Trong cuốn “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay”, các tác giả đã chỉ ra ảnh hưởng của Phật giáo đến nhân cách, đến thế giới quan và tư duy của c
Trang 1MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT LÝ NGŨ GIỚI PHẬT GIÁO
TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ XÃ HỘI HUẾ
A PHẦN MỞ BÀI 1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Phật giáo là một tôn giáo lớn của thế giới có nguồn gốc ở Ấn Độ.Phật giáo đã truyền vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu công nguyên, đếnnay đã gần 2000 năm Trong thời gian dài này Phật giáo đã để lại cho dântộc ta nhiều dấu ấn có thể thấy từ tín ngưỡng cho đến văn hoá, phong tục,tập quán từ thế giới quan đến nhân sinh quan, từ tư tưởng đến tình cảmnhiều vấn đề của văn hoá dân tộc sẽ không sáng rõ nếu không hiểu đượcPhật giáo dân tộc
Từ khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam, những tư tưởng, những triết
lý nhân văn đã ăn sâu vào văn minh, nếp sống, nếp nghĩ của người dân ViệtNam một cách tự nhiên Những chuẩn mực đạo đức của Phật giáo có tácdụng điều chỉnh hành vi, nhân cách của con người hướng con người đến vớinhững giá trị cao đẹp hơn, nhân ái hơn, gần gũi nhau hơn Đạo Phật đã thật
sự trở thành chỗ dựa văn hoá, tinh thần cho nhân dân Việt Nam
Trong hơn 300 năm, Huế một thời là thủ phủ của Đàng Trong và làkinh đô của đất nước thống nhất Huế không chỉ là đất “thần kinh” mà còn làđất “thiền kinh”, ngày nay Huế vẫn là một trong ba trung tâm Phật giáo lớncủa cả nước.Trong di sản văn hoá ở Huế, chùa Huế tồn tại như một bộ phậncấu thành của di sản văn hoá Huế, vì thế những ảnh hưởng của Phật giáo đãtác động khá rõ nét trong đời sống văn hoá xã hội của con người Huế, gópphần tạo nên tính cách Huế Cách sống bình tĩnh, dung dị sâu lắng, thuỷchung của người Huế có một phần bồi đắp từ tư tưởng Phật giáo đặc biệttrong đó có những tư tưởng quan niệm về ngũ giới của đạo Phật
Nội dung cơ bản của Phật giáo là những triết lý nhân sinh, tư tưởngnhân đạo sâu sắc về nỗi khổ của con người và cách cứu vớt, giải thoát đểdiệt khổ Phật giáo là một tôn giáo vì con người, mong muốn đem đến cuộcsống bình an hạnh phúc, hướng con người đến với chân- thiện- mỹ
Đề tài “Một số ảnh hưởng của triết lý ngũ giới Phật giáo trong đời sống văn hoá xã hội Huế” có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
trong giai đoạn xây dựng đời sống văn hoá xã hội Huế tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc, góp phần thúc đẩy cả nước tiến lên con đường công nghiệp hoá,
Trang 2hiện đại hoá đất nước với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa.
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CỦA KHÓA LUẬN:
Đạo Phật đã thực sự mang tính nhân văn cao cả, triết lý của nhà Phật
là hướng con người đến cuộc sống tốt đẹp khuyên con người nên tránhnhững đều xấu xa tội lỗi Đây chính là chủ đề được nhiều người quan tâm,nghiên cứu khai thác Đã có nhiều công trình của các cá nhân, tâp thể nghiêncứu về Phật giáo với nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau
Trong cuốn “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay”, các tác giả đã chỉ ra ảnh hưởng của Phật giáo đến
nhân cách, đến thế giới quan và tư duy của con người Việt Nam hiện nay,đồng thời chỉ ra sự khác biệt về ảnh hưởng của Phật giáo đối với Phật tử ởcác vùng khác nhau, các tầng lớp người khác nhau trên đất nước Việt Nam
“Cũng là Phật giáo nhưng con người theo Thiền tông thì chú trọng đến tínhPhật trong con người Con người theo Tịnh độ tông thì chú ý làm thiện đểđược lên chốn Niết bàn, chốn Tây phương cực lạc, còn con người theo Mậttông thì chú ý đến bùa chúa, cầu đảo, xin thẻ để đạt được ý nguyện Cũng làPhật giáo nhưng tính cách của con người Phật tử mỗi nơi cũng một khác.Chẳng hạn vùng Hà Bắc, Hải Dương thì nhẹ nhàng, thanh thoát, vùng ThừaThiên Huế thì nề nếp, chặt chẽ, vùng thành phố Hồ Chí Minh thì tự nhiên,thoải mái Cũng là Phật giáo nhưng người trí thức thì nặng nề về phần trí tuệtrong học thuyết, người làm nghề buôn bán thì nặng nề về tính thực dụng, vụlợi, mê tín [12; 228,229]
Trong bài “Người Huế và dấu ấn Phật giáo- một nét đặc thù cần chú
ý trong giáo dục đào tạo” tác giả Trần Cao Phong nói về tính hai mặt của dấu ấn Phật giáo trong nhân cách con người Huế như sau: “xét về mặt tích
cực, đó là việc thừa nhận sự biến đổi của thế giới và con người, sống có nềnếp, trong sạch, giản dị thương người, vị tha, hướng thiện, quan tâm đếnngười hoạn nạn Trong hành động thì lấy tự giác đặt lên hàng đầu, đồngthời khơi dậy ở mọi người tình thương yêu thiên nhiên, con người và đấtnước, hoằng dương đạo pháp gắn liền với vận mệnh của dân tộc và chủnghĩa xã hội Tuy nhiên, tư tưởng Phật giáo cũng đã ảnh hưởng không tốtđến việc hình thành nhân cách con người Huế với nếp sống khổ hạnh, nhiềunghi lễ thờ cúng phiền phức, niềm tin và sự chờ đợi vào một kiếp sau hãohuyền không có cơ sở khoa học, duy trì một quán tính chậm chạp, trì trệtrong nếp nghĩ và trong hành động, thiếu đi tính năng động tháo vát, táo bạo,quyết đoán, đặc biệt khi mà đất nước đã chuyển sang cơ chế kinh tế thịtrường sôi động như hiện nay Huế chậm biến đổi và vẫn còn nghèo, tiềm
Trang 3năng chưa được khơi dậy, phát huy đầy đủ mà trong đó tiềm năng quý giánhất là con người chưa đựơc phát huy ở mức độ cao nhất”[10; 42].
Trong cuốn “Phật học phổ thông” tác giả đã chỉ rõ “Ngũ giới không
đưa người mạnh tiến trên đường giải thoát, mà còn đem lại trật tự an vui,hoà bình cho gia đình, quốc gia, xã hội nữa Ngũ giới chính là giềng mối
chắc thật tạo hạnh phúc cho cá nhân và đoàn thể”[7; 71].
Trong cuốn “Phật pháp bách vấn” các tác giả bàn đến “ con người
do vô minh nên bị dục vọng sai khiến, trói buộc chúng sinh vì nhiều hammuốn nên chịu nhiều khổ lụy, suốt đời theo đuổi ảo ảnh hạnh phúc, tìm cầu
sự thỏa mãn của lòng tham không đáy và khi nhận thức sâu sắc về sự vôthường, giả hợp của thân mạng và thế giới, tỉnh mộng quay đầu, con ngườitìm về những giá trị của cuộc đời”[9; 64]
Trong đề tài “Nhân sinh quan Phật giáo Huế qua góc nhìn của lịch
sử triết học” Luận văn Thạc sỹ của Hoàng Ngọc Vĩnh đã nhận định “dù ở
đâu, ở thời điểm nào, trong hoàn cảnh nào Phật giáo cũng luôn đem tấmlòng từ bi, hướng thiện che chở, ôm ấp cho tâm hồn người Huế”[18; 6 ]
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu cấp trường của cán bộgiảng dạy và sinh viên trường Đại học khoa học Huế, nhìn chung Phật giáođược nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
Đề tài: “Một số ảnh hưởng của triết lý ngũ giới Phật giáo trong đời sống văn hoá xã hội Huế” chỉ là bước đầu tìm hiểu những điều khuyên
dạy con người để mong hướng đến cuộc sống tốt đẹp hơn trong triết họcPhật giáo chứ không phải là tất cả những gì liên quan đến Phật giáo
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA KHÓA
LUẬN:
Mục đích của khóa luận là khái quát triết lý về ngũ giới Phật giáo vàtìm hiểu ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hoá xã hội Huế hiện nay
Nhiệm vụ của khóa luận làm rõ triết lý về ngũ giới Phật giáo, xem xét
sự ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hoá xã hội Huế hiện nay; Chỉ rõnhững đóng góp và hạn chế của triết lý ngũ giới đối với đời sống văn hóa xãhội Huế hiện nay
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA KHÓA LUẬN:
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là triết lý ngũ giới Phật giáo vàảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa xã hội Huế hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
Trang 4- Về không gian: Tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Về thời gian: 1986 đến nay
- Về nội dung: Ảnh hưởng của ngũ giới Phật giáo đến đời sống vănhóa xã hội Huế
5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA KHÓA LUẬN:
Cơ sở phương pháp luận: Phép biện chứng duy vật về xã hội; “chínhsách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân của Đảng và nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp phân tích- tổng hợp,phương pháp lôgic-lịch sử, phương pháp thống kê thông qua điền dã về đờisống Phật giáo ở Thừa Thiên Huế hiện nay
6 ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN:
Khoá luận chỉ là góp phần khái quát về ngũ giới Phật giáo và nêuđược một số ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hoá xã hội Huế hiệnnay
Khoá luận nếu được thực hiện thành công sẽ là một tài liệu tham khảocho những sinh viên trong việc học tập nghiên cứu các vấn đề liên quan đếntriết học, Lý luận tôn giáo, Lịch sử các tôn giáo, Chủ nghĩa vô thần khoahọc,v.v
7 KẾT CẤU CỦA CỦA KHÓA LUẬN:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungkhóa luận được kết cấu gồm 2 chương :
Chương 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT LÝ NGŨ GIỚI PHẬT GIÁO
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT LÝ NGŨ GIỚI PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA XÃ HỘI HUẾ HIỆN NAY
Trang 5B NỘI DUNG KHÓA LUẬN Chương 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT LÝ NGŨ GIỚI PHẬT GIÁO 1.1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ PHẬT GIÁO.
1.1.1 Phật giáo tại Việt Nam.
Nói chung đạo Phật đến Việt Nam từ rất sớm và bằng nhiều conđường: Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Mã Lai, Inđônêxia, v.v Trung Quốc làcon đường muộn nhất nhưng để lại ảnh hưởng lớn và sâu sắc hơn cả
Thế kỷ I, ở Luy Lâu nước ta đã có một trung tâm Phật học rất phồnthịnh Có các thiền sư Ấn Độ nổi tiếng đã truyền đạo ở đây là Ma-ha-kỳ-vực
và Khưu-đà-la ( khoảng 168-189)
Ở thế kỷ II, Phật giáo nước ta chịu ảnh hưởng cả Phật giáo Ấn Độ lẫnPhật giáo Trung Quốc
Ở thế kỷ III, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của Phật giáo
Ấn Độ và trong thời gian này ở Việt Nam có vị thiền sư Khương Tăng Hội
đã sang Trung Quốc để truyền đạo, đây cũng chính là minh chứng cho việcPhật giáo Việt Nam phát triển mạnh hơn Phật giáo Trung Quốc giai đoạnnày
Thế kỷ IV, Phật giáo nước ta chịu ảnh hưởng chủ yếu của Phật giáoTrung Quốc
Ở thế kỷ thứ V, Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Trung Quốc ảnhhưởng qua lại lẫn nhau
Ở thế kỷ VI, phái thiền Tỳ Ni Đà Lưu Chi ( Trung Quốc 580-594)truyền vào Việt Nam Từ đây, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng chủ yếucủa Phật giáo Trung Quốc
Ở thế kỷ IX, phái thiền Vô Ngôn Thông ( Trung Quốc 580- 26) truyềnvào Việt Nam Từ Cảm Thành đến Ứng Vương (1287) được 15 đời đắc đạo
Ở thế kỷ XIII, vua Trần Nhân Tông đã kết hợp các phái thiền trên củaTrung Quốc với truyền thống Việt Nam, lập ra trường phái Trúc Lâm ở Yên
Tử (1299) Từ Trần Nhân Tông đến Pháp Loa, Huyền Quang (1314) được 3đời đắc pháp
Thế kỷ XVI, thời vua Lê Thế Tôn (1573-1599) có phái thiền TàoĐộng từ Trung Quốc truyền vào Bắc Việt Nam
Trang 6Thế kỷ XVII-XVIII, thời vua Lê Hy Tôn (1676-1705) phái thiền Lâm
Tế và Tào Động truyền vào Việt Nam
Từ 1858, Pháp xâm lược Việt Nam, đã chèn ép Phật giáo làm choPhật giáo Việt Nam suy yếu
Từ 1920, với ảnh hưởng của chấn hưng Phật giáo Trung Quốc, Phậtgiáo Việt Nam cũng bất đầu chấn hưng, các hội Phật học và hội Tăng giàNam - Trung- Bắc lần lượt ra đời (1930-1932-1934) Tổng hội Phật giáoViệt Nam ra đời 1951 Ngày 4.1.1964 “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thốngnhất” được thành lập, lãnh đạo sự hoằng pháp của Phật giáo ở miền Nam
Năm 1981 “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” ra đời thống nhất hoằngpháp trong cả nước
1.1.2 Vài nét về lịch sử Phật giáo ở Thừa Thiên Huế
1.1.2.1 Bước đầu hình thành và phát triển Phật giáo Huế
Phật giáo Huế là một bộ phận của Phật giáo dân tộc, do thế đã cónhững đóng góp của tự thân cho lịch sử Phật giáo Việt Nam Việc nghiêncứu lịch sử Phật giáo Huế trở thành một yêu cầu để đáp ứng không nhữngcho đòi hỏi tìm hiểu lịch sử Phật giáo Việt Nam, tìm hiểu lịch sử dân tộcViệt Nam, mà còn góp phần tìm hiểu rõ ràng và đầy đủ lịch sử Huế, conngười, văn hoá và lối sống Huế
Hiện vẫn còn quá ít tư liệu nói đến lịch sử Phật giáo Huế nhưng dựavào lịch sử Huế tôi xin đưa ra một vài ý kiến của mình như sau:
Năm 1069 khi Lý Thái Tông đi đánh quân Chiêm Thành trong đám tùbinh mang về, vua phát hiện ra một thiền sư giỏi nên đã cho dựng chùa KhaiQuốc tại Thăng Long và mời vị sư này khai sơn phái Thảo Đường tại ViệtNam Đây là minh chứng nói lên sự có mặt của Phật giáo Trung Quốc tạiĐàng Trong và cũng chứng minh ở Huế Phật giáo đã thâm nhập vào
Năm 1306 khi công chúa Huyền Trân được gả cho chúa Chiêm ThànhChế Mân và thu hồi hai châu Ô, Lý ở vương quốc Chămpa thành lập haichâu Thuận, Hoá của Quốc gia Đại Việt thì cũng có thể nói lúc này Đại Việt
đã có sự ảnh hưởng của văn hoá Chămpa và Phật giáo Huế rất có thể cónguồn gốc Phật giáo Ấn Độ pha lẫn các tín ngưỡng Chămpa
Qua lịch sử ta có thể thấy vào buổi đầu hừng đông của cõi Thuận Hoángười dân đã tiếp nhận tư tưởng của đạo Phật, người dân sống trong khungcảnh thanh bình của Phật giáo với đậm đà màu sắc riêng của dân tộc Trongthời kỳ này đã có hai loại chùa, chùa quan tức là hạng chùa có đựơc chính
Trang 7quyền lưu ý và chùa làng do dân lập Điều này đã nói lên được người dânHuế đã tiếp nhận Phật giáo từ rất sớm.
Thạc sỹ Hoàng Ngọc Vĩnh đã chỉ ra “Ở thời kỳ XIV, Phật giáo ở Huế
có thể là một cách bảo tồn của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Bởi khi cácchúa Nguyễn vào trấn giữ Đàng Trong, chủ trương dựa vào Phật giáo để lậpquốc, lúc này đã có các thiền sư Trung Quốc là sư phụ của thiền sư MinhChâu Hương Hải đang hoằng pháp ở đây” [18; 25] Tiến sỹ Lê Mạnh Thát
đã phát hiện vị Đại sư Thiện Huệ khai sơn chùa Hà Khê, long vị hiện cònthờ tại chùa Quảng Phước ở xã Phước Yên cũ, nay là Quảng Điền Đây cóthể là vị thiền sư của dòng thiền Trúc Lâm đầu tiên đến hoằng truyền Phậtgiáo ở Huế Như vậy Phật giáo Huế nhất định có nguồn gốc Phật giáo từĐàng Ngoài vào - phái Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử
Từ thời kỳ Hồ Quý Ly (1400) cho đến thời thuộc Minh (1407-1428)
và kéo dài cho đến hết triều Hậu Lê (1428-1600) thì tư liệu về Phật giáo rất
ít Các sử thần của ta xưa đều là những nhà Nho lỗi lạc, nhưng phần nhiềurất ít ưa Phật giáo và qua tư liệu ta có thể suy ra trong thời kỳ này Phật giáođầy rối rắm
Kể từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá (1558) đời sống của
xứ này khởi sự thay đổi dần dần Về tư tưởng, dân Thuận Hoá thời này đãsống với một triết lý sống dung hợp cả ba nguồn tư tưởng lớn: Thích,Khổng, Lão cộng với tín ngưỡng bình dân vốn có Tuy nhiên Phật giáo cóphần trội hơn, trội về mặt tín ngưỡng chứ không phải về triết thuyết và chúaNguyễn Hoàng đã yểm trợ Phật giáo để được lòng dân, đặc biệt chúa chodựng chùa Linh Mụ ở đồi Hà Khê Do đó Phật giáo trong giai đoạn này cóthể nói là khởi sắc
“Qua 9 đời chúa Nguyễn (1558-1780 thì với luỹ Trường Dục và SôngGianh làm giới tuyến (1624) Phật giáo Bắc vào Nam (Việt Nam) không liên
hệ với nhau Các chúa Nguyễn dù chống lại xu hướng đưa Nho giáo lên địa
vị độc tôn thì cũng phải đề cao Nho giáo trong công cuộc lập quốc của mình.Đồng thời đã mộ Phật giáo, dùng Phật giáo để thu phục nhân dân, góp phầncủng cố địa vị của mình và vương triều Các chúa Hiền Tông (1691-1725)Minh Vương (1725-1738) Võ Vương (1738-1765) đều thọ giới bồ tát Cácchúa khác rất quan tâm đến việc trùng tu chùa chiền và ủng hộ sự hoằngdương của Phật giáo” [18; 25-26] Và trong thời kỳ này về truyền thừa thì đã
có hai dòng Tào Động và Lâm Tế Chư tổ thì đã có hai Ngài là NguyênThiều và Liễu Quán Cho nên, đây chính là thời đại hưng thịnh và phát triểncủa Phật giáo Huế để làm cho đạo mạch Phật giáo Việt Nam tiếp nối cácdòng thiền Bắc Hà và hoằng truyền vào Nam Hà đến tận ngày nay
Trang 8Thế kỷ XVII-XVIII các thiền sư trong phái Lâm Tế, Tào Động ởTrung Hoa có xu hướng vượt biển tránh lộn xộn do xã hội gây nên, sangNam Hà hoằng hoá Phật giáo như Lục Hồ Viên Cảnh Đại Thâm ViênKhoan, Giác Phong, Từ Lâm, Khắc Huyền, Ngài Huyền Khê, NguyênThiều, Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo, Thạch Liêm đã minhchứng cho Phật giáo ở Đàng Trong và Phật giáo ở Huế chịu ảnh hưởngnhiều của Phật giáo Trung Quốc.
Thiền sư Hương Hải (1628-1715) là học trò của hai thiền sư ViênCảnh và Viên Khoan, nhưng tư tưởng của Ngài lại mang màu sắc của dântộc “Tư tưởng của Hương Hải là phá vỡ tất cả mọi tâm niệm phân biệt, coiPhật với chúng sinh có chung một thể tính Giác ngộ thì chứng nhập đượcthể tính ấy Theo Phật mà bỏ chúng sinh thì không bao giờ đạt đạo Tương
tự thế ,với Hương Hải thì mê, ngộ, nhận, cảnh, thiện, ác đều chung một thểtính, chúng luôn nương tựa vào nhau mà hiện hữu đề từ tâm mà sinh Chínhthế ông chủ trương: Không trốn chạy sự vật; Giới luật cao nhất là sự vô tâmthành Phật ngay trong giờ phút này: Trong đời sống hàng ngày không gìkhông phải là đạo, hễ tâm an thì đó là thiền Chí đạo ở gốc tâm, tâm phápgốc ở vô trụ Cái bản thể của tâm vô trụ vắng lặng tính tướng, chẳng phải có,chẳng phải không, không sinh, không diệt”[18; 26]
“Nối tiếp truyền thống Trúc Lâm ở Yên Tử, thiền phái Liễu Quán dothiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán sáng lập và phát triển ở giai đoạn này là sựdung hoà giữa Lâm Tế với Tào Động, với các yếu tố yêu thiên nhiên, yêunước vì dân tộc Ngài Liễu Quán (1667-1742) với trình độ uyên thâm và đức
độ của mình đã thường xuyên ra vào Huế - Phú Yên để hoằng pháp hoá đạo.Sau bốn lần dự lễ đại giới đàn tại Huế từ 1733-1735 năm 1740 hoà thượngtấn đàn long hoa phóng giới và trụ trì chùa Thiền Tôn - Huế Từ đây, tại Huếđến Phú Yên và sau này là cả miền Nam xuất hiện và phổ biến dòng pháithiền Liễu Quán”[18; 26-27] Như vậy ta thấy ở Huế là nơi hội tụ của nhiềuthiền phái Phật giáo của dân tộc Người dân Huế đã tiếp nhận Phật giáo nhưmột món ăn tinh thần, có gạn đục khơi trong mong muốn sống tốt đời đẹpđạo
Hơn 10 năm quân Trịnh đóng ở Thuận Hoá, tuy không phá hoại chùachiền, không thấy đụng chạm gì đến Phật giáo, nhưng tín ngưỡng thuật số,cầu đảo lẫn vào Phật giáo Huế, một số người bất chánh đi làm sư, vãi, lấycửa chùa làm nơi trú thân khi mọi bề trong đời sống đều thất vọng, làm choPhật giáo lại suy thoái Và thời Tây Sơn (1788-1802) Vua Quang Trung chủtrương mỗi Phủ chỉ để một chùa lớn, tuyển chọn tăng, người nào hiểu đạo vàchấn chỉnh ở trông chùa và truyền đạo, còn hạng mượn cửa thiền sinh sốngthì vua bắt phải hoàn tục Nhưng vua băng hà đột ngột năm 1792, nên kế
Trang 9hoạch trên chưa thực hiện được Trong giai đoạn này có thể nói Phật giáo rốirấm, những tư tưởng đạo Phật đã bị lệch lạc nhiều, nhiều chùa chiền bị hưhại cả hai dòng thiền ở Thuận Hoá là Tào Động và Lâm Tế đều mất sự kếtục, nhất là dòng thiền Liễu Quán.
“Dưới thời các vua Nguyễn, từ Gia Long đến Khải Định không thấy
có phái Phật giáo nào mới mà chỉ thấy trong công cuộc trị quốc của mình dù
đề cao Nho giáo lên địa vị độc tôn có ban một số đạo dụ ngăn cản sự pháttriển của Phật giáo, nhưng trên thực tế các vua đều mến mộ Phật giáo và đãtạo không ít điều kiện thuận lợi cho Phật giáo phát triển Thời vua Khải Định
và Bảo Đại, Phật giáo Việt Nam có sự chấn hưng bởi ảnh hưởng chấn hưngcủa Phật giáo Trung Quốc”[18; 28]
Như vậy nhìn chung, Phật giáo Huế vừa có nguồn gốc Phật giáo dântộc vừa tiếp thu Phật giáo Trung Quốc Trong giai đoạn này Phật giáo Huế
có lúc thịnh lúc suy có lúc hưng lúc vong, nhưng trên tinh thần tự cườngnhững nét văn hoá bản địa ưu tú đã tạo nên nét văn hoá riêng mang màu sắccủa xứ Huế
1.1.2.2 Phật giáo Huế qua hai cuộc kháng chiến từ 1945 đến 1975
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, 2/9/1945 Bác Hồ đọc
“Tuyên Ngôn Độc Lập” tại quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt NamDân Chủ Cộng Hoà, ách thống trị của thực dân Pháp trong hơn mấy mươinăm bị xoá bỏ hoàn toàn, chế độ phong kiến của triều Nguyễn cũng sụp đổ,đánh dấu sự sụp đổ của chế độ phong kiến tồn tại hơn ngàn năm trên đấtnước ta Song thực dân đế quốc chưa chịu buông tha miếng mồi béo bởĐông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, cho nên trong vòng 30 năm(1945-1975) kể từ ngày tuyên bố độc lập vẫn chưa có một ngày tự do vàhạnh phúc, và ngay cả nền độc lập mong manh mới được xây dựng nên cũng
bị gót dày của quân xâm lược chà đạp Pháp trở lại hòng tiếp tục nối dài giấc
mơ “khai thác thuộc địa” của chúng, nhưng sau 9 năm trời kết quả cuốicùng mà chúng thu hoạch được là một trận Điện Biên Phủ khiến chúng kinhhoàng, bạt vía Pháp đến, Pháp đi, Mỹ lại nhảy vào hòng đóng vai kẻ cứu thếcủa “thế giới tự do” Với sức mạnh về kinh tế, quân sự của mình, đế quốc
Mỹ những tưởng sẽ nhanh chóng khuất phục dân tộc Việt Nam nhỏ bé ở bênkia bờ Thái Bình Dương, nhưng với gần 200 viên tướng lĩnh dày dặn kinhnghiệm nhất, với những chiến lược, chiến thuật tinh vi, thâm độc nhất, vớinhững phương tiện kỹ thuật chiến tranh hiện đại nhất cùng với một đội línhviễn chinh đông đảo và thịu chiến, đi theo là hàng trăm tỉ đô la kết quả thuđược của đế quốc Mỹ chỉ là một hiệp định Pari để Mỹ rút đi trong “danhdự”
Trang 10Những biến động dữ dội của lịch sử ấy đã có những tác động to lớnđối với Phật giáo nói chung Phật giáo Huế nói riêng.
Hoà cùng một nhịp đập, một dòng chảy với Phật giáo cả nước, Phậtgiáo Huế đã cùng với Phật giáo toàn quốc, tạm thời ngưng các hoạt độngriêng lẽ các đoàn thể, các tổ chức khác ở địa phương cứu quốc
Từ 1945-1954 “Bên cạnh các lực lượng thiếu niên tiền phong, thanhniên tiền phong, Phụ lão cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, thì ở Huế đã có Phậtgiáo cứu quốc, Tăng Già cứu quốc, Thanh thiếu niên Phật tử cứu quốc, cáckhuôn hội ở nông thôn thì tín đồ tham gia đoàn thể nông dân cứu quốcv.v ”[1; 436] Như vậy, các tu sỹ và đồng bào Phật giáo ở Thừa Thiên Huế
đã có nhiều việc làm thiết thực nhằm trước hết là chấn hưng Phật giáo, sau
đó là tích cực ủng hộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quyết giữ gìnđộc lập, tự do của dân tộc Điều đó được chứng minh bằng việc: “Tháng 1năm 1946 thượng toạ Thích Mật Thể ứng cử làm đại biểu Quốc hội đầu tiêncủa nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, và trong năm này thượng toạ đãđược bầu làm Chủ tịch Ủy ban Phật giáo cứu quốc Thừa Thiên Huế” [1;436] Khi thực dân Pháp quay trở lại nước ta, chúng đã điên cuồng bắt bớ,tàn sát dân chúng và tăng ni, chiếm và phá nhiều chùa chiền, đốt bỏ nhiềukinh tạng hòng triệt phá tín ngưỡng và văn hoá truyền thống Việt Nam nóichung, xứ Huế nói riêng “Phật giáo Huế đã cùng nhân dân Huế khởi sự đổmáu hy sinh để bảo vệ đất nước Theo Nguyễn Lang thì “Thích Minh Tâm(tên đời là Nguyễn Quang Lý) đệ tử của Hoà thượng Quảng Nhuận, chính trịviên trung đoàn Trần Cao Vân, gục ngã tại huyện Phong Điền, tỉnh ThừaThiên Huế Thích Tánh Huyền (tên đời là Nguyễn Văn Hàm) đệ tử của thiền
sư Mật Nguyệt, làm Chủ tịch Ủy ban hành chánh Khu phố 7 của thị xã Huế
đã ngã gục sau lưng chùa Tường Vân Thích Châu Quang ( tên đời là HuỳnhVăn Sính) đệ tử thiền sư Quảng Huệ đã gục ngã trong Mặt trận bảo vệ thị xãHuế”[1; 437]
Đứng trước xu thế vận mệnh của dân tộc Phật giáo cũng bị đe doạ,những người đứng đầu Phật giáo Huế lúc bấy giờ đã thấy được sự cần thiếtphải hợp nhất Phật giáo Huế lại trong một tổ chức thống nhất Do đó từ 1945thì Sơn môn Tăng già Thừa Thiên Huế đã hình thành, đến năm 1951 thìthành lập “Hội Sơn môn Tăng già Trung Việt” Việc thành lập được “Sơnmôn Tăng già” ở Huế và Trung Việt lúc này chính là cơ duyên để tiến tớimột Giáo hội Phật giáo thống nhất
Lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Việt Nam đãđược thống nhất trong một tổ chức duy nhất Việc thống nhất Phật giáo ViệtNam đó đã được thực hiện tại chùa Từ Đàm ở Huế “Nguyên nhân của sự
Trang 11kiện trọng đại này, không do một cá nhân nào, một hội nào vận động; mà nóchính là nguyện vọng dân tộc của ba miền kết tinh dần dần lại”[1; 463]
Sau việc thống nhất Phật giáo Việt Nam tại chùa Từ Đàm Huế đểthống nhất hoạt động Phật sự thì Phật giáo Huế bắt đầu phát triển theo mộtđường hướng mới Tăng già và cư sĩ, tín đồ không còn cách biệt nhau quá xanhư thời trước Mà tất cả đã chung lo cho Phật sự
Trong giai đoạn 1945-1954 này, Phật giáo Huế do đi cùng chiều vớilịch sử của dân tộc, nên Phật giáo Huế càng có điều kiện đi sâu vào đời sốngtâm tưởng của người dân Huế, mà cụ thể là nó đã làm dấy lên phong tràoGia đình Phật Hóa Phổ hết sức sôi nổi và thu hút được nhiều thanh thiếuniên tham gia Mục đích của Gia đình Phật Hóa Phổ là “đào tạo những thiếuniên Phật tử chân chính, xây dựng hạnh phúc theo tinh thần Phật giáo Châmngôn là: Hòa thuận-Tin yêu-Vui vẻ Thực hiện 10 điều luật Phương phápgiáo dục rất thực tiễn học và hành; giữ gìn sức khỏe, biết làm việc thiện, họccách cứu thương để cứu người và học Phật pháp giản dị”[1; 459]
Đến năm 1951 thì đổi Gia đình Phật Hóa Phổ thành Gia đình Phật tửViệt Nam Châm ngôn của Gia đình Phật tử Việt Nam là: Bi – Trí – Dũng;Luật cũng còn chỉ 5 diều, phương pháp giáo dục phối hợp nhiều môn họcnhư Âm nhạc, hội họa, hoạt động thanh niên; Tất cả điều đặt căn bản trênPhật pháp, không hề có một sự lạc nhỏ nào đi ra khỏi mục đích đó
Tóm lại từ 1945-1954 Phật giáo Huế đã có nhiều đóng góp lớn trongcông cuộc kháng chiến chống Pháp, mà biểu hiện đặc sắc nhất chính là việcTổng hội Phật giáo Việt Nam đã ra mắt tại ngôi chùa Từ Đàm Huế, đánh dấu
sự trưởng thành của phong trào Phật giáo Việt Nam sau gần 100 năm suyyếu bởi sự kỳ thị tôn giáo bằng chèn ép Phật giáo của chủ nghĩa thực dânPháp
Từ 1954-1975: Phật giáo Huế đã là nơi xuất phát và là trung tâm củaphong trào Phật giáo yêu nước vì Phật pháp và hòa bình hòa hợp dân tộc củaPhật giáo Việt Nam Chính pháp nạn 1963-1964 ở thành phố Huế mà phongtrào Phật giáo vì Phật pháp và hòa bình hòa hợp dân tộc đã lan rộng khắpmiền Nam, gây tiếng vang lớn trên thế giới
Tổng thống Ngô Đình Diệm và những người thân cận ông ta nghĩrằng có thể diệt được Phật giáo bằng những việc làm càn, bất chấp lương trinhân loại Họ quên rằng Phật giáo là một phần rất quan trọng của dân tộc tamấy ngàn năm rồi
Những ngọn đuốc sáng, mà trước hết là của Hòa thượng Thích QuảngĐức, sau đó là Đại đức Thích Nguyên Hương, Đại đức Thích Thanh Tuệ, Ni
Trang 12cô Thích Nữ Diệu Quang, Thượng tọa Thích Thiện Huệ, Đại đức ThíchQuảng Hương, Đại đức Thích Thiện Mỹ và nhiều tấm gương “Tử vì đạo’’khác, là những tấm gương sáng xả thân vì Phật pháp và sự an nguy của cáctín đồ và nhân dân Đấu tranh cho đạo cũng là vì đời, và muốn vì đời thìcàng đấu tranh để bảo vệ đạo.
Chính phong trào Phật giáo này đã làm thức tỉnh lương tri của nhândân miền Nam nói riêng và thế giới nói chung, để họ nhận ra bộ mặt thật củachính quyền Ngô Đình Diệm, để rồi sự kiện ngày 01-11-1963 nổ ra như mộtkết quả tất yếu
Giành được thắng lợi cuối cùng, Phật giáo miền Nam, trong đó cóPhật giáo Huế đã được mở ra một thời đại phát triển mới, các chư Tăng, Ni
và Phật tử được thoát khỏi gông kìm của một chế độ bạo tàn để có thể chấnhưng Phật pháp
Hơn nữa, từ sau khi chế độ họ Ngô sụp đổ cho đến khi miền Namđược hoàn toàn giải phóng thì Phật giáo vẫn được coi là một đối tượng tácchiến lớn để chống lại các thế lực thù địch, là sự thể hiện nguyện vọng ý chícủa nhân dân
1.1.2.3 Phật giáo Huế từ 1975 đến nay
Ở phần này tôi tán thành với những nội dung mà Thạc sỹ HoàngNgọc Vĩnh đã đưa ra trong đề tài khoa học “Phật giáo Huế với đời sống vănhóa tinh thần con người Huế”
Từ 1975 đến nay, tuy vận động và phát triển có nhiều phức tạp,nhưng Huế vẫn là một trong ba trung tâm Phật giáo lớn nhất của cả nước.Sinh hoạt tín ngưỡng Phật giáo của cư dân Thừa Thiên Huế vẫn là nétchung tạo góp thêm để xứng đáng là “Huế - Di sản văn hóa thế giới” màUNESCO đã trao tặng
Qua hệ thống chùa chiền, tổ chức Phật tử, giáo lý, sinh hoạt Phậtgiáo, các mối quan hệ với các tín ngưỡng khác, vai trò đối với thế giới quan
và nhân sinh quan con người, trong cái chung Phật giáo Huế nổi lên với cácđặc điểm riêng là:
a Phật giáo Huế là sự dung hợp giữa Thiền tông và Tịnh độ tông nhưng nặng về Tịnh độ tông
Đây là đặc điểm nổi bật của Phật giáo Huế so với Phật giáo ở nhữngmiền quê khác trên lãnh thổ Việt Nam, nó là điểm xuất phát và căn cứ để
có thể lý giải thấu đáo những gì liên quan đến Phật giáo Huế Ở một số các
Trang 13vị xuất gia tu hành thì có thể nặng về thiền, nhưng trong dân gian, nhữngngười dân lao động bình thường thì lại nặng về tịnh.
Vị tổ sáng lập ra thiền tông là Thích Ca Mâu Ni Phật, vị tổ thứ 28của thiền tông Ấn Độ và là vị tổ sáng lập ra thiền tông Trung Quốc là Bồ
Đề Đạt Ma - Bodhidharma (Bồ đề Đạt Ma - Huệ Khả - Tăng Xán - Đạo Tín
- Hoằng Nhẫn - Huệ Năng và Thần Tú) Thiền tông Việt Nam chịu ảnhhưởng chủ yếu của thiền tông Trung Quốc nhánh Nam phái của lục tổ HuệNăng
Kinh chính của các phái này là thiền tông trứ thuật, Thiền tông ngữlục Học thuyết chính là Tham thiền để thấy Phật nơi ta, thấy được Phật nơi
ta là đắc đạo, sự giác ngộ là nơi mình chứ không ở nơi sử sách kinh điển vàlời giảng giải Thiền tông vì thế cũng gọi là Phật tâm tông: Bất lập văn tự,trực chỉ truyền tâm, kiến tính thành Phật Những người theo thiền học ăn ởtinh khiết, giữ tâm trong trẻo như nước lọc Công danh, phú quý, dục vọngkhông ngụ được trong lòng họ Kẻ theo thiền luôn giữ cái thanh bần và yêucảnh vật, ham làm việc mà lòng chẳng tưởng đến mình và sự hùng lực.Khắp trong trời đất chỗ nào chẳng phải là nhà của ta? Thân thể và linh hồnchỉ là mộng ảo mà thôi! Những nhà thiền học cũng thường là tâm hồn củamột thi sỹ Thiền tông Việt Nam nói chung, thiền tông ở Huế cho đến naynhư vậy chủ yếu là ảnh hưởng của thiền tông Lâm Tế và Tào Động
Tịnh độ tông ra đời rất sớm ở Ấn Độ, người sáng lập ra môn pháinày ở Trung Quốc vào thế kỷ VII là đại sư Viễn Công Kinh sách chính là
Vô lượng thọ kinh, Quán vô lượng thọ kinh, Adiđà kinh Người Tịnh độtông chuộng cái tâm hơn sự học Học thuyết của họ là Thành tâm mà niệmNam mô Adiđà Phật thì khi thác sẽ được về nơi cực lạc Người Tịnh độtông không phân biệt xuất gia tu hành hay tu tại gia, không phân biệt kẻ tuhành với người trần thế, không phân biệt kẻ dữ với người hiền, cũng khôngphân biệt người thông kinh sử với kẻ chẳng ăn học gì, tất cả đều bình đẳngtrước Phật Dốc niệm đến Phật thì đều được giải thoát về với Phật Ngườitheo Tịnh độ tông nhấn mạnh đức tin tuyệt đối nơi Phật Adiđà mà khôngcần phải tự cần khổ tu chứng Tín tâm là phương tiện duy nhất để giảithoát Cốt lõi của tín tâm đó thể hiện rõ ở ba lời nguyện 18, 19, 20 trong
48 lời nguyện của kinh Adiđà là Tín - Hạnh - Nguyện: Ai hoàn toàn giữtrọn tấm lòng thanh tịnh và chuyên niệm Phật thì được thác sinh về cõi cực
Trang 14lạc; Ai có nhiều công đức trước giờ lâm chung được Phật tiếp dẫn về nơicực lạc; Ai chuyên niệm danh Phật với ý nguyện thác sinh nơi quốc độ thì
sẽ được như ý
Trong đại đa số cư dân Huế, Phật tín đồ chủ yếu tu theo Tịnh độtông Dốc tâm niệm Phật, tin và hành động theo đạo đức của Đức Phật màkhông chấp nê vào giáo lý và cũng ít thấy những lễ nghi rườm rà Phật giáoHuế đã kết hợp hài hòa giữa chủ trương ăn ở tinh khiết, giữ tâm thanh tịnh,
đề cao vô ngã, yêu cảnh vật và siêng năng với công việc của Thiền tông vớichủ trương bình đẳng mọi chúng sinh trước Phật, không phân biệt giàusang, nghèo hèn, già trẻ, gái trai, hiền dữ, thông minh ngu muội, khôngcần khổ tu chỉ cần Tín - Hạnh - Nguyện nơi Đức Phật đều được giải thoátngộ về quốc độ của Tịnh độ tông
b Phật giáo Huế là sự kết hợp giữa thiền Lâm Tế và thiền Tào Động của Trung Quốc với tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam tạo nên cái riêng của Phật giáo Huế - thiền phái Liễu Quán
Khai tổ phái Lâm tế là thiền sư Nghĩa Huyền (Trung Quốc, mất năm867) Tư tưởng của thiền Lâm Tế là chúng sinh và Phật không phải là hai,môn phái này chú trọng cả vô tâm và vô sự
Thế kỷ XVII có các vị thiền sư Trung Quốc hoằng dương phái Lâm
Tế ở Đàng Trong, người có công lớn hơn cả trong sự nghiệp này tại ThừaThiên Huế là thiền sư Hoán Bích Tạ Nguyên Thiều (đời 34 dòng Lâm Tế),ông được chúa Nguyễn Phúc Trú mời từ Bình Định ra Thuận Hoá trú trì tạichùa Hà Trung và khai sơn chùa Quốc Ân Khi ông viên tịch chúa NguyễnPhúc Trú đã ban tặng thụy hiệu Hạnh Đoan Thiền sư
Minh Hoằng Tử Dung - người Trung Quốc - là thiền sư khai sơnchùa Ấn Tôn (Từ Đàm) thuộc đời 34 dòng Lâm Tế, có thể ông sang ViệtNam theo lời mời của thiền sư Hoán Bích, hiện chưa biết ông mất nămnào, ông là người rất yêu mến thiền sư Liễu Quán Liễu Quán cầu pháp vớiông năm 1702, chứng ngộ với ông năm 1708 và ông đã trao ấn chứng choLiễu Quán vào năm 1712 tại lễ toàn viện ở Quảng Nam
Khai sơn phái Tào Động ở Trung Quốc là các thiền sư Động SơnLương Giới (807 - 869) và Tào Sơn Bản Tịch (840 - 901) Tào Động có
Trang 15mặt ở Đàng Trong vào cuối thế kỷ XVII với sự có mặt hoằng pháp của cácthiền sư người Trung Quốc Hưng Liên Quả Hoằng, Thạch Liêm Đại Sán
Tào Động có năm nguyên tắc: Cái thẳng đi vào cái nghiêng hiểutheo nghĩa cái Tuyệt đối nằm trọn trong cái Tương đối, ta có thể hiểu đượccái tuyệt đối thông qua cái tương đối; Cái nghiêng đi vào cái thẳng hiểutheo nghĩa cái Tương đối chỉ có thể có nhờ cái Tuyệt đối nên cái tương đốiphải xáp mặt với cái tuyệt đối; Cái thẳng trong tự thân của nó hiểu theonghĩa cái Tuyệt đối trong tư thế tuyệt đối của nó không được nhận thức qualiên hệ bản thể - hiện tượng, mà nó là cái pháp thân, là chân như; Cáinghiêng trong tự thân của nó hiểu theo nghĩa cái Tương đối trong tư thếtương đối của nó không được nhận thức thông qua liên hệ bản thể - hiệntượng, là trạng thái người đã nhập thế giới pháp thân và trở ra tung hoànhnơi thế giới hiện tượng; Cái thẳng và cái nghiêng trong cùng một tự tínhhiểu theo nghĩa ở trạng thái này thì không còn có sự phân biệt giữa Tươngđối và Tuyệt đối, giữa bản thể và hiện tượng
Trong tư tưởng thiền của Thạch Liêm, ngoài năm nguyên tắc trêncòn là Thiền - Tịnh song tu, Nho - Phật nhất trí, Lâm - Tào tổng hợp Ôngcũng là người truyền thụ giới Sadi cho thiền sư Liễu Quán trong đại giớiđàn tại chùa Thiền Lâm vào năm 1695
Nếu nói Phật giáo Huế là Phật giáo Lâm Tế thì đây là Lâm Tế củariêng Huế Bởi ở Hội An, Thiền sư Minh Hải, Lâm Tế đời 35, là đệ tử củathiền sư Nguyên Thiều đã có một bài kệ truyền thừa khác Liễu Quán cũng
là Lâm Tế đời 35, nhưng là đệ tử của thiền sư Minh Hoằng Tử Dung tạiHuế Ở Nam kỳ trước đây và miền Nam ngày nay, phái Lâm Tế cũng cònhai bài kệ truyền thừa khác: một của Đạo Mân, Lâm Tế đời 31 người TrungQuốc; một của Trí Thắng Bích Dung, Lâm Tế đời 41
Liễu Quán (1670 - 1742) tên thật là Thiệt Diệu, quê ở Bạc Mã, ĐồngXuân, Phú Yên Ông mồ côi mẹ từ năm lên sáu, xuất gia tu hành với thiền
sư Tế Viên tại chùa Hội Tôn từ năm lên 12 và rất được thiền sư yêu mến.Năm 1690, sau một năm tang lễ của thầy, ông ra Thuận Hoá đến chùaThiên Thọ cầu đạo với thiền sư Giác Phong Năm 21 tuổi, do bố ốm nặngông quay về Phú Yên để chăm sóc cha Năm 1695, sau khi ma chay cho bốxong ông ra Huế thọ giới Sa di với thiền sư Thạch Liêm Năm 1697 ông lại
Trang 16thọ giới Tỳ kheo với thiền sư Từ Lâm (phái Tào Động tại chùa Từ Lâm Huế) Năm 1702 ông đến chùa Long Sơn - Huế cầu ấn chứng với thiền sưMinh Hoằng Tử Dung nhưng chưa phá được công án do Tử Dung nêu ra
-“Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ” (Muôn pháp về một, một về chỗ nào).Năm 1708 khi ông trở lại Long Sơn trình bày công phu của mình thì được
Tử Dung hết sức khen ngợi và đến 1712 tại lễ Toàn viện tại Quảng Namông đã được Tử Dung trao ấn chứng Ông là người đã Việt hoá Lâm Tế vàTào Động thành thiền phái Liễu Quán hoằng dương đạo pháp từ thế kỷXVIII ở Đàng Trong
Sự chấn hưng của Phật giáo ở thế kỷ XX ở miền Nam nói chung,Thừa Thiên - Huế nói riêng là dựa trên môn phái Liễu Quán Liễu Quán đãkết hợp hài hòa giữa chủ trương vô tâm, vô sự, coi chúng sinh và Phật chỉđồng nhất một (vạn pháp quy một, một quy về tâm Phật) của Lâm Tế với tưtưởng biện chứng của Tào Động Đó là chưa nói khi mở đại giới đàn tạiHuế thì Thạch Liêm Đại Sán đã chủ trương Lâm - Tào tổng hợp, Nho -Phật nhất trí Sự kết hợp đó đã lớn lên và phát triển trên nền tảng củatruyền thống yêu thiên nhiên, yêu nước, yêu quê hương, tôn kính tổ tiên,nghĩa tình sau trước vẹn tròn của người Việt mà cuộc đời và sự nghiệp củangài Liễu Quán là một minh chứng
c Phật giáo Huế là tôn giáo mang đậm sắc thái yêu thiên nhiên và yêu nước
Điều này được chứng minh không chỉ là sự hình thành phái LiễuQuán mà còn thông qua sự chấn hưng của Phật giáo ở Nam Kỳ và TrungKỳ trong những năm 20 đến 40 của thế kỷ XX, cũng như phong trào Phậtgiáo miền Nam và Huế trong những năm chống Pháp, chống Mỹ và bè lũtay sai của chúng từ 1945 đến 1975 Đặc biệt là từ 1975 đến nay, Phật giáoHuế đang chấn hưng theo đường hướng “Đạo pháp - Dân tộc - Xã hội chủnghĩa”
Nếu nhà sư Nguyễn Văn Quý bị lăng trì chỉ vì muốn giết Tự Đức một vị vua bất tài - đã để đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, thì tiêu biểucho Phật giáo Huế giai đoạn 1945 - 1975 Ban đầu (1945 - 1946) có một sốgiao động, nhưng sau đó cho đến nay với tinh thần “Đạo pháp và dân tộc”,Phật giáo cả nước nói chung, Phật giáo Huế nói riêng đã duy trì chấn hưng
Trang 17-Phật giáo theo khuynh hướng nhập thế đặt sự tồn tại của -Phật giáo tronglòng sự tồn tại của dân tộc Hệ thống giáo lý, phong cách tu hành, đạo đứccủa các tăng, ni chân chính ở Thừa Thiên Huế trong các cuộc kháng chiếnchống Pháp và chống Mỹ là nét đẹp của Phật giáo Huế trong chung tạo nênnền văn hóa tinh thần con người Huế Ngoài các ngọn lửa tự thiêu cúngdường Phật giáo và vì hoà bình hoà hợp dân tộc và độc lập dân tộc của cácđại đức Quảng Đức, Nguyên Hương, Thanh Tuệ, Tiêu Diêu, là tấmgương kiên trì đấu tranh, lãnh đạo tín đồ Phật giáo Huế và tín đồ Phật giáomiền Nam chống lại chính quyền Ngụy quyền Sài Gòn với sự kỳ thị tôngiáo của đế quốc Pháp và Mỹ tại Việt Nam của các cao tăng Thích TríQuang, Thích Thiện Minh, Thích Thiện Siêu, Thích Mật Nguyện, Thích TríThủ, Thích Đôn Hậu,
Năm 1963 chùa Từ Đàm là trụ sở cho các cấp lãnh đạo Phật giáoViệt Nam họp, ra “Tuyên cáo năm nguyện vọng bảo tồn Phật pháp” củaPhật giáo Việt Nam; Từ 1963 đến 1974 các chùa ở Huế như Từ Đàm, BáoQuốc, Diệu Đế, Từ Quang, Tường Vân luôn luôn thay nhau giữ vị trí làtrụ sở của phong trào Phật giáo Việt Nam chống chính quyền Ngô ĐìnhDiệm, Nguyễn Văn Thiệu, Đế quốc Mỹ và tổ chức Phật giáo hại nướcThích Tâm Châu, Thích Tâm Giác, Thích Quảng Liên
Xu hướng chính trị hoá Phật giáo theo hướng tiến bộ, cách mạng đãcùng làm nên đặc điểm riêng của Phật giáo Huế là yêu thiên nhiên, yêu
nước, phát triển gắn sự tồn tại của mình trong lòng sự tồn tại của dân tộc.
Ngoài các dẫn chứng tiêu biểu về tinh thần yêu nước nói trên, thì đến vớichùa Huế là đến với các kiến trúc chùa vườn Với kiểu kiến trúc này màcác chùa Huế đều là những danh lam nổi tiếng của Việt Nam
d Phật giáo Huế chủ yếu là Đại thừa và đang ngày càng bỏ dần Tam giáo đồng nguyên trong hệ thống tượng thờ
Trong tổng số trên 400 chùa tại Thừa Thiên Huế thì chỉ có chưa đầy
20 chùa là Tiểu thừa và Khất sỹ Các chùa Huế trước 1960 trong hệ thốngtượng thờ và cách bài trí thờ trong chùa là thể hiện của Nho - Phật - Lãođồng nguyên vốn là thế giới quan hỗn phức của người Việt Ngày nay, hệthống tượng thờ trong chùa chỉ còn là Phật tam thế, hệ thống thờ Nho giáo
Trang 18và Lão giáo đã được đưa ra khỏi các khuôn viên chùa, chí ít là không cònđứng chung với hệ thống các tượng Phật trên Phật điện
Cách bố trí tượng thờ ở chánh điện (thường có ba căn) của hầu hếtcác chùa ở Huế nhìn một cách khái quát như sau:
Phía tiền đường: Nơi cao nhất căn chính giữa là hệ thống tượng thờ
18 vị AlaHán hoặc Phật Tam thế; Tầng tiếp theo thờ Phật Tam Thế theothứ tự: Phía trong ở tầng cao hơn và ở giữa là Phật Thích Ca, bên trái làPhật AdiĐà, bên phải là Phật AdiLặc Phía ngoài thấp xuống một bậc ởgiữa là Phật Thích Ca, bên trái là Ca Diếp, bên phải là AnanĐa; Tầng thấpnhất trên chánh điện phía trước và ở giữa là Phật DiLạc, bên trái là ĐứcThế Chí, bên phải là Quan thế Âm
Hai căn bên tiền đường của chánh điện: Căn bên trái là bàn thờ thần
Hộ Pháp (thiện), Căn bên phải là bàn thờ thần Tiêu Điện (ác)
Phía hậu đường của chánh điện: Căn giữa là Bàn thờ tổ: Nơi cao
nhất có ảnh 18 vị AlaHán hoặc là vị tổ của mỗi môn phái Trên bàn thờtheo thứ tự là:
Thờ các vị Tổ của mỗi môn pháiThờ hương Linh, Địa tạng Thờ các vị tổ của dòng họ.Hai căn bên của hậu đường chánh điện thường là nơi nghỉ và tiếpkhách khi cần thiết của các cao tăng trú trì tại chùa
Trong điện thờ giữa sân sau chánh điện thường là tượng thờ Quan
Âm hoặc một trong các vị Bồ tát, hoặc là Đại hồng chung
e Phật giáo Huế có số lượng chùa nhiều và mật độ chùa tập trung khá cao, nhất là tại thành phố Huế
Diện tích của tỉnh Thừa Thiên - Huế là 5009,5 km2, chiếm 1,52%diện tích cả nước, nhưng số ngôi chùa tính đến tháng 12 năm 2007 là 423ngôi chùa và đã khôi phục được 296 niệm Phật đường, 225 “Gia đình Phậttử” với khoảng 53150 đoàn sinh (chưa kể 20 ngôi chùa tư gia mà giáo hộikhông quản lý và 30 niệm Phật đường hư hỏng chưa được sửa chữa trùngtu), riêng thành phố Huế với diện tích là 66,77 km2 số các ngôi chùa là 117
Có thể nói tại Huế không con đường nào, không xóm thôn nào, khôngphường xã nào, không bờ sông ngọn đồi nào lại không có ít nhất một ngôichùa
Trang 19Cổng chùa Huế thường là Tam quan cổ lầu hai tầng hai mái Kiếntrúc chùa Huế theo truyền thống là nhà vườn, kết cấu hình chữ khẩu: Phíatrước là tiền đường và chính điện trải dài và tỏa rộng với bờ mái cắt haitầng, tạo nên dáng thanh nhã Phía sau là nhà hậu ba gian hai chái nguyênxưa giữa là chính điện, hai bên là phương trượng và tăng xá được điểm tôbằng những hoành phi và câu đối có nội dung đầy thiền vị Phía sau và phía
tả của chùa là khu tháp mộ của phần lớn các Hòa thượng, Cao tăng trú trì
và tăng chúng Phía sau và phía hữu của chùa là khu sinh hoạt của các Phật
tử
Kiến trúc này cũng thấy tại chùa Sư Nữ (Cần Linh) phường CửaNam thành phố Vinh, ngôi chùa đã được Bộ Văn hóa Thể dục và Thể thaocông nhận là “Di tích Lịch sử Văn hóa” năm 1992 Nhưng cổng tam quankhông có lầu Hậu đường trong chánh điện không có nơi bài trí thờ tổ Phía
tả hậu điện là nơi ở của ni sư trú trì Thích Diệu Niệm Phía hữu hậu điệnbài trí các câu đối có nội dung tín ngưỡng tu tâm Chính giữa hậu điện thờ
bồ tát Địa Tạng và các vong linh Giữa chánh điện và hậu điện là ngũ lầuhai tầng trong có treo đại hồng chung chưa rõ đúc năm nào Ngôi nhà bagian phía tả giữa hai điện là nơi tiếp khách có thờ Bác Hồ và bài văn viếngThân mẫu của Người Căn nhà ba gian phía hữu giữa hai điện cũng là nơitiếp khách có thờ tượng Phật DiLặc Khu tháp mộ cũng phía tả chùa nhưng
ở trước chánh điện
f Phật giáo Huế có số lượng người xuất gia tu hành tuy không lớn,
nhưng nhiều tu sỹ có trình độ Phật học cao và có uy tín không chỉ trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà còn có uy tín trong quảng đại quần chúng nhân dân
Số lượng tu sỹ xuất gia ở Huế khoảng 4300 người chiếm 0,004 %dân số toàn tỉnh, tỷ lệ đó ở thành phố Huế là 0,005 % tức khoảng 1500người Tuy nhiên, các cao tăng xuất thân tại Huế hoặc tu hành từ các chùaHuế từ xưa cho đến nay luôn là các vị có uy tín và giữ các cương vị lãnhđạo quan trọng trong các tổ chức của giáo hội Phật giáo cả nước Chẳnghạn các vị Hòa thượng, Cao tăng Thích Viên Giác, Thích Viên Thành,Thích Giác Nhiên, Thích Đôn Hậu, Thích Quảng Đức, Thích Trí Thủ,
Trang 20Thích Thiện Siêu, Thích Minh Châu, Thích Chơn Thiện, Thích Đức Thanh,Thích Chơn Tế,
Các cao tăng trong “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” trong nước vànước ngoài số đông đã trưởng thành từ Huế, trước đây cũng như hiện nay
có ảnh hưởng không nhỏ đến tăng, ni, tín đồ Phật giáo cả nước như các caotăng Thích Tịnh Khiết, Thích Giác Nhiên, Thích Trí Thủ, Thích Đôn Hậu,Thích Mật Hiển, Thích Thiện Siêu, Thích Trí Quang, sư bà Diệu Hương,v.v
Thời Tự Đức (1847 - 1883), ở Huế đã có chùa công, chùa tư, lợi íchcủa các cao tăng ở các chùa khác nhau bắt đầu có sự phân biệt, đã xuất hiện
tệ các sư cầu cạnh các quan để nhờ bộ lễ cấp sắc tứ cho chùa, cấp bằngchức tăng cang, trụ trì, tự trưởng Dưới thời Pháp thuộc, thời Ngô ĐìnhDiệm, thời Nguyễn Văn Thiệu Phật giáo Miền Nam bị chính quyền o ép vàthao túng một số tín đồ Phật tử kể cả tăng, ni nhằm chống phá Phật giáo.Tuy nhiên, những cao tăng chân tu của Phật giáo Huế hoặc xuất thân tuhành trưởng thành từ Huế đã cùng Phật giáo miền Nam, Phật giáo cả nướchoằng dương Phật pháp, kiên định sự tồn tại của mình trong lòng nhân dân,trong lòng dân tộc, thắng kẻ núp bóng cửa chùa làm đục đạo hạnh của bọnThích Tâm Châu, Thích Tâm Giác v.v
Ngày nay các cao tăng, tín đồ Phật giáo Huế đang giữ tâm và thântrong sạch để phá tan lưới của ác quỷ mặc áo cà sa, để nhân dân Huế, nhândân cả nước không phải chứng kiến các sự kiện tương tự sự kiện ngày24/5/1993, sự kiện tháng 10/1994, tháng 6 năm 2001 taị Huế
j Phật giáo Huế có lượng tín đồ chiếm một bộ phận khá lớn trong dân cư Thừa Thiên - Huế
Nếu tháng 12 năm 1990 ở Thừa Thiên - Huế có 191.270 Phật tử quy
y, 96 niệm phật đường thì tháng 5 năm 1994 đã có 191.873 Phật tử quy y,
229 niệm phật đường và con số đó ở tháng 12 năm 1997 là 200.000 phật tửvới 296 niệm phật đường Dân số toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế tính đến
2001 là 1073083 người, thì đã có tới 215000 người có quy y Phật, chiếm20% dân số toàn tỉnh, riêng thành phố Huế có số dân là trên 289000 người
đã có tới 89500 người có quy y Phật chiếm khoảng 31 % dân số Tuynhiên, nếu chỉ nêu những con số này là không thật chính xác, bởi Thừa
Trang 21Thiên Huế nếu tính cả những người có tín ngưỡng Phật giáo thì con số đóphải lên đến khoảng 70 % - 80 % dân số toàn tỉnh
Có thể nói hầu hết các gia đình cư dân gốc Huế hoặc đã từng sinhsống tại Huế từ trên 30 năm về trước đến nay trong không gian thờ tự hoặctrong cung cách sinh hoạt, lối sống hàng ngày đều ít nhiều mang dáng dấpvăn hóa đạo Phật Nhà nghiên cứu Huế Trần Đại Vinh đã nhận xét: Nếunhư Phật giáo có vai trò và chức năng tương đối rõ trong quan niệm trịnước của tầng lớp quý tộc, phong kiến thì mặt khác Phật giáo lại bàng bạc,lưu thông trong huyết mạch của đời sống tinh thần xã hội quần chúng Tưtưởng Phật giáo thủy chung vẫn chảy trong mạch sống của dân tộc Xácđịnh sự hiện hữu của Phật giáo qua số lượng Phật tử có pháp danh, có bànthờ Phật, có đến chùa, có bổn sư, đó là sự xác định duy hiện tượng Quầnchúng Huế có số lượng lớn thấm nhuần những nguyên tắc từ bi, hỷ xả,nghiệp duyên, nhân quả, vị tha như là tôn chỉ và đạo lý làm người Trong tâm thức tín đồ Phật giáo Huế, ngôi chùa là biểu hiện của đạo từ bi,
hỷ xả Dù là những phật tử đã làm lễ quy y, thọ giới hay chỉ là những lươngdân bình thường, niềm tín mộ đạo Phật vẫn có trong tiềm thức Đức Phậttuy không ra uy giáng phúc như các vị thần linh, nhưng lại trở thành nơinương tựa, tin cậy của con người đau khổ
Người đã hay chưa từng đến chùa chiêm bái, từ trong sâu thẳm củatâm hồn vẫn có một niềm tín mộ đặc biệt về đạo từ bi
h Phật giáo Huế phát huy quan niệm truyền thống “Phật tại tâm”, phát triển ngày càng có khuynh hướng nhập thế
Phật giáo Huế ngày càng có khuynh hướng nhập thế tham gia tíchcực các hoạt động của đời sống xã hội, coi niết bàn không chỉ là thế giớibên kia mà niết bàn có ngay trong thế giới hiện thực nếu trong mỗi người ai
ai cũng khởi tâm Phật Trong hành đạo nhân dân Thừa Thiên Huế tụngkinh Adiđà và học tu tâm là phổ biến Nhà nghiên cứu Huế Trần Đại Vinh
đã nhận xét thật đúng rằng: “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong lịch sử Ấn
Độ mà dân gian ít người biết đến, bỗng trở thành thân thuộc, gần gũi quahình tượng Phật Tam Thế, Phật A Di Đà, Phật Bà Quan Âm hay Bồ tát ĐịaTạng được thờ cúng trong các chùa
Trang 22Triết lý tự lực của Đức Phật ít người thấu đáo, nhưng người ngườiđều tin tưởng vào quả phúc nếu tạo nhân tốt, về một sức mạnh tầm thanhcứu khổ, cứu nạn và tạo mọi điều thiện để bồi đắp cho mơ ước được tiếpdẫn về cõi tịnh thổ, về thế giới Tây phương cực lạc, nơi mà mọi nỗi khổ sẽđược trút sạch đằng sau đời sống trần thế nầy.
Tuy nhiên, dù có lòng sùng kính Đạo Phật như thế nào, hầu hết tín
đồ Huế vẫn không rơi vào thái độ thoát ly trần thế Tuy chẳng mấy ai biếtđến lời dạy của một vị tổ “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”nhưng quần chúng vẫn sống gắn bó với đời Người ta tín mộ đạo Phật,trước hết là để sống đẹp, sống tốt hơn ở cõi đời nầy Có thể thấp thoángđây đó những niềm hướng vọng về một kiếp sau, nhưng cuộc sống trần thếvẫn là một thực tế mà con người vừa thử thách vừa điều chỉnh để tiếp cậnvới những niềm an lạc như mơ ước
g Phật giáo Huế là tín ngưỡng truyền thống tiêu biểu của cư dân Thừa Thiên - Huế
Trong mỗi ngôi làng nông nghiệp Việt Nam nói chung, ở Thừa ThiênHuế nói riêng luôn gắn liền với những dáng nét thân quen là đình, chùa,
am, miếu Đó là những cơ sở thờ tự cụ thể hóa những tư tưởng, tình cảm đãchi phối đời sống văn hóa xã hội của cư dân Đình làng thường là ngôi nhàchung cố kết mọi thành viên của một cộng đồng làng, nhằm duy trì phongtục, lề thói và là biểu hiện sức mạnh của một cộng đồng làng Am, miếuxưa nay ở đâu cũng là nơi ngự trị của những hồn ma, là uy vọng của thầnlinh Nhưng những ngôi chùa lại là điều quen thuộc và gần gũi trong tâmthức con người Đặc biệt ở Thừa Thiên Huế, những ngôi chùa làng vànhững ngôi chùa khuôn hội đều tuân thủ thần điện Phật - Thánh (trước thờPhật, sau thờ tổ tiên) nó càng trị lên gần gũi và thân thuộc với cư dân ThừaThiên - Huế
Ngoài những am mà hầu như gia đình cư dân bình dân Thừa ThiênHuế nào cũng có, một số điện đồng thờ Thánh Mẫu Thiên YANA và điệnHòn Chén, đến Thừa Thiên Huế dễ nhận thấy Phật giáo không chỉ có mặttrong cuộc sống đời thường đem lại cái tâm tĩnh và thanh tịnh cho conngười Huế, mà Phật giáo là điều không thể thiếu ở nhiều lễ tang của cư dânHuế Người Huế, đặc biệt là nhân dân lao động không là cán bộ công chức
Trang 23vẫn giữ nếp tụng kinh Sám hối: kinh Hoàng Sám, Thuỷ Hoàng Sám, LươngHoàng Sám trong các đám tang, đám cầu siêu Ngay trong sinh hoạt tínngưỡng tại các am, điện thì sự dung hợp của Phật giáo với các tín ngưỡngkhác là ở chì: câu mở đầu cho mọi lời cầu nguyện trước hệ thống thần linhngoài Phật vẫn thường là “Nam Mô A Di Đà Phật” Trong các kinh sám hốinhư Thụ sám, Lương hoàng sám, cầu siêu, A Di Đà, Diệu pháp Liên hoakinh Phẩm Phổ môn, Vu Lan, Đại báo phụ mẫu ân trọng, Địa tạng nóiriêng, Pháp môn Phật giáo tịnh độ nói chung Đức Phật bà Bồ Tát đã trởthành những thần linh siêu nhiên đầy quyền năng có thể thông cảm lỗi khổcủa con người, có thể ra tay chuyển hoá số kiếp những vong hồn đang bịđoạ đày giam hãm ở địa ngục của cõi âm, kể cả cứu vớt những người đangsống khổ đau trong những cảnh ngộ bức bách của đời thường
Trong sự vận dụng linh hoạt của cung văn diễn xướng trong tínngưỡng thờ Mẫu và chư vị, chùa Huế hiện diện một cách tự nhiên trong lời
ca chèo đò của cô đồng Và trong văn cung thỉnh tứ phủ Công đồng của tínngưỡng này cũng đã hết lời ca ngợi và long trọng rước mời Đức Phật bà BồTát Quan Âm
Ở Thừa Thiên Huế sự hiện diện của những ngôi chùa, tiếng chuôngchùa như là một sự nhắc nhở con người cần sống thiện hơn, dịu dàng hơn,bền chặt và gắn bó thêm với cộng đồng, với quê hương Cổng Tam quan cổlầu hai tầng đồ sộ của chùa Huế không nhiều và kiến trúc nhà vườn củachùa Huế với những lối đi phụ thường ngày bình dị xuyên qua cây lá thậtgần gũi thân quen với bất cứ ngôi nhà vườn nào của cư dân Thừa ThiênHuế
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU VỀ TRIẾT LÝ NGŨ GIỚI (NĂM GIỚI) PHẬT GIÁO.
1.2.1 Triết lý về ngũ giới của Phật giáo
1.2.1.1 Khái niệm giới luật
Giới học: Giới tiếng Phạn là SiLa, phiên âm thành Thi La Trung Hoadịch là Thanh Lương mát mẻ Nếu giữ gìn các giới thì bản thân sẽ ngăn ngừađược ba nghiệp bất thiện của thân, khẩu, ý
Giới còn gọi là Ba-la-đề-mộc-xoa phiên âm từ tiếng Phạn Pàtimokha
có nghĩa là hướng đến Nghĩa bóng là con người cần nương về nội tâm tu
Trang 24hành tìm ra con đường giải thoát Giải thoát có hai nghĩa: Biệt giải thoát vàBiệt biệt giải thoát
Luật theo tiếng Phạn là Vinàya phiên âm là Tỳ Nại Da Trung Hoadịch là điều phục, có hai nghĩa : nghĩa đen là “khử” là “chân”, nghĩa bóng làloại bỏ bao nhiêu các việc xấu quấy để giữ lại cho cái chơn, cho nên gọi làhàng phục tâm Chấm dứt tâm vọng động, đừng cho tâm phát khởi, nên gọi
là chân tâm
Luật cũng dịch là Thiện Trị vì bản thân con người khéo chế ngự cáchạnh bất thiện của mình, còn điều phục hết thảy bất thiện hạnh cho chúngsanh Như vậy Giới luật còn nghĩa rộng là hòa hợp chúng, sống trong đoànthể thanh tịnh tăng luôn biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau Cũng là nền tảngcủa những điều lành, tránh xa nghiệp xấu ác của thân khẩu ý, đoạn trừ phiềnnão của tham, sân, si Nhờ Giới học mà con người tu hành đạt đến cõi NiếtBàn
Giới Luật: Có nhiều tên gọi khác nhau dựa vào công dụng của nó,nhưng nghĩa chính của Giới Luật là phân định phán đoán của các tội khinh,trọng, khai, giá, trì phạm để ngăn ngừa những tội lỗi của thân tâm Bởi thếmới nói Giới luật của đức Phật chế ra chỉ là “Tùy phạm tùy kiết” Nghĩa là
có người gian gốc độ khác nhau mà hành trì Hơn nữa, ranh giới giữa người
vi phạm và người tuân thủ pháp luật cách nhau chỉ một niệm đúng sai, vậycần phải có chuẩn mực để phân định rõ ràng Cũng thế, trong đoàn thể tuhành Phật giáo cũng cần phải sử dụng đến Giới luật để phân minh, khinh,trọng
Trong khế Kinh, đức Phật dạy: “Dục đắc lợi tha, tiện tu tự lợi” nghĩa
là muốn làm cho người khác lợi lạc thì chính mình trước nhất phải lợi lạc.Cho nên, Tổ Quy Sơn dạy: “Phù xuất gia giả phát túc siêu phương, tâm hình
dị tục thiệu long Thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo Tứ ân, bạt tếTam hữu …”
Qua đó ta thấy, một người xuất gia đâu phải chuyện tầm thường, màmang trong mình một trọng trách nặng nề, là khuôn mẫu của nhơn thiên, nếukhông lấy Giới luật làm trang nghiêm thì có xứng đáng là một vị xuất gia tuhành và là những người đã mộ đạo không
Trang 25Giới đem lại sự an vui hạnh phúc cho mình và cho người, điều hòađược sinh hoạt tập thể của Tăng già, tạo niềm tin cho kẻ khác, đem lại lợi ích
an lạc giải thoát cho tự thân người hành trì Giới luật Vì thế, đề cập đến lợiích của Giới, đức Phật cho rằng : có 5 điều lợi ích cho những ai giữ Giới vàsống đúng theo Giới luật ấy là:
Những người giữ giới sống theo Giới luật sẽ có tiền của, tài sản rấtnhiều vì sống không phóng dật
Người giữ giới sống theo Giới luật được tiếng tốt đồn xa
Người giữ giới sống theo Giới luật, khi đi vào các hội chúng nàongười ấy đi vào với tâm không sợ hãi, không bối rối
Người giữ giới sống theo Giới luật, sau khi chết tâm hồn vị ấy khôngrối loạn
Người giữ giới sống theo Giới luật, sau khi thân hoại mạng chung sẽsanh vào thiện thú Thiên giới
Giới luật của Phật chính là phương tiện để cho mỗi cá nhân tu tập đạtđược lợi ích an lạc Giới luật cũng là một cái thước đo tiêu chuẩn về mặthình thức của một con người, về sự tiến bộ của tâm linh của hành giả tu tậpgiáo lý giải thoát Mọi lý luận đều không có giá trị đối với người phạm giới,
và mọi thành quả tốt đẹp sẽ đến với những ai thanh tịnh được Giới luật làmột quy luật tất yếu
Dựa vào tình hình tu hạnh khác nhau của tín đồ Tăng (Tỳ Kheo, TỳKheo Ni, Sa Di, Sa Di Ni), tục (nam cư sĩ, nữ cư sĩ) mà đức Phật đã chế định
ra 5 giới, 8 giới, 10 giới, cụ túc giới…Do tính hạn chế của đề tài nên tôi chỉxin điểm qua 5 giới ( Ngũ giới)
1.2.1.2 Khái niệm ngũ giới
Ngũ giới là năm điều ngăn cấm mà Phật giáo đã chế ra để ngăn cấmnhững tưởng niệm ác nói năng chẳng lành, hành động bất chính Năm điềunày y cứ trên tâm từ bi bình đẳng trên phương diện dứt trừ tội lỗi cá nhân vàđem lại trật tự an vui cho xã hội mà thành lập Đức Phật không bắt buộc conngười phải triệt để tuân theo và không hăm doạ nếu con người không tuântheo Sự giữ giới hay không giữ giới hoàn toàn là do con người tự nguyện.Đạo Phật khác với các tôn giáo khác chính là ở điểm này Năm giới là năm
Trang 26thành trì ngăn chặn con người ta đừng đi vào đường ác, là hàng rào cản chocon người khỏi rơi vào vực sâu tội lỗi.
Để hiểu rõ tường tận tôi xin lần lượt phân tích từng giới một:
1.2.1.2.1 Không được giết hại.
Không được giết hại bao gồm không giết hại từ con người đến súc vậtlớn như voi, ngựa, trâu, bò v.v Cho đến các loài nhỏ bé như côn trùng, sâu
bọ, kiến v.v Không những không giết hại mà còn không làm tổn thươngđau đớn con người và các loài
Sự giữ giới không được giết hại nhằm mục đích tôn trọng sự côngbằng, tôn trọng Phật tánh bình đẳng, nuôi dưỡng lòng từ bi, tránh nhân quảbáo ứng báo thù
+ Tôn trọng sự công bằng là:
Con người chúng ta ai cũng đều coi sinh mạng mình là quý, là mộtcủa báu tuyệt đối không được ai đụng vào, nếu ai mưu hại là mình chống trảtriệt để để bảo vệ sanh mạng Như vậy mình đã biết quý trọng thân mạngmình tại sao lại muốn chà đạp thân mạng người Suy rộng ra, các loài vậtcũng vậy nó cũng biết quý trọng mạng chúng Như khi một con bò hay conheo sắp bị đập đầu, thọc huyết hay những con vật nhỏ bé hơn khi đứng giữa
sự sống và cái chết, ta thấy sự phản kháng mãnh liệt sự đau thương cùng cựccủa chúng, bằng những tiếng kêu gào, những cái giẫy giụa, thoát chết Theo
lẽ công bằng điều ta không muốn ai làm cho ta thì cũng đừng làm cho ngườikhác hay loài khác Vì đã là một sanh mạng thì tất cả mọi người đều nhưnhau nên đức Phật dạy rằng:
“Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng sợ sự chết Vậy nên lấy lòngmình suy lòng người, chớ giết, chớ bảo giết”[7; 74]
+ Tôn trọng Phật tánh bình đẳng
Mỗi loài sinh ra tuy thân hình có khác nhau nhưng cấu trúc cơ thể vẫnhoàn toàn giống nhau và vẫn đồng một Phật tánh Cũng như con người, convật đau nó cũng chảy nước mắt, nó cũng quằn quại, vì vậy không thể chorằng Phật tánh ở người có giá trị hơn ở vật, ở giai cấp này, màu da này cógiá trị hơn ở giai cấp kia, màu da kia Đứng trước đức Phật mọi loài đều cóPhật tánh ngang nhau
+ Nuôi dưỡng lòng từ bi
Trang 27Phật giáo đi sâu vào lòng người vì người ta tìm thấy ở nó lòng từ bi,bác ai “Đức Phật xem mọi loài như con, nên Ngài không đồng ý cho đệ tửNgài sát hại sanh vật, bất cứ trong trường hợp nào Bởi vì đem tâm giết hạisanh mạng là lòng độc ác đã cực thịnh, tâm từ bi bị bóp chết Nhẫn tâm vô
cớ giết một con vật, tính bạo ác không kém giết một con người Nhẫn tâmlàm cho kẻ khác hay vật khác phải giẫy giụa, rên siết, quằn quại trong máuđào, trong lệ nóng trước khi trút hơi thở cuối cùng, là tự giết lòng từ bi củamình, là bóp chết cái mầm thương yêu rất quý báu trong tâm hồn chúng ta.Như thế khó mà tu hành để thành chánh quả được” [7; 74] Vì vậy đức Phậtluôn khuyên con người nên tu dưỡng lòng từ bi của mình để đem lại cuộcsống yên bình, thanh thản Phải biết yêu thương muôn loài như con củamình
+ Tránh nhân quả báo ứng oán thù
Khi ta đem lòng oán hận làm hại hay giết hại một con người hay mộtcon vật thì sự oán giận căm ghét của họ tràn trề khó dập tắt được Trong khi
họ bị yếu thế, yếu sức nên bị ta giết hại, họ ôm lòng căm hận chờ gặp thời cơbáo thù, hay con cái, thân nhân họ sẽ báo thù lại Như thế ,cứ oán trả oán,gieo sự hung ác vào tâm hồn một ngày một lớn mạnh, làm cho con người takhó thoát được vòng đau khổ gây ra tội lỗi Phật dạy: “Người thường sanhtâm sát hại, càng tăng trưởng nghiệp khổ, mãi xoay vần trong sanh tử, không
có ngày ra khỏi”[7; 75]
Vì những lý do trên mà đức Phật đã chế ra giới không được giết hại đểmong đem lại cuộc sống hạnh phúc cho mọi người và một con người khôngtàn nhẫn sát nhân, hại vật không độc ác thì trong lòng sẽ cảm thấy nhẹ nhàngkhông lo lắng, không bức rứt, hối hận tâm hồn được thư thái, giấc ngủ được
an lành nét mặt được hiền hoà trong sáng
Nếu như tất cả nhân loại trên thế giới này đều giữ đúng giới thứ nhấtcủa Phật dạy thì con người sẽ sống với nhau bình đẳng công bằng hơn, xãhội sẽ phát triển hơn giúp nhau cùng tiến bộ, và trên thế giới sẽ không còn
có chiến tranh nữa, một thế giới hoà bình
Nhưng con người còn phải ăn mặn, còn phải làm việc nọ việc kia đểmưu sinh để tồn tại Vì vậy khó tránh khỏi phạm giới, ở đây không bắt buộccon người là phải triệt để giữ giới Chúng ta nên biết đúng sai, không nên để
Trang 28cho ác ý sanh khởi và nên tránh sự huân tập trong hoàn cảnh giết hại Nghĩa
là giết một con vật lớn mà vì vô ý hay vì tự vệ, thì sai quả của nó còn nhẹhơn là giết một con chuồn chuồn với cái ác ý muốn giết cho vui tay và nêntránh sự huân tập trong hoàn cảnh giết hại, đó là các bậc cha mẹ không nên
để cho con xem những cảnh giết hại, không cho chúng bắt những sinh vậtnhỏ bé để chơi, để giết Vì như thế sẽ huân tập cho tâm thức chúng chứng tửgiết hại Phải giữ giới để giữ cho tâm thanh tịnh, trong sáng
1.2.1.2.2 Không được trộm cướp.
Trộm cướp là cố lấy những vật thuộc quyền sở hữu của người khác
mà không có sự ưng thuận hay cưỡng ép người ta ưng thuận bằng võ lực hayquyền hành Trộm cướp có nhiều hình thức: “Ỷ mạnh bè đảng giựt ngangcủa người là ăn cướp Cậy thế ỷ quyền làm tiền kẻ yếu là ăn cướp, bắt chẹtngười ta trong lúc túng thiếu để cho vay nặng lời, cầm bán với giá rẻ mạt là
ăn cướp, tích trữ đầu cơ để bán giá chợ đen là ăn cướp Dùng mưu mẹo rìnhrập, lén lút lấy của người là ăn trộm, cân non, đong thiếu, trộn xâu, lậu thuế,được của người ta mà không tìm cách trả lại cũng là ăn trộm Có thể nói tómmột câu là: Bất cứ hình thức nào, do lòng gian tham lấy của người bất chínhđều là trộm cướp cả”[7; 77- 78]
Không rộm cướp có nghĩa là không cho thì không lấy từ nhà cửa,ruộng vườn, tiền bạc cho đến các vật tư hữu nhỏ bé
Sự giữ giới không được trộm cướp nhằm mục đích tôn trọng sự côngbằng, tôn trọng sự bình đẳng, nuôi dưỡng lòng từ bi, tránh nghiệp báo oánthù
+ Tôn trọng sự công bằng:
Của cải vật chất không thể tự nhiên mà sinh ra được mà phải trải quaquá trình lao động vất vả Con người chúng ta không ai muốn công sức củacải của mình bị người khác chăm chăm cướp đoạt vì vậy tại sao mình lại đicướp đoạt của người khác Quyền sở hữu cá nhân của ta, ta biết tôn trọng, thìtại sao ta lạ chà đạp lên quyền sở hữu của người khác Một xã hội mà thiếucông bằng thì không thể tồn tại lâu dài được Vì vậy đức Phật khuyên conngười hãy biết tôn trọng sự công bằng với nhau
+ Tôn trọng sự bình đẳng:
Trang 29Mỗi con người đều có Phật tánh như nhau, vì vậy không thể vì niềmvui sướng của mình mà làm người khác đau khổ được Không phải vì hạnhphúc của mình mà chà đạp, cướp đoạt của người khác Mọi người đều bìnhđẳng như nhau đều có thể đạt được cuộc sống sung sướng bằng chính đôi taylao động của mình.
+ Nuôi dưỡng lòng từ bi:
Như đã nói ở trên của cải vật chất không phải tự nhiên sinh ra mà phảitrải qua quá trình lao động vất vả Đối với nhiều người đó là sự nổ lực cốgắng rất khó khăn Một khi đánh mất đi một vật gì đó, thì ta cảm thấy đaubuồn chán nản, ăn không ngon, ngủ không yên, đôi khi mất đi cả sự sống Vì
vậy, người ta thường nói: “Tiền tài là huyết mạch” Như vậy, kẻ cướp đoạt
xương máu người, sát hại sinh mạng người vậy Chỉ những người không cólòng thương người, tán tận lương tâm mới làm những việc đen tối như vậy.Còn ta, đã là Phật tử, đang cố gắng nuôi dưỡng lòng từ bi, ta không thể trộmcướp của ai được”[7; 79]
+ Tránh nghiệp báo oán thù
Trong xã hội có nhà nước, có pháp luật, tôn trọng sự công bằng bìnhđẳng giữa mọi người thì tội trộm cướp bao giờ cũng bị trừng trị “Ăn trộmthì bị đưa ra tòa án tiểu hình, ăn cướp thì tòa án đại hình Khi chưa bị bắt kẻtrộm cướp phải tìm trăm phương ngàn kế để trốn tránh, sống chui rúc trongbóng tối Khi bị bắt, người trộm cướp phải bị trói buộc, tra khảo, ngồi tù,nhốt khám Phận mình đã đành cực thân khổ trí, lại làm cho gia đình mình,cha mẹ, vợ con cũng buồn rầu, xấu hổ, và mất hết cả hy vọng ở tương lai.Nhưng nếu luật pháp thế gian không trừng trị, thì người trộm cướp cũngkhông thoát khỏi luật nhân quả nghiệp báo”[7; 79]
Vì vậy, con người chúng ta nên giữ giới này vì không trộm cướp làgiữ được sự công bằng bình đẳng giữa người với người Mỗi người đều cóquyền sở hữu riêng tư, xã hội không công bằng thì khó tồn tại lâu dài được,không trộm cướp còn thể hiện lòng từ bi vì một người phải cực khổ để làm
ra tiền nuôi bản thân và gia đình, dành dụm phòng khi đau yếu hoặc tuổi già.Nếu bị mất sẽ đau khổ vô cùng, tuyệt vọng có khi đi đến tự tử
Người trộm cướp, cho dù có thoát khỏi lưới pháp luật, nhưng lươngtâm lúc nào cũng lo sợ, và nhân quả nghiệp báo ở kiếp sau không thể tránh
Trang 30khỏi, người không gian tham đời này sống yên ổn đi đâu cũng có người tincậy, đời sau được phúc báo giàu sang Về xã hội, nếu mọi người đều khônggian tham trộm cứơp thì nhà nhà không cần đóng cửa then cài nữa sẽ hướngđến một xã hội lý tưởng.
Nếu như con người chúng ta giữ được giới này thì đời sống hiện tạiđựơc an ổn, không bị những đòi hỏi vật chất khống chế, không phải chịucảnh giam cầm tù tội, đi đâu cũng được người khác kính nể, tin tưởng
Trong xã hội nếu không có gian tham trộm cướp thì xã hội ngày càngphát triển đất nước ngày càng thịnh vượng nhân dân ai cũng đựơc no ấm
Nhưng đôi khi vì nghèo nàn túng thiếu, vợ ốm con đau, thiếu gạothiếu thuốc, nên buộc lòng gian xảo vì sự sống thì tội còn có thể châm chướctùy theo mức độ phạm tội
Không được tà hạnh là không dụ dỗ hay dùng thủ đoạn để cướp vợngười khác, không ép buộc người khác phải thoả mãn tính dục với mìnhkhông hãm hiếp đàn bà, con gái
Sự giữ giới không được tà hạnh nhằm mục đích tôn trọng sự côngbằng, bảo vệ hạnh phúc gia đình, tránh oán thù và quả báo xấu xa
+ Tôn trọng sự công bằng
Mỗi người ai cũng muốn gia đình mình đầm ấm yên vui, vợ con mìnhđoan chính, hạnh phúc nên không thể phá hoại hạnh phúc của người khác,không thể tà hạnh Vì vậy giữ giới không được tà hạnh nhằm tôn trọng sựcông bằng giữa mọi người
+ Bảo vệ hạnh phúc gia đình và tránh oán thù quả báo xấu xa
Trong một gia đình không gì đau khổ, đen tối bằng khi mà ngườichồng hoặc vợ có dạ riêng tư, thay lòng đổi dạ Hạnh phúc đâu còn, khichồng vợ không tin nhau! Khi một gia đình lâm vào cảnh ấy, thì con cái sẽ
Trang 31xấu hổ, bê tha, bà con không đoái hoài đến, sự nghiệp tan tành, làng xómchê bai danh giá hoen ố Điều kiện thiết yếu để giữ vững hạnh phúc gia đìnhchính là lòng chung thuỷ của hai vợ chồng Nên Người ta thường bảo rằng: “Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn” Vì sự tà hạnh của mộttrong hai người bạn đời mà trong gia đình thường xảy ra những sự ghentuông, cãi vã, đánh đập có khi đến gây án mạng Có khi, để trả thù người tathường thấy xảy ra cái cảnh “ ông ăn chả bà ăn nem” Một người chồng đểtâm dòm ngó vợ con người, thì chính vợ con họ cũng lăm le vạch rào sangnhà kẻ khác rồi Họ phá hạnh phúc gia đình người, thì chính hạnh phúc giađình họ cũng đã tan rã trước Cho nên muốn bảo vệ xây dựng hạnh phúc giađình mình thì phải giữ nghiêm giới này.
Chính vì vậy Phật Thích Ca Mâu Ni dạy: “Người ôm lòng ái dục cũngnhư kẻ cầm đuốc đi ngược gió, quyết bị nạn cháy tay” Thật vậy, người ta cótâm xấu xa đắm mê sắc dục, không sớm thì chầy quyết bị hại : Nếu khôngtan nhà mất nước, thì cũng gãy chân mất mạng bởi mũi súng, ngọngươm”[7; 82] Phật giáo khuyên con người giữ giới nhằm đảm bảo cuộcsống gia đình hạnh phúc vợ chồng con cái luôn yêu thương quý mến nhau
Trong kinh thập thiện đã chỉ ra, “người thế gian không tà hạnh thìđược hưởng bốn điều lợi như sau:
Sáu căn (tai, mắt, mũi, lưõi, thân, ý) đều được vẹn toàn
Trọn đời được người kính trọng
Đoạn trừ hết cả phiền luỵ khuấy nhiễu
Cuộc tình duyên trọn đời không ai dám xâm phạm”[7; 83]
Trong một xã hội mà ai cũng không tà hạnh, thì gia đình được yên vuihạnh phúc, những sự thương luân bại lý sẽ tiêu tan, những cảnh thù hiềm,chém giết không xảy ra nữa; con cái được mạnh khoẻ, nâng niu, xã hội sẽcường thịnh
1.2.1.2.4 Không được nói dối.
Nói dối có 4 cách: Nói sai sự thật, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nóilời hung ác
Nói sai sự thật hay nói láo: Là nói không thật, chuyện có nói không,chuyện không nói có, việc phải nói trái, việc trái nói phải; điều nghe nóikhông nghe, điều không nghe nói nghe; hoặc giả trước mặt khen dồi, sau
Trang 32lưng chê bai; hay là khi thích thì dịu ngọt thơm tho, khi ghét đắng cay chuachát Tóm lại, ý nghĩ, lời nói, việc làm trước sau mâu thuẫn, trên dưới khácnhau, trong ngoài bất nhứt, đều thuộc về nói dối cả.
Nói thêu dệt: Là việc ít xích cho nhiều, làm cho người nghe nổi sânhận, là trau tria lời nói, chuốt ngót giọng hay, lên hơi xuống giọng cho êmtai mát dạ để cám dỗ người nghe, làm cho người say mê đắm nhiễm; cũng cókhi là nói biếm, nói bấm, nói châm, nói chích làm cho người nghe phải khổ
sở Tóm lại, bao nhiêu lời nói không đúng nghĩa chân thật, thêm bớt, chođến văn chương phù phiếm, bóng bẩy làm cho kẻ nghe phải loạn tâm, sanhphiền não, đều gọi là thêu dệt cả
Nói lưõi hai chiều hay nôm na hơn, là nói “đòn xóc nhọn hai đầu”,nghĩa là đến chỗ này thì về hùa với bên này để nói xấu bên kia, đến bên kiathì về hùa với bên ấy để nói xấu bên này, làm cho bạn bè đang thân nhau trởlại chống nhau, kẻ ân người nghĩa chống đối, oán thù nhau
Nói lời hung ác: Là nói những tiếng thô tục, cộc cằn, chửi rửa, làmcho người nghe phải đau khổ, buồn rầu, sợ hãi
Phật cấm nói dối bởi những lý do sau đây:
+ Tôn trọng sự thật: Đạo Phật là đạo như thật, người tu theo đạo Phậtphải tôn trọng sự thật Người quen với dối trá, không thiết tìm sự thật thì khó
có thể chứng quả được Chúng ta đang sống trong vọng tưởng, công việcchính của người tu hành là cố gắng phá tan vọng tưởng ấy để thấy được bảnnguyện; nếu không làm được như thế mà trái lại còn chồng chất thêm cáivọng tưởng ấy với những sự dối trá lừa phỉnh nữa, thì thật là vô cùng tráiđạo
+ Nuôi dưỡng lòng từ bi: Cái động lực chính của sự dối trá là lòng ích
kỷ, ác độc, muốn hại người để thỏa lòng dục vọng đen tối của mình Người
bị lừa dối, phỉnh gạt phải bị đau khổ vì mình,có khi phải mắc thù vương oán,
có khi phải tan gia bại sản Người tu hành mà làm như thế là đã tán tậnlương tâm, đã bóp chết tình thương trong lòng họ rồi Một khi lòng từ bikhông có nữa, nghĩa là cái động lực chính đã mất, thì sự tu hành chỉ còn làgiả dối, lừa bịp người, và tất nhiên không bao giờ có kết quả tốt
+ Bảo tồn sự trung tín trong xã hội: Trong một gia đình, một đoàn thể,một xã hội mà không ai tin ai, thì mọi công việc từ nhỏ đến lớn đều thất bại
Trang 33Trong đạo Nho, một trong 5 đức tánh căn bản là lòng tin “Nhơn vô tín bấtlập”, đó là lời dạy của Khổng Tử Hạnh phúc gia đình và xã hội không thể
có được trong sự dối trá, nghi ngờ, đố kỵ
+ Tránh nghiệp báo khổ đau: Lời nói tuy không phải là lưỡi kiếm,nhưng nó còn nguy hiểm hơn lưỡi kiếm, vì nó có hai mũi nhọn, một mũiđâm vào người khác và một mũi đâm vào chính người sử dụng nó Do đó,Phật dạy “phù sĩ xử thế phủ tại khâu trung, sở dĩ trảm thân do kỳ ác ngôn”,nghĩa là: Phàm kẻ ở đời, lưỡi búa bén nằm sẵn trong miệng, sở dĩ chémmình là do lời nói ác Đã đành nói ly gián, nói xuyên tạc là để hại người,nhưng khi đã làm hại người thì thế nào người cũng hại lại mình “Ác lai ácbáo” là thế Để tránh sự thù hằn, tránh nghiệp dữ, chúng ta không nên dốitrá, điêu ngoa
Một con người không nói dối thì luôn được người khác coi trọng kính
nể, tin cậy, không ai oán hận thù hiềm; đi đâu cũng được người chung quanhdành cho một địa vị thân tín, niềm nở đón tiếp Trong nghề nghiệp làm ăn,người chân thật được nhiều thân chủ, và được giao phó cho nhiều trọng tráchquý báu
Mỗi con người không nói dối thì gia đình và xã hội được đoàn kếttrong sự tin cậy mọi công việc chung được xúc tiến có kết quả tốt Đồng bàothương yêu, thông cảm nhau hơn
Tuy nhiên trong cuộc sống cũng có vài trường hợp nên nói dối Đó làđôi khi vì lòng từ bi mà phải nói dối để cứu người hay vật Nói dối phạm tội
là trong trường hợp do lòng tham, sân làm động cơ thúc đẩy Ngược lại, nếu
do lòng từ bi thúc đẩy mà phải nói dói, thì không phạm tội
1.2.1.2.5 Không uống rượu hay dùng các chất gây nghiện.
Rượu hay các chất gây nghiện là tất cả những thứ có chất men làm sayngười, hay chất độc hại người đều không được dùng Đức Phật khuyênnhững chất này chính mình không đựơc dùng đã đành, mà cũng không đựơc
ép nài người khác dùng, ép nài hay khuyến khích người khác dùng tội lạinặng hơn cả chính mình dùng nữa
Rượu hay các chất gây nghiện nguy hiểm hơn thuốc độc Một chénthuốc độc ta uống vào chết ngay, nhưng chỉ chết một thân hiện tại, chứ đãdùng rượu hay các chất gây nghiện thì sẽ làm mất giống trí tuệ, phải chết đi
Trang 34sống lại vô số kiếp Vì thế, để bảo toàn hạt giống trí tuệ quý báu, Phật cấmdùng các chất gây nghiện.
Các chất gây nghiện không phải nó là một tội lỗi như sát sanh trộmcướp, tà dâm, nhưng nó có thể làm nhân cho những tội lỗi kia sanh ra Khi
đã dùng các chất gây nghiện vào thì tội nào cũng có thể phạm được nhưtrong kinh Phật đã chỉ ra rượu gây ra nhiều tội lỗi:
“Của cải rơi mất;
Tăng trưởng lòng giết hại;
Mạng chung đọa vào địa ngục”[7; 89]
Nếu chúng ta tránh được các chất nghiện ngập sẽ đem lại cuộc sốnglành mạnh không mất tiền của, thân ít bệnh tật, không sinh lòng ác độc giếthại, bớt nóng giận, trí tuệ tăng trưởng, tuổi thọ cao v.v
Khi mỗi con người không dùng chất gây nghiện sẽ đem lại cuộc sốnggia đình đựơc yên vui, con cái ít bệnh tật, xã hội được hoà mục, nòi giốngđược hùng cường
Tóm lại, trên đây là năm điều răn dạy của đức Phật và được xem lànền tảng để mang lại hạnh phúc cho con người, xây dựng con người sốngđúng nghĩa nhân văn của nhân loại Một dân tộc văn minh là biết tôn trọngnhững quyền lợi căn bản của con người Ngũ giới là đạo đức cơ bản củangười Phật tử khi bắt đầu bước chân trên con đường giải thoát Một xã hội
mà Phật tử đều giữ năm giới ấy thì đó là một xã hội gương mẫu và vănminh
1.2.2 Ngũ giới Phật giáo đối với Phật tử
Năm giới cấm là nền tảng của Phật tử nói chung bao gồm cả Phật tửxuất gia và Phật tử tại gia Và muốn trở thành người Phật tử thì trước hếtphải quy y Tam bảo