1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi

148 1,3K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Trường học Trường Đại Học Quảng Ngãi
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Quảng Ngãi
Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các luận điểm bảo vệ Luận điểm 1: Tiếp cận địa lí tổng hợp, tiếp cận cảnh quan học trong nghiên cứu lãnh thổ tỉnh Quảng Ngãi sẽ làm sáng tỏ sự phân hóa đa dạng, nhưng có quy luật của tự

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khai thác và sử dụng hợp lí tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội XH) gắn với mục tiêu phát triển bền vững (PTBV) là vấn đề mang tính thời sự, đangđặt ra cho nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Khai thác tài nguyên quá mức đã nảy sinhnhiều bất cập Một số nơi, khai thác chưa đi đôi với bảo vệ, tái tạo, chỉ tận dụng nguồntài nguyên sẵn có… nên tài nguyên thiên nhiên (TNTN) đã và đang có dấu hiệu suythoái, mất cân bằng sinh thái, môi trường (MT) bị ô nhiễm Vì vậy, cần thiết phảinghiên cứu tổng hợp và đánh giá đúng tiềm năng TNTN trước khi tiến hành khai thác

(KT-và sử dụng Hướng nghiên cứu, đánh giá cảnh quan (ĐGCQ) là hướng nghiên cứu

quan trọng, góp phần thiết thực giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra Đồng thời,hướng nghiên cứu này là cơ sở khoa học cho sử dụng hợp lí (SDHL) tài nguyên, bố tríhợp lí các ngành sản xuất và bảo vệ môi trường (BVMT) lãnh thổ nghiên cứu

Nằm trong vùng Duyên hải Nam Trung bộ, Quảng Ngãi được đánh giá là tỉnh

có tiềm năng lớn cho phát triển nền kinh tế toàn diện Với ba phía bắc, tây, nam giápcác tỉnh trong vùng và các tỉnh Tây Nguyên, phía đông là biển Đông rộng lớn, đường

bờ biển dài khoảng 130km Vị trí địa lí tạo lợi thế cho Quảng Ngãi trong xu thế hộinhập hiện nay Vùng đồng bằng ven biển nhỏ hẹp nhưng đa dạng về hình thái và vậtliệu cấu thành Ven bờ có nhiều bãi biển đẹp, nhiều cảng biển (quan trọng nhất là cảngnước sâu Dung Quất) - là điều kiện thuận lợi cho tỉnh phát triển giao thông vận tảibiển, du lịch biển, đánh bắt nuôi trồng thuỷ hải sản Vùng đồi núi chiếm 3/4 diện tích

tự nhiên – nơi thích hợp cho tỉnh thực hiện các mô hình nông - lâm kết hợp Nguồnkhoáng sản quy mô tuy không lớn nhưng đang được khai thác, chế biến, thúc đẩy hoạt

động công nghiệp, hợp tác đầu tư phát triển Ngày 11/3/2005, khu công nghiệp (KCN)

Dung Quất được mở rộng thành khu kinh tế (KKT) Dung Quất (theo Quyết định số

50/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ), cùng với các KCN vừa và nhỏ đã hìnhthành, tạo thuận lợi để đưa ngành công nghiệp tỉnh trở thành ngành mũi nhọn

Kinh tế Quảng Ngãi những năm gần đây tăng trưởng ấn tượng, song vẫn chưakhai thác tốt tiềm năng sẵn có Khai thác tài nguyên tuy đã quy hoạch, nhưng chưađược đánh giá chi tiết, chưa chú trọng đến tái tạo tài nguyên, để lại nhiều hậu quả: xóimòn, rửa trôi mạnh trên địa hình dốc, đất đai bạc màu, thoái hoá, sa mạc hóa gia tăng,suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường, bồi lấp cửa sông, sạt lở bờ biển Hơnnữa, ở vị trí địa lí này, hàng năm Quảng Ngãi luôn chịu nhiều tai biến thiên nhiên, gây

Trang 2

ra những vấn đề MT cấp bách, ảnh hưởng lớn đến phát triển KT-XH Hệ quả tất yếu làtình hình phát triển KT-XH Quảng Ngãi chưa cao, đời sống người dân còn nhiều khókhăn Bằng cách nào để tăng năng suất và hiệu quả các ngành kinh tế? Bằng cách nào

để khai thác, SDHL các loại tài nguyên phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và

du lịch? Và bằng cách nào đánh giá được đơn vị cảnh quan trong tỉnh thích hợp nhất

để tiếp tục mở rộng diện tích cây cao su nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất? Khảnăng mở rộng diện tích bao nhiêu thì đáp ứng đủ nguyên liệu cho nhà máy chế biếncao su và phù hợp với cơ cấu cây trồng của tỉnh?

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ngãi” nhằm góp

phần giải quyết những vấn đề bất cập trong khai thác, sử dụng tài nguyên, BVMT hiệnnay của tỉnh và một số định hướng phát triển cây cao su, nhằm phục vụ mục tiêu lâudài là PTBV cho Quảng Ngãi

Nhiệm vụ 1: Tổng quan tài liệu liên quan đến nghiên cứu, đánh giá cảnh quan

phục vụ sử dụng hợp lí tài nguyên, bảo vệ môi trường và các tài liệu liên quan đếnlãnh thổ nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận vận dụng cho đề tài

Nhiệm vụ 2: Phân tích các nhân tố thành tạo cảnh quan (CQ), thành lập bản đồ

CQ Quảng Ngãi tỉ lệ 1: 100.000, bản đồ CQ huyện Bình Sơn tỉ lệ 1: 50.000; phân tíchcấu trúc CQ nhằm làm sáng tỏ quy luật phân hóa tự nhiên ở lãnh thổ nghiên cứu

Nhiệm vụ 3: Đánh giá cảnh quan và phân hạng mức độ thích hợp từng loại CQ

phục vụ phát triển các ngành kinh tế tỉnh; phát triển cây cao su (huyện Bình Sơn) vàkiến nghị SDHL tài nguyên, BVMT tỉnh Quảng Ngãi

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1.Phạm vi lãnh thổ

Lãnh thổ nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi tỉnh Quảng Ngãi, tập trungnghiên cứu phần đất liền, không xét phần biển và hải đảo của tỉnh (hình 1)

Trang 3

3.2 Phạm vi khoa học

Nghiên cứu, ĐGCQ phục vụ SDHL tài nguyên và BVMT là vấn đề tổng hợp,liên quan đến nhiều lĩnh vực Luận án tập trung NCCQ tỉnh Quảng Ngãi (ở bản đồ tỉ lệ1: 100.000), xác định đặc điểm CQ toàn lãnh thổ Đánh giá tiềm năng tự nhiên cho

phát triển sản xuất, luận án ĐGCQ ở cấp loại CQ cho phát triển 3 ngành: nông nghiệp,

lâm nghiệp và du lịch trên toàn tỉnh Trường hợp đánh giá mức độ thích hợp của điều

kiện tự nhiên (ĐKTN) cho một loại cây trồng cụ thể, luận án lựa chọn cây cao su (ởhuyện Bình Sơn) và đánh giá theo các dạng CQ (ở bản đồ tỉ lệ 1: 50.000)

Quảng Ngãi có nhiều loại TNTN, luận án chú trọng xem xét tài nguyên khí hậu,đất, nước mặt và tài nguyên rừng Những định hướng BVMT, bố trí hợp lí không gian

ưu tiên phát triển các ngành sản xuất được đề xuất dựa trên kết quả ĐGCQ, hiện trạngkhai thác và sử dụng tài nguyên của địa phương

4 Các luận điểm bảo vệ

Luận điểm 1: Tiếp cận địa lí tổng hợp, tiếp cận cảnh quan học trong nghiên cứu

lãnh thổ tỉnh Quảng Ngãi sẽ làm sáng tỏ sự phân hóa đa dạng, nhưng có quy luật của

tự nhiên, được thể hiện qua đặc trưng phân hóa của 1 hệ CQ, 1 phụ hệ, 1 kiểu CQ, 3lớp, 7 phụ lớp, 16 hạng CQ và 139 loại CQ cũng như khả năng và giá trị ứng dụngthực tiễn cho phát triển của tỉnh

Luận điểm 2: Phân tích, đánh giá cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu là cơ sở khoa

học và thực tiễn nhằm xác định các định hướng tổ chức không gian ưu tiên phát triểncác ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và du lịch của tỉnh Quảng Ngãi (bản đồ tỉ lệ 1:100.000) và không gian phân bố, khả năng mở rộng diện tích cây cao su ở huyện BìnhSơn (bản đồ tỉ lệ 1: 50.000)

5 Những điểm mới của đề tài

Đã xây dựng bản đồ CQ tỉ lệ 1: 100.000 cho tỉnh Quảng Ngãi và bản đồ CQ tỉ

lệ 1: 50.000 cho huyện Bình Sơn

Đã xác định được mức độ thuận lợi và thứ tự ưu tiên của các loại CQ cho pháttriển nông nghiệp, lâm nghiệp và du lịch tỉnh Quảng Ngãi; xác định khả năng mở rộngdiện tích và phạm vi phân bố cây cao su ở huyện Bình Sơn theo các dạng CQ

Trên quan điểm tiếp cận Địa lí tổng hợp và ĐGCQ đã đề xuất định hướngSDHL tài nguyên và BVMT, phát triển các ngành sản xuất, kinh tế tỉnh Quảng Ngãitheo hướng bền vững

Trang 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện phương pháp luận và phương phápnghiên cứu, đánh giá tiềm năng tự nhiên, SDHL tài nguyên theo hướng địa lí tự nhiên(ĐLTN) tổng hợp ứng dụng cho một lãnh thổ cụ thể

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần định hướng SDHL tài nguyên, bố tríhợp lí không gian sản xuất theo các đơn vị CQ; hỗ trợ các nhà quy hoạch xây dựngchiến lược phát triển KT-XH theo hướng bền vững cho tỉnh Quảng Ngãi Luận án có thể

sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy

7 Cơ sở tài liệu của luận án

Luận án được thực hiện dựa trên khối lượng tài liệu phong phú, gồm các côngtrình nghiên cứu của các nhà khoa học, các đề tài, các chương trình, các dự án… Cáctài liệu được tác giả thu thập trong quá trình nghiên cứu, như tài liệu ở thư viện (thưviện Quốc gia Việt Nam, thư viện Khoa học kĩ thuật Trung ương, thư viện tỉnh QuảngNgãi; thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học KHTN, Đại học Quy Nhơn); Các đềtài khoa học cấp Nhà nước, cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đề tài cấp cơ

sơ và các đề tài cấp địa phương đã thực hiện thuộc: Đề tài: 48B.05.01: Nghiên cứu,

đánh giá điều kiện tự nhiên dải ven biển và hải đảo ven bờ (1991); Đề tài KHCN 07 –

02: “Nguyên nhân, giải pháp phòng ngừa và ngăn chặn quá trình hoang mạc hoá

vùng Trung Trung bộ (Quảng Ngãi – Bình Định), 2000; Đề tài cấp Viện KH&CN Việt

Nam Đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên nhằm cảnh báo và ngăn ngừa thiên tai,

lũ lụt một số lưu vực (lưu vực sông Thu Bồn, Trà Khúc), (2003); Đề tài cấp Nhà nước

(KC 09 – 11), đề tài nhánh là “Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên

thiên nhiên dải ven biển Việt Nam cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường (2003); Đề tài cấp nhà nước KC 08-12: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho các giải pháp tổng thể dự báo phòng tránh lũ lụt ở miền Trung (2005); Đề tài cấp tỉnh

“Tổng hợp, biên hội Bản đồ địa chất và khoáng sản tỉnh Quảng Ngãi; đề xuất giải

pháp đầu tư, thăm dò khai thác, sử dụng hợp lí một số loại tài nguyên khoáng sản có thế mạnh” (2006) Đề tài cấp Viện Địa lí “Đánh giá tình trạng khô hạn vùng Trung bộ Việt Nam thông qua một số chỉ tiêu khô hạn (2007); Đề tài “Xây dựng bản đồ nguy cơ

Trang 5

và các giải pháp khả thi mang tính ngăn ngừa, hạn chế tác hại của lũ quét, lũ ống trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” (2008); Đề tài cấp Viện KH&CN VN “Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên và môi trường phục vụ lập quy hoạch phát triển KT-XH tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020” (2006 - 2009)…

Các tài liệu chuyên ngành thuộc Viện Địa lí, Trung tâm tư vấn lâm nghiệp; cáctài liệu thuộc các sở ban ngành của tỉnh Quảng Ngãi: sở Khoa học và Công nghệ, sởTài nguyên và Môi trường, sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, sở Văn hóa thôngtin, sở Kế hoạch và Đầu tư và các phòng ban ở huyện Bình Sơn (tỉnh Quảng Ngãi)

Đồng thời, tác giả còn tham khảo các quy hoạch ngành và các quy hoạch tổngthể phát triển KT-XH địa phương; Các tài liệu từ mạng Internet, từ Website của cáctrường đại học, từ các tạp chí chuyên ngành trên Thế giới và Việt Nam; Các côngtrình, bài báo tác giả đã thực hiện trong quá trình học nghiên cứu sinh (NCS), các tàiliệu thu được từ thực địa… Những tài liệu trên là cơ sở quan trọng cho tác giả thựchiện và hoàn thành luận án

Chương 2 Đặc điểm cảnh quan tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3 Đánh giá cảnh quan tỉnh Quảng Ngãi và một số đinh hướng sử dụng

Luận án được trình bày trong 148 trang, trong đó có 24 hình và 29 bảng Nộidung và kết quả nghiên cứu của từng chương mục được cụ thể hóa ở hình 2 và bảng 1

Trang 6

Hình 2: Sơ đồ cấu trúc, nội dung chi tiết, phương pháp thực hiện và kết quả luận án

Phương pháp Nội dung

- Bản đồ các hợp phần thành tạo CQ

- Bản đồ CQ tỉnh Quảng Ngãi

- Bản đồ CQ huyện Bình Sơn

Khảo sát thực địa không gian bằng GIS Bản đồ, phân tích

Tổng hợp,

phân tích hệ thống

Chương 2

- Phân cấp mức độ thuận lợi từng loại CQ cho phát triển các ngành kinh tế tỉnh Quảng Ngãi;

- Phân cấp mức độ thuận lợi từng dạng CQ cho cây cao su huyện Bình Sơn

- Các bản đồ ĐGCQ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch tỉnh Quảng Ngãi; cây cao su huyện Bình Sơn

- Bản đồ định hướng không gian ưu tiên phát triển các ngành kinh tế.

- Bản đồ định hướng phân

bố cây cao su.

- Kiến nghị SDHL tài nguyên và không gian ưu tiên phát triển các ngành sản xuất trên toàn tỉnh Quảng Ngãi

- Kiến nghị BVMT

- Kiến nghị phát triển, mở rộng diện tích cây cao su huyện Bình Sơn.

Chương 3

Bản đồ, phân tích không gian bằng GIS

- Ý kiến chuyên gia

- ĐGCQ

- Tổng hợp, phân tích hệ thống

- Khảo sát thực địa

- Tình hình NCCQ, ĐGCQ

- Những nội dung liên quan đến đề tài

- Phương pháp luận NCCQ, ĐGCQ vận dụng cho lãnh thổ nghiên cứu

Tổng hợp, phân tích hệ thống Chương 1

Trang 7

Bảng 1 Nội dung nghiên cứu và kết quả từng chương của luận án

Chương Vấn đề tồn tại

(cần nghiên cứu) Mục tiêu

Câu hỏi cần giải quyết (giả thuyết)

Tài liệu và phương pháp nghiên cứu Kết quả và thảo luận Kết luận

1

- Địa phương chưa có

nghiên cứu, đánh giá

Vận dụng NCCQ, ĐGCQ vào nghiên cứu ở Quảng Ngãi như thế nào để đưa ra được những định hướng sử dụng tổng hợp theo các đơn vị cảnh quan của tỉnh?

- Các tài liệu tham khảo về lí luận NCCQ, ĐGCQ trên thế giới và Việt Nam.

NCCQ và ĐGCQ đã giải quyết được những tồn tại cho tỉnh, là hướng nghiên cứu rất cần thiết cho Quảng Ngãi.

- Để hiểu vai trò từng nhân

tố thành tạo CQ, đặc điểm phân hóa CQ toàn tỉnh ở bản

đồ CQ tỉ lệ 1: 100.000; và phân hóa CQ cấp huyện ở bản đồ CQ tỉ lệ 1: 50.000

- Cảnh quan tự nhiên (CQTN) lãnh thổ phân hóa theo quy luật địa lí nào?

- Những nhân tố nào hình thành và tác động đến sự phân hóa CQ Quảng Ngãi?

- Đặc điểm CQ Quảng Ngãi thể hiện như thế nào?

- Cơ sở dữ liệu (bản đồ số), bản đồ giấy.

- CQ Quảng Ngãi thuộc 1 kiểu CQ, gồm 3 lớp, 7 phụ lớp, 16 hạng và có

139 loại Riêng huyện Bình Sơn có 48 loại và 107 dạng CQ.

CQ Quảng Ngãi phân hóa đa dạng, phức tạp, nhưng vẫn thể hiện quy luật chung và chi phối hình thức khai thác, sử dụng

- Quy luật biến đổi CQ và kiến nghị định hướng SDHL tài nguyên, BVMT lãnh thổ sản xuất.

- Làm thế nào để phát huy hết những lợi thế của ĐKTN cho phát triển KT-

XH ở Quảng Ngãi?

- Khả năng cho mở rộng diện tích cao su là bao nhiêu và phân bố ở đâu là hợp lí?

- Quy hoạch, kế hoạch, chỉ tiêu phát triển KT-

- Quảng Ngãi có thế mạnh phát triển nông nghiệp, tiềm năng phát triển lâm nghiệp, lợi thế cho phát triển du lịch biển và khả năng lớn cho phát triển và

mở rộng diện tích cây cao su

Định hướng đưa

ra phù hợp với tình hình thực tiễn

ở Quảng Ngãi.

Trang 8

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO

CÁC MỤC ĐÍCH ỨNG DỤNG THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu

1.1.1 Trên Thế giới

1.1.1.1 Khái quát các hướng nghiên cứu của Khoa học cảnh quan

Nghiên cứu cảnh quan (NCCQ) trên Thế giới được tiến hành từ rất sớm, nội dung nghiên cứu ngày càng đa dạng và chuyên sâu, kết quả nghiên cứu ngày càng phục vụ nhiều mục đích khác nhau của cuộc sống.

Hướng nghiên cứu ĐLTN tổng hợp trên thế giới có từ rất sớm, cùng với sự pháttriển của khoa học Địa lí, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, học thuyết CQ đượchình thành và cùng phát triển độc lập ở hai nước Nga và Đức

Khi nghiên cứu về thổ nhưỡng V.V.Ducotraev đã phát triển học thuyết về tínhtoàn vẹn, thống nhất của môi trường (MT) địa lí, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứumới - mối quan hệ, tác động tương hỗ và nhân quả giữa giới vô sinh và hữu sinh Họcthuyết của ông được coi là nền tảng ban đầu của KHCQ Xô Viết Sau V.V Docutraep

có nhiều công trình của các nhà địa lí kinh điển, ở Nga: L.C.Berge, G.N.Vưxotxkii ởĐức là: Z.Passarge; A.Hettner NCCQ và công tác phân vùng ĐLTN bề mặt Trái đấtcũng được các nhà địa lí Anh, Mỹ, Pháp quan tâm giải quyết

Cảnh quan học (CQH) ngày càng mở rộng phạm vi, đối tượng nghiên cứu Đến

giữa thế kỉ XX, học thuyết CQ tiến đến bước nghiên cứu phân hoá cấu trúc, chức

năng của CQ Nếu như cuối thế kỉ XIX là giai đoạn đặt nền móng hình thành khái

niệm CQ, thì những năm 20 – 30 của thế kỉ XX, học thuyết CQ phát triển và đạt được

nhiều điểm nhấn quan trọng Mặc dù chưa cung cấp được những tổng hợp lí luận lớn,

song quan điểm CQ đã bắt đầu thâm nhập sâu vào thực tế nghiên cứu lãnh thổ [45].

Khái niệm CQ được hoàn thiện bởi nhiều nhà bác học [5], [25], [47], [55]

Sau Thế chiến thứ II (1945), ở Nga (Liên Xô cũ), NCCQ thực sự phát triểnmạnh mẽ, lí thuyết NCCQ dần được hoàn thiện Đóng góp vào sự phát triển này làcông lao của các nhà địa lí Xô Viết: N.A.Xoltsev, A.A.Grigoriev, B.B.Polưnov,X.V.Kalexnik, N.A.Gvozdetxki, V.A.Nhicolaev, A.G.Ixatrenko

Giai đoạn này CQH đi vào nghiên cứu sự phân hoá bề mặt Trái đất và lớp vỏ địa

lí “CQ được xác định như một đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân

hoá địa đới và phi địa đới” (A.G Ixatxenko, 1953) [45] Mặc dù có nhiều quan niệm

Trang 9

về CQ, nhưng hầu hết các nhà địa lí Xô Viết đều coi “cảnh quan” là “tổng hợp thể tự

nhiên” ở các cấp khác nhau KHCQ chuyển từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu

định lượng với nhiều hướng tiếp cận mới: tiếp cận hệ thống, tiếp cận sinh thái học

[132], tiếp cận điều khiển học, tiếp cận đa ngành Những tác động kĩ thuật vào CQ tạo nên bước ngoặt lớn trong NCCQ, chuyển “từ nghiên cứu cấu trúc sang nghiên cứu

chức năng, động lực của CQ” [25] vào những năm 1960

Đến những năm 1970, nội dung NCCQ mở rộng, ngoài những nghiên cứuCQTN còn có nghiên cứu CQ văn hóa, CQ nhân sinh Đồng thời với việc mở rộngphạm vi nghiên cứu, CQH còn đi sâu nghiên cứu từng hợp phần CQ trong mối quan hệvới các khoa học liên ngành: Địa vật lí cảnh quan, Địa hóa CQ [68], sinh thái CQ[114], [120]…

Gần đây, sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã hỗ trợ đắc lực choNCCQ Nhờ sự hỗ trợ của các phần mềm tin học, hệ thống thông tin địa lí, viễn thám vàcác công cụ hiện đại khác (GPS, GPRS ), NCCQ có thêm “sức mạnh” trong việc đođạc, tính toán Đồng thời, tăng tính khách quan, tính chính xác cho kết quả nghiên cứu

và cho phép các nhà nghiên cứu có thể tiến hành trên quy mô lớn, trên những địa hìnhhiểm trở đạt hiệu quả cao [39], [116], [133]

Đối tượng nghiên cứu của CQ là các đơn vị CQ – gồm các thành phần tự nhiên(địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn…), mối quan hệ giữa các hợp phần thông quaquá trình chuyển hóa vật chất, năng lượng trong CQ và hoạt động khai thác con người

Do đó, có nhiều công trình nghiên cứu các nhân tố thành tạo CQ như những hợp phầntrong cấu trúc đứng Bên cạnh những nghiên cứu chung, NCCQ đi vào lĩnh vực

chuyên sâu: CQ địa mạo [110], [127], CQ sinh thái [111], [114], [120], CQ nông nghiệp [121], [123], CQ nông thôn [117], [123], CQ đô thị, CQ văn hoá [112] CQ du

lịch… tựu chung lại, CQ vẫn là một chủ đề rộng lớn và phức tạp

Tóm lại, NCCQ trên thế giới có những bước tiến vượt bậc, đạt được những

thành tựu to lớn Bước vào thế kỉ XXI, nhân loại đối mặt với hàng loạt vấn đề toàncầu, ứng dụng NCCQ giải quyết những vấn đề này được đẩy mạnh hơn bao giờ Sựphát triển mạnh mẽ theo nhiều hướng khác nhau thể hiện ý nghĩa thực tiễn và nhữngđóng góp to lớn của CQH, góp phần hoàn thiện phương pháp luận và phương phápnghiên cứu KHCQ

1.1.1.2 Phân tích các kết quả nghiên cứu liên quan đến nội dung của luận án

- Hệ thống phân vị cảnh quan

Trang 10

Việc nghiên cứu các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên không thể tiến hành trênphạm vi rộng lớn, mà phải chia thành các lãnh thổ nhỏ Để phục vụ cho công tác phânchia lãnh thổ, các nhà CQH đã đưa ra nhiều hệ thống phân vị khác nhau và được chiathành hai nhóm: các hệ thống phân vùng CQ và các hệ thống phân loại CQ.

Song song với hệ thống phân vùng của các tác giả: Xontxev (1958,1960); M.I.Mikhainov (1962); V.I Prokaev (1967) [69], [128], là các hệ thống phân loại CQ củacác tác giả A.G.Ixatrenco (1961), N.A.Gvozdexki (1961), V.A Nhicolaev (1966),P.W Mitchell và I.A.Howard (FAO- 1978)…[46], [69] Giữa các hệ thống phân loại

CQ có số lượng chỉ tiêu, thứ bậc các cấp phân loại không giống nhau Vì các tác giảdựa vào đặc điểm lãnh thổ nghiên cứu và tỉ lệ bản đồ được thành lập Ví dụ:

Hệ thống phân loại cảnh quan của A.G.Ixatrenco (1961, 1991), gồm 8 bậc:

Nhóm kiểu kiểu phụ kiểu lớp phụ lớp loại phụ loại biến chủng (thể loại) [45], [59], [69].

Hệ thống phân loại cảnh quan của N.A.Gvozdexki (1961), gồm 5 bậc: lớp 

kiểu phụ kiểu nhóm loại [21], [59], [69].

Hệ thống phân loại cảnh quan của V.A Nhicolaev (1966), gồm 12 cấp: Thống

hệ thống phân loại nào đó vào nghiên cứu và phân chia cho các lãnh thổ khác, cần xemxét tính đặc thù lãnh thổ đó Trong các hệ thống phân loại đó có một số cấp phân loạiđược các tác giả thống nhất sử dụng: hệ CQ, lớp CQ, kiểu CQ và loại CQ

Tuy nhiên, ở các hệ thống phân loại, thứ tự các cấp bậc không đồng nhất Đa số

các sơ đồ đặt cấp lớp trên cấp kiểu, nhưng có nhiều sơ đồ đặt cấp kiểu trên cấp lớp,

phụ thuộc vào chỉ tiêu chuẩn đoán từng cấp Trong hệ thống phân loại củaA.G.Ixatrenco (1961, 1991), cấp kiểu được xác định bởi điều kiện nhiệt - ẩm, cấp lớpđược xác định bởi yếu tố sơn văn tác động đến cấu trúc của CQ Nên ông đặt cấp kiểutrên cấp lớp

Trang 11

Bảng 1.1 So sánh các bậc đơn vị và dấu hiệu phân loại cảnh quan

Tác giả

Đơn vị

ph.loại CQ

A.G.Ixatrenco (1961, 1991) N.A.Gvozdexki (1961)

V.A Nhicolaev (*)

tính địa đới Nền tảng nhiệt, ẩm Nền bức xạ Nền bức xạ

3 Phụ hệ Hoàn lưu khí quyển(tương tác với địa hình) Chế độ hoàn lưu giómùa Hoàn lưu khí quyển (chếđộ gió mùa)

4 Lớp (*) Yếu tố kiến tạo sơn văn tác động

đến cấu trúc đới của CQ Dấu hiệu địa chất, địa mạo Cấu trúc hình thái đạiđịa hình (núi,đồng bằng) Nhóm kiểu địa hình Đại địa hình (bóc mòn,tích tụ) Đặc trưng hình thái đạiđịa hình

5 Phụ lớp Sự phân hóa của dãy vòng đaitheo chiều cao Phân hóa theo tầngtrong lớp Nhóm kiểu địa hìnhvà kiểu địa hình Sự phân tầng bên tronglớp Sự phân tầng theo đaicao trong lớp

6 Nhóm những nét tương tự địa đới củacác CQ trong phạm vi địa ô và

lục địa

Những đặc điểm địa chất địa mạo

-Kiểu chế độ thủy địa hóa (theo mức độ thoát nước)

Nhóm kiểu địa hình (kiểu địa hình) và nhóm kiểu khí hậu (Giống V.A.Nhicolaev)

7 Kiểu (*) Điều kiện nhiệt ẩm (của đới) Dấu hiệu mang tính địa đới(chỉ số khô hạn) Sinh khí hậu thổnhưỡng Nhóm kiểu khí hậuvà đại tổ hợp đất Đặc điểm sinh - khí hậu Đặc điểm sinh - khí hậu

8 Phụ kiểu (Chủng) Nét khác biệt của địa đới thứcấp và chuyển tiếp trong cấu

trúc.

Phụ kiểu theo vĩ độ; các vòng đai theo độ cao; tính địa khu theo kinh tuyến

Phân hóa thứ cấp Đồng nhất tất cả cácyếu tố vô cơ Đặc điểm sinh khí hậucực đoan Đặc điểm sinh khí hậucực đoan

9 Hạng Kiểu địa hình phát sinh Kiểu địa hình phátsinh, nền nham Kiểu địa hình phát sinh,động lực hiện đại1

1

1 Loại CQ (*)

Cùng nguồn gốc, kiểu địa hình,

đá mẹ và cấu trúc hình thái ưu thế

Đồng nhất cao về các ĐKTN và cấu trúc ngang (tổ hợp các vi CQ)

Sự giống nhau của các dạng ưu thế

Đồng nhất toàn bộ các ĐKTN

Mối quan hệ tương hỗ giữa nhóm quần xã thực vật và loại đất.

Mối quan hệ tương hỗ giữa nhóm quần xã thực vật và loại đất.

và cải tạo

Mối quan hệ giữa quần

xã thực vật và tổ hợp đất.

(*): Phổ biến

Trang 12

Trong hệ thống phân loại của V.A Nhicolaev (1966), cấp kiểu được xác địnhbởi yếu tố sinh khí hậu thổ nhưỡng, còn cấp lớp được chuẩn đoán theo cấu trúc hìnhthái đại địa hình lãnh thổ, và ông đặt cấp lớp trên cấp kiểu Vậy, khi xây dựng hệthống phân loại cho lãnh thổ nghiên cứu, ngoài việc tham khảo các công trình cótrước, còn phải căn cứ và đặc điểm phân hóa ĐKTN của lãnh thổ, nhất là sự phânhóa của các yếu tố thành tạo CQ.

- Các yếu tố thành tạo cảnh quan

CQ là một thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên Tham gia thành tạo CQ là các hợpphần tự nhiên (nham thạch, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật, thổ nhưỡng…) vàcác quá trình tự nhiên (quá trình địa mạo, quá trình thủy văn, quá trình sinh thái,động lực khí quyển…) Trong các công trình nghiên cứu về CQ, các tác giả đềuquan tâm phân tích đặc điểm các yếu tố thành tạo CQ và mối quan hệ giữa chúng

Vì sự phân hóa của CQ vừa phụ thuộc vào sự phân hóa của các yếu tố thành tạo

CQ, vừa phụ thuộc và mối quan hệ và tương tác giữa các hợp phần với nhau Nộidung này được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu Có những công trìnhphân tích đặc điểm yếu tố thành tạo như những hợp phân tạo nên cấu trúc đứng của

CQ trên toàn lãnh thổ (thể hiện qua lát cắt CQ), có những công trình đi sâu phântích vai trò của từng hợp phần và mối quan hệ tổng hợp giữa chúng với nhau

NCCQ còn phải xem xét đến sự vận động, biến đổi và phát triển của từnghợp phần Đây là cơ sở để “điều khiển” CQTN phục vụ lợi ích của con người Do

đó, khi xem xét yếu tố thành tạo CQ, các công trình nghiên cứu đều phân tích tầmquan trọng của các quá trình tự nhiên trong CQ Việc nghiên cứu động lực các quátrình tự nhiên giúp KHCQ mở rộng phạm vi và lĩnh vực ứng dụng Ví dụ, CQ sinhthái nghiên cứu các quá trình sinh thái và sự can thiệp của con người vào tự nhiên,cho phép CQH đưa ra các biện pháp quản lí rừng, bảo tồn tự nhiên và đa dạng sinhhọc [115], hay quy hoạch không gian đô thị, kiến trúc CQ… Hướng nghiên cứu nàyphổ biến rộng rãi từ Châu Âu, Châu Á, Bắc Mỹ, châu Phi đến Australia

- Nghiên cứu về cấu trúc, chức năng và động lực cảnh quan

Khai thác TNTN phục vụ sản xuất cần phải hiểu rõ quy luật của tự nhiên,quá trình vận động và biến đổi của tự nhiên, nên CQH không thể dừng lại ở việcnghiên cứu phân hóa các khu vực ĐLTN, mà phải đi vào nghiên cứu cấu trúc, đồngthời với nghiên cứu chức chức năng và động lực CQ [30], [129]

Trang 13

Quan niệm về cấu trúc CQ hiện nay chưa thống nhất, có nhiều định nghĩa vềcấu trúc CQ Nhìn chung, các tác giả đề cập đến cấu trúc không gian (gồm cấu trúcđứng và cấu trúc ngang) và cấu trúc thời gian (chu kì mùa, chu kì ngày đêm ) Việcnghiên cứu cấu trúc CQ được rất nhiều tác giả quan tâm như: X.V Kalexnik (1978),Bastian và Steinhardt (2002) Nghiên cứu chức năng cũng được đề cập đến trongnhiều công trình: A.G Ixatsenko (1961), Forman (1981), De Groot (1992)… Cũngnhư nghiên cứu cấu trúc, nghiên cứu chức năng CQ có nhiều quan niệm khác nhau.

Theo A.G Ixatsenko (1961), chức năng CQ là “tổng hợp các quá trình trao đổi,

biến đổi vật chất và năng lượng trong CQ”, còn Forman (1981) lại xác định “là dòng năng lượng, dinh dưỡng khoáng và sinh vật giữa các yếu tố CQ” Bên cạnh

đó, chức năng của CQ được hiểu là lợi ích mà con người thu được từ các thuộc tính

và quá trình của CQ như Niemann (1977), De Groot (1992)… Do đó, có nhiều hệthống phân loại chức năng CQ Chức năng CQ gồm chức năng tự nhiên, chức năngKT-XH, chức năng BVMT Thực tế thì tiềm năng và khả năng cung cấp vật chất

và phi vật chất của CQ đáp ứng nhu cầu xã hội là rất lớn, rất đa dạng Vì vậy, trongquy hoạch CQ còn phổ biến thuật ngữ CQ đa chức năng (nhất là ở châu Âu) [119]

Từ những năm 1980 nghiên cứu động lực CQ rất được chú trọng, nhất làtrong nghiên cứu sinh thái CQ (nghiên cứu động lực CQ trong nghiên cứu sinh thái

CQ) Theo Mc Garigal (2002) động lực CQ là “cơ chế biến đổi cấu trúc và các quá

trình của hệ sinh thái trong CQ theo thời gian” Cho đến nay, rất ít các công trình

nghiên cứu riêng biệt về động lực CQ [125]

- Phương pháp đánh giá cảnh quan

Ngoài việc đánh giá các quá trình tự nhiên, các nhà CQH còn đánh giá giá

trị kinh tế của tài nguyên, đánh giá hiệu quả vốn đầu tư như mô hình đánh giá của

B.M Rabinovich (1997) [132] Các nhà NCCQ đặc biệt chú trọng xu hướng phát

triển của CQ hiện đại dưới tác động kĩ thuật của con người [130], [131] Nhiều

công trình đánh giá mức độ tác động của con người đến CQTN, đánh giá ĐKTNphục vụ nhu cầu phát triển của con người: mô hình đánh giá của L.I Mukhina(1970) [131]; của A.M Marinhich (1970); Đánh giá kinh tế TNTN của A.A Minx(1980) [130]; mô hình đánh giá thiết kế lãnh thổ Cộng hòa Ucraina của Sisenko P.G(1983) và nhiều công trình khác [25]

Có nhiều cách đánh giá CQ Nhìn chung, các công trình thường đánh giámức độ thích hợp (hay thuận lợi) của CQ (hay ĐKTN) đối với hoạt động sản xuất

Trang 14

Phương pháp đánh giá bằng thang điểm tổng hợp Cách tính điểm phổ biến là tínhđiểm theo công thức trung bình cộng (hoặc tổng điểm của các yếu tố thành phần) vàtrung bình nhân (hoặc tính tích điểm của các yếu tố thành phần) Mỗi cách tính đều

có ưu nhược điểm nhất định

Cách tính điểm theo công thức trung bình nhân có lợi thế là cho kết quả đánhgiá có sự phân hóa rõ ràng giữa các CQ; giá trị trung bình nhân ổn định hơn trungbình cộng Tuy nhiên, tích các điểm thành phần cho ra con số quá lớn, hoặc số lẻ(tính trung bình nhân) rất khó tính Hơn nữa, nếu CQ chứa đựng yếu tố giới hạn, cómột điểm thành phần bằng 0, thì tích các điểm thành phần của CQ đó cũng bằng 0,

CQ đó bị xếp vào mức độ không thích hợp, mặc dù các yếu tố khác ở mức độ rấtthích hợp Vì vậy, không thể tính đến phương án cải tạo, khắc phục bất lợi của mộthoặc một số yếu tố trong CQ đó như khi sử dụng công thức tính trung bình cộng

Để đơn giản cho quá trình đánh giá, trước khi tiến hành, người đánh giá sẽxác định yếu tố giới hạn của từng CQ đối với loại hình sử dụng và xếp vào mứckhông thích hợp, sau đó đánh giá cho các CQ còn lại Mỗi đơn vị CQ (hay địa tổngthể) không phải là thuận lợi hoặc bất lợi một cách chung chung, mà chúng có mức

độ khác nhau đối với một loại hình cụ thể Vì vậy, khi ĐGCQ cần chỉ ra giá trị củachúng cho loại hình sản xuất nào Vận dụng công thức trung bình cộng hay trungbình nhân còn tùy thuộc vào đối tượng đánh giá và chủ quan của người đánh giá

- Các nghiên cứu ứng dụng của cảnh quan

Kết quả NCCQ và ĐGCQ ngày càng được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực: sảnxuất nông, lâm, ngư nghiệp, du lịch; kiến trúc đô thị, sử dụng đất, quản lí và SDHLtài nguyên, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn động vật hoang dã, [118]… Tùy thuộcđặc thù từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ, trên thế giới NCCQ và ĐGCQ còn được

ứng dụng trong các lĩnh vực: phân phối lại vùng sinh thái, lập bản đồ biến động,

chuyển đổi mục đích sử dụng đất (ở Bắc Mỹ) [118], [124]; nghiên cứu sự tiến hóa của CQ và sinh vật rừng mưa nhiệt đới (ở Nam Mỹ), giảm thiểu suy thoái tài nguyên, biến đổi khí hậu và tài nguyên nước, sự mở rộng của CQ hoang mạc (ở châu Phi)

[122], bảo tồn di truyền học, quản lí tài nguyên, khai thác đồng cỏ chăn nuôi, phục

hồi lợi ích cộng đồng, bảo tồn di sản văn hoá công nghiệp… (ở Australia) [118],

[122], bảo tồn CQ văn hóa, bảo tồn CQ nông thôn truyền thống (ở Nhật Bản và châu Á) [112], [117], quy hoạch nông nghiệp, thay đổi mùa vụ và hoạt động sản xuất…

[122], [126] và các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, nghệ thuật, triết học, hay các

Trang 15

chương trình nghị sự quan trọng khác [113], hướng đến PTBV của CQ đa chức năng

[119] Do nhu cầu phát triển mạnh mẽ của xã hội và đô thị hóa, CQH hỗ trợ việcthiết kế CQ và quy hoạch đô thị Vì vậy, khái niệm CQ là “phong cảnh” ngày càng

có ý nghĩa thiết thực đối với lĩnh vực ứng dụng CQ đô thị và kiến trúc CQ

1.1.2 Ở Việt Nam

1.1.2.1 Khái quát các hướng nghiên cứu của cảnh quan học nước ta

Nghiên cứu ĐLTN tổng hợp ở nước ta xuất hiện khá sớm, nhưng CQH pháttriển muộn hơn Lí luận CQH nước ta về cơ bản theo trường phái Nga (Xô Viết cũ).Các nhà CQH Việt Nam đã vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn Việt Nam Mỗigiai đoạn phát triển, các công trình có tên gọi khác nhau: phân vùng ĐLTN, phânvùng CQ, CQ địa lí, đặc điểm CQ, CQ sinh thái, nghiên cứu đa dạng CQ, ĐGCQ,phân tích CQ, phân vùng CQ, nghiên cứu, đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN…

Thời kì Pháp thuộc (trước năm 1954), các công trình viết về CQ của các tácgiả trong nước còn hạn chế Chủ yếu là những công trình nghiên cứu trên quy môtoàn quốc và bán đảo Đông Dương thuộc Pháp nhằm phục vụ mục tiêu quân sự vàkhai thác tài nguyên của Pháp ở các nước thuộc địa (trong đó có Việt Nam)

Thời kì 1954 – 1975, với sự hỗ trợ của các nhà địa lí Xô Viết, nhiều công

trình phân vùng ĐLTN tổng hợp được ra đời Đầu tiên là “Việt Nam”của T.N Scheglova (1957) Sau đó là “Thiên nhiên miền Bắc Việt Nam” của V.M Fridlan

(1961) [21] Tiếp theo công trình của Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập (năm 1963)

Tổ phân vùng ĐLTN thuộc Uỷ ban khoa học Nhà Nước cũng tiến hành phân vùngĐLTN lãnh thổ Việt Nam (năm 1970) Các công trình trên đã đưa ra những hệ thốngphân vùng ĐLTN khác nhau [26], [88]

Khi đất nước thống nhất, NCCQ theo hướng phân vùng vẫn được tiếp tục

Mang tính chất lí thuyết CQ ứng dụng có “Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam” (1976) của Vũ Tự Lập [55] Cùng nội dung, Vũ Tự Lập còn có công trình “Phương

pháp luận và các phương pháp nghiên cứu, đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch lãnh thổ” (1982) Theo hướng này phải kể đến “Thiên nhiên Việt Nam” (1977) [76] của Lê Bá Thảo Ông phân tích đặc trưng, tiềm năng tự nhiên

quan trọng nhất của mỗi vùng Ông nhấn mạnh rằng “Đi đôi với việc khai thác thế

mạnh, một vấn đề khác cũng có tầm quan trọng chiến lược đối với đất nước ta là vấn đề bảo vệ các tài nguyên tự nhiên và cải thiện MT sống” Cùng với phân tích

Trang 16

ĐKTN từng vùng, ông đưa ra định hướng SDHL tài nguyên Quan điểm phân vùnglãnh thổ kinh tế trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp ĐKTN, TNTN tiếp tục được tác giả

đề cập chi tiết trong công trình “Việt Nam – lãnh thổ và các vùng địa lí”(2000) [77].

Đóng góp to lớn vào lĩnh vực này phải kể đến các công trình của tập thể tácgiả Viện Địa lí (Viện KH & CN Việt Nam), các nhà NCCQ của khoa Địa lí trườngĐại học KHTN (ĐH Quốc gia Hà Nội) Song song với hai trung tâm nghiên cứu lớntrên, còn có khoa Địa lí - Đại học Sư phạm Hà Nội và khoa Địa lí - Đại học Huế

Thập niên 80 của thế kỉ XX là giai đoạn CQH nước ta có nhiều bước tiến

mới Cùng với hướng NCCQ tổng hợp là hướng tiếp cận liên ngành Nổi bật như hướng tiếp cận sinh thái, phải kể đến điều tra tổng hợp lãnh thổ phục vụ lập vùng

chuyên canh cây cà phê Đăklăk (1985) dưới sự chủ trì của nhà địa lí học Phạm

Quang Anh, hay “Tiếp cận sinh thái trong NCCQ nhiệt đới, gió mùa Việt Nam” của Phạm Hoàng Hải (1992) [36], “NCCQ sinh thái nhiệt đới gió mùa Việt Nam cho

mục đích sử dụng hợp lí lãnh thổ và BVMT” (1993) của Nguyễn Thượng Hùng và

các cán bộ Viện Địa lí - Viện KHCN Việt Nam thực hiện [42]

Theo hướng nghiên cứu cơ bản có “Cơ sở CQ học của việc sử dụng hợp lí

TNTN, BVMT lãnh thổ Việt Nam” (1997) của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng

Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh [25], [129] Cùng với ĐGCQ là đánh giá tổng hợp

ĐKTN và phân hạng thích nghi sinh thái cho một loại hình sử dụng vùng đồi núi tại

các địa phương: Nguyễn Văn Vinh (1996) [105], Hà Văn Hành (2002) [33]; Lê Năm,(2004) [65] Không chỉ dừng lại ở đánh giá mức độ thích hợp (thuận lợi) của ĐKTNđối với hoạt động sản xuất, mà đi vào đánh giá kinh tế sinh thái CQ Tiêu biểu như

“Đánh giá CQ theo hướng tiếp cận sinh thái” của Nguyễn Cao Huần (2005) [38]

Các nhà CQH nước ta đã gắn kết giữa NCCQ cơ bản và CQ ứng dụng, NCCQ

và ĐGCQ, đánh giá thích nghi sinh thái và đánh giá kinh tế sinh thái (kế thừa quan

điểm đánh giá đất đai của FAO, 1976) Nhiều nghiên cứu chi tiết trên lãnh thổ nhỏnhư vùng đệm các khu bảo tồn, đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện [32],[39], đếnphạm vi lớn hơn như dải ven biển [27], [43], vùng gò đồi [65], [105], [106] [107]

Nghiên cứu ĐKTN phục vụ phát triển tổng hợp KT-XH và SDHL lãnh thổdải ven biển được tiến hành từ lâu Tiêu biểu như công trình của: Nguyễn ThượngHùng (1995); Phạm Hoàng Hải (1999; 2003, 2010); Phạm Thế Vĩnh (2004); ĐỗHoài Nam và nnk (2005) [64]; Phạm Quang Tuấn, Trần Văn Trường (2006); Lại

Trang 17

Vĩnh Cẩm (2008), [10] Vùng ven bờ, đảo, quần đảo ngày càng có nhiều công trình

nghiên cứu ứng dụng vào phát triển du lịch trên biển đảo, nghề cá, tiềm năng khaithác thuỷ sản Đặc biệt, Nhà nước có một số chương trình nghiên cứu biển đảo(1999, 2004, 2010) với sự tham gia của các nhà địa lí học và các nhà CQH: [1],[24], [27], [34], [43], [64], [107]

1.1.2.2 Phân tích các kết quả nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án

- Hệ thống phân vị cảnh quan

Cũng như các công trình nghiên cứu trên thế giới, các nhà CQH nước ta đãxây dựng hệ thống phân loại CQ để thành lập bản đồ CQ phục vụ nghiên cứu và đánh

giá CQ Điển hình như hệ thống phân vị của Vũ Tự Lập (1976) trong “Cảnh quan địa

lí miền Bắc Việt Nam”(1976) [55] Gồm 16 cấp, cấp lớn nhất là “địa lí quyển”, cấp

nhỏ nhất là “điểm địa lí” Mỗi đơn vị đều có chỉ tiêu xác định, rất thuận lợi trongphân vùng ở mọi tỉ lệ trên mọi quy mô lãnh thổ Tuy nhiên, các cấp phân vị được xâydựng theo quan điểm đơn vị CQ là cá thể, không lặp lại trong không gian Hệ thốngnày có những đơn vị bắt buộc với chỉ tiêu chính xác để làm chỗ dựa cho cấp phân vịtiếp theo Vì thế, không thể áp dụng cho bản đồ phân kiểu CQ, không thể nhóm hợpcác đơn vị CQ cùng kiểu loại (với cùng biện pháp khai thác sử dụng) Đồng thời, Vũ

Tự Lập cũng đưa ra hệ thống phân loại gồm 8 cấp: Hệ CQ  lớp CQ phụ lớp CQ

nhóm kiểu phụ kiểu loại phụ loại CQ

Hệ thống phân loại của Phạm Quang Anh và tập thể tác giả phòng ĐLTNtổng hợp (Viện KHCN Việt Nam) áp dụng xây dựng bản đồ CQ Việt Nam, tỉ lệ 1:2.000.000 (1983) gồm 7 cấp, dựa trên hệ thống phân loại của V.A.Nhicolaev

(1979): Khối CQ  hệ CQ phụ hệ CQ lớp CQ phụ lớp CQ nhóm CQ

kiểu CQ Cấp kiểu CQ là cấp cơ sở [4] Hệ thống này có ý nghĩa ứng dụng thực

tiễn to lớn Định hướng khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên ở những lãnh thổcùng kiểu là gần giống nhau, mặc dù chúng phân bố xa nhau

Cũng dựa trên hệ thống phân loại của V.A Nhicolaev (1979) và quy luật phânhóa tự nhiên lãnh thổ nghiên cứu, Trương Quang Hải (1991) đã xây dựng hệ thống

phân loại CQ gồm 5 cấp: Hệ CQ  lớp CQ nhóm CQ kiểu CQ loại CQ áp

dụng cho xây dựng bản đồ CQ miền Nam Việt Nam, tỉ lệ 1: 1.000.000

Quan niệm CQ là đơn vị mang tính kiểu loại được các nhà khoa học Viện

Địa lí (Viện KHCN Việt Nam) và Khoa Địa lí (ĐH Quốc gia Hà Nội) áp dụng để

xây dựng bản đồ CQ ở các tỉ lệ [59], các công trình được tiến hành trên quy mô lớn

Trang 18

[25], [49] cả nước hoặc cấp vùng: chương trình Tây Bắc, chương trình Nam Bộ,

chương trình Tây Nguyên đều có sự lồng ghép giữa phân loại CQ, thành lập bản

đồ CQ và ĐGCQ Khi “Nghiên cứu xây dựng bản đồ CQ các tỉ lệ trên lãnh thổ Việt

Nam” (1993) Nguyễn Thành Long và các tác giả Viện Địa lí đưa ra hệ thống phân

loại áp dụng cho xây dựng bản đồ CQ Việt Nam ở nhiều tỉ lệ Ứng với các mục đíchnghiên cứu và phạm vi lãnh thổ, số lượng các cấp phân vị là khác nhau [59]

Cũng bàn về hệ thống phân vị, chỉ tiêu phân loại, Phạm Hoàng Hải, NguyễnThượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997) xây dựng hệ thống phân loại CQ áp

dụng cho lãnh thổ cả nước ở tỉ lệ bản đồ 1:1.000.000 gồm 7 cấp: Hệ CQ  phụ hệ

CQ lớp CQ phụ lớp CQ kiểu CQ phụ kiểu CQ loại (nhóm loại) CQ

[25] Song song với xây dựng hệ thống phân loại CQTN, việc xây dựng hệ thống

phân loại CQ nhân sinh Đồng thời, có nhiều nghiên cứu về tác động của con người

đối với CQ như Nguyễn Ngọc Khánh (1992); Phạm Quang Anh, (1995) [4], hay

những công trình NCCQ nhân sinh của Nguyễn Cao Huần và Trần Anh Tuấn (2000);

Nguyễn Đăng Hội (2003)

Cũng như các hệ thống phân loại của các tác giả trên thế giới, các hệ thốngcủa các tác giả trong nước cũng có số lượng cấp phân loại không giống nhau; thứ tựcác cấp phân loại không đồng nhất Lãnh thổ càng nhỏ, sự phân loại càng chi tiết

- Các yếu tố thành tạo cảnh quan, cấu trúc và động lực cảnh quan

Một trong những nội dung cơ bản của NCCQ là nghiên cứu các yếu tố thành

tạo CQ Đây là cơ sở để phân tích cấu trúc CQ, xác định mức độ phức tạp của các

hợp phần thành tạo CQ, xác định chức năng CQ, các quá trình nội tại trong CQ vàđộng lực biến đổi của chúng Nhiều công trình phân tích các yếu tố thành tạo CQnhư những hợp phần tạo nên cấu trúc đứng của CQ [32], [78], các công trình kháclại cho rằng đặc điểm ĐLTN và hoạt động phát triển KT-XH trên lãnh thổ nghiêncứu là những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phân hóa CQ [22], [24], [27],

[42] Phân tích cấu trúc CQ [32], [70], [78], [94], đã được quan tâm, nhưng nghiên

cứu chức năng, động lực CQ chưa nhiều, hoặc chỉ chiếm dung lượng nhỏ trong các

đề tài NCCQ [78] Việc tiếp cận tổng hợp, nghiên cứu đồng thời cấu trúc, chứcnăng, động lực biến đổi CQ phục vụ các mục đích thực tiễn đang còn bỏ ngỏ và cầnđược tiếp tục bổ sung thêm!

- Phương pháp đánh giá cảnh quan

Trang 19

Đa số các công trình ĐGCQ tiến hành đánh giá từng hợp phần, sau đó phântích tổng hợp; nhiều công trình lại tiếp cận theo cách phân tích tổng hợp, phân tích

đa biến, tổng hợp các đơn vị CQ nhằm đánh giá mức độ thích hợp của chúng với

loại hình sản xuất Ở mức cao hơn là đánh giá kinh tế sinh thái, đánh giá hiệu quả

vốn đầu tư, đánh giá tác động môi trường Các mô hình đánh giá như: Mô hình phát triển kinh tế - sinh thái (Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải, 1999) [83]; Mô

hình “Đánh giá cảnh quan theo hướng tiếp cận kinh tế sinh thái (Nguyễn Cao

Huần, 2001, 2005) [38], mô hình đánh giá đất đai tự động

Các bước tiến hành ĐGCQ của các công trình khá thống nhất Tuy nhiên, cónhiều cách tính điểm đánh giá khác nhau Có tác giả sử dụng công thức trung bìnhcộng, hoặc tổng các điểm thành phần Nhiều tác giả lại sử dụng công thức trungbình nhân (hay tích các điểm thành phần), phụ thuộc đặc trưng lãnh thổ, đối tượngđánh giá và tính đến khả năng cải tạo các đơn vị CQ

- Các nghiên cứu ứng dụng của cảnh quan

Kết quả NCCQ, ĐGCQ được ứng dụng rộng rãi vào nhiều lĩnh vực: phát

triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và du lịch; cụ thể như: phát triển cây

công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, trồng rừng, bảo tồn tại các vườn quốc gia, cácvùng đệm bảo vệ đa dạng sinh học, phát triển thủy điện, công nghiệp, SDHL tàinguyên, tái định cư NCCQ ngày càng được nhiều người quan tâm và thực hiện

Kết quả ĐGCQ, đánh giá tổng hợp áp dụng ở nhiều địa phương, trên quy mô

lãnh thổ khác nhau: vùng núi đá vôi tỉnh Ninh Bình (Trương Quang Hải và nnk, 2010) [31]; huyện miền núi: Hà Văn Hành (2002) [33], Nguyễn An Thịnh (2006) [78]; vùng đồi, trung du: Phạm Quang Tuấn và nnk (2000) [94], Phạm Hoàng Hải, Phạm Thị Trầm (2003) [28]; Lê Năm (2004) [65]; vùng cao nguyên đất đỏ bazan:

Nguyễn Xuân Độ (2003)

Trong xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu, việc nghiên cứu ĐLTN và NCCQ ởduyên hải Nam Trung bộ (trong đó có Quảng Ngãi) góp phần đắc lực vào phòngchống, hạn chế tác hại hạn hán, hoang mạc hóa: Nguyễn Trọng Hiệu và nnk (2000)[34], [35], Nguyễn Đình Kỳ (2010) [54], Trần Thục và nnk (2012) [84], hoặc ngănngừa thiên tai, lũ lụt ở một số lưu vực sông [6], [18], [85],

Các mô hình ứng dụng cụ thể được triển khai như: Mô hình phát triển kinh tế

-sinh thái phục vụ phát triển nông thôn bền vững của Đặng Trung Thuận, Trương

Quang Hải (1999) [83] có quy mô hộ gia đình, làng – xã ở một số địa điểm thuộc các

Trang 20

vùng sinh thái điển hình: cửa sông Bạch Đằng – huyện Hưng Yên, Quảng Ninh (Dảiven biển Đông Bắc), vùng trũng Hoa Lư, Ninh Bình (Đồng bằng sông Hồng), thượngnguồn sông Trà Khúc - Quảng Ngãi (Duyên hải Nam Trung bộ), Lạc Dương - Lâm

Đồng (Tây Nguyên); Mô hình “Đánh giá cảnh quan (theo hướng tiếp cận kinh tế

sinh thái) [38], của Nguyễn Cao Huần (2001, 2005) đã ứng dụng ở dải cồn cát Mỹ

Thắng (Phù Mỹ, Bình Định), Cư Jut (Đăklăk); hay các mô hình kinh tế sinh thái

nông hộ phục vụ nhiều mục đích như: tái định cư thủy điện xã Phiêng Khoài (Yên

Châu, Sơn La) của Trần Văn Tuấn (2008); phát triển nông phẩm hàng hóa xã Hải

An huyện Hải Lăng (Quảng Trị) của Vũ Thị Hoa và nnk (2010); phát triển du lịchsinh thái dựa vào cộng đồng (ở Sapa, Lào Cai) của Hoàng Thị Thu Hương, NguyễnThị Hải và nnk (2010); bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học dựa vào cộngđồng tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) của Lê Trần Chấn,Nguyễn Hữu Tứ và nnk (2008); trên dải cát ven biển tỉnh Quảng Trị (ví dụ xã Hải

An, Huyện Hải Lạng) của Nguyễn Cao Huần, Trần Anh Tuấn và nnk (2008); trêncác tiểu vùng sinh thái CQ đồi núi Quảng Bình của Hà Văn Hành và nnk (2010)

ĐGCQ còn được ứng dụng phục vụ phát triển công nghiệp “Nghiên cứu

SDHL lãnh thổ tỉnh Sơn La khi có công trình thuỷ điện trên cơ sở phân tích cảnh quan của Lê Mỹ Phong (2002) [70] là một trong số công trình đầu tiên ở nước ta về

lĩnh vực này Trên cơ sở phân tích cấu trúc CQ, đối chiếu bản đồ CQ hiện tại với bản

đồ CQ trước khi có công trình thủy điện Sơn La, tác giả phân tích vai trò của côngtrình thủy điện như là động lực làm biến đổi CQ Sau khi phân vùng và ĐGCQ, tácgiả đề xuất định hướng khai thác, SDHL lãnh thổ Sơn La theo các vùng chức năng

Tóm lại, nội dung NCCQ, ĐGCQ thể hiện ở nhiều mức độ Các công trìnhnghiên cứu đều phân tích yếu tố thành tạo CQ, xây dựng hệ thống phân loại và bản

đồ CQ, phân tích cấu trúc, chức năng và động lực CQ Kết quả NCCQ là căn cứ đểĐGCQ phục vụ đa mục tiêu ĐGCQ ngày càng được ứng dụng rộng rãi Mục đíchcủa các công trình đều hướng đến việc khai thác và SDHL tài nguyên hay bố trí hợp

lí không gian lãnh thổ phục vụ phát triển KT-XH, phục hồi bảo tồn tự nhiên, MT sinhthái, đảm bảo an sinh xã hội Đây là cơ sở khoa học cho luận án xây dựng lí luậnNCCQ và ĐGCQ áp dụng cho lãnh thổ nghiên cứu

1.1.3 Ở Quảng Ngãi

Nghiên cứu ĐLTN và CQ các tỉnh Duyên hải miền Trung trong đó có QuảngNgãi được thực hiện từ lâu, nhưng NCCQ ở Quảng Ngãi còn hạn chế Trong số các

Trang 21

công trình nghiên cứu tổng hợp thì “Địa chí Quảng Ngãi” [97], thể hiện khá đầy đủ

các đặc điểm ĐLTN, KT-XH; tái hiện lịch sử hình thành vùng đất Quảng Ngãi xưa

và nay Tuy nhiên, những nội dung chuyên sâu dừng lại ở mức độ nhất định Nhìnchung, nghiên cứu ĐKTN và KT- XH ở Quảng Ngãi tập trung theo ba hướng sau:

- Nhóm các công trình nghiên cứu từng hợp phần tự nhiên

Nghiên cứu từng hợp phần riêng lẻ ở Quảng Ngãi hiện có khá nhiều công

trình và đề tài được triển khai Về địa chất, địa mạo và địa hình: là những nghiên cứu của Cao Đình Triểu và nnk (2002), Lê Đức An và nnk (2006), Nguyễn Văn Thuấn và nnk (2006), Thân Đức Duyệt, Nguyễn Văn Trang… Các công trình như [2], [7], [20], [48], [81], [89].

Về Khí hậu – thủy văn: là các công trình của Nguyễn Văn Nhượng (1982);

Trương Đình Hùng và nnk, 2002 [41]; Nguyễn Khanh Vân và nnk (2000, 2007)[100], [103]; Mai Trọng Thông và nnk (2003); Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn CôngHiếu (2006), Nguyễn Trọng Hiệu, Nguyễn Lập Dân, (2010) [35] Nghiên cứu đặc

điểm thuỷ văn Quảng Ngãi thường được thực hiện cùng với khí hậu, có trong các

công trình của Trương Đình Hùng (2002) [41], Đặng Văn Bào, Vũ Văn Phái (2000)[8] Những nghiên cứu về thuỷ văn miền Trung, trong đó có Quảng Ngãi, thườnggắn liền với phòng tránh thiên tai: Nguyễn Kim Ngọc và nnk (1999), [66], NguyễnLập Dân (2005) [18], Lê Huy Bá và nnk (2008) [6], Trần Thục và nnk (2012) [84]

Về thổ nhưỡng: Quảng Ngãi là một trong những tỉnh đầu tiên thực hiện “Dự

án điều tra xây dựng bản đồ đất theo hệ thống phân loại FAO - UNESCO” (1999)

[92] Đặc điểm một số loại đất Quảng Ngãi được đề cập trong “Đất cát biển Việt

Nam” [57], “Đất Việt Nam” (2000) [37]; trong công trình của Nguyễn Đình Kỳ và

nnk (2002) [53], [54]…

Về sinh vật: các công trình của Lê Quang Minh (1998), Đỗ Xuân Cẩm (1998,

1999, 2000), Võ Văn Phú (1998,1999); Lê Khắc Huy và nnk (2000) [47] Cấu trúc

thảm thực vật Quảng Ngãi được đề cập đến trong công trình của Thái Văn Trừng

(1998) [90], [91], Nguyễn Hữu Tứ (1998) [95], Lê Trần Chấn và nnk (2006) [11]

- Nhóm công trình nghiên cứu tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường, phòng tránh thiên tai

Nghiên cứu tổng hợp và toàn diện nhất phải kể đến là “Hoàn thiện cơ sở dữ

liệu về điều kiện tự nhiên và môi trường phục vụ lập quy hoạch phát triển KT-XH

Trang 22

tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020” [16] được các nhà khoa học Viện Địa lí thực hiện.

Kết quả đề tài là cơ sở khoa học có giá trị to lớn, phục vụ các hoạt động phát triểnKT-XH Quảng Ngãi Bên cạnh đó, có nhiều nghiên cứu đánh giá tổng hợp ĐKTN,TNTN dải ven biển và miền Trung (trong đó có Quảng Ngãi) phục vụ phát triểnKT-XH và BVMT như: Nguyễn Thượng Hùng và nnk (1995) [43]; Phạm HoàngHải (1990, 2003, 2010) [24], [27]; Lại Vĩnh Cẩm (2008) [10]; Đỗ Hoài Nam và

nnk (2005) [64] Đặng Trung Thuận và Đinh Văn Thanh (1990) đã “Đánh giá tổng

hợp ĐKTN, TNTN và KT-XH tỉnh Quảng Ngãi” Về khía cạnh này, nghiên cứu

chuyên sâu cho Quảng Ngãi đã thành lập bản đồ CQ sinh thái lưu vực sông Thu

Bồn và Trà Khúc (tỉ lệ 1:100.000) của Phòng Sinh thái CQ (Viện Địa lí, 2003) [85].

Các tác giả phân chia CQ sinh thái đến cấp loại Song, thuộc Quảng Ngãi chỉ

nghiên cứu lưu vực sông Trà Khúc Trong đề tài KHCN 07 – 02 (năm 2000) , khiphân loại CQ sinh thái cho hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định ở tỉ lệ 1: 100.000phục vụ nghiên cứu hoang mạc hóa, các tác giả chỉ rõ đơn vị CQ sinh thái có biểu

hiện hoang mạc hóa [34] Gần đây, nghiên cứu tổng hợp cho các khu vực trong tỉnh được chú trọng hơn, ĐGCQ các huyện ven biển tỉnh Quảng Ngãi phục vụ phát triển

ngành nông – lâm – ngư nghiệp (Dương Thị Nguyên Hà, 2007) [23]; Đánh giá tổng hợp các ĐKTN phục vụ quy hoạch phát triển nông - lâm nghiệp ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (Bùi Văn Đoàn, 2010)…

Môi trường, tai biến thiên nhiên và phòng tránh thiên tai: Những nghiên cứu

về MT và tai biến thiên nhiên ở Quảng Ngãi được tiến hành trên phạm vi rộng: Quyhoạch MT; tìm giải pháp khắc phục các sự cố MT, hậu quả tai biến thiên nhiên;phòng tránh thiên tai công trình của các tác giả Đặng Văn bào, Vũ Văn Phái vàNguyễn Hiệu (2000) [8], Phạm Hữu Tôn và nnk (2004) [87], Lê Huy Bá (2008) [6],

Lê Tấn Cúc (2011)… Hiện trạng MT các khu công nghiệp rất được chú trọng Các

dự án được triển khai đều có đánh giá tác động môi trường

- Nhóm công trình nghiên cứu các hoạt động KT-XH, mô hình sản xuất

và ảnh hưởng của hoạt động nhân tác đến CQ tự nhiên

+ Các hoạt động KT-XH, đề án, mô hình phát triển Sau 10 năm nhà máy

lọc dầu được xây dựng, Phạm Hữu Tôn (2008) khái quát thành tựu bước đầu, khẳngđịnh vai trò của nhà máy và KCN Dung Quất trong quá trình phát triển KT-XH

Quảng Ngãi “Dung Quất – Trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ lớn của

khu vực miền Trung và Việt Nam” Nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động

(02/2009) là “cú hích” quan trọng, thúc đẩy kinh tế Quảng Ngãi giai đoạn hiện nay

Trang 23

Song song với các mô hình sản xuất, có mô hình phục vụ xoá đói giảm nghèo của

Đặng Trung Thuận và Trương Quang Hải (1999) nghiên cứu ở đầu nguồn sông Trà

Khúc [83], các huyện miền núi của tỉnh đều có Đề án hỗ trợ xoá đói giảm nghèo

Qua các công trình, có thể nhận thấy hoạt động khai thác tài nguyên ở QuảngNgãi diễn ra rộng khắp Tuy nhiên, hoạt động kinh tế tập trung ở đồng bằng, trongkhi miền núi - lợi thế về đất đai - vẫn chưa được khai thác Cường độ khai thác vàmức độ tác động của con người vào tự nhiên ngày càng mạnh nhưng hiện trạng pháttriển KT-XH chưa tương xứng với tiềm năng

+ Các quy hoạch phát triển ngành và phát triển KT-XH Năm 2009, Ủy

ban nhân dân tỉnh triển khai và hoàn thành “Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH

tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 và tầm nhìn 2025” Quy hoạch đề xuất định hướng,

giải pháp phát triển các ngành sản xuất, các lĩnh vực xã hội Từ quy hoạch tổng thể,các sở, ban ngành quy hoạch cho từng ngành cụ thể

Góp phần khai thác TNTN phục vụ phát triển KT-XH tỉnh Quảng Ngãi,nhiều nghiên cứu về đặc điểm ĐLTN liên tục được tiến hành Trong số đó, nghiêncứu ứng dụng phòng tránh thiên tai, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra, haynhững nghiên cứu về lợi thế của ĐKTN phục vụ phát triển kinh tế đối với QuảngNgãi có ý nghĩa vô cùng thiết thực

Hướng nghiên cứu ĐLTN tổng hợp ở Quảng Ngãi được tiến hành khá sớm,nhưng còn nhiều hạn chế Nghiên cứu và đánh giá ĐKTN theo từng đơn vị CQ cho đếnnay còn rất ít Vì vậy, hướng lựa chọn nghiên cứu của luận án cho tỉnh Quảng Ngãi làrất cần thiết Muốn đánh giá tiềm năng tự nhiên, thế mạnh của vùng cần phải có nhữngnghiên cứu tổng hợp trên quan điểm CQ, nhằm làm sáng tỏ bức tranh phân hoá tựnhiên - cơ sở đề xuất chính sách khai thác và SDHL chúng

1.2 Những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu

1.2.1 Các quan niệm về cảnh quan

Trang 24

Khái niệm CQ được sử dụng lần đầu tiên vào đầu thế kỉ XIX Theo tiếng

Đức: cảnh quan nghĩa là phong cảnh (Die Landschaft) [17], [25], [38] Các nhà địa

lí Nga xây dựng khái niệm CQ rộng hơn (theo quan điểm địa lí) gọi là địa lí CQ

Cho đến nay, trên Thế giới còn tồn tại nhiều trường phái NCCQ, tất yếu hìnhthành nhiều quan niệm CQ khác nhau Trong KHCQ nói riêng và khoa học địa lí nói

chung có ba quan niệm cảnh quan cùng song song tồn tại (tuỳ theo nội dung nghiên

cứu muốn diễn đạt): CQ là một khái niệm chung, đồng nghĩa với địa tổng thể, địa hệ (F.N Minkov, D.L.Armand ); CQ là đơn vị mang tính kiểu loại, là các đơn vị phân loại (B.B.Polưnov, N.A Gvozdetxki, ); CQ là các đơn vị cá thể, là các đơn vị phân

1.2.2 Khái niệm nghiên cứu cảnh quan

CQ luôn có tính thống nhất cao, các hợp phần của CQ tồn tại và phát triển

trong mối quan hệ nhân quả rất chặt chẽ Theo Nguyễn Thượng Hùng “NCCQ thực

chất là nghiên cứu về các quá trình tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên, nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và quy luật phân hoá của tự nhiên nhằm phát hiện và phân chia ra các thể tổng hợp tự nhiên, các đơn vị CQ có tính đồng nhất tương đối trong lãnh thổ làm cơ sở đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN và KT-XH

để lập quy hoạch SDHL, phát triển KT-XH và BVMT” [42, tr.5], [59, tr.8].

1.2.3 Đánh giá cảnh quan, mối quan hệ giữa nghiên cứu cảnh quan và đánh giá cảnh quan

- Khái niệm đánh giá cảnh quan

ĐGCQ là một trong những nội dung cơ bản của CQ ứng dụng Theo Lê Đức

An, ĐGCQ hay đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN là “xác định mức độ thuận lợi

của các tổng thể lãnh thổ tự nhiên (về tất cả hoặc một số các hợp phần) cho các mục đích hoạt động đời sống và kinh tế, phục vụ công tác quy hoạch, tổ chức sản xuất lãnh thổ” [1, tr.123] Cùng với quan niệm này, Nguyễn Cao Huần cho rằng:

Trang 25

“thực chất của ĐGCQ là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên cho mục đích cụ thể nào đó (nông nghiệp, thuỷ sản, du lịch, tái định cư…)” [38, tr.13].

- Mối quan hệ giữa nghiên cứu cảnh quan và đánh giá cảnh quan

Mỗi đơn vị CQ là một thể tổng hợp tự nhiên phức tạp Muốn ĐGCQ phục vụcác mục đích thực tiễn, cần phải tiến hành nghiên cứu cơ bản Từ nghiên cứu cơ bảnđến đánh giá, quy hoạch là một chu trình có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mốiquan hệ giữa NCCQ và ĐGCQ được các nhà CQH xác định và thể hiện như sau:

NCCQ là cơ sở cho ĐGCQ, ĐGCQ là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ

bản và quy hoạch SDHL tài nguyên và BVMT [38]

1.2.4 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

- Điều kiện tự nhiên

ĐKTN là toàn bộ các yếu tố tự nhiên (địa hình, khoáng sản, khí hậu, nguồnnước, động thực vật…) và khả năng của các thành phần trong môi trường tự nhiên

có ảnh hưởng đến cuộc sống và hoạt động của con người trên một lãnh thổ nhấtđịnh ĐKTN không tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất, nhưng chúng lànguồn lực quan trọng, cần thiết cho con người và phát triển của quốc gia Mỗi quốcgia, khu vực, có ĐKTN thuận lợi và khó khăn không giống nhau Vì vậy, để làm rõđược vai trò của ĐKTN cần phải nghiên cứu và đánh giá chúng

- Tài nguyên thiên nhiên

Có nhiều định nghĩa khác nhau về TNTN [6], [17] Mặc dù định nghĩa

TNTN chưa thống nhất nhưng chúng ta có thể hiểu nguồn tài nguyên thiên nhiên là

tất cả những gì có trong tự nhiên (chính là ĐKTN) được con người khai thác, sử dụng để phục vụ hoạt động sản xuất, thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình Việc phân loại tài nguyên chỉ có tính chất tương đối Danh mục tài nguyên

mở rộng theo sự tiến bộ xã hội Tài nguyên có nhiều loại, luận án chỉ tập trung xem

xét tình hình sử dụng tài nguyên đất, rừng và nước mặt tỉnh Quảng Ngãi

1.2.5 Sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường

Tài nguyên và MT tuy là hai phạm trù khác nhau, nhưng ở góc độ nào đó nó

lại là hai mặt của một vấn đề: vấn đề BVMT và PTBV Khi MT bị huỷ hoại, tất yếu

TNTN bị tổn hại và mất tính bền vững Ngược lại, tài nguyên bị khai thác cạn kiệt,

NCCQ ĐGCQ SDHL tài nguyên và BVMT

Trang 26

MT sẽ bị suy thoái, ô nhiễm Do vậy SDHL tài nguyên và BVMT là hai nội dung

mà NCS cho rằng cần phải thực hiện song hành

- Sử dụng hợp lí tài nguyên

SDHL là sử dụng hợp quy luật (quy luật cấu trúc của lãnh thổ) SDHL tàinguyên là sử dụng các loại tài nguyên đúng mục đích, đem lại hiệu quả cao, gắn vớibảo tồn và quản lí tốt các loại tài nguyên, hạn chế tình trạng cạn kiệt nhanh chóng

các dạng tài nguyên không phục hồi Như vậy, SDHL tài nguyên là hình thức sử

dụng vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng tài nguyên của xã hội hiện tại, vừa đảm bảo duy trì lâu dài nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau [19].

- Sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường trong nghiên cứu, đánh giá cảnh quan

Mỗi hoạt động sản xuất đều được phát triển trên một không gian lãnh thổnhất định và luôn cần có nguyên liệu, nhiên liệu và cơ sở sản xuất (không gian phân

bố - đất đai) Không gian lãnh thổ đó cung cấp các loại tài nguyên, tạo điều kiện chohoạt động sản xuất được tiến hành Mỗi lãnh thổ dù lớn hay nhỏ, đều không thểkhông có tài nguyên Ngược lại, lãnh thổ đó còn hàm chứa các loại tài nguyên cầnthiết đáp ứng nhu cầu của con người Vì vậy, muốn SDHL các loại tài nguyên màkhông xem xét đến việc bố trí hợp lí các hoạt động sản xuất, sử dụng hợp lí khônggian lãnh thổ (chính là các đơn vị CQ) là điều phi thực tế

NCCQ và ĐGCQ là cơ sở đề xuất các biện pháp khai thác và sử dụng hợp líTNTN và BVMT cho lãnh thổ nghiên cứu Vì rằng nghiên cứu đặc điểm tài nguyên

được tiến hành đồng thời với nghiên cứu cấu trúc CQ và ĐGCQ Phân tích cấu trúc

CQ làm sáng tỏ quy luật tương tác giữa các loại tài nguyên của lãnh thổ (tức là tổhợp ĐKTN theo các đơn vị CQ) ĐGCQ giúp người nghiên cứu tìm được thế mạnh

ở mỗi đơn vị CQ cho một hay nhiều loại hình sử dụng Khi sử dụng các đơn vị CQphù hợp với quy luật tự nhiên (không làm phá vỡ cấu trúc tự nhiên của CQ) là đãgóp phần BVMT cho lãnh thổ

SDHL tài nguyên theo các đơn vị CQ được hiểu là bố trí hợp lí các ngành

sản xuất sao cho tận dụng được lợi thế TNTN, đạt hiểu quả kinh tế cao, không gây

ô nhiễm MT Một đơn vị CQ được sử dụng hợp lí phải thỏa mãn rằng đơn vị CQ đó

được sử dụng đúng quy luật tự nhiên, hoặc phỏng theo sự phát triển của tự nhiên, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu đến MT Như vậy, ở góc độ CQH

ứng dụng, SDHL tài nguyên là một trong số các biện pháp BVMT Ngay trong nội

Trang 27

hàm BVMT cho thấy: muốn BVMT, phải SDHL tài nguyên và bố trí hợp lí cácngành sản xuất theo các đơn vị CQ Khi các ngành sản xuất được phân bố hợp lí sẽđem lại hiệu quả cao, tất nhiên sẽ góp phần BVMT lãnh thổ nghiên cứu.

Vận dụng quan điểm này vào nghiên cứu ở Quảng Ngãi, luận án thiết yếuphải trả lời được những câu hỏi: đơn vị CQ này sẽ phát triển được ngành nào? Khingành đó phát triển có tác động như thế nào đến nguồn tài nguyên, đến MT? Cóthúc đẩy ngành khác cùng phát triển? Có góp phần giải quyết vấn đề xã hội, nâng

cao đời sống nhân dân? Như vậy, ở một chừng mực nào đó có thể hiểu SDHL tài

nguyên chính là SDHL không gian lãnh thổ ĐGCQ là căn cứ để NCS đưa ra

phương hướng khai thác, sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả Ở góc độ quản lí,cách tiếp cận này giúp các nhà quy hoạch đưa ra phương án sử dụng tổng hợp tàinguyên cho phát triển KT-XH

1.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

1.3.1 Các quan điểm nghiên cứu của luận án

Quá trình thực hiện luận án, NCS dựa trên nhiều quan điểm tiếp cận khác

nhau Trong đó, quan điểm hệ thống – tổng hợp là quan điểm chủ đạo, được vậndụng xuyên suốt quá trình nghiên cứu

1.3.1.1 Quan điểm hệ thống - tổng hợp

Lãnh thổ Quảng Ngãi là một phần của vùng Duyên hải Nam Trung bộ và cảnước, nhưng có nhiều bộ phận cấu thành và phân hoá khá đa dạng Các CQ tronglãnh thổ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đồng thời có mối quan hệ với các CQthuộc các lãnh thổ kề bên Do đó, nếu không đứng trên quan điểm hệ thống và tổnghợp thì rất khó phân tích CQ, phân chia các đơn vị CQ trong quá trình NCCQ

Lãnh thổ nghiên cứu mang đầy đủ đặc tính của một hệ thống Vì vậy, mọinghiên cứu được tiến hành ở Quảng Ngãi cần thiết phải đứng trên quan điểm hệ

thống - tổng hợp Quan điểm này được NCS vận dụng trong tất cả các bước tiến

hành của luận án, từ thu thập tài liệu, chuẩn bị nghiên cứu đến việc thực hiện các bước NCCQ, ĐGCQ và đề xuất định hướng sử dụng tự nhiên để phát triển KT-XH

Dựa vào đặc tính của hệ thống [12], NCS có căn cứ xem xét vấn đề một cáchtổng hợp: NCCQ Quảng Ngãi được tiến hành trên cơ sở phân tích đồng bộ vềĐKTN, TNTN và hoạt động của con người, với vai trò là những nhân tố thành tạo

CQ Kết quả phân tích các hợp phần thành tạo CQ theo hệ thống giúp NCS có cái

Trang 28

nhìn tổng hợp khi xác định vai trò của mỗi nhân tố thành tạo và mối quan hệ giữanhân tố với nhau (nhân tố tự nhiên và KT-XH); trên cơ sở đó, làm sáng tỏ đặc điểmphân hóa tự nhiên lãnh thổ nghiên cứu qua hệ thống phân loại CQ và bản đồ CQ.Theo quan điểm này, NCS xác định được cấu trúc, chức năng từng đơn vị CQ lãnhthổ nghiên cứu NCCQ còn phải phân tích mối quan hệ giữa các hợp phần trong

CQ, giữa các CQ trong lãnh thổ nghiên cứu với nhau và giữa các CQ trong lãnh thổnghiên cứu với các CQ ở lãnh thổ xung quanh

Quan điểm hệ thống – tổng hợp là cơ sở thực hiện các bước ĐGCQ Việc lựachọn chỉ tiêu đánh giá được dựa trên kết quả phân tích vai trò của chúng với đốitượng đánh giá; Việc xác định trọng số cho chỉ tiêu cũng được tiến hành trên cơ sởphân tích tổng hợp mức độ ảnh hưởng của mỗi chỉ tiêu; Việc phân chia cấp thuậnlợi (thích hợp) của từng CQ đối với một loại hình sử dụng được dựa vào kết quảđánh giá tổng hợp các chỉ tiêu; Kết quả phân tích tổng hợp mức độ thuận lợi củatừng CQ đối với các loại hình sử dụng khác nhau cũng là hệ thống các kết quả đánhgiá cho từng đối tượng Vì vậy, ĐGCQ không thể không vận dụng quan điểmnghiên cứu quan trọng này

Quan điểm hệ thống – tổng hợp còn được vận dụng để phát hiện mối liên hệ

liên ngành, đa ngành trong từng đơn vị lãnh thổ và mối liên hệ liên vùng trên toàn

lãnh thổ khi xem xét ở tầm vĩ mô Vì vậy, luận điểm này là cơ sở kiến nghị địnhhướng của luận án Mỗi đơn vị CQ là một thể tổng hợp ĐLTN hoàn chỉnh, là các hệđịa - sinh thái, hệ địa - nhân sinh Trong đó, các yếu tố sinh thái có mối quan hệ mậtthiết với nhau Con người sống trong một địa hệ nào đó, khai thác và sử dụng tàinguyên phục vụ nhu cầu của mình nhưng phải được đặt trong một giới hạn nhấtđịnh Tác động của con người vào một hợp phần hay một bộ phận của địa hệ có thểlàm thay đổi hàng loạt yếu tố, không chỉ trong phạm vi địa hệ mà còn ảnh hưởngđến các địa hệ khác Vậy nên, con người có thể lựa chọn những biện pháp tác độngtích cực điều chỉnh địa hệ theo chiều hướng tốt lên, có lợi cho con người Trên quanđiểm hệ thống – tổng hợp, NCS kiến nghị các định hướng khai thác và sử dụng tàinguyên, định hướng BVMT, bố trí hợp lí không gian sản xuất theo các đơn vị CQ -

cơ sở quy hoạch lãnh thổ, BVMT tỉnh Quảng Ngãi theo hướng PTBV

1.3.1.2 Quan điểm lãnh thổ

Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại và phát triển trên một lãnh thổ cụ thể Ở

đó chúng có sự thống nhất và phân hóa, đồng thời có mối quan hệ với các lãnh thổkhác Quan điểm lãnh thổ giúp NCS xác định không gian nghiên cứu, phạm vi từng

Trang 29

CQ và thể hiện được chúng trên bản đồ CQ Sau khi phân chia các đơn vị CQ, xácđịnh mối quan hệ của các CQ với lãnh thổ xung quanh, người nghiên cứu phân tích

và đánh giá CQ gắn với lãnh thổ cụ thể nhằm đưa ra định hướng mang tính tổnghợp, sát với thực tế địa phương nhằm phát huy lợi thế của toàn lãnh thổ nghiên cứu

1.3.1.3 Quan điểm lịch sử

Mỗi thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên đều có quá trình phát sinh, phát triển vàbiến đổi theo thời gian Mỗi đơn vị CQ phải mất một thời gian dài để hình thành.Trong quá trình phát triển, các đặc trưng riêng của từng CQ đều bị thay đổi Do vậy,các số liệu thống kê từng đối tượng đều gắn với một giai đoạn phát triển nhất định

Vận dụng quan điểm lịch sử, NCS xác định được nguồn gốc phát sinh, độnglực phát triển, mức độ nhân tác trong quá khứ, nguyên nhân biến đổi hiện tại và dựbáo xu thế phát triển tương lai của các CQ Đây cũng là cơ sở để đưa ra định hướng

sử dụng hợp lí tài nguyên và không gian lãnh thổ cho Quảng Ngãi

1.3.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Theo FAO (1983): “PTBV là sự quản lí, bảo vệ cơ sở của nguồn lợi thiên

nhiên cùng phương hướng của các thay đổi kỹ thuật và thể chế bằng cách nào để đảm bảo thoả mãn nhu cầu của con người cho thế hệ hôm nay và mai sau” Quan

điểm PTBV được đưa lên hàng đầu trong mọi hoạt động khai thác, sử dụng tàinguyên Đồng thời, nó cũng là mục tiêu hướng đến khi NCCQ, phục vụ phát triểnKT-XH và BVMT

Quá trình khai thác TNTN phải tính toán đến những gì “đưa vào” và “đưa

ra” khỏi địa hệ mà không làm tổn hại đến môi trường tự nhiên Quan điểm PTBV là

cơ sở cho NCS định hướng phát triển các ngành kinh tế, kiến nghị khai thác tàinguyên, bố trí không gian ưu tiên phát triển các ngành sản xuất cho Quảng Ngãitheo đơn vị CQ Các định hướng khai thác và sử dụng tài nguyên vừa nhằm mụcđích mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, vừa chú trọng đến ổn định xã hội, nâng caothu nhập, đảm bảo cuộc sống người dân và các vấn đề MT, hạn chế thấp nhất tácđộng xấu đến MT do các hoạt động sản xuất gây ra

1.3.2 Hệ phương pháp nghiên cứu

Quá trình thực hiện luận án, NCS áp dụng tổng hợp các phương pháp nghiêncứu truyền thống và hiện đại của Địa lí học, cả định tính và bán định lượng:

1.3.2.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích hệ thống

Trang 30

NCCQ và ĐGCQ cần xem xét tổng hợp nhiều yếu tố Phương pháp này đượcvận dụng từ khi tổng hợp và phân nhóm tài liệu tham khảo đến phân tích vai trò cácnhân tố thành tạo CQ; chuẩn hoá và tích hợp các bản đồ hợp phần để thành lập bản

đồ CQ; phân tích các tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá và xác định trọng số từng chỉ tiêuđánh giá cho các ngành sản xuất Cùng với quan điểm hệ thống – tổng hợp, phươngpháp tổng hợp và phân tích hệ thống giúp NCS chỉ ra được ngành sản xuất nào làtối ưu nhất và cần được ưu tiên phát triển theo các đơn vị CQ (sau khi đã đánh giámực độ thuận lợi của ĐKTN cho từng ngành sản xuất), cũng như đưa ra hệ thốngđịnh hướng khai thác và sử dụng các loại tài nguyên theo từng đơn vị CQ một cáchtoàn diện, tổng hợp và đồng bộ vì mục tiêu PTVB cho lãnh thổ nghiên cứu

1.3.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Mục đích khảo sát thực địa nhằm thu thập, hoàn chỉnh tài liệu, kiểm chứngkết quả nghiên cứu so với thực tiễn Dựa trên các bản đồ hợp phần, NCS vạch ra cáctuyến, điểm khảo sát cần được tiến hành NCS thu thập tư liệu, chụp ảnh về các hợpphần thành tạo CQ, mức độ tác động của con người đến CQ, tình hình khai thác tàinguyên; các mô hình kinh tế (mô hình kinh tế - sinh thái nông hộ, mô hình sản xuấttrên đất dốc, trên đất cát ven biển…) theo tuyến khảo sát và điểm chìa khoá

Trong quá trình thực hiện luận án, NCS khảo sát thực địa theo 2 giai đoạn.Giai đoạn 1 (2008 – 2010), tiến hành nhiều đợt, nhằm làm quen với địa bàn nghiêncứu và thu thập tài liệu tại các huyện trong tỉnh, ghi chép, chụp ảnh những CQ tiêubiểu tại: bãi biển Mỹ Khê, bãi biển Khe Hai, Khu KT Dung Quất, Trà Xuân – TràBồng Giai đoạn 2 (2011 – 06/2012), tiếp tục thu thập tài liệu, hình ảnh bổ sung choluận án, gặp gỡ và trao đổi với các cán bộ địa phương, người dân ở những điểmkhảo sát Kiểm tra tính hợp lí của các bản đồ đã xây dựng Đồng thời, cập nhật sốliệu mới về các hoạt động KT-XH trên địa bàn nghiên cứu

1.3.2.3 Phương pháp bản đồ, phân tích không gian bằng công cụ GIS

“Bản đồ là là trong nghiên cứu Địa lí” (Baranxki - Nhà Địa lí KT-XH

và bản đồ học người Nga) Với tầm quan trọng của bản đồ, nên phương pháp bản đồ

không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu NCS sử dụng các bản đồ hợp phần đểvạch các tuyến khảo sát thực địa, thu thập thông tin phục vụ việc thành lập bản đồ

CQ Kế thừa kết quả nghiên cứu các bản đồ hợp phần đã có (bản đồ địa chất QuảngNgãi, bản đồ địa hình, bản đồ phân loại đất Quảng Ngãi theo FAO – UNESCO; bản

Trang 31

đồ phân loại đất theo nguồn gốc phát sinh…), NCS chuẩn hoá các dữ liệu khônggian đó và đưa về hệ toạ độ chuẩn (VN 2000) bằng phần mềm mapInfor; tiến hànhthành lập các bản đồ hợp phần: bản đồ địa mạo Quảng Ngãi, bản đồ phân loại khíhậu, bản đồ lớp phủ thực vật… Tích hợp bản đồ hợp phần để thành lập bản đồ CQtỉnh Quảng Ngãi tỉ lệ 1: 100.000 và bản đồ CQ huyện Bình Sơn tỉ lệ 1: 50.000 Cuốicùng, kết quả nghiên cứu của đề tài được thể hiện trên các bản đồ: bản đồ ĐGCQcho phát triển nông nghiệp; bản đồ ĐGCQ cho phát triển lâm nghiệp; bản đồ ĐGCQcho phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi; bản đồ ĐGCQ cho phát triển cây cao su;bản đồ định hướng không gian ưu tiên phát triển các ngành sản xuất tỉnh QuảngNgãi và bản đồ kiến nghị không gian ưu tiên phát triển cây cao su huyện Bình Sơn.

1.3.2.4 Phương pháp chuyên gia và đánh giá nhanh nông thôn

Trong quá trình thực hiện luận án, NCS đã xin ý kiến chuyên gia, các nhàkhoa học thuộc nhiều chuyên ngành ở Viện Địa lí (Viện KHCN Việt Nam), Trungtâm thông tin và tư vấn lâm nghiệp Việt Nam; các chuyên gia sở Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn Quảng Ngãi, sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ngãi; Trungtâm khuyến nông, khuyến ngư Quảng Ngãi… bằng cách trao đổi trực tiếp, sử dụngphiếu lấy ý kiến chuyên gia Nội dung cụ thể là: các quá trình địa mạo và cách thểhiện các đơn vị địa mạo trên bản đồ; sự phân hóa của sinh vật và thành lập bản đồlớp phủ thực vật tỉnh Quảng Ngãi; đặc điểm đất và cách nhóm gộp các loại đất đểthành lập bản đồ CQ… Việc phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đối vớihoạt động sản xuất, lựa chọn các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá, xác định trọng số chotừng chỉ tiêu cũng được NCS thông qua ý kiến các chuyên gia

Khi khảo sát thực địa, NCS tiếp xúc và trao đổi với cán bộ quản lí, người dânđịa phương ở các điểm khảo sát nhằm thu thập nhanh thông tin về tình hình sử dụngtài nguyên, tình hình sản xuất, hoạt động KT-XH địa phương Các thông tin đượcthu thập, chọn lọc phù hợp với mục đích nghiên cứu, bổ sung cho luận án

1.3.2.5 Phương pháp đánh giá cảnh quan

Nội dung nghiên cứu và các bước tiến hành ĐGCQ đã được các nhà CQHxây dựng Sau khi có kết quả NCCQ, NCS tiến hành các bước ĐGCQ tuần tự từviệc lựa chọn chỉ tiêu, phân cấp chỉ tiêu, xác định trọng số, thang điểm, xác định cácnhân tỏ giới hạn; phương pháp tính điểm, phân chia mức độ thích hợp (thuận lợi)của các đơn vị CQ với các loại hình sản xuất; nhóm gộp các cấp thuận lợi để thểhiện lên bản đồ… Nội dung cụ thể được trình bày trong mục 1.5.3

Trang 32

Kết quả đánh giá được thể hiện qua các ma trận (phần phụ lục) Sau khi phânhạng mức độ thuận lợi các CQ cho từng loại hình sử dụng là bước phân tích tổnghợp để lựa chọn và xác định loại hình sử dụng (sản xuất) được ưu tiên nhất cho từng

CQ, đề xuất định hướng SDHL tài nguyên và BVMT dựa trên kết quả đã tính toán

1.3.3 Các bước tiến hành nghiên cứu của luận án

Quy trình thực hiện luận án được thể hiện ở hình 1.1 Gồm 3 giai đoạn chính:

1 - Từ nhu cầu thực tiễn, luận án xác định mục tiêu, nhiệm vụ, cách tiếp cận nghiêncứu cho đề tài, xây dựng phương pháp luận và hệ phương pháp nghiên cứu, tiếnhành thu thập tài liệu, xử lí theo yêu cầu Các dữ liệu đầu vào (bản đồ nền), đượcnắn chỉnh, xử lí bằng các phương pháp chuyên ngành phục vụ thành lập bản đồ CQ;

2 - Cùng với kết quả phân tích nhân tố thành tạo CQ, xây dựng hệ thống phân loại,chỉ tiêu phân loại áp dụng cho tỉnh Quảng Ngãi, luận án thành lập bản đồ CQ làm

cơ sở cho phân tích CQ và ĐGCQ Từ hệ thống chỉ tiêu đánh giá, đề tài ĐGCQ chophát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch tỉnh Quảng Ngãi ở bản đồ tỉ lệ 1:100.000 Và ĐGCQ cho phát triển cao su huyện Bình Sơn ở bản đồ tỉ lệ 1: 50.000;

3 - Từ kết quả NCCQ và ĐGCQ, kết hợp với quy hoạch tổng thể, hiện trạng pháttriển KT-XH địa phương, luận án đề xuất định hướng khai thác, SDHL tài nguyên

và không gian phát triển các ngành sản xuất, định hướng BVMT tỉnh Quảng Ngãitheo hướng PTBV; không gian ưu tiên phát triển cây cao su huyện Bình Sơn

1.4 Phương pháp luận nghiên cứu cảnh quan

Quá trình NCCQ cần phải xác định được mục đích, đối tượng, nguyên tắcvận dụng trong nghiên cứu Từ đó xây dựng hệ thống phân loại, bản đồ CQ và xácđịnh nội dung nghiên cứu cho lãnh thổ đã lựa chọn

1.4.1 Mục đích, đối tượng, nguyên tắc nghiên cứu cảnh quan

Mục đích NCCQ ở Quảng Ngãi nhằm: làm sáng tỏ tính đa dạng trong cấu

trúc, chức năng CQ; tìm ra quy luật phân hóa CQ và một số loại tài nguyên theo cácđơn vị CQ, làm cơ sở cho ĐGCQ

Đối tượng NCCQ là các đơn vị CQ Kế thừa và vận dụng quan điểm NCCQ

theo kiểu loại, NCS chia lãnh thổ nghiên cứu ra nhiều CQ Đối tượng nghiên cứu ở bản đồ tỉ lệ 1:100.000 là các loại CQ, ở bản đồ tỉ lệ 1: 50.000 là các dạng CQ.

Nguyên tắc NCCQ: Kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, khi

NCCQ Quảng Ngãi NCS áp dụng những nguyên tắc: nguyên tắc phát sinh – hìnhthái, nguyên tắc tổng hợp, đồng nhất tương đối, cùng chung lãnh thổ

Trang 33

Hình 1.1: Sơ đồ quy trình các bước thực hiện luận án (quy trình tiếp cận hệ thống)

- Thực trạng phát triển KT-XH và khai thác tài nguyên ở địa phương

- Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH; định hướng phát triển các ngành NHU CẦU THỰC TIỄN

Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá

ĐGCQ cho phát triển cây cao su

ĐGCQ cho

du lịch

ĐGCQ cho lâm nghiệp nông nghiệpĐGCQ cho

Kết quả ĐGCQ cho phát triển cây cao su Phân tích tổng hợp phát triển các ngành kinh tế

Bản đồ ĐGCQ phát triển du lịch Bản đồ ĐGCQ phát triển lâm nghiệp Bản đồ ĐGCQ phát triển nông nghiệp phát triển cao suBản đồ ĐGCQ

Hệ thống phân loại và chỉ tiêu chuẩn đoán các cấp phân

vị cảnh quan áp dụng cho lãnh thổ nghiên cứu

Phân tích yếu tố thành tạo cảnh quan

Các hợp phần tự nhiên

và các quá trình

tự nhiên Các hoạt động KT-XH

và khai thác tài nguyên

Thành lập bản đồ cảnh quan

BĐCQ tỉnh Quảng Ngãi BĐCQ huyệnBình Sơn

Phân tích cảnh quan

Phân tích cấu trúc Phân tích chức năng Phân tích động lực

Bản đồ định hướng không gian ưu tiên phát triển các ngành sản xuất tỉnh Quảng Ngãi

Định hướng sử dụng một số loại tài nguyên theo các đơn vị cảnh quan và bố trí hợp lí không gian phát triển các ngành sản xuất

Một số định hướng bảo vệ môi trường

Bản đồ kiến nghị không gian

ưu tiên phát triển cây cao su huyện Bình Sơn (tỉnh Quảng Ngãi)

Định hướng phân bố và mở rộng diện tích cây cao su huyện Bình Sơn

2 Nghiên cứu cảnh quan và đánh giá cảnh quan

3 Kết quả nghiên cứu

Trang 34

1.4.2 Hệ thống phân loại cảnh quan và bản đồ cảnh quan

1.4.2.1 Hệ thống phân loại cảnh quan áp dụng cho lãnh thổ nghiên cứu

Để xây dựng hệ thống phân loại CQ cho lãnh thổ nghiên cứu, luận án kế thừa

hệ thống phân loại của Phạm Hoàng Hải và nnk (1997), tham khảo các hệ thốngphân loại của các tác giả trong và ngoài nước; Đồng thời, căn cứ vào kết quả phântích vai trò các nhân tố thành tạo CQ; đặc điểm phân hóa tự nhiên tỉnh Quảng Ngãi

và tỉ lệ bản đồ CQ được thành lập Luận án xây dựng hệ thống phân loại CQ ápdụng cho lãnh thổ nghiên cứu gồm 8 cấp có thứ tự như sau:

Hình 1.2 Hệ thống các cấp phân loại cảnh quan áp dụng cho lãnh thổ nghiên cứu

Đối với tỉnh Quảng Ngãi - một lãnh thổ không lớn, luận án đặt cấp kiểu CQtrên cấp lớp CQ Ở đây, luận án lấy chỉ tiêu phân chia cấp kiểu CQ theo chế độ nhiệt

- ẩm, cấp lớp CQ theo đặc điểm phát sinh hình thái đại địa hình Sự phân hóa thiênnhiên Quảng Ngãi chịu sự chi phối mạnh mẽ của đai cao nhưng tất cả các đai cao đóđều nằm trong cùng một chế độ nhiệt - ẩm Tính chất nhiệt đới nóng ẩm và phân hóatheo mùa bao trùm lên thiên nhiên Quảng Ngãi, quyết định sự hình thành một kiểuthảm thực vật (theo nguồn gốc phát sinh) và cũng chính là một kiểu CQ Như đã phântích ở mục 1.1.1.2 (hệ thống phân vị CQ của các tác giả nước ngoài), khi xây dựng hệthống phân loại CQ áp dụng cho lãnh thổ nghiên cứu, luận án dựa theo cách phân loại

CQ của A.G.Ixatrenco (1961, 1991) - đặt cấp kiểu CQ lên trên cấp lớp CQ Chỉ tiêuchuẩn đoán của từng cấp phân loại cụ thể như sau (bảng 1.2):

Bảng 1.2: Chỉ tiêu các cấp phân loại cảnh quan áp dụng cho lãnh thổ nghiên cứu

T

1 Hệ CQ hợp với hệ thống hoàn lưu cỡ châu lục.Nền bức xạ, năng lượng bức xạ Mặt trời quyết định chế độ nhiệt - ẩm theo đới, kết

2 Phụ hệ CQ thổ.Tương tác giữa địa hình và hoàn lưu gió mùa, phân bố lại chế độ nhiệt - ẩm của lãnh

3 Kiểu CQ Kiểu thảm thực vật theo nguồn gốc phát sinh.

4 Lớp CQ tự nhiên.Đặc điểm phát sinh hình thái đại địa hình, thể hiện quy luật phân hoá phi địa đới của

Dạng cảnh quan

Phụ lớp cảnh quan

Loại cảnh quan

Hạng cảnh quan

Lớp cảnh quan

Hệ

cảnh quan

Phụ hệ cảnh quan cảnh quan Kiểu

Trang 35

5 Phụ lớp CQ hình, thể hiện qua sự phân hoá đai cao. Được phân chia trong phạm vi cấp lớp, dựa vào đặc trưng trắc lượng hình thái địa

6 Hạng CQ Các kiểu địa hình phát sinh với các đặc trưng động lực hiện đại.

7 Loại CQ Đặc trưng bởi mối quan hệ tương hỗ giữa nhóm quần xã thực vật hiện tại và loại đất.

8 Dạng CQ Đặc trưng bởi mối quan hệ tương hỗ giữa quần xã thực vật hiện tại với tổ hợp đất.

1.4.2.2 Bản đồ cảnh quan

Quan niệm chung về bản đồ cảnh quan Mỗi đơn vị CQ là một hợp phần

của vỏ Trái đất Kết quả NCCQ được thể hiện lên bản đồ Theo Phạm Hoàng Hải:

“Bản đồ CQ là một bản đồ tổng hợp, phản ánh một cách đầy đủ, khách quan các

đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các hợp phần riêng

lẻ của tự nhiên” [25, tr.59] Đối với Quảng Ngãi, bản đồ CQ không chỉ phản ánh

đặc điểm tự nhiên, mối quan hệ giữa các hợp phần mà còn thể hiện quy luật phânhóa CQ, tiềm năng và đặc điểm một số loại tài nguyên ở từng loại CQ của tỉnh

Bản đồ CQ được xây dựng ở nhiều tỉ lệ Mỗi tỉ lệ có cấp cơ sở khác nhau.Khi xây dựng bản đồ CQ tỉnh Quảng Ngãi ở tỉ lệ 1: 100.000, luận án chọn đơn vị cơ

sở là cấp loại CQ Tuy nhiên, khi đánh giá một đối tượng cây trồng cụ thể trênphạm vi nhỏ (cấp huyện), cấp loại CQ chưa phản ánh chi tiết đặc điểm phân hóa của

tự nhiên Vì vậy, để thuận lợi trong việc ĐGCQ cho phát triển cây cao su, từ bản đồ

CQ toàn tỉnh (tỉ lệ 1: 100.000), luận án tiếp tục thành lập bản đồ CQ huyện Bình

Sơn, ở tỉ lệ là 1: 50.000, với đơn vị cơ sở là dạng CQ.

Ý nghĩa sử dụng bản đồ CQ ở lãnh thổ nghiên cứu Bản đồ CQ tỉ lệ

1:100.000 phản ánh quy luật phân hóa CQ tự nhiên tỉnh Quảng Ngãi ở cấp loại CQ,

là cơ sở cho ĐGCQ đề xuất định hướng bố trí hợp lí không gian phát triển cácngành sản xuất (nông nghiệp, lâm nghiệp và du lịch) Bản đồ CQ tỉ lệ 1: 50.000,mặc dù thể hiện diện tích nhỏ nhưng chi tiết hơn cho một huyện (huyện Bình Sơn)đến cấp dạng CQ, là cơ sở cho ĐGCQ đề xuất không gian phát triển cho một loại

hình cụ thể - trồng cây cao su Vì vậy, mỗi bản đồ CQ có ý nghĩa thiết thực đối với

lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng của đề tài

Quy trình thành lập bản đồ CQ cho lãnh thổ nghiên cứu Các lớp bản đồ

thành phần được biên tập lại, khái quát hóa theo yêu cầu của đề tài và đảm bảo thựchiện đúng các nguyên tắc thành lập bản đồ Sau khi biên tập, thành lập các bản đồthành phần, luận án đã tích hợp các lớp thông tin để thành lập bản đồ CQ Quá trìnhthành lập bản đồ CQ được NCS thực hiện theo sơ đồ sau (hình 1.3)

Trang 36

Từ kết quả bản đồ CQ toàn tỉnh ở tỉ lệ 1: 100.000, NCS xác định các loại CQthuộc huyện Bình Sơn, trên từng khoanh vi của mỗi loại CQ ở Bình Sơn, tiếp tụcphân chia thành các dạng CQ theo các chỉ tiêu chuẩn đoán của cấp dạng CQ để xâydựng bản đồ CQ huyện Bình Sơn Đối với bản đồ CQ huyện Bình Sơn, ranh giớikhoanh vi các cấp lớn hơn không thay đổi so với bản đồ CQ toàn tỉnh Bản đồ CQhuyện Bình Sơn phản ánh chi tiết hơn sự phân hóa đơn vị CQ dưới cấp loại.

Hình 1.3: Sơ đồ quy trình thành lập bản đồ cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu

Sau khi thành lập các bản đồ CQ cho lãnh thổ nghiên cứu, luận án đã phântích cấu trúc CQ, chức năng, động lực CQ; xác định quy luật phân hoá CQ ở QuảngNgãi và đặc điểm CQ huyện Bình Sơn Kết quả này là cơ sở cho luận án tiến hànhcác bước nghiên cứu tiếp theo

1.4.3 Nội dung nghiên cứu và phân tích cảnh quan

NCCQ chính là nghiên cứu các hợp phần tự nhiên thành tạo nên CQ và mối

quan hệ tác động tương hỗ giữa chúng trong CQ Đó là nghiên cứu và phân tích cấu

trúc CQ, chức năng CQ và động lực biến đổi CQ

+ Cấu trúc CQ, gồm cấu trúc đứng và cấu trúc ngang Đơn vị CQ dù ở cấp

nào cũng được cấu tạo bởi các thành phần tự nhiên có quan hệ mật thiết với nhau:địa chất, địa hình, khí hậu, nước, đất, sinh vật NCCQ cần chỉ ra đặc điểm các hợpphần và mối quan hệ giữa chúng trong cấu trúc CQ Cùng với sự phân hóa các hợpphần trong cấu trúc đứng, còn có sự phân hoá phức tạp theo cấu trúc ngang, giữacác đơn vị luôn có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau từ cao xuống cấpthấp (từ cấp kiểu CQ, lớp CQ, phụ lớp CQ, đến loại CQ và các dạng CQ)

Bản đồ phân loại cảnh quan

tỉ lệ 1: 100.000

phân loại khí hậu

Độ cao

Địa hình Đất Số liệu khí hậu thuỷ vănSố liệu thảm thực vậtHiện trạng

Kiểu địa hình Loại đất

Tài nguyên nước Lớp phủ thực vật

Độ dốc

Độ dày tầng đất

Bản đồ phân loại cảnh quan

tỉ lệ 1: 50.000

Thành phần

cơ giới

Trang 37

Phân hóa cấu trúc CQ liên quan đến quy luật biến đổi, phát triển các đơn vị

CQ trong toàn hệ thống CQ trên lãnh thổ Đây là cơ sở để xác định chức năng đặctrưng của CQ phục vụ các mục đích sử dụng khác nhau

+ Chức năng CQ được hiểu theo hai nghĩa Một là, quá trình nội tại trong

CQ (tức là khả năng, tiềm năng tự nhiên của CQ); hai là, các lợi ích con người thu được từ các thuộc tính và quá trình của CQ Theo nghĩa thứ hai, chức năng CQ

được hiểu là “khả năng của một CQ cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho xã hội”.

Vậy nên, mỗi đơn vị CQ có chức năng tự nhiên nhất định (như điều tiết dòng chảy,điều hòa khí hậu, cân bằng sinh thái…) Các chức năng tự nhiên phục vụ cho nhu

cầu của con người: phòng hộ BVMT, phục hồi và bảo tồn, sản xuất lương thực thực

phẩm, nuôi trồng thủy sản NCCQ cần phát hiện được các chức năng đó để đưa ra

phương án khai thác, SDHL tài nguyên

+ Động lực CQ, thể hiện sự biến đổi theo thời gian của CQ mà không phụ

thuộc vào sự thay đổi cấu trúc của chúng Động lực biến đổi CQ phụ thuộc nhiềuyếu tố Trong đó, yếu tố có tính chất quyết định nhất đến biến đổi CQ là các quátrình tự nhiên và hoạt động khai thác lãnh thổ của con người Ở Quảng Ngãi, đặctrưng bao trùm lên sự phân hóa theo đai cao, là nhịp điệu mùa của thiên nhiên trêntoàn lãnh thổ Đồng thời, còn có những biến đổi theo chu kì ngày đêm, chịu sự chiphối trực tiếp của sóng và thủy triều vùng cửa sông - ven biển

1.5 Phương pháp luận đánh giá cảnh quan

Quá trình ĐGCQ được NCS thực hiện qua nhiều bước: xác định đối tượng,

mục đích, nhiệm vụ đánh giá; nguyên tắc đánh giá và các bước tiến hành đánh giá.

1.5.1 Đối tượng đánh giá cảnh quan

Đối tượng ĐGCQ là đơn vị CQ ở các cấp phân loại khác nhau Khi ĐGCQ

cho phát triển các ngành sản xuất toàn tỉnh, ở bản đồ CQ tỉ lệ 1: 100.000, đối tượngđánh giá là loại CQ Còn ĐGCQ cho phát triển cây cao su ở huyện Bình Sơn theobản đồ CQ tỉ lệ 1: 50.000, đối tượng đánh giá là dạng CQ

NCS lựa chọn cây cao su huyện Bình Sơn làm đối tượng đánh giá Vì cao su được trồng ở Quảng Ngãi - tập trung chủ yếu ở Bình Sơn, bước đầu cho thu hoạch

và đem lại hiệu quả cao Hiện nay, tỉnh có nhu cầu trồng và mở rộng diện tích loại cây này, nhưng chưa xác định rõ vị trí phân bố ở đâu là thích hợp nhất và đem lại

hiệu quả kinh tế cao nhất

Trang 38

1.5.2 Mục đích, nhiệm vụ và nguyên tắc đánh giá cảnh quan

- Mục đích ĐGCQ của luận án là nhằm xác định mức độ thuận lợi từng loại

CQ toàn tỉnh Quảng Ngãi cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch và các dạng CQ huyện Bình Sơn cho phát triển cây cao su, làm cơ sở cho việc đề xuất kiến

nghị sử dụng tài nguyên hợp lí nhất, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, đảm bảo

MT sinh thái, hướng đến PTBV.

- Nhiệm vụ ĐGCQ thường gắn liền với mục đích đánh giá Theo Phạm

Hoàng Hải [29], Nguyễn Cao Huần [38], có 4 bốn tình huống đánh giá ứng với 4nhiệm vụ đánh giá khác nhau Nhiệm vụ đánh giá của luận án rơi vào tình huống

thứ ba: ĐGCQ tỉnh Quảng Ngãi và xác định các ngành sản xuất phù hợp nhất cho

từng loại CQ Trường hợp đánh giá cho cây cao su của Bình Sơn, thì thuộc nhiệm

vụ thứ tư: Cao su đã được trồng ở Bình Sơn, tìm ra vị trí phân bố cao su sao cho

thích hợp nhất, đem lại hiệu quả cao nhất.

- Nguyên tắc ĐGCQ, luận án áp dụng các nguyên tắc sau: nguyên tắc tổng

hợp, nguyên tắc khách quan, nguyên tắc thích nghi tương đối

1.5.3 Nội dung và các bước tiến hành đánh giá cảnh quan

1.5.3.1 Nội dung đánh giá cảnh quan

Theo Phạm Hoàng Hải [25], nội dung ĐGCQ được tóm tắt như sau (hình 1.4):

Hình 1.4: Sơ đồ khái quát nội dung quá trình đánh giá tổng hợp

Nội dung ĐGCQ là xác định đặc trưng lãnh thổ; đánh giá riêng các loại CQcho từng ngành; đánh giá tổng hợp và xác định khả năng đáp ứng của CQ đối vớingành được đánh giá, đề xuất định hướng SDHL nhất và hiệu quả nhất Trong

trường hợp đánh giá cho cây cao su, NCS xác định mức độ phù hợp của các dạng

Đặc trưng của các đơn vị tổng hợp tự nhiên

Đặc điểm sinh thái công trình, đặc trưng kĩ thuật – công nghiệp của

các ngành sản xuất

Đề xuất các kiến nghị

sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường

Đánh giá tổng hợp

Xác định mức độ thích hợp của các thể tổng hợp tự nhiên

đối với các mục tiêu thực tiễn cụ thể

Trang 39

CQ đối với loại cây này ở bản đồ tỉ lệ 1: 50.000 Nội dung và quy trình đánh giá

tiến hành theo các bước ở hình dưới (hình 1.5)

1.5.3.2 Các bước tiến hành đánh giá cảnh quan

ĐGCQ là công đoạn tiếp theo và kế thừa kết quả NCCQ ĐGCQ được tiếnhành qua các bước sau: Lựa chọn và xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá; xây dựngthang điểm, bậc trọng số; xác định phương pháp đánh giá và vận dụng vào ĐGCQlãnh thổ nghiên cứu Nội dung các bước như sau:

a Lựa chọn và xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá

Các chỉ tiêu được lựa chọn cần đảm bảo:

- Số lượng chỉ tiêu lựa chọn không vượt quá số lượng tính chất CQ đã biết

- Phản ánh được mối quan hệ của chúng đối với chủ thể (các dạng sử dụng)

- Có sự phân hoá rõ rệt trong lãnh thổ ở tỉ lệ nghiên cứu

- Phản ánh được tính chất của địa tổng thể thật sự cần thiết và quan trọng đốivới chủ thể đánh giá (VD: ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển của cây trồng)

Với yêu cầu như trên, luận án xác định có hai nhóm chỉ tiêu, cụ thể như sau:

Nhóm chỉ tiêu chung: thường là đặc điểm thành phần, yếu tố thành tạo CQ

như: địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật và yếu tố giới hạn đối với các

mục đích sử dụng Khi đánh giá cho từng ngành sản xuất, nhóm chỉ tiêu này được

lựa chọn phù hợp với đặc trưng từng ngành (mỗi ngành có tập hợp chỉ tiêu riêng)

Nhóm chỉ tiêu riêng: Đây chính là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp cho từng

ngành sản xuất Dựa vào hệ thống chỉ tiêu của Phạm Hoàng Hải [25], căn cứ vào

đặc trưng riêng của từng ngành sản xuất và đặc điểm CQ lãnh thổ nghiên cứu, NCSxây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá áp dụng cho lãnh thổ Quảng Ngãi (Phụ lục 1):

Khi ĐGCQ phát triển cây cao su, luận án căn cứ vào đặc trưng sinh thái câycao su và đặc điểm CQ huyện Bình Sơn để lựa chọn hệ thống chỉ tiêu chi tiết hơn

b Xây dựng thang điểm, bậc trọng số trong đánh giá

Thang điểm cho từng chỉ tiêu được xác định thông qua đặc điểm và vai tròcủa từng chỉ tiêu đối với đối tượng đánh giá Thang điểm được chia thành 3 bậc và

có điểm số tương ứng với từng mức độ thích hợp (bảng 1.3)

Trang 40

Trọng số của các chỉ tiêu đánh giá được luận án xác định dựa vào kết quảphân tích mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu được lựa chọn đối với loại hình sảnxuất; dựa vào kết quả tổng hợp ý kiến của các chuyên gia theo phiếu thăm dò ý kiến(Phụ lục số 5) Thang điểm và bậc trọng số được chia thành 3 cấp như bảng dưới:

Bảng 1.3: Thang điểm và bậc trọng số của chỉ tiêu đánh giá

3 Ít thích hợp 1 Ít ảnh hưởng hoặc không đáng kể 1

c Lựa chọn phương pháp đánh giá

- Cánh tính điểm đánh giá

Khi tính điểm đánh giá cho các CQ, luận án vận dụng cách tính điểm bằngcông thức trung bình cộng

(I)Trong đó: Xa: Điểm đánh giá chung của cảnh quan a

ki: Trọng số của yếu tố thứ i

Xi: Điểm đánh giá yếu tố thứ ii: yếu tố đánh giá, i = 1,2,3…n

Để đơn giản cho quá trình đánh giá, luận án đã xác định các CQ chứa đựng

yếu tố giới hạn đối với loại hình sử dụng và xếp chúng vào nhóm không thích hợp.

Sau đó, tiếp tục đánh giá các CQ còn lại và phân chia chúng theo các cấp độ thíchhợp khác nhau cho từng loại hình sử dụng

- Phân cấp thang điểm

CQ có điểm đánh giá chung càng cao thì càng thích hợp đối với loại hình sử

dụng được đánh giá Từ kết quả ĐGCQ cho từng ngành sản xuất, luận án đã chiacác mức độ thích hợp thành 3 cấp Khoảng cách điểm ΔD của các cấp thích hợpđược lấy đều nhau và được tính theo công thức sau:

M

D D

 (II), Trong đó: Dmax: điểm đánh giá chung cao nhất

Dmin: điểm đánh giá chung thấp nhất M: số cấp đánh giá (M = 3)

Xa = 1/n ∑ kiXi

n

i = 1

Ngày đăng: 30/12/2013, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Đức An và nnk (1991), Nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên dải ven biển và hải đảo ven bờ, Báo cáo tổng hợp, Đề tài: 48B.05.01, chương trình nghiên cứu biển, Tài liệu lưu trữ Viện Địa lí, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên dải ven biểnvà hải đảo ven bờ
Tác giả: Lê Đức An và nnk
Năm: 1991
2. Lê Đức An và nnk (2006), Khái quát về địa mạo Trường Sơn Nam qua tuyến Kon Tum – Ba Tơ, Tạp chí các khoa học về Trái đất, tr 25 – 33, số 1 (T.28) Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí các khoa học về Trái đất, tr 25 – 33, số 1 (T.28)
Tác giả: Lê Đức An và nnk
Năm: 2006
3. Lại Huy Anh (1999), Địa mạo - thổ nhưỡng, Tài liệu lưu trữ Viện Địa lí, Viện KHCN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa mạo - thổ nhưỡng
Tác giả: Lại Huy Anh
Năm: 1999
4. Phạm Quang Anh (1996), Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức Du lịch xanh Việt Nam, Luận án PTS Địa lí, Đại học KHTN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng địnhhướng tổ chức Du lịch xanh Việt Nam
Tác giả: Phạm Quang Anh
Năm: 1996
5. Armand. D.L (1993), Khoa học về cảnh quan, người dịch Nguyễn Ngọc Sinh, Nguyễn Xuân Mậu, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học về cảnh quan
Tác giả: Armand. D.L
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1993
6. Lê Huy Bá và nnk (2008) “Xây dựng bản đồ nguy cơ và các giải pháp khả thi mang tính ngăn ngừa, hạn chế tác hại của lũ quét, lũ ống trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”, báo cáo kết quả thực hiện đề tài khoa học, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng bản đồ nguy cơ và các giải pháp khả thimang tính ngăn ngừa, hạn chế tác hại của lũ quét, lũ ống trên địa bàn tỉnh QuảngNgãi”
7. Đặng Văn Bào (1996), Đặc điểm địa mạo dải đồng bằng ven biển Huế - Quảng Ngãi, Luận án PTS khoa học Địa lí – Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm địa mạo dải đồng bằng ven biển Huế - QuảngNgãi
Tác giả: Đặng Văn Bào
Năm: 1996
8. Đặng Văn Bào, Vũ Văn Phái, Đào Đình Bắc, Nguyễn Hiệu (2000), "Hoạt động xói lở và bồi tụ vùng hạ lưu sông Trà Khúc”, Tuyển tập các công trình khoa học Hội nghị khoa học Địa lí- Địa chính, tr.123 – 129, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt độngxói lở và bồi tụ vùng hạ lưu sông Trà Khúc
Tác giả: Đặng Văn Bào, Vũ Văn Phái, Đào Đình Bắc, Nguyễn Hiệu
Năm: 2000
9. Lê Thạc Cán (1995), Cơ sở khoa học môi trường, Viện Đại học Mở Hà Nội, Hà Nội 10. Lại Vĩnh Cẩm (2008), Tiếp cận sinh thái cảnh quan nghiên cứu, đề xuất định hướng SDHL các dải cát ven biển miền Trung Việt Nam, Tuyển tập Hội Nghị khoa học địa lí toàn quốc lần thứ III, tr.377 – 386, NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học môi trường", Viện Đại học Mở Hà Nội, Hà Nội10. Lại Vĩnh Cẩm (2008), Tiếp cận sinh thái cảnh quan nghiên cứu, đề xuất địnhhướng SDHL các dải cát ven biển miền Trung Việt Nam," Tuyển tập Hội Nghị khoahọc địa lí toàn quốc lần thứ III, tr.377 – 386
Tác giả: Lê Thạc Cán (1995), Cơ sở khoa học môi trường, Viện Đại học Mở Hà Nội, Hà Nội 10. Lại Vĩnh Cẩm
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2008
11. Lê Trần Chấn (chủ biên) và nnk (2006), Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam, NXB Khoa học Kỹ thuât Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vậtViệt Nam
Tác giả: Lê Trần Chấn (chủ biên) và nnk
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuât
Năm: 2006
12. Nguyễn Thị Kim Chương (1998), “Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu địa lí tự nhiên tổng hợp”, Kỉ yếu Hội nghị khoa học Địa lí Trường ĐHSP Hà Nội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu địa lí tựnhiên tổng hợp”
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chương
Năm: 1998
13. Nguyễn Thị Kim Chương (2003), Địa lí tự nhiên đại cương: “Thổ nhưỡng quyển, sinh quyển, lớp vỏ cảnh quan và các quy luật địa lí của Trái đất”, NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí tự nhiên đại cương: “Thổ nhưỡngquyển, sinh quyển, lớp vỏ cảnh quan và các quy luật địa lí của Trái đất”
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chương
Nhà XB: NXB Đạihọc Sư Phạm
Năm: 2003
14. Cục thống kê tỉnh Quảng Ngãi (2011), Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2010, XNB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm2010
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Quảng Ngãi
Năm: 2011
15. Nguyễn Văn Cư, Phạm Huy Tiến (2003), Sạt lở bờ biển miền Trung Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sạt lở bờ biển miền Trung Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Cư, Phạm Huy Tiến
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2003
16. Nguyễn Văn Cư và nnk (2009), “Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên và môi trường phục vụ lập quy hoạch phát triển KT-XH tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020”, Viện Địa lí, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiênvà môi trường phục vụ lập quy hoạch phát triển KT-XH tỉnh Quảng Ngãi đến năm2020”
Tác giả: Nguyễn Văn Cư và nnk
Năm: 2009
17. Nguyễn Vi Dân, Nguyễn Cao Huần, Trương Quang Hải (2005), Cơ sở Địa lí tự nhiên, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Địa lí tựnhiên
Tác giả: Nguyễn Vi Dân, Nguyễn Cao Huần, Trương Quang Hải
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
18. Nguyễn Lập Dân và nnk (2005), Nghiên cứu cơ sở khoa học cho các giải pháp tổng thể dự báo phòng tránh lũ lụt ở miền Trung, Báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp nhà nước KC 08-12, Viện Địa lí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho các giải pháptổng thể dự báo phòng tránh lũ lụt ở miền Trung
Tác giả: Nguyễn Lập Dân và nnk
Năm: 2005
20. Đặng Văn Đội và nnk (2000), Vỏ phong hoá và trầm tích Đệ tứ Việt Nam, Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam, Bộ Công Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vỏ phong hoá và trầm tích Đệ tứ Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Đội và nnk
Năm: 2000
21. V.M. Fridland (1964), Đất và vỏ phong hóa nhiệt đới ẩm (Người dịch: Lê Huy Bá), NXB Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất và vỏ phong hóa nhiệt đới ẩm
Tác giả: V.M. Fridland
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ Thuật
Năm: 1964
22. Dương Thị Nguyên Hà (2007), Đánh giá cảnh quan các huyện ven biển tỉnh Quảng Ngãi phục vụ phát triển ngành nông – lâm – ngư nghiệp , Luận văn thạc sĩ ĐLTN, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá cảnh quan các huyện ven biển tỉnhQuảng Ngãi phục vụ phát triển ngành nông – lâm – ngư nghiệp
Tác giả: Dương Thị Nguyên Hà
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Sơ đồ cấu trúc, nội dung chi tiết, phương pháp thực hiện và kết quả luận án - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Hình 2 Sơ đồ cấu trúc, nội dung chi tiết, phương pháp thực hiện và kết quả luận án (Trang 6)
Bảng 1. Nội dung nghiên cứu và kết quả từng chương của luận án - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Bảng 1. Nội dung nghiên cứu và kết quả từng chương của luận án (Trang 7)
Bảng 1.1. So sánh các bậc đơn vị và dấu hiệu phân loại cảnh quan - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Bảng 1.1. So sánh các bậc đơn vị và dấu hiệu phân loại cảnh quan (Trang 11)
Hình 1.3:  Sơ đồ quy trình thành lập bản đồ cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Hình 1.3 Sơ đồ quy trình thành lập bản đồ cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu (Trang 36)
Hình 1.4: Sơ đồ khái quát nội dung quá trình đánh giá tổng hợp - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Hình 1.4 Sơ đồ khái quát nội dung quá trình đánh giá tổng hợp (Trang 38)
Bảng 1.3: Thang điểm và bậc trọng số của chỉ tiêu đánh giá - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Bảng 1.3 Thang điểm và bậc trọng số của chỉ tiêu đánh giá (Trang 40)
Hình 1.5: Nội dung và quy trình đánh giá mức độ thích hợp các dạng CQ đối với cây cao su ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Hình 1.5 Nội dung và quy trình đánh giá mức độ thích hợp các dạng CQ đối với cây cao su ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (Trang 42)
Bảng 2.4. Đặc trưng thủy văn một số sông chính của tỉnh Quảng Ngãi - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Bảng 2.4. Đặc trưng thủy văn một số sông chính của tỉnh Quảng Ngãi (Trang 52)
Bảng 2.6: Cơ cấu các ngành kinh tế Quảng Ngãi qua một số năm - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Bảng 2.6 Cơ cấu các ngành kinh tế Quảng Ngãi qua một số năm (Trang 65)
Bảng 2.7: Cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi qua một số năm - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Bảng 2.7 Cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi qua một số năm (Trang 65)
Là 15%. Cơ cấu ngành công nghiệp chuyển dịch phức tạp (Phụ lục 2, Bảng 15). KKT Dung Quất - đô ̣ng lực thúc đẩy phát triển KT-XH tỉnh, được quy hoạch mở rộng (đến 2010) là 45.332ha - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
15 %. Cơ cấu ngành công nghiệp chuyển dịch phức tạp (Phụ lục 2, Bảng 15). KKT Dung Quất - đô ̣ng lực thúc đẩy phát triển KT-XH tỉnh, được quy hoạch mở rộng (đến 2010) là 45.332ha (Trang 66)
Bảng 2.9: Phân hoá theo độ cao và diện tích các phụ lớp cảnh quan - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Bảng 2.9 Phân hoá theo độ cao và diện tích các phụ lớp cảnh quan (Trang 74)
Bảng 3.2: Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại CQ đối với sản xuất nông nghiệp - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.2 Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại CQ đối với sản xuất nông nghiệp (Trang 97)
Bảng 3.4: Phân hạng mức độ thích hợp từng loại CQ cho phát triển nông nghiệp - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh quảng ngãi
Bảng 3.4 Phân hạng mức độ thích hợp từng loại CQ cho phát triển nông nghiệp (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w