Bởi lẽ muốn nhìn nhận, phân tíchđánh giá những điều kiện làm nên bản thân quá trình đó, các nguyên nhân của nó, các kết quả của quá trình đó như thế nào, việc mổ xẻ, nắm được đâu lànguyê
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS DƯƠNG VĂN CHUNG
Huế, 2011
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêngbản thân tôi, các tài liệu được xử dụng trong luận văn là trung thực
và được lấy ra từ các văn bản có tính chính thống và trung thực,dựa trên sự tìm tòi, nghiên cứu các tài liệu khoa học đã công bố cóliên qua đến đề tài, đồng thời đảm bảo tính khách quan, khoa học
và nghiêm túc!
Tác giả
Võ Công Úc
Trang 3Thưa các đồng chí cán bộ là đồng nghiệp trong cơ quan tỉnh đoàn Quảng Nam;
Thưa gia đình, bạn bè, các anh, chị ân tình!
Trong gần 03 năm qua, được sự cho phép và tạo điều kiện của quí lãnh đạo cơ quan, bản thân tôi được theo học lớp Cao học triết 2009-2011 Trong thời gian đó tôi đã đón nhận được rất nhiều tình cảm ân cần, giúp đỡ của quí vị; các thầy- cố giáo khoa Lý luận chính trị- trường Đại học Khoa học Huế, các đồng chí là đồng nghiệp, các anh chị trong cơ quan tỉnh đoàn Quảng Nam.
Nhân kết thúc khóa học tôi được bày tỏ lời cảm ơn qua trang giấy đầu của Luận văn Xin chân thành cảm ơn TS Dương văn Chung- Trưởng phòng Tổ chức- Hành chính, trường Đại học Nông lâm Huế; Xin cảm ơn các đồng chí cán bộ trong Tỉnh đoàn; các anh chị là lãnh đạo cơ quan đã quyết định tạo điều kiện cho việc học tập của bản thân tôi; những ai đã giúp đỡ, ủng hộ, thầm cảm ơn những anh chị
đã chỉ bảo tôi để bản thân có được những thuận lợi trong công việc
Cuối cùng tôi xin cảm ơn Ba, Mẹ, anh, chị em trong gia đình đầy vất vả của tôi đã hết lòng vì sự phát triển của đứa em cực nhọc; các bạn bè và cả những ai mà tôi có dịp diện kiến qua những trang giấy.
Thầm cảm ơn tất cả mọi người!
Tam Kỳ, Mùa Đông- 2011
TÁC GIẢ
Võ Công Úc
Trang 4Trang
MỞ ĐẨU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1 - VỀ MỐI LIÊN HỆ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC 8
1.1 Mối liên hệ nguyên nhân và kết quả trong lịch sử triết học trước Mác 8
1.1.1 Trong triết học phương Đông 8
1.1.2 Quan niệm về quan hệ nhân - quả trong triết học phương Tây 13
1.2 Quan điểm triết học mác lênin về mối quan hệ nguyên nhân -kết quả 18
1.2.1 Khái niệm về nguyên nhân, kết quả 18
1.2.2 Tính chất của mối liên hệ nhân - quả 19
1.2.3 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 21
CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ NGUYÊN NHÂN -KẾT QUẢ TRONG THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐOÀN Ở QUẢNG NAM HIỆN NAY 31
Trang 5312.2 Tình hình thanh niên và thực trạng công tác Đoàn ở Quảng Namhiện nay 33
2.2.1 Tình hình Thanh niên Quảng Nam 33 2.2.2 Thực trạng công tác Đoàn ở Quảng Nam hiện nay 35 2.2.3 Từ thực trạng công tác Đoàn hiện nay, cần xác định được nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp quyết định đến sự phát triển công tác Đoàn của Quảng Nam hiện nay 38
2.3 Vận dụng mối quan hệ nhân- quả của triết học Mác để phát triểncông tác Đoàn ở Quảng Nam hiện nay 44
2.3.1 Biện chứng về mối quan hệ nhân- quả trong công tác Đoàn Quảng Nam hiện nay 44 2.3.2 Một số giải pháp cơ bản cho công tác Đoàn ở Quảng Nam hiện nay 48 KẾT LUẬN 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6TNCS : Thanh niên Cộng sản.ĐVTN : Đoàn viên thanh niên.TNTP : Thiếu niên tiền phong.
LHTN : Liên hiệp thanh niên.HSSV : Học sinh sinh viên
Trang 7MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phạm trù “nguyên nhân” và “kết quả” luôn hiện diện rất phổ biến trongbất cứ sự vật, hiện tượng, quá trình nào Bởi lẽ muốn nhìn nhận, phân tíchđánh giá những điều kiện làm nên bản thân quá trình đó, các nguyên nhân của
nó, các kết quả của quá trình đó như thế nào, việc mổ xẻ, nắm được đâu lànguyên nhân của vấn đề, đâu là kết quả của quá trình sẽ là cơ sở cho việc đưa
ra các kết luận chính xác để thúc đẩy sự vận động của sự vật nhanh hơn.Trong công tác Đoàn nói riêng hay các vấn đề khác cần phải nắm và vận dụng
nó một cách thường xuyên, phổ biến và sâu sắc để giúp chúng ta có đủ cơ sở
lí luận, vận dụng nó vào thực tiễn Mác dã từng nói: nếu thâm nhập vào thựctiễn thì triết học có thể biến thành sức mạnh vật chất
Theo quan điểm của Mác thì không có một kết quả nào mà không thểkhông tìm thấy nguyên nhân của nó, ngược lại với bất kì nguyên nhân tácđộng nào đó đều mang lại một kết quả nhất định Trong thực tiễn đã và đangdiễn ra rất nhiều các quá trình, hiện tượng, chúng tạo ra một hệ thống các quátrình, sự việc mà nếu chúng ta chú ý nắm bắt đều có thể cho ta những kết luậnxác đáng
Đoàn Thanh niên là một trong những tổ chức chính trị- xã hội, là cánhtay đắc lực, đội dự bị tin cậy của Đảng Hoạt động tích cực của Đoàn thanhniên trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đã, đang và sẽ góp phần thúcđẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội nói chung
Đổi mới nội dung hoạt động phong trào Đoàn là một công việc quantrọng trong công cuộc đổi mới toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội doĐảng ta khởi xướng Thực tiễn trong những năm qua, phong trào Đoàn ở ViệtNam nói chung và Quảng Nam nói riêng đã và đang đạt được những kết quả
Trang 8rất đáng tự hào Qua đó mang lại cho thế hệ trẻ một niềm tin vào tương lai,vào công cuộc đổi mới đất nước trong tình hình mới qua đó tạo nguồn nhânlực quan trọng cho sự phát triển kinh tế tỉnh nhà Trong thời gian tới sựnghiệp đổi mới đất nước sẽ được phát triển với tốc độ cao hơn và toàn diệnhơn Theo tinh thần đó, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cần phải có sự đánh giá,tổng kết và đề ra kế hoạch, biện pháp cho riêng mình trong giai đoạn mới.Cũng giống như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội để đạt được những kếtquả tốt, Đoàn cần phải quán triệt một cách toàn diện và sâu sắc cơ sở lí luậnchung và sự vận dụng phù hợp hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương Phạmtrù nguyên nhân- kết quả trong triết học Mác là cơ sở để tìm ra các nguyênnhân chủ yếu có ảnh hưởng đến công tác Đoàn, đồng thời phân tích nó để tìm
ra những hạn chế, tồn tại trong phong trào nhằm rút ra các giải pháp để thúcđẩy phong trào Đoàn phát triển hơn nữa trong thời gian đến
Là một tỉnh vừa mới tách ra từ Quảng Nam- Đà Nẵng cũ, trong nhữngnăm qua, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Quảng Nam đã vượt qua nhiều khókhăn, thử thách cùng với các ngành, lĩnh vực khác đóng góp quan trọng cho sựphát triển của Tỉnh nhà Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, nhìnchung hiện nay trong công tác Đoàn thanh niên vẫn còn nhiều bất cập trênnhiều phương diện cả về mặt tổ chức, cả về mặt con người Điều này thể hiện ởmối quan hệ giữa đoàn viên với tổ chức có nơi, có lúc chưa thật chặt chẽ, tínhtiên phong gương mẫu của một số cán bộ đoàn chưa cao, sự nhiệt huyết củabản thân mỗi đoàn viên còn hạn chế, và đôi lúc, đôi nơi còn có cả sự buôn lỏng
sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền ; trong đó có cả các nhân tố chủquan và khách quan cho nên đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến phong tràoĐoàn, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của thế hệ trẻ Suy đến cùng thìnhững tồn tại, hạn chế đó rất khó tránh khỏi, nhất là đối với một tỉnh vừa mớithành lập như Quảng Nam Tuy vậy, tất cả những vấn đề đó cần nhận thức một
Trang 9cách sâu sắc và toàn diện từ đó cần có những biện pháp đúng đắn tích cực đểxây dựng phong trào Đoàn phát triển mạnh mẽ trong thời gian đến
Vì vậy, nghiên cứu về mối quan hệ nguyên nhân và kết quả, không chỉ
có ý nghĩa lý luận, ý nghĩa học thuật mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắctrong việc thúc đẩy phong trào Đoàn ngày càng phát triển Với ý nghĩa đó tác
giả chọn vấn đề “Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả trong công tác
đoàn ở Quảng Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp khóa học của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một trong những nội dung của phép biện chứng duy vật, cặp phạmtrù nguyên nhân và kết quả đã được nhiều tác giả tiếp cận và nghiên cứu từnhiều khía cạnh khác nhau Với ý nghĩa phương pháp luận và ý nghĩa thựctiễn, phạm trù nguyên nhân và kết quả được nghiên cứu chủ yếu từ hai gócđộ: học thuật và vận dụng ý nghĩa phương pháp luận vào các vấn đề cụ thể.Tuy vậy, việc phân chia này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối Do vậy, việc điểmtình hình nghiên cứu của đề tài sẽ theo hai hướng nghiên cứu trực tiếp và giántiếp có liên quan phạm trù nguyên nhân và kết quả các công trình cụ thể là:
Nguyễn Văn Dũng (1997), Arixtốt với học thuyết phạm trù, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội; Phạm Văn Đức (1997), Phạm trù quy luật trong triết học phương
Tây, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội; Phạm Văn Nhuận (1999), "Một cách tiếp
cận về cặp phạm trù “điều kiện khách quan” và “nhân tố chủ quan”", Tạp chí Triết học, Số 6; Hội đồng TW chỉ đạo biên soạn (2000), Giáo trình triết học
Mác-Lênin, Lê Doãn Tá (2000), Khái lược triết học trước Mác, Nxb Chính trị
Quốc gia Hà Nội; Bộ Giáo Dục và Đào tạo (2002), Giáo trình triết học
Mác-Lênin, NXGD; Đặng Hữu Toàn (2002), Chủ nghĩa Mác-Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; Bộ Giáo Dục và Đào tạo
(2004), Giáo trình triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội;
Hoàng Mỹ Hạnh (2004),“Bản chất nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng
Trang 10tạo khái niệm, phạm trù”, Tạp chí triết học, Số 9; Lê Văn Giạng (2004), Tìm
hiểu sự phát triển của triết học duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử cuối thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Tiến Dũng
(2006), Lịch sử triết học phương Tây, Nxb thành phố Hồ Chí Minh; Vũ Gia Hiền (2006), Triết học từ giác độ duy vật biện chứng, Nxb Chính trị Quốc gia
Hà Nội; Lê Hữu Nghĩa (2006), Những chuyên đề triết học, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội; Nguyễn Hữu Vui (2006), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc
gia Hà Nội; Phạm Văn Chung (2007), “Phạm trù vật chất của Chủ nghĩa duyvật biện chứng trong “chủ nghĩa duy vật” và “chủ nghĩa kinh nghiệm phêphán”, Tạp chí Triết học, Số 7
Các tài liệu về công tác Đoàn nói chung:
Văn kiện Đảng về công tác Thanh niên (1975), Nxb Thanh niên; Hồi kí
về Đoàn (1975), Nxb Thanh niên giải phóng; Trần Bạch Đằng (1976), Hãy tin cậy chúng tôi, Nxb Thanh niên giải phóng; Truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đoàn (1976), Nxb Thanh niên; Crupxcaia (1979), Bàn về cán bộ phụ trách thiếu nhi và công tác thiếu nhi, Nxb Thanh niên; Đỗ Mười
(1997), Thanh niên cần nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, chí lớn, quyết tâm
chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, sánh vai cùng thanh niên thế giới, Nxb
Thanh niên; Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh (1999), 5
bài học lí luận chính trị cho đoàn viên Thanh niên, Nxb Thanh niên; Dương
Tự Đam (2002), Định hướng giá trị cho thanh niên sinh viên trong thời kỳ
CNH HĐH đất nước, Nxb Thanh niên; Đoàn Văn Thái (2002), Nhiệm vụ của thanh niên Việt Nam trong thời kỳ CNH- HĐH, Nxb Thanh niên; Lê Văn Cầu
(2002),Phát triển các mô hình, hình thức hoạt động lao động và sáng tạo
khoa học và công nghệ của Đoàn thanh niên, Nxb Thanh niên; Trần Văn
Miều (2002), Phong trào thanh niên với việc đào tạo nguồn nhân lực trẻ, Nxb Thanh niên; Nguyễn Huy Dung (2003), Lý tưởng và lẽ sống, Nxb Thanh niên;
Trang 11Dương Tự Đam (2003), Thanh niên học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí
Minh, Nxb Thanh niên; Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (2003), Công tác đoàn kết tập hợp Thanh niên vùng tôn giáo dân tộc, Nxb Thanh niên; Vũ
Trọng Kim (2004), Một số vấn đề về công tác vận động thanh niên hiện nay, Nxb Thanh niên; Nguyễn Văn Buồm (2005), Tình hình thanh niên Việt Nam
số liệu và phân tích, Nxb Thanh niên; Dương Tự Đam (2005), Lãnh đạo và quản lý công tác thanh niên trong thời kỳ đổi mới, Nxb Thanh niên; Trần Văn
Miều (2005), Tuổi trẻ tham gia xây dựng xã hội học tập, Nxb Thanh niên; Phạm Bằng - Nguyễn Hồng Thanh (2005), Tình hình thanh niên Việt Nam thế
kỷ XXI- những sự kiện quan trọng nhất, Nxb Thanh niên; Nguyễn Thọ Ánh
(2006), Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị, Nxb Thanh niên; Đoàn Văn Thái (2006), Quản lý Nhà nước với công tác thanh
niên trong giai đoạn hiện nay, Nxb Thanh niên; Trung ương Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh (2007), Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác, Nxb Thanh niên; Phạm Bá Khoa (2008), Thanh niên Ba sẵn sàng khát vọng tuổi hai
mươi, NXB Thanh niên; Nhiều tác giả (2008), Những kiến thức cần thiết cho Thanh niên, Nxb Thanh niên; Nguyễn Văn Thanh (2008), Đổi mới Đoàn Thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Thanh niên
Về tài liệu liên quan đến công tác Đoàn ở Quảng Nam.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Quảng Nam (2002), "Chào mừng Đạihội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Tỉnh Quảng Nam lần thứ XV"; HộiLiên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Quảng Nam (2006), "Biên giới trong tráitim tôi"; Ban Chấp hành Tỉnh đoàn Quảng Nam (2007), "Báo cáo chính trị tạiĐại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Quảng Nam lần thứ XV, XVI"; ĐoànTNCS Hồ Chí Minh tỉnh Quảng Nam (2007), "Chào mừng Đại hội Đại biểuĐoàn TNCS Hồ Chí Minh Tỉnh Quảng Nam lần thứ XVI"; Đoàn TNCS HồChí Minh tỉnh Quảng Nam (2011), “Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Tỉnh
Trang 12Quảng Nam” được biên soạn công phu, chi tiết qua từng thời kì giúp tác giả
có cái nhìn tương đối xuyên suốt, toàn diện trong quá trình làm luận văn
Điểm qua tình hình nghiên cứu cho thấy đến thời điểm này chưa có mộtcông trình nào trùng với hướng nghiên cứu của đề tài luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Đề cập mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả và vậndụng phương pháp luận của nó vào thực tiễn công tác Đoàn ở Quảng Namhiện nay
Nhiệm vụ
Làm rõ ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ biện chứng giữanguyên nhân và kết quả, làm rõ sự vận dụng trong mối quan hệ nguyên nhân
và kết quả qua đó đề xuất một số giải pháp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trong giới hạn Luận văn Thạc sĩ, đề tài chỉ khái quát mối quan hệnguyên nhân và kết quả trong lịch sử triết học Và việc vận dụng các phạm trù
đó vào giải quyết các vấn đề lý luận cụ thể trong công tác Đoàn ở Quảng Namhiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp,lịch sử cụ thể, diễn dịch, quy nạp và một số phương pháp khác
6 Đóng góp của luận văn
Trình bày một cách có hệ thống các quan niệm nguyên nhân và kết quả.Phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp cho công tác Đoàn ở QuảngNam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá từ góc độ lí luận
Trang 13Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho học viên, sinh viên cáctrường Đại học, Cao đẳng, các đoàn viên trong các tổ chức cơ sở Đoàn, ngườicán bộ đoàn và cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2chương, 5 tiết:
Trang 141.1.1 Trong triết học phương Đông
Quan điểm của Phật giáo về mối quan hệ nguyên nhân và kết quả
Nội dung thuyết nhân quả theo quan điểm của Phật giáo có thể tìm hiểudưới nhiều góc độ khác nhau trong đó thuyết nhân quả trong triết học Phậtgiáo chủ yếu bàn đến các khía cạnh như:
- Nhân quả có nội dung định hướng giá trị đạo đức
Các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông trong đó có ViệtNam thì lý thuyết về nhân quả dạy con người lánh xa cái ác và làm các việclành nên tự bản thân nó mang ý nghĩa đạo đức, luân lý của đạo Phật đã đónggóp tích cực cho giá trị đạo đức xã hội Còn với những người chưa làm cácđiều thiện thì cái khuynh hướng tránh xa cái khổ đau của con người khiến họtránh xa các tội ác, nếu họ tin nhân quả Điều này cũng đóng góp vào côngcuộc loại trừ các hiện tượng xã hội xấu, tiêu cực Trong phạm vi chuẩn mựccủa lương tâm thì nhân- quả nghiêm chỉnh đặt ra vấn đề trách nhiệm cá nhâncủa con người, bởi con người là chủ nhân của nghiệp, vừa là kẻ thừa tự củanghiệp, như chính đức Phật đã dạy
Thiện ác là hai khái niệm thường được nghe nhiều nhất khi nói về kếtquả của phạm trù nhân- quả Thiện của Phật giáo được hiểu như là những gìđang đem lại lợi ích cho mình và người trong hiện tại và tương lai, theohướng ly tham, ly sân, ly si, không ganh ghét, không đố kỵ, không gây tổnhại Trên căn bản thiện này, các yêu cầu xã hội như công bằng, nhân đạo, chí
Trang 15công vô tư, liêm, chánh, kiệm, cần được phát triển tốt đẹp Các hiện tượngtham nhũng, trộm cắp,… sẽ bị dập tắt Con người chịu trách nhiệm đời sốngtâm thức của mình nên tự nguyện lánh xa mọi điều xấu, chứ không phải vì sợhình phạt, chỉ trích, hoặc vì khen thưởng….Cơ sở triết lý ly tham, ly sân, ly si,
ly ác, ly hại ở trên vững chắc hơn cơ sở hình phạt của pháp luật, bởi vì conngười nếu muốn thoát khỏi tội lỗi có thể bằng mọi cách để pháp luật khônglàm gì được họ nhưng người ta không thẻ chạy trốn lương tâm và nghiệp quảcủa mình Theo quan điểm của Phật thì tòa án pháp luật sẽ không trường cửu
và đủ sức nặng so với lương tâm trong chính bản thân mình
- Theo quan điểm của Phật thì bản thân con người cũng là một biểu hiện cụ thể của qui luật nhân quả trong chuỗi biến hóa của tự nhiên
Con người, theo Phật giáo là một hợp thể của vật chất và tinh thần(năm uẩn) Nó là kết quả của quá trình vận động nhân quả- nghiệp báo Conngười cũng vậy, theo Phật giáo thì con người của hiện tại cũng là kết quả củanguyên nhân quá khứ Quá trình vẫn động này không đơn thuần là nhân nàoquả nấy mà cả một chuỗi nhân- duyên- quả tương tác qua lại, chi phối và ảnhhưởng lẫn nhau trùng trùng điệp điệp để hình thành chúng sanh Trong vấn đềnhân quả của con người có một vấn đề được đặt ra, đó là Nghiệp Nghiệp làhành động tác ý, một hành động không có tác ý thì chỉ là hành động, màkhông gọi là nghiệp Vì thế, “không thể nào lập được một bản liệt kê đốichiếu giữa các loại nhân và quả bởi vì nhân và quả đều là duyên sinh mang ýnghĩa bất định như các pháp hữu vi khác” [46; tr247]
Nhân quả nói đầy đủ là nhân- duyên- quả Nhân là nguyên nhân chính,duyên là những nguyên nhân phụ, quả là kết quả Tiến trình từ nhân đến quảrất phức tạp: nhân quá khứ sinh quả hiện tại; nhân quá khứ sinh quả tương lai.Trong đó, duyên (nhân phụ) đóng vai trò rất quan trọng, chi phối mãnh liệtđến quả, có khả năng làm lệch hướng kết quả so với nhân ban đầu Do vậy,
Trang 16nhận thức nhân quả phải dựa trên nền tảng, tương quan duyên khởi, mỗi hiệntượng vừa là kết quả vừa là nguyên nhân, luôn chi phối lẫn nhau vô cùng tận.
- Cùng với con người thì thế giới tự nhiên luôn trôi chảy theo một qui luật gọi là nhân quả Ví dụ như mưa là kết quả, mây là nguyên nhân; mây là
kết quả, hơi nước là nguyên nhân…
Trong thế giới tương quan của hiện tượng, mỗi một sự vật đều cónguyên nhân của nó Nguyên nhân của sự có mặt đó gọi là nhân, và hiện hữugọi là quả Tương quan nhân quả của sự vật hiện tượng trong thế giới tự nhiên
là tương quan vòng tròn hay vòng xoáy ốc Tức là mỗi một sự vật vừa là kếtquả vừa là nguyên nhân Sự tồn tại của mỗi một sự vật đó có một nguyênnhân chính và các nguyên nhân phụ Nguyên nhân chính gọi là nhân, nguyênnhân phụ gọi là duyên Do đó theo Phật giáo thì nhân quả nói đủ hơn là nhân-duyên- quả Từ nhân đến quả còn có các yếu tố duyên ảnh hưởng
Trong tương quan nhân quả này, một nhân không thể đưa đến quả haymột quả không thể chỉ có một nhân; và nhân, quả thường thì ở trong cùng mộtloại mà không có sự lẫn lộn giữa các loại khác Ví dụ như con gà chỉ có thể đẻ
ra trứng gà chứ không thể đẻ ra trứng ngông Hay trứng gà thì chỉ có thể nở racon gà chứ không thể trứng gà nở ra con ngông
Trong triết học Trung Hoa cổ đại, nhiều trường phái triết học có tư
tưởng về mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả nhưng với việc ưu tiêncho vấn đề chính trị xã hội nên phạm trù này dường như chỉ được bàn mộtcách gián tiếp, thậm chí là mờ nhạt thông qua các quan hệ xã hội Khác vớitriết học Ấn Độ, triết học Trung Hoa chủ yếu bàn về hành động của con ngườisao cho phù hợp với mệnh trời, mệnh trời trong triết học Trung Hoa tựa giốngnhư trong triết học ở Ấn Độ là đấng sáng tạo tối cao là Brahman Dưới cáivòm là mệnh trời người Trung Hoa cổ bàn đến nhiều khía cạnh khác nhau,trong đó có thể nói rằng cả một giai đoạn dài từ khi lập quốc cho đến khi kết
Trang 17thúc chế độ phong kiến Trung Hoa, họ chủ yếu xoay quanh vấn đề đạo đứcchính trị Nguyên nhân vì sao như vậy? và bức tranh của nền triết học nàyđược vẻ nên bởi rất nhiều đại biểu đại diện cho nhiều tầng lớp ở xã hội đó.Thời kì mà được gọi là “trăm nhà trăm thầy”, điều đó nói lên rằng sự phân rãcủa cấu trúc xã hội, nhà nước trung ương không còn giữ được trật tự kỉcương, mà thay vào đó là cuộc tranh giành sự ảnh hưởng của nhau giữa cácthế lực quí tộc, các địa phương với nhau Người phương Tây trong giai đoạnmới hình thành chủ yếu bàn đến các yếu tố bản thể luận, khám phá thế giớibên ngoài, ngược lại người Trung Hoa cổ lại đặt vấn đề kỉ cương phép nước,đạo đức gia tộc với mong mỏi mọi cái đều thanh bình, không mong có mộtcách mạng làm thay đổi tự nhiên, họ chú tâm vào quan hệ khía cạnh đạo đức.Trong lịch sử triết học Trung Hoa cổ đại còn có một đặc trưng mà có thể khácnhiều so với triết học phương Tây đó là: nếu triết học phương Tây chỉ có giaicấp thống trị, đại diện cho tầng lớp chủ nô mới có hệ tư tưởng của mình Dùduy vật hay duy tâm thì đó cũng là giai cấp chủ nô quí tộc Một bộ phận dân
cư rất nhỏ trong xã hội nhưng lại nắm phần lớn mọi mặt đời sống xã hội Ởtriết học phương Tây hầu như không có một hệ tư tưởng lớn nào là đại diệncho tầng lớp người lao động, hay bình dân như trong triết học phương Đông.Hơn ở đâu hết Trung Hoa cổ là mảnh đất của sự phong phú các dòng tư tưởng
mà người ta thường hay gọi là các nhà triết học xuất hiện giống như nấm mọclên sau một đêm mưa rào Nét đặc trưng của nền triết học Trung Hoa cổ là dùlập trường triết học khác nhau nhưng cốt lõi của các trường phái này đềunhằm bàn đến vấn đề luân lí, đạo đức trong xã hội Đồng thời dù không cùnggiai cấp, địa vị nhưng trường phái triết học ra đời sau không phủ nhận hoặcbác bỏ các quan điểm của đại biểu trước đó mà chủ yếu là kế thừa và tìm cách
mở rộng phát triển thêm nó Đó là những hình ảnh chung nhất của triết họcTrung Hoa cổ
Trang 18Đi tìm lời giải thích các nguyên nhân của nền triết học Trung Hoa cổchúng ta có thể có nhiều sự cân nhắc, lựa chọn để từ đó có thể có những nhậnđịnh ban đầu riêng cho mình Thiết nghĩ đấy cũng là một vấn đề khó Nhưngbản thân tác giả cho rằng nó bắt nguồn từ văn hóa cội nguồn của dân tộc đó.Xuất phát là một nền nông nghiệp lúa nước ven theo các dòng sông lớn,người Trung Hoa cổ sống chủ yếu là nền nông nghiệp lúa nước Nhưng chínhcuộc sống đó lại mang đến cho họ một hảm họa đó là thiên tai, lũ lụt do đódân cư cần phải sống thành một cộng đồng để giúp đỡ nhau Đó là mầm mốngcủa xã hội nông nghiệp nông thôn Như thế có nghĩa là việc nhìn nhận vàkhám phá ra bên ngoài là hạn chế, đổi lại vấn đề cần phải bàn đến và nó gầnnhư đời sống của mọi tầng lớp là làm sao điều chỉnh cho các quan hệ đạo đức,hành vi ứng xử giữa con người với nhau để đảm bảo tính bền vững của cộngđồng Một cộng đồng nhỏ ở xã hội Trung Hoa cổ cũng bao gồm đầy đủ cácthành phần, địa vị Nó như là một xã hội thu nhỏ Vì vậy không gì có thểthường trực hơn là làm sao cho cộng đồng tồn tại bền vững, lâu dài Đó chỉ làmột câu giải thích cho việc việc vì sao triết học Trung Hoa cổ chủ yếu bànđến khía cạnh đạo đức cá nhân Một sự khác biệt so với phương Tây
Vấn đề khác nữa là nhà nước ở xã hội Trung Hoa cổ đại không chỉ cómột nhà nước trung ương đủ mạnh để trấn áp, thống trị một cách chặt chẽ có
hệ thống, trái lại xã hội Trung Hoa cổ đại là sự tranh giành, chia cắt sự cai trị,phân chia sự ảnh hưởng của các thế lực làm cho xã hội trở nên phức tạp,không kiểm soát nổi từ đó bùng phát sự đấu tranh của các bộ phận, thế lựccủa từng vùng, miền làm cho vai trò của nhà nước trung ương bị lu mờ Tronglịch sử tồn tại của xã hội cổ Trung Hoa không có một nhà nước phong kiếnnào mà lại không đối mặt với các cuộc khởi nghĩa của nông dân hay các thếlực quí tộc địa phương Các cuộc đấu tranh này tất yếu dẫn đến sự phân chiaquyền lực trong xã hội và sự sụp đổ liên tục của các triều đại phong kiến Mỗi
Trang 19một triều đại lên nắm quyền đều chịu sự chi phối của các thế lực tạo dựng nên
do đó có thể nói rằng kiến trúc thượng tầng trong xã hội Trung Hoa cổ thườngxuyên được thay đổi liên tục tạo nên sự hỗn loạn, mỗi một đại biểu nói lênquan điểm của giai cấp mình Chính hoàn cảnh chi phối là nền kinh tế nôngnghiệp cộng đồng nên vấn đề mà các đại biểu nêu lên là làm sao cho xã hộiđược trật tự, mong mỏi một đất nước thanh bình, xã hội không loạn lạc luôn
là nổi khắc cầu của người dân
Vũ trụ quan, nhân sinh quan, nhận thức luận của các trường phái triếthọc chủ yếu ở Trung Hoa cổ đều thấm đượm ý thức đạo đức Chuẩn mực đạođức trở thành đặc điểm cốt cán của tư tưởng triết học cổ đại, vì vậy họ tranhluận nhiều vấn đề xung quanh phạm trù thiện- ác Họ liên hệ việc nhận thứcthế giới khách quan với việc tu thân, dưỡng tính cá nhân là cơ sở của việcnhận thức thế giới khách quan: người tận tâm thì biết được tính mình, biếtđược tính mình thì biết được tính trời Vì vậy trong mấy ngàn năm lịch sử, cáctriết học đều theo đuổi cái vương quốc luân lí đạo đức, họ xem đạo đức như làcái “trời phú”, bởi thế họ xem việc thực hành đạo đức như là hoạt động thựctiễn căn bản nhất của một đời người đặt lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xãhội Ngược lại triết học phương Tây coi tri thức luận là phạm trù trung tâm,coi đối tượng nghiên cứu như là vật đối lập với con người, coi việc nghiêncứu thế giới khách quan không có quan hệ với tu dưỡng đạo đức cá nhân Cóthể nói nếu lấy kết quả vì sao sự kém phát triển về nhận thức luận; sự lạc hậu
về khoa học thực chứng của Trung Quốc thì các nguyên nhân như đã nói ởtrên là lời giải thích căn bản nhất
1.1.2 Quan niệm về quan hệ nhân - quả trong triết học phương Tây
Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả có liên hệ chặt chẽ với vấn đề cơbản triết học, nó luôn là chủ đề tranh cãi, đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật vàchủ nghĩa duy tâm Lênin nhận xét rằng vấn đề tính nhân quả có một tầm quan
Trang 20trọng hết sức đặc biệt để định nghĩa đường lối triết học của những loại “chủnghĩa” mới nhất “Đường lối chủ quan trong vấn đề tính nhân quả là Chủ nghĩaduy tâm triết học" Chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận tính khách quan củamối liên hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội
Còn với chủ nghĩa duy tâm khách quan tiêu biểu là sự khởi đầu với nhàtriết học Platon và đỉnh cao là Hegel coi “lý trí phổ biến”, “ý niệm tuyệt đối”,
“tinh thần thế giới” nào đó tồn tại trước và độc lập với con người và thế giới
là nguyên nhân đầu tiên sinh ra thế giới vật chất Lực lượng siêu tự nhiên đótheo Lênin thì chẳng qua là tên gọi khác của Chúa, thần thánh, Thượng đế.Việc thừa nhận điều đó tức là chủ nghĩa duy tâm khách quan đã truyền bá chủnghĩa tín ngưỡng và chứng minh, biện hộ cho tôn giáo bằng cách này haycách khác Chẳng hạn, chủ nghĩa Tômát mới cho rằng “tất cả đều bắt nguồn
từ Chúa” Trường phái này cố chứng minh cho thế giới quan tôn giáo, chothần học bằng triết học Với lập trường, quan niệm đó, chủ nghĩa duy tâmkhách quan, trong khi thừa nhận tính chất độc lập của quan hệ nhân quả đốivới con người, nhưng lại quy nó về sự biểu hiện của tinh thần, của ý niệm như
là cơ sở của thế giới vật chất Các nhà duy tâm khách quan tìm cách chứngminh cho sự tồn tại của “nguyên nhân đầu tiên”, của “điểm xuất phát”, “khâubắt đầu” trong mắc xích dài nhân quả Bằng cách đó họ cố đi tìm một lựclượng siêu tự nhiên, thần linh… nào đó coi như là nguyên nhân đầu tiên sinh
ra thế giới Với lập trường đó nên sự giải thích về tính nhân quả của chủ nghĩaduy tâm khách quan đã dẫn đến thần học, tôn giáo
Tuy vậy song song với các nhà triết học duy tâm, trong lịch sử triết họcphương Tây vẫn có những nhà triết học giải thích sự hiện diện của tự nhiên vớilập trường duy vật Nhà triết học duy vật Hà Lan là Xpinôda (1632-1677) làmột trong số nhà bác học cận đại đã giải thích thế giới không phải bằng nguyên
Trang 21nhân bên ngoài mà bằng nguyên nhân bên trong của bản thân nó Ăngghennhận xét rằng kể từ Xpinôda đến các nhà duy vật vĩ đại Pháp đã “kiên trì xuấtphát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới”[15;tr20] Giải thích thế giới từbản thân nó là yêu cầu đầu tiên của chủ nghĩa duy vật Xpinôda.
Xuất phát điểm triết học Xpinôda là học thuyết về thực thể Thực thể là
khái niệm trung tâm trong triết học Xpinôda, biểu hiện quan niệm duy vật củaông về sự thống nhất và tính quy luật của toàn bộ giới tự nhiên Thực thể là cơ
sở vật chất thống nhất của toàn bộ tồn tại, là cơ sở của toàn bộ tính đa dạng và sựphong phú vô tận của tồn tại Xpinôda gọi thực thể là giới tự nhiên Theo ông,thực thể chứa đựng nguyên nhân tồn tại của mình trong bản thân mình Thực thể
là cái tồn tại trong mình và thông qua mình Vì thế, Xpinôda định nghĩa thực thể
là causa sui, tức nguyên nhân của bản thân mình, nguyên nhân tự nó
Trong khái niệm causa sui làm toát lên quan điểm duy vật của Xpinôda
về tính nhân quả, ông giải thích giới tự nhiên từ những nguyên nhân của bảnthân nó mà không cần đến “đấng tạo hóa” Là người theo thuyết định luận,Xpinôda đã chống lại lối giải thích tự nhiên theo mục đích luận của Arixtốt.Nghĩa là phải giải thích giới tự nhiên từ bản thân nó, ông gạt ra khỏi giới tựnhiên mọi mục đích và hoạt động đặt mục đích Xpinôda cho rằng “tự nhiênkhông hoạt động theo mục đích”, theo đó giới tự nhiên tồn tại và hoạt độngkhông phải vì mục đích nào cả mà tác động trên cơ sở tính tất yếu của bảnthân nội tại
Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, khi bàn về các hình thức vận
động của vật chất, Ăngghen có nêu lên nhận xét của mình rằng: “Công thức
của Xpinôda: thực thể là causa sui thể hiện một cách rõ rệt sự tác dụng lẫn
nhau” Ăngghen đã nắm lấy những yếu tố biện chứng đặc sắc nhất trong họcthuyết của Xpinôda Bởi vì theo công thức “thực thể là causa sui” (nguyênnhân của bản thân nó) đã đi gần tới tư tưởng về sự tác động lẫn nhau phổ
Trang 22biến, về mối liên hệ phổ biến và sự ràng buộc lẫn nhau giữa các hiện tượng tựnhiên Chỉ có xuất phát từ vật chất như là nguyên nhân tự thân mới có thể giảithích thế giới từ bản thân nó, mà không cần đến “cái đẩy từ bên ngoài” Mà để
có thể trở thành nguyên nhân của bản thân mình, thì các bộ phận của vật chấtphải có sự tác động qua lại với nhau, phải có tác dụng lẫn nhau Như vậy quanniệm về causa sui (nguyên nhân của bản thân nó) đã giả định sự tác động qualại của vật chất Thiếu sự tác động qua lại thì không thể nói gì đến nguyênnhân bên trong, nguyên nhân tự thân của vật chất Cho nên, việc Xpinôdaxem xét vật chất như là nguyên nhân của bản thân mình, việc ông khác vớicác nhà tự nhiên thần luận, đã bác bỏ cái “thúc đẩy từ bên ngoài” như lànguyên nhân của sự vận động vật chất đã đánh dấu một bước tiến trong sựphát triển của thế giới quan duy vật Thực thể của Xpinôda như là nguyênnhân tự thân là tiền đề cần thiết để hiểu vật chất như là “tự thân vận động”, đểchống lại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm tôn giáo
Mặt khác, quan niệm của Xpinôda về causa sui (“nguyên nhân của bảnthân mình”) vẫn chưa đủ để khắc phục quan niệm siêu hình về tính nhân quả.Bởi vì, theo ý kiến Xpinôda, chỉ có thế giới nói chung, giới tự nhiên tuyệt đối
vô tận mới có thể chứa đựng trong mình nguyên nhân tồn tại của mình Còncác sự vật có hạn thì nguyên nhân tồn tại của chúng không phải nằm trongbản thân chúng, mà nằm bên ngoài, trong các sự vật có hạn khác Đây là nétthiếu sót trong thế giới quan của nhà triết học Hà Lan
Cái thiếu sót nêu trên của Xpinoda nói riêng và nhiều đại biểu khác đãđược khắc phục một cách sâu sắc triệt để khoa học trong triết học duy vậtbiện chứng Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định thế giới vật chất tựthân vận động do những nguyên nhân bản thân nó, tức là do sự tác động lẫnnhau giữa các bộ phận, các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất “Vật chất
và phương thức tồn tại của nó là nguyên nhân cuối cùng của bản thân chúng”
Trang 23Còn đối với từng sự vật cụ thể, có hạn thì nguyên nhân tồn tại của chúng lànằm trong bản thân chúng Điều đó gắn liền với quan niệm duy vật biệnchứng về nguyên nhân, mà quan niệm này không thể có được nếu không tínhđến sự tác động qua lại của các sự vật hoặc các mặt của sự vật Hoặc nhưHêghen đã nhận xét có lý là “tác động qua lại, hiển nhiên, là chân lý gần nhấtcủa quan hệ nguyên nhân và kết quả” Cho nên nhận thức nguyên nhân cũng
là nhận thức sự tác động qua lại Chẳng hạn, nguyên nhân xuất hiện và tồn tạicủa phân tử nước là sự tác động qua lại của các nguyên tố tạo thành nó, cụ thể
là sự tác động qua lại của một nguyên tử ôxy và hai nguyên tử hyđrô, trongkhi tác động lẫn nhau, các nguyên tử ôxy và hyđrô trao đổi điện tử và tạothành một hệ thống vận động tương đối ổn định, cấu thành phân tử nước.Hoặc nguyên nhân của cách mạng xã hội là sự tác động qua lại của lực lượngsản xuất đã phát triển với quan hệ sản xuất đã lỗi thời
Tuy vậy chúng ta không nên đồng nhất sự tác động qua lại và nguyênnhân Sự tác động qua lại cung cấp chìa khóa để hiểu cơ chế của liên hệ nhânquả, nhưng tác động qua lại không phải là trường hợp riêng của sự phụ thuộcnhân quả của các hiện tượng, mà trái lại, tính nhân quả là trường hợp riêngcủa tác động qua lại, là một yếu tố trong sự tác động qua lại phổ biến Mỗimột quan hệ nhân quả là một vòng khâu trong sợi dây chuyền vô tận của mốiliên hệ và sự ràng buộc lẫn nhau của các hiện tượng Lênin viết: Nguyên nhân
và kết quả, ergo, chỉ là những vòng khâu của sự phụ thuộc lẫn nhau phổ biến,của liên hệ (phổ biến), của sự liên kết lẫn nhau của những sự biến, chỉ lànhững mắt khâu trong sợi dây chuyền phát triển của vật chất
Thực chất của nguyên tắc nhân quả là là thừa nhận sự ràng buộc nhânquả của bất cứ hiện tượng nào và mối liên hệ tất yếu của nguyên nhân và kếtquả Còn vấn đề tính nhân quả biểu hiện như thế nào trong từng trường hợp
cụ thể thì lại là vấn đề khác, nó tùy thuộc vào đặc tính cụ thể của đối tượngtrong lĩnh vực của nó
Trang 24Trong thế giới quan triết học khi nêu ra chân lí của giới tự nhiên có sựkhác nhau cơ bản giữa triết học duy vật và triết học duy tâm
Chủ nghĩa duy tâm đã gán cho tính hợp lý của giới tự nhiên một lựclượng siêu tự nhiên, một mục đích định sẵn Quan điểm duy tâm trong vấn đề
này được thể hiện ở mục đích luận Mục đích luận là học thuyết triết học duy
tâm thừa nhận tính có mục đích phổ biến của giới tự nhiên Những người theomục đích luận cho rằng các sự vật, hiện tượng đều có mục đích nội tại củamình, mục đích đó quyết định trước sự phát triển của chúng, mục đích đó vềbản chất là tinh thần, là do tinh thần quy định Nhà mục đích luận Vônphơcho rằng các sự vật được tạo ra bởi để mang lại lợi ích cho con người Đứngtrên quan điểm đó thì lá cây có màu xanh vì màu xanh có ích đối với mắt, mũiđược tạo ra để đeo kính, lợn được tạo ra để cho con người ăn….Ph Ăng ghenviết: “theo mục đích luận này thì mèo sinh ra để ăn chuột, chuột sinh ra để bịmèo ăn và toàn bộ giới tự nhiên được sáng tạo để chứng minh trí tuệ của đấngtạo hóa” [15;tr20] Quan điểm của mục đích luận đã bị sự phát triển của khoahọc bác bỏ
1.2 Quan điểm triết học Mác - Lênin về mối quan
hệ nguyên nhân - kết quả
1.2.1 Khái niệm về nguyên nhân, kết quả
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác thì nguyên nhân là phạm trù dùng đểchỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng hoặcgiữa các sự vật hiện tượng với nhau gây ra một biến đổi nhất định nào đó
Kết quả là một phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do tácđộng lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gâyra
Có rất nhiều ví dụ để cho người ta quán triệt được nhận thức sâu sắcnày Ví dụ bản thân cái nhân chứa ở trong hạt không phải là nguyên nhân của
Trang 25cái mầm, mà những quá trình sinh học và hóa học (quá trình sinh học, hóa họcnày mới chính là nguyên nhân làm nảy sinh nên mầm chứ không phải bảnthân cái nhân) Do đó trong trường hợp này có thể liên hệ sang lĩnh vực khác,một cặp phạm trù khác đó là khả năng và hiện thực Trong trường hợp này,cái nhân ở trong hạt mới chỉ là khả năng mà thôi, chỉ bao giờ nó hóa thànhhiện thực là những quá trình sinh hóa ở trong cái hạt, bấy giờ nó mới là sự tác
động và nó mới làm nảy sinh mầm
Tóm lại, cái mầm là kết quả sinh ra từ những quá trình sinh học, hóa học
ở trong cái nhân chứ không phải bản thân cái nhân là nguyên nhân của nó
Vấn đề thứ hai là trong thế giới luôn luôn có sự tác động qua lại của các
sự vật hiện tượng với nhau Suy cho cùng, mỗi một sự tác động đều đưa lạinhững hệ quả nào đó, một kết quả nào đó, nhưng như vậy mọi tác động củabản thân nó đều chưa được xem xét như là những nguyên nhân Nguyên nhânchỉ là nguyên nhân trong mối quan hệ với kết quả Nếu không có kết quả thìcũng không gọi sự tác động đó là nguyên nhân Hay nói cách khác, nếu khôngquy kết quả như là hậu quả của một quá trình tác động thì tác động đó cũngkhông được gọi là nguyên nhân
Kết quả vốn là sự xuất hiện của một sự vật hiện tượng nào đó Như vậy,
sự xuất hiện đó chỉ được xem là kết quả nếu xem xét nó sinh ra từ những nhân
tố nào Các nguyên nhân là sự tác động thì kết quả có thể là sự vật hiện tượng
1.2.2 Tính chất của mối liên hệ nhân - quả
Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tínhkhách quan, tính phổ biến và tính tất yếu
Tính khách quan của mối liên hệ nhân - quả thể hiện ở chỗ, mối liên
hệ nhân - quả là cái vốn có của bản thân sự vật, nó không phụ thuộc vào ýthức của con người Chúng ta biết rằng, mọi sự vật trong thế giới là luônluôn vận động, tác động lẫn nhau, và sự tác động đó tất yếu sẽ dẫn đến một
Trang 26sự biến đổi nhất định Do đó có thể nói mối liên hệ nhân - quả luôn mangtính khách quan.
Còn tính phổ biến của mối quan hệ này thì điều đầu tiên chúng ta có thểthấy là mối liên hệ phổ biến có tính phổ biến như thế nào thì mối liên hệ nhânquả cũng có tính phổ biến như thế Chúng ta có thể nhận thấy mối liên hệnhân quả tồn tại ở khắp mọi nơi, trong cả tự nhiên, xã hội và trong cả tư duycủa con người Không có một hiện tượng nào không có nguyên nhân, nhưngvấn đề là ở chỗ nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi
Tính tất yếu thể hiện ở một điểm là cùng một nguyên nhân như nhau,trong những điều kiện giống nhau sẽ nhất định nảy sinh những kết quả nhưnhau Ta có thể lấy một ví dụ là tất cả những cuộc chiến tranh phi nghĩa xâmlược ở trong lịch sử nhân loại dù sớm hay dù muộn đều có kết thúc giốngnhau Kẻ đi xâm lược nhất định sẽ bị thất bại Nói riêng về quan hệ nhân quả
ở trong trường hợp này thì chúng ta sẽ thấy được sự thất bại của chiến tranhxâm lược với tư cách là một kết quả bắt nguồn từ những tác động của nhữngđiều kiện kinh tế - xã hội, do tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh đó đem lại.Cuộc chiến tranh phi nghĩa đó và sự tác động của tính chất đó làm cho nhândân ở trong bản thân các nước đi xâm lược đều là chán ghét cuộc chiến tranh,đứng lên phản đối cuộc chiến tranh dẫn đến quân lính ở trong một đội quânxâm lược cũng như vậy, sớm muộn họ cũng nhận ra tính chất phi nghĩa củacuộc chiến, và tinh thần của họ sẽ bị giảm sút Đó là một trong những lý dolàm cho quân xâm lược bị thất bại
Ở trên chúng ta đã nói rằng, với cùng một nguyên nhân và với cùngnhững điều kiện giống nhau, những kết quả sinh ra sẽ giống nhau Điều nàycũng là một nguyên tắc để chúng ta rút ra một kết luận khác đó là, ở trong thếgiới vật chất không bao giờ có những tác động hoàn toàn giống nhau, cũngkhông bao giờ có những điều kiện hoàn toàn giống nhau Cho nên, thực tế là
Trang 27mỗi một sự vật hiện tượng với tư cách là kết quả đều được sinh ra từ nhữngnguyên nhân khác biệt, ngay cả khi nguyên nhân đó có thể giống nhau về mặtchủng loại Mặt khác, những điều kiện cũng không bao giờ có thể được lặp lạihoàn toàn, do đó kết quả bao giờ cũng rất độc đáo Ví dụ, trong chiến tranh,
bộ đội ta có một kết luận rất thực tế là, rất ít khi hai quả bom rơi vào cùng mộtchỗ Vì vậy, các chiến sĩ ta hay tránh bom địch ở chính những hố bom mà quảbom trước đã đào lên
1.2.3 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác khái quát mối quan hệ biệnchứng giữa nguyên nhân và kết quả thành năm vấn đề sau đây
Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân luôn luôn có trước kết
quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện Ở
đây vấn đề là tự bản thân nó đã rõ ràng, không cần phải luận chứng gì thêm,chỉ cần phải phân biệt không phải một sự vật nào đó có trước sự vật thứ hai,thì tác động của nó đã được coi là nguyên nhân của hiện tượng thứ hai Ví dụ,người cán bộ Đoàn tốt thì nếu được tạo môi trường và điều kiện tốt thì sẽmang lại kết quả tốt Như vậy trong quan hệ này thì người cán bộ Đoàn lànguyên nhân của kết quả tốt đó, phong trào Đoàn là kết quả, là hình hình ảnhcủa người cán bộ Đoàn “Cây nào quả ấy” nhìn sản phẩm đoán được tính cáchcon người Người làm công tác Đoàn được hiểu theo nghĩa này
Vấn đề thứ hai cần chú ý là sự kế tiếp nhau của nguyên nhân và kết quảtrong mối quan hệ nhân quả không có nghĩa là nguyên nhân sinh ra xong rồithì kết quả mới nảy sinh Trái lại, nguyên nhân vừa tác động thì sự hình thànhcủa kết quả đã có thể được coi như là bắt đầu, cho đến khi kết quả hình thànhnhư một sự vật, hiện tượng nó vẫn còn nhận tác động của nguyên nhân, vànhư vậy nó vẫn còn đang tiếp tục biến đổi do tác động của nguyên nhân
Trang 28Tóm lại, người ta không thể nhìn quan hệ nhân quả như là sự đứt đoạn
mà là trong sự vận động biến đổi liên tục của thế giới vật chất, của sự tácđộng qua lại lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng
Việc nguyên nhân sinh ra kết quả còn có một yếu tố nữa, đó là điềukiện Không phải cứ có sự tác động là có ngay kết quả, phải ở trong nhữngđiều kiện nhất định thì có thể mới có kết quả Ví dụ, trở lại các quá trình sinh
- hóa ở trong hạt cây nảy mầm chúng ta thấy rằng, nếu một hạt tốt có đầy đủkhả năng để sinh ra một cái mầm tốt, nhưng nếu có được độ ẩm, ánh sáng,nhiệt độ đầy đủ thì cũng không bao giờ có cái mầm xuất hiện Điều kiện cóvai trò rất quan trọng, làm cho nguyên nhân nào sinh ra kết quả nào Có thểcùng một nguyên nhân, cùng một khả năng tác động như nhau, nhưng ở trongnhững điều kiện khác nhau thì nó đưa lại những hậu quả khác nhau Ví dụ, haicái nhân tốt như nhau, nhưng với những điều kiện như nhiệt độ, độ ẩm, ánhsáng khác nhau thì hai cái mầm mọc ra cũng có chất lượng khác nhau
Vấn đề còn trở nên phức tạp hơn khi có nhiều nguyên nhân cùng tácđộng một lúc, khi đó thì kết quả ra sao còn tùy thuộc ở việc mối quan hệ giữacác nguyên nhân với nhau là như thế nào Ví dụ, sự nghiệp công nghiệp hóa -hiện đại hóa của chúng ta sẽ hoàn thành trong tương lai, chắc chắn phải chịu
sự tác động của các nguyên nhân như quá trình phát triển kinh tế bên trong,đồng thời là nguyên nhân của thị trường thế giới nói chung, tức là nhịp độphát triển của kinh tế thế giới, những điều kiện thuận lợi mà kinh tế thế giớiđem lại cho chúng ta, những thách thức mà chúng ta phải vượt qua để xâydựng nền kinh tế tự chủ trong hòa nhập Vì vậy, xem xét kết quả này chúng tavừa phải xem xét trước hết là sự tác động qua lại giữa hai nguyên nhân là sựphát triển, vận động của nền kinh tế ở trong nước và diễn biến của nền kinh tếtoàn cầu, mỗi bên có những vai trò riêng biệt Và đương nhiên chúng ta khẳngđịnh rằng, nguyên nhân ở bên trong, những tác động nội tại của nền kinh tế
Trang 29nước ta, tinh thần độc lập tự chủ và những kết quả do bản thân nỗ lực của nềnkinh tế Việt Nam đem lại mới là những nguyên nhân chủ yếu, đóng góp vào
sự phát triển của đất nước, sự hoàn thành quá trình công nghiệp hóa - hiện đạihóa của đất nước ta Xét nền kinh tế trong nước, chúng ta lại còn có thể tiếptục phân chia nguyên nhân đó thành những nguyên nhân như là: sự tác động,vai trò của mỗi thành phần kinh tế trong thời kỳ đổi mới và trong thời kỳ côngnghiệp hóa - hiện đại hóa Hiện nay, năm thành phần kinh tế cơ bản củachúng ta là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản tư nhân, trong
đó gồm cả tư bản nước ngoài, kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ và kinh tế tựcung tự cấp ở những vùng còn chưa phát triển được kinh tế hàng hóa, tất cảnhững thành phần kinh tế này đều có những vai trò nhất định trong sự pháttriển của kinh tế Việt Nam Tuy nhiên chúng ta thấy rằng, nền kinh tế quốcdoanh bao giờ cũng nắm vai trò chủ yếu do chỗ chúng ta định hướng pháttriển kinh tế và định hướng xã hội chủ nghĩa, những ngành kinh tế chủ chốt cóvai trò cơ bản tác động đến nền kinh tế quốc dân đều thuộc khu vực quốcdoanh, do đó hiển nhiên thành phần kinh tế này luôn đóng vai trò chủ đạo,phát huy những tác dụng của nó làm cho kinh tế Việt Nam ngày càng trở nênhiện đại
Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả không hoàn toàn thụ động,
nó vẫn có khả năng tác động trở lại nguyên nhân Cần chú ý là tác động này làhai nghĩa, cả tác động tích cực hoặc tác động tiêu cực Ví dụ, trình độ dân tríthấp là do nền kinh tế kém phát triển gây ra, nếu không đủ đầu tư cho việcnâng cao dân trí của nhân dân, đầu tư giáo dục không đầy đủ Đến lượt mình,dân trí thấp với tư cách là kết quả lại tác động trở lại với quá trình phát triểnkinh tế và xã hội của đất nước, làm cho kinh tế kém phát triển và dân trí sẽ lạitiếp tục thấp xuống Ngược lại, trình độ dân trí cao vốn là kết quả của sự pháttriển xã hội cả về chính trị, kinh tế, văn hóa… làm cho nền giáo dục quốc dân
Trang 30cũng phát triển đầy đủ, khi đó nó sẽ đem lại một kết quả là tầng lớp trí thức vàmột đội ngũ lao động với trình độ cao, tay nghề vững và điều đó chắc chắnlàm cho kinh tế quốc dân càng phát triển tốt hơn.
Vấn đề tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân có một ý nghĩathực tiễn rất quan trọng Nó làm cho người ta phải dự kiến rất đầy đủ nhữnghậu quả của một chính sách xã hội chẳng hạn, đặc biệt trong vấn đề đầu tư,một trong những yếu tố tạo ra nguyên nhân phát triển nền kinh tế đất nước.Việc đầu tư rất có thể mang lại những hậu quả lớn, làm cho kinh tế phát triểnrất cao nếu đúng đắn Ví dụ, người ta đầu tư vào những ngành mũi nhọn cótác dụng làm thay đổi căn bản nền kinh tế, vì chỉ một thời gian ngắn sau, nềnkinh tế quốc dân đã có một động lực lớn như là công nghệ thông tin, bưuchính viễn thông, công nghệ tin học… Những kết quả do sự đầu tư đúng đắn
đó làm cho các ngành kinh tế như công nghiệp, thủy sản, nông nghiệp… cónhững sự phát triển vượt bậc, khi đó nó lại tạo điều kiện cho việc tái đầu tưngày càng tốt hơn với lực lượng tài chính, lực lượng vật chất ngày càng to lớnhơn Rồi khi đó, trong một chu kỳ khác, sự đầu tư đúng đắn lại làm cho cácngành khoa học mới ra đời, cứ như thế một chu trình đầu tư mang lại một kếtquả và bản thân kết quả đó làm cho quá trình đầu tư ngày càng có ý nghĩakinh tế xã hội sâu sắc hơn Trong những năm vừa qua, chúng ta đã có nhữnghiện tượng đầu tư bất hợp lý Sự đầu tư bất hợp lý như vào một nhà máy mía
ở vùng không có nguyên liệu, những nhà máy xi măng lò đứng với hàng chụctriệu đôla đã gây ra những hậu quả tai hại Những hậu quả này lại làm cho bảnthân những ngành đó không phát triển hoặc phát triển rất chậm, thậm chí cónhững bước thụt lùi Ngày nay toàn bộ chiến lược xi măng đang phải tínhtoán lại cơ cấu đầu tư Nhà máy mía cũng phải lựa chọn những vùng cónguyên liệu lâu bền, vừa làm thay đổi bộ mặt của một vùng nông thôn, vừađem lại những bước tiến vững chắc cho ngành mía đường toàn quốc
Trang 31Nguyên nhân - kết quả có thể hoán đổi vị trí cho nhau Vấn đề nàyđược thể hiện ở hai góc độ dưới đây:
Thứ nhất, nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng bản thân nguyên nhân
khi sinh ra kết quả lại đã là kết quả ở một mối quan hệ nhân - quả trước đó.Ngược lại, kết quả với tư cách là kết quả được sinh ra từ một nguyên nhânnhưng bản thân nó không dừng lại Nó lại tiếp tục tác động, và sự tác độngcủa nó lại gây ra những kết quả khác Nói một cách khác, có thể tóm lại trongchuỗi nhân – quả: A sinh ra B, B sinh ra C, C sinh ra D… thì mỗi cái đều lànguyên nhân ở trong một mối quan hệ này, nhưng đồng thời lại là kết quả ởmột mối quan hệ khác Ví dụ, để có được đội ngũ cán bộ làm công tác Đoànxất sắc thì phải có sự quan tâm đầu tư của các cấp chính quyền, cấp quản lýnhân sự và của cơ quan, đơn vị; cần sự động viên kịp thời tạo động lực cho sựphấn đấu Đồng thời khi đã có cán bộ tốt thì đó là nguyên nhân của phongtrào phát triển Như vậy trong mối quan hệ trước thì cán bộ tốt là kết quả củachủ trưởng đúng đắn Còn trong mối quan hệ sau thì cán bộ tốt là nguyênnhân của phong trào tốt Hoặc ví dụ khác sự phân phối thu nhập không côngbằng dẫn tới mâu thuẫn trong xã hội Những mâu thuẫn xã hội làm nảy sinhnhững tệ nạn xã hội Những tệ nạn xã hội lại làm cho nền kinh tế xã hội pháttriển chậm lại
Thứ hai, đó chính là ý nghĩa đã được xét ở khía cạnh trên, tức là
nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả lại có khả năng tác động trở lạiđối với nguyên nhân Trong mối quan hệ này, khi kết quả tác động trở lại vớinguyên nhân thì kết quả lại có tư cách là nguyên nhân chứ không phải là kếtquả nữa Do đó có thể nói có sự hoán đổi vị trí giữa nguyên nhân và kết quảngay trong cùng một mối quan hệ nhân – quả
Trang 32Vì vậy, Ph Ăngghen nói rằng, nguyên nhân và kết quả là những kháiniệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào mộttrường hợp riêng biệt nhất định Hay nói cách khác, một hiện tượng nào đấyđược coi là nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng ở trong một quan hệ xácđịnh cụ thể.
Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả, và ngược lại, một kết
quả có thể được ra đời từ rất nhiều nguyên nhân Ví dụ trong công tác Đoàn:
Một đồng chí Bí thư Chi đoàn dẫn đầu một đội bóng đá đi thi đấu một trậngiao hữu Trận đấu kết thúc với bốn bàn thắng cho đội bạn trong khi đội mìnhlại không có lấy được một bàn nào Đó là kết quả Vậy nguyên nhân của nónằm ở đâu? Thứ nhất là do đấu pháp chưa hợp lý Thứ hai là cầu thủ đội mìnhcòn tiếu kinh nghiệm Thứ ba là trọng tài chưa chính xác trong một vài tìnhhuống Thứ tư là đội bạn quá mạnh Còn nếu trận đấu khép lại với chiếnthắng thuộc về đội mình thì đó là kết quả của nhiều nguyên nhân trong đónhư: thứ nhất đội chúng ta chơi quá xuất sắc, thứ hai là lợi thế do hơn người,thứ ba là được sự cổ vũ của phần lớn cổ động viên, sự quan tâm, tạo điều kiệntập luyện và động viên kịp thời của lãnh đạo cơ quan
Ví dụ trường hợp chặt phá rừng bừa bãi ở trên đầu nguồn có thể sinh ranhiều kết quả Sự thay đổi sinh thái ở bản thân vùng đó làm cho quỹ gienđộng vật và thực vật bị biến đổi, sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ gây ra sựthay đổi khí hậu ở chính bản thân vùng rừng đầu nguồn Thứ hai, nó lànguyên nhân gây ra những trận lụt, thậm chí là những trận lũ quét gây ra rấtnhiều thiệt hại cho đời sống kinh tế – xã hội không chỉ ở vùng cao mà còn ởvùng đồng bằng Thứ ba, nó gây ra những hậu quả làm xáo trộn đời sống xãhội của cư dân, làm ảnh hưởng đến tình hình xã hội chung của toàn quốc Thứ
tư, nó làm cho ngân sách quốc gia bị ảnh hưởng do phải chi trả cho những
Trang 33thiệt hại mà thiên nhiên và xã hội đã đưa đến Như thế là một nguyên nhân cóthể sinh ra nhiều kết quả.
Một kết quả cũng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Ví dụ, thànhcông của công cuộc đổi mới ở trên đất nước ta bắt nguồn từ rất nhiều nguyênnhân Thứ nhất là sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Đảng Khi thực tiễn đãnảy sinh những hiện tượng mới, khi cảm thấy nền kinh tế quốc dân đang bị trìtrệ, không còn lối thoát, chúng ta đã nghiên cứu lý luận, đúc kết thực tiễn và
đề ra chính sách đổi mới Chính sách này còn được bắt nguồn từ những thúc
ép của đời sống xã hội, nền kinh tế với cơ chế hành chính quan liêu bao cấp
đã làm cho sức sản xuất của xã hội Việt Nam bị cản trở rất lớn, thậm chí cónhững khi đẩy đất nước đến bờ vực thẳm, như tình trạng năm 1985 Đồngthời, ngày đó chúng ta cũng thực hiện một công việc ở tầm vĩ mô rất sai lầm,
đó là liên tiếp thực hiện những cuộc đổi tiền Điều này đã làm cho nền tàichính quốc gia bị đảo lộn, càng ngày càng mất cân bằng thu - chi, làm chođồng tiền Việt Nam ngày càng mất giá và sức sống của toàn bộ nền kinh tế bịảnh hưởng nghiêm trọng Tất cả những cái đó đã dồn ép chúng ta và bắt buộcchúng ta phải thay đổi một cách cơ bản đường lối kinh tế của đất nước Và kếtquả là sự ra đời của đường lối đổi mới Thành công của công cuộc đổi mớicòn bắt nguồn trực tiếp từ sự chỉ đạo tầm vĩ mô của Đảng và Chính phủ rấtđúng đắn và kịp thời Đặc biệt là còn bắt nguồn từ những hoạt động kinh tếcủa toàn dân, quyết tâm ra khỏi tình trạng khủng hoảng, quyết tâm thoátnghèo, thoát đói, thoát nghèo nàn, lạc hậu
Có thể kể ra rất nhiều nguyên nhân khác đưa đến thắng lợi của côngcuộc đổi mới, kể cả tri thức ngoại giao rộng mở của chúng ta, chính sách làmbạn với tất cả các dân tộc ở trên thế giới, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền độclập lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Do đó,
Trang 34thành công của công cuộc đổi mới cũng còn phải được xem xét như là tácđộng của nền kinh tế toàn cầu tới đời sống kinh tế ở đất nước chúng ta từnhiều năm nay, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển rất lớn xétriêng về mặt công nghệ, những quy trình công nghệ mới đã được du nhập vàonước ta thay thế cho những quy trình công nghệ có từ thế kỷ XIX hoặc đầuthế kỷ XX, những giống mới được tạo ra và những phương pháp canh tác mớicũng được xuất hiện làm cho nền nông nghiệp của chúng ta từ một nền nôngnghiệp tự cung tự cấp, có thể nói là độc canh cây lúa đã trở thành nền nôngnghiệp hàng hóa rất phong phú, đa dạng Nó đã đóng góp rất lớn vào thànhcông vào sự nghiệp đổi mới chung của toàn thể dân tộc Việt Nam trongnhững thập kỷ cuối của thế kỷ XX và hiện nay còn đang tiếp tục phát triển.
Rõ ràng là một kết quả có thể do rất nhiều nguyên nhân sinh ra Trongquá trình hoạt động thực tiễn chúng ta càng phải nghiên cứu những tác độngnày để phối hợp tạo nên sức mạnh tổng hợp và những thắng lợi mới trongcông cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
“Nguyên nhân” và “kết quả” là một trong những phạm trù của triết họcMác- Lênin Phạm trù nguyên nhân, kết quả được đề cập đến trong toàn bộlịch sử phát triển triết học của nhân loại Dù tồn tại dưới các dạng khác nhau,song mỗi trường phái triết học, các triết gia đều đề cập đến nguyên nhân, kếtquả thông qua luận điểm triết học của mình Các quan điểm về nguyên nhân,kết quả trong lịch sử triết học đã không thấy được đó là mối liên hệ phổ biếncủa hiện thực nên phủ nhận mối liên hệ biện chứng đó, dẫn đến quan niệmsiêu hình về sự tồn tại, vận động của tự nhiên, hoặc biến nguyên nhân, kết quảthành sản phẩm của tinh thần thần bí, của tối cao từ đó khẳng định sự pháttriển của tự nhiên, xã hội có nguồn gốc từ bên ngoài- đó là lập trưởng của chủnghĩa duy tâm thần bí
Trang 35Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, triết học học Mác-Lênin đã xâydựng và phát triển phép biện chứng lên một tầm cao mới, đưa ra quan niệmđúng đắn, khoa học, sâu sắc về mối quan hệ nguyên nhân và kết quả tronghiện thực Ở đó, mối quan hệ nguyên nhân và kết quả được thừa nhận mộtcách khách quan, mỗi cái có vị trí, vai trò quan trọng như nhau trong quá trìnhvận động, tương tác giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Điều chú ý là phải cần phải phân biệt mối quan hệ nhân - quả ở trong tựnhiên và mối quan hệ nhân - quả ở trong lĩnh vực xã hội
Trong thế giới tự nhiên theo ý nghĩa là không có sự tham dự của conngười đối với mối quan hệ nhân – quả là mối quan hệ “tự thân” Các tác độngcủa các sự vật hiện tượng này lên những sự vật hiện tượng khác gây ra nhữngbiến đổi nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người và tuân theo những quyluật vốn có của thế giới vật chất Mối quan hệ này được diễn ra ở rất nhiềuphạm vi, trong tất cả các phương thức tồn tại của thế giới vật chất và thườngđưa lại cho chúng ta những hiểu biết về sự tác động qua lại và chuyển hóagiữa các bộ phận của thế giới khách quan Đối với những mối liên hệ nhân -quả ở trong tự nhiên, con người càng nghiên cứu được càng nhiều càng tốt.Nhờ biết được những hậu quả do các tác động lẫn nhau giữa các sự vật hiệntượng trong tự nhiên, con người ta có thể lợi dụng được những nguồn nănglượng lớn để phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người
Mối liên hệ nhân - quả ở trong lĩnh vực xã hội, tức là lĩnh vực hoạtđộng của con người phức tạp hơn rất nhiều Mối quan hệ nhân - quả này cóđặc điểm trước hết là nó chỉ xuất hiện khi có hoạt động của con người Ở đâychúng ta đề cập đến các đặc điểm của hoạt động con người là hoạt động có ýthức Đặc điểm này có thể đúng, không đúng ở trong những lĩnh vực khácnhau Có những hoạt động được coi là hoạt động có ý thức của cá nhân,
Trang 36nhưng lại là hoạt động vô ý thức đối với cộng đồng Chủ thể hoạt động baogiờ cũng xuất phát từ lợi ích của chính bản thân mình, nhưng tác động của nótới đời sống xã hội còn tùy thuộc vào những mối liên hệ và những hậu quả xãhội mà nó gây ra
Trang 37Tóm lại, mối quan hệ nhân - quả được thể hiện ở tất cả các lĩnh vực.Nhưng dù ở lĩnh vực nào thì con người cũng phải luôn luôn tìm hiểu, nghiêncứu để khắc phục, tránh những hậu quả xấu do các tác động gây ra Ngượclại, chúng ta cũng có thể lợi dụng mối quan hệ nhân - quả này để phục vụ chocuộc sống của mình
Trang 38CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ NGUYÊN NHÂN
- KẾT QUẢ TRONG THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐOÀN
Ở QUẢNG NAM HIỆN NAY
2.1 Vài nét về điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế- xã hội Quảng Nam
Trong tiến trình lịch sử, vùng đất Quảng Nam được hình thành trên conđường phát triển về phương Nam của nhiều thế hệ người Việt
Các công trình nghiên cứu khảo cổ học tại Bàu Dũ huyện Núi Thành,Quế Lộc huyện Quế Sơn, Đồi Vàng huyện Đại Lộc, Tiên Hà huyện TiênPhước, Tabhing huyện Nam Giang, Hậu Xá thành phố Hội An đã chứngminh sự có mặt rất sớm của con người ở vùng đất này cách đây khoảng 6000năm Đồng thời ở Quảng Nam cùng tìm thấy dấu tích văn hóa thời kì kim khí
ở thiên niên kỷ thừ nhất trước Công nguyên đó là nền văn hóa hậu Sa Huỳnhsau đó được các bộ tộc Chămpa kế thừa và sáng tạo ra nền văn hóa hết sứcđộc đáo với những kinh đô, đền đài, thành quách uy nghi, tráng lệ như MỹSơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Chiên Đàn
Năm 1306, vua Chămpa là Chế Mân cắt 2 châu Ô- Lý làm sính lễ chovua Trần Anh Tông khi cưới công chúa Huyền Trân về làm hoàng hậu vươngquốc Chămpa Đến năm 1471, dưới thời vua Lê Thánh Tông (Hồng Đức nămthứ 2), thành lập Quảng Nam thừa tuyên đạo của nước Đại Việt Cái tênQuảng Nam bắt đầu có từ đó trong lịch sử mở nước của các tiền nhân Quanhiều lần điều chỉnh địa giới và tên gọi: xứ Quảng Nam vào năm 1490, trấnQuảng Nam vào năm 1510, dinh Quảng Nam vào năm 1611, đến năm 1832(vua Minh Mạng thứ 13) đổi thành tỉnh Quảng Nam cho đến 1945 Thời kỳsau 1945 Quảng Nam lại thêm nhiều lần điều chỉnh địa giới và tên gọi Năm
Trang 391952 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sát nhập Quảng Nam và ĐàNẵng thành một đơn vị hành chính là Quảng Nam- Đà Nẵng Sau hiệp địnhGiơnevơ 1954 miền Nam- Việt Nam đặt dưới sự cai trị của chính quyền SàiGòn, năm 1962 vùng đất này bị chia thành 2 đơn vị hành chính: tỉnh QuảngNam và tỉnh Quảng Tín Cũng trong thời gian trên, Ủy ban kháng chiếnQuảng Nam- Đà Nẵng chia tỉnh thành 2 đơn vị: tỉnh Quảng Nam và tỉnhQuảng Đà Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất tỉnh Quảng Nam và tỉnhQuảng Đà sát nhập thành tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng Đến Quốc hội khóa Xnước CHXHCN Việt Nam quyết định chia tách Quảng Nam – Đà Nẵng thành
2 đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương: tỉnh Quảng Nam và thành phố ĐàNẵng bắt đầu từ tháng 1.1997
Quảng Nam nằm ở trung độ nước Việt Nam, tỉnh lỵ là thành phố Tam Kỳ(cách thủ đô Hà Nội 860 km, cách TP Hồ Chí Minh 865 km), phía Bắc giáp TP
Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Tâygiáp tỉnh Kom Tum và nước CHDCND Lào, phía Đông giáp biển Đông
Về kinh tế, trong hơn 10 năm qua kinh tế Quảng Nam có bước phát triểnvững chắc đặc biệt sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổchức thương mại thế giới WTO, cơ cấu kinh tế có sự thay đổi theo hướng tăngdần tỉ trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp Trung bình thu nhậpđầu người gần 17,66 triệu đồng/người/năm; công tác phát triển vùng được đẩy
Trang 40mạnh, đã hình thành cơ bản các khu công nghiệp, khu chế xuất Tuy vậy nhìnchung kinh tế vẫn còn chậm phát triển trong khi đó hàng năm tỉnh nhà phải đốimặt với rất nhiều khó khăn do thiên tai, lũ lụt Cơ chế chính sách chưa hoànthiện để đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế; trình độ, chất lượng nguồnnhân lực ở Quảng Nam chưa cao; công nghiệp hóa - hiện đại hóa chưa diễn rarộng khắp; cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc phát triển kinh tế còn rất nhiều yếukém đặc biệt đối với đối với các huyện miền núi phía tây của tỉnh.
Với những điều kiện về kinh tế- xã hội của Quảng Nam như đã nêu trên
nó sẽ mang lại những thuận lợi và khó khăn nhất định đối với việc phát triểnphong trào Đoàn Do vậy, việc phát huy những kết quả đạt được của các nhân
tố khách quan và hạn chế đến mức thấp nhất những mặt tồn tại nhằm tạo độnglực sự phát triển bền vững của phong trào Công tác vận động tập hợp giáodục thanh niên là một hoạt động góp phần tạo nguồn nhân lực cho sự pháttriển chung của toàn tỉnh Đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho lao độngtrong toàn tỉnh trong đó tập trung chủ yếu vào đội ngũ thanh niên, suy đếncùng thì đó là khâu then chốt nhất của công cuộc đổi mới tỉnh nhà
2.2 Tình hình thanh niên và thực trạng công tác Đoàn
ở Quảng Nam hiện nay
2.2.1 Tình hình Thanh niên Quảng Nam
Theo số liệu được báo cáo chính thức tại Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh tỉnh Quảng Nam đến tháng 10 năm 2007: trên địa bàn toàn tỉnh
có trên 520.000 thanh niên, chiếm gần 35,47% dân số và 51% lực lượng laođộng toàn tỉnh trong đó có 105.504 đoàn viên, 143.197 hội viên Hội LHTN và7.734 đảng viên trẻ sinh hoạt trong Đoàn
Cơ cấu về giới trong thanh niên tương đối cân bằng tuy nhiên cơ cấu vềkhu vực và nhóm ngành lại có sự thiên lệch rất lớn Bởi lẽ phần lớn dân sốViệt Nam tập trung ở nông thôn (khoảng 76%)