Sử thi đóng một vai trò rất quan trọng trongđời sống văn hóa của người dân Tây Nguyên, với những giá trị văn hóa tinhthần vô giá, sử thi Tây Nguyên đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa dâ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử đã chứng tỏ rằng, văn hóa là nguồn gốc của sức mạnh và sựtrường tồn của mỗi dân tộc Trong thời đại hiện nay, cùng với sự phát triểncủa nhận thức và thực tiễn, càng ngày người ta càng nhận thấy vai trò quantrọng đặc biệt của văn hóa đối với đời sống của mỗi quốc gia cũng như sựphát triển của toàn thể nhân loại
Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ, kiên cường, nhân dân
ta đã xây đắp nên một nền văn hóa kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn bảnsắc của dân tộc, chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộcViệt Nam
Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa mang lại cho nhân loại nhiều cơ hội vàthách thức, tạo nên những biến đổi trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xãhội Đó là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất đang cuốn húttất cả các quốc gia dân tộc, các khu vực và các tổ chức quốc tế vào vòng xoáycủa nó Toàn cầu hoá hiện nay không chỉ là toàn cầu hoá về kinh tế, mà còn làtoàn cầu hoá cả về văn hoá, về chính trị và về xã hội Từng quốc gia, dân tộccũng như toàn nhân loại không chỉ đang đứng trước những vấn đề kinh tế - xãhội gay gắt mà còn phải giải quyết những vấn đề văn hoá hết sức cấp bách.Toàn cầu hoá, một mặt, đem lại những tác động và ảnh hưởng tích cực, những
cơ hội hội nhập, giao lưu và phát triển cho các nước chậm phát triển và đangphát triển, tạo ra sự xích lại gần nhau hơn để giải quyết những vấn đề chungnhư hoà bình, ổn định, hợp tác cho tất cả các nước Mặt khác, toàn cầu hoácũng mang lại những ảnh hưởng tiêu cực trên nhiều lĩnh vực nhất là trên lĩnhvực văn hoá và bản sắc văn hoá của từng quốc gia, dân tộc
Trang 2Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, bên cạnh việcphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải
“xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa kếthừa, phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộcViệt Nam, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại để văn hoá thực sự là nềntảng tinh thần của xã hội ” [7, tr.40]
Như vậy, việc kết hợp hài hòa tinh hoa văn hóa của dân tộc mà cha ông
ta đã dày công xây dựng và lưu giữ với tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm tạo ranhững giá trị bền vững về văn hóa cho đất nước trong quá trình đẩy mạnh côngnghiệp hoá theo hướng hiện đại là việc làm hết sức quan trọng và cấp thiết
Ở Việt Nam, Tây Nguyên là miền đất huyền thoại, là nơi cư trú rộnglớn của các dân tộc thiểu số anh em: Êđê, Mnông, Gia Rai, Ba Na Đây còn
là vùng đất với những giá trị lịch sử, văn hóa tinh thần vô giá, vùng đất củanhững điệu cồng chiêng, của rượu cần, đàn Tơrưng, và đặc biệt là một
“vùng sử thi” vô cùng phong phú Sử thi đóng một vai trò rất quan trọng trongđời sống văn hóa của người dân Tây Nguyên, với những giá trị văn hóa tinhthần vô giá, sử thi Tây Nguyên đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc
ở một vùng đất huyền thoại và nhiều tiềm năng Vì vậy, việc giữ gìn và pháthuy bản sắc văn hóa của các dân tộc Tây Nguyên qua việc tiếp tục sưu tầm,nghiên cứu sử thi ở nhiều góc độ khác nhau là việc làm hết sức cấp thiết và có
ý nghĩa cực kỳ to lớn Đây có thể là sự sống còn của một cộng đồng, một dântộc, bởi lẽ văn hóa là nguồn gốc sức sống của mỗi dân tộc và sử thi TâyNguyên là yếu tố văn hóa sâu đậm nhất
Sử thi Tây Nguyên đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và tiếp cận từnhiều phương diện khác nhau như ngữ văn dân gian, nghệ thuật dân gian, tínngưỡng, phong tục, lễ hội, v.v Những nghiên cứu có giá trị đó của nhiều nhànghiên cứu cả ở trong và ngoài nước đã khẳng định được giá trị văn hóa tinh
Trang 3thần của sử thi Tây Nguyên Tiếp tục nghiên cứu về sử thi Tây Nguyên, đặcbiệt là tìm hiểu những khía cạnh thế giới quan và nhân sinh quan, nhằm khaithác những giá trị về mặt triết lý và phần nào ở tầm tư tưởng triết học, từ đókhẳng định sức sống mãnh liệt của sử thi Tây Nguyên trong đời sống tinhthần của người Tây Nguyên nói riêng, đồng thời góp phần xây dựng “một nềnvăn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” như tinh thần nghị quyếtHội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) và Đại hội XI của Đảng đã chỉ ra Đó là lý
do chúng tôi viết luận văn: “Khía cạnh thế giới quan và nhân sinh quan trong sử thi Tây Nguyên”.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nền văn hoá truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên là vô cùng quýgiá và đa dạng Đây chính là những nhân tố góp phần vào hành trang văn hoádân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhànước, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tiêu biểu của dân tộccũng như bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đãđạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ
Việc sưu tầm và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên trong nhiều thập kỷ quavẫn được tiến hành liên tục và ngày càng mở rộng Sử thi Tây Nguyên đã làđối tượng quan tâm của nhiều thế hệ các nhà khoa học và các thành tựu đạtđược về lĩnh vực nghiên cứu này rất đáng ghi nhận Đã có rất nhiều bài viết,bài báo, công trình khoa học nghiên cứu về sử thi Tây Nguyên trong đó đánglưu ý nhất là các công trình của GS,TSKH Phan Đăng Nhật: “Sử thi Êđê”(1991), “Nghiên cứu sử thi Việt Nam” (2001), “Thuộc tính cơ bản của sử thi”(2003) Trong công trình nghiên cứu công phu này, tác giả nghiên cứu nhiều
sử thi nhưng tập trung nhất là về sử thi Êđê ở phương diện văn học: đặc điểm,nội dung, nghệ thuật, hệ thống các loại và các kiểu đề tài của sử thi, Tiếpđến phải kể đến đó là các bài báo, các công trình nghiên cứu của GS.TS Ngô
Trang 4Đức Thịnh: “Văn hóa dân gian và bản sắc văn hóa dân gian”( 2001), “Nhữngmảng màu văn hóa Tây Nguyên” (2007), PGS.TS Phan Thị Hồng với cáccông trình: “Giông nghèo tám vợ - Tre Vắt ghen ghét Giông” (Trường ca dântộc Bahnar) (1996), “Giông, Giơ mồ côi từ nhỏ” (1999), “Nhóm sử thi dân tộcBahnar” (2006) Đặc biệt, phải kể đến dự án: “Điều tra, sưu tầm, bảo quản,biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên” theo chủ trương của chínhphủ tiến hành từ 2001-2007 Kết quả của dự án là đã sưu tầm được hơn 800
sử thi của các dân tộc Viện Khoa học xã hội Viện Nam đã cho xuất bản bộ
“Kho tàng sử thi Tây Nguyên” (2005) bao gồm 75 tác phẩm sử thi in trong 62tập Tiếp đến, năm 2009, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứuvăn hóa đã xuất bản bộ “Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số ViệtNam” với 23 tập, trong đó bàn về sử thi có các tập từ tập 4 đến tập 11 Hầuhết các công trình nghiên cứu trên chủ yếu là ở góc độ điều tra, sưu tầm, bảoquản, biên dịch, xuất bản các tác phẩm sử thi, còn các bài viết, bài báo chủyếu khai thác các tác phẩm sử thi Tây Nguyên từ các phương diện như ngữvăn dân gian, nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian, tín ngưỡng, phong tục và
lễ hội song hầu như chưa được tiến hành đồng bộ và chuyên sâu, trong đónhiều vấn đề mới chỉ là những bước gợi mở ban đầu Đặc biệt, khi xem xét nódưới góc độ triết học hay nói cách khác đó là tìm hiểu từ góc độ triết họcnhững khía cạnh thế giới quan và nhân sinh quan, hay triết lý nhân sinh, trong
sử thi Tây Nguyên thì, theo sự hiểu biết còn hạn chế của chúng tôi, hầu nhưchưa có bất kỳ một công trình nghiên cứu nào
Từ đó tác giả tin rằng, cho đến nay, chưa có công trình nào đã xuất bảntrùng với hướng tiếp cận của nội dung đề tài “Khía cạnh thế giới quan vànhân sinh quan trong sử thi Tây Nguyên” và tác giả hy vọng luận văn sẽ gópphần chỉ ra những khía cạnh thế giới quan và nhân sinh quan bổ sung vào hệgiá trị của kho tàng sử thi Tây Nguyên
Trang 53 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn làm rõ:
- Những khía cạnh thế giới quan trong sử thi Tây Nguyên
- Những khía cạnh nhân sinh quan trong sử thi Tây Nguyên
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu những khía cạnh triết học trong sử thi Tây Nguyên
qua một số sử thi Êđê và Ba Na: Đam Xăn, Dăm Di đi săn, Khinh Dũ, Dăm Ktek Mlan, Nàng H’Bia Jâ, Xinh Nhã, Dăm Phu, Gi Dông, Jing Chơ Ngă, H’Bia Drang, Gyông Gyỡ, Gyông Dư, Dăm Noi, Yông trong Yoăn, Gyông nghèo tám vợ, Giông, Giơ mồ côi từ nhỏ,
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Cơ sở lý luận của luận văn: Luận văn sử dụng các nguyên tắc cơ bản
của triết học Mác - Lênin: nguyên tắc tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội;nguyên tắc phản ánh lêninnít; quan điểm Hồ Chí Minh về văn hóa; các vănkiện của Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến văn hóa
Trang 6Phương pháp nghiên cứu của luận văn:
Luận văn sử dụng phương pháp kết hợp logic với lịch sử; phân tích vàtổng hợp; phương pháp chú giải (thông diễn); phương pháp so sánh
Nguồn tư liệu sử thi:
Chủ yếu sử dụng Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số ViệtNam (2009), Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu văn hoá, Nhàxuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội và Bộ “Kho tàng sử thi Tây Nguyên”(2005),Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu văn hoá Nhà xuấtbản Khoa học xã hội, Hà Nội
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Thông qua sự khái quát khía cạnh thế giới quan và nhân sinh quan, luậnvăn góp phần chỉ ra những giá trị về mặt triết học trong hệ giá trị của kho tàng
sử thi Tây Nguyên, khơi dậy những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bàocác dân tộc Tây Nguyên vốn đã được hình thành từ khi xã hội chưa có sựphân chia giai cấp song lại chưa được khai thác ở góc độ tiếp cận của đề tài.Qua đó, góp phần nâng cao ý thức tự hào dân tộc, góp phần củng cố và pháthuy khối đại đoàn kết các dân tộc theo chủ trương của Đảng hiện nay đồngthời nêu lên một số kiến nghị về việc bảo tồn những giá trị đó
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâmđến sử thi Tây Nguyên và văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chương, 5 tiết
Trang 7NỘI DUNG Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ THẾ GIỚI QUAN, NHÂN SINH QUAN VÀ
SỬ THI TÂY NGUYÊN
1.1 Khái quát chung về Tây Nguyên và sử thi Tây Nguyên
Tây Nguyên, với 5 tỉnh gồm Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Đắc Nông,Lâm Đồng và là một trong sáu vùng kinh tế của cả nước, tuy diện tích tựnhiên chỉ bằng 16,3% diện tích tự nhiên của cả nước và dân số cũng chỉchiếm 5,3% cả nước, nhưng Tây Nguyên lại là một địa bàn chiến lược rấtquan trọng, có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội Cácdân tộc Tây Nguyên có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, có nềnvăn hoá cổ truyền độc đáo, phong phú và rất đa dạng Nền văn hoá Việt Nam
là nền văn hoá đa dạng trong thống nhất, là vườn hoa muôn màu muôn sắc toảngát hương thơm thì văn hoá cổ truyền các dân tộc Tây Nguyên là một trongnhững bộ phận cấu thành rất quan trọng để làm nổi bật nên diện mạo đó Saungày giải phóng (1975), Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chínhsách phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng TâyNguyên, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc trong đại gia đình các dântộc Việt Nam, trân trọng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thốngcủa đồng bào dân tộc Tây Nguyên Sau hơn 20 năm đổi mới, cùng với sự pháttriển chung của đất nước, bộ mặt kinh tế - xã hội Tây Nguyên có nhiều thay đổitích cực, đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc được cảithiện rõ nét Bên cạnh những thành tựu cơ bản đó, hiện nay nhiều vấn đề vềkinh tế, văn hoá xã hội ở Tây Nguyên còn cần phải tiếp tục được giải quyếttrong thời gian sắp đến, trong đó đáng chú ý là trên lĩnh vực văn hoá
Trang 8Lần về cội nguồn, Tây Nguyên là địa bàn cư trú của 13 đồng bào dântộc thiểu số bản địa có truyền thống văn hoá lâu đời như Bana, Êđê, M’nông,Striêng, Giarai, K’hor… Sau năm 1975, với chủ trương của Đảng và Nhànước tổ chức di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, đến nay ở Tây Nguyên đã
có khoảng 40 dân tộc anh em cùng làm ăn sinh sống Sống chan hoà, đan xen,đoàn kết trên dải đất cao nguyên hẹp từ bao đời nay, đồng bào các dân tộcTây Nguyên đã có sự giao lưu và những ảnh hưởng lẫn nhau về phong tục tậpquán sản xuất, sinh hoạt văn hóa Những nét tương đồng và dị biệt trong vănhoá các tộc người ở Tây Nguyên đã làm cho bức tranh đời sống văn hoá trongkhu vực có nhiều mảng màu, sắc thái khác nhau Nền văn hoá cổ truyền củacác tộc người Tây Nguyên là nền văn hoá hình thành trên cơ sở nền kinh tếnông nghiệp nương rẫy, tự cấp, tự túc, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, gắn
bó hoà quyện với thiên nhiên, mang nhiều dấn ấn của chế độ mẫu hệ và tàn
dư của chế độ công xã thị tộc nguyên thuỷ Các giá trị văn hóa, văn nghệ cổtruyền các tộc người Tây Nguyên phản ảnh mơ ước, nguyện vọng ấm no,sung túc của con người nông nghiệp Dù đang ở giai đoạn thấp của sự pháttriển kinh tế - xã hội, nhưng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên rất giàu khảnăng sáng tạo và biểu cảm nghệ thuật Nhắc đến những sắc thái đặc sắc củavăn hoá trong khu vực, người ta sẽ nhớ ngay đến sắc thái văn hóa cộng đồngvới những bộ phận như:
- Bộ phận văn hoá vật thể với nhà Rông và các nhà sàn theo nhiều kiểudáng khác nhau, nhà mồ và tượng nhà mồ, một số vật dụng hàng ngày, cáccông cụ sản xuất và các nhạc cụ dành cho lễ hội như Cồng, Chiêng, các loạihình nghệ thuật dân gian như Đàn đá, Đàn tơrưng,…
- Đặc biệt, bộ phận lớn nhất trong nền văn hoá cổ truyền các tộc ngườiTây Nguyên là các hình thức và hoạt động văn hoá phi vật thể Đây là bộphận có vai trò rất quan trọng, vừa là chỗ dựa tinh thần, vừa là tác nhân làm
Trang 9cân bằng đời sống xã hội và con người Nền văn hoá cổ truyền Tây Nguyênnhìn chung đa số tồn tại dưới dạng văn hoá dân gian Đó là các bộ sử thi nổitiếng của đồng bào như Đam Xăn1, Xinh Nhã, ĐămBri, Đăm Dí, Rơ Păm,Khinh Dú với các nghệ nhân hát kể các bộ sử thi đó như Khan (Êđê), Hơri(Giarai), Hơmon (Bahnar), Ot’ nrông (M’nông), Akhatgukhar (Rắcglây), hoặc
có nhiều thầy cúng (Pơtau), các Luật tục giống như Hương ước của người Kinh.Các lễ hội cứ nối tiếp nhau từ mùa xuân năm nay đến năm sau như đâm trâu(Groongk’po), cầu an cho lúa (Sômah kwai), bỏ mả (Pớatpothi), cúng đất làng,
lễ mừng, tết cơm mới, múa trống, múa xoang, múa khiên, đánh cồng, đánhchiêng… cùng với những lễ hội đó, đời sống tâm linh của các tộc người ở đâycực kỳ phong phú mà các nhà nghiên cứu dân tộc học gọi là tín ngưỡng “vạn vậthữu linh” với các hình thức biểu hiện như Tô tem giáo, Bái vật giáo,…
Sử thi đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống văn hóa củangười Tây Nguyên Việc sưu tầm và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên trongnhiều thập kỷ qua vẫn được tiến hành liên tục Sử thi Tây Nguyên đã là đốitượng quan tâm của nhiều thế hệ các nhà khoa học và các thành tựu đạt được
về lĩnh vực nghiên cứu này rất đáng ghi nhận Tiếp tục nghiên cứu sử thi TâyNguyên dưới góc nhìn triết học chúng tôi nhận ra: giá trị của sử thi không chỉdừng lại ở các phương diện ngữ văn dân gian, nghệ thuật dân gian, tri thứcdân gian, tín ngưỡng, phong tục và lễ hội mà nó còn ở các quan niệm về thếgiới và nhân sinh, ở triết lý sống của chính các dân tộc Tây Nguyên đã đượchình thành ngay từ khi xã hội chưa có sự phân chia giai cấp
Như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, sử thi Tây Nguyên là “sử thisống”, nghĩa là nó không chỉ là hiện tượng văn học đã qua, nó còn là một hiệntượng văn hóa đương đại Vùng sử thi Tây Nguyên đã được xác định trùng
1 Tên của các sử thi phát âm theo tiếng địa phương được các nhà nghiên cứu sử thi Việt Nam phiên âm theo tiếng quốc ngữ Theo GS.TSKH Phan Đăng Nhật, Đam Xăn là tên gọi được phiên âm theo tiếng Quốc ngữ.
Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi thống nhất dùng từ Đam Xăn.
Trang 10khớp hoàn toàn với vùng văn hóa Tây Nguyên Mỗi tác phẩm sử thi TâyNguyên tổng hòa trong nội dung và hình thức của nó cả phương diện nhậnthức thẩm mĩ của nhân dân về thực tại, cả các phương diện khác bao trùm mọilĩnh vực của đời sống vật chất và đời sống tinh thần của xã hội Tây Nguyênnhư lịch sử, tín ngưỡng, tâm lý, triết lý, những kiến thức địa lý, kiến thức vềthiên nhiên, những kiến thức về ứng xử trong gia đình, công đồng, v.v Vàđiều khó khăn hơn cả đối với việc tiếp cận sử thi Tây Nguyên là những vấn đề
về thực tại khách quan của xã hội, lịch sử, tự nhiên ấy không được phản ánhtheo kiểu sao chụp nguyên xi mà tất thảy đều bị khúc xạ, biến dạng đi bởiquan điểm thẩm mỹ của người Tây Nguyên Thế giới hình tượng, sự kiện,tình tiết trong sử thi đương nhiên bắt nguồn từ thực tại núi rừng, làng buônTây Nguyên nhưng khác hẳn về chất so với nguyên hình của nó tồn tại ngoàithế giới khách quan Có như vậy thì sử thi Tây Nguyên mới trở nên là côngtrình nghệ thuật với tất cả giá trị độc đáo của nó Chính các đặc điểm độc đáo
ấy của sử thi Tây Nguyên đòi hỏi người tiếp cận phải đặt nó trong cái nhìnvăn hóa Cùng với cách tiếp cận tác phẩm dưới cái nhìn văn hóa, cách tiếp cậndưới góc độ triết học sẽ giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn các giá trị của sửthi Tây Nguyên
1.1.1 Điều kiện địa lý, lịch sử - xã hội Tây Nguyên
1.1.1.1 Điều kiện địa lý - tự nhiên vùng Tây Nguyên
Nền văn hoá truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên là vô cùng quýgiá và đa dạng, gắn liền với những điều kiện tự nhiên và địa lý Chính những điềukiện đó đã góp phần vào hành trang văn hoá dân tộc các dân tộc Tây Nguyên
Tây nguyên, dằng dặc một miền núi Trường Sơn chạy suốt miền Trungđất nước, từ cực Bắc Kon Tum, đến cực Nam Lâm Đồng Khi xem xét đếnđặc điểm quần cư của dân tộc thiểu số miền Trung – Tây Nguyên, không thể
Trang 11không thấy rằng địa hình và khí hậu có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố của cáctộc người, ngoài các điều kiện kinh tế - xã hội.
Các vùng núi cao và cao nguyên miền Trung không chỉ giới hạn ở ViệtNam, mà là một bộ phận không thể tách rời của vùng núi cao nguyên Trung –
Hạ Lào và Đông – Bắc Campuchia Cả ba vùng núi và cao nguyên này hợpthành một khối thống nhất
Có thể phân chia miền cao nguyên Trung bộ (Tây Nguyên) ra làm 4tiểu vùng như sau:
1 Khối núi đá bắc Tây Nguyên
Đây là một vùng có địa thế hiểm trở nhất trong khu vực miền núi vàcao nguyên Trung Bộ, gồm những đỉnh núi cao nhất vùng như đỉnh NgọcLinh (cao 2598 mét), đỉnh Mô Via (2338 m), đỉnh Ngọc Am (2251 m)… làvùng núi đá granit kết tinh nên giao thông rất khó khăn, do đó mà cư dân thưathớt Có học giả còn cho đây là vùng núi người Xơđăng sinh sống Nơi đâytập trung rất nhiều tài nguyên phong phú
2 Cao nguyên Pleiku và Kon Tum
Cao nguyên Pleiku kéo dài từ thượng nguồn sông Pô Cô và quốc lộ 19đến sông Đà Rằng Về phía Tây, có một nhánh của sông Đà Rằng là sôngAyun, với các vết tích của núi lửa còn được bảo tồn nguyên vẹn (núi HàmRồng ở Pleiku), cùng với hệ thống các hồ trên miệng núi lửa Đây là khu vựcchia nước quan trọng nhất cho các dòng sông chảy về phía biển Đông và vềphía sông Mê Kông Lớp đất bazan bị phong hóa thành đất đỏ phủ kín diệntích rộng, tạo thành một vùng đất lớn màu mỡ
Phía đông có một loạt dãy núi chạy song song với bờ biển, ở độ caotương đối từ 1200 đến 1700 m, trong đó Cu Drang và núi Tiếc, nằm giữa consông Ba và biển lại là ba dãy núi thấp dần về phía đồng bằng Cao nhất làngọn núi Cư Nhơn (sau này gọi là núi Phú Nhơn) Mặc dù bị án ngữ bởi 2 dãy
Trang 12đèo cao khoảng 300m là Măng Giang và An Khê, nhưng có địa hình thoaithoải dần, nên việc thông thương, trao đổi hàng hóa giữa miền xuôi và miềnnúi rất thuận lợi Vua Quang Trung thuở sinh thời có vợ người dân tộc Bana ở
An Khê và kết giao thân thiện với các tù trưởng người Xơđăng, cũng ở vùnggiáp ranh này
3 Cao nguyên Đắc Lắc
Cao nguyên Đắc Lắc nằm từ lưu vực sông Ayun đến vùng trũng hồ Lắktạo nên Mặc dù là một nhánh sông Đà Rằng, nhưng con sông Ayun là sôngduy nhất chảy xuyên đến tận sườn phía Tây của dãy Trường Sơn, tạo nên mộtvùng cao nguyên trẻ gồm những bình nguyên ở độ cao 400 – 500 m so vớimặt biển, đôi chỗ có địa hình lượn sóng Đây là một cao nguyên có bề dày bởiđất bazan, tạo nên một miền đất vô cùng phì nhiêu
Phía Nam cao nguyên Đắc Lắc có một vùng trũng hình thành từ phù sacủa những con sông Krông Knô, Krông Ana, với một bề mặt hết sức bằngphẳng Chính vì vậy mà các con sông khó thoát, loang ra thành một một hệthống các hồ khá lớn như các hồ Yok Dania, hồ Ea Rbin, hồ Lắk, hồChoăik… tạo nên một vùng đồng bằng màu mỡ trên một bình độ khá cao sovới mặt biển Do đó, một số tộc người ở vùng này đã biết khai thác ruộngnước, như ở vùng quang hồ Lắk, đôi bờ sông Krông Ana
Một số dãy núi nằm trong địa hình cao nguyên Đắc Lắc như Cư YangSin, Dlie Ya… và chính cao nguyên này, cũng thấp dần về phía Tây, ở sátvùng biên giới Lào - Campuchia có nơi độ cao chỉ còn 200 m Do vậy mà cómột số con sông đổ về phía sông Mê Kông, như sông Sê San, sông Serepok.Nằm trong khu vực này có khu bảo tồn thiên nhiên rộng nhất nước ta:Yook Đôn
4 Cao nguyên Lâm Đồng – Di Linh là một khối kéo dài mang hình chữnhật từ phía Đông Campuchia xuống đến giáp miền Đông Nam Bộ, cao trung
Trang 13bình 1500m Sườn phía Nam của cao nguyên Di Linh khá dốc Địa hình ở đâygồm nhiều đồi tròn do chịu tác động của một quá trình rửa tràn ở trên mặt.
Bề mặt cao nguyên Lâm Đồng được bao phủ bởi một lớp phù sa củanhững con sông uốn khúc, có nhiều dãy núi cao ngăn cách với bờ biển, trong
đó có 2 dãy núi song song, dãy thứ nhất có các đỉnh Cư Dang Sin (2405m),đỉnh Yan Bông (1749m) Dãy thứ 2 có núi Đan Sê Na (1950m) và núi LangBian (2163m) Địa hình này hình thành nên khu bảo tồn thiên nhiên Cư DangSin và Nam Ka Phía đông có một dãy núi khác chạy theo hướng bắc - nam,gồm một số đỉnh núi như: Yang Riết (1751m), Bi Đúp (2287m)… chỉ có mộttrục giao thông chính nối với bờ biển miền trung là quốc lộ 2 từ Phan Rang đilên, qua đèo Ngoạn Mục
Cao nguyên Di Linh thấp hơn cao nguyên Đà Lạt, nhưng vẫn còn ở độcao 1000m để tạo nên một dạng địa hình khá phẳng và rộng, phát sinh từ sựxâm thực của cao nguyên Lâm Đồng mà ra Bề mặt cao nguyên Di Linh đượcbao phủ một lớp đất bazan dày, đã biến thành đất đỏ, phía tây có 2 caonguyên ở khu vực ba biên giới, lấy tên gọi của 2 tộc người cư trú tập trungđông trong vùng này là cao nguyên Mnông và cao nguyên Mạ… Phía bắc caokhoảng 600m, thấp dần về nam, chỉ còn chừng 500m Trừ một số khu vựcphía đông cao nguyên Mnông cấu tạo bởi đá phiến và đá cát (như vùng BùĐăng) vẫn là đất đỏ bazan Trên cao nguyên này, nổi lên một số đỉnh núi chạytheo hướng tây – đông, như núi Bu Kar (900m), núi Nâm Jer Bri (1700m)
Bởi là vùng đất cao và phẳng, với dãy núi Trường Sơn như là sườn củacao nguyên miền tây đổ dốc đứng xuống miền ven biển miền trung nhỏ hẹp,nên chỉ ở miền núi Tây Nguyên mới có nhiều mặt bằng rộng rãi, như nhữngđồng bằng cao, lượn sóng thoai thoải, thuận lợi cho việc canh tác
Do cấu tạo của địa hình, nên mặc dù là vùng khí hậu nhiệt đới ẩm,nhưng không đồng nhất các vùng Ví dụ: Krong Pa (Gia Lai), thường chỉ có
Trang 14mưa trong 3 tháng còn các vùng khác mùa mưa kéo dài từ 4 đến 6 tháng trongnăm, chiếm 50% lượng mưa cả nước, khiến không khí có độ ẩm lớn Mùa khôkéo dài đến khoảng 5-6 tháng trong năm, làm cho nước trên bề mặt khô cạn.Nhiệt độ ở Tây Nguyên bao giờ cũng thấp hơn đồng bằng từ 3-5oC Vùng ĐàLạt, với độ cao 1500m, nhiệt độ càng thấp hơn.
Hệ thống sông trên cao nguyên miền tây ít đều thuộc lưu vực sông MêKông, như Krông Pô Cô ở Kon Tum chảy vào sông Sê San, sông Ea Hleo,Krông Nô, Krông Ana (Đắc Lắc và Đắc Nông) chảy vào sông Serepok, đều
đổ về hướng tây, vào sông Mê Kông Do độ dốc và địa hình hiểm trở mà tạonên nhiều ghềnh thác Các con sông này khác với các sông Yaun, sông Ba(Gia Lai), đều ngắn và chảy vào sông Đà Rằng, đổ ra lưu vực biển Đông.Lượng nước trên các sông này đều thất thường, mùa khô rất cạn, thậm chí cóthể lội qua được, nhưng mùa mưa, nhất là 2 tháng 10 và 11 nước lớn có thểgây lũ lụt
Đất đai Tây Nguyên có nhiều loại, nhưng chiếm diện tích lớn nhất làđất đỏ bazan (chiếm 25% diện tích toàn Tây Nguyên), do đó rất phì nhiêu.Tuy nhiên, do thiếu nước nên mùa khô canh tác cũng khó khăn Trước giảiphóng đã có công trình thủy điện và hồ chứa nước Đa Nhim Sau này đấtnước thống nhất, nhiều công trình thủy điện, thủy lợi đã tạo nên nguồn nướcgiúp cho việc canh tác nông nghiệp và đời sống kinh tế Tây Nguyên pháttriển, như các công trình thủy điện: Ya Ly (Gia Lai), Drai Hlinh (Đắc Lắc)cũng góp phần tạo nên sự thay đổi điều kiện tự nhiên ở Tây Nguyên
Rừng Tây Nguyên chủ yếu là rừng khô, thưa, với nhiều chủng loại câyquý hiếm, như cẩm lai, giáng hương, gụ,v.v Nhưng tùy theo sự thay đổi củathành phần đất đai, mà tập trung các loại cây khác nhau Ví dụ: ở vùng vensông, khí hậu ẩm ướt có những loại cây thuộc rừng nhiệt đới ẩm Những vùngđất đỏ bazan cây cao thân lớn: bằng lăng, muồng, sao… ở những vùng đất
Trang 15xám, thường có loại cây mọc sần sùi, cong queo, như các loại ca chit, vênvên Những khu vực khô hạn nhiều, điển hình là rừng sa van và sa van cỏtranh (như vùng đồng cỏ M’Drak của Đắc Lắc )… tại vùng Đà Lạt lại thuầngiống thông ba lá Vùng Kon Ha Nừng, núi Chúa (Gia Lai) còn nhiều rừngnguyên sinh thuộc loại nhiệt đới ẩm.
Do điều kiện tự nhiên trên, nên đất đai Tây nguyên tuận tiện cho việcphát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su Bên cạch đó, một sốcây như bông vải, chè, ca cao, bắp lai và các loại đậu đỗ cũng đang đượctrồng trên diện rộng Những năm gần đây còn phát triển mạnh các loại cây ăntrái Ngoài canh tác lúa rẫy theo truyền thống từ lâu đời, nhờ lợi dụng địa hìnhđất dốc, các dân tộc Tây Nguyên đã bắt đầu học thâm canh cây lúa ruộng, ápdụng khoa học kĩ thuật để nâng cao năng suất Phát huy thế mạnh của cácđồng cỏ sa van, nghề chăn nuôi đại gia súc phát triển Cá biệt còn có vùng cónghề truyền thống săn bắt và thuần dưỡng cũng như buôn bán voi tại các vùngBuôn Đôn, Ea H’Leo, Krong Nô (Đắc Lắc ), Nhơn Hòa (Gia Lai)… Đó lànghề đặc biệt chỉ có ở Tây Nguyên
Các tài nguyên khoáng sản ở Tây Nguyên không nhiều, nhưng cũng cómột số như: mỏ bô xít, mỏ đá saphia ở Đắc Nông, quặng sắt ở Kon Tum
Trước giải phóng, Tây Nguyên thuộc vùng ít dân nhất trong các tỉnhphía Nam, đa số chỉ là các sắc tộc ít người bản địa, với thành phần 12 dân tộc.Ngày nay, do sự điều chuyển phân bổ lại dân cư của nhà nước để hình thànhcác vùng kinh tế, và làn sóng di cư tự do từ các tỉnh miền núi phía bắc, sốlượng dân cư của vùng này tăng rất nhiều lần cả theo cơ học và sinh học.Hiện có gần như đầy đủ 54 thành phần dân tộc trên khắp cả nước cư trú tạiTây Nguyên Tình trạng tăng vọt dân số khó kiểm soát này kéo theo sự tànphá rừng khốc liệt đã tạo nên nhiều biến động cơ bản về điều kiện tự nhiên ởTây Nguyên
Trang 161.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên
Công cụ dùng để phát rẫy rất đơn giản, gồm rìu, cuốc, phát cỏ Côngviệc thường tập trung từ đầu tháng 4 đến tháng 11 Ngoài lúa rẫy bà con còntrồng xen các cây như bầu, bắp, đậu, các loại rau, cà, ớt đủ loại lương thực,thực phẩm phục vụ cho bữa ăn gia đình
Ngoài lương thực, thực phẩm, bà con còn trồng các loại cây như bôngvải, thuốc lá, chè, cây ăn quả… thường vừa ăn, vừa là những mặt hàng dùng
để đổi chác qua lại với nhau để lấy những vật dụng cần thiết cho sinh hoạt giađình, thay cho hình thức mua bán theo tập quán tự cung tự cấp
Phương thức canh tác chủ yếu là phát, đốt, chọc, tỉa Để bảo vệ rẫy khỏichim thú, người ta thường làm những chiếc đàn T’rưng nước, mõ sáo Hàngloạt các hệ thống lễ hội với sản xuất và theo vòng một đời người theo tínngưỡng phụ thuộc vào qui trình canh tác Đây chính là một phần quan trọnghình thành nền “Văn minh nương rẫy” trong đời sống cộng đồng các cư dânmiền núi
Trang 17Do địa hình sông, hồ dày đặc nên cũng hình thành một số vùng canhtác lúa nước một vụ theo hình thức “ruộng chờ mưa”, bà con thường gọi là
“đất ô nà”, ví dụ: vùng quanh hồ Lắk, ven sông Sêrêpôk, Krông Ana, KrôngK’Nô (ở Đắc Lắc , Đắc Nông), ven sông Pô Cô, Đăk Bla (ở Kon Tum), vensông Ayun, Sông Ba (ở Gia Lai)
Sau giải phóng, nhờ sự quan tâm phát triển các công trình thủy lợi củaĐảng và Nhà nước, việc trồng lúa nước 2 vụ, các loại cây nông nghiệp ngắnngày (bông vải, bắp lai, đậu cao sản…) với kỹ thuật gieo trồng và các loạigiống mới có năng suất cao, song song với việc phát triển các loại cây côngnghiệp dài ngày (cau su, cà phê, chè…) đã biến đổi hẳn phương thức sản xuất
ở toàn bộ vùng Tây Nguyên
Sự phân công lao động
Trong đời sống lao động cổ xưa của vùng miền núi Trường Sơn đã có
sự phân công lao động theo giới tính Ví dụ: phụ nữ thường thích hợp vớicông việc hái lượm, đàn ông thường được lãnh việc săn bắn, thu nhặt lâm sản.Một số khác hành nghề trông coi tín ngưỡng, chữa bệnh, dựng và sửa chữanhà cửa, cồng chiêng…Mỗi dân tộc Tây Nguyên đều có một số nghề thủ côngnhất định phục vụ đời sống tự cung tự cấp như nghề rèn khá nổi tiếng củangười Xơđăng; nghề làm gốm của người Mnông; nghề đan lát, chạm khắc củangười Bana; nghề dệt thổ cẩm của hầu hết các dân tộc… Tuy nhiên, do sựđơn giản của phương pháp chế tác, nên vẫn không đủ sức phục vụ nhu cầu “tựcấp” Hơn nữa, mỗi vùng còn có một lượng sản vật nông lâm nghiệp dư thừa,lại có nhu cầu thiết yếu về những mặt hàng nơi mình không sản xuất được, tấtyếu dần dần hình thành một bộ phận thương nhân chuyên đi đổi chác các loạisản vật
Trong xã hội Tây Nguyên cổ xưa không xuất hiện hình thức chợ, màchỉ thông qua các thương lái, qua những người trung gian để thực hiện việc
Trang 18đổi chác các sản vật của rừng như ngà voi, nấm, mật ong, ong mây, chaicục…Lớp người này có thể là thương lái miền xuôi hay qua lại len lỏi đổichác ở các vùng Nhưng cũng có thể là những thương đoàn của chính ngườiTây Nguyên, sau mùa thu hoạch, các làng tự tổ chức những chuyến đem sảnvật của mình đến các vùng, đổi lấy những vật dụng cần thiết, đặc biệt là muối
và đồ sắt Thương đoàn sử dụng phương tiện vận chuyển là những bầy voirừng đã được thuần hóa, đi xuống đồng bằng, sang cả Lào, Campuchia
Mặc dù người Pháp xậy dựng nhiều đồn điền cao su, cà phê trên vùngđất Tây Nguyên, thu hút một số cư dân vào làm thuê, nhưng vẫn không tácđộng mấy đến phương thức tự cung tự cấp của đời sống các buôn làng Chỉ từsau năm 1975, nhất là trong giai đoạn thực thi chủ trương xây dựng và pháttriển “xã hội nghề rừng” của ngành lâm nghiệp, đã bước đầu hình thành cáckhu thị tứ, thị trấn và chợ Chợ chỉ được hình thành từ nhu cầu thiết yếu củabán – mua, khi có sản phẩm tham gia và kinh tế thị trường
Đặc biệt, từ khi Tây Nguyên chuyển đổi phát triển thành vùng cây côngnghiệp, thì môi trường kinh tế và phương thức sản xuất cổ xưa ở các vùng này
đã hoàn toàn bị phá vỡ
* Đặc điểm xã hội
Hai đặc tính cơ bản của xã hội Tây Nguyên là:
- Tổ chức xã hội duy nhất là làng (buôn, bon, kon, plei) và chỉ có làngtheo quan hệ huyết thống hoặc đồng tộc ràng buộc với nhau trên cơ sở luật tục
- Mang tính cộng đồng tập thể rất cao Chưa có sự phân hóa giai cấp
mà chỉ có sự chênh lệch giàu nghèo
Làng ở Tây Nguyên:
Người Êđê gọi là buônNgười Jarai gọi là bôn, plơiNgười Bana gọi là plei
Trang 19Người Xơđăng gọi là konNgười Mnông, Mạ, Cơho gọi là bonĐơn vị làng trong xã hội nguyên thủy Tây Nguyên còn có các Tringhoặc Kring, là sự tập hợp, cố kết của liên minh những nhóm địa phương, domột tù trưởng (mtao, mđrong, proong, pô chơ) nào đó lãnh đạo Họ là nhữngngười đầu làng (hầu hết là con cháu trong một dòng tộc), nên lãnh tráchnhiệm chỉ huy công việc sản xuất, gây thanh thế với các bộ tộc khác, bảo vệcộng đồng… Những người này được hưởng một số quyền lợi nhất định vàdần dần bị phân hóa thành tầng lớp thống trị sau những cuộc tranh chấp đấtđai giữa các bộ tộc.
Vào khoảng thế kỷ XVI – XVIII, người ta thường hay nói đến lịch sửTây Nguyên với những “Vương quốc” của Vua lửa (Hỏa Xá), Vua nước(Thủy Xá), Vương quốc Xơđăng hay Vương quốc Mạ… Nhưng thực ra đó làsắc phong mang tính phiên quốc của triều đình nhà Nguyễn để lừa mị hơn làkhái niệm hành chính Bởi, Vua ở đây là những “ông vua” thần quyền trongcộng đồng người Jarai ở lưu vực sông Ba, sông Ayun, chứ không phải baotrùm cả Tây Nguyên Vương quốc Mạ cho đến nay vẫn chỉ là một khái niệm
mơ hồ, chưa có sự kiểm chứng Riêng “Vương quốc Xơđăng” là ý tưởngphiêu lưu của người Đức Mayuena mà thôi
Tổ chức gia đình trong mỗi tộc người Tây Nguyên có khác nhau
- Theo mẫu hệ, như các dân tộc: Êđê, Jarai, Cơho, Churu…
- Theo song hệ, như các dân tộc: Mnông, Xơđăng, Giẻ-Triêng
- Theo phụ hệ, như các dân tộc: Bana, Hrê, Cơtu, Mạ, Xtiêng…
Quy mô mỗi gia đình cũng khác nhau Có những gia đình lớn đông tớivài trăm thành viên Những gia đình nhỏ chỉ có từ năm đến bảy người Họ đềusống tập trung trong những nhà sàn hoặc nhà trệt dài mang tính một làng quần
cư Tinh thần cộng đồng và tư tưởng bình quân là đặc trưng cơ bản của xã hội
Trang 20Tây Nguyên Quyền lợi chung bao giờ cũng được tôn trọng Sự chia sẻ cả vềvật chất lẫn tinh thần quán xuyến toàn bộ sinh hoạt.
Cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp chinh phục Tây Nguyên, chínhsách “Chia để trị” đã làm xuất hiện giai cấp bốc lột, thống trị đúng nghĩa Đó
là một số những thủ lĩnh bản địa, với những quyền lợi vật chất của chính quyềnbảo hộ, đã tình nguyện làm tay sai cho thực dân Pháp Bên cạnh đó, có những
vị tù trưởng vẫn quyết tâm chống lại sự xâm lăng của chính quyền thực đân.Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân các dântộc Tây Nguyên trong quá trình đi theo Đảng đã giác ngộ thêm ý thức quốcgia và khẳng định mình là một thành viên trong cộng đồng các dân tộc củanước Việt Nam Đi theo đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam xã hộichủ nghĩa, Tây Nguyên đang ngày càng trở thành một khu vực phồn vinh vềkinh tế, văn minh về đời sống
1.1.2 Khái quát về sử thi và sử thi Tây Nguyên
1.1.2.1 Quan niệm về sử thi của một số nhà triết học, nhà nghiên cứu trên thế giới và một số nhà nghiên cứu Việt Nam.
Nhà nghiên cứu Sử thi ở Việt Nam, Đỗ Hồng Kỳ cho rằng: “sử thi làmột hiện tượng đặc biệt trong kho tàng phônclo Những áng sử thi nhưMahabharata và Ramayana của Ấn Độ, Iliat - Ôđixê của Hy Lạp đã chiếmmột vị trí quan trọng trong nền văn hóa nhân loại Nhiều nhà khoa học xã hội
và nhân văn không ngừng tìm hiểu và trích dẫn các quyển “thánh thư” này ỞViệt Nam, những bản sử thi Êđê như Đam Săn, Xing Nhã, Đăm Di, sử thiMường như Đẻ đất đẻ nước đã gây được nhiều sự chú ý của nhiều nhà nghiêncứu trong và ngoài nước Việc nghiên cứu các tác phẩm sử thi này đã manglại những thông tin có giá trị không những cho ngành phônclo học mà cho cảcác ngành khoa học xã hội khác như Dân tộc học, Khảo cổ học, Ngôn ngữhọc, ”[31, tr.174]
Trang 21Về thuật ngữ “sử thi”
Sử thi (thuật ngữ châu Âu: épos, épic) là khái niệm được tiếp nhận từcác nền học thuật chịu ảnh hưởng quan niệm văn học và mỹ học thuộc truyềnthống châu Âu dưới hai phạm vi rộng và hẹp: theo nghĩa rộng, thuật ngữ chỉmột thể loại tự sự, một trong ba loại thể văn học phân biệt với kịch và trữ tình
Ở phạm vi hẹp, hiện nay được dùng một cách tương đối phổ biến trong cácnền văn học dân tộc nói chung, thuật ngữ chỉ thể loại sử thi anh hùng
Trong nghĩa hẹp, chuyên biệt và có cách hiểu tương đối phổ quát, sử thichỉ một hoặc một nhóm thể loại trong tự sự, đó là sử thi anh hùng, tức nhữngthiên tự sự kể về quá khứ anh hùng, là bức tranh rộng và hoàn chỉnh về đờisống nhân dân và về những anh hùng, dũng sĩ, tiêu biểu cho một thế giới sửthi Sử thi anh hùng tồn tại dưới cả dạng truyền miệng và dạng văn bản thànhvăn Phần lớn những bản chép các thiên sử thi anh hùng tiêu biểu đều có ngọnnguồn dân gian và bản thân các đặc điểm của thể loại cũng hình thành ở cấp
độ dân gian
Cái đẹp đặc trưng của sử thi anh hùng được biểu lộ trong tính hài hòariêng của nó, vốn gắn với các quan hệ xã hội chưa trưởng thành Điều nàyđược Các Mác nhấn mạnh khi ông xếp sử thi vào thời đại trước khi bắt đầu cósản xuất nghệ thuật thực thụ, đồng thời cho rằng sử thi ở dạng cổ điển làmthành một thời đại trong lịch sử văn hóa
Từ thế kỷ IV trước Công nguyên, Arixtôt (384 - 322 TCN), nhà triết
học lỗi lạc của Hy Lạp cổ đại, trong tác phẩm nổi tiếng “Nghệ thuật thơ ca”
đã đưa ra những ý kiến có tính chất kinh điển về sử thi Arixtôt chia sử thithành các loại: Sử thi đơn giản, Sử thi phức tạp, Sử thi miêu tả tính cách và
Sử thi bi tráng Công lao của Arixtôt đối với việc nghiên cứu tác phẩm sử thi
là ở chỗ ông đã có những đề xuất mở đường cho việc tìm hiểu âm nhạc, hóa
Trang 22trang, cốt truyện, dung lượng phản ánh Tư tưởng của ông đã được nhiều nhànghiên cứu qua các thế hệ thừa nhận là đúng đắn và kế thừa.
Vào những năm 30 của thế kỷ XIX, với “Những bài giảng về Mỹ học Các nghệ thuật lãng mạn” Hêghen (1770 - 1831) đã có những đóng góp hết
-sức quan trọng cho lý luận sử thi Hêghen chia sử thi thành các loại:
1 Thơ đề trên mộ và thơ cách ngôn
2 Các trường ca giáo huấn, triết học Các trường ca về vũ trụ và thầnlinh
Hêghen gọi các loại thơ trên là những sử thi không trọn vẹn, vì chúngkhông miêu tả một nhà nước thật sự, cũng không miêu tả một biến cố cụ thểtrong lòng nhà nước ấy
3 Sử thi chính thức
Theo Hêghen, sử thi chính thức hay sử thi theo nghĩa đen là loại sử thi
có nội dung và hình thức thực sự, là “toàn bộ quan niệm về thế giới và cuộcsống dân tộc được trình bày dưới hình thức khách quan của những biến cốthực tại” [13, tr.573]
Là những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, C Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu các tác phẩm sử thi của các dân tộc và các thời đạikhác nhau trong mối liên hệ với các hoàn cảnh kinh tế, chính trị và xã hội củađời sống Hai ông đã có những nhận định giá trị chỉ dẫn cho công tác nghiêncứu lý luận sử thi
Theo C Mác, thần thoại Hy Lạp đóng một vai trò hết sức to lớn đối với
sự hình thành sử thi Hy Lạp cổ đại Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, chia sẻ với quan điểm của Mác,
Ăngghen đã lý giải và chứng minh một cách thuyết phục sự chuyển biến của
xã hội được phản ánh qua các tác phẩm thần thoại và sử thi Những quan điểm
Trang 23của C.Mác và Ph.Ăngghen về sử thi là những cơ sở lý luận quan trọng cho cácnhà nghiên cứu mácxít khi họ tiến hành nghiên cứu các tác phẩm sử thi.
Trong các công trình nghiên cứu, lý luận về sử thi ở Liên Xô cũ, đặc
biệt phải kể đến công trình “Nguồn gốc sử thi anh hùng” của E.M Mêlêtinxki
[trích theo 31, tr.178-179] Ở đây, cũng như nhiều nhà nghiên cứu Xô Viếtkhác, Mêlêtinxki quan niệm có hai loại sử thi: sử thi cổ sơ và sử thi cổ điển.Theo Mêlêtinxki, trong sử thi cổ sơ, các quan hệ xã hội được thông qua lăngkính quan hệ với thiên nhiên, kẻ thù của các nhân vật anh hùng thường là cácquái vật Nhiệm vụ của các nhân vật anh hùng là chiến đấu chống lũ quái vật,bảo vệ cộng đồng, chiến đấu để báo thù, để giành lại vợ hoặc những lợi íchvăn hóa Trong những tác phẩm sử thi cổ sơ, người tráng sĩ chiến đấu nhằm tự
vệ, báo thù cho bố hoặc anh em kết nghĩa, giành giật người vợ chưa cưới hoặcnhững lợi ích văn hóa Kẻ thù của người anh hùng trong sử thi cổ sơ thôngthường là bọn quỷ sứ, lũ khổng lồ, lũ quái vật thần thoại mà trong hình ảnh củachúng cũng như trong hình ảnh phônclo nguyên thủy, đã phản ánh tính hỗn hợpkhái niệm về sức mạnh thiên nhiên và về những kẻ thù lịch sử của bộ lạc
Về sử thi cổ điển, E.M Mêlêtinxki cho rằng những kẻ thù trong sử thi
cổ điển dần dần mất dáng vẻ thần thoại và có những đặc điểm của kẻ thù lịch
sử Nhân vật anh hùng không chống lại các thế lực siêu nhiên mà chống lạinhững con người cụ thể trong xã hội
Nhiều nhà khoa học, trước hết là các nhà nghiên cứu văn học, văn hóadân gian, kể cả những nhà văn, nhà triết học, và đặc biệt là những nhà lý luậnkinh điển chủ nghĩa Mác như Mác và Ăngghen, đã nêu lên các thuộc tính của
sử thi, nhấn mạnh thuộc tính này hay thuộc tính khác tùy theo mục đích củaviệc nghiên cứu
Sử thi trước hết là một tác phẩm tự sự dài hơi thuộc phạm trù văn họcnghệ thuật Nó có liên quan đến các phạm vi khác như phong tục, tập quán,
Trang 24lịch sử, địa lý nhưng không phải là những tư liệu hoàn toàn chính xác giốngnhư sử học, dân tộc học, xã hội học Sử thi cũng không thuộc về văn học nghệthuật chuyên nghiệp bác học mà thuộc về văn hóa dân gian, là cái mà Mác gọi
là “nghệ thuật chưa bắt đầu với tư cách là sáng tác nghệ thuật”
Trong môi trường văn hóa dân gian, sử thi là một tác phẩm văn họcnghệ thuật tổng hợp Nó thu hút hầu hết các giá trị văn hóa, nghệ thuật vốn cócủa dân tộc như: thơ ca, thần thoại, truyền thuyết, âm nhạc, diễn xướng đểchuyển hóa thành một tác phẩm tự sự bằng văn vần dài hơi, lấy các nhân vậtanh hùng làm trung tâm nhằm diễn đạt đề tài, chủ đề của tác phẩm và tưtưởng của cộng đồng
Đề tài trung tâm của sử thi là những vấn đề lớn liên quan đến toàn cộngđồng, là sự chuyển biến của một thời kỳ lịch sử trong đó có những sự kiện lớnảnh hưởng đến toàn cộng đồng và có khi đến cả loài người Lịch sử - xã hộiđược thâu tóm lại và hình tượng hóa bằng nhân vật anh hùng, trung tâm của
là cội nguồn, là nền tảng ban đầu của đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệthuật của sử thi
Ở nước ta, từ những năm đầu của thập kỷ 70 trở lại đây, thuật ngữ sửthi mới được một số nhà nghiên cứu dùng để chỉ các tác phẩm như Đam Xăn,
Trang 25Xing Nhã, Đăm Di Trước đó phần lớn các nhà nghiên cứu, giảng dạy đềugọi các tác phẩm này và các tác phẩm cùng loại là trường ca, anh hùng ca.
Các loại hình
Sử thi anh hùng dân gian
thần thoại kể về những bậc thủy tổ - những anh hùng văn hóa, về các tíchtruyện dũng sĩ; xa xưa hơn nữa là các truyền thuyết lịch sử, các bài tụng ca.Nảy sinh vào thời đại tan rã của chế độ công hữu nguyên thủy và phát triểntrong xã hội cổ đại, phong kiến, nơi còn bảo lưu từng phần các quan hệ giatrưởng, sử thi anh hùng ảnh hưởng của các quan hệ và quan niệm ấy, đã miêu
tả về quan hệ xã hội như quan hệ dòng máu, tông tộc với tất cả các chuẩn mựcluật lệ, tập tục
Ở dạng cổ xưa nhất của sử thi, tính anh hùng còn hiện diện trong vỏbọc thần thoại hoang đường (các dũng sĩ không chỉ có sức mạnh chiến đấu màcòn có năng lực siêu nhiên, ma thuật, kẻ địch thì luôn hiện diện dưới dạngquái vật giả tưởng) Những đề tài chính được sử thi cổ xưa miêu tả: chiến đấuchống quái vật (cứu người đẹp và dân làng), người anh hùng đi hỏi vợ, sự trảthù của dòng họ
Sử thi cổ điển
Các dạng cổ điển của sử thi có nhân vật thường là các dũng sĩ kiêm thủlĩnh và các chiến binh đại diện cho dân tộc ở tầm lịch sử; các kẻ thù của họthường được đồng nhất với bọn xâm lược, những kẻ áp bức, ngoại bang và dịgiáo (như người Turk, người Tarta với sử thi Slave) Thời gian sử thi ở đâykhác với sử thi dân gian, không còn là thời đại sáng chế các thần thoại, mà làquá khứ vinh quang trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc Được ca ngợitrong các dạng sử thi cổ điển là các nhân vật và biến cố lịch sử (hoặc ngụylịch sử), mặc dù bản thân sự miêu tả các chất liệu lịch sử bị phụ thuộc vào sơ
Trang 26đồ cốt truyện truyền thống, đôi khi còn sử dụng cả mô hình nghi lễ thần thoại.Các nền của sử thi thường là những cuộc đấu tranh của hai bộ lạc hoặc bộ tộc,sắc tộc ít nhiều tương ứng với sự thật lịch sử (như cuộc chiến Troia trongIliade, việc tranh đoạt Sampo trong Kalévala) Quyền lực được tập trungtrong các nhân vật trung tâm có hành động tích cực là các ông vua của thếgiới sử thi (như Charles đại đế trong Bài ca chàng Rôlăng), hay các dũng sĩ.Các nhân vật nổi loạn, cách mạng xung đột với quyền lực (Akhillos trongIliade, Đam Xăn trong khan Êđê, Robin Hud trong thiên ballade của Anh, cácnhân vật trong Thủy hử ở Trung Hoa) xuất hiện ít ỏi trong giai đoạn tan rãhình thức cổ điển của sử thi anh hùng.
1.1.2.2 Sự phân bố vùng sử thi, trường ca ở Tây Nguyên
Có thể nói mà không sợ quá lời rằng không ở đâu trên đất nước ViệtNam có một vùng đậm đặc như thế về hình thức diễn tấu văn chương truyềnmiệng dài hơi như ở khu vực Tây Nguyên – Trường Sơn
Trang 27Những vùng có bề dày của trường ca Êđê ở tỉnh Đắc Lắc là khu vựccác huyện Cư M’gar, M’Drăk, Ea H’Leo, Krông Buk, Krông Ana.
Ôt n’trông của người Mnông tập trung ở các huyện: Đăk Rlâp, ĐăkNông, Đăk Min… của tỉnh Đăk Nông; vùng An Khê, Đức Cơ, Cư Prông, ĐăkĐoa, Măng Giang… của tỉnh Gia Lai
Thị xã Kon Tum là nơi tập trung các h’amon của người Bana và BanaRngao
Tại các huyện Ayun Pa, Krông Pa, Cư Pah của tỉnh Gia Lai, là nơi tậptrung dày đặc các hri của người Jrai
Sử thi, trường ca Xơđăng (tói kia rnghia) xuất hiện ở các huyện Đăk
Tô, Đăk Hà, thị xã Kon Tum của tỉnh Kon Tum, huyện Krông Pak của tỉnhĐắc Lắc
Tại các huyện Vân Canh, Tây Sơn của tỉnh Bình Định có trường ca củangười Bana Kriem Ở các huyện Sông Hinh, Đồng Xuân của tỉnh Phú Yêncũng đều tìm thấy trường ca, sử thi của người Bana Chăm
Vùng Khánh Sơn thuộc tỉnh Khánh Hòa là quê hương của những bảntrường ca akha jui car của tộc người Raglai
Ở vùng miền núi Ninh Thuận, Bình Thuận có các thi tập akhan ghi trên
lá buông của người Chăm… hiện cũng đang được các nhà sưu tầm tiếp tụctìm kiếm
Các nghệ nhân người Cơho cho biết thuở xa xưa tộc người này cũng cócác hình thức hát – kể chuyện dài, gọi là jang jau, pro jau… nhưng ngày nay,thật đáng tiếc, đã không còn ai biết diễn tấu nữa
1.1.2.3 Hệ thống các trường ca, sử thi Tây Nguyên
Là sản phẩm đích thực của nền văn minh nương rẫy, trường ca thường
là những câu chuyện kể dài, có vần, có điệu, thậm chí có vùng còn được diễn
tả hoặc minh họa bằng động tác, bằng hành động Độ dài ngắn của trường ca
Trang 28cũng khác nhau Có bản chỉ kể một hai đêm, nhưng có bản kể bốn, năm ngàychưa hết (tùy theo sức tưởng tượng phong phú, hoặc trạng thái thăng hoa củangười kể) Trường ca thường chỉ kết thúc khi người anh hùng hoặc nhân vậttrung tâm đã đạt được một mục đích nào đó Đặt biệt, các trường ca của tộcngười Mnông (ôt n’trông) thường có độ dài gấp đôi trường ca của các tộc
người khác Nếu so sánh với những truyện thơ dài như: Đẻ đất đẻ người, Hùy Nga – Hai Mối của người Mường, Xống chụ xôn xao của người Thái… hoặc
so với cả các trường ca Ramayana của Ấn Độ, hay Iliat – Ôđixê của Hy Lạp
thì các trường ca, sử thi Tây Nguyên có bản hơn gấp mấy lần cả về số lượng,
độ dài hơi của tác phẩm lẫn số lượng nhân vật xuất hiện trong câu chuyện.Theo tư liệu đã công bố của các nhà sưu tầm, ở Tây Nguyên hiện đã có các sửthi, trường ca sau đây được biết đến:
1 Khan của người Êđê ở tỉnh Đắc Lắc :
- Đam Xăn (hai bản của Sabechie và Ywang Mlô Duôn Du)
- Đam Xăn thời thơ ấu
Trang 293 H’amon của người Bana ở Gia Lai:
4 H’amon của người Bana Rngao ở Kon Tum:
- Đăm Dư lạc lối
- Hai anh em mồ côi
- Hrít cứu nàng Bia Rang Hu
- Gyông Gyỡ đánh đại bàng
5 H’amon của người Bana Chăm ở Phú Yên:
- Xing Chion
- Anh em Chi Blơng
- Tiếng cồng nàng H’Bia Lơ Đá
- Xing Chơ Nhiếp…
6 Ôt n’trông của người Mnông ở Đăk Lăk:
- Cây nêu thần
- Mùa rẫy bon Tiăng
- Truyền thuyết núi Nâm Nung
- Bông – Rông và Tiăng
- Ndu thăm Tiăng
- Chàng Lêng
v.v
Ngoài ra còn có các sử thi, trường ca khác của người Xơđăng, akha củangười Chăm, akha jur car của người Raglai nhưng chưa hệ thống hết
Trang 30Trường ca Tây Nguyên ở khía cạnh nào đó, được coi như là những biênniên sử về quá trình hình thành và phát triển kinh tế, xã hội và cuộc sống cộngđồng của cư dân các dân tộc trên dãy Trường Sơn Vì vậy, nó mang trongmình tính sử thi Nhưng nếu gọi toàn bộ trường ca Tây Nguyên là sử thi thì có
lẽ chưa hoàn toàn chính xác, vì vậy nên tách trường ca Tây Nguyên ra làm hai
hệ thống:
a) Hệ thống những trường ca mang tính sử thi:
Những trường ca Tây Nguyên mang tính sử thi thể hiện trong mìnhkhông chỉ sự hình thành trời đất, con người mang yếu tố thần thoại, mà còn cảquá trình hình thành và phát triển của lịch sử xã hội, phản ánh rõ nét phongtục, tập quán của các dân tộc Tây Nguyên, tạo nên một bức tranh toàn cảnh
sinh động, lời tự thuật của mỗi tộc người về chính mình, như: Đam Xăn, Khinh Dũ, H’Bia Jâo, Đăm Di đi săn… của người Êđê; Gyông nghèo tám vợ, Đăm Noi, Xing Chion, Xing Chơ Nhiếp… của người Bana; Xinh Nhã, Đăm Phu, H’Bia Drang của người Jrai; hệ thống những sử thi của người Mnông như: Mùa rẫy bon Tiăng, Cây nêu thần…
b) Hệ thống các trường ca sinh hoạt:
Hệ thống các trường ca sinh hoạt gồm các truyện hát kể dài hoặc ngắndưới hình thức diễn xướng có giai điệu, có hoặc không có hình ảnh minh họa.Hình thức này chiếm ưu thế hơn trong thể loại trường ca Tây Nguyên, đặt biệt
là hệ thống trường ca Bana Nó chỉ đơn thuần là những câu chuyện dài, hát kể
về sinh hoạt đời thường, về tình yêu đôi lứa, về cuộc đấu trí giữa con ngườitrần gian với thần thánh, mà không phải lúc nào các vị thần cũng chiến thắng,
như trong các tác phẩm Gyông Dư, Xét và Rôk, Tre Vắt ghen ghét Giông… của người Bana; Đăm Kteh Mlan, Đam Xăn thời thơ ấu, Chàng M’Hiêng của
người Êđê
Trang 31Cả hai hệ thống này chỉ giống nhau ở cách thức lựa chọn và xây dựngcác hình tượng nhân vật: có thể là một người, nhưng cũng có thể gồm nhiềungười Đan xen quanh những nhân vật chính đó là cảnh sắc thiên nhiên vàsinh hoạt cộng đồng các dân tộc người Tây Nguyên Các trường ca đã thểhiện những ước mơ ngàn đời nay của chung tất cả những cư dân canh tác lúarẫy là mong mỏi có một cuộc sống bình an, không bị các thế lực xấu hãm hại,
có hạnh phúc lứa đôi và một thiên nhiên trù phú để tạo nên đời sống vật chấtcủa buôn, plei không chỉ dồi dào, no đủ, mà còn giàu có; tôn trọng những giátrị văn hóa truyền thống lâu đời của ông bà, tổ tiên
Điều đáng lưu ý là đồng bào Tây Nguyên phân biệt khá rõ trong cáchgọi của mình về các thể loại văn chương truyền miệng Ví dụ, người Êđê gọitrường ca (hát – kể) là klei khan (có vùng là akhan, khan), truyện cổ tích (kể)
là klei đưm và lời nói vần là klei duê, còn luật tục là klei bhian kdi Trongtiếng Xơđăng: Toi kiă là kể, toi kia rnghia là hát – kể Do đó, rất cần nhữngcông trình nghiên cứu thấu đáo hơn nữa về ngôn ngữ của các tộc người đã sảnsinh ra một trong những hình thức văn chương truyền miệng độc đáo như thế
1.1.2.4 Nội dung các trường ca, sử thi Tây Nguyên
Nội dung các trường ca thường rất đa dạng và phong phú Thông quavai trò diễn xướng của nghệ nhân, người nghe có thể hiểu sự ra đời của conngười (“Hòn đá đẻ ra một trăm con người Dòng thác sinh ra một nghìn conngười” – trường ca Mnông); sự hình thành trời và đất (“Một nắm đất Rongđắp núi Nâm Birh, kéo cây Nrông hóa thành con sông” – trường ca ngườiÊđê, Jrai; phụ hệ trong dân tộc Bana; quần hôn trong người Mnông; tập quán:mua bán, đổi chác, canh tác nương rẫy, săn thú trong rừng, bắt cá dưới suối,cưới xin, ma chay…; phong cách đối nhân xử thế, tính cộng đồng, khát vọngchống kẻ thù, gìn giữ, xây dựng và bảo vệ buôn, plei giàu có, vững mạnh Đặcbiệt, khát vọng tự do hôn nhân, tình yêu đôi lứa thủy chung v.v thì trong hầu
Trang 32hết các tác phẩm đều được phản ánh rõ rệt Các trường ca thường nghiêng vềkết thúc có hậu bằng sự chiến đấu hoặc trở nên giàu có, hùng mạnh của cácnhân vật trung tâm Gần đây, một số trường ca sưu tầm được ở vùng đồng bàoBana Rngao quanh thị xã Kon Tum, xuất hiện môtip chuyện kết thúc không
có hậu, có sự trả thù giữa cha con, anh em, dòng họ… Tuy nhiên, nội dungnày không nhiều Tóm lại, quanh các trường ca, chúng ta có thể nhận biếtđược mọi thông tin về xã hội Tây Nguyên cổ xưa
Hầu hết các trường ca, sử thi thường là truyện dài kể về nhiều đời củamột hoặc nhiều gia đình, đan xen vào nhau, có liên quan đến nhau Thậm chí
số lượng nhân vật chính xuất hiện trong trường ca rất đông, lên tới vài chục.Các trường ca đa phần xoay quanh các chiến công của những người anh hùng,không chỉ để thắng kẻ ác, bảo vệ và giữ gìn sự yên vui của buôn làng, hạnhphúc của từng gia đình, như chàng Lêng (Mnông), Khinh Dũ (Êđê)… mà cònchống lại cả những thế lực nước ngoài, hoặc lực lượng siêu nhiên đen tối, nhưThác Leng Gung (Mnông), mở mang ảnh hưởng, làm tăng thêm sự hùngmạnh của bộ tộc bằng của cải hay nô lệ chiếm được sau những cuộc chiếntranh, như chàng Xing Mnga (Jrai); thậm chí còn cả gan chống lại sự khắtkhe, vô lý trong luật tục lạc hậu của cộng đồng, như Đam Xăn (Êđê) – chốnglại tục nối dây, mẫu quyền
Bên cạnh những nhân vật này còn nổi lên hình ảnh những người phụ nữkhông chỉ xinh đẹp, đảm đang mà còn dũng cảm bảo vệ tình yêu, như H’Bia
Lênh Long (Trường ca Xing Chion- dân tộc Bana) Trong tình yêu, họ thậm
chí còn can đảm hơn cả các chàng trai, dám vượt qua luật tục khắt khe củacộng đồng mình để được sống với người mình yêu, như H’Bia Linh Pang
(trong trường ca Dam Kteh Mlan – dân tộc Êđê), hay nàng Bia Rang Hu (trong trường ca Chàng Hrít – dân tộc Bana Rngao).
Trang 331.1.2.5 Sử thi Tây Nguyên trong đời sống văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
Sử thi đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống văn hóa củangười Tây Nguyên Những chiến công to lớn, tinh thần xả thân vì cộng đồngcủa những nhân vật anh hùng; cảnh sống sung túc, hòa bình; hình ảnh rất đẹpcủa những người phụ nữ tiêu biểu cho chế độ mẫu hệ Tây Nguyên hòa quyệntrong một thiên nhiên tươi đẹp và hào phóng, chính là hình ảnh lý tưởng, khátvọng vươn tới, là hình mẫu tôn thờ của cư dân vùng đất đỏ bazan Hình ảnhđẹp về người anh hùng, lý tưởng sống của người anh hùng, quan hệ của ngườianh hùng đối với cộng đồng là tấm gương cho bao thế hệ thanh niên đồng bàocác dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên học tập và noi theo
Gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng, Sử thi Tây Nguyên là sựphản ánh sâu sắc mọi khía cạnh của đời sống xã hội Tây Nguyên, từ conngười cho đến thiên nhiên, đến những đấng tối cao chi phối mọi mặt hoạtđộng của cuộc sống cộng đồng Đó không chỉ là môi trường sản sinh mà còntạo nên sự trường tồn, ban cho trường ca sức sống mạnh mẽ để truyền lại chođời sau Ở một khía cạnh nào đó, nó phản ánh rõ nét xã hội Tây Nguyên cổxưa Với những nội dung mang tính triết lý sâu sắc, phản ánh tư tưởng, quanđiểm của các dân tộc Tây Nguyên về những vấn đề của cuộc sống Chính cácquan niệm đó đã trở thành niềm tin, động lực giúp cho đồng bào các dân tộcTây Nguyên tồn tại và vươn lên trước bao điều kiện sống khắc nghiệt ở núirừng Tây Nguyên
Sử thi Tây Nguyên còn là một sinh hoạt văn hóa dân gian mang tínhtoàn cộng đồng, của đa số các dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên Chúngvượt qua tầm của những phương thức biểu cảm trong ngôn ngữ nói và hát,thường được thể hiện bằng những chuyện dài, xen kẽ giữa văn xuôi và vănvần, theo lối văn biền ngẫu Cùng với các giá trị văn hóa khác, sử thi Tây
Trang 34Nguyên đóng vai trò quan trọng trong kho tàng các giá trị văn hóa dân giantruyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, là bộ phận cấu thành vănhóa dân gian Tây Nguyên.
1.2 Khái lược về thế giới quan và nhân sinh quan
1.2.1 Thế giới quan
1.1.2.1 Khái niệm thế giới quan:
Thế giới quan là “quan niệm thành hệ thống về thế giới, về các hiện
tượng tự nhiên và xã hội” [48, tr.934]
“Thế giới quan là hệ thống những quan điểm của con người về thế giới
(toàn bộ sự vật và hiện tượng thuộc tự nhiên và xã hội, về vị trí con ngườitrong thế giới đó) và về những quy tắc xử sự do con người đề ra trong thựctiễn xã hội” [19, tr.203]
Có nhiều định nghĩa về thế giới quan, nhưng chung quy ta có thể hiểu
một cách khái quát nhất rằng, thế giới quan là toàn bộ những quan điểm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó.
Cấu trúc của một thế giới quan hoàn chỉnh là sự thống nhất giữa trithức và niềm tin, nghĩa là trong thế giới quan có sự hòa nhập giữa tri thức vàniềm tin Bằng tư duy, con người nhận thức thế giới hiện thực Những tri thức
mà con người có được là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan Tuynhiên, tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quan khi nó đã trở thành niềm tin củacon người thông qua sự thể nghiệm lâu dài của nó, nghĩa là thông qua sự thểnghiệm của thực tiễn và định hướng cho hoạt động của con người Điều đócũng có nghĩa rằng không phải bất kỳ tri thức nào mà con người chiếm lĩnhđược cũng đều trở thành thế giới quan, tri thức đó gia nhập thế giới quan khi
nó đã trở thành niềm tin giúp cho sự định hướng của con người trong quátrình hoạt động Song, không thể có thế giới quan đúng đắn khoa học được
Trang 35nếu như thế giới quan đó bắt nguồn từ niềm tin mù quáng, không có căn cứkhoa học
“Có thể ví thế giới quan như một “thấu kính”, qua đó người ta nhìnnhận, xét đoán mọi sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh cũng như tựxem xét chính mình và, điều quan trọng là, từ đó con người hay một cộngđồng người xác định thái độ hay cách thức hoạt động và sinh sống của riêngmình” [21, tr.39]
1.1.2.2 Các loại hình thế giới quan cơ bản
Có nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu về thế giới quan Nếu xét theoqúa trình phát triển thì có thể chia thế giới quan thành ba loại hình cơ bản: thếgiới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học
Thế giới quan thần thoại chính là toàn bộ phương thức cảm nhận, quan
niệm về thế giới của người nguyên thủy Ở thời kỳ này, do trình độ nhận thứckém, người nguyên thủy chưa giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên,trong xã hội cũng như các hiện tượng gây ra đối với chính bản thân conngười Do vậy, trong quan niệm về thế giới của người nguyên thủy có sự hòaquyện vào nhau giữa các yếu tố: tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiệnthực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người…
Thế giới quan tôn giáo là toàn bộ những quan điểm của các tín đồ tôn
giáo về vũ trụ, về thế giới, về con người… Qua đó thể hiện tri thức, niềm tincủa các tín đồ Trong thế giới quan tôn giáo, niềm tin tôn giáo đóng vai tròchủ yếu; tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thực, cái thần vượt trội cáingười…
Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế xã hội thời kỳ trung cổ ở xã hội Tây
Âu, thế giới quan tôn giáo giữ vai trò chủ đạo, thống trị xã hội Trong thời kỳnày, không chỉ có giai cấp phong kiến, quý tộc giữ vai trò thống trị mà cả giớităng lữ, giáo hội và nhà thờ đã thiết định được một sức mạnh chưa từng có
Trang 36của thần quyền có khả năng chi phối cả quyền lực chính trị Các tín điều củatôn giáo là những nguyên lý của giáo dục, là cơ sở của thế giới quan và nhânsinh quan cho mọi người Trong thế giới quan tôn giáo, đức tin tôn giáo làđiểm xuất phát cho mọi quan hệ với lý trí, người ta khẳng định trong sự tồntại của con người cần đức tin hơn lý trí…
Thế giới quan triết học là sự thể hiện những quan niệm của con người
đối với thế giới, những khẳng định vị trí, ý nghĩa của cuộc sống, của con người…
do các nhà triết học bằng trí thức và niềm tin của mình đã xây dựng nên
Khác với thế giới quan huyền thoại và thế giới quan tôn giáo, thế giớiquan triết học diễn tả quan niệm của con người dưới dạng hệ thống các phạmtrù, các quy luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thứcthế giới Với ý nghĩa như vậy, triết học được coi như đạt được trình độ tự giáctrong quá trình hình thành và phát triển của thế giới quan Nếu thế giới quanđược hình thành từ toàn bộ trí thức và kinh nghiệm sống của con người, trong
đó tri thức của các khoa học cụ thể là cơ sở trực tiếp trong sự hình thànhnhững quan niệm về từng mặt, từng bộ phận của thế giới thì triết học, vớiphương thức tư duy đặc thù, đã tạo nên hệ thống lý luận bao gồm những quanniệm chung nhất về thế giới với phương thức là một chỉnh thể Triết học là hạtnhân lý luận của thế giới quan; triết học giữ vai trò định hướng cho quá trìnhcủng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng ngườitrong lịch sử
Thế giới quan triết học cũng chia thành hai loại cơ bản trái ngược nhau
là thế giới quan duy vật (hay còn gọi là chủ nghĩa duy vật) và thế giới quanduy tâm (hay còn gọi là chủ nghĩa duy tâm) Vì quan niệm về thế giới, về conngười khác nhau, quan niệm về cuộc sống và vị trí của con người trong thếgiới trái ngược nhau, cho nên trong lịch sử đã và đang diễn ra cuộc đấu tranhkhông khoan nhượng giữa thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm
Trang 37Trong thế giới quan duy vật, dù dưới hình thức nào đi chăng nữa cũngthể hiện tính đúng đắn và khẳng định khả năng nhận thức thế giới của conngười Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết họcduy vật thời kỳ cổ đại, tuy những kết luận của nó mang nặng tính trực quan,còn rất nhiều hạn chế nhưng chủ nghĩa duy vật thời kỳ cổ đại về cơ bản làđúng vì nó đã lấy giới tự nhiên để giải thích về giới tự nhiên, không viện đếnthần linh hay thượng đế Như Ăngghen viết, “thế giới quan duy vật chỉ cónghĩa là sự hiểu biết về giới tự nhiên đúng y như nó đã biểu hiện ra, khôngthêm thắt cái gì ở ngoài vào” [24, tr.677] Còn chủ nghĩa duy vật siêu hình,tuy không phản ánh đúng hiện thực nhưng nó cũng đã góp phần không nhỏvào việc chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo…
Thế giới quan duy tâm cho rằng, ý thức, tinh thần là cái có trước và sảnsinh ra giới tự nhiên; như vậy bằng cách này hay cách khác nó đã thừa sựsáng tạo ra thế giới của một đấng siêu tự nhiên Về phương diện nhận thức,sai lầm của chủ nghĩa duy tâm là bắt nguồn từ cách xem xét phiến diện, tuyệtđối hóa, thần thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thứcmang tính biện chứng của con người Một phần thế giới quan duy tâm cónguồn gốc xã hội, do có sự tách rời lao động trí óc với lao động chân tay vàđịa vị thống trị của lao động trí óc đối với lao động chân đã tạo ra vai tròquyết định của nhân tố tinh thần Bắt nguồn từ những điều này nên thế giớiquan duy tâm không phải là những quan niệm đúng đắn về thế giới và về bảnthân con người
Trong sử thi Tây Nguyên, các quan niệm về thế giới tuy chưa thành hệthống nhưng thông qua các tác phẩm chúng ta có thể nhận thấy những quanniệm về thế giới như nguồn gốc của thế giới, quan hệ giữa con người với giới
tự nhiên, vị trí, vai trò của con người trong thế giới được thể hiện khá rõ nét
Trang 381.2.2 Nhân sinh quan
1.2.2.1 Khái niệm nhân sinh quan
Theo Từ điển Tiếng Việt thì nhân sinh là “cuộc sống của con người”[48, tr.711], còn nhân sinh quan là “quan niệm thành hệ thống về cuộc đời, về
ý nghĩa, mục đích cuộc sống của con người” [48, tr.711] “Nhân sinh quan là
bộ phận của thế giới quan (hiểu theo nghĩa rộng), gồm những quan niệm vềcuộc sống của con người: lẽ sống của con người là gì? mục đích, ý nghĩa, giátrị của cuộc sống của con người ra sao và sống thế nào cho xứng đáng?” [20,tr.235] Chúng tôi hoàn toàn tán thành các quan điểm trên đây và triển khainghiên cứu theo các nội dung đó
1.2.2.2 Các vấn đề về nhân sinh
Theo Lê Kiến Cầu - tác giả cuốn sách “Triết lý nhân sinh”, những vấn
đề thuộc về nhân sinh quan bao gồm: trách nhiệm, cuộc sống, hạnh phúc, lý tưởng, nhân đạo, nhân văn, thiện và ác,… Trong sử thi Tây Nguyên, các
khía cạnh nhân sinh được chúng tôi khai thác chủ yếu là triết lý sống, đạo làmngười, lý tưởng (thể hiện qua lý tưởng của người anh hùng), tính nhân đạo,tính cộng đồng (thể hiện qua trách nhiệm của người anh hùng đối với cộngđồng và mối quan hệ giữa cá nhân - người anh hùng với cộng đồng) Tổnghợp những quan điểm trên đây về thế giới quan, nhân sinh, nhân sinh quan làchỗ dựa lý luận để chúng tôi triển khai, phân tích về khía cạnh thế giới quan
và nhân sinh quan trong sử thi Tây Nguyên
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong môi trường văn hóa dân gian, sử thi là một tác phẩm văn họcnghệ thuật tổng hợp và “cái làm thành nội dung một tác phẩm sử thi khôngphải là một hành động rời rạc và võ đoán; cũng không phải là một biến cố
Trang 39ngẫu nhiên và tình cờ mà là một hành động trong đó các chi nhánh của nó gắnliền với cái toàn thể của thời đại và của đời sống dân tộc” [13, tr.583] Bởivậy, sử thi thu hút hầu hết các giá trị văn hóa nghệ thuật vốn có của dân tộcnhư thơ ca, thần thoại, truyền thuyết, âm nhạc, diễn xướng,v.v Sử thi TâyNguyên ở khía cạnh nào đó, được coi như là những biên niên sử về quá trìnhhình thành và phát triển kinh tế, xã hội và cuộc sống cộng đồng của cư dâncác dân tộc trên dãy Trường Sơn Sử thi Tây Nguyên cũng “bao gồm toàn bộnhững gì làm thành cuộc sống nên thơ của con người và còn có thể thêmvào đấy cả môi trường tự nhiên” [13, tr.621] Vì vậy, thông qua sự phản ánh
đó chúng ta có thể nắm bắt được các quan niệm của các dân tộc Tây Nguyên
về thế giới và về nhân sinh Theo nghĩa đó, chương 1 của luận văn là tiền đềcho sự tiếp tục triển khai ở chương 2
Trang 40Chương 2 NỘI DUNG THẾ GIỚI QUAN VÀ NHÂN SINH QUAN
TRONG SỬ THI TÂY NGUYÊN
2.1 Nội dung thế giới quan
Tác giả của bài viết “Một vài suy nghĩ về triết học Việt Nam và nhữngđặc điểm triết học của nó” đã viết: “Nếu như triết học phương Tây có khuynhhướng trội là đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan thì triết học Việt Namlại có khuynh hướng trội là đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan” [12,tr.58] Nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam, chúng ta dễ dàng nhận thấyvấn đề thế giới quan không được quan tâm nổi trội như nhân sinh quan Tuynhiên, điều đó không có nghĩa là người Việt Nam không quan tâm đến vấn đềnày Ngay trong những lớp truyện kể đầu tiên vào thời kỳ nguyên thủy, ngườiViệt cũng đã tìm cách lý giải thế giới tự nhiên tồn tại xung quanh mình tồn tạinhư thế nào và đã có cách giải thích riêng của mình thông qua hàng loạtnhững câu chuyện cổ tích, truyền thuyết Chính điều đó đã làm xuất hiệnnhững tư tưởng triết học mang tính chất duy vật và duy tâm, biện chứng vàsiêu hình, tuy nhiên đó mới chỉ là những quan điểm cụ thể về một vấn đề nào