Nội dung và mục đích của nhân sinh quan Phật giáo luôn đượcnhiều người quan tâm và nó cũng có tác động không nhỏ đến bản sắc văn hóa tinh thầnngười Việt Nam.. Đây cũng là lý do tôi chọn
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VItrước Công nguyên ở miền Bắc Ấn Độ Đạo Phật là một tôn giáo lớn của thế giới được
Trang 2bản của Phật giáo là triết lý nhân sinh về nỗi khổ của con người và cách tu luyện đểdiệt khổ, giải thoát khỏi vòng luân hồi Cốt lõi của triết lý đó là Tứ diệu đế bao gồmkhổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế
Cứu vớt và giải thoát con người luôn là mục đích và nội dung của nhân sinh quantriết học đạo Phật Đây cũng là lý do để đạo Phật trở thành một tôn giáo lớn và tồn tạicho đến ngày nay
Trang 3Phật giáo được truyền vào Việt Nam cách đây hơn 2000 năm và đã để lại nhiềudấu ấn văn hóa sâu sắc Nội dung và mục đích của nhân sinh quan Phật giáo luôn đượcnhiều người quan tâm và nó cũng có tác động không nhỏ đến bản sắc văn hóa tinh thầnngười Việt Nam Phật giáo hội nhập lâu đời vào nền văn hóa Việt Nam, gắn bó với xãhội Việt Nam và dân tộc Việt Nam trong mọi bước đi thăng trầm của lịch sử nhưng
Trang 4tuyệt đối không đánh mất những giá trị tâm linh siêu việt, toàn cầu, có tính vũ trụ của
nó
Mặt khác, xã hội Việt Nam, dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam khi tiếp thunhững tinh hoa của Phật giáo không những không đánh mất đi bản sắc văn hóa của đạoPhật mà còn tạo cho Phật giáo ở Việt Nam có một bản sắc văn hóa riêng và độc đáo
Trang 5Triết lý về nhân sinh quan của Phật giáo cho đến ngày nay vẫn có nhiều ngườiquan tâm nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá Trong giai đoạn đất nước đang trên đà pháttriển, Phật giáo cũng góp phần không nhỏ vào việc tạo nên một bản sắc văn hóa riêng
và độc đáo của Việt Nam Bởi vậy, xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc, đưa đất nước ngày một đi lên thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
Trang 6nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự đóng góp của Phật giáo là một vấn đề có
ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Đó là động lực thúc đẩy tôi tìm hiểu về một số lĩnh vực văn hóa tinh thần củangười Việt Nam có sự góp mặt của Phật giáo Đây cũng là lý do tôi chọn đề tài “Nhânsinh quan Phật giáo với một số lĩnh vực văn hóa tinh thần của người Việt Nam”
2 Tổng quan đề tài nghiên cứu
Trang 7Phật giáo là một đề tài khá hấp dẫn thu hút rất nhiều người nghiên cứu Ở ViệtNam đã có nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu về Phật giáo ở nhiều góc độ khácnhau Chẳng hạn như “Phật giáo với văn hóa Việt Nam” của Nguyễn Đăng Duy, “Lịch
sử Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Tài Thư, “Việt Nam Phật giáo sử luận” củaNguyễn Lang, “Lịch sử nhà Phật”, “Giáo pháp nhà Phật” của Đoàn Trung Còn, “Phật
Trang 8Ở Đại học Huế cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về Phật giáo như: Lê Cungvới “Phong Trào Phật giáo miền Nam thời kỳ 1963–1964”; Trần Cao Phong với “Phậtgiáo Huế với việc hình thành nhân cách con người Huế”; Hoàng Ngọc Vĩnh với “Nhânsinh quan Phật giáo qua góc nhìn của lịch sử triết học”, “Chùa Huế và đời sống vănhóa tinh thần con người Huế”, “Nét riêng Phật giáo Huế”, “Phật giáo Huế trong đời
Trang 9sống văn hóa xã hội Huế hiện nay”; Phạm Thị Xê với “Phật giáo Huế và vấn đề chínhtrị”…
Ngoài ra, còn có một số đề tài khóa luận của sinh viên như: “Gia đình phật tử vàảnh hưởng của nó đối với thanh niên Huế hiện nay” (Hồ Anh Cường - Đại học Khoahọc), “Phật giáo với văn hóa tinh thần Việt Nam” (Trần Xuân Dương – ĐHKH),
Trang 10“Nhân sinh quan Phật giáo và vai trò của nó trong đời sống xã hội” (Trịnh Thị Chung– Đại học Sư Phạm Huế)…
Nhìn chung, triết học Phật giáo đã được các tác giả nghiên cứu từ nhiều góc độkhác nhau, song chủ yếu đó là những công trình nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáoHuế trên phương diện triết học hoặc xã hội nói chung Trên phương diện ảnh hưởngcủa nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam cũng
Trang 11có một số tác giả nghiên cứu nhưng ít người đề cập đến khía cạnh nhân sinh quan Phậtgiáo đối với các lĩnh vực cụ thể trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam
Đề tài “Nhân sinh quan Phật giáo với một số lĩnh vực đời sống văn hóa tinh
thần người Việt Nam” là sự kế thừa một số thành tựu nghiên cứu của những người đi
trước đồng thời với thời gian và khả năng hiện có khóa luận chỉ bước đầu tìm hiểu một
Trang 12số lĩnh vực văn hóa tinh thần của người Việt Nam dưới ảnh hưởng của nhân sinh quanPhật giáo chứ chưa thể nào đi tìm hiểu sâu hơn, cụ thể hơn được.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục tiêu của khóa luận nhằm khái quát và rút ra những kết luận khoa học bướcđầu về ảnh hưởng của Phật giáo trong một số lĩnh vực thuộc đời sống văn hóa tinhthần người Việt Nam
Trang 13Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận là:
-Sơ lược về Phật giáo, sự du nhập và phát triển Phật giáo ở Việt Nam và nhữngnội dung của nhân sinh quan Phật giáo
-Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến một số lĩnh vực của đời sống vănhóa tinh thần người Việt Nam
Trang 14Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng; Đường lối, chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáocủa Đảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Luận văn cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu như khái quát hóa, phântích và tổng hợp, lịch sử và logic và một số phương pháp hỗ trợ khác để giải quyết vấn
đề đặt ra
Trang 16các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp ở Việt Nam; những người quantâm đến Phật giáo và các lĩnh vực đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam.
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được trình bày trong hai chương, bốn tiết:
Chương 1: Phật giáo và nhân sinh quan Phật giáo
Trang 171.1 Sự hình thành, phát triển của Phật giáo và quá trình du nhập, phát triển của
Phật giáo ở Việt Nam
1.2 Nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo
Chương 2: Nhân sinh quan Phật giáo đối với một số lĩnh vực đời sống văn hóa
tinh thần người Việt Nam
Trang 182.2 Sự tác động của nhân sinh quan Phật giáo với một số lĩnh vực đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam.
Trang 22B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
Trang 23PHẬT GIÁO VÀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO 1.1 Sự hình thành, phát triển của Phật giáo và quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của Phật giáo.
Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI
Trang 24Ấn Độ và Nepan bây giờ Đạo Phật ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạoBàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt Với triết lý nhân sinh sâu sắc nó
đã trở thành một trong những ngọn cờ trong phong trào đòi tự do tư tưởng và bìnhđẳng xã hội ở Ấn Độ đương thời
Đạo Phật được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và tư tưởng triết lý của Thích CaMâu Ni (Sakiyamuni) “Phật” theo tiếng Phạn gọi là Bouddha, tiếng Hán phiên âm là
Trang 25“Phật đà” Phật có nghĩa là đấng giác ngộ, sáng suốt và giác ngộ người khác (giác giảgiác tha).
Phật theo Phật giáo là bậc thánh nhân thấu suốt hết thảy mọi lẽ của tạo hóa và cóthể chỉ bảo con người giải thoát khỏi luật luân hồi sinh tử
Theo kinh điển của Phật giáo, Thích Ca Mâu Ni không phải là Đức Phật duy nhất
Trang 26Trước đây và sau này, đã, sẽ có nhiều Đức Phật khác nhau xuất hiện giác ngộ cho mọingười, nhưng hàng muôn triệu năm mới có một Đức Phật ra đời
Cũng như những nhân vật khác trong lịch sử, Thích Ca Mâu Ni với tư tưởng vàtinh thần cải cách tích cực, khuyên nhủ con người sống từ, bi, hỉ, xả, lên án chế độđẳng cấp khắc nghiệt, phê phán giáo lý Bàlamôn, nói lên tiếng nói khát vọng tự do,bình đẳng của quần chúng lao động ở Ấn Độ đương thời Cho nên ngay từ khi ra đời
Trang 27Phật giáo đã dược mọi người biết đến và các tín đồ sùng kính tô điểm thêm cho cuộcđời Đức Phật bằng những truyền thuyết bao phủ lên cái lõi có thật trong lịch sử.
Theo truyền thuyết Thích Ca Mâu Ni dịch (theo tiếng Trung Quốc tên là Tất Đạt
Đà (Siddhartha)), họ là Cù Đàm (Gautama), là Thái tử con vua Tịnh Phạn (PhạnVương có tên là Suddhodana) - một nước thuộc Bắc Ấn (Gồm phía Nam Nepan, một
Trang 28đô là thành Catỳlavệ Phật Thích Ca sinh ngày 15 tháng 04 khoảng năm 653 Tcn vàmất 483 Tcn (có sách ghi 623 – 543 Tcn).
Theo truyền thuyết, Phật có tới 547 tiền kiếp trước khi đầu thai làm con của vuaTịnh Phạn Trong những kiếp trước Đức Phật là loài vật hay những con người đềuluôn đầy lòng từ, bi, hỉ, xả, sẵn sàng hi sinh vì đồng loại Kiếp gần nhất của Đức Phật
là con voi trắng sáu ngà
Trang 29Khi sinh ra, Thái tử Tất Đạt Đà có 32 dị tướng (Tam thập nhị), 82 đặc điểm phithường (Bát thập nhị chủng hảo), trong đó có việc vừa sinh ra đã đi được bảy bước, và
đã được tiên đoán là sẽ thành Hoàng Đế trị vì thiên hạ nếu không thì cũng là đức Phậtcứu nhân độ thế
Tất Đạt Đà được vua cha cưới vợ vào năm 19 tuổi Trong 10 năm sau ngày hôn lễ
Trang 30quyền quý với sự yêu chiều của vua cha và người vợ trẻ đẹp nhưng như sự tiền định,Hoàng tử luôn nghĩ về sự khổ của sinh, bệnh, lão, tử và những phiền não của bụi trần,
ô trược Nửa đêm mồng 7 tháng 2, Hoàng tử lặng lẽ rời cung ra đi tìm chân lý Lúc ấyThái tử Tất Đạt Đà vừa tròn 29 tuổi và đã có một con trai tên là Rahula (nghĩa là bị tróibuộc bởi một sợi dây)
Trang 31Tất Đạt Đà xuất gia tu hành theo những phương pháp khổ hạnh, hành khất vềphương Nam Ông thiền định khổ hạnh trong 6 năm cùng với 5 đạo sĩ đến mức thânhình gầy yếu chỉ còn da bọc xương nhưng vẫn không đắc đạo Ông suy nghĩ: “Ta tukhổ hạnh ép xác như thế này mà không thấy đạo thì cách tu của ta chưa phải, chi bằng
ta phải theo trung đạo tức không say mê việc đời mà cũng không quá khắc khổ…”
Trang 32chỗ khác Còn lại một mình, một buổi trưa sau khi tắm rửa xong và uống một cốc sữacủa người chăn bò đưa cho, ông cảm thấy khoan khoái, tinh thần tỉnh táo hẳn lên Ôngmột mình đến ngồi dưới gốc cây Bồ đề thiền định trong 49 ngày thì quả nhiên giácngộ, thấy được căn nguyên sinh thành biến hóa của vũ trụ vạn vật, tìm ra được nguồngốc của nổi khổ và từ đó chỉ ra phương pháp diệt trừ nổi khổ cho chúng sinh bằng học
Trang 33thuyết “Nhân duyên sinh” và triết lý “Tứ diệu đế”, “Thập nhị nhân duyên”, “Bát chínhđạo”
Tất Đạt Đà đã trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni còn gọi là Đức Phật (Buddha),Đức Thế Tôn hay Như Lai Bấy giờ Ngài đúng 35 tuổi
Trang 34Sau khi đắc đạo Thích Ca Mâu Ni quyết định đi thuyết Pháp, truyền đạo củamình, giác ngộ cho chúng sinh Ông đã truyền đạo của mình trong 45 năm nữa và nhậpNiết bàn ngày 15 tháng 02 năm 543 (483 Tcn).
Từ khi ra đời cho đến nay Phật giáo đã trải qua bốn lần kết tập (Đại hội)
Kết tập lần một (gọi là Hội thánh kỳ đầu hay kết tập 500) được tổ chức sau khi
Phật tịch khoảng 100 ngày (khoảng thế kỷ V Tcn) do Đại Ca Diếp triệu tập và làm chủ
Trang 35tọa “Chư Thánh Tăng hội kỳ đầu cốt dọn thành bộ Tam Tạng kinh đề dìu dắt ChưTăng và tránh cho nhau những sự sai lầm có thể xảy ra”[3; 38] Đại hội này kéo dài 7tháng có 500 tỳ kheo tham dự Tại Đại hội này, Ananda kể lại lời Phật dạy về giáo lý,
Ưu Bà Ly kể lại lời Phật nói về giới luật tu hành, Đại Ca Diếp kể về những lời luậngiải của Phật về giáo lý và giới luật Như vậy, về nguyên tắc Tam Tạng của Phật giáo
Trang 36Kết tập lần hai (Hội thánh kỳ hai, kết tập 700) Đây là “đại hội các vị trưởng lão”
được tiến hành khoảng thế kỷ IV TCN, kéo dài 8 tháng với 700 tỳ kheo tham dự Đạihội lần này chủ yếu giải quyết những bất đồng về việc thực hành giới luật và luận giảikinh điển Đại hội này đánh dấu cho việc Phật giáo tách thành hai phái: Thượng Tọa
bộ và Đại chủng bộ
Trang 37Kết tập lần ba (Hội thánh kỳ 3) tiến hành giữa thế kỷ III Tcn, do vua A Dục
(Asoka) đứng ra triệu tập Đại hội kéodài 9 tháng với 1000 tỳ kheo tham dự Lần kếttập này Tam Tạng đã được ghi lại bằng văn bản với cả hai thứ tiếng Sankrit và Paly.Sau kết tập được sự bảo trợ của vua A Dục các tăng đoàn được thành lập và bắt đầutruyền bá đạo Phật ra nước ngoài
Trang 38Kết tập lần bốn được tiến hành dưới triều vua Ca Nhị Sắc Ca (Kaniska), năm
125-150 Scn, với 500 tỳ kheo tham dự Kết tập đã hoàn chỉnh “kinh điển” của Phật giáo vàtồn tại cho đến ngày nay Cũng từ lần kết tập này, Phật giáo chính thức chia thành haiphái: Tiểu thừa và Đại thừa
Tiểu thừa có nghĩa là cỗ xe nhỏ Phái này chủ trương ai tu thì độ lấy mình Kinhsách ban đầu chủ yếu viết bằng tiếng Paly và chủ yếu truyền đạo về phía Nam Ấn như
Trang 39Xrilanca, Lào, Thái Lan, Campuchia, Miến Điện nên còn gọi là Nam tông Tiểu thừa
có hai phái lớn là: Phái “Nhất thiết hữu bộ” tập trung nghiên cứu phạm trù thời gian,phái “Kinh bộ” xây dựng “lý thuyết về tính chốc lát” Về sau Tiểu thừa còn có nhiềuphái khác như Câu xá tông, Thành thực tông, Luật tông…
Đại thừa có nghĩa là cỗ xe lớn, phái này không chỉ tự giác ngộ cho mình mà còn
Trang 40về phía Bắc Ấn như Nêpan, Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Quốc, Nhật bản, Việt Namnên còn gọi là Bắc tông.
Đại thừa có hai phái lớn: Phái “Trung luận” (Madhymika) do sư Long Thọ lập ra
ở thế kỷ II Scn Phái này truyền tụng chủ yếu là các kinh Hoa Nghiêm; Phái “Du già”(Yogacara) do hai anh em Vô Trước (Asangha) và Thế Thân (Vasubhandha) sáng lập
ở thế kỷ IV Scn Kinh sách truyền tụng của phái này thường là Du già sư địa luận (duy
Trang 41thức luận), đại thừa luận, kim cương bát nhã luận Về sau Đại thừa còn có nhiều tôngphái khác như: Pháp tướng tông, Tam luận tông, Hoa Nghiêm tông, Thiên thai tông,Mật tông(chân ngôn tông), Thiền tông, Tịnh độ tông…
1.1.2 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam và quá trình phát triển của nó
Có nhiều ý kiến khác nhau về con đường truyền đạo Phật vào Việt Nam Nói
Trang 42Lào, Campuchia, Mã lai, Indônêxia…Trung Quốc là con đường muộn nhất nhưng đểlại ảnh hưởng lớn và sâu sắc hơn cả.
-Việt Nam tiếp thu Phật giáo Ấn Độ bằng đường biển
Đường biển (hay còn gọi là con đường gia vị) xuất phát từ các hải cảng vùng Nam
Ấn rồi qua ngã Srilanca, Indônêxia vào Việt Nam …Lợi dụng được luồng gió thổiđịnh kỳ hai lần một năm, phù hợp với hai mùa mưa nắng ở khu vực Đông Nam Á,
Trang 43những thương nhân Ấn Độ đã tới các vùng này để buôn bán bằng thuyền buồm Trongcác chuyến đi viễn dương này họ thường cung thỉnh một hay hai vị tăng để cầu nguyệncho thủy thủ đoàn và nhờ đó mà các vị tăng này đến truyền bá đạo Phật vào các dântộc ở Đông Nam Á Giao Châu, tiêu biểu bấy giờ là trung tâm Luy Lâu là tụ điểm nghỉchân giao lưu của các thương thuyền Lịch sử chính thức xác nhận năm 240 trước Tây
Trang 44Câu chuyện huyền thoại liên quan đến sự có mặt sớm nhất của Phât giáo ở nước ta
là “Truyện nhất Dạ Trạch” trong “Lĩnh Nam chích quái” (những chuyện quái dị ở xứLĩnh Nam) của Vũ Quỳnh và Kiều Phú Chuyện kể rằng vào đời Hùng Vương thứ 3,Công chúa Tiên Dung con gái Vua Hùng lấy Chử Đồng Tử Hai người lập phố xá buônbán giao thiệp với người nước ngoài Một hôm, Chử Đồng Tử theo một khách ngoạiquốc đến núi Quỳnh Viên ngoài bãi biển và tại đây Chử Đồng Tử gặp một tiểu tăng
Trang 45tên là Ngưỡng Quang (có sách ghi là Phật Quang) truyền phép cho Chử Đồng Tử ChửĐồng Tử liền về nhà giảng lại đạo Phật cho Tiên Dung và nàng giác ngộ Cả hai bỏphố phường cơ nghiệp rồi tìm thầy học đạo
Khi ấy nhiều thuyền buôn Ấn Độ cũng đã cập bến ở đảo Đồ Sơn (Hải Phòng).Hằng năm trong thời gian phải chờ gió mùa Đông Bắc để trở về Ấn Độ, họ lại lên bờ
Trang 46Một bài nghiên cứu của Ngô Đăng Lợi – nhà nghiên cứu ở Hải Phòng viết “Vùng
Đồ Sơn mà có nhà nghiên cứu khẳng định chính là thành Nêlê, nơi có bảo tháp củavua Asoka Nếu vậy thì từ thế kỷ thứ III trước Tây lịch đạo Phật đã được truyền trựctiếp vào nước ta”
Chính do Phật giáo Ấn Độ du nhập vào nước ta khá sớm (vào thế kỷ I Scn Luylâu - nay là vùng Dâu - Thuận Thành - Bắc Ninh đã là một trung tâm Phật giáo nên khi
Trang 47Trung Quốc xâm lược nước ta, Luy Lâu được chọn đặt làm sở lỵ của chính quyềntrung ương phong kiến đô hộ nước ta Và Luy Lâu nhanh chóng trở thành một trungtâm Phật giáo với những bảo tháp, tăng ni, kinh phật rất đa dạng.
Theo tư liệu về Thạch Quang Phật ở chùa Dâu thì Phật giáo buổi đầu từ Ấn Độtheo đường biển du nhập vào nước ta Khi mở rộng Phật giáo từ Ấn Độ ra các nước