Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 của Việt Nam về cơ bảnphù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu củaTrọng tài như: quy định về hiệu lực của th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIẾU LUẬNMôn: Pháp luật Kinh doanh Quốc tế
Trang 2MỤC LỤC
TRANG
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI NĂM 2010 1
1 Sự cần thiết phải ban hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010 1
2 Mục đích, quan điểm xây dựng, cấu trúc Luật Trọng tài thương mại năm
2010
4
3 Những điểm mới của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 6
II NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI ÁP DỤNG LUẬT TRỌNG TÀI
THƯƠNG MẠI NĂM 2010
9
1 Những vấn đề về mặt pháp lý 9
2 Những vấn đề về mặt thực thi 13
III MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ ĐƯA LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
NĂM 2010 VÀO THỰC TIỄN
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Vấn đề kinh doanh thương mại trong nước và quốc tế là mối quan tâm trọng yếu củatất cả các quốc gia trên thế giới Để tránh những rủi ro thiệt hại và những tranh chấp tronglĩnh vực này, các doanh nghiệp phải tôn trọng và tuân theo các luật thương mại ban hànhtrong quốc gia mình và các quốc gia khác trên thế giới cùng tham gia giao dịch thươngmại Nhất là trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam ta cần có nhữnghiểu biết cơ bản về pháp luật kinh doanh quốc tế để tận dụng những thuận lợi của cơ chế
mở cửa của kinh tế thế giới đem lại và lường trước những vướng mắc sẽ gặp phải
Luật Trọng Tài thương mại còn khá mới mẻ trong các bộ luật hay Pháp lệnh đãđược áp dụng tại Việt Nam Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 của Việt Nam về cơ bảnphù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu củaTrọng tài như: quy định về hiệu lực của thoả thuận trọng tài, điều kiện trở thành Trọng tàiviên, về trọng tài vụ việc, mở rộng thẩm quyền chọn trọng tài viên, ghi nhận mối quan hệgiữa Trọng tài và Toà án bằng một loạt các quy định cụ thể như hỗ trợ thi hành thoả thuậntrọng tài… Tuy nhiên qua hơn sáu năm thực hiện, Pháp lệnh này đã bộc lộ không ít nhữnghạn chế và bất cập như: Phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài; chủ thể củacác tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài; giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài về mặtnội dung và hình thức; việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; việc triệu tập nhân chứng;vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; việc hủy quyết địnhtrọng tài, vấn đề địa điểm tiến hành trọng tài; cách tính thời hiệu khởi kiện v.v… Để khắcphục luật Trọng Tài thương mại 2010 mới được ban hành ngày 29/06/2010 và sẽ có hiệulực từ 01/01/2011 được nhận định là sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp khitham gia giải quyết tranh chấp Luật mới ban hành này có rất nhiều điểm tiến bộ và khắcphục được nhiều điểm hạn chế của Pháp lệnh trọng tài trước đây và được đánh giá là sẽ tiếtkiệm chi phí cũng như thời gian, công sức cho các nhà kinh doanh trong việc giải quyếttranh chấp của mình
Để bổ sung thêm cho mình về kiến thức môn Pháp luật kinh doanh quốc tế, nhóm
chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Luật Trọng tài thương mại năm 2010: những vấn đề
đặt ra và giải pháp thực thi” để nghiên cứu Vì thời gian có hạn nên những vấn đề nhóm
chúng tôi đặt ra trong đề tài này còn khá cơ bản và đơn giản, mang tính chất tìm hiểu chưachuyên sâu và không thể tránh khỏi những sai sót Vì vậy, nhóm nghiên cứu rất mong nhậnđược những đóng góp ý kiến của thầy giáo để hoàn thiện hơn bài làm của mình và cónhững ý nghĩa nghiên cứu và thực tiễn nhất định
Trang 4NỘI DUNG
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI NĂM 2010
Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam chú trọngnhiều hơn đến việc hợp tác với các đối tác nước ngoài Các doanh nghiệp Việt Nam đã cómột tiến trình thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, tuy nhiên vẫn không ít những tranh chấpgiữa các bên xảy ra do sự thiếu hiểu biết và vì kinh nghiệm còn hạn hẹp Nhằm giải quyết
sự tranh chấp một cách êm đẹp có lợi cho cả đôi bên, phương thức giải quyết tranh chấpbằng trọng tài luôn là một phương thức được các bên ưu ái sử dụng Mà theo đó giải quyếttranh chấp bằng trọng tài là phương thức theo đó các bên thỏa thuận lựa chọn một chủ thểkhông phải là tòa án giúp mình giải quyết tranh chấp đã phát sinh Chủ thể được lựa chọngọi là trọng tài và sẽ ra phán quyết về tranh chấp giữa các bên có liên quan Sự ra đời củaLuật Trọng tại thương mại (Luật TTTM) được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2010 đượcnhận định là mang lại nhiều thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh khi tham giagiải quyết tranh chấp
1 Sự cần thiết phải ban hành Luật Trọng tài thương mại 2010
Vào thời điểm trước năm 2003, để giải quyết những tranh chấp phát sinh trong lĩnhvực thương mại theo phương thức trọng tài thì ở Việt Nam tồn tại hai loại hình trọng tài, đó
là trọng tài kinh tế nhà nước và trọng tài phi chính phủ Trọng tài kinh tế nhà nước là môhình trọng tài do Nhà nước thành lập ra, có chức năng giải quyết các tranh chấp phát sinh
từ các hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp nhà nước Như vậy, thực chất, trọng tài kinh
tế nhà nước là cơ quan của Nhà nước, vừa thực hiện chức năng quản lý kinh tế, vừa thựchiện chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các tổ chức kinh tế nhà nước Môhình này được hình thành đầu tiên bằng Nghị định số 20/TTg ngày 14/4/1960 Sau đó,được nâng lên bằng Pháp lệnh Trọng tài kinh tế nhà nước năm 1990, theo đó, trọng tàiđược tổ chức ở ba cấp, đó là Trọng tài kinh tế nhà nước, Trọng tài kinh tế tỉnh và Trọng tàikinh tế huyện Mô hình này tồn tại đến năm 1993 và bị thay thế bởi hệ thống tòa án kinh tếtheo Luật sửa đổi một số điều của Luật Tổ chức tòa án năm 1993 Bắt đầu từ thời điểmnày, các tòa án kinh tế sẽ giải quyết các tranh chấp kinh tế
Đối với trọng tài phi Chính phủ, tồn tại hai mô hình khác nhau Mô hình thứ nhất rađời từ năm 1963 bằng Nghị định số 59/CP ngày 30/4/1963 của Hội đồng Chính phủ về việcthành lập Hội đồng Trọng tài ngoại thương Tiếp sau đó, ngày 5/10/1964, Hội đồng Chínhphủ ban hành Nghị định số 153/CP về việc thành lập Hội đồng Trọng tài hàng hải Đến
Trang 5lập Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài ngoại thương và Hội đồng Trọngtài thương mại hàng hải Mô hình trọng tài thứ hai là các trung tâm trọng tài kinh tế đượcthành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 05/09/1994 của Chính phủ
Điểm đáng lưu ý là, các văn bản pháp luật về trọng tài trong thời điểm này đều cóhiệu lực pháp lý thấp, mới dừng ở mức cao nhất là nghị định Nội dung văn bản còn cónhiều điểm bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có cơ chế đảm bảo cần thiết để vận hành có hiệuquả
Trong bối cảnh nền kinh tế mới trong giai đoạn bắt đầu chuyển đổi từ cơ chế kếhoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường, hệ thống pháp luật thương mại chưa được hìnhthành một cách đồng bộ, chưa điều chỉnh kịp thời các quan hệ thương mại phát sinh trongthực tiễn, Pháp lệnh TTTM 2003 ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc hìnhthành và hoàn thiện pháp luật về trọng tài tại Việt Nam Có thể nói, hầu hết các bất cậptrước đây đã được Pháp lệnh khắc phục và về cơ bản phù hợp với pháp luật và thực tiễnquốc tế, đặc biệt là sự hoàn thiện các quy định về vai trò hỗ trợ và giám sát của tòa án đốivới trọng tài cũng như xác định hiệu lực pháp lý của Quyết định trọng tài và cơ chế thihành Quyết định trọng tài Điều này làm cho các doanh nghiệp tin tưởng lựa chọn và sửdụng trọng tài nhiều hơn
Không những thế, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 về cơ bản phù hợp với phápluật và thông lệ quốc tế trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu của Trọng tài như: quy định
về hiệu lực của thoả thuận trọng tài, điều kiện trở thành Trọng tài viên, về trọng tài vụ việc,
mở rộng thẩm quyền chọn trọng tài viên, ghi nhận mối quan hệ giữa Trọng tài và Toà ánbằng một loạt các quy định cụ thể như hỗ trợ thi hành thoả thuận trọng tài, chỉ định Trọng tàiviên, giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấptạm thời, giải quyết yêu cầu huỷ quyết định trọng tài, lưu trữ hồ sơ trọng tài v.v
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nêu trên, qua hơn sáu năm thực hiện, Pháp lệnhnày đã bộc lộ không ít những hạn chế và bất cập như: Phạm vi thẩm quyền giải quyết tranhchấp của trọng tài; chủ thể của các tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài; giá trị pháp lýcủa thỏa thuận trọng tài về mặt nội dung và hình thức; việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạmthời; việc triệu tập nhân chứng; vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hộiđồng trọng tài; việc hủy quyết định trọng tài, vấn đề địa điểm tiến hành trọng tài; cách tínhthời hiệu khởi kiện v.v…
Theo thống kê của Trung tâm trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại vàCông nghiệp Việt Nam (VIAC), trong năm 2007 TAND Thành phố Hà nội đã xử gần
Trang 69.000 vụ án trong đó có khoảng 300 vụ tranh chấp kinh tế và TAND Tp Hồ Chí Minh xửgần 42.000 vụ án, trong đó có 1000 vụ tranh chấp kinh tế thì VIAC với tư cách là tổ chứctrọng tài lớn nhất Việt Nam cũng chỉ tiếp nhận 30 vụ tranh chấp trong năm 2007 và 58 vụtrong năm 2008 Trong khi mỗi thẩm phán ở Toà kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ mộtnăm, ở Toà kinh tế Tp Hồ Chí Minh xử 50 vụ một năm thì mỗi trọng tài viên của VIACchỉ xử 0,25 vụ một năm Như vậy, một trong những nguyên nhân Trọng tài ít được các bên
sử dụng phổ biến ở nước ta là do chưa có những cơ sở pháp lý cần thiết cho việc thực hiệnchính sách nhất quán khuyến khích sử dụng Trọng tài; trong các quy định của Pháp luậthiện hành còn có nhiều rủi ro cho việc huỷ phán quyết trọng tài và tạo tâm lý e ngại về hiệulực của phán quyết trọng tài Những yếu tố đó đã làm cho độ tin cậy của các bên tranh chấpvào Trọng tài chưa chắc chắn, chưa cao
Mặc dù đã có những quy định khá tiến bộ so với trước đây, Pháp lệnh Trọng tàithương mại năm 2003 vẫn chưa tạo được cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện chủtrương của Nhà nước khuyến khích các bên sử dụng Trọng tài trong giải quyết các tranhchấp thương mại và các tranh chấp khác, cần được khắc phục bằng việc ban hành một đạoluật mới về trọng tài thương mại - Luật Trọng tài thương mại để thay thế Pháp lệnh Trọng tàiThương mại 2003 trên cơ sở kế thừa những chế định tiến bộ, phù hợp kết hợp với những quyđịnh mới, hoàn chỉnh hơn
Dự thảo Luật TTTM 2010 được Quốc hội Quốc hội khóa VII thông qua tại kỳ họpthứ 7 ngày 17 tháng 6 năm 2010 Theo đó, Luật trọng tài Thương mại 2010 được thông qua
sẽ khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003, đáp ứng nhucầu thực tiễn Việt Nam và hội nhập với pháp luật Trọng tài trong khu vực và thế giới KhiLuật có hiệu lực (từ ngày 01 tháng 01 năm 2011), hoạt động của trọng tài thương mại tạiViệt Nam sẽ bước sang một giai đoạn phát triển mới
2 Mục đích, quan điểm chủ đạo và cấu trúc của Luật Trọng tài Thương mại
a Mục đích
Mục đích quan trọng của việc xây dựng Luật Trọng tài thương mại là thể chế hoákịp thời và đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng về xây dựng và phát triển đất nướctrong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo đó, Luật này ghi nhận chủ trương mở rộng các hình thứcgiải quyết trong tranh chấp trong các hoạt động kinh doanh, thương mại và một số các quan
hệ dân sự khác, khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng hình thức Trọng tài
Trang 7Chủ trương khuyến khích sử dụng Trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấpgiữa các bên trước hết xuất phát từ nhu cầu của các chủ thể kinh doanh, các thể nhân vàpháp nhân dân sự muốn giải quyết vụ việc của mình một cách thuận lợi, nhanh chóng và cóhiệu quả.
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài góp phần làm giảm tải hoạt động xét xử củaToà án ở nước ta hiện nay Theo thống kê của các cơ quan tư pháp, tại Toà kinh tế Toà ánnhân dân Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2005 đến nay năm nào số lượng vụviệc năm sau cũng tăng gấp đôi năm trước Tình hình đó ảnh hưởng đến chất lượng xét xử,gây áp lực cao đối với các thẩm phán, ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của các doanhnghiệp về mức độ an toàn pháp lý trong hoạt động kinh doanh, thương mại
Thực tiễn áp dụng các hình thức giải quyết tranh chấp lựa chọn ở các nước trongkhu vực và trên thế giới cho thấy việc khuyến khích sử dụng Trọng tài trong giải quyết cácloại tranh chấp đang là một xu thế tất yếu Ví dụ: trong năm 2007 Trung tâm trọng tài quốc
tế Singapore đã giải quyết 119 vụ tranh chấp, Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ - 621 vụ, Toà ánTrọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại quốc tế (ICC) - 599 vụ, Hội đồng Trọng tàithương mại và Kinh tế Trung quốc - 1118 vụ, Trung tâm Trọng tài quốc tế Hồng Kông -
448 vụ Ở nhiều nước và khu vực lãnh thổ đều có quy định Toà án phải từ chối thụ lý vụtranh chấp nếu các bên đã có thoả thuận trọng tài Thậm chí, ở Anh, Hồng Kông, Ấn Độ,Ảrập-Sê út còn có quy định rằng, kể cả trong trường hợp không có thoả thuận trọng tài thìcác bên tranh chấp cũng phải đưa vụ việc ra Trọng tài trước, nếu không, các bên phải có sự
lý giải thoả đáng thì Toà án mới chấp nhận thụ lý vụ tranh chấp
b Quan điểm chủ đạo
Quan điểm chủ đạo của việc xây dựng Luật Trọng tài là trên cơ sở nghiên cứu lýluận, tổng kết thực tiễn áp dụng Pháp lệnh Trọng tài thương mại, kế thừa và phát triển cácquy định phù hợp đã đi vào cuộc sống, Luật Trọng tài thương mại phải tạo cơ sở pháp lýđầy đủ và thuận lợi cho việc lựa chọn Trọng tài để giải quyết các tranh chấp
c Cấu trúc của Luật
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 gồm 13 chương với 82 Điều bao gồm nhữngnội dung chính:
- Về phạm vi thẩm quyền của Trọng tài thương mại;
- Về các hình thức Trọng tài;
- Về trọng tài viên;
Trang 8- Mối quan hệ giữa Trọng tài và Tòa án, Viện Kiểm sát, Cơ quan thi hành án;
- Quản lý Nhà nước về trọng tài
3 Những điểm mới của Luật Trọng tài thương mại năm 2010
Như đã nói từ đầu, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 còn khá nhiều bất cập sauthời gian áp dụng nên Hội Luật gia Việt Nam đã điều chỉnh và đưa ra Luật trọng tài thươngmại 2010 để khắc phục các hạn chế đó
Dưới đây chúng tôi xin tóm tắt những điểm mới cơ bản của Luật trọng Tài thươngmại 2010 để các bạn cùng thấy được sự tiến bộ và thuận lợi cho các nhà kinh doanh, cácdoanh nghiệp trong nước và nước ngoài trong quá trình tham gia việc tranh chấp:
- Khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài đối
với các tranh chấp thương mại: Luật TTTM đã dỡ bỏ hạn chế của Pháp lệnh TTTM về
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thương mại của Trọng tài thông qua việc mở rộng
phạm vi thẩm quyền của Trọng tài tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên (Điều 2 Luật TTTM) Đây là một trong những điểm mới quan trọng nhất của Luật TTTM so với Pháp lệnh TTTM và hoàn toàn phù hợp với thực tiễn sử dụng Trọng tài của các nước trên thế giới.
- Khắc phục sự không rõ ràng của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 về
các tình huống có thể làm vô hiệu thoả thuận trọng tài Điều 18 của Luật TTTM giới hạn 6
tình huống theo đó thoả thuận trọng tài vô hiệu Đặc biệt, còn có quy định trường hợp thỏathuận trọng tài không rõ ràng thì bên khởi kiện (nguyên đơn) có quyền được tự do lựa chọn
tổ chức trọng tài thích hợp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Với quy định này sẽ ngăn chặn và giảm bớt tình trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặctình trạng không có cơ quan nào giải quyết tranh chấp
- Luật TTTM có quy định tại Điều 17 nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong việc lựa
chọn phương thức giải quyết tranh chấp
Đối với các tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng,mặc dù điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hànghoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng vẫn đượcquyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp Nhà cung cấp hàng hóa,dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận
Quy định này dựa trên một thực tế là thông thường người tiêu dùng bị đặt ở một vịthế có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng in sẵncủa người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ, do vậy cần có quy định bảo vệ họ trongcác tình huống cần thiết
Trang 9- Kế thừa Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Điều 20 Luật TTTM có các
quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với Trọng tài viên nhằm hình thành ở nước ta một đội ngũ trọng tài viên nòng cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã hội Theo đó, cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực
tế công tác từ năm năm trở lên có thể là trọng tài viên Đặc biệt, Luật dành cho các Trungtâm trọng tài quyền được đưa ra các tiêu chuẩn cao hơn đối với các Trọng tài viên trongdanh sách của mình Tuy nhiên, về nguyên tắc, Trọng tài viên trong trường hợp vụ tranhchấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài hoặc do Trọng tài vụ việc giải quyết đều docác bên đương sự tự lựa chọn dựa trên niềm tin của họ vào tính chuyên nghiệp, kiến thứcchuyên môn, uy tín của cá nhân đó và trong trường hợp đó thì nhà chuyên môn nào cũng
có thể được các bên chọn làm Trọng tài cho vụ việc của họ Đó là quá trình sàng lọc mangtính xã hội
Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật Trọng tài thương mại không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Quy định
này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế
- Về trọng tài quy chế, so với Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM bổ sung một số điểm
mới sau đây:
+ Thứ nhất, Luật đã đưa ra định nghĩa pháp lý về Trọng tài quy chế để thay cho
khái niệm “Hội đồng trọng tài được thành lập tại Trung tâm trọng tài” do Pháp lệnh năm
2003 quy định Theo đó, Trọng tài quy chế là hình thức trọng tài được tiến hành tại Trungtâm trọng tài và theo quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài (khoản 6 Điều 3 Luật TTTM)
+ Thứ hai, Luật cho phép các Trung tâm trọng tài được ban hành quy tắc tố tụng
trọng tài phù hợp với quy định của Luật và đảm bảo đặc thù của mỗi Trung tâm để tăngthêm tính hấp dẫn đối với các bên tranh chấp
- Cho phép các tổ chức trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại
diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Chương XII với 07 Điều).
- Nâng cao vị thế của Trọng tài thông qua việc cho phép Hội đồng Trọng tài được
thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng, áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời
(Điều 47, 48, 49 và 50) Quy định của Luật đã tiếp thu quy định của Luật mẫu UNCITRALđược thông qua năm 2006 nhằm giúp cho tố tụng trọng tài vận hành có hiệu quả hơn
- Hạn chế nguy cơ phán quyết của Trọng tài bị Tòa án tuyên hủy bởi quy định
không phù hợp của Pháp lệnh TTTM như quy định về quyền của một bên được gửi đơn lên
Toà án yêu cầu huỷ quyết định trọng tài nếu “không đồng ý với quyết định trọng tài”, bởi
vì các quy định này của Pháp lệnh đã làm cho tố tụng trọng tài trở nên rất rủi ro và làm mất
Trang 10đi tính chung thẩm của phán quyết trọng tài mà pháp luật của hầu hết các nước đều côngnhận.
- Luật TTTM là đã tiếp thu nguyên tắc cấm hành vi mâu thuẫn trong tố tụng là
nguyên tắc rất quan trọng đã hình thành lâu đời trong pháp luật tố tụng của các nước phát triển Quy định mới của Luật (Điều 13) xác định, khi một bên nhận thấy những quy định
của Luật hoặc của thoả thuận trọng tài bị vi phạm mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọngtài và không phản đối vi phạm đó trong thời hạn luật định thì mất quyền phản đối tại Trọngtài hoặc Toà án Quy định này nhằm ngăn chặn một cách có hiệu quả các hành vi cơ hộitrong tố tụng trọng tài
- Một trong những điểm quan trọng nhất của Luật TTTM là thể hiện rõ nét mối
quan hệ giữa Trọng tài với Toà án trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh chấp của các bên Luật đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan hệ pháp lý
quan trọng này: xác định rõ Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài và liệt kê 8nội dung thẩm quyền của Toà án trong quan hệ với Trọng tài bao gồm: thu thập chứng cứ,lưu giữ chứng cứ; đăng ký phán quyết trọng tài; tuyên thoả thuận trọng tài vô hiệu; xácđịnh thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; giải quyết và yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài;bảo đảm sự có mặt của người làm chứng; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; chỉ định,thay đổi trọng tài viên Quy định tại các điều luật khác liên quan đã cụ thể hoá nội dungnhững thẩm quyền này của Toà án Quy định này đã khắc phục được những bất cập củaPháp lệnh TTTM, tạo điều kiện để các Tòa án và Hội đồng trọng tài cũng như các bêntranh chấp tránh được lúng túng trong các trường hợp cụ thể, góp phần tạo điều kiện thuậnlợi để trọng tài hoạt động có hiệu quả
- Quy định phù hợp hơn về thủ tục Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng
tài
Khác với Pháp lệnh TTTM, thủ tục tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tàitheo Luật TTTM chỉ có một cấp và có giá trị chung thẩm Luật quy định một Hội đồnggồm 03 thẩm phán xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và quyết định của Hộiđồng là chung thẩm có hiệu lực thi hành ngay là phù hợp (Điều 71)
- Nhằm khuyến khích hoạt động của các tổ chức trọng tài, tạo điều kiện cho các
Trọng tài viên nâng cao trình độ nghiệp vụ trọng tài, bảo vệ các quyền và thực hiện tốt nghĩa vụ, Luật TTTM có 01 điều quy định về việc thành lập Hiệp hội trọng tài Hiệp hội
trọng tài là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Trọng tài viên và các Trung tâm trọng tài.Việc thành lập và hoạt động của Hiệp hội trọng tài được thực hiện theo quy định của phápluật về hội nghề nghiệp (Điều 22 Luật TTTM)
Trang 11II NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI ÁP DỤNG LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI NĂM 2010
a Những điều khoản gây tranh cãi
Phạm vi của Trọng tài thương mại: quá rộng nhưng lại quá hẹp:
Theo điều 2 của Luật Trọng tài thương mại thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấpcủa Trọng tài bao gồm:
Tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại: Luật Trọng tài thương mại khôngđưa ra một khái niệm cụ thể nào Luật tố tụng dân sự (Điều 29) có đưa ra Tranh chấp phátsinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanhvới nhau và đều có mục đích lợi nhuận Vì trong luật Việt Nam, chưa có quy định nào vềtranh chấp thương mại, nên có thể coi đây là định nghĩa có thể áp dụng Tuy nhiên, nếutheo định nghĩa này và theo quy định về Thoả thuận trọng tài theo Luật này, thì lại không
hề phân định loại tranh chấp theo quan hệ hợp đồng hay ngoài hợp đồng, điều mà Luật vềtrọng tài của các nước và Luật mẫu Uncitral đều có nêu (Điều 7 khoản 1)
Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thươngmại: Khi đưa ra quy định này, dường như Luật Trọng tài thương mại định khắc phục nhữngthiếu sót của tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo Bộ luật tố tụng dân sựkhi chỉ yêu cầu 1 trong các bên tranh chấp tham gia vào hoạt động thương mại Tuy nhiên,đây là một phạm vi rất rộng, và khi một bên hoạt động thương mại những tham gia vàonhững quan hệ không vì mục đích lợi nhuận, và do đó bao gồm cả các tranh chấp không hềliên quan đến thương mại như dân sự Do đó, phạm vi của Luật Trọng tài thương mại lạivượt quá phạm vi “thương mại” như tên gọi của Luật
Các tranh chấp khác theo pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài: cóthể ví dụ như các tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư, tranh chấp về hàng hải, vv Như thếcũng đồng nghĩa với việc Luật Trọng tài thương mại một lần nữa vượt ra khỏi ranh giớigiải quyết những tranh chấp về thương mại Đây cũng là một điểm khó giải quyết, vì khi
Trang 12các Luật khác quy định tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, thì Luật về trọng tàikhông thể bác bỏ quy định đó nếu không sửa đổi Luật tương ứng
Nhận định: Có thể thấy, với tên gọi Luật Trọng tài Thương Mại, thì phạm vi thẩm
quyền của Trọng tài đã được mở quá rộng bao gồm cả những trường hợp tranh chấp dân sự
và các tranh chấp khác Trong khi đó, đối với lĩnh vực thương mại, thì lại không hề quyđịnh rõ tranh chấp thương mại là như thế nào, nếu chỉ áp dụng theo dẫn chiếu từ Bộ luật tốtụng dân sự thì không hề quy định rõ tranh chấp thương mại đó được xây dựng trên quan
hệ hợp đồng hay ngoài hợp đồng
Trọng tài nước ngoài:
Luật Trọng tài thương mại đã tiến bộ hơn so với Pháp lệnh trọng tài thương mại khidành riêng một chương cho Trọng tài nước ngoài Tuy nhiên, những quy định gói gọntrong một chương lại không thể giải quyết hết những vấn đề liên quan đến Trọng tài nướcngoài Chương XII của luật Trọng tài thương mại 2010 quy định về Tổ chức và hoạt độngcủa trọng tài nước ngoài tại Việt Nam Theo quy định, thì Tổ chức trọng tài nước ngoài chỉđược hoạt động dưới 2 hình thức là văn phòng đại diện và chi nhánh Theo đó, sẽ không cótrung tâm trọng tài nước ngoài độc lập nào được thành lập tại Việt Nam Quy định này tráivới Luật đầu tư Theo luật Đầu tư, dịch vụ pháp lý không nằm trong những lĩnh vực đầu tư
có điều kiện hoặc cấm đầu tư Do đó, nhà đầu tư hoàn toàn có thể thành lập dưới hình thức:
100% vốn nước ngoài, liên doanh, sáp nhập, mua lại, vv Như vậy, trong trường hợp một
nhà đầu tư nước ngoài muốn thành lập một trung tâm trọng tài tại Việt Nam, Luật nào
sẽ được đưa vào áp dụng?
Mặc dù trái với pháp luật trong nước, nhưng quy định này lại hoàn toàn phù hợp vớiWTO, vì Việt Nam không cam kết mở cửa trong lĩnh vực trọng tài Và theo nghị định108/2006/ND-CP của Chính Phủ về đầu tư, khi Việt Nam không cam kết thì đồng nghĩa vớiviệc được coi là lĩnh vực đầu tư có điều kiện và các Bộ ngành sẽ đưa ra ý kiến riêng cho từngtrường hợp Đây được coi là một điểm thiếu sót rất lớn của Pháp luật Việt Nam trong quátrình hội nhập nói chung, không riêng gì đối với quy định về Trọng tài Do đó, trường hợp
nêu trên chỉ trở thành trở ngại khi nước đó không phải một thành viên của WTO
b Những điều khoản cần làm rõ
- Điều 3: Giải thích từ ngữ Trong điều khoản này, cụm từ “Trọng tài viên” đượcgiải thích là “người được các bên lựa chọn hoặc được trung tâm trọng tài hoặc tòa án chỉđịnh để giải quyết tranh chấp theo quy định của luật này.” Tuy nhiên, khi áp dụng cách giảithích này vào mục 3 điều 75 (Tổ chức trọng tài nước ngoài cử một Trọng tài viên làm