1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường ở việt nam trong giai đoạn hiện nay

75 1,6K 17
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Lê Thị Duyên
Người hướng dẫn Thầy giáo Nguyễn Thanh Tân
Trường học Trường Đại học Khoa Học Huế
Chuyên ngành Triết học, Chính trị học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 785,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, bản thân em luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tì

Trang 1

Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, bản thân em luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong khoa Lý Luận Chính Trị - Trường Đại học Khoa Học Huế, đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo Nguyễn Thanh Tân.

Những người thân, người bạn đã thường xuyên ủng hộ, động viên em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ nhiệt tình, trao đổi đóng góp ý kiến để em hoàn thành khóa luận này Đặc biệt tình yêu thương vô hạn của gia đình đã giúp em cố gắng vượt qua những khó khăn, thứ thách, yên tâm trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tất cả sự giúp đỡ trên đã tạo điều kiện tốt cho bản thân em hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu, hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp Qua đây, cho phép em được bày tỏ tình cảm

và lòng biết ơn vô hạn!

Huế, tháng 05 năm 2011 Sinh viên: Lê Thị Duyên

Lớp: Triết K31

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của đề tài 4

6 Kết cấu của khoá luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA ĐẠO ĐỨC TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 6

1.1 Lý luận về đạo đức 6

1.1.1 Một số quan niệm về đạo đức trong lịch sử triết học trước chủ nghĩa Mác 6

1.1.2 Quan niệm về đạo đức trong triết học Mác - Lênin 12

1.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 16

1.2 Lý luận về kinh tế thị trường 19

1.3 Những vấn đề của đạo đức trong kinh tế thị trường 24

Chương 2 SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA ĐẠO ĐỨC VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 29

2.1 Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với đạo đức 29

2.1.1 Quan điểm phủ nhận ảnh hưởng tích cực của kinh tế thị trường đối với đạo đức 29

2.1.2 Quan điểm khẳng định ảnh hưởng tích cực của kinh tế thị trường đối với đạo đức 33

2.1.3 Quan điểm coi kinh tế thị trường có tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) đối với đạo đức 36

2.2 Vai trò điều tiết của đạo đức đối với kinh tế thị trường 43

Trang 3

2.2.1 Chủ trương tách biệt đạo đức với kinh tế thị trường 442.2.2 Chủ trương coi kinh tế thị trường và đạo đức có quan hệ nội tại 462.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đạo đức phù hợp với kinh tếthị trường 522.3.1 Trước hết phải hoàn thiện cơ chế thị trường làm cơ sở cho việcxây dựng đạo đức mới 532.3.2 Cùng với việc kiện toàn cơ chế thị trường, cần phải đẩy mạnhviệc xây dựng và kiện toàn về thiết chế cũng như thế chế nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa nhằm taọ khung pháp lý và chính trị cho việcxây dựng đạo đức mới 572.3.3 Tăng cường giáo dục xã hội, đặc biệt là giáo dục đạo đức đểchuyển chuẩn mực xã hội (về chính trị, pháp lý, thẩm mỹ, khoa học) đã

và đang được tạo dựng trong nền kinh tế thị trường và xây dựng nhànước pháp quyền thành chuẩn mực đạo đức cá nhân 60

KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam hiện nay, kinh tế thị trường đang trong quá trình phát triểnmạnh mẽ và đang từng bước được hoàn thiện về cơ chế cũng như thế chế.Điều này, mặc nhiên thừa nhận nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thànhphần (có cả kinh tế tư nhân) được điều tiết bởi kinh tế thị trường Trong côngcuộc đổi mới đất nước 15 năm qua, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu tolớn Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ nhanh, đời sống của nhândân từng bước được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, bên cạnhnhững thành quả đạt được thì công cuộc đổi mới đang đặt ra cho chúng tanhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm, trong đó có vấn đề xuống cấp của đạođức Điều này liên quan đến mặt trái của kinh tế thị trường, cũng như sự tácđộng tiêu cực của kinh tế thị trường đến các lĩnh vực khác của đời sống xãhội Trong đó nổi lên những vấn đề về lợi ích và quan hệ lợi ích trên tất cả cácmặt của đời sống xã hội, nhất là vấn đề kinh tế thị trường ảnh hưởng như thếnào đến sự phát triển của xã hội về mặt đạo đức và ngược lại, đạo đức chi phốinhư thế nào đến sự phát triển nhanh chóng của kinh tế thị trường hiện nay.Trước những thành quả mà kinh tế thị trường đã mang lại và những tácđộng tiêu cực của nó, nhất là về mặt đạo đức, một số người đã cho rằng, sựxuống cấp về mặt đạo đức xã hội bắt nguồn từ việc khuyến khích lợi ích cánhân trong người lao động Họ cho rằng, đạo đức xã hội và lợi ích cá nhântrong kinh tế thị trường là không thể dung hợp được với nhau Nhưng cũng có

ý kiến cho rằng sự khuyến khích lợi ích cá nhân (là lợi ích cá nhân chínhđáng), điều này tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân phát triển mình về mọimặt nhất là về tài năng và trí tuệ Hay nói khác đi, đó là với việc phát triểnkinh tế thị trường đã tạo ra môi trường thuận lợi phát huy vai trò chủ thể cánhân, rằng kinh tế thị trường là cơ chế cho nhân cách con người phát triển tốtnhất trong điều kiện hiện nay

Trang 5

Hiện nay, có một số người kỳ thị với kinh tế thị trường vì họ cho rằngkinh tế thị trường là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về mặt đạo đức Hiểnnhiên, chúng ta có thể thấy rằng, ở một số nước có nền kinh tế thị trường pháttriển mạnh đều đang diễn ra hiện tượng suy thoái về đạo đức, thậm chí sự suythoái về đạo đức ở một số nước trong một số giai đoạn còn tỉ lệ thuận với sựtăng trưởng của kinh tế thị trường Nhưng từ thực tế chúng ta có thể thấy rằng,không thể đổ hết nguyên nhân làm suy thoái đạo đức cho kinh tế thị trường vàphải đánh giá đúng đắn những giá trị mà kinh tế thị trường đã mang lại Trênthực tế đã cho thấy: không phải tất cả mọi người sản xuất và kinh doanh vì lợinhuận đều suy thoái về đạo đức; kinh tế thị trường luôn tác động hai mặt, bêncạnh những mặt xấu thì kinh tế thị trường còn có những tác động tốt đến đạođức xã hội; hiện tượng băng hoại về đạo đức không chỉ tồn tại trong nền kinh

tế thị trường mà một số hiện tượng xấu đó cũng tồn tại trong nền kinh tế phithị trường; bên cạnh những nước có hiện tượng xấu về đạo đức tăng cùng với

sự phát triển của kinh tế thị trường thì cũng có những nước kinh tế thị trườngngày càng phát triển mạnh mẽ nhưng hiện tượng suy thoái về đạo đức ngàycàng giảm; hoặc chúng ta cũng có thể thấy rằng hiện tượng băng hoại về đạođức tăng là do một số nước thực hiện không đúng kinh tế thị trường, nhất là

do yếu kém trong quản lý xã hội và giáo dục chưa đạt chất lượng

Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc giữ gìn và phát huynhững giá trị đạo đức truyền thống, cũng như xây dựng những giá trị đạo đứcmới là vấn đề mà Đảng, Nhà nước ta quan tâm hàng đầu Vì vậy, em chọn

“Mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” làm đềtài khóa luận tốt nghiệp của mình Đề tài này chủ yếu dựa trên lý luận triết họcnhìn nhận mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường, có ý nghĩa về mặt

lý luận đó là làm rõ lý luận về đạo đức kinh tế thị trường, những ảnh hưởngcủa kinh tế thị trường đến đạo đức xã hội và sự điều tiết của đạo đức trong nềnkinh tế thị trường hiện nay Từ những lý luận đó, nhằm đưa ra những giảipháp cơ bản để xây dựng một nền đạo đức phù hợp với kinh tế thị trường ởnước ta hiện nay

Trang 6

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Cùng với việc thừa nhận kinh tế thị trường không phải là sản phẩmriêng của chủ nghĩa tư bản đã đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ nghiên cứu, vậndụng tốt những kiến thức về kinh tế thị trường và các quy luật của nó vàothực tiễn nước ta nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ và văn minh” Kinh tế thị trường ở Việt Nam là nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một nền kinh tế vừa làm giàu đểxóa đói giảm nghèo vừa thực hiện đền ơn đáp nghĩa, vừa phát triển kinh tếvừa chăm lo cho đời sống tinh thần Phát triển một nền kinh tế giàu mạnh điđôi với việc xây dựng mối quan hệ giữa người với người, đạo lý làm ngườingày càng tốt đẹp hơn

Xây dựng đạo đức phù hợp với kinh tế thị trường là một vấn đề quantrọng đang được quan tâm hàng đầu, đó là một tất yếu khách quan trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Chính vì vậy, mối quan hệ giữađạo đức và kinh tế thị trường cùng những vấn đề liên quan, đặc biệt là côngtác giáo dục đạo đức trong giai đoạn kinh tế thị trường đã và đang được nhiềunhà nghiên cứu quan tâm đặc biệt Trong số đó, có thể kể đến một số côngtrình nghiên cứu sau: Phạm Văn Đức với “Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân vàđạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí triết học,28/01/2006; GS.TS Chu Văn Cấp với “Định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh

tế thị trường ở nước ta”, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2009;PGS.TS Nguyễn Chí Mỳ với “Tác động hai mặt của nền kinh tế thị trường vàtoàn cầu hóa đối với xây dựng đời sống văn hóa”, Tạp chí cộng sản, 2004;Nguyễn Đình Tường với “Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đứctrong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục”,Tạp chí triết học, 2010 Tuy nhiên, hầu hết những đề tài trên đều xem xét mốiquan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường chủ yếu ở góc độ thực tiễn Với đềtài “Mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”,mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường được nghiên cứu và xem xét ởgóc độ lý luận triết học Sự tác động lẫn nhau giữa kinh tế thị trường và đạo

Trang 7

đức được xem xét với nhiều quan điểm khác nhau, để từ đó đưa ra một số giảipháp nhằm xây dựng có hiệu quả đạo đức phù hợp với kinh tế thị trường ởnước ta trong giai đoạn hiện nay.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm rõ mối

quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu: Với mục đích đó, nhiệm vụ của đề tài đặt ra là:

- Phân tích lý luận về đạo đức, kinh tế thị trường và những vấn đề của

đạo đức trong kinh tế thị trường

- Phân tích tác động qua lại giữa đạo đức và kinh tế thị trường ở Việt

Nam giai đoạn hiện nay, đề xuất những giải pháp chính nhằm xây dựng đạođức mới trong điều kiện kinh tế thị trường

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của triết học duy vật lịch sử.

Đồng thời xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, đạo đức Mác - Lênin, tư tưởng đạo đức HồChí Minh Bên cạnh đó đề tài còn có cơ sở lý luận là những quan điểm về tácđộng qua lại giữa kinh tế thị trường và đạo đức trong lịch sử tư tưởng triết học

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu của khóa luận là

phương pháp biện chứng duy vật, đồng thời để nghiên cứu vấn đề này em còn

sử dụng các phương pháp như: phương pháp lôgic và lịch sử, phương phápphân tích và tổng hợp, phương pháp đối chiếu và so sánh,…Trên cơ sở đó kếthợp hài hòa giữa các phương pháp để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu một cáchhiệu quả nhất, trong đó có kế thừa có chọn lọc những tài liệu có sẵn trong khotàng lý luận

5 Đóng góp của đề tài

Kể từ khi Việt Nam áp dụng cơ chế thị trường, những thay đổi trongquan hệ kinh tế đã có sự tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực khác củađời sống xã hội Với những mặt tích cực mà kinh tế thị trường đem lại đã làmcho kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ và đời sống vật chất cũng như tinh

Trang 8

thần của nhân dân ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, mặt trái của kinh tếthị trường là vấn đề nổi cộm, nhất là hiện nay vấn đề xuống cấp của đạo đức,vấn đề này có liên quan đến sự tác động tiêu cực của kinh tế thị trường Nhưvậy, trong lúc còn có nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa đạo đức

và kinh tế thị trường thì đề tài này có những đóng góp sau:

- Trình bày một cách tổng hợp và khái quát lý luận về đạo đức kinh tế thịtrường, những quan điểm về mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường,

áp dụng vào thực tiễn Việt Nam để có những giải pháp hữu hiệu nhằm xâydựng đạo đức phù hợp với kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

-Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và nhữngngười quan tâm đến vấn đề này

6 Kết cấu của khoá luận

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận cóhai chương (6 tiết)

Trang 9

cả với bản thân mình.

Đạo đức là một trong những quan hệ chủ yếu trong đời sống xã hội đượchình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại và được mọi thời đại quan tâm.Nhất là trong xã hội hiện nay, bên cạnh những giá trị đạo đức truyền thống tốtđẹp của dân tộc đang là nguồn sức mạnh tinh thần trong công cuộc đổi mớiđất nước, đang có không ít vấn đề nảy sinh Thực hiện kinh tế thị trường đòihỏi cần phải có những quyết tâm đấu tranh giữa những lối đạo đức khác nhau

Đó là lối sống lý tưởng, lành mạnh và trung thực, thẳng thắn và vì lợi íchchung của cộng đồng Ngược lại, đó là lối sống thực dụng, ích kỷ, dối trá,chạy theo đồng tiền mà bỏ qua lợi ích chung và quên đi những giá trị đạo đức.Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện cơ chế kinh tế thị trường cần có nhữngđịnh hướng giá trị đạo đức lành mạnh cho tất cả mọi người nhằm tạo ra đượcđời sống tinh thần xã hội tốt đẹp trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay

1.1.1 Một số quan niệm về đạo đức trong lịch sử triết học trước chủ nghĩa Mác

Trong bất cứ thời đại lịch sử nào, cá nhân và xã hội luôn có mối quan hệchặt chẽ với nhau Con người luôn tìm đủ mọi cách để thỏa mãn nhu cầu về

Trang 10

lợi ích của mình Tùy theo trình độ phát triển của kinh tế - xã hội mà lợi ích cánhân phù hợp ít hay nhiều với lợi ích của tập thể, lợi ích của xã hội Trong lịch

sử xã hội loài người có hai xu hướng trái ngược nhau Một là, trong xã hội cógiai cấp - xã hội được xây dựng dựa trên chế độ chiễm hữu tư nhân về tư liệusản xuất thì lợi ích cá nhân của giai cấp thống trị thường đối lập với lợi ích của

xã hội Hai là, Trong xã hội xã hội chủ nghĩa - xã hội được xây dựng dựa trênchế độ công hữu về tư liệu sản xuất, trong xã hội này về cơ bản lợi ích của cánhân thống nhất với lợi ích xã hội Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rằng khôngphải lúc nào lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội cũng hoàn toàn phù hợp được vớinhau mà nhiều khi còn xảy ra mâu thuẫn Nên vấn đề cần quan tâm ở đây làphải điều chỉnh như thế nào để lợi ích cá nhân và lợi ích của xã hội có sự phùhợp tương đối với nhau Để làm được điều đó cần có những nguyên tắc, quytắc, những chuẩn mực hành vi làm tiêu chuẩn cho hoạt động của cá nhân vàcủa cộng đồng người trong xã hội Những nguyên tắc và chuẩn mực đó đượcđưa ra không phải tùy tiện mà dựa trên những lợi ích kinh tế, chính trị của giaicấp thống trị, nó được thể hiện qua các quan hệ xã hội Trong hệ thống cácquan hệ xã hội nhằm điều chỉnh lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội đó có quan

hệ về đạo đức

Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng về đạođức đã xuất hiện cách đây hơn 26 thể kỷ Sự phát triển của đạo đức từ thấpđến cao, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thông qua sự kế thừa

có chọn lọc Do đó đạo đức ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn Cụ thể, ởphương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc được bắtnguồn từ cách hiểu về “đạo” và “đức” “Đạo” là nói đến đường đi, nói đếnđường sống của con người trong xã hội Còn “đức” là nhân đức, là biểu hiệncủa đạo Đối với người Trung Quốc, đạo đức là những yêu cầu, những nguyêntắc theo những định hướng giá trị nhất định trong xã hội được đặt ra mà mỗingười phải tuân theo Còn ở phương Tây, khái niệm đạo đức được bắt nguồn

từ từ vựng La Tinh “Moralis” có nghĩa là thói quen, là tập tục hằng ngày trởthành những thói quen Họ nói đến đạo đức là nói đến những lề thói và tập tụcbiểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong giao tiếp

Trang 11

Quan niệm về đạo đức của các nhà triết học duy vật trước Mác

Tư tưởng về đạo đức trước Mác có nhiều quan niệm khác nhau Cácquan niệm đó chủ yếu chia theo hai trường phái trái ngược nhau là chủ nghĩaduy tâm và chủ nghĩa duy vật, giữa khoa học và tôn giáo Tiêu biểu chonhững nhà triết học duy vật trước Mác là: Đêmôcrit (460- 370 TCN),Êpyquya (431- 270 TCN), L Phơbách (1804- 1872) Những nhà triết họcduy vật này đã khẳng định nguồn gốc trần thế, nguồn gốc xã hội của đạođức, gắn đạo đức với những nhu cầu về lợi ích sự thần bí của đạo đức màchủ nghĩa duy tâm đã áp đặt cho nó Tuy nhiên, vì có những hạn chế về mặtđiều kiện lịch sử và hạn chế về thế giới quan nên các nhà triết học duy vậttrước Mác chưa thấy được yếu tố vật chất của đạo đức và đã tách rời đạo đứcvới những tính đặc thù của nó Ngay cả L Phơbách cũng xem xét đạo đứcmột cách siêu hình và trừu tượng

Trong quan niệm về đạo đức của Đêmôcrit, ông đã làm toát lên được mốiquan hệ luân thường đạo lý, đề cao phẩm chất của con người không chỉ bằnglời nói mà phải bằng hành động Với ông: “Người tốt không những làm màcòn không muốn làm những điều phi nghĩa” hay “Vấn đề giàu nghèo khôngphải là vấn đề thuộc xã hội mà nó thuộc về lĩnh vực thuần túy đạo đức…”.Đêmôcrit đề cao vấn đề giáo dục đức tính tốt đẹp, giáo dục cái thiện cho conngười Trong quan niệm về đạo đức của Đêmôcrit chủ yếu xoay quanh vấn đề

“lương tâm” và tinh thần lành mạnh của từng cá nhân Bên cạnh những yếu tốtích cực như đặt ra nhiệm vụ giáo dục con gười sống đúng mực, ôn hòa, khôngích kỷ, không gây hại cho người khác thì quan niệm đạo đức của ông có hạnchế đó là: trung hòa lợi ích giữa giai cấp chủ nô và nô lệ Bàn về vấn đề đạođức Đêmôcrit luôn đề cao ‘lương tâm” nhưng đối với Arixtôt (384- 322 TCN)lại coi trọng vấn đề “công bằng” Ông luôn đề cao trạng thái ung dung, coi nó

là chuẩn mực để điều chỉnh mọi hành vi của con người Arixtôt là người đầutiên xem xét bản chất của đạo đức và coi đạo đức hình thành không phải bằngcon đường tự nhiên mà bằng sự rèn luyện và hoạt động, đạo đức được rút ra từhoạt động thực tiễn của con người Theo ông, hành vi đạo đức phải là hành vi

Trang 12

tự nguyện và được lựa chọn một cách tự do mà bản thân chủ thể hành độngbiết rõ Đến thời đại triết học cổ điển Đức, L Phơbách (1804- 1892) là nhàtriết học duy vật duy nhất cho rằng: Đạo đức không thể phát sinh từ nguồn gốcnào khác là giới tự nhiên Theo ông, đạo đức là sự thỏa mãn khao khát hạnhphúc của con người Hạn chế lớn nhất trong quan niệm về đạo đức của ông làquá đề cao đạo đức tình yêu mà ông đã tách rời đạo đức với các mối quan hệ

xã hội khác

Quan niệm về đạo đức của những nhà triết học duy tâm

Khác với những nhà triết học duy vật trước Mác, các nhà triết học duytâm xem xét nguồn gốc của đạo đức ở lĩnh vực tinh thần chủ quan - tự ý thứchay ở một lực lượng siêu nhiên - ý niệm tuyệt đối của các nhà duy tâm kháchquan Chính vì vậy, quan niệm về đạo đức của họ không chỉ là sản phẩm củanhận tức duy tâm mà còn là sản phẩm của một thế giới quan tôn giáo Tiêubiểu đó là, một là, nhà triết học Platon (427- 347 TCN), nhà triết gia cổ đại HiLạp này là người đã đặt nền móng cho đạo đức học duy tâm Theo ông, tâmhồn con người có ba mặt: trí tuệ, ý chí và tình cảm Tương ứng với ba mặt đó

là ba đức tính của con người là: khôn ngoan, lòng dũng cảm và đức hi sinh

Từ sự phân tích đó ông đã đi đến kết luận rằng sự kết hợp cần thiết của ba đứctính nói trên là giá trị đạo đức cao nhất của con người, đó là sự công bằng vàcái thiện tối cao Nhưng với ông sự công bằng và cái thiện đó chỉ có ở nhữngtâm hồn cao cả hay là đạo đức chỉ có ở tầng lớp trên, tầng lớp quý tộc Tuycòn có những hạn chế như vậy, nhưng những tư tưởng đạo đức của Platon đã

có ảnh hưởng to lớn đến các học thuyết duy tâm về đạo đức trong các giaiđoạn sau này, nhất là trong tư tưởng đạo đức tôn giáo Hai là, nhà đạo đức họcI.Kant (1724- 1804) người đặt nền móng cho triết học cổ điển Đức Đạo đứccủa ông xuất phát từ phạm trù “tiên thiên”, bẩm sinh bên trong “Đạo đức củaông không đề cập đến việc đánh giá thực tế về mặt đạo đức những hành vi củacon người, mà chủ yếu nói về những mệnh lệnh thuần túy hình thức của lýtính “thực tiễn”… Mệnh lệnh, theo ông là những nguyên tắc chứa đựng sự épbuộc khách quan ở một hành vi nào đó” [7; 280] Như vậy, khi bàn về đạo

Trang 13

đức chủ yếu ông bàn đến những mệnh lệnh thuần túy hình thức của lý tínhthực tiễn chứ không đề cập đến việc đánh giá thực tế về mặt đạo đức nhữnghành vi của con người Mệnh lệnh tuyệt đối trong quan niệm của ông mangtính trừu tượng, phi lịch sử, phi giai cấp, thiếu tính thực tiễn Và chỉ nhữnghoạt động nào của con người phù hợp với mệnh lệnh tuyệt đối đó thì mớiđược coi là đạo đức Mặc dù vậy, nhưng trong quan niệm của ông có điểmtích cực đó là đã thể hiện được phần nào yêu cầu tự do, về cái thiện và mangnhân tính Điểm tích cực này đã chống lại những hạn chế của đạo đức phongkiến và xây dựng một giá trị đạo đức cao hơn Ba là, nhà triết học P Heghen(1770- 1831) là đại diện tiêu biểu của nền triết học Đức, với lập trường duytâm khách quan Khi bàn về đạo đức, Hêghen đã gắn chặt quan niệm đạo đứcvới quan niệm về pháp quyền và thông qua đó đem lại một nguyên lý đạo đứcriêng, hay còn gọi là một sự chuẩn y về đạo đức Hêghen quan niệm: “Nhiệm

vụ của đạo đức là tìm ra con đường hòa hợp giữa những hành vi của nhữngchủ thể khác nhau, một sự hòa hợp không chỉ là kết quả của cấm đoán, mà cònxuất phát từ bản thân trạng thái bên trong của những chủ thể ấy” [8; 290].Thông qua tìm hiểu một số quan niệm của những nhà triết học tiêu biểu chochủ nghĩa duy tâm, ta có thể thấy được rằng: quan niệm về đạo đức củaHêghen nói riêng và của những nhà triết học duy tâm nói chung đều cho rằngđạo đức có nguồn gốc phi trần thế, xem mục đích của đạo đức là ý niệm hay

đó là mệnh lệnh tuyệt đối, hay nói cách khác là họ đã thần bí hóa đạo đức

Quan niệm về đạo đức của tôn giáo

Như chúng ta đã biết chức năng chủ yếu của tôn giáo là chức năng đền

bù hư ảo Nên quan niệm của tôn giáo về đạo đức cũng mang tính phản ánhphi hiện thực lịch sử Mác đã từng khẳng định: “tất cả mọi tôn giáo chẳng quachỉ là sự đền bù hư ảo vào trong đầu óc của con người - của lực lượng bênngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ chỉ là sự phản ánh trong đó nhữnglực lượng ở trên trần thế mang hình thức những lực lượng siêu nhiên” [15;13] Khi bàn về vấn đề này Lênin cũng đã chỉ ra: “Cảm giác về sự phụ thuộc

là cơ sở của tôn giáo” [14; 51] Mọi tôn giáo đều luôn khuyên con người làm

Trang 14

việc thiện và tránh điều ác Chính vì vậy, họ luôn tin rằng bản thân các tôngiáo làm nền tảng cho đạo đức xã hội Tôn giáo hướng con người vào thế giới

hư ảo, nên những quan niệm của các tôn giáo không hướng tới những conngười hiện thực Trong đạo đức tôn giáo - đạo đức thần học, họ cho rằngnguồn gốc của đạo đức chính là thượng đế - là hiện thân của cái thiện mangtính đạo đức và đức hạnh, còn cái ác là cái vô đạo đức thì xuất phát từ “tội tổtông” của con người Với các tôn giáo, họ coi thượng đế là tiêu chuẩn duynhất của đạo đức, mang tính quyền uy khi đánh giá các hành vi đạo đức Trênthế giới, hiện nay tồn tại rất nhiều tôn giáo khác nhau Chúng ta có thể tìmhiểu quan niệm về đạo đức của một số tôn giáo chính sau đây:

Quan niệm về đạo đức của Phật giáo nói riêng và của phương Đông nóichung đều đề cao vấn đề bản lĩnh con người Đạo đức Phật giáo luôn đề caocon người, lấy con người làm trọng tâm và đi chứng minh con người đã đạtđến giải pháp tối thượng Phật giáo có mục đích giáo dục con người có đầy đủđạo đức, cảm hóa họ từ xấu thành tốt, từ ác thành thiện, và từ những conngười mê muội thành giác ngộ Nền đạo đức của Phật giáo có nhiều quanniệm gắn liền với cuộc sống đời thường Tuy nhiên, cũng có nhiều quan niệmtìm đến sự thoát tục mang tính chất bi quan Những quan niệm về đạo đức củaPhật giáo tuy có mang tính thoát tục nhưng đó lại chính là cơ sở để xây dựngthành những quy tắc và chuẩn mực đạo đức cho con người Mà những quy tắc

đó không những không xa rời hiện thực mà trái lại lại rất gần gũi với nhândân Đạo đức Phật giáo là đạo đức với những “từ bi, hỉ xả” gắn liền với sựbình đẳng Đạo đức của Phật giáo không phân biệt đẳng cấp, tầng lớp, hay địa

vị xã hội sang hèn

Với phạm trù “phật tại tâm” đã chứng minh đạo đức Phật giáo là nền đạođức vô thần, hướng nội, khuyên con người hãy luôn tin ở chính mình, khôngnên hướng tới những lực lượng siêu nhiên hay ở một đấng sáng tạo nào Bêncạnh những hạn chế như bi quan, yếm thế … đạo đức Phật giáo cũng đã đượcxem là tư tưởng tiến bộ được lịch sử ghi nhận và nhân loại đón nhận và tiếp thu.Những mặt tích cực đó sẽ tồn tại lâu dài trong lịch sử phát triển của đạo đức

Trang 15

Đạo đức Nho giáo gắn liền với chế độ phong kiến và phục vụ đắc lực chochế độ này Đạo đức Nho giáo với những nguyên tắc như “tam cương”, “ngũthường” là những nguyên tắc rất chặt chẽ Con người ở đây được bàn đến với

5 đức tính cơ bản: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín và những quan hệ chủ yếu là quan hệvua - tôi, cha - con, vợ - chồng Đạo đức Nho giáo không chỉ là một họcthuyết về đạo đức mà nó còn là một thuyết chính trị xã hội Học thuyết nàychứa đựng nhiều tư tưởng về đạo đức, đặc biệt là trong tư tưởng của Khổng

Tử Ông đề cao vai trò của đức trí nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp bằng conđường giáo hóa Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tiến bộ đó, với những nguyêntắc hà khắc thì đạo đức Nho giáo đã vô tình làm dụng cụ cai trị đắc lực chogiai cấp phong kiến

1.1.2 Quan niệm về đạo đức trong triết học Mác - Lênin

Khái niệm đạo đức theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác

“Đạo đức là một trong những hình tái ý thức xã hội, là tổng hợp nhữngquy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnhhành vi của mình vì lợi ích xã hội và của người khác trong mối quan hệ giữacon người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng xã hội.”

Như đã nghiên cứu ở trên, chúng ta có thể khẳng định các quan điểm vềđạo đức trước chủ nghĩa Mác đều coi đạo đức là một hiện tượng vĩnh cửu củamọi dân tộc, mọi giai cấp, nó mang bản chất trừu tượng Quan niệm mácxítcho rằng, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội thựchiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đờisống xã hội Trong đạo đức, sự cần thiết xã hội, những nhu cầu, lợi ích của xãhội hoặc của các giai cấp biểu hiện dưới hình thức những quy định và những

sự đánh giá được mọi người thừa nhận, thành hình một cách tự phát, đượccủng cổ bằng sức mạnh của tấm gương quần chúng, của những thói quen,phong tục và dư luận xã hội Chính vì vậy, những yêu cầu của đạo đức manghình thức là bổn phận phải thực hiện của không riêng ai, như nhau đối với tất

cả mọi người và cũng không chịu sự ra lệnh của ai cả Quan niệm của chủnghĩa Mác - Lênin về đạo đức xuất phát từ phương thức sản xuất, gắn quan hệ

Trang 16

đạo đức với đời sống hiện thực của con người trên cơ sở kế thừa có chọn lọcnhững tri thức của nhân loại Từ cơ sở thực tiễn và những lý luận về đạo đứctrong lịch sử phát triển của nhân lọai, nhũng nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã

đi đến xây dựng một phương pháp luận khoa học - trên quan điểm duy vật lịch

sử và duy vật biện chứng nhằm khắc phục những sai lầm và hạn chế của cácquan điểm trước

“Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhânriêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa củanhững quan hệ xã hội”[1; 83] Cùng với việc tổng hợp và hiện thực hóa nhữngquan niệm về đạo đức có trước, Mác đã gắn đạo đức với phương thức sản xuất

và cho rằng khi các phương thức sản xuất thay đổi thì các quan niệm về đạođức cũng thay đổi theo và phát triển cùng với sự phát triển của loài người Khicon người tiến hành lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu sống và lợi ích củamình đã làm nảy sinh các biểu hiện của đạo đức Mác viết trong lời tựa của tácphẩm góp phần phê phán khoa kinh tế - chính trị như sau: “Phương thức sảnxuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị vàtinh thần nói chung Không phải ý thức con người quyết định ý thức của họ”[16; 13] Chính luận điểm này đã nhận thức đạo đức xuất phát từ lao động, tồntại xã hội quyết định ý thức xã hội Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin vềđạo đức mang tính khoa học triệt để, xuất phát từ quan hệ đạo đức của conngười trong đời sống xã hội, xem con người là chủ thể của đạo đức Chủ nghĩaMác - Lênin đã đưa ra những nhận thức đúng đắn sự phát triển của con ngườitrong đời sống đạo đức và hướng con người tự giác cải tạo chính đời sống đạođức của mình Họ đã đặt sự vận động của đạo đức trong sự vận động chungcủa toàn bộ đời sống xã hội Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin thìđạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, những quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ

đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúccủa con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội

Về nguồn gốc của đạo đức

Khi bàn về nguồn gốc của đạo đức, các quan niêm trước chủ nghĩa Mácchưa có cách nhìn nhận toàn diện Như với Hêghen: “Cội nguồn là cơ sở của

Trang 17

tất cả những hiện tượng tự nhiên và xã hội là một bản nguyên tinh thần…”,

“đạo đức bắt nguồn từ ý niệm pháp lý, còn ý niệm pháp lý là một biểu hiệncủa ý niệm tuyệt đối” [24; 65] Hay như những nhà duy vật trước Mác đi tìmnguồn gốc xã hội trong xã hội và trong quan hệ giữa người với người, mặc dù

họ đã chưa thấy được sự chi phối của quan hệ kinh tế đối với đạo đức nhưng

họ đã tách rời đạo đức với các quan hệ xã hội khác Nhìn chung quan niệm vềđạo đức của các nhà tư tưởng trước Mác đều coi đạo đức là một sức mạnh vốn

có của con người và tồn tại bên ngoài ý thức của con người

Chủ nghĩa Mác khẳng định, đạo đức là một trong những hình thái ý thức

xã hội, hình thành và phát triển cùng với tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xãhội Vì vậy, đạo đức có quá trình phát triển lịch sử lâu dài và nội dung của nóthay đổi theo sự thay đổi của tồn tại xã hội Đạo đức và tồn tại xã hội có mốiquan hệ biện chứng với nhau Các quan niệm trước Mác đều chưa nhìn thấyđược sự quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xã hội nóichung và của đạo đức nói riêng Đến chủ nghĩa Mác, đã khắc phục được hạnchế đó và điều đặc biệt là Mác đã thấy được nguồn gốc của đạo đức là từ laođộng Qúa trình lao động đã hình thành nên những giá trị đạo đức của conngười, điều kiện cơ bản đầu tiên của đời sống con người chính là lao động

“Lao động không chỉ sáng tạo ra con người sinh vật, nghĩa là làm phát triển bộnão, hoàn thiện các quan năng Cùng với điều đó và quan trọng hơn là laođộng đã sáng tạo ra con người, với tư cách là con người xã hội có các nănglực, các phẩm chất như: nhận thức, thẩm mỹ, đạo đức…” [25; 68] Như vậy,theo quan niệm của chủ nghĩa Mác thì đạo đức có nguồn gốc từ lao động, làsản phẩm của điều kiện sinh hoạt vật chất xã hội và sự chi phối của kinh tế

Về bản chất của đạo đức

Đạo đức phản ánh tồn tại xã hội nên mang bản chất xã hội Nội dung củađạo đức do hoạt đông của thực tiễn quy định Bàn về bản chất của đạo đứcMác - Ăngghen chủ trọng đến tính giai cấp của đạo đức, trong “ChốngDuyrinh” Ăngghen nói: “cho đến nay, xã hội đã vận động trong những sự đốilập giai cấp cho nên đạo đức cũng luôn là đạo đức giai cấp” Đạo đức mang

Trang 18

bản chất giai cấp nhưng nó không đối lập tuyệt đối với những tính toán của xãhội, đạo đức cách mạng là đạo đức triệt để nhất vì mục đích của giai cấp vôsản là giải phóng xã hội xây dựng nên những nguyên tắc đạo đức mới

Về chức năng của đạo đức

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, góp phần xây dựng quan

hệ giữa người với người, giữa cá nhân với xã hội Chức năng của đạo đức làgiúp cho con người nhận thức, điều chỉnh hành vi và giáo dục đạo đức phùhợp với yêu cầu của xã hội Đạo đức có những chức năng cơ bản là chức năngnhận thức, chức năng điều chỉnh hành vi và chức năng giáo dục

Chức năng nhận thức (chức năng phán ánh): Đạo đức là sự phản ánh tồntại xã hội, phản ánh hiện thực của đời sống đạo đức xã hội Nên đạo đức giúpcon người nhận thức xã hội về phương diện đạo đức và lĩnh hội những tri thứcđạo đức

Chức năng điều chỉnh hành vi: Trong lịch sử nhân loại, con người đãsáng tạo ra nhiều phương thức như phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật,đạo đức nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.Tất cả những phương thức ấy đều chỉ ra giới hạn được phép và không đượcphép trong hành vi của cá nhân tạo nên lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Đạođức điều chỉnh hành vi của con người bằng dư luận xã hội và lương tâm đòihỏi từ tối thiếu đến tối đa hành vi con người Việc điều chỉnh hành vi này củađạo đức thực hiện bằng hai hình thức chủ yếu là: một là, xã hội và tập thể tạo

dư luận xã hội để khen cái thiện, phê phán điều ác; hai là, bản thân chủ thểđạo đức tự giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực đạođức xã hội

Chức năng giáo dục: Giáo dục đạo đức chính là làm giàu thêm tính ngườitrong mỗi con người Chức năng giáo dục được thực hiện thông qua môitrường đạo đức Môi trường lành mạnh sẽ tạo sự thuận lợi cho việc giáo dục,môi trường đạo đức sẽ tác động đến đạo đức cá nhân bằng nhận thức đạo đức

và thực tiễn đạo đức Khi xem xét nhân cách của một con người, người ta coitrọng cả đạo đức và năng lực, hay còn gọi là cái tài và cái đức luôn là hai mặt

Trang 19

cơ bản tạo thành nhân cách của một con người Đạo đức là cái gốc của nhâncách, “tiên học lễ, hậu học văn” hay “người thành đạt trong học thức màkhông thành đạt trong đạo đức thì coi như không thành đạt” Những tri thứcđạo đức và những phẩm chất đạo đức tiến bộ không tự nhiên mà có, mà phảithông qua quá trình giáo dục, tự giáo dục, rèn luyện trong lao động trong đấutranh Những chức năng của đạo đức không tác động tách rời nhau mà luôn cómối quan hệ biện chứng với nhau.

Về vai trò của đạo đức

Đạo đức có vai trò to lớn trong đời sống xã hội, đạo đức là vấn đề thườngxuyên được đặt ra và luôn được tìm cách giải quyết nhằm đảm bảo cho sự tồntại và hình thành nhân cách của cá nhân Bằng những luận chứng khoa học,chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định vai trò của đạo đức trong đời sống xãhội là hoàn thiện con người và nhân đạo hóa xã hội loài người Sự ra đời củachủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và quan niệm về đạo đức nói riêng đã tạothành bước ngoặt quan trong trong lịch sử tư tưởng, có giá trị làm ngọn đuốcsoi đường cho đạo đức của nhân loại

1.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969), tư tưởng của người là ngọn đuốcsoi đường cho cách mạng Việt Nam, là tài sản vô giá của Đảng và dân tộc ta.Trong hệ thống quan điểm sâu sắc và toàn diện của Người, đạo đức là một vấn

đề được Người quan tâm đặc biệt Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được hìnhthành từ truyền thống đạo đức của dân tộc ta, kế thừa đạo đức phương Đông

và vận dụng sáng tạo quan niệm đạo đức của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thựctiễn nướcc ta Bàn về vấn đề đạo đức Hồ Chí Minh chủ trọng đến vị trí củađạo đức trong đời sống xã hội và nền tảng của người cách mạng chính là đạođức, “Cũng như gốc của cây ngọn của nguồn của sông” Tại Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã khẳng định “Đảng và nhân dân ta quyết tâmxây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩaMác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” [3; 83] Trong lĩnh vực đạo đức HồChí Minh kế thừa có chọn lọc những quan niệm đạo đức có trước và trên cơ

Trang 20

đó Người đưa ra những quan niệm đạo đức mới Người nói: “ Đạo đức cũ nhưngười đầu ngược xuống đất, chân chống lên trời Đạo đức mới như hai chânđứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời” [9; 320] Hồ Chí Minh đã xuấtphát từ thực tiễn Việt Nam để xây dựng một nền đạo đức mới mà giá trị đạođức mới đó đã hoà nhập với giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, tạo nênmột tầm cao mới, đó là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc

và nhân loại Người rất chủ trọng nâng cao đạo đức trong Đảng, theo Hồ ChíMinh, Đảng phải là đạo đức là văn minh thì mới mong hoàn thành sứ mệnh vẻvang của mình Đối với Người, cán bộ cách mạng phải là những người có tâmtrong sáng, cái đức cao đẹp đối với mọi người, phải có tâm thì mới giữ được

sự nghiệp cách mạng Bởi vì họ là những người có sứ mệnh giác ngộ, thứctỉnh và lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh Muốn xây dựng xãhội mới tốt đẹp thì phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ

vẻ vang đó

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa đạo đức ngườicách mạng và người công dân Người đưa ra những nguyên tắc của đạo đứcngười cách mạng là: cần, kiệm, liêm, chính Bản chất đạo đức Hồ Chí Minhbao gồm những chuẩn mực như: trung với nước, hiếu với dân, lòng yêuthương con người và tin vào con người tuyệt đối Cùng với tấm gương đạođức sáng ngời của Người toát lên bản chất xuyên suốt đó là tính nhân đạo,nhân văn cao cả, hạt nhân trong tư tưởng đạo đức của Người là luôn đề caocon người và đấu tranh để giải phóng triệt để con người Tính nhân văn, nhânđạo đó thể hiện rõ nhất trong chuẩn mực đạo đức của người cách mạng: đức

độ, thương người, đặc biệt là thương người nghèo khổ bị áp bức bóc lột HồChí Minh luôn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng vừa chuyên, quantâm đến xây dựng đạo đức mới Mỗi cán bộ đảng viên phải đặt lợi ích cáchmạng lên trên và quét sạch chủ nghĩa cá nhân, hết lòng phục vụ cho lợi ích củanhân dân “Bằng chính cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của mình, Hồ ChíMinh đã nêu tấm gương sáng tuyệt vời về đạo đức để cán bộ, đảng viên vànhân dân ta noi theo, làm cho Người thật sự là một vị lãnh tụ rất gần gũi vớinhân dân, vừa dân tộc lại vừa rất thời đại” [10; 190]

Trang 21

Chủ Tịch Hồ Chí Minh nắm rõ đặc điểm và quy luật hình thành đạo đứcnên Người rất chủ trọng đến con đường cũng như phương hướng xây dựngđạo đức cách mạng Xây dựng đạo đức với tinh thần tự giác, tự nguyện, dựavào lương tâm và dư luận của quần chúng Người nói: “Đạo đức cách mạngkhông từ trên trời rơi xuống Nó do đấu tranh bền bỉ hằng ngày mà phát triển

và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”[11; 248] Đặc biệt, trong quan điểm về đạo đức, Người chủ trọng kiên quyếtchống chủ nghĩa cá nhân “Thời đại của chúng ta là thời đại văn minh, thời đạicách mạng, mọi việc phải dựa vào sức mạnh của tập thể, của xã hội; cá nhâncàng không thể đứng riêng lẻ mà càng phải hoà mình vào trong tập thể, trong

xã hội” Cần nâng cao đạo đức cách mạng và chống chủ nghĩa cá nhân vì nó lànguồn gốc của trăm thứ bệnh nguy hiểm Đạo đức Hồ Chí Minh là nền đạođức kết tinh từ truyền thống dân tộc và tinh hoa đạo đức của nhân loại Đạođức của Người trở thành đạo đức tiên tiến của thời đại, đó là đạo đức mangbản chất cách mạng và khoa học của giai cấp công nhân Bởi vậy, đạo đức HồChí Minh đã trở thành nền đạo đức có giá trị nền tảng to lớn cho dân tộc ViệtNam, là đạo đức nền tảng để xây dựng đạo đức mới tốt đẹp trong công cuộcxây dựng và đổi mới đất nước của dân tộc ta

Trên quan điểm đạo đức của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh, Đảng ta khẳng định: Xây dựng nền đạo đức mới phù hợp với nền kinh

tế thị trường là một nhiệm vụ khó khăn và phức tạp Xây dựng con người mớivới nhân cách mới mà nhân tố tạo nên nhân cách đó chính là đạo đức Đại hội

IX của Đảng đã xác định về mục tiêu xây dựng đạo đức mới: “Xây dựng nềnvăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúcđẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Mọi mặt hoạt động văn hóa nhằm xây dựngcon người Việt Nam, phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạođức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức cộng đồng lòng nhân ái, khoan dungtôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ trong gia đình và xã hội.Văn hóa thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách kế thừa truyền thốngcách mạng dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường

Trang 22

xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [4; 114] Như vậy quan điểm của chủ nghĩa Mác

- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là kho tàng lý luận có giá trị làmkim chỉ nam cho mục tiêu xây dựng nền đạo đức mới mang đầy tính nhân văncủa toàn thể dân tộc ta

1.2 Lý luận về kinh tế thị trường

Trong lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều mô hình kinh tế khác nhau,nhưng chúng ta có thể khái quát hai loại hình kinh tế cơ bản là “kinh tế tựnhiên” và “kinh tế hàng hóa” Trong hai loại hình kinh tế này thì kinh tế hànghóa tỏ ra có ưu thế vượt trội hơn Kinh tế hàng hóa là loại hình kinh tế tồn tạitrong nhiều hình thái kinh tế xã hội, đó là kiểu kinh tế tiến bộ Kinh tế thịtrường là một trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, trong đó toàn bộcác yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” đều thông qua thị trường

Đến nay, không ai phủ nhận vị trí, vai trò cũng như tầm quan trọng củakinh tế thị trường trong quá trình sản xuất xã hội Kinh tế thị trường tồn tạimột cách khách quan ở nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau Đảng ta đãkhẳng định: “sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà làthành tựu của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan và cần thiết chocông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xâydựng” Hiện nay không còn ai cho rằng kinh tế thị trường là san phẩm riêngcủa chủ nghĩa tư bản nữa mà coi nó là một thành tựu của văn minh nhân loại

Kinh tế thị trường và những đặc trưng của kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà ở đó các quan hệ kinh tế đềuđược thực hiện trên thị trường, thông qua quá trình trao đổi mua bán Kinh tếthị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa trên cơ sở phát triểnlực lượng sản xuất Trong lịch sử, hình thái kinh tế hàng hóa phát triển từ thấpđến cao qua các loại hình: kinh tế hàng hóa giản đơn, kinh tế thị trường tự do

cổ điển và kinh tế thị trường hiện đại Kinh tế thị trường nói chung là hìnhthức phát triển cao của kinh tế hàng hóa Nó không đối lập với kinh tế hànghóa mà giống nhau về mặt bản chất Kinh tế thị trường là hình thức kinh tế mà

ở đó các quan hệ kinh tế đều diễn ra trên thị trường, chịu sự chi phối của quy

Trang 23

luật kinh tế thị trường vốn có hay chịu sự chi phối của kinh tế thị trường tựđiều chỉnh Nền kinh tế thị trường tự do dựa trên kỹ thuật cơ điện gắn liền vớinền văn minh công nghiệp, dựa vào tư hữu nhỏ và tư hữu lớn, ứng với nó là

cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp và tiên tới nông - công nghiệp - dịch vụ.Kinh tế thị trường tự do phát triển lên mức cao hơn là kinh tế thị trường hiệnđại, đây là hình thức phát triển cao nhất của kinh tế hàng hóa Ở đó tất cả cácquan hệ kinh tế đều được xử lý trên nguyên tắc của cơ chế thị trường có sựquản lý của nhà nước kinh tế thị trường hiện đại không chỉ có sự điều khiểncủa “bàn tay vô hình” nữa mà lúc này còn có thêm “bàn tay hữu hình” - sựquản lý vĩ mô của Nhà nước Và cho đến nay,dù ở những mức độ, phạm vi vàtính chất khác nhau nhưng tất cả cá nước trên thế giới đều đang vận hành theo

cơ chế kinh tế thị trường hiện đại

Nền kinh tế thị trường hiện đại dựa trên kỹ thuật điện tử tin học, gắn liềnvới nền văn minh hậu công nghiệp hay là văn minh trí tuệ Kinh tế thị trườnghiện đại tồn tại các hình thức sở hữu nhà nước, sở hữu cổ phần và sở hữu quốc

tế Dựa trên cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, hoạt độngdưới sự điều khiển của bàn tay vô hình và bàn tay hữu hình Như vậy, chúng

ta có thể khẳng định rằng kinh tế thị trường là một hình thức phát triển cao củakinh tế hàng hóa, mang tính chất phổ biến trong xã hội tư bản Nhưng chúng

ta không đồng nhất kinh tế thị trường với kinh tế tư bản chủ nghĩa, nó khôngcòn là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản như một số người trước đây vẫnthường nghĩ Nay, kinh tế thị trường là sản phẩm chung của nền văn minhnhân loại Trong xã hội tư bản, kinh tế thị trường chiếm ưu thế, đó là nền kinh

tế thị trường tự do, quan hệ giữa người với người là quan hệ kinh tế, mọingười đều mưu cầu lợi ích kinh tế Quan hệ giữa các cá nhân, các chủ thểtrong nền kinh tế thị trường là quan hệ cạnh tranh nhằm mục đích đạt được lợiích của bản thân mình

Đặc điểm của kinh tế thị trường

Trên thế giới có nhiều quốc gia phát triển kinh tế theo mô hình kinh tế thịtrường, mặc dù về quy mô và tính chất có sự khác nhau giữa các quốc gia,nhưng chúng ta có thể nêu lên những đặc điểm mang tính phổ biến như sau:

Trang 24

Một là, trong kinh tế thị trường, tính tự chủ của các chủ thể kinh tế là rấtcao Các chủ thể kinh tế chấp nhận những chi phí và chịu trách nhiệm về kếtquả sản xuất cũng như kinh doanh của mình Họ được tự do liên kết, liêndoanh, tự do tổ chức sản xuất theo luật định Đây là một đặc điểm rất quantrọng của kinh tế thị trường.

Hai là, kinh tế thị trường có số lượng hàng hóa rất phong phú, ngườimua và người bán tự do hoạt động kinh doanh sản xuất và họ gặp nhau ở giá

cả Sự phong phú của hàng hóa, nên kinh tế thị trường phản ánh một trình độsản xuất cao, mức độ của quan hệ trao đổi và cả trình độ phân công lao động

xã hội Ưu thế của kinh tế thị trường đã phản ánh trình độ phát triển của khoahọc - kỹ thuật công nghệ Nói đến kinh tế thị trường là nói đến một nền sảnxuất với trình độ cao

Ba là, trong kinh tế thị trường, quy luật giá cả là quy luật trao đổi và muabán hàng hóa Để hình thành kinh tế thị trường cần tôn trọng giá cả thị trường.Nhà nước không nên có sự can thiệp trực tiếp vào giá cả mà chỉ nên can thiệpgián tiếp ở mức độ nhất định

Bốn là, cạnh tranh là một tất yếu của kinh tế thị trường Trong kinh tế thịtrường, cạnh tranh diễn ra một cách phổ biến cả trong sản xuất và lưu thông.Cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất bao gồm cạnh tranh nội bộ ngành và cạnhtranh giữa các ngành với nhau Còn cạnh tranh trong lĩnh vực lưu thông baogồm cạnh tranh giữa những người tham gia trao đổi mua bán hàng hóa và dịch

vụ trên thị trường

Năm là, kinh tế thị trường là hệ thống kinh tế mở, nó rất đa dạng và phứctạp kinh tế thị trường được điều hành bằng hệ thống tiền tệ và hệ thống phápluật của nhà nước

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, có một thời gian dàinước ta đã có nhận thức chưa đúng về vai trò của sản xuất hàng hoá, của kinh

tế thị trường Chúng ta chưa thấy được quy luật cung cầu và chỉ chủ trọng vào

Trang 25

xem xét mặt tiêu cực của kinh tế thị trường mà chưa đánh giá hết những giá trị

mà kinh tế thị trường mang lại Tuy nhiên, Đảng và nhân dân ta đã kịp thờinhìn nhận lại và có những sửa đổi nhât định Sau khi nhìn lại những sai lầmtrong quá trình thực hiện cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, tại Đạihội Đảng lần thứ VI, Đảng ta thừa nhận đã có những thành kiến đối với nềnkinh tế hàng hoá và đề ra chủ trương: quá trình sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ởnước ta là quá trình chuyển hoá kinh tế còn nhiều tính chất tự cấp, tự túc thànhnền kinh tế hàng hoá… việc sử dụng đầy đủ và đúng đắn quan hệ hàng - tiềnđòi hỏi nền sản xuất gắn liền với thị trường Đây là một bước tiến quan trọngtrong quá trình nhận thức, trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xãhội đến năm 2000, Đảng ta đã cụ thể hoá quan niệm về kinh tế thị trường.Đảng ta khẳng định: “thị trường hoàn chỉnh ở nước ta sẽ dần hình thành baogồm cả thị trường lao động, thị trường vốn và thị trường tiền tệ Đó sẽ là thịtrường thông suốt trong cả nước và thị trường thế giới, thị trường đó sẽ đóngvai trò trực tiếp hướng dẫn các doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực hoạt động, mặthàng, quy mô, công nghệ và hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh nhằm đạthiệu quả cao nhất trong môi trường hợp tác và cạnh tranh” Đến đại hội lầnthứ VIII (6/1996) Đảng ta đã xác định rõ hơn về vai trò của kinh tế thị trường:

cơ chế thị trường đã phát huy tác dụng tích cực đến sự phát triển kinh tế - xãhội Nó chẳng những không đối lập mà còn là một nhân tố khách quan, cầnthiết của việc xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủnghĩa” [5; 26] Như vậy, trải qua quá trình đổi mới, quan niệm về vai trò củakinh tế thị trường đã được khẳng định một cách đúng đắn Thực tiễn qua 15năm đổi mới đất nước, ta có thể nhận thấy: quá trình chuyển sang kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình tất yếu và phải trải quaquá trình đấu tranh phức tạp và gian khổ

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chấp nhậnquy luật cạnh tranh nhưng không dã man, tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi vớicông bằng xã hội, khuyến khích làm giàu gắn liền với xoá đói giảm nghèo, gia

Trang 26

tăng về mức sống nhưng luôn giữ gìn đạo đức và bản sắc văn hoá dân tộc,kinh tế thị trường gắn với xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa ở nước ta thể hiện ở những điểm sau:

Một là, phát triển kinh tế hàng hoá kinh tế thị trường với sự tham gia củanhiều thành phần kinh tế, với sự đa dạng của các hình thức sở hữu, hình thức

tổ chức sản xuất kinh doanh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Hai là, phát triển nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước, đảm bảo sự thốngnhất giữa sự phát triển, tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội

Ba là, xây dựng nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường hội nhập vàokhu vực và thế giới với nhiều hình thức khác nhau

Như vậy chúng ta thấy rằng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa ở Việt Nam hoạt động trong môi trường đa dạng của các quan hệ sởhữu, chế độ công hữu giữ vai trò quan trọng làm nền tảng của nền kinh tếquốc dân, kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế chủ đạo Cơ chế thị trường

có sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa là sự can thiệp của nhà nước vàonền kinh tế nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích của toàn thể nhân dân lao động

Cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Việt Nam Trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước

ta, vấn đề công bằng xã hội không chỉ là phương tiện mà còn là mục tiêu của

xã hội mới Sự thành công của nền kinh tế không chỉ là tăng trưởng kinh tế màcòn là mức sống của người dân, y tế, giáo dục cùng được phát triển và khoảngcách giàu nghèo ngày càng giảm, mỗi cá nhân ngày càng có điều kiện tốt hơn

để phát triển chính mình

Về vấn đề phân phối, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩađảm bảo tốt các vấn đề xã hội Lợi nhuận kinh doanh sản xuất và vấn đề xã hộiluôn đi đôi với nhau, kết hợp chặt chẽ nguyên tắc phân phối của chủ nghĩa xãhội với nguyên tắc của nền kinh tế thị trường, giảm bớt sự chênh lệch giàu

Trang 27

nghèo và bảo vệ thu nhập chính đảng của mọi thành viên trong xã hội Bàn vềkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, bên cạnh nhữngthành tựu đã đạt được còn những vấn đề làm chúng ta chưa yên tâm, chưa hàilòng.

1.3 Những vấn đề của đạo đức trong kinh tế thị trường

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã đánh một dấu mốc quantrọng trong tiến trình cách mạng Việt Nam, với việc chuyển đổi nền kinh tế từ

cơ chế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa với bước đầu đã đạt được những thành tựu trênmọi mặt của đời sống xã hội Qúa trình đó đã đưa nước ta thoát khỏi tình trạngkhủng hoảng kéo dài Qua hơn 20 năm đổi mới, kinh tế nước ta tăng trưởngvới tốc độ nhanh, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện Tuy nhiênxây dựng kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi diện mạo xã hội,kéo theo sự chuyển biến của các mặt khác như: sự thay đổi cơ cấu kinh tế, cơcấu chính trị cũng như sự thay đổi về mặt văn hóa, tư tưởng đạo đức Nhữngthay đổi đó là phù hợp với tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển

Sự biến đổi các thang giá trị trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay cóchiều hướng tích cực, làm lành mạnh hơn nền kinh tế - xã hội Bên cạnh đókinh tế thị trường là một bước tiến của văn minh nhân loại, nó có sự vượt trội

về tăng trưởng kinh tế Nhưng chính mặt trái của kinh tế thị trường đã làmbăng hoại đến các giá trị đạo đức như: lối sống sùng bái đồng tiền, tệ nạn xãhội ngày càng tăng, tham nhũng ngày càng nhiều hơn Trong khi đó công tácgiáo dục còn nhiều thiếu sót, chưa chú trọng đến các giá trị đạo đức truyềnthống, cơ chế lãnh đạo chưa chặt chẽ còn thiếu kiên định Ngoài ra, còn có sựphó mặc cho cơ chế thị trường điều tiết hành vi của con người Nhất là quanniệm kinh tế thị trường chỉ bàn đến vấn đề kinh doanh chứ không nói đếnchuyện đạo đức

Hiện nay, chúng ta cần quan tâm đến vấn đề đạo đức trong kinh tế thịtrường và gắn kinh doanh với đạo đức Nền kinh tế thị trường phát triển làm

Trang 28

nảy sinh nhiều vấn đề xã hội cần quan tâm: lợi nhuận, cạnh tranh, môi trường

và vấn đề về đạo đức Đặc biệt nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay chưa

có một chuẩn mực cụ thể nào về đạo đức kinh doanh, mà nó còn “chịu ảnhhưởng thường xuyên bởi chu kỳ kinh tế quốc tế nên đạo đức kinh doanh ngàynay không còn giới hạn trong biên giới một quốc gia mà còn cần các nước trênthế giới tuân theo” [23; 17] Khi chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị trường,

mở của hội nhập, giao lưu với bên ngoài và coi đó là một trong những địnhhướng cơ bản nhằm đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Trong quátrình tiếp thu cái mới, chúng ta chưa có sự nhìn nhận đúng đắn về vấn đề này,

có một bộ phận đã chạy theo cái mới, quay lưng lại với những giá trị truyềnthống tốt đẹp Tình trạng: “Đi vào kinh tế thị trường, hiện đại hóa đất nước mà

xa rời giá trị truyền thống sẽ làm mất bản sắc dân tộc, đánh mất bản thânmình, trở thành cái bóng mờ của người khác, không còn là chính mình” Đạođức xã hội trong nền kinh tế thị trường hiện nay đang đấu tranh giữa cái tiến

bộ và cái lạc hậu, bảo thủ giữa cái thiện và cái ác Cái mới, cái tiến bộ đang dunhập vào nền văn hóa đạo đức của dân tộc ta Trong khi đó, cái xấu, cái tiêucực đang từng ngày len lõi vào các ngõ ngách của đời sống nhân dân ta Vấn

đề cần được quan tâm hiện nay là đạo đức trong nền kinh tế thị trường đang bịsuy thoái trầm trọng, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề đạo đức hiện nay và tìmhiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó Trải qua hàng ngàn năm lịch sử củadân tộc ta, những giá trị đạo đức được thừa nhận với những nội dung cụ thể:

về cái thiện, lương tâm, lòng nhân ái, yêu nước thương nòi, lòng hiếu thảo,tình người được đề cao Sức mạnh của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ nhiềunhân tố, trong đó quan trọng nhất là những giá trị đạo đức truyền thống đó.Tuy nhiên, những năm gần đây, đạo đức đang bị xói mòn và suy thoái nghiêmtrọng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì sự suy giảm về đạođức đang trở thành vấn đề nổi cộm trong xã hội

Một số biểu hiện của sự biến đổi thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

Giá trị đạo đức là những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người Nó có

Trang 29

tác dụng tích cực đối với đời sống xã hội, nhất là đời sống đạo đức Những giátrị đạo đức tốt đẹp luôn được xã hội đề cao Có những giá trị đạo đức chung,mang tính nhân loại, phổ biến và có tính chất bền vững; Có những giá trị đạođức mang tính giai cấp, dân tộc và tính thời đại; có những giá trị đạo đức đượcxây dựng từ lợi ích cá nhân, theo nhu cầu về lợi ích trước mắt của con người.Thang giá trị đạo đức là một hệ thống giá trị đạo đức đã được lựa chọn,sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên, theo định hướng lý tưởng nhất định Thanggiá trị đạo đức hình thành và phát triển phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử

cụ thể, phị thuộc vào đặc điểm của giai cấp, dân tộc, cộng đồng và của nhữngcon người cụ thể Ở những chế độ xã hội khác nhau, điều kiện kinh tế xã hộikhác nhau thì tương ứng với nó là những thang giá trị khác nhau

Hiện nay, với việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, thang giá trị đạo đức truyền thống của người ViệtNam đang có những thay đổi lớn và có những chệch hướng Nhìn chung, giátrị đạo đức của chúng ta đang có sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp, có cả tíchcực lẫn tiêu cực Kinh tế thị trường đã và đang làm cho các giá trị tinh thầnnói chung, giá trị đạo đức nói riêng bị đảo chiều Việc gìn giữ và phát huy cácgiá trị đạo đức truyền thống là vấn đề cần quan tâm Trong quá trình chuyểnđổi sang nền kinh tế thị trường đã cùng lúc kéo theo hàng loạt vấn đề, nhất là

về sự xuống cấp của đạo đức xã hội Những đợt sóng do cơ chế thị trường tạo

ra đang tác động mạnh mẽ đến đạo đức Không ít giá trị đạo đức đang bị viphạm, lệch lạc Hiện nay, do lợi ích kinh tế chi phối, nhiều trường hợp bỏ quacác giá trị đạo đức, chà đạp không thương tiếc lên hai chữ “nghĩa tình”.Không riêng gì các mối quan hệ ngoài xã hội, quan hệ làm ăn đều được tínhbằng lợi nhuận, một sự thật đang diễn ra là hiện nay còn xuất hiện cả “bụinhà” Đạo đức trong gia đình bị buông lỏng, quan hệ tình cảm trong gia đìnhhiện nay cũng đang bị giá trị đồng tiền làm đảo lộn một cách choáng ngợp:con cái vô lễ với cha mẹ, anh em từ nhau, vợ chồng li dị, cha mẹ thờ ơ mặccon cái muốn làm gì thì làm, vv… Đây chính là nguyên nhân đầu tiên làmcho cái ác, cái bất lương phát triển, đạo đức xã hội cứ thế đang trên đà đi

Trang 30

xuống Trong không khí sôi động của cơ chế thị trường, ai cũng tìm đủ mọicách để tăng thêm thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống, đi liền với nó lànhu cầu hưởng thụ những tiện nghi sinh hoạt hiện đại Họ đã đem đồng nghĩahạnh phúc gia đình với sự thõa mãn về vật chất, vì thề họ không còn quan tâmđến những giá trị vô hình làm nên hạnh phúc gia đình.

Trong gia đình là vậy, còn ngoài xã hội xuất hiện thói sống xa lạ, thờ ơ

“thân ai người ấy lo, mệnh ai người ấy chịu”, vi phạm thuần phong mỹ tục.Trái với nét đẹp của dân tộc ta , một bộ phận trong nhân dân mà nhất là lớp trẻ

đã và đang sa vào lối sống bạo lực, phi nhân tính Đặc biệt là tình trạng bạolực học đường đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội Hoặc một sự thật khánghiêm trọng là trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, tình hìnhtội phạm hình sự diễn ra ngày càng nhiều, mức độ nguy hiểm cao Thực trạng

về đạo đức trên đây đang là tiếng chuông cảnh báo cho toàn xã hội biết: Đạođức trong nền kinh tế tị trường ở nước ta hiện nay hết sức phức tạp

Ở nước ta hiện nay, lĩnh vực đạo đức xã hội đang có sự đấu tranh quyếtliệt giữa cái mới và cái cũ Chúng ta cần biết giữ gìn bản sắc truyền thống củadân tộc, kế thừa những tinh hoa văn hóa nhân loại, phải biết “gạn đục khơitrong” làm phong phú thêm giá trị đạo đức của dân tộc chứ không phải xa rờicác giá trị đạo đức truyền thống như giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, kinh tếthị trường đòi hỏi những giá trị đạo đức phù hợp với nó, yêu cầu mỗi cá nhân

và toàn xã hội cùng nhau sống và xây dựng những giá trị đạo đức tốt đẹp, tạo

ra môi trường đạo đức lành mạnh hơn Trong hoạt động kinh doanh cần kếthợp hài hòa giữa cái lợi và cái thiện, không được vì cái lợi trước mắt mà làmmất đi nhân cách con người Chúng ta cần phải biết kết hợp giữa cái mới vànhững giá trị truyền thống trong quá trình xây dựng nền đạo đức mới trongkinh tế thị trường hiện nay

Những vấn đề về đạo đức trong kinh tế thị trường ở nước ta hiện nayđang là vấn đề rất phức tạp Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực của kinh tếthị trường đến đạo đức là rất rõ Mặt tích cực đó đã dẫn đến một số giá trị vàtiêu chí được xác lập và khắc phục những hạn chế về đạo đức cũ trước đây

Trang 31

Tuy nhiên, thực trạng về đạo đức trong kinh tế thị trường hiện nay cho thấy,

dư chấn của khủng hoảng đạo đức thời bao cấp chưa chấm dứt thì nay, xã hộiViệt Nam đang rơi vào cuộc khủng hoảng đạo đức với hai đứa con hư củakinh tế thị trường là “kiếm tiền”và “hưởng thụ” Sự khủng hoảng đó đang làmsuy thoái nền đạo đức trong kinh tế thị trường ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.Vậy yêu cầu đặt ra, chúng ta cần xác định rõ những giá trị tích cực và tiêu cựctrong nền kinh tế thị trường Từ đó chúng ta cần có những biện pháp phát huynhững giá trị đạo đức tốt đẹp và hạn chế những mặt xấu về đạo đức đang ngàycàng một gia tăng Để làm được điều đó cần xem xét mối quan hệ hữu cơ giữađạo đức và kinh tế thị trường, định hướng những giá trị đạo đức trong kinh tếthị trường ở nước ta hiện nay

Trang 32

Chương 2

SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA ĐẠO ĐỨC VÀ KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với đạo đức

Hiện nay, nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độphát triển của văn minh nhân loại - là một bước tiến Kinh tế thị trường vừa làvấn đề của lực lượng sản xuất vừa là vấn đề của quan hệ sản xuất Đến nay thìchưa có chế độ kinh tế nào có hiệu quả tăng trưởng hơn nền kinh tế này.Trong chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại nền kinh tế thị trường, từ thực tiễnxây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã chứng minh cho điều đó Xây dựngnền kinh tế thị trường là phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới Từnăm 1986 đến nay, thực hiện đường lối đổi mới toàn đất nước đã làm thay đổitổng thể mối quan hệ giữa người với người trên các mặt kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội và hợp tác quốc tế Từ khi thực hiện kinh tế thị trường, tất cả mọingười đều thấy nó đã có sự tác động mạnh mẽ đến tất cả các mặt của đời sống

xã hội, nhất là vấn đề đạo đức Sự tác động của kinh tế thị trường đến đạo đứcdiễn ra như thế nào Hiện nay, đây đang là vấn đề được nhiều người quan tâm.Chính vì vậy, bàn về ảnh hưởng của nó đến sự phát triển của đạo đức xã hội

có nhiều quan điểm khác nhau Dưới đây, em nêu ra ba quan điểm chủ yếu đólà: Quan điểm phủ nhận ảnh hưởng tích cực của kinh tế thị trường; quan điểmkhẳng định ảnh hưởng tích cực của kinh tế thị trường và quan điểm cho rằngkinh tế thị trường có tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) đối với đạo đức

2.1.1 Quan điểm phủ nhận ảnh hưởng tích cực của kinh tế thị trường đối với đạo đức

Quan điểm này cho rằng, kinh tế thị trường ít hoặc không có liên quan gìvới nhau Khi quan niệm như vậy, những người theo quan điểm này cho hành

vi đạo đức không bị chi phối bởi hành vi kinh tế và họ đòi phân biệt rạch ròihai loại hành vi này

Trang 33

Bàn về hành vi đạo đức, họ cho rằng một hành vi đạo đức gồm có động

cơ và mục đích Tính chất của hành vi đạo đức gồm: tính tự đủ về động cơ,tính tự đủ về động cơ xuất phát từ bên trong bản thân chủ thể, chủ thể tự thấy

đủ động cơ để thực hiện hành vi đạo đức của mình Khi chủ thể có đủ động cơ

từ bên trong sẽ có tính tự chủ của quyết định, tức là chủ thể đó sẽ có hành vi

tự nguyện, tự giác và tự quyết Trong hành vi đạo đức luôn có tính mục đích,tính mục đích này của hành vi đạo đức thể hiện ở ba mặt là mục đích tự nó,cho nó và của nó Hành vi không tách rời khỏi mục đích Biểu hiện ra bênngoài của ba tính chất này là tính lợi tha của kết quả - kết quả của hành vimang lại lợi ích cho người khác Khi có đầy đủ cả tính chủ động về động cơ,tính tự chủ của quyết định, tính mục đích của hành vi và tính lợi tha của kếtquả thì khi đó hành vi mới trở thành hành vi đạo đức Lợi ích cá nhân của từngngười cụ thể với tính cách là những thành viên của xã hội, nếu không có sựđối lập với lợi ích của xã hội thì đó luôn là những động cơ của hành vi đạođức chân chính Đối với những người theo quan điểm này tính lợi tha củahành vi là rất quan trọng, một hành vi đạo đức phải là hành vi có lợi cho ngườikhác Hành vi đạo đức cao thượng là hành vi mà chủ thể đạo đức tiết chế hoặc

hi sinh những lợi ích của cá nhân mình để đảm bảo được lợi ích của tập thể,của xã hội Khi bàn về hành vi kinh tế, họ đã lập luận rằng, trong kinh tế thịtrường là kinh tế hiệu quả, sản xuất thu lợi nhuận là chủ yếu Mục đích caonhất của kinh tế thị trường là thu lợi nhuận, vì vậy, những người làm kinh tế,mục đích lớn nhất của họ là biến người khác thành điều kiện hay phương tiện

để thu lợi nhuận và thu lợi càng nhiều càng tốt Hành vi đó của những nhàkinh tế là hành vi hợp pháp nhưng lại không phải là hành vi đạo đức hay nóicách khác đó là hành vi ngoài đạo đức Quan điểm này đem phân biệt rạch ròihành vi đạo đức và hành vi kinh tế như vậy nên họ thấy rằng hầu như không

có quan hệ gì giữa chúng Vậy nên, về cơ bản kinh tế thị trường không manglại giá trị tích cực cho đạo đức

Quan niệm này có cơ sở là lý thuyết về sự phân biệt và đem đối lập tựluật với tha luật trong đạo đức Một hành vi đạo đức luôn có sự thúc đẩy của

Trang 34

lương tâm chủ thể và do tác động của ngoại cảnh Tự luật: là các luật của hành

vi xuất phát từ nhu cầu và động cơ bên trong chủ thể Còn tha luật là các luậtcủa hành vi do bị chế ước bởi các quan hệ và điều kiện bên ngoài chủ thể Dựatrên lý thuyết này, họ đã đưa ra những lập luận sau:

Kinh tế thị trường không liên hệ hữu cơ với đạo đức, họ không cho rằnggiữa kinh tế thị trường và đạo đức có liên quan mật thiết với nhau, không córàng buộc gì Vì vậy, kinh tế thị trường không có ảnh hưởng tích cực đến đạođức mà nó chỉ có tác động tiêu cực đến đạo đức Những người ủng hộ quanđiểm này, họ coi kinh tế thị trường chỉ là những quy tắc không có gì liên quanđến đạo đức Họ cho rằng, kinh tế thị trường chỉ có mục đích chính là lợinhuận nên hành vi của họ không cần quan tâm là có đạo đức hay không màchỉ việc làm thế nào sinh ra thật nhiều lợi nhuận Những quy tắc mà chủ thểthực hiện khi làm kinh tế không cần phải tuân theo những chuẩn mực của quytắc đạo đức Còn những người phản đối quan điểm này họ cho rằng kinh tế thịtrường và đạo đức liên quan chặt chẽ với nhau, chi phối lẫn nhau Nên họ đòihòi chủ thể hành vi trong kinh tế thị trường phải thực hiện các quy tắc đạo đứccùng với quá trình thực hiện hành vi kinh tế của mình

Quy tắc của kinh tế thị trường là một khế ước giữa quyền lợi và nghĩa vụ.Chủ thể hoạt động trong kinh tế thị trường được hưởng quyền lợi là mục đíchcủa khế ước Tức là quy tắc trong kinh tế thị trường luôn có hai yếu tố cơ bảnsong hành với nhau đó là quyền lợi và nghĩa vụ, quyền lợi và nghĩa vụ gắnchặt với nhau Mục đích của khế ước kinh tế thị trường mang lại cho chủ thểhoạt động những lợi ích mà họ được hưởng Nhưng bên cạnh đó cũng đặt ranhững nghĩa vụ mà chủ thể phải tuân theo, đó là cái giá mà họ phải trả khiđược hưởng những quyền lợi trên Khế ước trong kinh tế thị trường chỉ quantâm đến những quyền lợi và nghĩa vụ mà chủ thể phải tuân theo, họ không chorằng khi chủ thể thực hiện khế ước đó phải quan tâm đến là việc làm của mình

có đảm bảo đạo đức hay không Trái lại, những người phản đối quan niệmnày, họ đòi hòi khế ước kinh tế thị trường phải lấy việc duy trì đạo đức làmmục đích của hoạt động và đạo đức đó phải thật vô tư Những người này đòi

Trang 35

hỏi chủ thể hành vi trong kinh tế thị trường thực hiện những hành vi của mìnhcần đảm bảo có đạo đức Lấy đạo đức làm mục đích và tuân thủ những chuẩnmực của đạo đức xã hội.

Quy tắc kinh tế thị trường khuyến khích con người lợi kỷ, kích thíchtuyệt đối hóa giá trị thị trường, lấy giá trị thị trường làm thước đo giá trị conngười nói chung Thị trường là cơ chế phù hợp với lợi ích, lấy lợi nhuận làmmục đích cao nhất Hiệu quả kinh tế là thước đo trong kinh tế thị trường, vìvậy, cơ chế thị trường quá đề cao trách nhiệm cá nhân, gắn liền động cơ vàhiệu quả như là một chuẩn mực trong hoạt động của con người, trong nhâncách mỗi con người Chính điều này khi được tuyệt đối hóa sẽ khuyến khíchcon người cá nhân chạy theo lợi nhuận mà dẫn đến lợi kỷ Kinh tế thị trường

đã đưa tới khuynh hướng làm cho con người coi giá trị thị trường là giá trịchân thực duy nhất dùng để đo các giá trị khác Kinh tế thị trường đã kéo theolối sống “tiền trao cháo múc”, lạnh lùng và tàn nhẫn, làm băng hoại các giá trịđạo đức truyền thống, thuần phong mĩ tục, tấn công vào nền đạo đức của từnggia đình, từng người Từ chỗ coi trọng các giá trị chính tri, xã hội sang coitrọng các giá trị kinh tế Từ chỗ lấy con người tập thể, con người xã hội làmchuẩn mực đạo đức cao nhất sang tuyệt đối hóa con người cá nhân, thậm chí

là cá nhân ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa Do đó, kinh tế thị trường cũng cản trởkhông nhỏ đến xu hướng con người ngày càng vươn tới những giá trị tinh thầnngày càng cao đẹp hơn

Như vậy, khi bàn đến ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với đạo đức,quan điểm phủ nhận ảnh hưởng tích cực của kinh tế thị trường cho rằng: kinh

tế thị trường và đạo đức ít hoặc không có liên quan đến nhau, từ đó họ đòi hỏiphân biệt rạch ròi hành vi kinh tế và hành vi đạo đức Theo những người này,hành vi đạo đức không bị kinh tế chi phối và khi thực hiện hành vi kinh tếkhông cần quan tâm đến việc có đảm bảo được những chuẩn mực của đạo đức

xã hội không Quy tắc duy nhất của kinh tế thị trường là quyền lợi và nghĩa

vụ, chủ thể của hoạt động kinh tế thị trường chỉ quan tâm họ phải làm gì và họđược hưởng những lợi ích gì từ việc làm đó Vì lẽ đó, kinh tế thị trường có tácđộng tiêu cực là cản trở con người vươn tới những giá trị đạo đức cao đẹp

Trang 36

2.1.2 Quan điểm khẳng định ảnh hưởng tích cực của kinh tế thị trường đối với đạo đức

Nếu như quan điểm phủ nhận những ảnh hưởng tích cực của kinh tế thịtrường cho rằng kinh tế thị trường không có mối quan hệ hữu cơ với đạo đứcthì trái lại, quan điểm này được xác lập trên cơ sở khẳng định mối quan hệhữu cơ giữa kinh tế thị trường với đạo đức Nhà triết học J Bell đã từng khẳngđịnh: “Suy cho cùng xã hội nào cũng là một trật tự đạo đức; nó cần chứngminh nguyên tắc phân phối của mình là hợp lý; chỉ khi nào một chế độ xã hội

có tính chính đáng và được đại đa số người dân công nhận mới tồn tại được”.Quan điểm này chỉ chủ trọng đến mặt ảnh hưởng tích cực của kinh tế thịtrường đến đạo đức, kinh tế thị trường giúp con người hoàn thiện nhân cách vềmặt đạo đức Mặc dù cho rằng kinh tế tế thị trường ảnh hưởng tích cực đếnđạo đức, nhưng quan điểm này có hai xu hướng trái ngược nhau Một là, dựavào thuyết mục đích - công lợi để khẳng định mặt tích cực của kinh tế thịtrường Hai là, họ dựa vào nguyên tắc tự do cá nhân, quyền bình đẳng vàquyền tự do cá nhân để giải thích và nhấn mạnh mặt tích cực của kinh tế thịtrường đối với đạo đức

Xu hướng dựa vào thuyết mục đích luận - công lợi, coi mục đích cao cảnhất của hành vi đạo đức là hạnh phúc của đa số nhân dân, nâng cao tổngcông lợi xã hội chẳng những là mục tiêu của đạo đức mà kinh tế thị trường dochỗ có ưu thế nhất trong việc huy động mọi nguồn lực tạo ra sự phát triển kinh

tế cho nên nó cũng chứa đựng các giá trị đạo đức bên trong Những người nàychủ trọng vào việc mang lại tổng công lợi cho toàn xã hội, nâng cao đời sốngcho toàn thể nhân dân, họ coi đó là mục đích cao nhất của đạo đức Bởi vậy,

họ coi kinh tế thị trường vốn dĩ nó đã chứa đựng các giá trị đạo đức vì nềnkinh tế này có khả năng tăng trưởng kinh tế cao nhất Kinh tế thị trường đã tạo

ra được sự phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế cao hơn so với kinh tếphi thị trường Kinh tế thị trường với những ưu thế vượt trội như: kinh tế thịtrường thu hút được nhiều nguồn vốn cho sự phát triển, đồng thời nó xóa bỏđược bệnh lười biếng, cha chung không ai khóc, tăng tính tích cực của người

Trang 37

lao động; kinh tế thị trường thu hút tối đa mọi nguồn vốn phát huy hết khảnăng và tính tích cực của người lao động nên khả năng thúc đẩy tăng trưởngrất cao Xu hướng này chỉ chủ trọng đến khả năng mang lại tổng công lợi cho

xã hội cao mà khẳng định kinh tế thị trường chứa đựng những giá trị đạo đức

Họ chỉ chú trọng đến mặt tích cực của kinh tế thị trường mà không quan tâmđến sự phân cực giàu nghèo Do tính chất khốc liệt của nó, kinh tế thị trườngvừa là nguyên nhân vừa là điều kiện dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo và phântầng xã hội một cách nhanh chóng, nảy sinh bất bình đẳng xã hội Chính vìvậy, hạn chế của những người theo thuyết mục đích - công lợi đó là họ chưathấy được mặt trái của cơ chế thị trường Họ mới chỉ thấy kinh tế thị trườngchứa đựng những giá trị đạo đức và ảnh hưởng tích cực đến đạo đức vì nó là

cơ chế kinh tế tạo ra sự tăng trưởng kinh tế cao Nhưng kinh nghiệm nhiềunước trên thế giới cũng như Việt Nam cho chúng ta thấy rằng, chúng ta khôngchỉ chấp nhận sự tăng trưởng đơn thuần về kinh tế, mà bên cạnh đó cần quantâm đến tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, nhất là về đạo đức.Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã khẳng định: “Trong khi chăm lo phát triểnkinh tế, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm, chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, độnglực tạo ra sự phồn vinh và phát triển lâu bền của quốc gia không chỉ là vốnđầu tư, công nghệ tiên tiến và tài nguyên thiên nhiên giàu có, mặc dù điều đó

là quan trọng, mà chủ yếu là do trí tuệ của con người, do khả năng sáng tạocủa toàn dân được hình thành từ truyền thống văn hóa Việt Nam Đó là khotàng tri thức, tâm hồn, đạo lý, tính cách, lối sống, trình độ thẩm mỹ của từngngười và của cộng đồng dân tộc” [18; số phát hành 08/ 11/ 2010] Trong quátrình xây dựng đất nước nếu chúng ta chỉ quan tâm đến tổng công lợi, đếntăng trưởng kinh tế mà không quan tâm đến mặt trái và tìm cách khắc phụcnhững hạn chế của kinh tế thị trường thì sự phát triển xã hội sẽ trở nên lệch lạc

và không bền vững

Để khắc phục những hạn chế của kinh tế thị trường như: phân hóa giàunghèo, suy thoái đạo đức, v v…, những người theo quan điểm này chủ trươngthực hiện đôi bên cùng có lợi Theo đó, trao đổi thị trường lành mạnh có lợi

Ngày đăng: 30/12/2013, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph. Ăngghen (1969), Lút vích phơ bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lút vích phơ bách và sự cáo chung của triết học cổđiển Đức
Tác giả: Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1969
2. TS. Cao Thu Hằng (30/12/2007), “Về sự hình thành nhân cách”, tạp chí triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự hình thành nhân cách
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), “Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), “Văn kiện hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khóa IX”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ V Ban chấphành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), “Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), “Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa IX”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban Chấphành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
7. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2001), Giáo trình lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử triếthọc
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
8. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2001), Giáo trình lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử triếthọc
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
9. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
10. Học viện chính trị quân sự (2000), “Xây dựng Đảng và rèn luyện Đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Đảng và rèn luyện Đảngviên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Học viện chính trị quân sự
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2000
11. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
12. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 18, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
13. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 18, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
14. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Matxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
15. C. Mác – Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C. Mác – Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1980
16. C. Mác – Ăngghen (1993), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác – Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
18. Nguyễn Đình Tường (08/11/2010), “Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và giải pháp khắc phục”, tạp chí triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biểu hiện của sự biến đổi giátrị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay và giải pháp khắc phục
20. PGS.TS. Nguyễn Thế Kiệt (2005), Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chínhtrị hiện nay
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Thế Kiệt
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
21. PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt (2005), Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chínhtrị hiện nay
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
22. Nguyễn Đình Tường (08/11/2010), “Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục”, Tạp chí triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biểu hiện của sự biến đổi giátrị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải phápkhắc phục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w