm “thượng
Trang 24trí, hạ ngu” của Khổng Tử, nó cũng là sự biện luận cho tính hợp lý của chế độphong kiến.
Hệ thống triết học của Đổng Trọng Thư là một thứ triết học kinh viện ởchỗ: nó lấy hệ tư tưởng Nho gia Tiền Tần làm cơ sở, sau đó cải tạo bổ sungthần bí hoá thành kinh học Tất cả các kinh sách thời Tiền Tần khi nghiên cứungười ta chăm chú học tập, kế thừa gia pháp dần dần hình thành các cách giảithích kinh truyện rất phiền phức Do vậy mà “sấm vĩ” xuất hiện, “sấm vĩ” dùng
để giải thích những điển tích Nho gia mang màu sắc mê tín
Dương Hùng (53 TCN - 18 SCN): Ông từng làm quan thời Tây Hán, triếthọc của ông dựa trên quan điểm “đạo” trong sách Lão Tử và “dịch” TheoDương Hùng vạn vật đều xuất hiện, biến hoá theo quy tắc và bản thể duy nhất
đó là “huyền” “Huyền” là đạo mở ra muôn loài, ở trong chỗ u vi mà không ai
rõ hình trạng Ông bác bỏ quan điểm duy tâm thần bí, siêu hình cho rằng tựnhiên, xã hội do thượng đế sáng tạo và chỉ dựng lên một lần, không có sự thayđổi gì cả Theo ông vũ trụ có biến hoá, sinh sôi “có sinh tất có diệt, có đầu tất
có cuối” (Pháp ngôn, Quân tử ) Trên cơ sở tư tưởng về “huyền” ông coi sinh
tử là tự nhiên và phê phán quan điểm ảo tưởng trường sinh bất tử và sấm vĩhoang đường Về con người ông nói rằng khi sinh ra con người theo bản tính tựnhiên, song nhờ “ huyền” mà có âm, có dương tác động, dương biến hoá màthành tính, tính có thể ác có thể là thiện Cho nên ông chủ trương giáo hoá tudưỡng, học tập chế ngự để trở thành thiện
Vương Sung (27 - 100): Thời Đông Hán, sự suy vi của nền kinh tế, chínhtrị - xã hội Trung Hoa đã rộ lên một loạt tư tưởng mê tín dị đoan làm chỗ dựatinh thần xã hội Vương Sung đứng trên lập trường duy vật đã phê phán kịchliệt những tư tưởng sai lầm, mê tín dị đoan, chủ trương cải biến xã hội dựa trênnhững thành quả của tri thức khoa học và thực tiễn sản xuất hiện thời Ông đãphát triển chủ nghĩa duy vật cổ đại lên một bước Ông cho rằng thế giới do mộtnguyên thể vật chất đầu tiên duy nhất, vĩnh viễn là “nguyên khí” tạo nên Conngười, vạn vật là một phần của “khí” Từ đó ông bác bỏ các quan điểm củaĐổng Trọng Thư về trời, người như thuyết “trời người cảm ứng” và “vươngquyền thần thụ” Ông nói đó chỉ là suy người để hiểu trời, là sự nguỵ tạo để rungủ nhân dân lao động của những kẻ thống trị Ông đã phê phán quan điểm mêtín tôn giáo về quỷ thần và linh hồn bất tử (nhưng lại thừa nhận vật chất cấuthành linh hồn sau khi chết vẫn tồn tại, quỷ thần là do khí thái dương mà ra)
Về mặt nhận thức luận, ông đề cao kinh nghiệm cảm tính nhưng cũng coi trọng
tư duy lý tính và chủ trương lấy sự thực, thực tế làm tiêu chuẩn kiểm nghiệmđúng sai Đây quả là một đóng góp to lớn trong lý luận nhận thức nhân loại Vềquan điểm lịch sử xã hội, ông cho rằng, lịch sử phát triển, biến đổi theo hướngngày càng tiến bộ nhưng lại cho rằng xã hội trị hay loạn là do số mệnh, do đóông không thấy vai trò lịch sử của con người Ông cho rằng, con người cũng có
số mệnh Hệ thống triết học của Vương Sung cho thấy tư tưởng của ông là tưtưởng của lớp tri thức bị chèn ép trong xã hội nên không nhất quán triệt để
Trang 251.2.2.2 Nho giáo thời kỳ Nguỵ - Tấn và Nam Bắc triều (220 - 590).
Nho giáo thời kỳ này vẫn bị ảnh hưởng của thời kỳ Lưỡng Hán, đó làtuân thủ kinh điển, tuân thủ lời huấn dạy của người xưa Các học giả Nho giáo
có danh tiếng thời kỳ này đều là những nhà văn giỏi chứ không phải là nhà tưtưởng trác việt có thể làm hoàng dương Nho giáo
Nho giáo thời kỳ này nói chung bị pha trộn với đạo Lão Trang làm chotriết học mang màu sắc thần bí cao xa, mà về ý nghĩa thực tiễn thần của conngười không tìm được chỗ nương tựa tin cậy, do vậy tìm đến chỗ triết lý caosiêu quên đi khổ não trần thế Nho giáo bị sụp, như vậy ở thời kỳ này một phần
là do Hán Nho làm mất đi linh hồn ban đầu của nó, và phần chính là Hán Nhokhông thể áp dụng triển khai trong thời kỳ Nguỵ - Tấn
1.2.2.3 Nho giáo thời kỳ Tuỳ - Đường (581 - 618 và 618 - 960).
Đời Tuỳ lúc đầu mở trường dạy học kinh Nho ở khắp nước, nhưng vì chủđích sự học không đạt lại bỏ dở dang, chỉ đặt chức Thái học bác sĩ hai người và
72 người đệ tử trông coi Đời Đường việc quan tâm Nho giáo có khá hơn, việchọc kinh Nho, chọn kẻ sĩ bàn luận việc học có phát triển Tuy nhà Đường tônsùng đạo Phật coi là quốc giáo, nhưng năm Trinh Quán thứ 11(637) vua ĐườngThái Tông tôn Khổng Tử làm tiên thánh, Nhan Hồi làm tiên sư, thờ chung vớiChu Công ở nhà Thái học Năm Khai Nguyên thứ 27 (năm 739) vua ĐườngHuyền Tông truy thuỵ Khổng Tử là “văn tiên vương” và cho thờ theo nghi lễcủa bậc vương
Nhưng nhìn chung, Nho giáo thời Tuỳ - Đường tuy tiến bộ về mặt chínhtrị hơn so với thời kỳ Nguỵ Tấn và Nam Bắc triều, nhưng về mặt tư tưởng nólại không hơn là mấy, tức là vẫn tầm chương trích cú Đời nhà Tuỳ có VươngThông, ông muốn cứu vãn những lễ nghi của Nho giáo nhưng không được Tuyvậy, đó là tiếng nói yếu ớt của kẻ sĩ trong thời kỳ suy đồi lễ nghi phong kiến.Đời nhà Đường có Hàn Dũ, tuy không uyên thâm Nho học nhưng ông bài trừPhật giáo mạnh mẽ và triệt để, các tác phẩm văn chương của ông phần nào thểhiện tư tưởng Nho giáo của con người kẻ sĩ, trong đạo lý, danh tiết
Như vậy thời kỳ Tuỳ - Đường, tư tưởng Nho giáo chỉ là sự kế thừa thờiNguỵ - Tấn và chỉ là sự tồn tại trong tư tưởng các bậc Nho học mà thôi chứkhông phải là hệ tư tưởng trong xã hội
1.2.2.4 Nho giáo thời kỳ Tống - Nguyên (960 - 1368).
Giai đoạn này, chính quyền phong kiến dùng chính sách độc tôn Nhogiáo, kế thừa những tưởng triết học của các trường phái khác như Phật giáo,Đạo giáo sáng tạo nên một hình thái mới của Nho học đó là “lý học” Ngoài ra
họ còn chủ trương phản đối Pháp gia Mục đích của giai cấp thống trị khôngngoài việc duy trì và củng cố nền thống trị phong kiến và nô dịch đời sống tinhthần của nhân dân Giai đoạn này triết học Nho giáo phát triển mạnh mẽ và sựảnh hưởng của nó đến nước ta cũng rất lớn
Nho học lý học: “Lý học” lấy tư tưởng triết học của Khổng Mạnh làm hạtnhân nhưng sự phát triển của nó có nội dung sâu sắc hơn đã tạo ra một hệ
Trang 26thống chặt chẽ tinh vi hơn Nó đúc kết những yếu tố tích cực, những mặt tinhtuý và gạt bỏ những mặt tiêu cực, tư tưởng bi quan, vô vi của triết hoc Phậtgiáo và Đạo giáo, lấy Nho học làm chủ đã đưa triết học Trung Quốc phát triểncao hơn về hình thức lẫn nội dung Vì thế lý học thời Tống Nguyên còn đượcgọi là “Tân Nho” Lý học khởi đầu bằng hai anh em Trình Di và sau được Chu
Hy hoàn thiện, tư tưởng Trình Hạo được Lục Cữu Uyên và đỉnh cao là VươngThủ Nhân đời Minh bổ sung, hoàn thiện
Trình Hạo (1032 - 1085) Về triết học, ông cho rằng “lý” hay “thiên lý” làbản thể của thế giói vạn vật “Lý” không diệt không sinh, tồn tại khắp nơi “Lýtrời” là do thực thể thoát khỏi vượt trên thế giới vạn vật và ở trong tâm conngười “trời tức là lý tức tâm” Ông cho rằng tính người là “thiện” hợp với đứcsinh của trời đất, tức là “nhân” Tính “ác” là do khí âm dương thụ bẩm mà tạo
ra “Ác” như nước đục Có nước chảy ra tận biển mà vẫn trong, có nước chảygần mà vẫn bị đục, dùng công để làm trong nước, khi trong thì nó vẫn là nướclúc nảy chứ không phải là thay nước khác hay đã lấy cái đục ra chỗ khác,nước trong là tính “thiện” vậy Trình Hạo cho rằng, “tính là thiện” nhưng dothụ bẩm âm dương mà không còn là “thiện tính” nữa mà là “thành tính”
“Thành tính” tức có trong - đục phân biệt tương đối Thiện, ác cũng không cóthiện, ác phân biệt Thiện là “thiên lý”, ác là sự quá đi là bất cập chứ khôngphải là ác Tuy là ác nhưng gốc làm ra ác là thiện, nếu làm không đúng “thiênlý” mới sinh ra ác Trời đất, vạn vật nhất thể thì “nhân” phải công minh lúc đó
ta và sự vật mới phân biệt, nhân rồi có thứ và có ái
Nhân hoà cùng vạn vật nên giữ lấy nhân chỉ biết thành kính, thành tâm,chân thật, không lầm Đã thành là kính, kính là sự nuôi dưỡng cái “tâm” Bất
cứ điều gì cũng phải lấy “tâm” làm chủ tức “kính cái tâm” là chỉ hướng đến cái
“thiện”, ngoài “thiện” ra không có cái gì khác Thành kính sẽ đưa đến “lễ”,
“lễ” là lẽ đương nhiên theo “thiên lý” chứ không có chút tư nhân nào Muốncho “tâm” làm chủ tế thì phải nuôi dưỡng nó, phải giữ cho tính định, không bịảnh hưởng bởi bất kỳ tác động nào Cái “tâm” làm chủ tế chi phối tất cả mọihoạt động Vậy nên không để cái “tâm” bị chi phối bởi sai trái, tư dục Cũngkhông nên cho cái ngoài là đúng cái trong là sai, chi bằng quên cái trong ngoài
là hơn Tức theo Trình Hạo, là phải để cái “tâm” trở về cái “thiện” theo “thiênlý” cái tâm an nhiên tự tại Lúc này Trình Hạo đã đạt được cái lẽ đạo của LãoTrang - Chu Đôn Di Tử Tưởng “thiên lý’’ đè nặng khiến ông bảo thủ trong tưtưởng chính trị Ông cho rằng “lý” là đạo đức, là nguyên tắc, là thể chế xã hội,nên trật tự phong kiến “quân thần, phụ tử” là cái lý cố định của thiên hạ vàkhông muốn cải cách Chính điều đó đã trở thành công cụ tinh thần đắc lựcphục vụ cho giai cấp thống trị
Trình Hạo, thấy rõ cái “thiên lý” thiên địa vạn vật thể của Nho giáo: lấydân làm gốc, lấy thành và kính để giữ “tâm” Nhờ “nhân” mà mọi việc đượcphân biệt rõ ràng Ngoài ông còn chủ trương học thuyết “tính thiện” của Mạnh
Tử, lấy đó mà hành động cho hợp đạo trời Với ảnh hưởng của đạo Lão Trang,