Bởi vậy nó chứa đựng quan điểm biện chứng giữa lý luận vàthực tiễn là chìa khóa để giải quyết tốt nhất hiện tại và tương lai, đặc biệt làđối với vấn đề phát triển nguồn nhân lực Với nhữn
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của đề tài 4
6 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1: THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀ MỘT NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN 5
1.1 Quan điểm của triết học Mác- Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 5
1.1.1 Phạm trù lý luận 5
1.1.2 Phạm trù thực tiễn 9
1.1.3 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 14
1.2 Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất 19
CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Ở
ĐẠI HỌC HUẾ HIỆN NAY 28
2.1 Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay 28
2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 28
2.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay 29
2.2 Thực trạng giáo dục đào tạo nguồn nhân lực ở Đại Học Huế 36
2.3 Một số giải pháp cơ bản trong giáo dục đào tạo nguồn nhân lực ở ĐHH 49
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực hết sức quan trọng,nguồn lực hàng đầu quyết định sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mỗiđịa phương và cũng là nguồn lực tích cực nhất để khai thác có hiệu quả cácnguồn lưc tự nhiên và nguồn lực xã hội
Để thực hiện thành công quá trình công tác xã hội, quá trình phát triểnkinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020,nước ta trở thành một quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại hóa đòi hỏiphải có một đội ngũ nguồn nhân lực có sức khỏe tốt, có trình độ, có đạođức, có lý tưởng, đủ khả năng tiếp nhận các thành tựu khoa học kỹ thuật tiêntiến và áp dụng chúng vào sản xuất, vào đời sống kinh tế xã hội
Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã xác định lấy việcphát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh vàbền vững, con người không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực của sự pháttriển Nguồn nhân lực có chất lượng cao là nhân tố giữ vai trò quyết địnhcho sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên,muốn phát triển nguồn nhân lực có số lượng đông đảo đảm bảo về chấtlượng đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế phát triển trong điều kiện xã hộicông nghiệp cần phải có một chiến lược phát triển lâu dài đúng đắn và khoahọc
Đại Học huế với bề dày lịch sử gần 55 năm hình thành và phát triển, trởthành “thương hiệu” là trung tâm đào tạo uy tín của miền Trung -TâyNguyên Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công cuộc xâydựng đất nước nói chung và ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên nói riêng,
là một đại học đa ngành, với nhiều ngành và cơ sở đào tạo chuyên sâu, ĐạiHọc Huế có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực chấtlượng cao cho cả nước, trước hết là cho khu vực miền Trung -Tây Nguyên.Với việc mở rộng quy mô và đa dạng loại hình đào tạo, Đại Học Huế đóngvai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho quá trình pháttriển kinh tế xã hội của cả nước
Chính vì vậy, nghiên cứu lý luận tổng kết thực tiễn để tìm ra conđường phù hợp cho việc giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đápứng yêu cầu trong nước và thế giới là rất cần thiết Sự nhạy bén trong tổngkết tư duy lý luận và thực tiễn đã được Đảng ta tiếp tục lựa chọn chủ nghĩa
Trang 3Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là kim chỉ namcho mọi nhận thức và hành động Đây được coi là nguyên tắc sống còn của
cả dân tộc Bởi vậy nó chứa đựng quan điểm biện chứng giữa lý luận vàthực tiễn là chìa khóa để giải quyết tốt nhất hiện tại và tương lai, đặc biệt làđối với vấn đề phát triển nguồn nhân lực
Với những vấn đề nêu trên và với mong muốn đưa ra những giải pháp
để giáo dục đào tạo nguồn nhân lực ở Đại Học Huế phục vụ quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nên tôi đã lựa chọn đề tài: “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với giáo dục đào tạo nguồn nhân lực ở Đại Học Huế” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Để thu thập tài liệu phục vụ cho việc thực hiện đề tài về nội dung trên,
đã được nghiên cứu trong một số công trình nghiên cứu phát triển nguồn
nhân lực đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu với “quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội”, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội 2002; GS.TS Phạm Minh Hạc phân tích vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb chính trị Quốc Gia Hà Nội 1996; TS Nguyễn Hữu Dũng: “sử dụng nguồn lực con người ở Việt Nam”, Nxb Lao Động – Xã Hội 2003; tác giả Mai Quốc Chánh “ Các giải pháp nâng cao chât lượng nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa”Nxb Chính trị quốc Hà Nội 1999, tác giả Phan Thành Nghị “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực GD –ĐT” tạp chí giáo dục số 11 năm
2004
Tuy nhiên, những kết quả được nghiên cứu về nguồn nhân lực mới chỉ
đề cập tới những vấn đề chung của nguồn nhân lực và mới chỉ từng bướcgiải quyết những vấn đề tháo gỡ khó khăn trước mắt của vấn đề cơ bản này.Còn vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở Đại Học Huế chưa được đề cập đến
Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các tác giả đi trước, đề tài tậptrung phân tích luận giải sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đang đặt ratrong việc giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Đại Học Huếhiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 4Một là, làm rõ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trongtriết học Mác-Lênin.
Hai là, Quan điểm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất giữa lýluận và thực tiễn
Trên cơ sở đó chỉ ra được thực trạng giáo dục đào tạo nguồn nhân lực
ở Đại Học Huế, đề xuất những giải pháp trong giáo dục đào tạo phát triểnnguồn nhân lực ở Đại Học Huế
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài: Dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác–Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam.Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Phương pháp xuyên suốt và tối ưutrong việc nghiên cứu đề tài là sự phối kết hợp giữa các phương pháp lôgíc -lịch sử, phân tích - tổng hợp, chứng minh cũng như các phương pháp kháiquát so sánh để giải quyết vấn đề đặt ra
Trên cơ sở đó khóa luận đề ra những mục tiêu, phương hướng – nhiệm
vụ và những giải pháp chiến lược để giáo dục đào tạo phát triển nguồn nhânlực ở Đại Học Huế hiện nay
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì nội dung của đề tài gồm 2 chương 6tiết
Chương1: Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cănbản của triết học Mác- Lênin
Chương 2: Giáo dục – đào tạo nguồn nhân lực ở Đại Học Huế hiệnnay
Trang 5CHƯƠNG 1: THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀ MỘT NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN 1.1 Quan điểm của triết học Mác- Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
1.1.1 Phạm trù lý luận
Trước hết cần khẳng định rằng phạm trù lý luận là phạm trù mang tínhtrừu tượng, vì vậy từ trước đến nay, đã có rất nhiều quan niệm, quan điểmkhác nhau về lý luận Lý luận ra đời ngay từ thời cổ đại, khi triết học mới rađời, lúc đầu chỉ là những tri thức thuần túy trải qua quá trình nhận thức lâudài cùng với sự xuất hiện của ngành khoa học thì tri thức lý luận hình thành
và ngày càng mang tính khái quát trừu tượng hóa cao
Kế thừa những yếu tố hợp lý đó và phát triển một cách sáng tạo Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết biện chứng duy vật về lý luận: “ lýluận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của con người, là toàn
Mác-bộ tri thức về thế giới khách quan, là hệ thống tương đối độc lập của các trithức có tác dụng tái hiện trong lôgíc của khái niệm cái lôgíc khách quan của
sự vật [24, 242-243] Nói cách khác, lý luận là hệ thống những tri thứcđược hệ thống hóa, khái quát hóa từ những tài liệu của thực tiễn, kinhnghiệm lịch sử phản ánh mối liên hệ bản chất những quy luật của thế giớikhách quan cũng như sự phát triển của tư duy con người Chính vì thế màchủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệmcủa loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lạitrong quá trình lịch sử” [ 21,497 ]
Để hình thành lý luận, con người phải trải qua quá trình nhận thức kinhnghiệm Nhận thức kinh nghiêm là quá trình quan sát sự lặp đi lặp lại, diễnbiến của các sự vật hiện tượng Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là trithức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệmthông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học Tri thức kinh nghiệm thôngthường được thông qua quá trình sinh hoạt và hoạt động hàng ngày của conngười Nó giúp con người giải quyết nhanh một số vấn đề cụ thể, đơn giảntrong quá trình tác động trực tiếp đối tượng Tri thức kinh nghiệm khoa học
là kết quả của quá trình thực nghiệm khoa học Nó đòi hỏi chủ thể phải tíchluỹ một lượng tri thức nhất định trong hoạt động sản xuất cũng như hoạtđộng khoa học mới có thể hình thành tri thức kinh nghiệm khoa học Tri
Trang 6thức kinh nghiệm khoa học giúp các nhà khoa học hình thành lý luận Trithức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức nhưng ở trình độ thấp Thếnhưng nó là cơ sở hình thành lý luận.
Lý luận là sản phẩm cao nhất của nhận thức, của sự phản ánh hiện thựckhách quan vào trong bộ não con người Cho nên, bản chất của lý luận làhình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Nhận thức là cả một quá trình biện chứng từ chưa biết đến biết, từ biết
ít đến biết nhiều, từ nông cạn đến sâu sắc, từ hiện tượng đến bản chất …Đúng như Lênin nhận xét: “ Trong lý luận nhận thức cũng như trong tất cảcác lĩnh vực khác của khoa học cần suy luận một cách biện chứng nghĩa làđừng giả định rằng nhận thức chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn mà phảiphân tích xem xét sự hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ vàkhông chính xác trở thành đầy đủ và chính xác hơn như thế nào” [ 12, 117]Như vậy có thể thấy, nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rấtphức tạp bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu và hình thức khácnhau Tuỳ theo tính chất nghiên cứu mà quá trình đó được phân chia thànhnhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạnđầu tiên của quá trình nhận thức Nó được thể hiện ở ba hình thức cơ bản làcảm giác, tri giác và biểu tượng
Cảm giác là hình thức đầu tiên của quá trình nhận thức và là nguồn gốccủa mọi hiểu biết của con người Cảm giác là sự phản ánh từng mặt, từngthuộc tính bên ngoài của sự vật vào các giác quan của con người Sự vật,hiện tượng trực tiếp tác động vào các giác quan con người thì gây nên cảmgiác Cảm giác là kết quả của sự tác động vật chất của sự vật, hiện tượngvào các giác quan con người, là sự chuyển hoá năng lượng kích thích bênngoài thành yếu tố của ý thức Theo Lênin “cảm giác là hình ảnh chủ quancủa thế giới khách quan” [ 10, 138]
Cảm giác mới nhận thức từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiệntượng Muốn hiểu bản chất của sự vật hiện tượng thì phải nắm được mộtcách tương đối toàn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng đó Nhận thứcchuyển sang tri giác
Tri giác là sự tổng hợp nhiều cảm giác, nó đem lại hình ảnh hoàn chỉnhhơn về sự vật Tri giác nảy sinh trên cơ sở các cảm giác, là sự kết hợp cáccảm giác So với cảm giác, tri giác là hình thức cao hơn của nhận thức cảmtính, nó đem lại cho chúng ta tri thức về sự vật đầy đủ hơn, phong phú hơn
Trang 7Tuy nhiên, nhận thức ở cấp độ tri giác cũng chỉ cho chúng ta biết về hìnhảnh chủ quan và tương đối toàn diện về đối tượng Trong khi đó nhận thứckhông phải lúc nào cũng đòi hỏi các sự vật xuất hiện trước các giác quan,
mà nhiều khi nó xuất hiện một lần rồi biến mất, nhưng con người vẫn phảinhận thức nó Như vậy ở đây xuất hiện một mâu thuẫn mới sự vật, hiệntượng có trong thực tế với thực tế sự vật không hiện có trước các giác quancủa con người Khi giải quyết mâu thuẫn này nhận thức chuyển sang cấp độcao hơn là biểu tượng
Biểu tượng là hình ảnh của sự vật được giữ lại trong trí nhớ, sự tiếpxúc trực tiếp nhiều lần với sự vật sẽ để lại cho chúng ta những ấn tượng,những hình ảnh về sự vật đó Những ấn tượng, hình ảnh này đậm nét và sâusắc đến mức có thể hiện lên trong kí ức của chúng ta ngay cả khi sự vậtkhông còn ở trước mắt Đó chính là những biểu tượng Trong biểu tượng chỉgiữ lại những nét chủ yếu, nổi bật nhất của sự vật do cảm giác, tri giác đemlại trước đó Biểu tượng thường hiện ra khi có những tác nhân tác động kíchthích đến trí nhớ con người Hình thức cao nhất của biểu tượng là sự tưởngtượng, sự tưởng tượng đã mang tính chủ động sáng tạo Tưởng tượng có vaitrò to lớn trong hoạt động sáng tạo khoa học và sáng tạo nghệ thuật Biểutượng tuy vẫn còn mang tính chất cụ thể sinh động của nhận thức cảm tính,song bắt đầu mang tính chất khái quát và gián tiếp
Có thể xem biểu tượng như là hình thức trung gian quá độ cần thiết đểchuyển từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính Trên cơ sở những tàiliệu do nhận thức cảm tính cung cấp, nhận thức sẽ phát triển cao hơn, đó lànhận thức lý tính
Nhận thức lý tính hay còn gọi là tư duy trừu tượng là giai đoạn tiếptheo và cao hơn về chất của quá trình nhận thức, nó nảy sinh trên cơ sở nhậnthức cảm tính Nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con ngưòi
sẽ rất hạn chế, bởi vì con người không thể bằng cảm giác mà hiểu đượcnhững cái như tốc độ ánh sáng, giá trị hàng hoá, quan hệ giai cấp, hình tháikinh tế xã hội…Muốn hiểu được cái đó phải nhờ đến sức mạnh của tư duytrừu tượng
Tư duy trừu tượng là sự phản ánh khái quát gián tiếp hiện thực kháchquan Tư duy phải gắn liền với ngôn ngữ, được biểu đạt thành ngôn ngữ,ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy Tư duy có tính chất năng động sángtạo, nó có thể phản ánh mối liên hệ bản chất, tất nhiên bên trong của sự vật,
Trang 8do đó phản ánh sự vật sâu sắc hơn và đầy đủ hơn Nhận thức lý tính đượcthể hiện ở ba hình thức cơ bản là khái niệm, phán đoán và suy lý.
Khái niện là một hình thức của tư duy trừu tượng, phản ánh những mốiliên hệ và thuộc tính bản chất, phổ biến của một tập hợp các sự vật hiệntượng nào đó Khái niệm đóng vai trò quan trọng trong tư duy khoa học.Khái niệm là những vật liệu tạo thành ý thức, tư tưởng Khái niệm là nhữngphương tiện để con người tích luỹ thông tin, suy nghĩ và trao đổi tri thứcvới nhau
Khái niệm có tính chất khách quan bởi nó phản ánh những mối liên hệ,những thuộc tính khách quan của sự vật hiện tượng trong thế giới Vì vậykhi vận dụng khái niệm phải chú ý tính khách quan của nó Nếu áp dụngkhái niệm một cách chủ quan, tuỳ tiện sẽ rơi vào chiết trung và ngụy biện.Như Lênin nhận xét: “những khái niệm của con người là chủ quan trongtính trừu tượng của chúng, trong sự tách rời của chúng nhưng là khách quantrong chỉnh thể, trong quá trình, trong kết cuộc, trong khuynh hướng, trongnguồn gốc” [ 19, 223-224]
Chúng ta cần phải chú ý đến tính biện chứng, sự mềm dẻo của chúngkhi vận dụng khái niệm Phải mài sắc gọt giũa các khái niệm, phải bổ sungnhững nội dung mới cho các khái niệm đã có, thay thế các khái niệm cũbằng khái niệm mới để phản ánh hiện thực mới phù hợp với thực tiễn mới.Phán đoán là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng liên kết các kháiniệm để khẳng định hoặc phủ định một thuộc tính, một mối liên hệ nào đócủa hiện thực khách quan Phán đoán là hình thức liên hệ giữa các kháiniệm Phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng trong ý thức của conngười Tuy nhiên, phán đoán không phải là tổng số giản đơn của những kháiniệm tạo thành mà là quá trình biện chứng trong đó các khái niệm có sựquan hệ và phụ thuộc lẫn nhau Phán đoán được biểu hiện dưới hình thứcngôn ngữ là các mệnh đề theo những quy tắc trong những văn phạm nhấtđịnh
Suy lý là một hình thức của tư duy trừu tượng, trong đó, xuất phát từmột hoặc nhiều phán đoán làm tiền đề để rút ra phán đoán mới làm kết luận.Nói cách khác suy lý là quá trình đi đến một phán đoán mới từ những phánđoán tiền đề Nếu như phán đoán là sự liên hệ giữa các khái niệm thì suy lý
là sự liên hệ giữa các phán đoán Suy lý là công cụ hùng mạnh của tư duytrừu tượng thể hiện quá trình vận động của tư duy đi từ những cái đã biếtđến nhận thức những cái chưa biết một cách gián tiếp Có thể nói, toàn bộ
Trang 9các khoa học được xây dựng trên hệ thống suy lý và nhờ suy lý mà conngười ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn hiện thực khách quan.Tuy nhiên để phản ánh đúng hiện thực khách quan trong quá trình suy lýphải xuất phát từ những tiền đề đúng và phải tuân theo những quy tắc lôgíc.
Do đó nếu những tiền đề của chúng ta là đúng và nếu chúng ta vận dụngmột cách chính xác những quy luật của tư duy đối với những tiền đề ấy thìkết quả phải phù hợp với hiện thực [13,829-830]
Xét về bản chất, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từthực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thếgiới khách quan, lý luận được hình thành không phải nằm ngoài thực tiễn
mà trong mối liên hệ với thực tiễn
Do quá trình hình thành và bản chất của nó, lý luận có hai chức năng
cơ bản là chức năng phản ánh hiện thực khách quan và chúc năng phươngpháp luận cho hoạt động thực tiễn Lý luận phản ánh hiện thực khách quanbằng những quy luật chung nhất Tri thức kinh nghiệm cũng như tri thức lýluận đều phản ánh hiện thực khách quan nhưng ở những phạm vi lĩnh vực
và trình độ khác nhau Lý luận phản ánh hiện thực khách quan để làmphương pháp luận nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan bằng hoạtđộng thực tiễn
Tóm lại, lý luận là một công cụ tư tưởng sắc bén có vai trò rất to lớnđối với hoạt động thực tiễn cũng như đối với sự định hướng về nhận thức
Lý luận giúp cho con người thấy được những ưu điểm và hạn chế trong việcbiến đổi những quá trình đối tượng hoá khách thể Tự nhiên luôn cần đếnnhững bàn tay con người, và cũng chính tự nhiên quyết định cho con ngườinhững trình tự tất yếu để trong quá trình tồn tại, con người tự bổ sung, hoànthiện cách thức cải tạo tự nhiên Lý luận luôn đóng vai trò quan trọng trongviệc tạo ra sự liên kết gắn bó giữa chủ thể tự nhiên và chủ thể nhận thức Lýluận cũng có quá trình hình thành và phát triển của nó, không phải lý luận
có khi con người xuất hiện, mà con người phải phát triển đến một giai đoạnnhất định nào đó lý luận mới được xuất hiện Lý luận không phải sinh ravốn đã hoàn thiện mà nó được bổ sung và hoàn thiện dần dần theo tiến trìnhphát triển của lịch sử xã hội Hay nói cách khác, lý luận mang tính lịch sử xãhội, có những lý luận đúng ở quá khứ nhưng ở hiện tại và tương lai nókhông còn phù hợp nữa
1.1.2 Phạm trù thực tiễn
Trang 10Các nhà duy vật trước C.Mác đã có công lớn trong việc phát triển thếgiới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyếtkhông thể biết Tuy nhiên, lý luận của họ còn nhiều hạn chế, thiếu sót, trong
đó hạn chế lớn nhất là không thấy đựơc vai trò của hoạt động thực tiễn đốivới nhận thức Do đó chủ nghĩa duy vật của họ mang tính trực quan
F.Bêcơn (1561-1626) nhà triết học duy vật Anh, người đặt nền móngcho sự phát triển của chủ nghĩa duy vật siêu hình thể kỷ XVII – XVIII, khi
đề cao vai trò của tri thức ông đã nhấn mạnh nhiệm vụ của triết học là tìm racon đường nhận thức giới tự nhiên Theo ông, quá trình nhận thức phải kiênquyết chống chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa kinh viện Nhận thức phảixuất phát từ giới tự nhiên và thực nghiệm xuất phát từ giới tự nhiên và thựcnghiệm để tìm ra mối quan hệ nhân quả, phát hiện và kiểm tra chân lý Cóthể nói Bêcơn là nhà triết học đầu tiên thấy được vai trò của thực tiễn, củathực nghiệm khoa học trong quá trình nhận thức, trong quá trình hình thànhtri thức
Đến Phoiơbắc, nhà triết học duy vật Đức thế kỉ XIX đã đề cập đến thựctiễn, nhưng đối với ông, chỉ có lí luận mới thực sự là hoạt động chân chínhcủa con người còn thực tiễn mang tính chất con buôn bẩn thỉu Ông khôngthấy được vai trò, ý nghĩa của thực tiễn đối với nhận thức và cải tạo thế giới.Đối với ông chỉ có hoạt động lý luận mới quan trọng
Với Hêgghen, nhà triết học duy tâm Đức cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉXIX đã có một số tư tưởng hơp lý, sâu sắc về thực tiễn Ông cho rằng chủthể tự “ nhân đôi” mình, đối tượng hoá bản thân mình trong quan hệ với thếgiới bên ngoài, nhưng ông chỉ giới hạn thực tiễn ở ý niệm, ở hoạt động tưtưởng Đối với ông thực tiễn là một suy lý lôgíc
Các nhà triết học duy vật trước Mác cho rằng, quá trình hình thành ýthức của con người mang tính thụ động Chính vì vậy, C.Mác đã đánh giá:
“Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay - kể
cả chủ nghĩa duy vật của phoiơbắc- là sự vật hiện thực, cái cảm giác được,chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứkhông được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn”.[ 17 ,9]
Sự phát triển của khoa học thời cận đại, đặc biệt với việc ra đời của cácngành khoa học thực nghiệm đã thực sự là cuộc cách mạng trong nhận thứcluận Theo đó, mỗi chân lý khoa học phải đươc chứng minh bằng thựcnghiệm Mặc dù các nhà triết học trước Mác chưa đặt ra vai trò của thực tiễn
Trang 11đối với nhận thức, nhưng vai trò của thực nghiệm trong khoa học lại được
đề cập đầu tiên và thực sự là một trong những tiền đề đặt nền tảng cho quanniệm thực tiễn của triết hoc Mác
E.Makhơ, nhà triết học duy tâm chủ quan người Áo đồng thời là mộttrong những người sáng lập ra chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán cho rằng cáitiêu chuẩn thực tiễn là cái giúp cho mọi người phân biệt được ảo tưởng vàhiện thực đặt ra ngoài giới hạn của khoa học, ngoài giới hạn của nhận thức.Trái lại, Makhơ cho rằng thực tiễn là một việc khác và người ta có thể đặthai cái bên cạnh nhau mà không làm cho cái trước chế ước cái sau
Dựa vào những thành tựu của khoa học nói chung và khoa học tự nhiênnói riêng, cùng với việc kế thừa và phát triển sáng tạo những yếu tố hợp lýtrong những quan niệm về thực tiễn của các nhà triết học trước và khắc phụcnhững yếu tố sai lầm của những quan niệm cũ về thực tiễn, cùng với nhữnghoạt động của các ông trong phong trào đấu tranh của quần chúng lao động,C.Mác – Ph Ăngghen đã có công lớn trong việc đưa thực tiễn vào nhậnthức luận Không những thế, cả lý luận và thực tiễn đều được các ông nânglên trình độ mới: Thực tiễn cách mạng và lý luận cách mạng Nhờ đó, lýluận gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, trở thành vũ khí nhận thức và cải tạo thếgiới Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận của mình, C.Mác vàPh.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận
nói chung và trong nhận thức luận nói riêng Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo
tự nhiên, xã hội và bản thân con người.
Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt độngtinh thần Thực tiễn là hoạt động vật chất Hoạt động vật chất là những hoạtđộng mà chủ thể sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vậtchất nhất định nhằm cải tạo chúng theo nhu cầu của con người Con người
sử dụng các phương tiện để tác động vào đối tượng theo những hình thức vàmức độ khác nhau tuỳ thuộc mục đích của con người Kết quả của quá trìnhhoạt động thực tiễn là những sản phẩm thoả mãn nhu cầu vật chất và nhucầu tinh thần của cá nhân và cộng đồng
Hoạt động thực tiễn là hoạt động có tính năng động sáng tạo, là hoạtđộng được đối tượng hoá, là quá trình chuyển hoá cái tinh thần thành cái vậtchất Bởi hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và kháchthể trong đó chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể trên cơ sở đó nhậnthức khách thể Vì vậy thực tiễn là khâu trung gian nối liền ý thức con người
Trang 12với thế giới bên ngoài Như vậy, hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chấtcủa con người Nếu động vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghimột cách thụ động với thế giới bên ngoài thì con người nhờ vào thực tiễnnhư là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình để cải tạo thế giớinhằm thoả mãn nhu cầu mình thích nghi một cách chủ động tích cực với thếgiới và làm chủ thế giới Để thoả mãn nhu cầu của mình con người phải tiếnhành sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình và nhờ đó con người tạonên những vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên Như vậy, không cóhoạt động thưc tiễn con người và xã hội không thể tồn tại và phát triểnđược Vì vậy có thể nói: Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của conngười và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữacon người và thế giới Mỗi hoạt động của con người đều mang tính lịch sử
cụ thể Nó chỉ diễn ra trong một giai đoạn nhất định nào đó Nó có quá trìnhhình thành phát triển và kết thúc hoặc chuyển hoá sang giai đoạn khác,không có hoạt động thực tiễn nào tồn tại vĩnh viễn Mặt khác, hoạt độngthực tiễn chịu sự chi phối của mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối tuợng, phươngtiện cũng như mục đích hoạt động
Hoạt động thực tiễn mặc dù phải thông qua từng cá nhân, từng nhómngười nhưng hoạt động thực tiễn của từng cá nhân, từng nhóm người lạikhông thể tách rời quan hệ xã hội Xã hội quy định mục đích, đối tượngphương tiện và lực lượng trong hoạt động thực tiễn Do đó hoạt động thựctiễn của con người mang tính xã hội sâu sắc, được thực hiện trong cộng đồng,
vì cộng đồng và do cộng đồng
Hoạt động thực tiễn mang tính tất yếu, nhưng tất yếu đã có nhận thức,
đã có ý thức Đó là ý thức về kết quả, ý thức về phương pháp, ý thức về đốitượng…, đặc biệt là ý thức về mục đích của quá trình hoạt động Mục đíchcủa hoạt động thực tiễn là nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của
cá nhân và xã hội Mỗi hoạt động đều có mục đích khác nhau để giải quyếtnhu cầu cụ thể, không có hoạt động nào không có mục đích, mặc dù kết quảcủa hoạt động thực tiễn không phải lúc nào cũng diễn ra phù hợp với mụcđích của con người
Hoạt động thực tiễn rất phong phú đa dạng, song có thể chia làm bahình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị-xã hội
và hoạt động thực nghiệm khoa học
Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động trực tiếp của con người tác
động vào giới tự nhiên, cải tạo tự nhiên bằng các công cụ vật chất nhằm tạo
Trang 13ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phái triển của con người và của
xã hội Vì vậy hoạt động sản xuất vật chất được xem là động lực phát triểncủa xã hội biến đổi con người theo trạng thái phát triển tích cực về mặt thểchất lẫn tinh thần Bởi thông qua lao động con người mới phát huy hết tiềmnăng của mình Ph.Ăngghen đã viết: “ trước hết là lao động và đồng thời vớilao động là ngôn ngữ; đó là hai thứ có sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởngđến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óccủa con người” [ 1, 251] Sự phát triển của xã hội càng cao thì cách thức conngười sáng tạo ra công cụ lao đông ngày càng tinh vi, hiệu quả hơn, gópphần vào việc tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều hơn, đa dạng hơn vàchất lượng, mẫu mã được nâng lên Như vậy tồn tại xã hội quyết định ý thức
xã hội Lênin khẳng định: “ việc anh ta sống anh ta hoạt động kinh tế, anh tasinh đẻ con cái và anh ta chế tạo ra các sản phẩm, làm nảy sinh một chuỗitất yếu khách quan gồm những biến cố, những sự phát triển, không phụthuộc vào ý thức xã hội của anh ta và ý thức này không bao giờ bao quátđược toàn vẹn các chuỗi đó” [9, 403 ]
Đồng thời sản xuất vật chất là cơ sở hình thành xã hội và các thiết chế
xã hội khác nhau Tất cả quan điểm về nhà nước, pháp quyền, đạo đức, nghệthuật tôn giáo… các quan hệ xã hội như gia đình, chủng tộc, dân tộc, quốc tế
và các thiết chế xã hội như tòa án, nhà thờ… Đều được hình thành và pháttriển trên cơ sở sản xuất vật chất Bên cạnh đó sản xuất vật chất còn là cơ sởcho tiến bộ xã hội
Hoạt động chính trị-xã hội là hoạt động của con người nhằm cải tạo,
biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế độ xã hội, như đấu tranhgiai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới vì
sự tiến bộ xã hội loài người, đấu tranh chống ô nhiễm môi trường bảo vệcân bằng sinh thái, đấu tranh chống các thảm họa do các dịch bệnh gây ra
Hoat động chính trị-xã hội là hoạt động giúp cho con người có điều
kiện để phát huy hết khả năng sáng tạo của mình góp phần vào sự phát triểnchung của nhân loại và nếu không có các dạng hoạt động này thì sẽ khônglàm thay đổi các quan hệ xã hội và như vậy sẽ không thúc đẩy xã hội pháttriển được
Hoạt động thực nghiệm khoa học là hoạt động của các ngành khoa học
tác động làm cải biến những đối tượng nhất định trong một điều kiện nhấtđịnh, theo một mục đích nghiên cứu nhất định, đây là dạng đặc biệt của hoạtđộng thực tiễn bởi vì nó được tiến hành trong những điều kiện nhân tạo
Trang 14nhằm tạo những luận cứ khoa học và để phục vụ cho hoạt động nhận thức
và hoạt động làm biến đổi giới tự nhiên, xã hội của con người
Ngoài các hoạt động thực tiễn cơ bản nêu trên, còn có các hoạt độngphát sinh trong các lĩnh vực đạo đức, nghệ thuật, y tế, giáo dục,…các loạihoạt động này nảy sinh trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội loàingười, có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm những dạng hoạt động thựctiễn của con người
Như vậy mỗi hình thức hoạt động cơ bản có một chức năng quan trọngkhác nhau, không thể thay thế được cho nhau Song giữa chúng có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau Trong mối quan hệ đó hoạt động sản xuất vật chất làhoạt động cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác.Bởi vì nó là hoạt động nguyên thuỷ nhất, tồn tại một cách khách quan,thường xuyên nhất trong cuộc sống của con người và nó tạo ra những điềukiện, của cải thiết yếu có tính quyết định đối với sự sinh tồn và phát triểncủa con người và xã hội Nếu không có hoạt động sản xuất vật chất thìkhông thể có các hình thức hoạt động khác Các hình thức hoạt động khácsuy cho cùng cũng xuất phát từ hoạt động sản xuất vật chất và phục vụ chohoạt động sản xuất vật chất của con người Nhưng như vậy không có nghĩa
là các hình thức hoạt động chính trị xã hội và thực nghiệm khoa học là hoàntoàn thụ động lệ thuộc một chiều vào hoạt động sản xuất vật chất Ngược lại,chúng có thể tác động kìm hãm hoặc thúc đẩy hoạt động sản xuất vật chấtphát triển Chẳng hạn nếu hoạt động chính trị - xã hội mang tính chất tiến bộcách mạng và nếu hoạt động thực nghiệm khoa học mà đúng đắn sẽ tạo đàcho hoạt động sản xuất vật chất phát triển Còn nếu hoạt động chính trị - xãhội mà lạc hậu phản cách mạng và nếu hoạt động thực nghiệm mà sai lầmkhông khoa học sẽ kìm hãm sự phát triển của sản xuất vật chất
Tóm lại, hoạt động thực tiễn là một phạm trù không thể thiếu đối vớinhận thức khoa học, với quá trình hoạt động trong lĩnh vực lý luận, nghiêncứu lý luận cần phải hiểu rõ và nắm chắc được tính đúng đắn của thực tiễn
đó là yêư tố góp phần làm nên thành công trong công việc của mỗi người
1.1.3 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữacon người và thế giới khách quan Con người luôn tác động tích cực vào thếgiới khách quan, tự nhiên và xã hội, cải biến thế giới khách quan bằng thựctiễn Trong quá trình đó sự phát triển nhận thức của con người và sự biếnđổi thế giới khách quan là hai mặt thống nhất Điều đó quy định sự thống
Trang 15nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động sinh tồn của cánhân và cộng đồng.
Giữa lý luận và thực tiễn giường như hai mặt tương đối độc lập vớinhau nhưng lại có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Trong
đó thực tiễn luôn luôn giữ vai trò quyết định Để khẳng định vấn đề nàyLênin đã nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn lý luận (nhận thức) vì nó có ưuđiểm không những có tính phổ biến mà của cả tính hiện thực trực tiếp”[ 11,230]
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đựơc thể hiện ở những khíacạnh sau:
Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận,
lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầuthực tiễn
Thực tiễn là cơ sở của lý luận Xét một cách trực tiếp, những tri thứcđược khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn củacon người Thông qua kết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũngnhư thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ củacác yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận.Qúa trình hoạt động thực tiễn còn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh những
lý luận đã đựơc khái quát Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làmnảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giảiquyết Thông qua đó, lý luận được bổ sung, mở rộng Chính vì vậy,V.I.Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếucủa nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫncủa nó, tự nó và vì nó” [ 12,227]
Thực tiễn là động lực của lý luận Hoạt động của con người không chỉ
là nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mốiquan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội Lý luận được vận dụng làmphương pháp cho hoạt động Thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càngkích thích con người tích cực bám sát thực tiễn để khái quát lý luận Quátrình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luậnngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn Nhờ vậy hoạt động con ngườikhông bị hạn chế trong không gian và thời gian Thông qua đó, thực tiễn đãthúc đẩy một ngành khoa học mới ra đời – khoa học lý luận
Thực tiễn là mục đích của lý luận Mặc dù lý luận cung cấp những trithức khái quát về thế giới để làm thoả mãn nhu cầu hiểu biết của con người,
Trang 16nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao năng lực hoạt động của conngười trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thoả mãn nhucầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội Tự thân lý luận không thể tạo nênnhững sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Nhu cầu đó chỉ được thựchiện trong hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi trong tựnhiên và xã hội theo mục đích của con người, đó thực chất là mục đích của
lý luận Tức lý luận phải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của conngười
Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận Tính chân lý của lý luậnchính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan và được thực tiễnkiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận đối với hoạt động thực tiễncủa con người Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm.Chính vì thế mà C.Mác nói: “vấn đề tìm hiểu tư duy của con người có thểđạt đến chân lý khách quan không hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận
mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứngminh chân lý” [ 17,10] Thông qua thực tiễn những lý luận đạt đến chân lý
sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại; những kết luận chưa phùhợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh bổ sung hoặc nhận thức lại giá trị của lýluận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn
Tuy thực tiễn là tiêu chẩn chân lý của lý luận nhưng không phải mọithực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của
lý luận khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó Tính toàn vẹn của thựctiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, vận động, phát triển và chuyểnhoá Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn Thực tiễn có nhiều giai đoạn pháttriển khác nhau Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó, một bộphận nào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn Do đó, chỉnhững lý luận nào phản ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạtđến chân lý Chính vì vậy mà Lênin cho rằng: “Thực tiễn của con người lặp
đi lặp lại hàng nghìn triệu lần được in vào ý thức của con người bằng nhữnghình tượng lôgíc Những hình tượng này có tính vững chắc của một thiênkiến, có một tính chất công lý, chính vì (và chỉ vì) sự lặp đi lặp lại hàngnghìn triệu lần ấy [ 12, 234]
Quá trình thăng trầm của chủ nghĩa xã hội thế giới cho chúng ta thấy rõđiều đó Sau khi giành được chính quyền, những người vô sản tiến hành xâydựng chủ nghĩa xã hôi với cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp thôngqua hai hình thức sở hữu là toàn dân và tập thể Tương ứng với hai hình
Trang 17thức sở hữu đó là hai hình thức kinh tế quốc doanh và tập thể Thời kì đầuchủ nghĩa xã hội đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Từ đây chúng ta chorằng cơ chế đó, hai thành phần kinh tế đó và những lý luận ra đời trên nềntảng ấy vừa khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, vừa khẳng định lýluận xây dựng chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn khoa học Khủng hoảng củachủ nghĩa xã hội từ những năm 70 của thế kỷ XX dẫn đến sụp đổ một loạtnước xã hội chủ nghĩa vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ
đó chứng tỏ thực tiễn của chủ nghĩa xã hội chưa bộc lộ hết, chưa phát triểntoàn vẹn nên lý luận chưa phản ánh đúng hiện thực khách quan
Tuy xét đến cùng thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý duy nhất của lý luận,nhưng vì thực tiễn luôn vận động và phát triển, đồng thời thực tiễn cũng rấtphong phú và đa dạng, do đó ngoài tiêu chuẩn thực tiễn còn có thể có nhữngtiêu chuẩn khác như tiêu chuẩn lôgíc, tiêu chuẩn giá trị…Song các tiêuchuẩn đó vẫn phải trên nền tảng của thực tiễn Chính vì vậy chúng ta có thểnói khái quát thực tiễn là tiêu chuẩn của lý luận
Qúa trình phát triển nhận thức của con người nhất thiết dẫn đến sự hìnhthành lý luận Đó không chỉ là sự tổng kết, khái quát từ lịch sử nhận thức
mà còn từ nhu cầu của thực tiễn Thực tiễn phong phú đa dạng, luôn vậnđộng và biến đổi, nhưng để hình thành lý luận, trước hết lý luận phải đápứng thực tiễn Con người nhận thúc hiện thực khách quan để giải quyếtnhững vấn đề con người quan tâm Năng lực của con người ngày càng đượcnâng cao chính nhờ khả năng thông qua hoạt động phản ánh, khái quátthành tri thức lý luận Trong sự vô cùng, vô tận của hiện thực khách quan,con người không hề choáng ngợp mà bằng mọi biện pháp để nhận thức.Loài người có khả năng trở thành chủ thể nhận thức để phản ánh sự vô tậncủa hiện thực khách quan, nhưng để đáp ứng hoạt động thực tiễn của conngười Đó là những lý luận mang tính phương pháp cho hoạt động cải tạohiện thực khách quan Mọi hoạt động của con người đều nhằm đạt hiệu quảcao Lý luận, trước hết phải đáp ứng mục đích đó Quan hệ giữa người vớingười, giữa người với tự nhiên đòi hỏi con người phải có lý luận sâu sắc vềchúng Con người hình thành lý luận chủ yếu để làm phương pháp cho hoạtđộng sáng tạo tri thức, phát minh sáng chế những tư liệu sản xuất, tư liệusinh hoạt nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của con người Do đó hệ thống
lý luận nào góp phần giải quyết đúng đắn, phù hợp mục đích của con ngườithì được con người quan tâm khái quát Vì lẽ đó lý luận phải đáp ứng nhucầu phát triển của thực tiễn
Trang 18Thực tiễn chỉ đạo lý luận, ngược lại lý luận phải được vận dụng vàothực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn C.Mác đã từng nói,người thợ xây không bao giờ tinh xảo như con ong xây tổ nhưng người thợxây hơn hẳn con ong ở chỗ, trước khi xây dựng một công trình họ đã hìnhthành được hình tượng của công trình ấy trong đầu họ Tức là hoạt độngcủa con người là hoạt động có ý thức Ban đầu hoạt động của con ngườichưa có lý luận chỉ đạo, song con người phải hoạt động để đáp ứng nhucầu tồn tại của mình Thông qua đó, con người khái quát thành lý luận Từ
đó những hoạt động của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lýluận soi đường hoạt động thực tiễn của con người mới trở thàng tự giác,
có hiệu quả và đạt được mục đích mong muốn
Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năngđịnh hướng mục tiêu xác định lực lượng biện pháp thực hiện Lý luận còn
dự báo được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dựbáo được những rủi ro có thể xảy ra, những hạn chế những thất bại có thế cótrong quá trình hoạt động Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạtđộng hiệu quả mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng nănglực hoạt động của con người Mặt khác lý luận còn có vai trò giác ngộ mụctiêu, lý tưởng liên kết các cá nhân thành cộng đồng, tạo thành sức mạnh tolớn của quần chúng trong cải taọ tự nhiên và cải tạo xã hội Chính vì vậy,C.Mác đã khẳng định “ vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thếđược sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ lựclượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi
nó thâm nhập vào quần chúng” [10,580]
Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao song nó còn có tính lịch sử, cụthể Do đó khi vận dụng lý luận chúng ta cần phân tích một cách cụ thể mỗitình hình cụ thể Nếu vận dụng máy móc giáo điều, kinh viện thì chẳngnhững hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làmsai lệch sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn
Lý luận hình thành là kết quả của nhận thức lâu dài và khó khăn củacon người trên cơ sở hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn tuy đa dạngphong phú nhưng không phải không có tính quy luật Tính quy luật của thựctiễn được khái quát dưới hình thức lý luận Mục đích của lý luận không chỉ
là phương pháp mà còn là định hướng cho hoạt động thực tiễn Đó là địnhhướng mục tiêu, biện pháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết cácmối quan hệ trong hoạt động thực tiễn Không những thế, lý luận còn định
Trang 19hướng mô hình của hoạt động thực tiễn Vận dụng lý luận vào hoạt độngthực tiễn, trước hết từ lý luận để xây dựng mô hình thực tiễn theo nhữngmục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn biến, các mốiquan hệ lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quá trình pháttriển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằmđạt kết quả cao hơn.
Lý luận tuy là lôgíc của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu hơn sovới thực tiễn Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sátdiễn biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyếtcủa lý luận, hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn
Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn còn được làm sáng tỏ cụ thể hơnkhi xem xét nó từ quan hệ giữa chủ thể và khách thể Thực tiễn là khâutrung gian cơ bản giữa chủ thể và khách thể, thực tiễn là hình thức liên hệthực tại khách quan nhờ đó chủ thể tự đối tượng hóa bản thân, các ý định,các mục đích của mình Điều này cho thấy thực tiễn và lý luận không thểtuyệt đối độc lập với nhau Bởi vì quan hệ lý luận giữa con người và kháchthể không bao giờ tách rời, biệt lập với thực tiễn Hơn nữa, lý luận bao giờcũng phục tùng thực tiễn, phục vụ thực tiễn và lý luận bao giờ cũng pháttriển trên cơ sở cải tạo thực tiễn của xã hội Vì vậy không có sự đối lập giữa
lý luận và thực tiễn, tính độc lập của lý luận chỉ là tương đối, lý luận cáchmạng không phải hoàn toàn là thực tiễn cách mạng, tuy nhiên do lý luậnđược sinh ra bởi các nhu cầu của thực tiễn xã hội nên lý luận cách mạng trởthành một bộ phận của thực tiễn xã hội
Tóm lại, quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là một quá trình mang tínhlịch sử xã hội cụ thể Đây là quan hệ thống nhất biện chứng nắm bắt đượctính biện chứng của quá trình đó là tiền đề quan trọng bậc nhất giúp chúng
ta có một lập trường thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thựcdụng ,máy móc và lý luận suông Có thể nói rằng, C.Mác là người đầu tiênđưa phạm trù thực tiễn vào nhận thức luận, nhờ đó ông đã làm nên cuộccách mạng thực sự trong tư duy cũng như trong hoạt động Đến Lênin đãphát triển và nâng cao vai trò của thực tiễn trong lý luận nhận thức Lênin cócông to lớn trong việc làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa lý luận vàthực tiễn, về học thuyết chân lý trên cơ sở khoa học hiện đại
1.2 Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Trang 20Quan điểm thực tiễn là quan điểm khởi đầu và xuyên suốt trong cuộcđời và tư tưởng của Hồ chí Minh Hồ Chí Minh không có “phát minh” gìmới về phạm trù thực tiễn và về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.Người chỉ thực hành cách mạng nhưng thông qua thực hành cách mạngNgười đã thể hiện rất sớm một khuynh hướng tối ưu, một khuynh hướng vôcùng đúng đắn cho cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình mà vào thời
đó không có một nhà cách mạng nào đạt được Đó là vào năm 21 tuổi Ngườimuốn tận mắt xem nước Pháp và các nước thuộc địa khác, nhưng lại phảixem xét tường tận, cụ thể rồi sau đó phải làm gì là tùy thuộc vào tình hìnhthực tế
Ngay từ khi còn rất trẻ Hồ Chí Minh đã bộc lộ là một con người thựctiễn, con người hành động chính thực tiễn cách mạng và cách mạng thế giới
đã hướng dẫn tư tưởng và hành động của Người Khi vận dụng vào thực tiễncủa cách mạng nước ta Hồ Chí Minh thường dùng các khái niện “ thực tế”hay “ thực hành” cùng với các khái niệm “thực tiễn”
Khái niệm thực tiễn và thực tế tuy có nội dung khác nhau, vì thực tếrộng hơn thực tiễn, nhưng trong một số trường hợp thì Hồ Chí Minh lạidùng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn, bởi vì khái niệm thực tế nhân dân
ta đã quen dùng, chẳn hạn Người nói : Lý luận phải liên hệ với thực tế,nhưng Người cũng nói: thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyêntắc căn bản của chủ nghĩa Mác- Lênin … Theo Hồ Chí Minh: “thực tế là cácvấn đề mình giải quyết, là mâu thuẫn của sự vật Chúng ta là những cán bộcách mạng, thực tế của chúng ta là những vấn đề cách mạng đề ra cho ta giảiquyết Thực tế bao gồm rất rộng Nó bao gồm kinh nghiệm công tác và tưtưởng của cá nhân, chính sách và đường lối của Đảng, kinh nghiệm lịch sửcủa Đảng cho đến các vấn đề trong nước và trên thế giới” [14, 497]
Tuy xác định khái niệm thực tế là rất rộng, nhưng Hồ Chí Minh chỉkhuôn vào trong các lĩnh vực cụ thể mà người cán bộ cách mạng phải đốimặt, phải giải quyết kể từ công tác trong thực hành cách mạng, kinh nghiệmcách mạng, đường lối, chính sách của cách mạng, đến công tác tư tưởng củacán bộ… “ các vấn đề trong nước và thế giới” Bằng việc làm cụ thể vànhững lời giáo huấn, Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của thực tiễn, cho dùnhiều lúc nêu cao vai trò của lý luận nhưng bao giờ Người cũng nhấn mạnh
lý luận cũng phải gắn với thực tiễn, phục vụ thực tiễn
Ngay từ năm 1924, khi đọc diễn văn tại đại hội lần thứ V Quốc tế cộngsản, Nguyễn Ái Quốc nhắc nhở Đảng Cộng Sản Pháp phải có hành động
Trang 21thực tiễn về vấn đề thuộc địa Người nói: “ Vậy phải hành động thực tiễnnhư thế nào? Đề ra những luận cương dài dằng dặc và thông qua những nghịquyết rất kêu để sau đại hội đưa vào viện bảo tàng như từ trước vẫn làm thìchưa đủ Chúng ta cần có biện pháp cụ thể” [ 18, 281].
Thực tiễn không chỉ được coi là những công việc cụ thể, thực tế, hiệnthực của cách mạng, mà còn được hiểu như là “thực hành”, kinh nghiệm rút
ra từ trong công tác Người thường nói: lý luận gắn liền với thưc hành, lờinói đi đôi với việc làm…
Xác định vai trò quan trọng của thực tiễn đối với lý luận và nhận thứccủa con người, nhưng đồng thời chúng ta cần phải nhận thức được rằng thựctiễn không đứng im một chỗ mà thực tiễn luôn luôn vận động biến đổi vàchuyển hóa không ngừng, cho nên, sự vận động của thực tiễn quyết định sựvận động lý luận và nhận thức của con người
Khi xác định vai trò quan trọng của thực tiễn, Hồ Chí Minh còn nêucao vai trò của việc học tập lý luận trong cách mạng Việt Nam Trong tácphẩm Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã mượn câu nói của Lênin để
mở đầu cho tác phẩm như một bản tuyên ngôn: “không có lý luận cáchmệnh thì không có cách mệnh vận động…’” Hai mươi năm sau, năm 1947trong Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh định nghĩa: “ Lý luận là đem thực
tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, sosánh thật kĩ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận Rồi lại đem nó chứng minhvới thực tế Đó là lý luận chân chính”[ 20,233] Mười năm sau, năm 1959nói chuyện tại Trường Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh xác định thêm: Lýluận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức
về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử
Hồ Chí Minh xác định lý luận đặc biệt là lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin rất quan trọng, vì nó là kim chỉ nam cho hành động, chỉ phươnghướng cho chúng ta trong hoạt động thực tế Không có lý luận thì khôngbiết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng xử lý cho khéo kết quả thường thấtbại Không có lý luận thì lúng túng nhắm mắt như nhắm mắt mà đi, lý luậnquan trọng như vậy nên việc lựa chon lý luận đúng, chủ nghĩa đúng là yếu
tố quyết định đưa đến sự thành bại của cách mạng
Khi xác định vai trò của lý luận Hồ Chí Minh cũng nêu lên ba khuyếtđiểm mà cán bộ ta thường mắc phải, đó là kém lý luận, khinh lý luận, lý
luận suông Kém lý luận là không nắm được lý thuyết chính trị, quân sự,
kinh tế, văn hoá để áp dụng vào phong trào, là không hiểu biện chứng là cái
Trang 22gì? Nghĩa là, trước hết không chịu học chủ nghĩa duy vật biện chứng…kém
lý luận nên không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý nghĩ thế
nào làm thế ấy Kết quả thường thất bại [20, 234] Khinh lý luận là “bệnh”
của những cán bộ kinh qua công tác hàng ngày nên có bề dày kinh nghiệm
có thành tích, họ thường coi khinh lý luận, coi nhẹ việc học tập lý thuyết,học tập sách vở Hồ Chí Minh nhắc nhở: Nếu họ đã có kinh nghiệm mà lạibiết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều…Những anh em đó, cần
nghiên cứu thêm lý luận mới thành người cán bộ toàn diện Lý luận suông,
theo Hồ Chí Minh: Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế, lý luận màkhông áp dụng vào thực tế là lý luận suông Có nhiều cán bộ, trí thức chỉchăm chú sách vở, học nhiều, bằng cấp lắm nhưng lại không đem áp dụngvào công việc thực tế, họ trở thành những người lý luận suông Hồ ChíMinh nhắc nhở Đảng ta phải nâng cao trình độ lý luận của Đảng, phải tổchức học tập lý luận trong Đảng, trước hết là trong những cán bộ cốt cáncủa Đảng Rằng học tập lý luận là một sự cấp thiết đối với Đảng ta
Trong việc vận dụng một cách sáng tạo lý luận nhận thức của triết họcMácxít, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những kiểu mẫu về việc thực hiện quanđiểm lý luận gắn liền với thực tiễn trong cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minhnói: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản củachủ nghĩa Mác – Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thànhthực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luậnsuông” [22, 496]
Có lẽ vấn đề học tập lý luận và gắn liền lý luận với thực tiễn là vấn đềđược Hồ Chí Minh quan tâm nhiều nhất trong công tác giáo dục và đào tạocán bộ Sau khi giành được chính quyền không lâu, khi viết tác phẩm sửađổi lối làm việc, Hồ Chí Minh đã đề cập đến thiếu sót phổ biến của cán bộ ta
là kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông Người nhắc nhở cán bộ phảiđem tri thức vào thực tế, lý luận phải đem ra thực hành, thực hành phảinhằm theo lý luận Người đưa hình ảnh “Mũi tên” và “Cái đích” để dễ hiểu
dễ nhớ: “Lý luận cũng như cái tên hoặc viên đạn Thực hành cũng như cáiđích để bắn Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không cótên.” [20, 235]
Từ mối quan hệ hữu cơ đó, Người căn dặn chúng ta phải gắng học,đồng thời học thì phải hành Việc học lý luận và gắn lý luận với thực hànhđược coi như tiêu chuẩn xác định tư cách và đạo đức của người cán bộ: “cán
Trang 23bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hànhphải luôn luôn đi đôi với nhau” [20, 249].
Hồ Chí Minh còn rất quan tâm đến mối quan hệ giữa lý luận - thực tiễn– kinh nghiệm trong công tác cách mạng Người nhắc nhở Đảng ta phải kếthợp lý luận với kinh nghiệm và thực hành Trong học tập phải theo nguyêntắc: Kinh nghiệm và thực tế phải đi đôi với nhau Đặc biệt trong lý luận, HồChí Minh chú trọng việc học tập lý luận Mác – Lênin cho cán bộ và đảngviên đồng thời phải truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong nhân dân đểnhân dân thực hành công tác cách mạng Nhưng, học tập chủ nghĩa Mác –Lênin là học lấy cái tinh thần, cái phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin,
là đem lý luận Mác – Lênin liên hệ với thực tế cách mạng Việt Nam phải ápdụng chủ nghĩa Mác – Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúctừng nơi Đặc biệt, đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam phải áp dụng lậptrường, quan điểm và phương pháp Mác – Lênin mà giải quyết các vấn đềthực tế của cách mạng Việt Nam Nguyên tắc lý luận gắn liền với thức tiễnđược Hồ Chí Minh phát triển một cách cụ thể trong những hoàn cảnh cụ thể
Ví dụ, đối với học sinh, sinh viên, Hồ Chí Minh nói: Học phải đi đôi vớihành, học tập phải liên hệ với thực tế Đối với tri thức, Hồ Chí Minh khuyênphải đem lý luận kiến thức ra phục vụ nhân dân, đừng biến mình thành conmọt sách Đối với cán bộ, khi bồi dưỡng lý luận, phải liên hệ tư tưởng vớicông tác của mình, khi làm việc phải phân tích những thắng lợi và thất bại,những mặt đúng và mặt sai trong lập trường, quan điểm và phương pháp.Đối với văn nghệ sĩ, Hồ Chí Minh khuyên phải năng đi thực tế đi vào nhândân thì mới có tác phẩm hay… Đối với Đảng, Người cho rằng Đảng ta trình
độ lý luận còn thấp kém, cho nên đứng trước nhiệm vụ lãnh đạo cách mạngngày càng mới và phức tạp, Đảng ta phải nâng cao trình độ lý luận để khỏilúng túng, khỏi mắc sai lầm khuyết điểm Tư tưởng về sự thống nhất giữa lýluận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa, khắc phụcbệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểutrên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉđạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lýluận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệvới thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều Nghĩa là thực tiễn, lýluận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau
Trang 24Hồ Chí Minh cho rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lýluận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm thì trước hết cần khắcphục bệnh kém lý luận, bệnh khinh lý luận Bởi lẽ, kém lý luận, khinh lýluận nhất định sẽ dẫn tới bệnh kinh nghiệm Hơn nữa, không có lý luận thìtrong hoạt động thực tiễn người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tớituyệt đối hóa kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành côngtrong hoạt động thực tiễn Nếu không có lý luận hay trình độ lý luận thấp sẽlàm cho bệnh kinh nghiệm thêm trầm trọng, thêm kéo dài Thực tế cho thấy,
ở nước ta có không ít cán bộ, đảng viên "chỉ bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ
tẻ Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng
Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cáchmạng" [21,237] Những cán bộ ấy quên rằng, "kinh nghiệm của họ tuy tốt,nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt màthôi Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắtmờ" [20, 234] Thực chất là họ không hiểu vai trò của lý luận đối với thựctiễn Theo Hồ Chí Minh, lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn,
lý luận "như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong côngviệc thực tế Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi" [20, 234
- 235] "Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tốivừa chậm chạp vừa hay vấp váp" [21, 47] Làm mò mẫm chính là biểu hiệncủa bệnh kinh nghiệm Kém lý luận, khinh lý luận không chỉ dẫn tới bệnhkinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều Bởi lẽ, do kém lý luận, khinh lýluận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ lý luận và do đócũng không thể hiểu được bản chất những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh Do
đó, không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn mớinảy sinh Nếu có vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp vớithực tiễn
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở rằng, có lý luận rồi thìphải kết hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên hệ với thực tiễn nếukhông lại mắc phải bệnh lý luận suông, tức bệnh giáo điều Như vậy cũng
có nghĩa là lý luận suông, lý luận sách vở thuần túy "Lý luận cốt để áp dụngvào công việc thực tế Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lýluận suông Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu khôngbiết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách" [20, 234] Do
đó, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát từ thực tiễn, nếu khôngcũng mắc phải bệnh giáo điều Như vậy, lý luận chỉ có ý nghĩa đính thực khi
Trang 25được vận dụng vào thực tiễn phục vụ thực tiễn, đóng vai trò soi đường, dẫndắt, chỉ đạo thực tiễn Đồng thời, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn thì phảiphù hợp điều kiện thực tiễn Rõ ràng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở
Hồ Chí Minh phải được hiểu là, thực tiễn - lý luận, lý luận - thực tiễn luônhòa quyện, thống nhất với nhau, đòi hỏi nhau, cần đến nhau, tạo tiền đề chonhau phát triển
Hồ Chí Minh không để lại những tác phẩm chuyên khảo về sự thốngnhất giữa lý luận và thực tiễn, nhưng ở nhiều bài viết, bài nói Người luônluôn đề cập tới nguyên tắc cơ bản này bằng nhiều cách nói, cách viết, cáchdiễn đạt khác nhau nhằm giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân dễnhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng Cả cuộc đời của Người là tấm gương sáng vềviệc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Một trongnhững biểu hiện sinh động ấy là, trong hoạt động cách mạng Người luônluôn sâu sát thực tế, gắn bó với cơ sở, gần gũi với nhân dân Trong khoảng
10 năm từ 1955 - 1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện trên 700 lượt đi thăm,tiếp xúc với cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, bác sĩ, nông dân, các cụphụ lão, các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng, các đơn vị bộ đội, thanh niênxung phong, các hợp tác xã, bệnh viện, trường học Như vậy, mỗi năm cótới hơn 70 lần xuống cơ sở, gặp gỡ tiếp xúc với quần chúng nhân dân Điềunày đủ thấy Hồ Chí Minh gắn bó với quần chúng, sâu sát với cơ sở, thực tếnhư thế nào
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, quán triệt tốtnguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là góp phần trực tiếp ngănngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều Để làm tốt điều nàythì một mặt, phải ra sức học tập, nâng cao trình độ lý luận cũng như chuyênmôn nghiệp vụ Mặt khác, phải có phương pháp học tập đúng đắn, học phải
đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế Nếu không, chưa khắc phụcđược bệnh kinh nghiệm thì đã mắc phải bệnh giáo điều, bệnh sách vở.Người chỉ rõ, "lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì
sẽ không có kết quả Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấnmạnh: Lý luận phải liên hệ với thực tế Điều quan trọng nữa theo Người làphải thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, chống bệnh giáo điều ngay tronghọc tập chủ nghĩa Mác-Lênin Khi còn sống Người luôn phê phán kiểu họcthuộc lòng chủ nghĩa Mác- Lênin, "học sách vở Mác - Lênin nhưng khônghọc tinh thần Mác - Lênin" [23, 292] Đó là học theo kiểu "mượn những lờicủa Mác, Lênin dễ làm cho người ta lầm lẫn" [21, 247] Theo Hồ Chí Minh,
Trang 26học tập chủ nghĩa Mác Lênin là "phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác -Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyếtcho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta" [22,497] "Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọiviệc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lýphổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàncảnh thực tế của nước ta Học để mà làm" [23, 292] Hồ Chí Minh cũng căndặn cán bộ, đảng viên "học tập lý luận thì nhằm mục đích để vận dụng chứkhông phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn lý luận
để sau này đưa ra mặc cả với Đảng" Như vậy, học tập chủ nghĩa Mác Lênin không phải vì chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng không phải vì học tậpthuần túy, càng không phải học tập vì mục đích cá nhân nhằm có cái để mặc
-cả với tổ chức Học tập trước hết là để làm người, rồi mới làm cán bộ vàphụng sự tổ quốc, nhân dân, giai cấp Cho nên người cán bộ, đảng viên phải
có thái độ học tập đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trongnghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin Tư tưởng này của Hồ Chí Minhcho tới nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với chúng ta.Người cũng lưu ý rằng, không nên coi chủ nghĩa Mác - Lênin là kinh thánh,
là những công thức có sẵn, cứng nhắc Có như vậy thì việc nghiên cứu, họctập vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin mới có hiệu quả Cùng với việc chốnggiáo điều trong học tập chủ nghĩa Mác - Lênin thì còn phải chống giáo điềutrong vận dụng lý luận cũng như kinh nghiệm của nước khác, ngành khác.Người căn dặn cán bộ, đảng viên: Không chú trọng đến đặc điểm của dântộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầmnghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều Để chống cả hai loại giáo điềunày, theo Hồ Chí Minh thì biện pháp cơ bản là phải gắn lý luận với thực tiễncách mạng nước nhà Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thựctiễn cách mạng, khi vận dụng kinh nghiệm và lý luận phải xuất phát từ thựctiễn nước nhà Người cũng nhấn mạnh rằng, cùng với việc chống bệnh giáođiều thì phải đề phòng, ngăn ngừa chủ nghĩa xét lại Bởi lẽ, nếu không cóquan điểm đúng đắn trong việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn thì người ta dễ nhấn mạnh thái quá những đặc điểm dân tộc đểphủ nhận những giá trị phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin
Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổbiến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc
Trang 27sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại Đồng thời, Người còn nhắc nhởcán bộ, đảng viên phải biết dùng lý luận đã học được để tổng kết kinhnghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác.… công việc gì bất kỳthành công hoặc thất bại, chúng ta cần nghiên cứu cội rễ, phân tích thật rõràng rồi kết luận Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và đểgiúp cho cán bộ tiến tới Người còn nhấn mạnh " cần phải nghiên cứu kinhnghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triểnkinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm" [20, 417] Đó chính làquá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung,hoàn thiện, phát triển lý luận Làm được như vậy cũng có nghĩa là làm cho
lý luận cần được "bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễnsinh động" Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắtbởi lý luận mới Cứ như vậy, lý luận luôn được bổ sung, hoàn thiện, pháttriển bởi những kết luận mới được rút ra từ tổng kết thực tiễn Còn thực tiễnluôn được chỉ đạo, soi đường dẫn dắt bởi lý luận đã được bổ sung bằngnhững kinh nghiệm thực tiễn mới Đây là biểu hiện sinh động của việc quántriệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí Minh "Làmnhư thế theo Người là tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối vớicác vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn" [22, 498].Qua những nhận định ở trên, chúng ta thấy rằng, để quán triệt tốtnguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm ngăn ngừa, khắc phụcbệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có hiệu quả thì phải không ngừng họctập lý luận, nâng cao trình độ lý luận Khi có lý luận thì phải vận dụng vàothực tiễn, phải biết tổng kết thực tiễn để làm giàu lý luận bằng những kinhnghiệm thực tiễn mới Chỉ thông qua quy trình như vậy thì lý luận mới gắnvới thực tiễn, mới không trở thành giáo điều Đồng thời thực tiễn mới sẽđược chỉ đạo bởi lý luận sẽ không bị mò mẫm, vấp váp, hay chệch hướng.Như vậy thì bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều cũng không còn chỗ đứng.Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểutrên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉđạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lýluận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệvới thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều Nghĩa là thực tiễn, lýluận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau
Trang 28CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Ở
ĐẠI HỌC HUẾ HIỆN NAY 2.1 Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội
ở nước ta hiện nay.
2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường tất yếu của mọi quốc gianhằm phát triển kinh tế xã hội Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoácần phải phát huy mọi nguồn lực cần thiết trong nước và từ nước ngoài baogồm: Nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ, nguồn lựctài nguyên, các ưu thế và các lợi thế về điều kiện địa lý, thể chế chính trị…Trong đó nguồn nhân lực là quan trọng nhất, giữ vai trò quyết định Nhậnthức rõ điều đó Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là độnglực của sự phát triển xã hội bền vững
Vậy nguồn nhân lực là gì? Khái niệm nguồn nhân lực đã được sử dụng
từ những năm 60, ở nhiều nước Phương Tây và một số nước châu Á Hiệnnay khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan niệm mới về vai trò, vị trícon người trong sự nghiệp phát triển Ở nước ta khái niệm nguồn nhân lựcđược sử dụng tương đối rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 đến nay
Khi đưa ra khái niệm nguồn nhân lực, có rất nhiều ý kiến khác nhau.Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sảnxuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và pháttriển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó, quyếtđịnh năng suất lao động và tiến bộ xã hội Theo định nghĩa của liên hợpquốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực củatoàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế cũng như tiềm tàng để pháttriển kinh tế, xã hội trong cộng đồng”
Ở nước ta, theo giáo trình quản lí nguồn nhân lực của học viện hànhchính quốc gia: “ nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kìxác định dựa trên một phạm vi, một ngành hay một vùng”, những nghiêncứu về con người được hiểu cụ thể là nguồn nhân lực (nguồn lực con người)xem xét con người vừa là động lực cụ thể bên cạnh các nguồn lực khácnhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đòi hỏi nhu cầu về nguồn nhân lực với nội dung ngày càng cao
Trang 29Một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học – công nghệ cấpnhà nước: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực phát triển kinh tế xãhội” mang mã số KX – 07 do GS TSKH Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệmcho rằng: Nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người baogồm cả thể chất và tinh thần, còn Thủ tướng Phan Văn Khải cũng khẳngđịnh rằng: “Nguồn nhân lực bao gồm cả sức lao động trí tuệ và tinh thần gắnvới truyền thống của dân tộc ta [25, 32- 33] Nguồn nhân lực là nguồn laođộng (tổng số người đang có việc làm Số người thất nghiệp và số lao động
dự phòng), đôi khi nó còn được hiểu là lực lượng lao động (số người trong
độ tuổi lao động) Vậy có thể hiểu: Nguồn nhân lực (nguồn lực con người)của một đất nước hay một địa phương là tổng thể các tiềm năng lao động xãhội ( gồm dân số, cơ cấu dân số và chất lượng con người) được chuẩn bị ( ởcác mức độ khác nhau), sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế,
xã hội đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá
Như vậy, là có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực, nhưngđược dựa trên một cách hiểu chung đó là nhấn mạnh yếu tố thể lực và trílực của con người Bởi chỉ khi nào đảm bảo hai yếu tố đó mới đáp ứng đượcyêu cầu của sự phát triển đất nước trong mọi giai đoạn, đặc biệt trong giaiđoạn hiện nay
2.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay.
Lý luận và thực tiễn phát triển ở tất cả các nước trên thế giới đã chothấy nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình tăngtrưởng và phát triển kinh tế Hayami và Godo (2005) cho rằng trong giaiđoạn đầu của quá trình phát triển, mô hình tăng trưởng kinh tế chủ yếu làdựa vào tích lũy vốn vật chất Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng và phát triểnkinh tế trong giai đoạn sau sẽ chủ yếu dựa trên cải tiến công nghệ và pháttriển vốn con người hay vốn nhân lực Trên thực tế, sự hồi phục nhanhchóng của Tây Âu cùng với Kế hoạch Marshall thời hậu chiến, sự phát triểnthần kỳ của nhiều nước ở khu vực Đông Á bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc vàĐài Loan, và tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của nhiều nước công nghiệpmới, các nước ASEAN và Trung Quốc đều phần lớn nhờ vào nguồn nhânlực có chất lượng Không chỉ có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh
tế, nguồn nhân lực có chất lượng còn có ý nghĩa trong việc giải quyết cácvấn đề xã hội như bất bình đẳng, đói nghèo, các vấn đề về môi trường, và sự