1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số ảnh hưởng của nhân sinh quan phật giáo đối với đời sống tinh thần con người huế hiện nay

66 561 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số ảnh hưởng của nhân sinh quan phật giáo đối với đời sống tinh thần con người Huế hiện nay
Tác giả Phan Thị Hoài
Người hướng dẫn Th.s. Hoàng Ngọc Vĩnh
Trường học Đại học Huế
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 329,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tư tưởngtriết học Phật giáo, đặc biệt là nhân sinh quan Phật giáo, là một trong nhữngnhân tố có tác động mạnh nhất đến việc hình thành nhân cách, đạo đức, lốisống, nếp sống của

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

  

-PHAN THỊ HOÀI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN TRIẾT HỌC

Huế, 05/2011

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Huế, 05/ 2011

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài khóa luận

Phật giáo có bề dày phát triển hàng ngàn năm, có sức ảnh hưởng rất lớnđối với người Việt Nam nói chung và người Huế nói riêng Những tư tưởngtriết học Phật giáo, đặc biệt là nhân sinh quan Phật giáo, là một trong nhữngnhân tố có tác động mạnh nhất đến việc hình thành nhân cách, đạo đức, lốisống, nếp sống của con người Việt Nam và con người xứ Huế

Từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo luôn tỏ rõ vai trò quan trọng,

có ảnh hưởng sâu rộng và toàn diện trong đời sống xã hội Việt Nam Và Huếlà một trong ba trung tâm Phật giáo lớn nhất của cả nước Trong hơn 300 năm

từ 1636 đến 1945, với tư cách là trung tâm chính trị và văn hoá của ĐàngTrong và là kinh đô của cả nước, Huế cũng là thủ đô Phật giáo của cả nước

Từ khi du nhập cho đến nay, Phật giáo Huế luôn có nhiều biến đổi rất phứctạp và phong phú, đôi lúc Huế cũng đã trở thành điểm nóng về tôn giáo của cảnước thu hút dư luận thế giới

Phật giáo Huế có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần con ngườiHuế hiện nay Nhắc đến Huế, người ta nghĩ ngay đến cầu Trường Tiền, sôngHương, núi Ngự Bình, hệ thống lăng tẩm đền đài triều Nguyễn và tháp PhướcDuyên của chùa Thiên Mụ Đó là những biểu tượng về văn hoá Huế, mà Phậtgiáo Huế là một trong những thành tố chung tạo nên nền văn hoá Huế

Những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo luôn biến đổi trải quanhững bước thăng trầm trong lịch sử Hiện nay, trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, những lệch chuẩn các giá trị đạođức truyền thống đang diễn ra khá phức tạp, thì ảnh hưởng của nhân sinhquan Phật giáo trong đời sống tinh thần người Việt Nam nói chung và ngườiHuế nói riêng càng diễn ra khá rõ nét

Trang 4

Vậy xu hướng ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến con ngườiHuế là gì? Đây là vấn đề đang đặt ra và cần được làm sáng tỏ ở nhiều gócnhìn khác nhau Đó cũng là lý do để tôi chọn đề tài của khóa luận tốt nghiệp

cử nhân ngành triết học của mình là: “Một số ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống tinh thần con người Huế hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu của khóa luận

Nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của conngười Huế là đề tài khá rộng Đã có một số công trình nghiên cứu và đạt đượcnhững kết quả đáng trân trọng Có thể kể ra một số công trình sau đây:

Lịch sử Phật giáo Việt Nam của PGS Nguyễn Tài Thư (chủ biên),Viện Triết học, Hà Nội, 1991 đã nêu một cách có hệ thống lịch sử Phật giáoViệt Nam từ khi du nhập cho đến đầu thế kỷ XX, và cũng chỉ rõ Phật giáo đếnViệt Nam không xảy ra một lần ở một nơi, mà có sự lan toả nhiều vùng, nhiềuđịa danh trong cả nước kéo dài liên tục trong nhiều thời điểm khác nhau, bằngnhiều con đường Tuy có nhiều biến đổi thăng trầm khác nhau Nhưng nó vẫn

có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội Việt Nam có thể thấy từ tínngưỡng đến văn hoá, phong tục, tập quán, từ thế giới quan đến nhân sinhquan, từ tư tưởng đến tình cảm

Hay trong cuốn “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối vớicon người Việt Nam hiện nay” do PGS Nguyễn Tài Thư (chủ biên) cũng chỉ

ra ảnh hưởng của Phật giáo đến nhân cách con người, đến thế giới quan và tưduy của con người Việt Nam hiện nay, đồng thời chỉ ra sự khác biệt về ảnhhưởng của các tôn giáo trong đời sống hiện nay của thanh thiếu niên, hay ảnhhưởng đối với hệ tư tưởng con người Việt Nam hiện nay

Ngoài ra còn có một số công trình khác như: Tư tưởng Phật giáo ViệtNam của Nguyễn Duy Hinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999; Đại cương

Trang 5

triết học Phật giáo Việt Nam, tập I của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xãhội, Hà Nội, 2002 Hay Nguyễn Hiền Đức với tác phẩm Lịch sử Phật giáoĐàng Trong, Nxb thành phố Hồ Chí Minh v.v.

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đều thống nhất ở một sốđiểm: Phật giáo có ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội Việt Nam, đặcbiệt là đời sống tinh thần Những triết lý đầy tính nhân sinh của Phật giáo kếthợp với văn hóa truyền thống đã tạo nên sự phong phú của đời sống tinh thầncủa con người Việt Nam, nhưng họ rất ít bàn đến ảnh hưởng nhân sinh quanPhật giáo đến người Huế, nếu không nói là không bàn

Ở Huế cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về Phật giáo Huế nhưng họchủ yếu nói về lịch sử, tín ngưỡng hay là về sự kết hợp danh lam thắng cảnhcủa Huế như: Đỗ Bang, Ngô Thời Đôn, Nguyễn Duy Hới…

Còn trong cuốn “Lịch sử Phật giáo xứ Huế” của tác giả Thích Hải Ấnvà Hà Xuân Liêm, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001, đã nêulên được một số khác biệt của chùa tháp, pháp khí, tượng phật ở Huế với cácvùng quê khác và nêu lên được một số đóng góp tích cực của Phật giáo Huếnhư: nó làm cho con người Huế trở nên thanh nhã, cảnh chùa Huế là môitrường sinh thái đầy thú vị, hay là những đóng góp về nghệ thuật rất Huế Tuynhiên, Phật giáo Huế còn đóng góp vào việc nâng cao nhận thức, hoạt động từthiện hay phát triển du lịch

Trong luận văn thạc sĩ “Nhân sinh quan Phật giáo Huế qua góc nhìnlịch sử triết học” của Hoàng Ngọc Vĩnh và đề tài khoa học cấp bộ “Phật giáoHuế với đời sống văn hóa tinh thần con người Huế” của Thạc sĩ Hoàng NgọcVĩnh Có thể nhận xét một cách khái quát, công trình nghiên cứu trên đãkhẳng định: Phật giáo có ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội Huế, đặcbiệt là đời sống văn hóa tinh thần Đã chỉ ra được những đặc trưng riêng củavăn hóa Huế và Phật giáo Huế, qua đó đã làm rõ những tác động mạnh mẽ

Trang 6

của Phật giáo đến con người Huế trên nhiều phương diện như: tín ngưỡng,cấu trúc xã hội, hệ tư tưởng và nhân sinh quan người Huế.

Vì vậy trên cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên cứu của các côngtrình đi trước, khóa luận của tôi chỉ là sự góp phần hiểu thêm sự ảnh hưởngnhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần con người Huế hiện nay màthôi

3 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận

a) Mục đích của khóa luận là:

Làm rõ ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinhthần con người Huế hiện nay

b) Nhiệm vụ của khóa luận:

Một là, khái quát những nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo

Hai là, chỉ rõ ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống

tinh thần của con người Huế hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận

a) Đối tượng nghiên cứu của khóa luận:

Nhân sinh quan Phật giáo và đời sống tinh thần của người dân Huếhiện nay

b) Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: tỉnh Thừa Thiên Huế

Về thời gian: từ 1986 đến 2011

Về nội dung: Một số ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đờisống tinh thần của người dân Huế hiện nay

Trang 7

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận

a) Cơ sở phương pháp luận là: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối, Chính sách của Đảng và Nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tôn giáo

b) Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt phép biện chứng duy vật Phươngpháp nghiên cứu cụ thể là các phương pháp phân tích-tổng hợp, phương pháplôgic-lịch sử, phương pháp điều tra-phỏng vấn và kết hợp các phương phápkhái quát hóa, trừu tượng hóa v.v

6 Đóng góp mới của khóa luận

Đề tài góp phần vào việc tìm hiểu có hệ thống hơn ảnh hưởng của nhânsinh quan sinh Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần con người Huế

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, hoặc

tư liệu nghiên cứu cho những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungkhóa luận gồm 2 chương, bốn tiết:

Chương 1: Những nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo

1.1 Vai trò của nhân sinh quan Phật giáo

1.2 Những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh quan Phật giáo

Chương 2: Một số ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến conngười Huế hiện nay

2.1 Quá trình ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinhthần của con người Huế trong lịch sử

2.2 Ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đến một số lĩnh vực trong đờisống tinh thần của con người Huế hiện nay

Trang 8

NỘI DUNG KHÓA LUẬN

CHƯƠNG 1 NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO 1.1 Vai trò của nhân sinh quan Phật giáo

1.1.1 Đối với Phật giáo

Những người theo chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, về bản chất tôngiáo là một trong các hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh một cáchhoang đường, hư ảo hiện thực khách quan Ph.Ănghen viết: “Tất cả mọi tôngiáo chẳng qua chi là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con ngườicủa những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ, chỉlà sự phản ánh trong đó lực lượng siêu trần thế.”[9, tr.679 – 680]

Điều đó có nghĩa là, con người sáng tạo ra tôn giáo, con người nàykhông phải là con người trừu tượng mà chính là thế giới những con người -nhà nước, xã hội Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo Tôn giáokhông sáng tạo ra con người song nó lại có ảnh hưởng lớn tới đời sống củacon người trên nhiều phương diện khác nhau từ thế giới quan đến nhân sinhquan

Phật giáo là một trong mười tôn giáo lớn trên thế giới, ra đời đã hơn

2500 năm nay, đã được truyền bá và ảnh hưởng tới nhiều quốc gia trên thếgiới như: Mianma, Thái Lan, Việt nam, Trung Quốc, Philippin, Nhật Bản,Hàn Quốc, Lào, Mỹ và trở thành tôn giáo nhanh chóng mang tính thế giới

Trong quá trình du nhập trải qua các thời kì lịch sử, Phật giáo phụthuộc vào tình hình kinh tế–xã hội của mỗi quốc gia mà đã biến đổi ít nhiềucho phù hợp với tình hình trong nước và thế giới Sự ảnh hưởng của Phậtgiáo trên phạm vi quốc tế, đã chiếm một vị trí khá sâu sắc trong đời sốngtinh thần của con người Việt Nam nói chung và Huế nói riêng

Trang 9

Người sáng lập ra Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni có tên thật là TấtĐạt Đa, con trai của vua Tịnh Phạn, dòng họ Sakya Theo truyền thuyết,Phật có 547 tiền kiếp trước khi đầu thai làm con vua Sakya Trong nhữngtiền kiếp trước ông là những con người hoặc là những con vật, đều đầylòng từ - bi - hỷ - xả, sẵn sàng hi sinh vì đồng loại Kiếp gần nhất của ônglà voi trắng 6 ngà Khi mới sinh ra Phật có 32 dị tướng, 82 điểm phithường, trong đó có việc vừa sinh ra đã đi được bảy bước, được tiên đoánlà hoàng đế trị vì thiên hạ, nếu không thì cũng là đức Phật cứu nhân độ thế

Ông sinh năm 563 mất năm 483 trước công nguyên ở Ấn Độ Ôngđược vua cha cưới vợ vào năm 19 tuổi Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏcuộc đời vương giả đi tu luyện tìm con đường diệt trừ nổi khổ của chúngsinh Sau sáu năm liền tu luyện, Tất Đạt Đa đã ngộ đạo, tìm ra chân lý tứdiệu đế và thập nhị nhân duyên Tất Đạt Đa đã trở thành Phật Thích CaMầu Ni Khi đó ngài vừa tròn 35 tuổi

Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó viếtthành văn, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn, gọi là “Tamtạng” gồm ba bộ phận:

- Bộ kinh thứ nhất đó là Tạng kinh (sutra-Pitaka) ghi lời Phật dạy

- Bộ kinh thứ hai đó là Tạng luật (Vinaya-Pitaka) gồm các giới luậtcủa đạo Phật

- Bộ kinh thứ ba đó là Tạng luận (Abhidharma-Pitaka) gồm các bàikinh giảng về ý nghĩa của những lời Phật dạy và ý nghĩa của việc giữ giớiluật trong tu hành Về sau được bổ sung thêm các tác phẩm luận giải, bìnhchú về giáo pháp của các cao tăng, học giả đời sau

Dù trải qua lịch sử thăng trầm hơn 2500 năm, với nhiều cách nhìnnhận đánh giá khác nhau, nhưng Phật giáo, mà trước hết là triết lý nhânsinh giàu lòng vị tha, thương người, rất gần gũi với con người

Trang 10

Giáo lý Phật giáo bao gồm hệ thống quan niệm về nhận thức luận,thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng về tính thiện có kết cấu chặt chẽvới nhau Mỗi yếu tố chứa đựng nội dung với chức năng riêng là tiền đề và

hệ quả của nhau Nhân sinh quan Phật giáo là bắt nguồn từ thế giới quan.Tuy nhiên mục đích chủ yếu của Phật giáo là thoát khổ, giải phóng conngười, mang giá trị nhân sinh sâu sắc

Thích Ca Mầu Ni đã nhìn thấy rõ sự đau khổ ở đời sống của conngười mà sáng lập ra Phật giáo để con người thoát khỏi nổi khổ đau

Để làm rõ hơn vai trò của nhân sinh quan Phật giáo ta thử so sánhtriết học phương Đông với triết học phương Tây, thì triết học phương Tâychú trọng nghiên cứu thế giới, tìm hiểu giới tự nhiên, xây dựng nên các họcthuyết, các phạm trù v.v còn triết học phương Đông nghiêng về việc nghiêncứu, tìm hiểu những vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, đặc biệt làvấn đề con người hơn là việc tìm hiểu giới tự nhiên

Triết học phương Đông nghiên cứu thế giới để làm sáng tỏ vấn đềcon người, vạch ra nguyên tắc ứng xử, giải quyết mối quan hệ giữa ngườivới người, chú ý đến đời sống tâm linh mà ít quan tâm đến mặt sinh vật củacon người Mục đích nhận thức thế giới của triết học đều nhằm phục vụcho đời sống của con người và xã hội

Cũng như nhiều trào lưu tư tưởng triết học phương Đông, Phật giáođề cao và nhấn mạnh vấn đề nhân sinh Đây cũng là một trong những đặcđiểm cơ bản khác biệt của triết học phương Đông so với triết học phươngTây Điều này góp phần lý giải vì sao về mặt thế giới quan của Phật giáo,nhất là Phật giáo nguyên thủy hơi mờ nhạt, trong khi nội dung nhân sinhquan Phật giáo lại khá rõ ràng và mang tính nổi trội Mục đích cuối cùngcủa Phật giáo là giải thoát con người khỏi nổi khổ của trần thế thông quacon đường tu luyện về mặt tâm linh Do đó, Phật giáo hầu như không đề

Trang 11

cập và không có chủ trương giải quyết những vấn đề có tính chất siêu hình.Khi các đệ tử hỏi Đức Phật về vấn đề siêu hình trừu tượng như vũ trụ cóvĩnh hằng không? Nó vô hạn hay hữu hạn, linh hồn và thể xác là một hay làkhác nhau, Như Lai sau khi chết có tồn tại không? Thì người chỉ im lặng vìmục đích chủ yếu là cứu khổ cho con người.

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Phật giáo là con người, là giá trịnhân sinh Sau khi chứng kiến nổi khổ của con người ở đời sống trần thế,Thích Ca Mầu Ni đã xây dựng học thuyết mang đậm giá trị nhân sinh đểgiải thoát, cứu khổ cho con người ra khỏi khổ nạn Trong xã hội chiếm hữu

nô lệ ở Ấn Độ, với sự thống trị của tư tưởng duy tâm tôn giáo Bàlamôn vàchế độ phân biệt đẳng cấp khắt nghiệt, Phật giáo là tiếng nói trong làn sóngphủ nhận Brahman và Atman Phật giáo phủ nhận uy thế của kinh Vêđa vàBàlamôn, tố cáo chế độ xã hội bất công đòi tự do tư tưởng và sự bình đẳng

xã hội, xóa bỏ nổi khổ trong đời sống nhân dân Ấn Độ Đây là sự thể hiệntinh thần phản kháng của quần chúng nhân dân đối với chế độ xã hộiđương thời Đức Phật tuyên bố: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng

đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn” Tư tưởng này tacũng bắt gặp ở Hồ Chí Minh đó là, “tất cả mọi người sinh ra đều có quyềnbình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sung sướng và tự do” Ở Hồ ChíMinh và Phật giáo có điểm tương đồng, đều có tư tưởng bình đẳng Họ trảiqua những tháng ngày vất vả thậm chí hi sinh cả tính mạng của mình làxuất phát từ tấm lòng yêu thương nhân loại sâu sắc, yêu tổ quốc nồng nàn.Phật giáo trong bối cảnh xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, đó là tiếng nói khátvọng tự do, bình đẳng, mọi người sống yêu thương nhau

Có thể nói, học thuyết Phật giáo là một học thuyết lớn trên thế giới

Nó đã nhanh chóng hòa nhập vào đời sống tinh thần của các quốc gia trong

đó có Việt Nam Nó được nhân dân ta tiếp nhận bởi triết lý nhân sinh sâu

Trang 12

sắc của nó Triết lý nhân sinh sâu sắc ấy đã làm cho học thuyết Phật giáotrường tồn với thời gian, được các học giả, nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếngquan tâm.

1.1.2 Đối với đời sống xã hội

Không phải ngẫu nhiên mà nhiều triết thuyết, học thuyết, tôn giáo trởthành tôn giáo, hệ tư tưởng chính thống của một nước, mà nó phải có giá trịvề mặt lý luận và thực tiễn

Đối với đất nước ta, hệ tư tưởng chính thống là: Chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở nền tảng của tư tưởng, là kim chỉnam cho mọi hành động “Trong công cuộc đổi mới với tư duy khách quankhoa học, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước CHXHCN Việt Nam xácđịnh tín ngưỡng “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng, tôngiáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo cónhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”, đồng thời các tôngiáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”[22; 1]

Vì thời gian có hạn nên trong đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhântriết học của mình, tôi chỉ phân tích vai trò của nhân sinh quan Phật giáo vàlàm rõ ảnh hưởng của nó tới đời sống tinh thần con người Huế hiện nay

Phật giáo có mặt ở nước ta ở những thế kỷ đầu công nguyên, Phậtgiáo tuy có lúc thịnh suy, nhưng trên thực tế đã luôn gắn bó với truyềnthống dân tộc Phật giáo phát triển qua các thời kỳ Đinh, Lê, hưng thịnh vàđạt đến đỉnh cao dưới thời Lý, Trần, đã góp phần ổn định, bảo vệ chế độphong kiến tập quyền và đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nền văn hóa ViệtNam Nhân sinh quan Phật giáo, nhất là đức từ - bi - hỷ - xả ngày càngthấm sâu vào đời sống tâm linh, hướng con người vào con đường thiệnnghiệp, tu dưỡng đạo đức

Trang 13

Hiện nay, tuy không còn là quốc giáo, song Phật giáo vẫn có ảnhhưởng rất lớn đến đời sống xã hội của người Việt Nam, đặc biệt là khíacạnh nhân sinh chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của con ngườiViệt Nam mà biểu hiện rõ nét trong đạo lý, lối sống, nếp sống, văn hóa v.v.

Xét Phật giáo từ góc độ quá khứ và hiện tại chúng ta thấy được Phậtgiáo tác động sâu sắc đến đời sống xã hội và tinh thần người Việt Nam,bằng chứng là Phật giáo hiện đang được phục hồi và phát triển

- Ở phương diện tín đồ, nhiều tỉnh, thành phố ở đất nước ta có sốngười theo Phật giáo ngày càng đông như Bắc Ninh, Thanh Hóa, TháiBình, Hà Nội, Huế, v.v Số gia đình Phật tử xuất hiện ngày càng nhiều, lễhội Phật giáo và sinh hoạt Phật giáo ngày một có vị trí cao trong đời sốngtinh thần xã hội

- Số sư sãi được đào tạo từ các trường Phật học ngày càng nhiều, cóhọc vị cao như Hòa thượng Thích Trí Thủ, Thích Tịnh Khiết, Thích GiácNhiên, Thích Chân Thiện, Thích Hải Ấn, v.v Số kinh sách xuất bản hàngnăm cũng tăng

- Về đời sống tâm linh, tín ngưỡng, lối sống, nếp sống và đạo đức,hơn lúc nào hết trong mấy chục năm lại đây, người Phật tử Việt Nam rấtchăm lo đến việc thực hiện các nghi lễ của đạo mình Họ hay lên chùatrong các ngày sóc, họ trân trọng thành kính trong khi thi hành lễ, họ siêngnăng trong việc thiền định, giữ giới, làm việc thiện Việc ăn chay hàngtháng trở thành thói quen không thể thiếu của người theo đạo Phật, hầu nhưtất cả người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng nếp sống văn hóa này

Ăn chay hay ăn lạt xuất phát từ quan niệm Từ bi của Phật giáo Vì khi

đã trở về với Phật pháp, mỗi người Phật tử phải thọ giới và trì giới, trong đógiới căn bản là không sát sanh hại vật, mà trái lại phải thương yêu mọi loài.Trong hành động lời nói và ý nghĩ, người Phật tử phải thể hiện lòng Từ bi Để

Trang 14

đạt được mục đích đó, người Phật tử phải dùng đến phương pháp ăn chay.Thông thường người Việt Nam, cả Phật tử lẫn người không phải Phật tử cũngtheo tục lệ đặc biệt này, họ ăn chay mỗi tháng hai ngày, là ngày mùng một vàngày rằm mỗi tháng Có người ăn mỗi tháng bốn ngày là ngày 01, 14, 15 và

30, nếu tháng thiếu thì ăn chay ngày 29 Cũng có nhiều người phát nguyện ănchay suốt cả tháng (thường là tháng bảy âm lịch) hoặc ba tháng (tháng giêng,tháng bảy và tháng mười) hay cả năm Đôi khi có một số người đã phátnguyện ăn trường trai giống như những người xuất gia Nó còn được thể hiệntruyền thống tập tục cúng rằm, mùng một là tập tục cúng sóc vọng, tức lànhững ngày linh thiêng Vì vậy mà ngững người theo đạo Phật hay lên cầunguyện vào những ngày này Quan niệm ngày sóc vọng là những ngàyTrưởng tịnh, Sám hối, Ăn chay là xuất phát từ ảnh hưởng của Phật giáo Đạithừa

Ngoài việc đi Chùa Sám hối, ở nhà vào ngày rằm và mùng một, họ sắmđèn, nhang, hương hoa để dâng cúng Tam Bảo và tổ tiên Ông Bà, thể hiệnlòng tôn kính, thương nhớ những người quá cố và cụ thể hóa hành vi tu tâmdưỡng tánh của họ Bên cạnh việc đi chùa để sám hối vào ngày rằm, mùngmột, người Việt Nam còn có tập tục khác là đi viếng Chùa, lễ Phật vào nhữngngày hội lớn như ngày rằm tháng giêng, rằm tháng tư (Phật đản) và rằm thángbảy (lễ Vu Lan) Đây là một tập tục, một nhu cầu không thể thiếu được trongđời sống người Việt Hay trong các nghi thức ma chay, cưới hỏi Đây cũng làsinh hoạt thường xảy ra trong đời sống người Việt Về ma chay, theo phongtục của người Việt Nam Như vậy nhân sinh quan Phật giáo đã ăn sâu vào đờisống xã hội Việt Nam Là món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi ngườidân Việt Nam là bản sắc văn hóa riêng của người Việt

Nhân sinh quan Phật giáo còn chiếm một vị trí khá đặc biệt trong đờisống nghệ thuật mà biểu hiện qua các tác phẩm nghệ thuật, các loại hình nghệ

Trang 15

thuật được sáng tác và biểu diễn như: hội họa, điêu khắc, cải lương, kịch haytrong văn học đã làm phong phú thêm lối sống, nếp sống văn hóa của ngườiViệt Nam

Triết lý nhân quả báo ứng thể hiện phong phú qua các vở diễn như:Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, San Hậu, Tam Nữ Đồ Vương, Diễn

Võ Đình, Nghiêu Sò Ốc Hến, Phạm Công Cúc Hoa, Tấm Cám hay trong cáctác phẩm điêu khắc như: các tác phẩm như tượng Quan Âm nghìn mắt nghìntay ở Chùa Hạ (Vĩnh Phú, cao 3.2m), 16 pho tượng Tổ bằng gỗ của Chùa TâyPhương (Hà Tây), Bộ tượng Thập Bát La Hán Chùa Phước Lâm (Hội An,Quảng Nam - Đà Nẵng) hay trong tác phẩm văn học của Nguyễn Du, NguyễnGia Thiều

Tất cả những tác phẩm trên đều mang tính chất dân tộc chính thống vàchứa đựng toàn vẹn triết lý nhân quả báo ứng và hướng thiện một cách caođẹp Hay trong các câu chuyên cổ tích của người Việt Nam Ở Việt Nam, từthuở xa xưa, Phật chính là “Bụt” Bụt ở đây là cách dịch âm khác của

“Buddha” có nghĩa là Phật, là giác ngộ Hình ảnh ông Bụt hiện lên trongnhiều câu chuyện cổ tích như truyện Tấm Cám, Cây Khế, Thạch Sanh và LýThông, Cây Tre Trăm Đốt, v.v, luôn là người đem lại niềm vui, hạnh phúccho những người tốt bụng mà gặp điều không may, đồng thời Bụt cũng làngười trừng phạt cái xấu, kẻ ác Qua đây chúng ta rút ra được những triết lýnhân sinh như ở hiền gặp lành, ở ác thì gặp ác, cái thiện sẽ thắng cái ác, cáithiện sẽ được hưởng hạnh phúc còn cái ác tất yếu phải bị trừng trị

Nước ta đã trải hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc

Mĩ ác liệt, đời sống còn nghèo nàn, lạc hậu cần đến sự phát triển Sau khi họctập và thực hiện công cuộc đổi mới, nước ta chuyển từ nền kinh tế quan liêubao cấp sang nền kinh tế thị trường đã làm cho nền kinh tế nước ta có sự tăngtrưởng xã hội, nhưng bên cạnh đó cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực đến đời

Trang 16

sống xã hội Việt Nam như lối sống chạy theo đồng tiền, sống buông thả làmtha hóa đạo đức Tuy nhiên với sự góp mặt của Phật giáo mà nhất là ảnhhưởng của nhân sinh quan Phật giáo làm cho đời sống xã hội Việt Nam có sựcân bằng hơn, phong phú hơn, chúng ta hòa nhập nhưng không hòa tan, vẫngiữ được bản sắc truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Nhân sinh quan Phật giáo đem lại trong nhân cách, phẩm chất, lối sống,nếp sống của con người Việt Nam là lòng nhân ái và sự chia sẽ Quán triệttriết lý “nhân nào quả ấy” nên “mỗi người dân Việt Nam luôn đồng cảm vớinỗi đau của người khác và sẵn sàng “nhường cơm sẻ áo” cho nhau với tinhthần “lá lành đùm lá rách, lách ít đùm lá rách nhiều” Tư tưởng “thương ngườinhư thể thương thân” đã được nhân dân ta tôn trọng, giữ gìn và truyền lại chonhiều thế hệ sau để làm nổi bật nét đẹp trong văn hóa - văn hóa ứng xử của

nhân dân ta - là tinh thần nhân văn, hướng thiện Tinh thần nhân văn, hướng

thiện là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, tồn tạixuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước và bảo vệ Tổ quốc Trongcuộc sống ngày nay, mặt trái của nền kinh tế thị trường đang tác động đến lốisống, cách suy nghĩ của giới trẻ, của học sinh trung học phổ thông Khi cánhân và lợi ích cá nhân được đề cao thì những giá trị nhân văn trong văn hóatruyền thống của dân tộc không tránh khỏi những thách thức Do đó, giữ gìnvà phát huy tinh thần nhân văn, hướng thiện cho học sinh trung học phổ thônghiện nay là một nguồn nội lực quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với sựphát triển bền vững của đất nước Tấm lòng khoan dung và vị tha - là mộttrong những yếu tố làm cho con người Việt Nam trở nên gần gũi - làm cho đấtnước Việt Nam trở nên thân thiện Vì thế, tuổi trẻ hôm nay phải tiếp bước chaanh để cho tinh thần khoan dung của dân tộc trường tồn và luôn tỏa sáng Đểlàm được điều đó, các bạn trẻ hãy đi lên bằng đôi chân và làm việc bằng bàntay, khối óc của chính mình Làm việc đúng với khả năng của mình có, không

Trang 17

dựa dẫm, ỷ lại, đề cao tính trung thực, phải biết nâng niu những số phận bấthạnh, biết tha thứ cho lỗi lầm của người khác, hãy luôn dành cho nhau những

nụ cười, những ánh nhìn thân thiện Đồng thời, hãy tha thứ cho chính mình,bởi không có lỗi lầm nào là không thể xóa bỏ được Là tinh thần đoàn kết vàhợp tác trong học tập, lao động.”[16, tr.202 – 203]

1.2 Nội dung nhân sinh quan Phật giáo

Nhắc đến nội dung của Phật giáo người ta nghĩ ngay đến nhân sinhquan Phật giáo hay là triết lý nhân sinh Phật giáo Với tư cách là một hình thái

ý thức xã hội, nhân sinh quan Phật giáo chịu sự qui định của tồn tại xã hội vàtác động của các hình thái ý thức xã hội khác Điều này giải thích tại sao tronglịch sử tồn tại và phát triển, nhân sinh quan Phật giáo có sự biến đổi, khôngcòn giữ nguyên như ở Phật giáo nguyên thủy

Nghiên cứu chi tiết, trong lịch sử phát triển của đạo Phật ta thấy cácphái Phật giáo có những quan niệm khác nhau về nhân sinh Phật giáo đượcchia làm hai phái, phái Tiểu Thừa và phái Đại Thừa Giữa hai phái này thìphái Đại Thừa có số lượng tín đồ nhiều hơn phái Tiểu Thừa Phái Tiểu thừacoi trọng “xuất gia khổ hạnh”, chủ trương “ngã không pháp hữu”, đề cao sựgiải thoát chính mình với mục đích cuối cùng là chứng đắc La Hán Tư tưởngchủ yếu của Phật giáo Tiểu thừa là “tịnh độ” và “xuất thế gian”, nhấn mạnh cuộcđời là bể khổ mà nguyên nhân là do “Thập nhị nhân duyên” Mục đích thoát khổlà phải xuất thế gian, xa rời cuộc sống phàm tục, diệt dục mới có thể rũ bỏ bụitrần để đạt tới cảnh giới Niết bàn Còn Phật giáo Đại thừa không quá đề cao xuấtgia khổ hạnh, chủ trương “ngã pháp đều không”, tự giác ngộ và giác ngộ ngườikhác, mục đích tu tập trở thành Phật Giới luật của Đại thừa cũng có nhiềubiến đổi khác với giới luật của Tiểu thừa ở sự tôn nghiêm cũng như nội dung.Nếu giới luật của Tiểu thừa tập trung vào việc đạt quả phúc cho mình, thì giới

Trang 18

luật của Đại thừa lại thường hướng đến lợi ích cho người khác Phật giáo Đạithừa về sau phát triển và lại chia thành nhiều bộ phái khác nhau, xuất phát từ

Ấn Độ và truyền bá ra các nước xung quanh, triết lý Phật giáo nói chung vànhân sinh quan Phật giáo nói riêng đã biến đổi, phát triển ngày càng đa dạngphong phú để thích nghi với truyền thống của mỗi quốc gia, dân tộc trongnhững thời kỳ lịch sử nhất định

Mặc dầu Phật giáo có nhiều tông phái, hơn nữa trong quá trình pháttriển, giáo lý được bổ sung hoàn thiện Tuy vậy các tông phái vẫn đề cập đếnvấn đề cơ bản như vấn đề bản thể và nhân sinh quan Trong khóa luận này,tác giả chỉ bàn về nhân sinh quan Phật giáo

1.2.1 Về con người

Nếu như triết học Tây Âu trung cổ cho rằng con người có nguồn gốc từthượng đế do thượng đế sinh ra Thì Phật giáo cho rằng con người không dothượng đế hay thần thánh sinh ra mà quan niệm về con người của Phật giáotập trung ở học thuyết cấu tạo con người, học thuyết về sự xuất hiện và táisinh

Nếu như theo quan niệm của triết học Mác–Lênin, con người là thựcthể sinh học – xã hội, “bản chất con người không phải là cái trừu tượng cốhữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người làtổng hòa những quan hệ xã hội”[14, tr.11] Thì theo Phật giáo con người là sựkết hợp giữa danh và sắc (vật chất và tinh thần) Nó thể hiện trong thuyếtDanh sắc

Thuyết Danh sắc: Con người được cấu tạo từ hai yếu tố vật chất và tinhthần nhờ duyên Danh-Sắc Có hai cách lý giải:

+ Thuyết Lục đại: Con người được cấu tạo từ sáu yếu tố:

Trang 19

- Địa: Nghĩa là đất, xương thịt.

- Thủy: Nước, máu, chất lỏng

- Hỏa: Lửa, nhiệt khí

- Phong: Gió, hô hấp

- Không: Các lỗ trống trong cơ thể

- Thức: Ý thức tinh thần

Trong 6 yếu tố này thì 5 yếu tố đầu tức là: địa, thủy, hỏa, phong, khôngthuộc về vật chất, còn yếu tố cuối cùng tức là yếu tố thức thuộc về tinh thần

+ Thuyết Ngũ uẩn: Xem con người được cấu tạo từ năm yếu tố

- Sắc: Vật chất bao gồm địa, thủy, hỏa, phong

- Thụ: Tình cảm, cảm giác con người

- Tưởng: Tưởng tượng, tri giác, ký ức

- Hành: Ý thức, những yếu tố khiến tâm hoạt động

- Thức: Ý thức theo nghĩa rộng gồm cả thụ, tưởng, hành

Trong 5 yếu tố này thì yếu tố đầu tức là sắc bao gồm: địa, thủy, hỏa,phong, thuộc về vật chất, còn 4 yếu tố sau tức Thụ, Tưởng, Hành, Thức là cácyếu tố thuộc về tinh thần

Phật giáo cho rằng con người được cấu tạo bởi phần sinh lý và phầntâm lý là sự biến đổi theo chu trình của Lục đại hoặc Ngũ uẩn Phần sinh lýbao gồm: địa, thủy, hỏa, phong, không được giới hạn bởi mối quan hệ sắchình và sắc tướng cùng với mối quan hệ cụ thể là: xương, thịt, da Còn phầntâm lý được biểu hiện với mối quan hệ thụ, tưởng, hành, thức cùng với cáctrạng thái khác nhau của con người đó là ái, ố, nộ, hỉ, lạc, ái dục Như vậy đây

Trang 20

cũng là sự biểu hiện trong mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác tức là không

do một đấng sáng tạo nào hay thần thánh nào tạo nên mà là sự kết hợp củadanh và sắc hay giữa tâm và vật Con người là sự kết hợp giữa phần tâm lý vàsinh lý, khi thể xác con người mất đi thì phần tâm lý của con người mất đinhưng lại chuyển sang một trạng thái khác và những trạng thái này gọi là luânhồi bởi nghiệp chi phối

Trong các thuyết về cấu tạo con người của Phật giáo, thì thuyết Ngũuẩn là phổ biến hơn cả Phật giáo cho rằng, con người không có thực thể là

“không”, gọi là “nhân vô ngã” (nhân không) Con người được tạo thành từNgũ uẩn cho nên không có chủ thể hằng thường tự tại Con người là sản vật,

tự nhiên không có hình thái cố định của tính vật chất nhưng vì đã ăn vật chấttrên thế giới nên dần hình thành khối vật chất thô kệch có sự phân biệt tínhcách, màu da Có bốn loại thực:

- Đoạn thực: Thức ăn là động, thực vật, thức ăn vật chất, là cơm ănnước uống hàng ngày

- Xúc thực: Thức ăn là những cảm xúc, cảm giác

- Tư thực: Thức ăn là sự suy tư, nghĩ ngợi

- Thức thực: Thức ăn là tinh thần, là thức ăn ở cõi vô sắc, sống bằngtinh thần thanh cao

Phật giáo quan niệm sự vật đều luôn vận động biến đổi, không có cái gìlà vĩnh hằng, bất biến Xuất phát từ triết lý nhân duyên khởi, Phật giáo chorằng thế giới là luôn luôn biến hóa, vô ngã, vô thường Theo Phật giáo, có hailoại vô thường Đó là sátna vô thường và tương tục vô thường Trong đó,sátna vô thường chỉ sự biến hóa trong khoảng thời gian cực ngắn Còn tươngtục vô thường chỉ trong một chu kỳ nối tiếp nhau đều có sinh - trụ - dị - diệt

Trang 21

(đối với sinh vật), hay thành - trụ - hoại - không (đối với sự vật), đối với conngười là sinh - lão - bệnh- tử

Quan niệm của nhà Phật cho rằng, con người là sự kết hợp động củanhững yếu tố động, cho nên là giả tạm, suy cho cùng là vô ngã Với cách nhìnnhư thế, Phật giáo cho rằng, mọi sự vật hiện tượng là giả không có thực, conngười chỉ là giả hợp của Ngũ uẩn tùy duyên giả hợp mà thành, cho nên là hưvọng tạm bợ Đủ nhân duyên hợp lại thì gọi là sống, hết nhân duyên tan ra gọilà chết Sống, chết là giả hợp tan của Ngũ uẩn Do mê lầm, mà vô thường conngười tưởng là thường, vô ngã mà tưởng có ngã Thân xác con người lànguồn gốc của mọi khổ đau Mọi đau khổ như đói khát, sinh, lão, bệnh, tử,nóng, giận, dâm dục v.v đều có gốc từ con người mà ra Điều này cho thấy,Phật giáo nhìn nhận cuộc đời con người là khổ

Triết học Mác–Lênin cho rằng con người chết là hết, không có conngười hiện hữu ở thế giới bên kia, chỉ có con người tồn tại trong thế giới hiệnthực Nếu ta đem quan niệm này vào trong Phật giáo là chưa hiểu đúng Phậtgiáo, mà theo Phật giáo, chết là điều kiện để có cái sinh mới sắp tới Nóchuyển sang một trạng thái khác, những trạng thái này gọi là luân hồi vànghiệp Phật giáo giải thích sự chết của con người bằng thuyết luân hồinghiệp báo Khi con người hình thành thì mọi suy nghĩ, hành động được ghilại ở một nơi là Alaya, cứ thế tích tụ thành Karma - Luật vô hình đặc trưngcủa người Khi con người chết luật vô hình quay lại gặp điều kiện thuận lợitạo thành sinh linh mới chịu quả ở kiếp trước và nhân ở kiếp sau cứ thế luânhồi Cuộc đời con người là một mắt xích trong chuỗi dài vô tận, chỉ là mộtgợn sóng trên mặt biển bao la Cuộc sống của con người trên trần thế khôngthay đổi được, nó do nghiệp cũ quy định theo luật nhân quả, mọi việc làm củacon người đều là nhân của sự kết hợp ngũ uẩn tiếp theo

Trang 22

Học thuyết nhân quả của Phật giáo cho rằng, con người gieo nhân nàohưởng quả ấy, ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão Đời này ra sức học tập thìđời sau thông minh sáng suốt, đời này lười biếng thì đời sau ngu đần dốt nát,đời này sát sinh thì đời sau chết yểu, đời này phóng sinh thì đời sau sống lâu,đời này làm khổ chúng sinh thì đời sau đau khổ, đời này có tâm vỗ về an ủingười khác thì đời sau hạnh phúc, đời này giận dữ cáu kỉnh thì đời sau tướngmạo xấu xí.

Như vậy Phật giáo quan niệm mối quan hệ nhân quả là mối quan hệphổ biến và chi phối tất cả Phật giáo nguyên thủy cho thế giới này không cónguyên nhân đầu tiên cũng như cuối cùng, thế giới không do một đấng tối caonào sáng tạo ra, từ đó đi đến bác bỏ mọi quan niệm cho rằng Thượng đế haylinh hồn là lực lượng đầu tiên sáng tạo ra muôn vật Tuy nhiên, quan niệm vềmối liên hệ nhân quả mà Phật giáo đề cập và nhấn mạnh thuộc lĩnh vực đạođức, tinh thần

Theo quan niệm của Phật giáo, xét đến cùng sự vật trong vũ trụ là hệthống nhân duyên của nhau, cứ thế sinh sinh diệt diệt mãi nối tiếp nhau vôcùng tận, thế giới là vô thủy vô chung, không có cái gì là trường tồn bất biến.Mọi cái đều biến đổi vận động không ngừng, không có cái vĩnh hằng, mọi vậtđều tuân theo quy luật sinh, trụ, dị, diệt Con người cũng thuộc về thế giớihiện tượng Thân xác con người được đề cập trong các thuyết Danh sắc,thuyết Lục đại, thuyết Ngũ uẩn của Phật giáo Theo luật nhân quả của Phậtgiáo, những việc làm của con người là nguyên nhân tạo ra sự ngũ uẩn tiếptheo Bản thân nghiệp này do kiếp trước quy định, cứ thế con người ở trongvòng luân hồi sinh tử không ngừng từ đời này sang đời khác Điều đó ít nhiềumang tính biện chứng Tuy nhiên, do tuyệt đối hóa sự vận động và gắn sự vậnđộng với tính giả tạm vô thường của sự vật, cho nên Phật giáo không có đượcquan niệm đúng đắn về sự thống nhất biện chứng giữa vận động và đứng im

Trang 23

tương đối, không thấy được sự vận động bao giờ cũng gắn với sự phát triểnmà điều này ta thấy rất rõ trong triết học Mác–Lênin, ta thấy được tính khoahọc về vấn đề này trong triết học Mác–Lênin.

1.2.2 Về cuộc đời con người

Triết học Phật giáo được liệt kê vào hệ thống triết học không chínhthống bởi vì nó bác bỏ Brahma và Atman, nhưng lại tiếp thu tư tưởng luân hồiSamsara và nghiệp Karma của Upanisad, cho rằng, mọi vật mất đi ở chỗ nàylà để sinh ra ở chỗ khác, trong quá trình biểu hiện sinh tử luân hồi đó là donghiệp chi phối theo nhân quả Để giải thoát chúng sinh khỏi nghiệp nhân quảluân hồi sinh - tử, tử - sinh đó Phật nói: ‘‘Này các đệ tử, ta nói cho mà biết,nước ngoài biển khơi chỉ có một vị mặn, đạo của ta ở đây chỉ có một vị là vịgiải thoát.” Như vậy múc đích cuối cùng của Phật là tìm ra con đường giảithoát, đưa chúng sinh ra khỏi vòng luân hồi bất tận đó Đức Phật nêu ra Tứdiệu đế và Thập nhị nhân duyên Đây là quan niệm được phản ánh trong bàithuyết pháp đầu tiên của đức Phật nhằm cắt nghĩa bản chất của nhân sinh,nguyên nhân gây ra đau khổ và con đường khắc phục Tứ diệu đế là bốn chân

lý giải thoát tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người đều phải nhận thức được

đó là: Khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế

a) Khổ đế (Duhkha – satya)

Triết lý nhân sinh Phật giáo cho rằng, bản chất cuộc đời con người từkhi sinh ra và chết đi là bể khổ Phật nói : “Đời là bể khổ, đời là cả nhữngchuỗi bi kịch liên tiếp, bốn phương đều là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiềuhơn nước biển, vị mặn của máu và nước mắt chúng sinh mặn hơn nước biển.”

Khổ đế nói lên bản chất của nhân sinh Quan niệm nhân sinh trong triếthọc Phật giáo mang tính tiêu cực yếm thế, coi đời chỉ là tạm bợ Do vô minh,con người không nhận thức được điều đó, do đó cứ chìm đắm mãi trong biển

Trang 24

sinh tử, luân hồi Cuộc đời con người đầy rẫy những nỗi khổ, nhưng không ainhìn thấy tường tận và rõ ràng Nỗi khổ của thế gian là khôn cùng, song cóthể chia làm ba loại khổ hay tám thứ khổ Như vậy Phật giáo đã dựa trên hiệnthực xã hội Ấn Độ bấy giờ để đưa ra ba loại khổ và tám thứ khổ Đánh dấuthời kì cuộc sống của con người bị áp bức bóc lột về thể xác cũng như tinhthần.

+ Ba loại khổ (Tam khổ) là: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ

- Khổ khổ: Muốn nói tới cái khổ chồng chất nối tiếp cái khổ Mỗichúng sinh là nạn nhân của bao cái khổ Cái khổ có ở ngay thể xác như bệnhtật hiểm nghèo lại có cái khổ khác bên ngoài thể xác như động đất, núi lữa,sóng thần, chiến tranh Tất cả những cái khổ đó liên tiếp dồn dập đến với conngười

- Hoại khổ: Do sự thay đổi tạo nên tuân theo luật vô thường - không cócái vĩnh hằng Ca dao có câu “nước chảy đá mòn”, để nói một sự vật vữngchắc, cứng rắn như đá nhưng cùng với thời gian chịu tác động của ngoại cảnhcũng phải thay đổi rồi bị hủy diệt tan biến Con người cũng vậy, không thểnằm ngoài quy luật chung đó

- Hành khổ: Những nỗi khổ về tinh thần con người, do không làm chủđược mình bị lôi kéo vào những dục vọng làm cho tâm bị dằn vặt sinh ra buồnvui, giận hờn, yêu ghét

+ Tám thứ khổ (Bát khổ): Theo Phật giáo tám thứ khổ trong cuộc đờicủa một con người gồm: sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bấtđắc, thủ ngũ uẩn khổ

Tám thứ khổ này là sự cụ thể hóa, biểu hiện một cách rõ nét hơn về cácnỗi khổ của chúng sinh ở trần thế, song nội dung thì được bao hàm bởi ba khổtrên

Trang 25

- Sinh khổ: con người khi sinh ra đã cất tiếng khóc chào đời, trước đócòn ở trong bụng mẹ thì chật chội tăm tối, người mẹ mang thai con thì vất vảmệt nhọc, kém ăn, mất ngủ, chịu bao cái khác thường so với người khác

- Trong cuộc sống hàng ngày, con người muốn tồn tại được thì trướchết phải ăn, uống, mặc ở, sinh hoạt, đi lại Muốn vậy, con người phải lao độnghết sức vất vả, cực khổ, tất bật trong công sống mưu sinh Đó là về mặt vậtchất, còn những nỗi khổ về tinh thần dày vò con người cũng không kém nỗikhổ về vật chất, nó làm con người suy kiệt, ốm yếu (lão khổ) Con người đếnlúc già, tuổi cao, thân thể hao mòn già yếu các giác quan, hoạt động kém dễsinh bệnh gây đau ốm cho người bệnh và người thân xung quanh

- Tử: đến một thời điểm nhất định con người phải chết, xa lìa trần thếđể lại nỗi xót thương vô hạn cho người thân, bè bạn dẫu biết đó là qui luật

- Ái biệt ly: nỗi khổ khi phải xa cách chia ly người mình thương yêunhư vợ chồng, cha mẹ, anh em Nỗi khổ này bao gồm cả nỗi khổ sinh tử biệtly: Sống phải xa nhau là khổ, nhưng người ở lại người đi vào thế giới khác thì

đó là nỗi khổ tình thương

- Oán tăng hội khổ: nỗi khổ vì phải sống cùng với người mà mìnhkhông hề yêu thích

- Sở cầu bắt đắc khổ: là những nỗi khổ do con người mong muốn, ước

ao mà không được

- Ngũ thụ uẩn khổ gây ra bởi sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm cho thântâm phải chịu hết thảy những nỗi khổ

Triết lý khổ đế đã chỉ ra những nỗi khổ lớn nhất trong cuộc đời conngười Trên bình diện triết học cái khổ còn là sự vô thường, thay đổi khônghoàn thiện Khổ còn là trạng thái bị quyết định Khổ trong Phật giáo có ýnghĩa là làm cho con người vươn lên sống tốt sống thiện để đời sau tốt hơn.Giá trị của nó còn ở chỗ thử thách con người trong đau khổ mới thấy được giá

Trang 26

trị phẩm chất con người Nỗi khổ có ở đời khi gặp phải không làm cho tinhthần hoảng loạn, mà phải biết bình tĩnh suy xét tìm cách giải khổ, làm chủđược bản thân, vượt lên trên số phận Nhưng mặc khác nó cũng bộc lộ hạnchế đó là với triết lý khổ đế này làm cho con người chìm đắm trong đau khổmà không thấy mặt lạc quan Đó là bi kịch đau khổ của con người Phật giáo

đã không nhìn thấy khả năng phản kháng, đấu tranh vươn lên của con người

sợ chết Nguyên nhân của lòng tham là vô minh, vô minh nghĩa là không sángsuốt, u tối, không nhận thức được thế giới, không thấy mọi sự vật đều là ảogiả, mà cứ cho là thực, Vì thế con người cứ chạy theo thế giới đó và chính nódẫn đến lòng tham tham sân si dục vọng ở trong con người Phật giáo đã điđến các giới luật để các tăng, ni trong Phật giáo làm theo hạn chế dục vọng,tăng có 250 điều, thì có 348 điều cấm Vô minh chính là nguyên nhân gây nênnổi khổ cho con người là tinh thần có giá trị quyết định đến con người trầmluân trong bể khổ hoặc giải thoát con người

Trong 12 nguyên nhân đưa ra thì Đức Phật cho rằng, vô minh và ái dụclà hai nguyên nhân chủ yếu đưa đến đau khổ cho con người Sự kết hợp giữa

ái dục và vô minh xuất phát từ nguồn gốc của ba thứ mà Phật gọi là tam độc:tham, sân, si

- Tham: Biểu hiện sự tham lam của con người làm xúi dục con ngườihành động để thỏa mãn lòng tham của mình Lòng tham của con người không

Trang 27

có giới hạn, đây là nguyên nhân gây bao nỗi thống khổ cho con người nhưchém giết, xâm hại lẫn nhau.

- Sân: Sự cáu gắt, bực tức, nóng giận khi con người không hài lòng vềđiều gì đó, làm cho con người không kiểm soát hết hành động của mình (giậnquá mất khôn); như thế cũng đem lại những điều khổ đau, không hay cho conngười Sách Phật ghi rằng, một đốm lửa giận có thể đốt hết muôn mẫu rừngcông đức và một niệm sân hận nổi lên, thì trăm ngàn, cửa nghiệp chướng mở

- Si: Sự si mê, lú lẫn, làm cho con người không phân biệt điều hay dở;điều đó gây bao tội lỗi, đau khổ cho mọi người Nếu tham sân nổi lên mà cótrí sáng suốt sẽ ngăn chặn được tham, sân

Tiếp đến Đức Phật trình bày những nguyên nhân của 12 nỗi khổ (Thậpnhị nhân duyên)

- Duyên hành: là hành động có ý thức, ở đây đã có sự dao động củatâm, có mầm mống của nghiệp Nghiệp sinh ra nổi khổ trong đời sống Bất

cứ hành động nào dù lớn hoặc nhỏ đều để lại kết quả tất yếu là nghiệp

- Duyên thức: Thức là sự vận động của ý thức , của tư duy biến đổitheo khuynh hướng mất cân bằng, trong sáng của tư duy, lầm lỗi không nhậnthức được chân lý với nghĩa ấy nó lại quay trở về với vô minh Đấy chính là

sự mất cân bằng của tư duy và ý thức trong đời sống của con người

- Duyên danh sắc: là sự tụ hợp của các yếu tố vật chất tinh thần , là sựgặp gỡ giữa con người và vạn vật nói chung là nơi bắt đầu của nổi khổ củacon người

- Duyên lục nhập: là căn nguyên để hình thành nổi khổ của con người

từ yếu tố bên ngoài làm cho con người mê đắm dẫn tới vô minh, ái dục

- Duyên xúc: Là sự tiếp xúc phối hợp giữa lục căn, lục trần và thức xúc,là quả của lục nhập, là nguyên nhân của thụ

Trang 28

- Duyên thụ: Là cảm giác do tiếp xúc với thế giới bên ngoài mà sinh rayêu, ghét, buồn, vui.

- Duyên ái: Là yêu nảy sinh dục vọng, mong muốn

- Duyên thủ: Có ái thì có thủ, đã yêu thì muốn chiếm lấy, giữ lấy chomình

- Duyên hữu: Tiến tới xác định chủ thể chiếm hữu (cái ta), từ đâychứng tỏ có nguyên nhân chứa đựng nguyên nhân

- Duyên sinh: Đã có tạo nghiệp là nhân tất yếu sẽ sinh ra quả, là hiệnhữu là tu sinh ra ở thế giới để làm người, hay súc sinh

- Duyên lão tử: Đã có sinh tất yếu có già và có chết Sinh - lão - bệnh - tửlà kết thúc một chu kỳ, đồng thời là nguyên nhân của một chu kỳ tiếp theo,bắt đầu một vòng luân hồi mới Cứ như thế tiếp diễn ở trong vòng đau khổsinh tử

Mười hai nhân duyên này đã kết thành sợi dây trói buộc người ta ởtrong bể khổ

c) Diệt đế (Nirodha – satya)

Phật giáo khẳng định, cái khổ có thể tiêu diệt được, tức là nếu ta đãthấy rõ cái căn nguyên của sự khổ, thấy rõ cái nhân và cái khổ thì ta cứ lầnlượt bỏ hết các nhân quả ấy để chấm dứt được luân hồi Vậy ta hãy lấy ngượclại thập nhị nhân duyên mà tính ngược lên từ số 12 đến số 1 Ta muốn không

có già có chết thì ta bỏ lại cái nhân làm cho ta sinh ra tái sinh ra ở thế gian.Muốn không phải sinh ra ở thế gian thì phải dứt bỏ cái nhân hữu rồi đến cáinhân thủ, nhân ái v.v Cứ thế mãi cho đến cái nhân hành, dứt được cái nhânhành thì cái vô minh phải mất, thì ta ra khỏi sự mờ tối vì nó mà làm chúng talăn lội ở chỗ khổ, khi chúng ta đã ra khỏi sự u tối, mê lầm để thấy ánh sáng,

có sự thông minh, thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử thì con người đã được giải

Trang 29

thoát Vậy tính theo tập đế từ vô minh trở xuống lão tữ thì ta tìm thấy khổ làhiển nhiên Nhưng tính theo diệt đế từ lão tữ đến vô minh tức là diệt được cáicăn nguyên của sự khổ, ra được ngoài luân hồi Vì vậy, con người phải tudưỡng thân tâm, đoạn trừ vô minh, để cho Phật tính bừng sáng, nó sẽ là ngọnđèn dẫn bước con người đến cõi Niết bàn

Diệt đế nói lên thế giới của sự giải thoát, thế giới không còn khổ đau Nhưvậy khi diệt đế người đang sống gọi là hữu dư niết bàn, khi diệt nổi khổ mà conngười đã chết gọi là vô dư niết bàn

d) Đạo đế (Màrga – satya)

Sau khi chỉ ra các nỗi khổ ở cuộc đời con người cũng như nguyên nhângây nên các nỗi khổ ấy Phật giáo khẳng định, có thể tiêu diệt được khổ, tiêudiệt nỗi khổ nhân sinh bằng trải qua tu luyện để thoát khổ đạt đến cõi Niết bàntuyệt đối tịch tịnh sung sướng, an lạc và tốt đẹp nhất Cuối cùng ngài đưa racon đường để thoát khổ thực chất là diệt trừ vô minh, con đường đó là bátchính đạo Đây là con đường tương đối phổ biến, là môn pháp chính được đềcập đến nhiều nhất đến nỗi có người lầm tưởng đạo đế và bát chính đạo làmột, đồng nhất Bát chánh đạo gồm có:

- Chính kiến: Là sự hiểu biết đúng đắn, nhận thức rõ về tứ diệu đế, hiểuđúng sự vật khách quan Người có chính kiến sẽ biết phân biệt đúng sai, chiphối mọi hành động, tâm trí sáng suốt

- Chính tư duy: Sự suy nghĩ phán xét đúng với lẽ phải Người tu hànhtheo chính tư duy biết suy xét vô minh là nguyên nhân của khổ đau, tìm raphương pháp tu luyện để thoát khổ cho mình và mọi người, đó là diệt trừ vôminh, tam độc

- Chính ngữ: Lời nói ngay thẳng, là đưa chính tư duy vào thực hànhtrong lời nói cụ thể: không nói dối, không tạo ra sự bất hòa giữa mọi người,

Trang 30

không nói lời ác dữ, không thừa lời vô ích Người tu hành trước khi nói năngphải suy nghĩ người nghe, nói lời đoàn kết dịu hiền.

- Chính nghiệp: làm điều thiện để tích lũy nghiệp lành Trong chínhnghiệp lại có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp

+ Thân nghiệp: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm

+ Khẩu nghiệp: Không nói dối, không nói ác, không nói hai lưỡi,không nói thêu dệt

+ Ý nghiệp: Không tham dục, không nóng giận, không tà kiến

- Chính mệnh: Lối sống trong sạch, lương thiện, ngay thẳng của conngười; không tham lam gian ác, ăn bám kẻ khác, không gian dối bất chính;sống chân chính bằng nghề nghiệp chính đáng Có thể nói đây là phong cáchsinh hoạt lành mạnh giúp cho con người luôn thoải mái nhẹ nhàng; như thếgiúp cho sức khỏe - vốn là cái quí giá nhất ở con người để họ làm việc có hiệuquả

- Chính tinh tiến: sụ nổ lực, khát vọng đạt tới chân lý

- Chính niệm: Trong đầu con người luôn có ý niệm trong sạch ngaythẳng, ghi nhớ những đạo lý chân chính, điều hay lẽ phải ở đời, chăm lothường xuyên niệm Phật

- Chính định: Sự tập trung tư tưởng vào một việc chính đáng, đúngchân lý, tĩnh lặng suy tư về tứ diệu đế của vô ngã vô thường về nỗi khổ củacon người, là cơ sở cho chính kiến, chính tư duy ở trình độ cao

Tóm lại, Bát chánh đạo được tập trung ba nguyên tắc: giới, định, tuệ.Là giữ giới luật, thực hành thiền định khai thông trí tuệ bát nhã Tuệ đượcbiểu hiện trong chính kiến và chính tư duy Định được biểu hiện trong chínhniệm và chính định Các yếu tố còn lại như chính mệnh, chính ngữ, chính tinhtiến gọi là giới Đó là ba nguyên tắc dẫn tới cõi Niết bàn

Trang 31

Với việc tu tập theo bát chính đạo mà Đức Phật đã chỉ ra, con người sẽthu được lợi ích thiết thực cho cả mình và xã hội, họ sẽ tự ý thức, sửa mình từ

bỏ mọi tội lỗi, tu thân tích đức như thế con người sẽ đạt tới sự hoàn thiện.Đây có thể coi là cơ sở, động lực để tạo ra sự yên bình, hạnh phúc khôngnhững trong xã hội hiện tại mà cả xã hội tương lai, bởi nhân nào quả ấy Mộtlần nữa cho thấy, những giá trị nhân sinh sâu sắc của Phật giáo được khẳngđịnh Mục đích cao nhất của Phật giáo lấy việc giải thoát đau khổ làm trọngtâm tư tưởng trong giáo lý của mình Tinh thần triết lý nhân sinh mà Phật giáogữi gắm chúng ta đòi hỏi trách nhiệm về đạo đức làm người, không được làmngơ trước những nỗi khổ của người khác, phải toàn tâm toàn ý cứu khổ chomọi người Đó cũng là yêu cầu đối với chính mình, mình có thực hiện tốt thìmới hy vọng thoát khổ

Tiểu kết chương 1: Quan niệm của Phật giáo về nhân sinh quan mang

tính nhân bản sâu sắc đề cao vai trò của con người, nhưng nó cũng chứa đựng

tính chất duy tâm chủ quan về đời sống xã hội và đời sống con người

Sự khác biệt căn bản của triết lý Phật giáo với các tôn giáo khác là ởchỗ: Phật giáo đã chỉ ra cho chúng sinh con đường thoát khỏi khổ đau, thoátkhỏi bể khổ trầm luân để đạt đến cõi Niết bàn không dựa vào đấng siêu nhiên,thần thánh mà bằng tự lực của chúng sinh Đó là con đường tu học, trau dồi trítuệ, phá vỡ vô minh

Con người trong triết học Mác-Lênin vừa là mục tiêu vừa là động lựccủa xã hội, con người trong triết học Phật giáo là mục tiêu và động lực củatính thiện Cùng đạt mục đích thống nhất Chân-Thiện-Mỹ, nhưng con ngườitrong triết học Mác-Lênin là chủ thể sáng tạo lịch sử, còn con người trongtriết học Phật giáo là quá trình tu hành để đạt hạnh phúc ở Niết bàn bằng giácngộ và thực hành Phật tính của mỗi con người

Trang 32

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO

ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI HUẾ HIỆN NAY 2.1 Quá trình ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần trong lịch sử của con người Huế

Những giá trị tinh thần của con người gắn liền với điều kiện tự nhiên vàđời sống xã hội của mỗi quốc gia Bên cạnh gìn giữ bản sắc văn hóa thì việcgiao lưu tiếp thu văn hóa văn minh nhân loại được nước ta vẫn rất quan tâmlàm phong phú thêm đời sống tinh thần của dân tộc Phật giáo khi truyền vàoViệt Nam nhanh chóng có sức ảnh hưởng ăn sâu vào đời sống tinh thần ngườiViệt Nam nói chung và người Huế nói riêng

Phật giáo ra đời ở xã hội Ấn Độ cổ đại cách đây hơn 2500 năm và đượctruyền bá ra nhiều nước trên thế giới Khi truyền vào nước ta với tư cách làtôn giáo ngoại lai và có sự cạnh tranh gay gắt với những tôn giáo, tín ngưỡng

có từ trước của nước ta Tuy vậy Phật giáo đã nhanh chóng được nhân dân tatiếp nhận và có sự cải biến cho phù hợp văn hóa nước ta

Khi Phật giáo truyền vào Việt Nam thì Huế là một trong những địadanh nhanh chóng trở thành ba trung tâm lớn của Phật giáo cả nước Nó có sựlan tỏa mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của người dân xứ Huế Phật giáoHuế từ khi du nhập đến nay đã tồn tại và gắn liền với lịch sử Thuận Hoá, lịch

sử dân tộc, nó ngấm sâu vào đời sống tâm linh, và trở thành một bộ phận vănhoá, lối sống, nếp sống, đạo đức của người Huế

Huế xưa kia có tên là Thuận Hóa Thuận Hóa là tên của hai châu Thuậnvà Hóa thời Trần Châu Ô nguyên là đất Ô Mã và Rí nguyên là đất Việt Lýcủa vương quốc Chiêm Thành Năm 1301 vua Trần Nhân Tông vân du đếnChiêm Thành thăm vua Chế Mân, người đã cùng hợp sức chiến đấu anh dũng

Trang 33

với nhân dân Đại Việt đánh bại kẻ thù chung là bọn xâm lược quân NguyênMông Chính trong cuộc vân du này mà Trần Nhân Tông thu phục vua ChếMân thành con rể của mình, và thu hồi đất đai hai châu Ô Mã và Việt Lý trởvề với nước Đại Việt Để có được nó Trần Nhân Tông quyết định gã côngchúa Huyền Trân cho vua Chế Mân Khi vua Trần Nhân Tông đưa ra quyếtđịnh này thì cả triều đình phản đối Thế nhưng vị anh hùng – nhà quân sựthiên tài này vẫn dứt khoát quyết định của mình Quyết định này chung qui làxuất sắc, vượt lên những thành kiến và mặc cảm đương thời Và chính ảnhhưởng của nhân sinh quan Phật giáo đã góp phần giúp họ vượt lên nhữngthành kiến văn hóa phương bắc để đưa ra quyết định này Điều đó được minhchứng bởi: “Ngay sau hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống quân xâmlược Nguyên Mông (1285-1288) vừa chấm dứt, nhìn đám quân thù vừa bịquân ta bắt làm tù binh mà trước đó đã gây không biết bao nhiêu tang tóc chođất nước, người Đại Việt không khỏi cảm thương cho số phận của họ (qua bàithơ “thương tên tù”, thương tên giặc bị bắt của nhà thơ Huyền Quang):

“Chính máu thành thư muốn gửi lời

Lẻ bay nhạn buốt ải mây khơi

Đêm nay mấy kẻ nhìn trăng nhỉ

Đôi ngả lòng chung một vời vợi”1; tr.24]

“Xuất phát từ cái nhìn bình đẳng mang tính Phật giáo này đã giúp chocon người như vua Trần Nhân Tông cho đến Trần Đạo Tải đã đi đến mộtquyết định có lợi cho dân tộc và con cháu muôn đời sau Đó là việc gã côngchúa Huyền Trân và sát nhập hai châu Ô và Lý của vương quốc Chiêm Thànhthành hai châu Thuận, Hóa của quốc gia Đại Việt.”[1; tr.25]

Ngược dòng lịch sử trở về từ năm 1311 đến năm 1460 thì ta thấy Phậtgiáo Huế có nhiều biến đổi sâu sắc Chính quyền trung ương buổi đầu khi tiếp

Ngày đăng: 30/12/2013, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, Lịch sử Phật giáo xứ Huế, Nxb:Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001 Khác
2. Châu Nguyên Chương, Từ điển Phật học, Nxb:Thuận Hóa, 1999, Huế Khác
3. Đoàn Trung Còn, Triết lý nhà Phật, Nxb: Tôn giáo, 2003 Khác
4. Đoàn Trung Còn, Lịch sử nhà phật, Nxb: Tôn giáo, 2001 Khác
5. Nguyễn Hiền Đức, Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Khác
6. Bộ giáo dục và đào tạo, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nxb: Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Khác
7. Bộ giáo dục và đào tạo,Triết học Mác-Lênin, Nxb: Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Khác
8. Bộ giáo dục và đào tạo,Triết học, tập 1, Nxb: Chính trị quốc gia, Hà Nội,1993 Khác
9. Ph.Ăng Ghen, Chống Đuy Rinh, Nxb: Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Khác
10. Nguyễn Hùng Hậu, Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, Nxb: Khoa học xã hội, tập 1, Hà Nội, 2002 Khác
11. Lê Như Thích Trung Hậu, Ca dao tục ngữ Phật GiáoViệt Nam, Nxb: Thành Phố Hồ Chí Minh, 2002 Khác
12. Nguyễn Duy Hinh, Tư tưởng Phật Giáo Việt Nam, Nxb: Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999 Khác
13. Định Lực, Phật Giáo Việt Nam và thế giới, Nxb: Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2003 Khác
14. C.Mác và Ph.Ăngghen,Toàn tập, Tập 3, Nxb: Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Khác
15. Thích Trí Quảng (1999), Lược giải kinh Pháp Hoa, Nxb: Thành phố Hồ Chí Minh Khác
17. PGS Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb: Viện Triết học, Hà Nội, 1991 Khác
18. PGS Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Khác
19. Hoàng Ngọc Vĩnh, Nhân sinh quan Phật giáo qua góc nhìn của lịch sử triết học, Luận văn thạc sĩ triết học, Đại Tuyên giáo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1994 Khác
20. Thạc Sĩ Hoàng Ngọc Vĩnh, Phật giáo Huế với đời sống văn hóa tinh, Đề tài khoa học cấp bộ, Đại học khoa học Huế, 2008 Khác
21. Giáo sư, tiến sĩ, Nguyễn Hữu Vui, Lịch sử triết học, Nxb: Chính trị quốc gia, Hà nội, 2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w