1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa chính sách tài khoa và chính sách tiền tệ, thực tiễn ở việt nam trong giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng

23 573 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, thực tiễn ở Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng
Tác giả Nhóm 4
Chuyên ngành Kinh tế vĩ mô
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 204,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vữngphụ thuộc rất nhiều vào việc hoạch định và thực thi các chính sách của một quốc gia trongkhuôn khổ phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa các chính sách

Trang 1

MỤC LỤC CHƯƠNG 1: TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ PHỐI HỢP NHỊP NHÀNG VÀ ĐỒNG BỘ GIỮA CSTK VÀ CSTT TRONG VIỆC QUẢN LÝ, ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ 4

1.1 Khái niệm CSTT và CSTK 4

1.2 Mục tiêu của CSTT và CSTK 4

1.3 Nội dung của CSTT và CSTK 4

1.4 Sự tác động qua lại của hai chính sách 5

1.5 Sự giống và khác nhau của hai chính sách 6

1.6 Sự cần thiết của việc phối hợp nhịp nhàng hai chính sách trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế 7

CHƯƠNG 2: SỰ PHỐI HỢP 02 CHÍNH SÁCH NÀY TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ CUỐI NĂM 2007 CHO ĐẾN NAY 8

2.2 Giai đoạn từ tháng 09/2008 đến cuối năm 2009 10

2.3 Các ý kiến xoay quanh vấn đề có nên tiếp tục thực hiện gói kích cầu thứ hai trong năm 2010 và Quan điểm của Nhóm 11

2.3.1 Quan điểm không tiếp tục duy trì gói kích cầu 11

2.3.2 Quan điểm duy trì 12

2.3.3 Quan điểm và kiến nghị của nhóm đối với gói kích cầu thứ hai 13

2.3.4 Một số định hướng của CSTT trong năm 2010 14

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NÂNG CAO SỰ PHỐI HỢP NHỊP NHÀNG VÀ ĐỒNG BỘ GIỮA CSTK VÀ CSTT TRONG VIỆC QUẢN LÝ, ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ 16

3.1 Tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Tài chính và NHNN 17

3.2 Các biện pháp khác 18

KẾT LUẬN 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 2

MỞ ĐẦU

Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ trọng yếu giữ vai trò quyếtđịnh trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vữngphụ thuộc rất nhiều vào việc hoạch định và thực thi các chính sách của một quốc gia trongkhuôn khổ phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa các chính sách, nhất là chính sách tàikhóa và chính sách tiền tệ Thành công trong việc chặn đứng lạm phát phi mã năm 1989hay việc ngăn chặn cuộc đua lãi suất, đưa nền kinh tế dần thoát khỏi khủng hoảng thời giangần đây đã cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng các công cụ của chính sách tài khóa

và chính sách tiền tệ trong điều tiết kinh tế vĩ mô, nhằm đạt các mục tiêu ổn định thịtrường

Trong nền kinh tế tăng trưởng nhanh của nước ta luôn thường trực nguy cơ lạm phátcao, đồng thời, khả năng rơi vào khủng hoảng tài chính cũng không nhỏ, do đó, các công

cụ điều tiết vĩ mô hiệu nghiệm như chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ được sử dụngvới sự phối hợp nhịp nhàng là điều cần thiết Tuy nhiên do 02 chính sách này chịu sựhoạch định của 02 cơ quan khác nhau là NHNN và BTC với chức năng, nhiệm vụ, mụctiêu theo đuổi khác nhau trong ngắn hạn nên vẫn xảy ra tình trạnh phối hợp không đồng bộgiữa 02 chính sách này trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Điều này thể hiện chưa thốngnhất, đồng bộ trong việc quản lý và phối hợp giữa các bộ ngành Nếu thiếu sự phối hợpgiữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, nền kinh tế sẽ khó có thể đạt được các mụctiêu tăng trưởng bền vững trong dài hạn Vì vậy, phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ chínhsách tài khóa và chính sách tiền tệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Nhận thấy tầm quan trọng trong việc phối hợp đồng bộ của 02 CSTT và CSTK,

nhóm chúng tôi đi vào tìm hiểu nội dung: Mối quan hệ giữa chính sách tài khoa và chính sách tiền tệ, thực tiễn ở Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng.

Tiểu luận gồm 3 chương:

Chương 1: Tầm quan trọng của sự phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa CSTK

và CSTT trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

Chương 2: Sự phối hợp 2 chính sách tài khóa và tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam từ cuối năm 2007 đến nay.

Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nâng cao hiệu quả của sự phối hợp 2 chính sách.

Trang 3

Vì điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế, bài tiểu luận chắc chắn còn nhiềuthiếu sót Rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài tiểu luận đượchoàn thiện hơn.

Chân thành cảm ơn

Trang 4

CHƯƠNG 1: TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ PHỐI HỢP NHỊP NHÀNG VÀ ĐỒNG

BỘ GIỮA CSTK VÀ CSTT TRONG VIỆC QUẢN LÝ, ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ.

1.1 Khái niệm CSTT và CSTK

 Về cơ bản, chính sách tài khoá là chính sách thu chi của Chính phủ hay còn gọi

là chính sách ngân sách Còn CSTT là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng cáccông cụ của NHTW nhằm góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ môthông qua việc chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền

 Trên thực tế, người ta thường hiểu rằng chính sách tài khoá do Bộ Tài chínhchịu trách nhiệm thực hiện còn CSTT do NHNN điều hành

- Tăng trưởng kinh tế thường được ưu tiên hơn tỷ lệ thất nghiệp

 Mục tiêu của CSTK: CSTK có 2 mục tiêu:

- Ổn định và tăng trưởng kinh tế

- Tỷ lệ thất nghiệp thường được ưu tiên hơn tỷ lệ lạm phát thấp

1.3 Nội dung của CSTT và CSTK

 Nội dung cơ bản của CSTK là kiểm soát thu chi ngân sách do những khoảnthu chi này có tác động trực tiếp đến tăng trưởng, lạm phát và nhiều chỉ số kinh tế vĩ môkhác Vì thế, CSTK được coi là một trong những chính sách quan trọng đối với việc ổnđịnh và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, một CSTK vững mạnh sẽ thúc đẩy tăng trưởngkinh tế và làm cơ sở để các DN đưa ra các quyết định đầu tư lớn Trong mối quan hệ vớigiá cả, CSTK là một trong những nguyên nhân cơ bản của lạm phát, một sự nới lỏng CSTKđều gây áp lực tăng giá cả hàng hóa dịch vụ trên hai kênh là thúc đẩy tăng tổng cầu và tàitrợ thâm hụt

 Nội dung quan trọng nhất của CSTT là việc cung ứng tiền cho nền kinh tế.Việc cung ứng tiền có thể thông qua con đường tín dụng, cũng có thể thông qua hoạt độngcủa thị trường mở (mua bán giấy tờ có giá), thị trường hối đoái (mua bán ngoại tệ) và để

Trang 5

điều tiết mức tiền cung ứng, NHTW các nước sử dụng các công cụ khác nhau như lãi suất,

tỷ giá, dự trữ bắt buộc… CSTT là công cụ của NHTW để điều tiết quá trình cung ứng tiền,lãi suất và tín dụng, kết quả là chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền để đạt mụctiêu chính sách đề ra Một CSTT nới lỏng sẽ làm tăng cung tiền, giảm lãi suất, qua đó thúcđẩy tăng tổng cầu và gây áp lực lạm phát nếu cung tiền tăng quá mức so với sản lượng tiềmnăng

1.4 Sự tác động qua lại của hai chính sách

 CSTK tác động đến CSTT trước hết qua kênh tài trợ thâm hụt ngân sách:Nếu thâm hụt ngân sách được tài trợ từ vay nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanhtoán, nếu tài trợ bằng cách vay từ NHTW thì sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng và mặt bằnggiá cả, nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng cách vay từ các NHTM thì nguồn vốncho vay các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh sẽ giảm, hạn chế năng lực đầu tư của cáckhu vực kinh tế này và ảnh hưởng xấu đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, CSTK cònảnh hưởng đến dòng vốn quốc tế và khả năng của NHTW trong việc kiểm soát luồng ngoại

tệ, nếu chính sách thu chi ngân sách không hợp lý thì sẽ tác động tiêu cực đến hiệu quảphân bổ nguồn lực và làm tăng rủi ro liên quan đến dòng vốn quốc tế

 CSTT tác động đến CSTK tùy theo mức độ điều chỉnh các công cụ CSTT,một CSTT thắt chặt sẽ làm giảm đầu tư, khả năng thu thuế và nguồn thu ngân sách, một sựgiảm giá nội tệ sẽ làm gia tăng khoản nợ Chính phủ bằng ngoại tệ qui đổi, nếu NHTW điềuchỉnh tăng lãi suất thì giá trái phiếu Chính phủ sẽ giảm và ảnh hưởng đến khả năng cân đốingân sách

 Các khoản thu chi của Chính phủ được phản ánh rõ qua các giao dịch trên tàikhoản kho bạc mở tại NHTW hoặc các NHTM, tiền gửi kho bạc tăng cao sẽ làm giảmnguồn vốn khả dụng của các NHTM, qua đó làm tăng lãi suất liên ngân hàng Tiền gửi củaChính phủ tại NHTW chiếm tỉ trọng lớn trong tiền cơ bản, nên cũng là yếu tố quan trọnglàm thay đổi tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, việc chuyển tiền hai chiều trêntài khoản của Chính phủ tại NHTW sẽ gây biến động đến tiền cơ bản Đây là những yếu tốgây áp lực đến việc kiểm soát cung tiền và thực thi CSTT, việc kiểm soát cung tiền và lãisuất sẽ khó khăn hơn nếu một phần tiền gửi kho bạc được gửi tại các NHTM

 Để hạn chế những tác động bất lợi giữa CSTK và CSTT, cả hai chính sáchnày phải nhất quán về mặt mục tiêu, phải tạo ra sự đồng bộ và bổ sung cho nhau trong quátrình thực thi Khi bù đắp thâm hụt ngân sách, Bộ Tài chính có thể phát hành trái phiếu

Trang 6

Chính phủ và NHTW mua vào, tạo thêm công cụ để điều tiết thị trường tiền tệ Trong quátrình thực thi CSTK, việc tài trợ thâm hụt và các khoản thu chi lớn của Chính phủ phải có

kế hoạch và được thông báo trước cho NHTW, giúp NHTW dự báo được diễn biến cungtiền để kịp thời điều chỉnh theo mục tiêu đề ra và đảm bảo hiệu quả của CSTT

 Mối quan hệ giữa CSTT và CSTK cũng được chứng minh qua mô hình

IS-LM Theo mô hình này, tăng chi tiêu của Chính phủ có tác động làm tăng cung tiền, làmgiảm lãi suất trên thị trường tiền tệ Ngược lại, tăng thu thuế có tác động làm tăng lãi suất

vì khi đó cung tiền giảm Mô hình IS-LM giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnhCSTT và CSTK, để có tác động thích hợp lên tổng cầu và lãi suất trong nền kinh tế Bêncạnh đó, mô hình Timbergen của nhà kinh tế học cùng tên người Hà Lan có thể giúp cácnhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô tìm kiếm được sự phối hợp hiệu quả giữa CSTT

b) Khác nhau: khác nhau chủ yếu tại phần mục tiêu theo đuổi của 02 chính sàch

 CSTK là tổng hợp các quan điểm, cơ chế và phương thức huy động cácnguồn hình thành ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính có tính chất tập trung của Nhànước nhằm mục tiêu phục vụ các khoản chi lớn của ngân sách nhà nước theo kế hoạch từngnăm tài chính, gồm: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ quốc gia,trả nợ trong và ngoài nước đến hạn

 CSTT là việc thực hiện tổng thể các biện pháp, sử dụng các công cụ củaNHNN nhằm góp phần đạt được mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô thông qua việc chiphối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiền

Trang 7

1.6 Sự cần thiết của việc phối hợp nhịp nhàng hai chính sách trong việc quản lý,

điều tiết vĩ mô nền kinh tế

 Trong thực tế nền kinh tế vẫn chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả vàđồng bộ giữa Bộ Tài chính và NHNN trong thực thi CSTK và CSTT Việc điều hànhCSTT được giao cho NHNN đảm nhận còn CSTK giao cho Bộ Tài chính đảm nhận Ở ViệtNam trong những thời điểm nhất định vẫn tồn tại những xung đột lợi ích giữa NHNN và

Bộ Tài chính, theo đó NHNN ưu tiên thực mục tiêu CSTT còn Bộ Tài chính ưu tiên thựchiện dự toán ngân sách nhà nước được duyệt Mỗi cơ quan chỉ tập trung ưu tiên thực hiệncác mục tiêu của CSTT hoặc CSTK được giao phó thì chính sách tài khoá có thể gây ảnhhưởng xấu đến hiệu quả của CSTT hoặc ngược lại Mỗi chính sách theo đuổi những mụctiêu và giải pháp khác nhau sẽ dẫn tới sự xung đột ngoài quy luật thị trường

 Đôi khi CSTK để đạt được một số mục tiêu đề ra đã gây hậu quả xấu choviệc thực thi các mục tiêu của CSTT và ngược lại CSTK và CSTT nếu thiếu đi sự phốihợp nhịp nhàng trong quá trình thực thi chính sách sẽ gây ra những tác động đối kháng lẫnnhau, phá vỡ qui luật của thị trường, làm ảnh hưởng xấu đến mục tiêu tăng trưởng bềnvững của nền kinh tế Phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa CSTK và CSTT cần được hiểu

là phải đảm bảo giải quyết các tác động của hai chính sách tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế

vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn Trong ngắn hạn, hai chính sách phải phối hợp nhằm đạtđược các mục tiêu của từng chính sách một cách có trật tự, bao gồm cả ổn định giá Trongdài hạn, hai chính sách phải phối hợp phải đảm bảo được lợi ích cân bằng giữa mục tiêucủa từng chính sách với mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, kiềm chế lạm phát

Trang 8

CHƯƠNG 2: SỰ PHỐI HỢP 02 CHÍNH SÁCH NÀY TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ CUỐI NĂM 2007 CHO ĐẾN NAY

2.1 Giai đoạn từ cuối năm 2007 đến tháng 09/2008

 Từ cuối năm 2007, kinh tế thế giới biến động mạnh và bước vào thời kỳ suythoái, gây ra những bất ổn khó lường đối với nền kinh tế Việt Nam, thị trường tài chínhtrong nước chao đảo mạnh, đe dọa tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng, lãi suất và tỉgiá biến động mạnh, lạm phát liên tục leo thang Để ổn định thị trường, NHNN, Bộ Tàichính và các bộ, ngành đã có nhiều biện pháp can thiệp quyết liệt, kịp thời và có hiệu quả,từng bước giải quyết các vấn đề phát sinh

 Từ tháng 6/2007 đến tháng 9/2008, NHNN đã thực hiện CSTT thắt chặt đểchống lạm phát, nhưng CSTK vẫn duy trì mức bội chi như thường lệ, nỗ lực chống lạmphát vì thế không đạt được hiệu quả như mong đợi, mặc dù nguy cơ khủng hoảng bị đẩylùi Nói đúng hơn, trong khi CSTT thắt chặt thì CSTK lại nới lỏng, khiến áp lực lạm phát

và lãi suất tăng Khi đó, CSTK mới bắt đầu điều chỉnh theo hướng giảm tỉ lệ thâm hụtxuống dưới 3% GDP, cắt giảm 10% chi thường xuyên, v.v Như vậy có thể thấy có sự hạnchế trong quá trình phối hợp giữa hai chính sách và đã tạo ra những mâu thuẫn lợi ích đốikháng hoặc CSTK đã làm giảm hiệu quả của CSTT

Dẫn chứng:

 Mặc dù thâm hụt ngân sách nhà nước được khống chế không vượt quá 5% GDP,nhưng trong một khoảng thời gian khá dài từ 2000 – 2007 thâm hụt ngân sách nhà nướcluôn ngấp nghé mức 5%, khiến cho nợ chính phủ dù được giữ ở mức cố định 5% GDP,nhưng cũng tăng liên tục do GDP tăng trưởng qua từng năm và đã tạo ra mầm mống lạmphát tích lũy qua nhiều năm

Bảng : Thâm hụt ngân sách và GDP qua các năm.

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

GDP ( Tỷ đồng) 441,646 481,295 535,762 613,443 715,307 839,211 974,266 1,143,715

Nguồn : Tổng cục thống kê Việt Nam

 Thậm chí dự toán ngân sách nhà nước năm 2008 đã được thông qua (11/2007)với tỷ lệ bù đắp thâm hụt vẫn ở mức 5% GDP trong điều kiện lạm phát ở năm 2007 đã vượt

2 con số Lẽ ra, đầu năm 2008, Quốc hội cần họp để điều chỉnh dự toán ngân sách nhànước theo hướng giảm mức thâm hụt ngân sách, cắt giảm chi tiêu thường xuyên, đặc biệt là

Trang 9

cắt giảm chi đầu tư các công trình chưa thực sự cần thiết để kiềm chế lạm phát Tuynhiên, mục tiêu lạm phát năm 2008 đặt ra không vượt quá tỷ lệ lạm phát năm 2007

 Để đạt được mục tiêu này, trong điều kiện thiếu sự phối hợp của CSTK, NHNN

đã tiến hành tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 11% (dưới 12 tháng), 5% (từ 12 tháng trở lên) vàphát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu phân bổ bắt buộc cho 41 TCTD để giảm bớt lượng tiềntrong lưu thông Việc hệ thống NHTM phải mua tín phiếu bắt buộc gần 20.300 tỷ đồng vàphải tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên đã khiến cho tính thanh khoản của hệ thống NHTM bịgiảm sút nghiêm trọng, cuộc đua lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm và lãi suất vay quađêm tăng vọt trong thời điểm lãi suất cơ bản chưa được NHNN điều chỉnh đã buộc NHTMphải cắt giảm các khoản tín dụng cho vay, làm ảnh hưởng đến các ngành nghề kinh doanhnhư chứng khoán, địa ốc, xuất nhập khẩu Công cụ đơn lẻ của CSTT thiếu sự phối hợp củaCSTK đầu năm 2008 xem như không đạt được hiệu quả kiềm chế lạm phát, chỉ số giả cảbắt đầu bùng nổ trong điều kiện giá cả dầu thô, lương thực, vật liệu xây dựng tăng đột biến,nhập siêu cao hơn so với cùng kỳ năm trước

 Diễn biến này cho thấy CSTT “thắt chặt” trong khi CSTK lại “nới lỏng” khiến

áp lực lạm phát và lãi suất tăng Đó là lý do chính khiến các chuyên gia cho rằng, NHNN

và Bộ Tài chính lệch pha nhau trong việc điều hành chính sách tài chính – tiền tệ Điều nàycho thấy CSTK và CSTT trong một chừng mực nào đó hoàn toàn chưa có sự phối hợp nhịpnhàng, đồng bộ trong ngắn hạn CSTT chưa thực sự độc lập hoặc còn bị phụ thuộc và bịchi phối mạnh mẽ bởi CSTK để đạt được một số mục tiêu của CSTK

 Do chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa 02 chính sách nên nỗ lực chống lạm phát

vì thế không đạt được hiệu quả như mong đợi, mặc dù nguy cơ khủng hoảng bị đẩy lùinhưng không đạt được hiệu quả kiềm chế lạm phát, chỉ số giả cả bắt đầu bùng nổ trongđiều kiện giá cả dầu thô, lương thực, vật liệu xây dựng tăng đột biến, nhập siêu cao hơn sovới cùng kỳ năm trước Trước tình hình này, CSTK mới bắt đầu điều chỉnh lại theo hướng

tỷ lệ thâm hụt giảm xuống dưới 3% GDP, cắt giảm 10% chi thường xuyên…

 Từ tháng 6/2007 đến tháng 9/2008, NHNN đã thực hiện CSTT thắt chặt đểchống lạm phát, nhưng CSTK vẫn duy trì mức bội chi như thường lệ, nỗ lực chống lạmphát vì thế không đạt được hiệu quả như mong đợi, mặc dù nguy cơ khủng hoảng bị đẩylùi

Trang 10

2.2 Giai đoạn từ tháng 09/2008 đến cuối năm 2009

 Từ tháng 10/2008 đến nay, Chính phủ chủ trương nới lỏng CSTT và CSTK để

hỗ trợ phục hồi kinh tế sau khủng hoảng Đối với CSTT, NHNN đã điều chỉnh giảm lãisuất cơ bản để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đồng thời tăng cường nguồn vốn huy động,đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng trong nền kinh tế Đối với CSTK, Chính phủ đã banhành Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 11/12/2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngănchặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, bao gồm 5 nhóm giải pháp cơ bản, trong đókích cầu kinh tế là một trong những giải pháp ưu tiên hàng đầu Bên cạnh khoản 36.000 tỉđồng trái phiếu Chính phủ và hàng loạt chính sách an sinh xã hội và phát triển hạ tầng nôngthôn, miễn giảm một số loại thuế, hoãn thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước

2009, phát hành trái phiếu Chính phủ bổ sung, … Chính phủ đã dùng 1 tỉ USD để hỗ trợgiảm 4% lãi suất (thời hạn 8 tháng) và 20.000 tỉ đồng (thời hạn 24 tháng) Kích cầu kinh tế

là một trong những giải pháp ưu tiên hàng đầu, cụ thể:

1 Tiền tệ: hỗ trợ 4% lãi suất cho vay để phục hồi sản xuất, xuất khẩu, đầu tư mới,

để nông dân mua máy móc, vật tư.

2 Tài chính: miễn, giảm, hoãn một số thuế như thế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân, thuế trị giá gia tăng

3 Đầu tư: tăng thêm vốn đầu tư mới, ứng trước vốn năm 2010… Do vậy, gói kích thích kinh tế được Chính phủ quyết định từ tháng 2 năm nay là một hệ giải pháp khá toàn diện, không chỉ là hỗ trợ lãi suất tín dụng thông qua các NHTM, mà còn là các giải pháp về tài chính và đầu tư.

 Về vấn đề kích cầu, NHNN đã thực hiện đúng nguyên tắc với nhiều giải phápthích hợp nhằm hướng các khoản vay đúng đối tượng, kiểm soát chặt chẽ việc cho vay hỗtrợ lãi suất và hạn chế rủi ro hệ thống Nhờ đó, các tổ chức, cá nhân đã tiếp cận được vốnngân hàng với chi phí thấp, giảm giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh và việclàm, từng bước khắc phục khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới Góikích cầu đã đạt được 3 mục tiêu đề ra, là hỗ trợ được đúng đối tượng, đặc biệt là các hộ giađình và cá nhân ở khu vực nông thôn; bảo đảm duy trì và thúc đẩy sản xuất trong nướcphát triển; hỗ trợ các DN trong nước vượt qua khó khăn trong giai đoạn khủng hoảng Hiệuquả của gói kích cầu là nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua giai đoạn khó khăn, đang chuyểnbiến tích cực và có dấu hiệu phục hồi rõ nét Cụ thể, GDP quý III/2009 tăng 5,5% cao hơnmức 4,5% của quý II/2009 và mức 3% trong quý I/2009

Trang 11

 Đến thời điểm hiện nay, phần lớn các chuyên gia cho rằng khả năng lạm phátquay trở lại năm 2010 là có cơ sở vì: Tiền được bơm ra từ gói kích thích kinh tế; nhập siêuthương mại; giá nguyên vật liệu (trong và ngoài nước tăng; bội chi Ngân sách nhà nướctăng cao; hiệu quả đầu tư giảm xuống với chỉ số ICOR ngày càng tăng; sức mua tiêu dùngdân cư tăng; USD suy yếu gây áp lực lên VND; lạm phát thế giới có xu hướng giatăng Tuy nhiên, với mức thâm hụt ngân sách khá cao để nới lỏng CSTT và CSTK, nguồnvốn trong nền kinh tế dường như đã bị cạn kiệt, có thể ảnh hưởng đến giá trị VND và gây

áp lực tăng lãi suất, nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất huy động đến sát trần qui định 10%,nhất là từ cuối tháng 10/2009 NHNN ngày 25/11 đã phải ra quyết định tăng LSCB lên 8%

và điều chỉnh tỉ giá VND/USD tuy điều này không nhất quán với tuyên bố ổn định LStrước đây Dù NHNN không công bố chính thức, nhưng với những động thái như: Khốngchế tăng trưởng tín dụng, không mở rộng quy mô thị trường mở, tăng LSCB, điều chỉnh tỉgiá, người ta cảm thấy rõ rệt CSTT đang có sự chuyển đổi theo hướng thắt chặt tiền tệ,trong khi đó CSTK vẫn đang trong tình trạng nới lỏng

Thực trạng CSTT và CSTK thời gian qua cho thấy, mặc dù hai chính sách này đãđược tận dụng tối đa và phối hợp khá chặt chẽ, nhưng giới hạn chính sách đang cản trởnhững tác động tích cực và làm nảy sinh nhiều hệ lụy cho thời gian tới Điều này cũng doCSTT linh hoạt hơn so với CSTK, việc thay đổi lượng tiền cung ứng sẽ làm thay đổi mứclãi suất và NHNN có thể tác động đến đầu tư, xuất khẩu ròng và tiêu dùng trong ngắn hạn.Trong đó, NHNN có thể sử dụng CSTT để điều chỉnh mức lạm phát, gây tác động lên năngsuất lao động và tăng trưởng GDP tiềm năng trong dài hạn Tuy nhiên, rất khó thay đổiCSTK do Chính phủ lập kế hoạch chi tiêu, thuế và thâm hụt ngân sách, kế hoạch ngân sáchhàng năm do Quốc hội thông qua, điều này tạo ra sự lệch pha so với CSTT

2.3 Các ý kiến xoay quanh vấn đề có nên tiếp tục thực hiện gói kích cầu thứ hai

trong năm 2010 và Quan điểm của Nhóm.

2.3.1 Quan điểm không tiếp tục duy trì gói kích cầu

 Một trong những tác động trái của chính sách kích cầu là ảnh hưởng đến môitrường cạnh tranh bình đẳng giữa các DN và tạo tâm lý ỷ lại vào hỗ trợ của Nhà nước

 Việc thực hiện các chính sách hỗ trợ lãi suất, tăng chi tiêu của ngân sách Nhànước làm tăng tổng cầu có khả năng thanh toán gây tiềm ần nguy cơ lạm phát

 Tác động của gói kích thích kinh tế và thực hiện CSTT, sự gia tăng tín dụng,chính sách tài khoá nới lỏng, sức ép lạm phát sẽ tăng cao

Ngày đăng: 30/12/2013, 20:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng : Thâm hụt ngân sách và GDP qua các năm. - Mối quan hệ giữa chính sách tài khoa và chính sách tiền tệ, thực tiễn ở việt nam trong giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng
ng Thâm hụt ngân sách và GDP qua các năm (Trang 8)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w