TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘIKhoa Quản trị kinh doanh TIỂU LUẬN Môn học PHÁP LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG VIỆC K
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
Khoa Quản trị kinh doanh
TIỂU LUẬN
Môn học PHÁP LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
1 Chu Ngọc Anh
2 Lê Vân Anh
3 Bùi Tuấn Anh
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với xu thế hội nhập kinh tế thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, đónggóp to lớn vào công cuộc phát triển đất nước Các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang từng bước hội nhập sâu rộng hơn nữa vào nền kinh tế toàn cầu
Đảm nhận ký kết hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa có hiệu quả, đạt được mục tiêu lợi nhuận là một vấn đề được tất cả các nhà xuất nhập khẩu quan tâm Tuynhiên, trong quá trình này do khoảng cách xa về không gian, sự khác biệt giữa các bên về những yếu tố như: ngôn ngữ, văn hoá, luật pháp và quan trọng nhất là yếu tốquyền lợi, nên các nhà kinh doanh thường gặp rủi ro, sự cố dẫn đến thiệt hại lớn
Vì vậy, với mong muốn phần nào giúp các nhà khi kinh doanh xuất nhập khẩutránh được những rủi ro trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc
tế hàng hóa, đảm bảo được mục đích kinh doanh là lợi nhuận, nhóm chúng tôi chọn
đề tài: "MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO CHO CÁC DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM TRONG VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA"
Tiểu luận gồm 3 chương
- Chương I: Hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa và vấn đề quản lý rủi ro trong ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa
- Chương II: Thực trạng rủi ro trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa tại các doanh nghiệp Việt Nam
- Chương III: Một số giải pháp hạn chế rủi ro cho các doanh nghiệp trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 4
CHƯƠNG I: HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA VÀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA 6
1.1 Vài nét khái quát về hợp đồng mua bán quốc tế 6
1.1.1 Khái niệm: 6
1.1.2 Nội dung của hợp đồng xuất nhập khẩu 8
1.1.3 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 9
1.1.4 Các chứng từ thường sử dụng trong việc thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu 10
1.2 Quản lý rủi ro trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa 11
1.2.1 Vai trò của quản trị rủi ro trong ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế: 11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 12
2.1 Một số rủi ro điển hình của các doanh nghiệp Việt Nam trong ký kết và thực hiện hợp đồng 12
2.1.1 Rủi ro khi xác định chủ thể giao kết hợp đồng 12
2.1.2 Rủi ro khi lựa chọn luật trong hợp đồng mua bán quốc tế 13
2.1.3 Rủi ro, tốn thất về số lượng, chất lượng hàng hóa 13
2.1.4 Rủi ro, tổn thất do sự biến động thất thường của giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới 14
2.1.5 Rủi ro, tổn thất do biến động về tỷ giá hối đoái 15
2.1.6 Rủi ro, tổn thất trong thanh toán quốc tế 15
2.1.7 Rủi ro, tổn thất trong quá trình chuyên chở hàng hoá XNK 16
2.1.8 Rủi ro, tổn thất trong khiếu nại, kiện tụng 17
Trang 52.2 Nguyên nhân gây rủi ro, tổn thất trong quá trình ký kết và thực hiện hợp
đồng xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam 17
2.2.1 Điều kiện chủ quan 18
2.2.2 Điều kiện khách quan 20
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA 21
3.1 Các giải pháp từ phía Nhà nước 21
3.1.1 Xây dựng, định hướng thực hiện chiến lược phát triển kinh doanh XNK 21 3.1.2 Đổi mới hoàn thiện chính sách quản lý và cơ chế điều hành kinh doanh XNK 22
3.1.3 Đẩy mạnh công tác dự báo, dự đoán biến động môi trường kinh doanh quốc tế 22
3.1.4 Thành lập ngân hàng XNK nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong phòng chống hạn chế rủi ro về thanh toán 23
3.1.5 Tăng cường tài trợ cho các biện pháp hạn chế rủi ro và bồi thường tổn thất trong kinh doanh XNK 24
3.2 Các giải pháp từ phía doanh nghiệp 25
3.2.1 Phòng tránh rủi ro tổn thất ngay từ khâu đám phán, ký kết hợp đồng 25 3.1.1 Phòng tránh rủi ro về mặt pháp lý 26
3.1.2 Phòng chống rủi ro trong thanh toán 27
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 6CHƯƠNG I: HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA VÀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA
1.1 Vài nét khái quát về hợp đồng mua bán quốc tế
1.1.1 Khái niệm:
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã là một cái tên quen thuộc cho giớithương nhân, các nhà nghiên cứu kinh tế và luật học Khi nghiên cứu về hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế, chúng ta có thể thấy rất nhiều tên gọi về loại hợp đồngnày như: hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa, hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế Tuy có nhiều tên gọi khác nhau nhưng Hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế có thể hiểu: là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở
kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu (Bên bán)
có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của một bên khác gọi là bên nhập khẩu (Bên mua) một tài sản nhất định, gọi là hàng hoá; bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng
Qua định nghĩa trên, có thể thấy Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợpđồng mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài Tính chất quốc tế của hợp đồng muabán hàng hoá quốc tế được hiểu không giống nhau tuỳ theo quan điểm của luật pháptừng nước Cụ thể, theo Điều 1 Phụ lục của Công ước La Haye 1964 về luật thốngnhất về mua bán hàng hóa quốc tế thì tính chất quốc tế thể hiện ở các tiêu chí như:các bên giao kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hoá hay đốitượng của hợp đồng được chuyển qua biên giới một nước, hoặc là việc trao đổi ýchí giao kết hợp đồng giữa các bên được lập ở những nước khác nhau Nếu các bêngiao kết không có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ.Yếu tố quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nướcngoài của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế cũng không đưa ra định nghĩa nào về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhưngtại Điều 1 lại nêu rõ tính chất quốc tế được xác định chỉ bởi một tiêu chuẩn duy
Trang 7nhất, đó là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại đặt ở các nước khácnhau Như vậy, cả hai Công ước đều không quan tâm đến vấn đề quốc tịch của cácbên khi xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Đối với Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được biết đến trongnhiều văn bản với các tên gọi khác nhau Trước thời điểm ban hành Luật thương
mại Việt Nam 1997, khái niệm “hợp đồng mua bán ngoại thương” được ghi nhận
trong Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK về hướng dẫn việc ký kết hợp đồng muabán ngoại thương của Bộ Thương nghiệp - nay là Bộ Công thương ban hành ngày
31/07/1991: “hợp đồng mua bán ngoại thương là hợp đồng mua bán có tính chất
quốc tế” với ba tính chất sau: thứ nhất, chủ thể của hợp đồng là những pháp nhân có
quốc tịch khác nhau; thứ hai, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển
từ nước này sang nước khác; thứ ba, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại
tệ đối với một bên hoặc cả hai bên ký kết hợp đồng Đến thời kỳ ra đời và vận hànhLuật thương mại Việt Nam 1997, thì lại xuất hiện tên gọi “hợp đồng mua bán hànghóa với thương nhân nước ngoài” (quy định tại Điều 80 LTMVN 1997): “hợp đồngmua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hóa được
ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nướcngoài” Hiện nay, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định trong điều 27
khoản 1 Luật thương mại Việt Nam 2005 là “Mua bán hàng hoá quốc tế được thực
hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu”.
Tuy có nhiều khái niệm về hợp đồng mua bán ngoại thương nhưng nhìnchung, hợp đồng này có ba đặc điểm quan trọng như sau:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng có cơ sở kinh doanh đăng kí tại hai quốc gia khác
nhau Ở đây, quốc tịch không phải là yếu tố để phân biệt, dù người mua và ngườibán có quốc tịch khác nhau nhưng nếu việc mua bán được thực hiện trên lãnh thổcủa cùng một quốc gia thì hợp đồng mua bán cũng không mang tính chất quốc tế
Thứ hai, đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ của một trong hai nước hoặc cả hai
bên
Trang 8Cuối cùng, hàng hoá - đối tượng mua bán của hợp đồng chuyển ra khỏi đất nước
người bán trong quá trình thực hiện hợp đồng
1.1.2 Nội dung của hợp đồng xuất nhập khẩu
Tùy vào thực tiễn giao dịch giữa các bên và hàng hóa mua bán theo hợp đồng
mà mỗi một hợp đồng sẽ có những nội dung cụ thể khác nhau Tuy nhiên, về cơbản, một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có kết cấu gồm ba phần: lời mở đầu,các điều khoản và điều kiện, và phần kết
Trong phần những điều trình bày, người ta ghi rõ:
- Số hợp đồng: thường được ghi kèm với tiêu đề nhằm giúp cho việc quản lý và lưutrữ hợp đồng của các chủ thể ký kết
- Ðịa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng: góp phần xác định nguồn luật điều chỉnh
và hiệu lực của hợp đồng nếu các bên không thỏa thuận trong hợp đồng
- Tên và địa chỉ của các đương sự
Phần kết của hợp đồng quy định các nội dụng như:
- Số bản hợp đồng và số lượng hợp đồng giữ lại của mỗi bên
Trang 9- Ngôn ngữ của hợp đồng: giúp xác định được hợp đồng được lập bằng ngôn ngữnào sẽ là hợp đồng gốc – là cơ sở quy định quyền và nghĩa vụ của các bên.
- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng
- Những quy định liên quan đến bổ sung, sửa đổi hợp đồng
- Chữ ký có thẩm quyền của các bên ký kết
1.1.3 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Theo điều 81 của Bộ luật Thương mại 2005 Việt Nam, hợp đồng mua bánquốc tế có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
(a) Chủ thể của hợp đồng là bên mua và bên bán phải có đủ tư cách pháp lý Vềphía Việt Nam, theo nghị định 57/1998/NÐ - CP ngày 31/7/1998, phải là doanhnghiệp đã có đăng ký kinh doanh (theo thủ tục thành lập doanh nghiệp) và đã đăng
ký mã số kinh doanh xuất nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh, thành phố
Doanh nghiệp không được phép xuất nhập khẩu những mặt hàng cấm xuất nhậpkhẩu Ðối với mặt hàng được phép nhập khẩu, xuất khẩu có điều kiện, họ phải xinđược hạn ngạch (trường hợp hàng thuộc nhà nước quản lý bằng hạn ngạch) hoặcđược giâý phép (trường hợp hàng thuộc diện nhà nước quản lý bằng giấy phép kinhdoanh XNK)
(b) Hàng hoá theo hợp đồng là hàng hoá được phép mua bán theo quy định phápluật
(c) Hợp đồng mua bán quốc tế phải có các nội dung chủ yếu mà luật pháp đã quyđịnh Nội dung của hợp đồng bao gồm những điều khoản, mà theo điều 50 của Luậtthương mại buộc phải có: tên hàng, số lượng, quy cách chất lượng, giá cả, phươngthức thanh toán và thời gian - địa điểm giao nhận hàng Ngoài ra các bên có thể thoảthuận thêm những nội dung, những điều khoản cho hợp đồng
(d) Hình thức của hợp đồng phải là văn bản Ðó có thể là bản hợp đồng (hoặc bản thoảthuận) có chữ ký của hai bên, cũng có thể là những thư từ, điện tín, điện chữ, thư điện tửbao gồm:
Chào hàng + Chấp nhận chào hàng = Hợp đồng đã giao kết
Trang 10a Chứng từ hàng hóa:
Chứng từ hàng hoá có tác dụng nói rõ đặc điểm về giá trị, chất lượng và số lượng của hànghoá Những chứng từ này do người bán xuất trình và người mua sẽ trả tiền khi nhận đượcchúng Những chứng từ chủ yếu của loại này là hóa đơn thương mại (dùng cho khâu thanhtoán), bảng kê chi tiết (tạo điều kiện thuận tiện cho việc kiểm tra hàng hóa), phiếu đónggói, giấy chứng nhận số lượng (xác nhận số lượng của hàng hóa thực giao), giấy chứngnhận phẩm chất (chứng minh phẩm chất hàng phù hợp với các điều khoản trong hợpđồng), v.v
b Chứng từ vận tải: là chứng từ do người chuyên chở cấp cho người gửi hàng
nhằm xác nhận rằng mình đã nhận hàng để chở Các chứng từ vận tải thông dụng nhất là:
Vận đơn đường biển ; Biên lai thuyền phó ; biên lai của cảng; giấy gửi hàngđường biển, v.v
Vận đơn đường sắt: khi hàng được chuyên chở bằng đường sắt;
Vận đơn đường không: khi hàng được chuyên chở bằng máy bay
c Chứng từ bảo hiểm: Là chứng từ do người bảo hiểm cấp cho người được bảo
hiểm, nhằm hợp thức hóa hợp đồng bảo hiểm và được dùng để điều tiết quan hệ giữa tổ
Trang 11chức bảo hiểm và người được bảo hiểm Trong mối quan hệ này, tổ chức bảo hiểm nhận bồi thường cho những tổn thất xảy ra vì những rủi ro mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, còn người được bảo hiểm phải nộp cho người bảo hiểm một số tiền nhất định là phí bảo hiểm Chứng từ bảo hiểm thường được dùng là đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm
d Chứng từ hải quan:
Chứng từ hải quan cho hợp đồng mua bán ngoại thương gồm tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu do chủ hàng khai báo và xuất trình cho cơ quan hải quan trước khi hàng hoặc phương tiện xuất hoặc nhập qua lãnh thổ quốc gia
1.2 Quản lý rủi ro trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa
1.2.1 Vai trò của quản trị rủi ro trong ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán
Quản trị rủi ro giúp cho các doanh nghiệp hạn chế được tối đa tranh chấp xảy
ra trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế Tránh được khó khăn, bất lợi, làm phát sinh những xung đột pháp luật với các nước khác Nếu xảy
ra tranh chấp doanh nghiệp cũng chủ động đối phó để không rơi vào thế bất lợi
Quản trị rủi ro giúp doanh nghiệp lường trước được các yếu tố rủi ro khi thựchiện hợp đồng, nhờ đó giảm tối đa thiệt hại về vật chất có thể xảy ra trong quá trình thực hiện
Quản trị rủi ro bảo đảm cho doanh nghiệp có được trạng thái an toàn, tăng
sự tự tin, tập trung cho hoạt động kinh doanh, ra quyết định đầu tư đúng đắn,
Trang 12mạnh dạn mở rộng mối quan hệ với nhiều đối tác nước ngoài để tìm kiếm cơ hội kinh doanh Trong một số trường hợp có thể biến rủi ro thành lợi thế để tìm kiếm lợi nhuận.
Một doanh nghiệp có chương trình quản trị rủi ro có hiệu quả sẽ hoạt động
ổn định, được các đối tác và các tổ chức tài trợ vốn tin cậy, giảm rủi ro tín dụng, từ đó làm giảm chi phí đi vay Khi đó các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có mối quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng gắn chặt hơn, lâu bền và rộng mở hơn
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ HÀNG HÓA TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1 Một số rủi ro điển hình của các doanh nghiệp Việt Nam trong ký kết và
thực hiện hợp đồng
2.1.1 Rủi ro khi xác định chủ thể giao kết hợp đồng
Trong thực tế khi thực hiện giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhiều khi xảy ra hiện tượng:
- Công ty mẹ là bên bán/mua đích thực (bên có và thực hiện quyền và nghĩa vụtrong hợp đồng với tư cách là bên bán/bên mua) nhưng bên ký kết hợp đồnglại là công ty con
- Bên bán/mua là pháp nhân nhưng bên đứng ra ký kết hợp đồng chỉ là đơn vịtrực thuộc của pháp nhân như chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng kinhdoanh, …
- Bên ký kết hợp đồng là một công ty nhưng bên thực hiện một phần hoặc toàn
bộ hợp đồng lại là một công ty liên kết của công ty ký kết hợp đồng
Hiện tượng này thường gây ra các hậu quả: Các bên không thiện chí có thể rũ
bỏ, đùn đẩy trách nhiệm; Hợp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu; Việc xác định tư cách đương sự khi có tranh chấp là rất khó khăn
Vi phạm về thẩm quyền ký kết hợp đồng cũng là một hiện tượng rất phổ biến Pháp luật các nước đều đưa ra nguyên tắc chung rằng người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thầm quyền ký kết hợp đồng Rất nhiều doanh nghiệp cho rằng
Trang 13giám đốc là người đại diện theo pháp luật Cách hiểu này không đúng cho mọi trường hợp Ví dụ các công ty Singapore thường có một ban giám đốc gồm rất nhiều giám đốc Vậy ai có quyền ký hợp đồng? Một hiện tượng khác, mặc dù rất dễ phát hiện nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn chủ quan bỏ qua Đó là trường hợp phó giám đốc, trưởng phòng, giám đốc kinh doanh, thậm chí nhân viên kinh doanh ký hợp đồng…nhưng không có văn bản ủy quyền hợp lệ.
“Đối tác ma” cũng là vấn đề nhiều doanh nghiệp mắc phải, ký kết hợp đồng xong xuôi, chuyển hàng/chuyển tiền rồi thì mới ngã ngửa ra là đối tác không có thật
2.1.2 Rủi ro khi lựa chọn luật trong hợp đồng mua bán quốc tế
Rủi ro xuất phát từ việc các doanh nghiệp mắc sai sót khi lựa chọn luật trong hợp đồng mua bán quốc tế Điều này có thể phát sinh các tranh chấp dẫn tới doanh nghiệp không được đảm bảo quyền lợi khi thực hiện hợp đồng Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà một bên là doanh nghiệp Việt Nam thì tập quán quốc tế sẽ chỉ có hiệu lực áp dụng nếu được các bên lựa chọn và ghi nhận rõ ràng trong hợp đồng Trong thực tiễn áp dụng tập quán thương mại quốc tế, các bên thường mắc các sai sót sau:
- Không ghi rõ tập quán áp dụng dẫn tới không biết tập quán nào được ápdụng khi thực hiện các điều khoản trong hợp đồng
- Sử dụng sai nội dung của điều kiện thương mại gây khó khăn trong việc thựchiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp
- Cho rằng tập quán quốc tế sẽ điều chỉnh toàn bộ hợp đồng, thực ra khôngphải vậy, mỗi tập quán chỉ điều chỉnh một phần hoặc một vấn đề của hợpđồng
- Sử dụng điều kiện thương mại không đúng theo phương thức chuyên chở
2.1.3 Rủi ro, tốn thất về số lượng, chất lượng hàng hóa
Số lượng và chất lượng của hàng hóa là những khoản mục cơ bản nhất trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Rủi ro về chất lượng và số lượng của hàng hóaquốc tế sảy ra khi bên giao hàng không tuân thủ chất lượng và số lượng ghi trong
Trang 14hợp đồng, hoặc khi ký kết hợp đồng không quy định rõ ràng, chặt chẽ về chất lượngcũng như số lượng, và đối tác đã lợi dụng kẽ hở đó để giao hàng không đúng quy cách gây thiệt hại cho người nhập khẩu
- Rủi ro về số lượng hàng hóa: Ngoài nguyên nhân đối tác cố tình không tuân thủ điều khoản hợp đồng thì còn có nhiều nguyên nhân dẫn đến số lượng hàng hóa
bị sai lệch so với hợp đồng Có thể điều khoản trong hợp đồng không quy định rõ ràng về dung sai, do bản chất hàng hóa bị tiêu hao trong quá trình vận chuyển hay
do không thống nhất về đơn vị sản phẩm trong khi xuất nhập khẩu hàng hóa
- Rủi ro về chất lượng hàng hóa: Thực tế những năm gần đây cho thấy doanh nghiệp Việt Nam thường gặp phải tình huống hàng nhập về có chất lượng không đúng quy cách ghi trong hợp đồng Điều này đã gây tổn thất không nhỏ cho các doanh nghiệp nhập khẩu của Viêt Nam Đây có lẽ là rủi ro thường gặp nhất trong quá trình giao thương quốc tế Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro này, trong đó việc đối tác không tuân thủ hợp đồng, giao hàng không đúng quy cách chiếm đa số Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp nhập hàng hóa với chất lượng kém mà vẫn phải ngậm đắng nuốt cay bởi trong khi ký kết hợp đồng những doanh nghiệp này đã không có những điều khoản quy định rõ ràng về chất lượng hay các trường hợp xử phạt nếu đối tác không tuân thủ hợp đồng
2.1.4 Rủi ro, tổn thất do sự biến động thất thường của giá cả hàng hóa trên thị
trường thế giới
Toàn cầu hóa kinh tế đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc nhưng cũng cho bộc lộ rõ tính bấp bênh, dễ chao đảo của hệ thống giá cả trên thị trường thế giới.Sau các sự kiện như khủng hoảng tài chính tiền tệ các nước Đông và Đông Nam châu Á; sự kiện khủng bố ở Mỹ 11/09/2001; khủng hoảng giá dầu mỏ cuối năm
2002 và đầu năm 2003 cho thấy sự ảnh hưởng mang tính dây chuyền của các sự kiện đến nền tài chính các nước hết sức to lớn Sự biến động về tài chính ở các “đầutàu” kinh tế: Mỹ, EU, Nhật đều ảnh hưởng đến tình hình giá cả hàng hóa ở thị trường khu vực và của mỗi nước
Rủi ro, tổn thất do sự biến động thất thường của giá cả hàng hóa thế giới mángtính khách quan, tuy nhiên vẫn có thể hạn chế giảm thiểu nếu doanh nghiệp có sẵn phương án phòng ngừa