Hiện nay, càng rất cần phải có cái nhìn khách quan, khoa học về họcthuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử, chỉ ra những hạn chế, tiêu cực của họcthuyết này, đồng thời cũng thấy được những ảnh h
Trang 1MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Xuân Thu - Chiến Quốc là thời kỳ quá độ từ xã hội chiếm hữu nô lệsang xã hội phong kiến ở Trung Hoa cổ đại Thời kỳ này diễn ra những biếnđộng về kinh tế dẫn đến sự đa dạng trong kết cấu giai tầng của xã hội Lúcnày xã hội Trung Quốc đang chuyển mình dữ dội, kinh tế phát triển, tầng lớpquốc dân xuất hiện, đặc biệt là sự ra đời của các thành thị tự do phồn vinh vànhững thành quả trên lĩnh vực khoa học tự nhiên, là nguồn động lực quantrọng cho sự phát triển có tính chất đột biến của tư tưởng thời kỳ này
Trong sự biến động của tư tưởng đó thì triết học Trung Quốc lại pháttriển rất rực rỡ và xuất hiện nhiều nhà tư tưởng vĩ đại Hầu hết họ đứng trênlập trường của giai cấp mình, tầng lớp mình mà phê phán xã hội cũ, xây dựng
xã hội tương lai và tranh luận, phê phán, đả kích lẫn nhau Lịch sử gọi đây làthời kỳ “Bách gia chư tử”, “Bách gia tranh minh” Đây là giai đoạn mở đầucho lịch sử tư tưởng Trung Quốc, nó có ngôn ngữ và ý nghĩa đặc biệt
Thời kỳ này đánh dấu sự ra đời của Nho giáo do Khổng Tử sáng lập,
mà Mạnh Tử được xem là bậc “Á thánh” của hệ tư tưởng này Mạnh Tử làmột trong những nhà tư tưởng lớn nhất, có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với xã hộiTrung Quốc lúc bấy giờ và cho đến cả ngày nay, đặc biệt là “học thuyết Nhânchính” của ông
Phạm trù “Nhân chính” của Mạnh Tử chứa đựng một nội dung rất lớn,
mà hầu như mọi cuốn sách về lịch sử triết học Trung Quốc đều đề cập đến.Phải nói rằng, loại trừ những yếu tố duy tâm thần bí thì phạm trù “Nhânchính” của Mạnh Tử chứa đựng nhiều yếu tố đạo đức tích cực, hướng conngười tới sự thống nhất chân - thiện - mỹ
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà trên lĩnh vực tư tưởng, sựnối tiếp giữa quá khứ và hiện tại, sự giao lưu giữa Đông và Tây trở nên cấpthiết Chính vì thế, việc đánh giá vai trò của Nho giáo nói chung, phạm trù
“Nhân chính” của Mạnh Tử nói riêng, trong lịch sử tư tưởng và ảnh hưởngcủa nó trong xã hội ngày nay có một ý nghĩa to lớn
Học thuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử ra đời ở thế kỷ thứ IV trướccông nguyên và được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ II trước côngnguyên cùng với sự xâm lược của nhà Nam Hán
Trang 2Trải qua hơn hai nghìn năm trên đất Việt, những đánh giá về Nho giáo,
về học thuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử
có khác nhau Sự đánh giá khác nhau biểu hiện ở sự đánh giá của những giaicấp, những tầng lớp khác nhau trong xã hội: có lúc nó được ngợi ca lên tậnmây xanh, nhưng lại có lúc nó bị hạ nhục đến ê chề Có lúc, xuất hiện nhữngquan điểm vừa phê phán vừa ca ngợi, vừa chỉ ra những mặt tích cực lẫn nhữngmặt tiêu cực của hệ tư tưởng này
Nho giáo vào Việt Nam từ rất sớm, nhưng phải đến cuối thế kỷ XIV nómới thực sự phát triển Từ cuối thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, Nho giáo là hệ tưtưởng thống trị ở Việt Nam, cho đến nay ít nhiều còn ảnh hưởng đến đời sống
xã hội và con người Việt Nam Chính vì lẽ đó, chúng ta cần phải có cách nhìnnhận, đánh giá khách quan về hệ tư tưởng Nho giáo nói chung, học thuyết
“Nhân chính” của Mạnh Tử nói riêng, chỉ ra những hạn chế, nhược điểm đểtránh mắc phải; vạch ra những điểm tích cực để tiếp thu, kế thừa nhằm phục
vụ thiết thực cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa
Nho giáo là một trong những hệ tư tưởng chủ đạo của dân tộc ViệtNam cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm đến với chủ nghĩa Mác-Lênin.Trong sự phát triển của đất nước, Nho giáo đã chi phối tương đối lớn đối vớiđời sống xã hội và con người Việt Nam Đặc biệt trên lĩnh vực chính trị, họcthuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử đóng vai trò quan trọng trong chính sáchcầm quyền của nhiều nhà lãnh đạo trong lịch sử Việt Nam
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, quan điểm đề cao vai trò quần chúngnhân dân, xem quần chúng nhân dân là yếu tố quyết định của lịch sử, đã đượcbiểu hiện xuyên suốt từ Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi đến Hồ Chí Minh.Đường lối chính trị của các nhà tư tưởng này dựa trên nền tảng nhân nghĩa,
“việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm của”, trên
cơ sở đó mà thực hiện công cuộc bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng quốcgia vững mạnh qua các thời kỳ lịch sử Việt Nam Đỉnh cao nhất của tư tưởngnày chính là quan điểm “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh và của Đảng ta,trên cơ sở lợi ích và nguyện vọng của quần chúng nhân dân để thực hiện đườnglối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội Đây chính là mộtnội dung rất có giá trị vẫn còn ý nghĩa trong thời đại hiện nay
Trang 3Ngày nay, Nho giáo ở Việt Nam đã trở thành quá khứ, nhưng nhữngmặt tích cực trong học thuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử vẫn được Đảng vàNhà nước ta chắt lọc kế thừa, bởi nó là sự biểu hiện tư tưởng “nhân nghĩa”trên lĩnh vực chính trị, thiên về đường lối chính trị - đức trị, giáo dục
Hiện nay, càng rất cần phải có cái nhìn khách quan, khoa học về họcthuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử, chỉ ra những hạn chế, tiêu cực của họcthuyết này, đồng thời cũng thấy được những ảnh hưởng tích cực, tiến bộ đốivới một số nhà tư tưởng tiêu biểu trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, và sự gópphần của nó trong xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh mangđậm tính nhân văn là việc làm rất cần thiết
Đó chính là lý do mà tác giả chọn đề tài luận văn thạc sĩ khoa học triết
học của mình là: “Học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử và sự ảnh hưởng đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XV”.
Đây là một đề tài khó và cho đến nay chưa có một tác giả nào đichuyên sâu vào nghiên cứu học thuyết “Nhân chính” về lĩnh vực này Do đó,mặc dù là học viên năm cuối sắp tốt nghiệp, nhưng tác giả thấy còn rất khókhăn Tuy nhiên, được sự giúp đỡ động viên của các thầy cô giáo và bạn bèđồng nghiệp, tác giả vẫn mạnh dạn chọn đề tài này với hy vọng hiểu biết thêm
về hệ tư tưởng Nho giáo và nhất là học thuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử, để
từ đó góp một phần nhỏ sự hiểu biết của mình vào việc nghiên cứu đề tài hấpdẫn có ý nghĩa này
II Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng có liên quan đến nội dung của đề tài,
đã có một số tác giả đề cập tới với những khía cạnh khác nhau
Nguyễn Đăng Duy (chủ biên) với “Nho giáo với văn hóa Việt Nam”,Nxb Hà Nội, 1998, mới nêu được ý kiến khẳng định Nho giáo là một thành tốcấu thành của lịch sử tư tưởng Việt Nam, nhưng vẫn chưa làm rõ được “họcthuyết Nhân chính” của Mạnh Tử, mà chỉ bàn ở khía cạnh đạo đức Nho giáovới văn hoá Việt Nam mà thôi
Cao Xuân Huy với “Tư tưởng Phương Đông - Gợi những điểm nhìntham chiếu”, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 1994, từ trang 465 đến 480 đãgợi ý rất đắt cho việc nghiên cứu học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử: Chế
độ chính trị lý tưởng; Chế độ kinh tế lý tưởng; Lương tri, lương năng; Tứ
Trang 4đoan; Giữ gìn lương tâm; Quả dục; Nuôi dạ khí; Bồi dưỡng khí hạo nhiên;Chữ trung và chữ quyền
Vũ Khiêu (chủ biên) với “Nho giáo xưa và nay”, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1990, các tác giả mới trình bày tổng quát về sự ra đời và phát triển,giá trị của Nho giáo trong xã hội ta ngày nay như: Nho giáo - sự ra đời vàphát triển; Hiện đại đối thoại với Nho giáo; Nho giáo và kinh tế; Khổng giáo
và gia đình; Nho giáo và văn học trung đại Việt Nam; Nho giáo và văn hoádân gian Việt Nam; Giá trị của Nho giáo trong xã hội ta ngày nay;…, màchưa bàn đến “học thuyết Nhân chính” của Mạnh Tử
Phùng Quý Sơn, Trần Kiết Hùng với “Mạnh Tử, linh hồn của nhàNho”, Nxb Đồng Nai, 1995, tuy không tập trung, nhưng đã đề cập đến nhiều
khía cạnh liên quan đến “học thuyết Nhân chính” của Mạnh Tử: Xuất kiến
Lương Huệ Vương “Vua cần gì phải nói điều lợi, hãy nói việc nhân nghĩa mà
thôi”; Không ai địch nổi người nhân đức “Chỉ cần đất vuông vức trăm dặm,
thực hành chính trị nhân đức có thể khiến thiên hạ thuần phục”, “Bệ hạ lấychính trị nhân đức mà đến với họ, hỏi có nước nào có thể chống lại được? Có
thể nói: người có nhân đức thì vô địch Xin bệ hạ giữ vững lòng tin”; Bậc
trượng phu nhân chính; Đối thoại giữa vương đạo và bá đạo; Kiên trì chủ nghĩa nhân đạo; Con người vốn tính thiện
Lê Sĩ Thắng (chủ biên) với “Nho giáo tại Việt Nam”, Nxb Khoa học xãhội, Hà Nội, 1991, các tác giả đã bàn một cách khái quát về ảnh hưởng củaNho giáo tại Việt Nam, trong đó đã chỉ ra được một số khác biệt giữa Nhogiáo và Nho giáo ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử Việt Nam trên từng lĩnhvực văn hoá, tư tưởng, làm rõ mối quan hệ giữa Nho giáo với tư tưởng, phẩmcách của những nhân vật lịch sử Việt Nam, nhưng cũng chưa bàn về “họcthuyết Nhân chính” của Mạnh Tử
Nguyễn Đăng Thục với “Lịch sử triết học phương Đông”, tập 2, NxbThành phố Hồ Chí Minh, 1991, từ trang 37 đến 81 đã trình bày một cách kháiquát những nội dung chính trong tư tưởng triết học của Mạnh Tử về: Triết họctâm linh, Thuyết tính thiện, Luân lý học, Triết học chính trị, đồng thời nêu ramột số ảnh hưởng của Mạnh Tử đến các trào lưu tư tưởng đương thời Thôngqua những nội dung tư tưởng này, tác giả đã đề cập một số nội dung tư tưởngliên quan đến nhân chính, nhưng với tư cách là phạm trù “Nhân chính” và
“học thuyết Nhân chính” của Mạnh Tử thì chưa được bàn đến
Trang 5Nguyễn Tài Thư (chủ biên) với “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôngiáo đối với con người Việt Nam hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1997, từ trang 33 đến 57, các tác giả đã khẳng định Nho giáo là thành tố quantrọng của sự ảnh hưởng bởi các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con ngườiViệt Nam, trên các phương diện: Con người trong Nho giáo là con người có
và phải có ý thức về gia đình, về cộng đồng, về quốc gia, về sự tiến hoá vănminh do các thế hệ kế tiếp nhau tạo nên;Yêu cầu phải biết tôn trọng sự sống
và giá trị sự sống của con người là một giá trị toàn nhân loại thứ hai của Nhogiáo; Một giá trị toàn nhân loại khác của Nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong
ý thức và tâm thức người Việt là chấp nhận khát vọng hạnh phúc của conngười và tìm mọi cách đáp ứng khát vọng ấy Ở giá trị thứ ba, các tác giả chỉ
ra nhiều quan niệm của Mạnh Tử về “hằng sản”, “hằng tâm”, “nghĩa”, “lợi”,nhưng vẫn chưa bàn đến học thuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử với tư cách làmột thành tố quan trọng trong sự ảnh hưởng ấy
Nói chung, học thuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử và sự ảnh hưởngcủa nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, đến nay vẫn chưa được nghiên cứu
một cách có hệ thống Bởi vậy, đề tài: “Học thuyết nhân chính của Mạnh
Tử và sự ảnh hưởng đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XV ”, hiện
nay là một chủ đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được làm sáng
tỏ một cách khách quan, khoa học và phải được tiếp tục nghiên cứu phát triển
III Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
1 Mục đích của luận văn
Bước đầu rút ra kết luận khoa học về những đóng góp tích cực, nhữnghạn chế của “học thuyết Nhân chính” trong quá khứ và hiện tại của lịch sử tưtưởng Việt Nam, đặc biệt là đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XV,góp phần xây dựng quan niệm khách quan, khoa học khi đánh giá “học thuyếtNhân chính” nói riêng, Nho giáo và triết học Trung Quốc cổ đại nói chungtrong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước hiện nay
2 Nhiệm vụ của luận văn
1.Trình bày một cách khái quát phạm trù “Nhân” của Khổng Tử 2.Chỉ rõ phạm trù “Nhân” của Mạnh Tử là sự phát triển phạm trù
“Nhân” của Khổng Tử theo hướng duy tâm hóa, nhưng hàm chứa nhữngđiểm tiến bộ
Trang 63.Chỉ rõ sự kết hợp của Mạnh Tử từ phạm trù “Nhân” và “Nghĩa” thànhphạm trù “Nhân nghĩa”.
4.Trình bày nội dung học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử là sựbiểu hiện của tư tưởng “Nhân nghĩa” trên lĩnh vực chính trị
5.Chỉ ra sự ảnh hưởng của học thuyết Nhân Chính của Mạnh Tử đốivới lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XV (qua một số nhà tư tưởng Việt Namtiêu biểu : Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông)
IV Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn này là quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đềcon người, về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, tồn tại xã hội và ý thức
xã hội Đặc biệt là tư tưởng “trong tính hiện thực của nó, bản chất của conngười là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”; cá nhân và xã hội là sự kết hợphài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc và lợi ích nhân loại vàmối quan hệ biện chứng giữa quần chúng nhân dân với những vĩ nhân-lãnh
tụ
2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp: Lịch sử và logic, so sánh đốichiếu, phân tích, tổng hợp thông qua các tài liệu hiện có về Mạnh Tử mà tácgiả được tiếp cận Luận văn sử dụng các đánh giá của các nhà khoa học vềNho giáo và xem đó là kim chỉ nam cho mình Phương pháp xuyên suốt củaluận văn là vận dụng phương pháp biện chứng duy vật vào việc nhận thức cácvấn đề chính trị-xã hội, đạo đức
V Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần tổng hợp sự đánh giá khách quan, khoa học về
“học thuyết Nhân chính” của Mạnh Tử; góp phần chỉ ra những ảnh hưởng của
“học thuyết Nhân chính” của Mạnh Tử đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam, đặcbiệt là một số nhà tư tưởng Việt Nam tiêu biểu ở thế kỷ XV và sự kế thừa cóchọn lọc của Đảng và nhà nước ta về học thuyết này
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy cáchọc phần Lịch sử Triết học phương Đông có liên quan đến Nho giáo ở TrungQuốc cổ đại nói riêng và triết học Trung Quốc nói chung, đặc biệt là việc
Trang 7nghiên cứu về Mạnh Tử, và cho những ai quan tâm nghiên cứu đến vấn đềnêu trên
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài do có nhiều lý do kháchquan, tác giả còn có những hạn chế nhất định trong nội dung của luận văn.Tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô, các bạnđồng nghiệp và những ai quan tâm về vấn đề này, để việc nghiên cứu của tácgiả ngày càng tốt hơn
VI Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo; Luậnvăn gồm có 2 chương, 6 tiết
Chương 1: Học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử
1.1.Từ phạm trù“Nhân”của Khổng Tử đến phạm trù“Nhân nghĩa” của Mạnh Tử
1.2 Nội dung cơ bản của học thuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử
Chương 2: Ảnh hưởng của học thuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XV (qua một số nhà tư tưởng Việt Nam tiêu biểu)
2.1 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội - lịch sử Việt Nam thế kỷ XV 2.2 Ảnh hưởng của học thuyết “Nhân chính” trong tư tưởng của Nguyễn Trãi
2.3 Ảnh hưởng của học thuyết “Nhân chính” trong tư tưởng của Lê Thánh Tông
2.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu học thuyết “Nhân chính” của Mạnh
Tử đối với công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam.
Trang 8CHƯƠNG 1
HỌC THUYẾT NHÂN CHÍNH CỦA MẠNH TỬ 1.1 TỪ PHẠM TRÙ “NHÂN” CỦA KHỔNG TỬ, ĐẾN PHẠM TRÙ “NHÂN NGHĨA” CỦA MẠNH TỬ
1.1.1.1 “Nhân” trong quan niệm của Khổng Tử
Khổng Tử sinh vào mùa Đông tháng mười năm Canh Tuất, là năm thứhai mươi mốt đời vua Linh Vương nhà Chu, tức vào năm 551 trước côngnguyên Ông sinh ra tại nước Lỗ trong một gia đình quý tộc nhỏ đang sa sútthuộc làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ngày nay Mẹ củaông là bà Nhan Thị, cha là Thúc Lương Ngột là một vị quan nhỏ Ngay từnhỏ, Khổng Tử đã nổi tiếng là người siêng năng, học giỏi và thích chơi tròcúng tế Thuở đó, quê hương ông là nơi trụ cột, bảo tồn được nhiều di sản vănhóa cũ của nhà Chu Khổng Tử – người sáng lập ra Nho giáo – muốn đem tàiđức của mình để giúp vua lập lại trật tự kỷ cương trong xã hội, tìm ra phươngpháp để cứu đời, cứu người, vì sự nghiệp “bình thiên hạ”
Điểm lại những cái mốc trên đường phát triển của con người mình,Khổng Tử nói: “Ta mười lăm tuổi thì có chí rõ ràng hướng vào việc học, bamươi tuổi thì vững vàng chắc chắn, bốn mươi tuổi thì không mơ hồ lầm lẫn,năm mươi thì biết mệnh trời, sáu mươi thì tai thuận (nghe qua là biết rõ), bảymươi thì theo ý muốn trong lòng không hề chệch ra ngoài nề nếp (Ngô thậphữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi trithiên mệnh, lục thập nhĩ thuần, thất thập nhi từng tâm sở dục di cư – Luậnngữ Vi chính) [tr.41, 20]
Đứng trước thời đại “Vương đạo suy vi”, “Bá đạo” đang nổi lên lấn át
“Vương đạo” của nhà Chu, trật tự lễ pháp cũ của nhà Chu đang bị đảo lộn,ông than rằng “vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha khôngphải đạo cha, con không phải đạo con” Trên lập trường của bộ phận giai cấptiên tiến của giai cấp quý tộc Chu, ông chủ trương lập lại pháp chế của nhàChu, với một nội dung mới cho phù hợp Ông mở trường dạy học, đi chu dukhắp các nơi trong nước, tranh luận với các phái khác để tuyên truyền lýtưởng của mình, nhằm mục đích cải biến trật tự xã hội đó bằng con đường cảilương, cải cách [tr.13-23, 22]
Tư tưởng đạo đức-chính trị của Khổng Tử là sự kế thừa tư tưởng củaVăn Vương, Chu Công là sự phát huy tư tưởng của thời Tây Chu để mong lập
Trang 9lại kỷ cương nhà Chu đã suy vi lúc bấy giờ Để thực hiện lý tưởng chính trịcủa mình, ông xây dựng nên học thuyết về Nhân – Lễ – Chính Danh.
“Nhân”, là hạt nhân trong học thuyết chính trị của Khổng Tử Theo ông
“Nhân” là nội dung, “lễ” là hình thức của “Nhân”, và “Chính Danh” là conđường để đạt đến điều “Nhân” (Sửa mình, khôi phục điều lễ là người Nhân).Theo Khổng tử: “Quân tử lấy Nhân làm thể là đủ làm trưởng thành cho người,hợp các cái tốt đẹp là đủ làm cho hợp lễ, lợi cho vạn vật là đủ làm hòa cáinghĩa, biết cái trinh Chính mà cố giữa là đủ làm gốc cho mọi sự” (Quân tửthể Nhân túc dĩ tưởng Nhân, gia hộ túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hào nghĩa,trinh cố túc dĩ cán sự) [tr 80, 22] Người quân tử phải giữ đúng đạo người vớibốn đức: Nhân, nghĩa, lễ, trí Trong đó “Nhân” đứng đầu các điều thiện, “lễ”
là hội hợp được các điều tốt đẹp, “nghĩa” là định rõ các phận cho hài hòa vềlợi của vạn vật, “trí” là phải giữ vững cái chính là gốc cho mọi sự
Chữ “Nhân” ( =) không chỉ người ( ) mà là một chữ ghép từ chữ Nhân đứng ( ) với chữ nhị (=) nhằm để nói lên cái đức và tác dụng bản
chất chung của mọi người “Nhân” vừa là “thể” tự nhiên, yên lặng, nhưng cósẵn cái năng lực sinh ra các đức tính tốt, nó chính là hạt Nhân là nguồn gốc, làđộng lực của mọi hành động và ý thức “Nhân” đồng thời là “dụng” dễ cảmứng, lúc nào cũng thấu suốt vạn vật, làm việc gì cũng đúng là thích hợp
“Nhân” không chỉ riêng một đức tính nào mà nó chỉ mọi đức tính,người có “Nhân” đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên “Nhân” là nghĩarộng nhất của đạo làm người Đạo làm người có hàng ngàn hàng vạn điều,nhưng chung quy lại là những điều đối với mình và đối với mọi người, nên
“Nhân” có thể hiểu là cách cư xử với mình và cư xử với người
“Nhân” theo Khổng Tử có rất nhiều nghĩa Khi trả lời thế nào là
“Nhân”, ông đã tùy vào trình độ học vấn và tư cách của từng người mà trả lời
có khác nhau Chung quy lại có thể hiểu “Nhân” của Khổng tử theo mấynghĩa sau:
Thứ nhất: “Nhân” là yêu người (ái nhân), yêu người là hạt nhân của tư
tưởng Khổng Tử Học trò của Khổng Tử là Phan Trì hỏi thầy thế nào là
“Nhân”, Khổng Tử trả lời đó là “yêu người” (ái nhân)
“Yêu người” là “điều gì mình không muốn thì chớ đem áp dụng chongười khác” (kỷ sở bất dục, vật thi ư Nhân), “mình muốn lập thân thì cũng giúpngười khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng phải giúp người khác thành
Trang 10đạt” (kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân) Thiên Hương Đảngtrong Luận ngữ kể, từ trong triều trở về nghe nói chuồng ngựa bị cháy, ông hỏi
“có ai bị thương không?” mà không hỏi “ngựa có việc gì không?” là một biểuhiện thương người của ông
“Yêu người” ở Khổng Tử là yêu mọi người kể cả yêu người lao động.Quan điểm của Khổng Tử là những gì hại đến người thì ngăn lại, còn của cải
có thể làm ra được Ngay trong “Lễ ký - Đàn cung”, Khổng Tử hết sức phảnđối việc dùng hình thù người để chôn thay cho việc chôn sống người Theoông, việc làm đó là việc làm bất nhân
“Nhân giả ái nhân” còn bao hàm cả việc quan tâm và yêu mến ngườidân, là “bố thí rộng rãi” và “cứu giúp” nhiều người Trong Luận ngữ, khi trảlời Tử Cống, Khổng Tử đã coi “có bố thí rộng rãi cho dân, nhờ đó có thể giúpđược nhiều người” thì không chỉ là “Nhân” mà là “thánh nhân” và việc đó thìNghiêu - Thuấn cũng còn có lỗi”
Khổng Tử là người đã đề ra tư tưởng phải coi trọng sức dân Trong xãhội đương thời, ông là người đã thẳng thắn khuyến cáo những kẻ có chứcquyền phải “bớt tiêu dùng và yêu người” (tiết dụng nhi ái nhân), phải “saikhiến dân đúng thời vụ” (sử dân dĩ thời) Quan niệm này là kim chỉ nam chomọi triều đại muốn trở thành người chủ thực sự của dân Ông cũng là ngườiđưa ra tư tưởng: trước tiên làm cho dân giàu, sau đó giáo dục dân (tiên phú,hậu giáo) Tư tưởng này thể hiện rất rõ trong câu trả lời của ông đối với ngườihọc trò đánh xe và theo hầu ông Khi thấy dân nước Vệ đông, Nhiễm Hữu hỏithầy: “Dân đã đông thì làm gì?” Ông nói: “Làm cho họ giàu lên! Nhiễm Hữulại hỏi: “Dân đã giàu lên rồi thì làm gì nữa?” Ông trả lời: “giáo hóa dân –Luận Ngữ, Dương Hóa” Ở đây, ta thấy tư tưởng của Khổng Tử muốn giáodục dân trước hết phải giúp dân có một đời sống kinh tế nhất định Và về giáohóa dân đối với ông thì “ai cũng có thể dạy được (hữu giáo vô loài) và dạyngười không biết mệt” (hối nhân bất quyện)
Thứ hai: “Nhân” là phương châm xử thế mang đầy tính chất nhân đạo
chủ nghĩa, làm cho con người gắn bó với nhau, cá nhân gắn bó với cộngđồng; làm cho con người có niềm vui trong cuộc sống, thấy hết ý nghĩa, vaitrò của mình trong cộng đồng, trong xã hội “Nhân” theo Khổng Tử là: “racửa phải nghiêm trang như gặp khách quý; sai khiến dân thì phải thận trọngnhư làm lễ tế lớn, điều gì mình không muốn người làm cho mình thì không
Trang 11nên làm cho người” (Xuất môn như kiến đại tân, sử dân như thừa đại tế, kỷ sởbất dục, vật thi ư nhân – Luận Ngữ, Nhan Uyên).
Theo Khổng Tử: “làm được năm đức ở trong thiên hạ là Nhân: Cung,
Khoan, Tín, Mẫn, Huệ Cung kính người thì không bị khinh nhờn, Khoan hậu người thì được lòng người, thành tín thì được người ta tín nhiệm, cần mẫn thì làm được nhiều việc, tứ huệ người thì sử dụng được người” (Năng hành ngũ
giả ư thiên hạ nhân hĩ Viết cung, khoan, tín, mẫn, huệ Cung tắc bất hĩ khoantắc đắc chúng, tín tắc nhân nhiệm yên, mẫn tắc hữu công, huệ tắc túc dĩ sửnhân – Luận Ngữ, Dương Hóa)
Như vậy “Nhân” là yêu người như yêu mình – Đây là nguyên tắcchung Suy bụng ta ra bụng người, cái gì mình không muốn thì chớ làm vớingười, mình lập nghiệp thì phải giúp người lập nghiệp Yêu mến và thươngxót những người không được như mình Đối với người lao động, tàn tật, già
cả, yếu đuối là phải thông cảm, tôn trọng và yêu mến Trong trị nước thì chọnngười hiền tài mà trị nước, đừng vì thân hay sơ Khổng Tử nói: “Cố nhân cócâu: nếu có người thiện liên tục trị nước 100 năm thì có thể khiến kẻ tàn bạothuần phục mà bỏ được hình phạt chém giết” Lời ấy rất đúng – Luận Ngữ,Dương Hóa)
Phải kính già nhường già: “người chống gậy ra trước, mình ra sau”(Trượng giả xuất tư xuất hĩ Luận ngữ – Hương đảng) Ông cũng nói: “ở trênkhông khoan dung, làm lễ mà không kính cẩn, gặp việc tang mà không đauthương, đối với người đó ta còn biết như thế nào đây?” (cư thượng bất khoan,
vi lễ bất kính, lâm tang bất ai, ngô hà dĩ quan chi tai? Luận ngữ – Bát giật).Ông là người chủ trương: chọn người hiền tài mà trị nước; đối với người giàyếu thì phải có thái độ tôn trọng, đúng mực, ân cần; đối với nhân dân phải tôntrọng, cần mẫn, dưỡng, giáo và sẵn sàng mang lại ân huệ cho họ; giữa ngườivới người phải có sự gắn bó nhau theo tinh thần “tín là của quý của nước, làđiều mà dân phải gìn giữ” (tín, quốc chi bảo dã, dân chi sở tế dã) Đây khôngchỉ là mong muốn chủ quan của Khổng Tử, mà chính là từ phản ánh yêu cầukhách quan của thời đại với một trình độ đã đến lúc con người cần phải giữđiều tín và tôn trọng lẫn nhau
Thứ ba: “Nhân” theo Khổng Tử là tuân thủ kỷ cương, luật lệ “sửa
mình theo lễ là Nhân” (Khắc kỷ phục lễ vi nhân – Luận Ngữ, Nhan UyênXII) Về điều này, có người cho lễ của Khổng tử là lễ nhà Tây Chu, lễ của
Trang 12giai cấp thống trị Thật ra, lễ của Khổng Tử không chỉ dừng ở đó Lễ của ôngcòn là kính trên nhường dưới Theo ông: “Hiếu của con cái đối với cha mẹkhông chỉ là lòng thành kính, chỉ nuôi cha mẹ không thôi thì không thể gọi làhiếu, ví như giống chó, giống ngựa cũng có người nuôi Nuôi cha mẹ khôngthành kính thì có khác gì nuôi chó ngựa”[tr.61, 3] Việc thực hành lễ là phảithành kính Ông nói: “Ngày nay người ta nuôi nấng chăm sóc cha mẹ là thờcha mẹ, nhưng đối với chó và ngựa người ta cũng nuôi nấng chăm sóc nó.Nếu như đối với cha mẹ mà không kính thì sự săn sóc đối với cha mẹ có khác
gì đối với việc săn sóc nuôi nấng chó ngựa” [tr.9, 34]
Dù cái lễ của ông là điều hòa mâu thuẫn giai cấp, khuyên người nghèophải an phận thủ thường (bần nhi vô oán; lễ chi dụng, hòa vi quý; an bần nhilạc) đi chăng nữa, thì điều vừa nêu trên với việc ông khuyên kẻ trên phải tôntrọng người dưới: bước ra cửa lúc nào cũng phải chỉnh tề như gặp khách quý,sai khiến dân một việc gì cũng phải thận trọng, thì “khắc kỷ phục lễ vi nhân”không chỉ là lễ của Tây Chu, của giai cấp thống trị, mà lễ ở đây còn là phảisống cho phải đạo người, phải bỏ hết mọi tư tâm, tư ý để đối xử với ngườinhư đối xử với mình, và lúc nào cũng kính cẩn, thân ái với nhau Để cho mọingười gần gũi nhau, quan hệ giữa người với người được bền vững, Khổng Tửcho rằng con người phải có lòng tin lẫn nhau Sự thất tin với nhau ông khôngtài nào hiểu được: “Người mà không có đức tin thì không biết làm như thếnào Xe lớn mà không có nghê, xe nhỏ mà không có ngột thì không biết đinhư thế nào” (Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã Đại xa vô nghê, tiểu xa vôngột, kỳ hà dĩ hành chi tai – Luận Ngữ, Vi Chính)
Chữ tín, lòng tin không chỉ là mối quan hệ giữa người với người, mà nócòn được nâng lên thành mối quan hệ giữa dân với triều chính Điều này thểhiện rõ trong quan điểm của Khổng Tử khi ông trả lời Tử Cống về phép trịdân Khổng Tử đáp: “Lương thực đầy đủ, quân bị đầy đủ, dân tin chínhquyền” Tử Cống hỏi: “trong ba điều đó nếu bất đắc dĩ phải bỏ một điều, thìđiều nào trước?” Ông đáp: “nếu bỏ thì bỏ binh lực” Tử Cống lại hỏi: “tronghai điều còn lại nếu bất đắc dĩ phải bỏ một điều nữa thì bỏ điều nào trước?”.Đáp: “Bỏ lương thực” từ xưa đến nay mọi người đều chết, nếu dân không tinchính quyền thì chính quyền phải đổ” (Tử Cống vấn chính Tử viết: “Túcthực, túc binh dân tín chi hủ” Tử Cống viết: “ Tất bất đắc dĩ như khứ ư tưtam giả, hà tiên?” Tử viết: “Khử binh tất bất đắc dĩ nhi khử, ư tư nhị giả, hà
Trang 13tiên?” Tử Cống viết: “Tất bất đắc dĩ như khứ ư tư nhị giả, hà tiên?” Tử viết:
“khử thực, tự cổ giai hữu tử, dân vô tín bất lập”(Luận ngữ – Nhan Uyên).Trong chính trị cả ba điều trên, điều nào cũng quan trọng Mặc dù trong thờiđại đó, cả ba điều trên không đảm bảo được điều nào, nhưng như thế ta thấyđược trong tư tưởng của Khổng Tử, lòng tin của dân quan trọng như thế nào
“Dân tin là điều quan trọng nhất”, ông đã xem dân có vai trò quyết định sựphát triển của xã hội
Tuy có chỗ ông thể hiện tư tưởng coi thường dân “Dân học đạo thì dễsai khiến”, “sai khiến dân đúng thời vụ”,…nhưng chính tư tưởng “dân tin” ởông là kim chỉ nam cho sự phát triển xã hội về sau không chỉ ở Trung Quốc,
mà đặc biệt hết sức tiến bộ với xã hội đương thời của ông – Xuân thu Chiếnquốc – chiến tranh liên miên đã uy hiếp đời sống của dân về mọi mặt, khiếncác nhà tư tưởng có tâm huyết thời ấy cũng không thể quan tâm đến dân,không thể tìm hiểu khả năng vai trò của dân, và không thể tìm ra con đườngđem lại cuộc sống yên vui, hạnh phúc cho dân
Đó là nói đến tác dụng của “Nhân” “Nhân” theo Khổng Tử không chỉdừng ở đó, mà nó còn có ý nghĩa rộng lớn hơn với tư cách là cái bản thể yênlặng, nhưng là cái sinh ra mọi đức tính khác
Cái bản thể Nhân ấy, là cái sáng suốt, cái sức mạnh giúp cho ta cái gìcũng biết một cách dễ dàng, và làm điều gì cũng đúng với đạo trời, đạo người.Nhờ có “Nhân” mà có lòng yêu thương người, yêu thương vạn vật, mongmuốn cho người và vạn vật được an lạc, sống bình đẳng bác ái, thân ái vớinhau, hòa đồng với nhau Nhờ có “Nhân” mà lòng yêu và lòng muốn nhữngtốt đẹp cho người và vạn vật đều xuất phát một cách tự nhiên không miễncưỡng Chính lẽ đó, người có bản thể “Nhân” thì bao giờ cũng tự nhiên, ungdung, sáng suốt và làm gì cũng hợp lẽ, chí công, chí thiện Chính rộng lớnnhư vậy, nên ngay như Nhan Hồi là bậc kỳ tài, kỳ hiền mà “bụng giữ được batháng không trái đạo Nhân, người khác thì chỉ được một ngày, một tháng làcùng” (Hồi giả, kỳ tâm tam nguyệt bất vi nhân, kỳ dư nhật nguyệt chí yên nhi
dĩ – Luận ngữ – Ung giả VI) Nhưng cũng vì “Nhân” là bản thể, là đạo ngườicho nên “Nhân” rất gần với mọi người, chỉ cần người muốn “Nhân” là sẽ có
“Nhân”: “Nhân không xa nếu người muốn Nhân thì Nhân đến” (Nhân viễn hồtai, ngã dục nhân, tự Nhân trí – Luận ngữ, Thuật Nhi VII)
Trang 14Tác dụng của “Nhân” là dễ cảm, dễ ứng, lúc nào cũng thấu rõ mọi sựvật, hiện tượng, tự nhiên và xã hội, con người, nên làm việc gì cũng đúng,cũng thành công Bản thể “Nhân” là yên lặng nhưng sẵn sàng sinh ra mọi đứctính tốt, là tiêu chuẩn để phân biệt kẻ thiện, kẻ ác.
Người có đạo Nhân, bao giờ cũng đầy ắp những tình cảm chân thực,nên lúc nào cũng tỏ rõ tính hiếu, đễ, trung, thứ Kẻ bất nhân thì đầy nhữngxảo trá, khôn khéo, lanh lẹ, bạc bẽo, không chân thực: “cương trực, nghiêmnghị, chất phác, trì độn là gần Nhân” (Cương, nghi mộc, nột, cận nhân – Luậnngữ, Tử lộ XIII) “Nói khéo và sửa nét mặt cùng hình dáng bề ngoài là ít cónhân” (Xảo ngôn lệnh sắc tiễn hỉ nhân Luận ngữ – Học Nhi I )
Như thế, bản thể “Nhân” là thật thà, chất phác, tự nhiên, an vui Cònbất nhân, thất trung là khôn khéo xảo quyệt không tự nhiên, lắm mưu môchước quỷ “Nhân” vừa gần gũi, vừa thấp để ai cũng đến được Nhưng
“Nhân” cũng rất sâu sắc, rộng lớn và cao xa mà ngay cả Khổng Tử cũng phảithốt lên: “nếu có thánh và bậc nhân thì ta đâu giám” (Nhược thánh dữ nhân,tắc ngô khởi cảm – Luận ngữ, Thuật Nhi VII) Bởi thế, việc học của Khổng
Tử đều tập trung tất cả ở chữ “Nhân”: “người quân tử trong khoảng bữa ăncũng không trái đạo nhân, vội vàng cũng theo Nhân, hoạn nạn cũng theoNhân” (Quân tử vô dụng thực chi gian vi nhân, tháo thứ tất ư thị, điều bái tất
ư thị – Luận ngữ – Lý Nhân VI) “Nhân” là căn bản của mọi hành vi, đạo đức,
là gốc của người quân tử: “Người quân tử cốt ở gốc Gốc lập rồi đạo mới phátsinh Tình cha con, anh em chẳng phải gốc của đạo làm người Nhân đấy ư?”(Quân tử vụ bản, bản lập nhi đạo sinh Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản dư?Luận ngữ - Học Nhi)
Đạo “Nhân” bắt đầu từ gia đình, tình cha con và suy ra đến tình nhânloại Ông vừa chú trọng quan hệ đạo đức cá nhân, nhưng đồng thời đề caomột đạo “Nhân” đòi hỏi người ta phải làm trọn đạo người “Nhân” là nhâncách
Tóm lại, “Nhân” là học thuyết trung tâm của Khổng Tử “Nhân” vừa làtác dụng vừa là bản thể, được thể hiện trên nhiều phương diện, và ứng dụngvới các tầng lớp khác nhau Có thể nói cốt lõi của “Nhân” là thương ngườiyêu người Với kẻ thống trị “Nhân” buộc họ thấy lợi phải nghĩ đến nghĩa, lấynghĩa làm cơ sở để có thái độ, hành động đúng, thích hợp với lợi Với ngườikhác “Nhân” đòi hỏi phải yêu người như yêu mình, cái gì mình muốn thì
Trang 15muốn cho người, cái gì mình không muốn thì đừng muốn cho người Với dân,
“Nhân” đòi hỏi phải tin dân, thương dân, tôn trọng dân, phải quan tâm giúp
đỡ và thông cảm cho dân Với bản thân, “Nhân” đòi hỏi phải có thái độ cungkính, khoan dung, sẵn sàng giúp người… “ăn ở có lễ độ, làm việc thì kínhtrọng, cùng với người thì hết lòng” (Cư sự cung, chấp sự kính, dữ Nhân trung)[tr.11, 34]
“Nhân” trọng yếu như thế nên Khổng Tử dạy người chủ yếu là dạy đạo
“Nhân” “Nhân” là đích của tu dưỡng Đã đạt “Nhân” thì làm gì cũng đúng,cũng hợp đời hợp đạo, an vui và tinh thông mọi điều “Nhân” rất rộng, ngườihọc không có trí học đạo “Nhân” thì không học được (Đạo bất viễn nhân,nhân chi vi đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi đạo – Trung dung) Đạo nhân gắn
bó mật thiết với bản tính con người, nên rất uyên thâm, dẫu người tài trí cũngkhông biết hết được, nhưng người thường vẫn có thể theo được Khổng Tử rấttin ở cái đạo rất giản dị mà cao xa, rộng rãi, bao quát cả vũ trụ, ngoài không
có gì rộng lớn hơn, trong không có gì nhỏ bé hơn ấy là chí thiện, chí mỹ Đạo
“Nhân” cốt cầu lấy cái vui trong sinh hoạt ở đời, điều hòa với mọi lẽ của tựnhiên, xã hội, trong người thư thái không bị ngoại cảnh liên lụy
Đạo “Nhân” của Khổng Tử dạy người cầu lấy cái vui ở đời, lúc nàotrong lòng cũng thản nhiên vui vẻ, không lo sợ, buồn rầu Cái gì người ta vuicười, thì mình vui cười, xong rồi thôi, không vướng bận: “gặp cái gì cảm đếnthì ứng ngay, gặp cảnh ngộ nào cũng vui vẻ được” (Tùy cảm nhi ứng, tùy ngộnhi an) Cách sống như vậy ở đời không phải ai cũng làm được
Đã có nhiều người chê Khổng Tử hạn chế ở chỗ phân biệt quân tử vớitiểu nhân trong đạo Nhân, “Quân tử có thể bất nhân Tiểu nhân không có nhânlàm sao mà mất nhân được” (quân tử nhi bất nhân giã hữu hỉ phù? Vị hữu tiểunhân nhi nhân giả giã Luận ngữ – Hiến văn XIV) Quân tử là người có địa vịtôn quý, là giai cấp thống trị và là đàn ông Tiểu nhân là thường dân không cóđịa vị trong xã hội, là nhân dân lao động nói chung, đặc biệt là đàn bà Đây là
tư tưởng coi thường nhân dân lao động và phụ nữ của Khổng Tử
Quả thật Khổng Tử có nói: “quân tử học đạo thì yêu người, tiểu nhânhọc đạo thì dễ sai khiến” (Quân tử học đạo tắc ái nhân, tiểu nhân học đạo tắc
dị sự giã” – Luận ngữ, Dương Hóa XVII) Nhưng thật ra trong phân biệt quân
tử, tiểu nhân của Khổng Tử không dừng lại ở đó Quân tử là người có đứchạnh cao quí, tiểu nhân là kẻ có đạo đức thấp hèn, đó mới là quan điểm chính
Trang 16của Khổng Tử Tức là dù người có địa vị xã hội hay không có địa vị xã hội, làvua quan hay thường dân cũng đều có thể là quân tử, cũng có thể là tiểu nhân.Chính lẽ đó quân tử với đức Nhân của Khổng Tử như đã trình bày ở trênkhông phải không có ý nghĩa tích cực trong xây dựng đạo đức mới cho thế hệtrẻ ngày nay ở Việt Nam.
1.1.2 “Nhân” trong quan niệm của Mạnh Tử
Thời Chiến Quốc đã xuất hiện nhiều trường phái triết học đại diện cholợi ích của các giai cấp trong xã hội Mạnh Tử là một trong những triết gia lớnnhất thời đó, là người chủ trương chống lại thuyết “Kiêm ái” của Mặc gia vàchủ nghĩa tự nhiên “Vô vi”, “Vị ngã” của Đạo gia, là người phát triển tưtưởng triết học chính trị - đạo đức của Khổng Tử theo hướng duy tâm chủnghĩa
Vào khoảng những năm 370 TrCN – năm đầu Chu Liệt Vương, cáchnay hơn hai nghìn ba trăm bảy mươi năm, Mạnh Tử ra đời tại vùng Ấp Trâu,tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Cha mẹ đặt tên ông là Kha Nhà Mạnh Tử là đờisau của dòng họ Mạnh Tôn, quý tộc nước Lỗ Mạnh Tôn là con của Lỗ HoànCông, một trong tam hoàng nắm quyền lớn trong triều Theo quan điểm củahậu thế sau này cho rằng phái nhà Mạnh Tử kể đã sa sút nên mới chuyển vềvùng Ấp Trâu Mạnh Tử sinh ra ở vùng Ấp Trâu trở thành người nước Trâu(tên của nước Chu trước đây) Theo Sử ký Tư Mã Thiên: “Mạnh Tử sống vàokhoảng năm 372 đến năm 289 trước Công nguyên – là người theo phái Nhogia của Tăng Tử nước Lỗ Ông là học trò của Tử Tư – Khổng Cấp – cháu nộicủa Khổng Tử”
Mạnh Tử là con trai của Khích Công và Cừu Thị Khi Mạnh Tử lên batuổi thì cha qua đời, nhưng ông được mẹ nuôi dưỡng, giáo dục lễ nghĩa rấtchặt chẽ và đến nơi đến chốn Bà Mạnh là một tấm gương sáng cho việc giáodục lễ nghĩa đối với con cái Ngay từ lúc mang thai bà đã thực hiện “thaigiáo” Kể cả khi Mạnh Tử lấy vợ bà cũng không ngừng bảo ban chỉ giáo chocon Theo Sử Liệt Nữ thì bà Mạnh đã ba lần chuyển nhà, bởi ban đầu nhà bà ởtrong những môi trường mà bà cho rằng “chẳng hợp với con bà” Cuối cùng
bà Mạnh quyết định chuyển nhà đến trường học, ở đây Mạnh Kha học được lễnghĩa khiêm nhường của bậc trưởng giả, bắt chước theo giọng ngâm nga đọcbài của nhóm học sinh Khi đã vào lớp một, có lúc Mạnh Kha học hành ngàycàng sa sút, bà Mạnh giật phắt tấm vải đang dệt và cắt ngang Cậu Mạnh ngơ
Trang 17ngác, bà giải thích: “con đi học chẳng yên, giữa đường bỏ dở, giống như mẹcắt đứt tấm vải cuối cùng trở thành đồ vứt đi…” Sau lần đó ý chí học tập củacậu Mạnh ngày càng lớn làm nền tảng vững chắc để trở thành “Á thánh” saunày.
Mạnh Tử là người tiếp tục phát triển tư tưởng của Khổng Tử theohướng duy tâm Mặc dù không được trực tiếp theo học Khổng Tử, nhưng ôngluôn tâm niệm, Khổng Tử là bậc thầy của mình Ông nói “Tuy ta không đượctrực tiếp làm môn sinh của Khổng Tử, nhưng những điều người truyền lại chođời, ta đều biết Thế là ta cũng là học trò của người rồi, và người là thầy của
ta rồi” Như cỏ cây được tắm nước trời, Mạnh Tử ca ngợi rằng “Từ khi có loàingười đến nay chưa có ai vĩ đại bằng Khổng Tử” [tr.20, 29] Hoàn cảnh địa lýcủa thời Khổng Tử không khác gì hoàn cảnh địa lý thời Mạnh Tử, nhưngtrong khoảng thời gian một trăm năm xa cách thì trào lưu tư tưởng của xã hộiTrung Quốc đã chuyển biến đi nhiều
Ở thời Khổng Tử, về học phái gọi là có ảnh hưởng, thì ngoài học pháicủa Khổng Tử ra chỉ có năm ba nhà ẩn dật, mà Khổng Tử đã từng gặp trongcuộc hành trình như có nói trong sách Luận ngữ: Trường Thư, Kiệt Nịch, SởCuồng, Tiếp Dư Nhưng đến thời Mạnh Tử thì đã có nhiều tư trào tiến triểnnhư sách Trang Tử ở thiên Thiên Hạ, dưới danh nghĩa Bách gia chi học – Cáihọc của trăm nhà Mạnh Tử đã nhận định về tinh thần của thời đại rằng: “Vuathánh không ra đời nữa, chư hầu hoành hành, kẻ trí thức nói ngang Lời nóicủa Dương Chu, Mặc Địch tràn lan khắp thiên hạ Người trong thiên hạ khôngnoi theo họ Dương, thì cũng không noi theo họ Mặc” (Thánh vương bất tác,Chư hầu phóng tứ, sử sĩ hoành nghị Dương Chu, Mặc Địch chi ngôn doanhthiên hạ Thiên hạ chi ngôn bất quy Dương, tắc quy Mặc Mạnh Tử - ThiênĐằng Văn Công hạ [tr.37, 34]
Nếu như Khổng Tử đứng trên lập trường của bộ phận cấp tiến tronggiai cấp quý tộc nhà Chu, nhằm lập lại pháp chế, kỷ cương của nhà Chu vớimột nội dung mới cho phù hợp Thì thời Mạnh Tử, giai cấp địa chủ mới lênngày càng lớn mạnh, giai cấp quý tộc thị tộc cũ ngày càng suy yếu, chế độ
“tĩnh điền” không còn được coi trọng, chế độ cống nạp không còn được thựchiện đều và đầy đủ nữa Giai đoạn Mạnh Tử, xã hội Trung Quốc với sự vươnlên của giai cấp địa chủ mới, giai cấp này đã chủ trương dùng vũ lực để thôntính lẫn nhau, nhằm giải quyết cục diện chiến quốc Nếu thời Tây Chu, số
Trang 18nước Chư hầu lớn bé của nhà Chu có đến mấy trăm Thời Xuân Thu, Sở là sựthống nhất của 45 nước, Tề là sự thống nhất của 35 nước, Tần là sự thốngnhất của 20 nước, Lỗ là sự thống nhất của 12 nước Cuối Đông Chu, TrungQuốc chỉ còn 8 nước là: Tống, Sở, Tề, Tần, Việt, Lỗ, Trịnh, Vệ, thì thờiChiến Quốc chỉ còn bảy nước: Tần, Tề, Yên, Sở, Hàn, Triệu, Ngụy, người tacòn gọi là thời kỳ thất hùng Cục diện thôn tính lẫn nhau vẫn tiếp tục xảy ra
và cục diện thống nhất Trung Quốc nhất định sẽ xảy ra (Tần Thủy Hoàng đãthực hiện điều đó vào năm 221 Tr CN)
Trong tình hình: “Vua thánh không ra đời nữa, chư hầu hoành hành, kẻtrí thức nói ngang Lời nói của Dương Chu, Mặc Địch tràn lan khắp thiên hạ.Người trong thiên hạ không noi theo họ Dương, thì cũng noi theo họ Mặc”[Tr.37, 34], với sự ra đời của nhiều luồng tư tưởng, nhiều học thuyết khácnhau của cái học của trăm nhà (bách gia chi học) Có người nhận xét Mạnh
Tử đã đứng trên lập trường của một bộ phận lạc hậu trong giai cấp quý tộc thịtộc chủ nô đang trên đường chuyển hóa lên giai cấp địa chủ phong kiến đểbảo vệ Nho giáo Tư tưởng của ông, nhìn chung là bảo thủ, không phù hợpvới diễn biến của lịch sử
Bình luận về bối cảnh và thời đại của Mạnh Tử, Triệu Kỷ đời Hậu Hán
có viết rằng: “Mạnh Tử thương tiếc cái nghiệp của Nghiêu, Thuấn, Thang,Văn, Chu Công, Khổng Tử, sắp bị mờ lấp; con đường chính trị bị bế tắc,Nhân nghĩa bỏ không trau dồi, kẻ nịnh, kẻ ngụy rong ruổi, màu hồng, màu tíalàm loạn cả màu đỏ Như thế, nên Mạnh Tử hâm mộ Trọng Ni lo thời thế mà
đi khắp các nơi, mang đạo Nho đi đến các nước chư hầu, nghĩ giúp đỡ nhândân” [tr.40, 34] Lưu Hướng hiệu đính sách Chiến Quốc viết rằng: “Bởi vì ởthời Chiến Quốc, kẻ nào tranh quyền mà thắng thì được ở trên, không nghĩluyện binh, mưu trá đua nhau nổi lên Ở thời ấy tuy có đạo đức mà khôngđược thi hành, cho nên Mạnh Tử - Tôn Khanh là kẻ sĩ của Nho thuật bị đời bỏ
đi, mà kẻ du thuyết quyền mưu thì được quý trọng”[tr.40, 34] Như vậy Mạnh
Tử không phải chỉ có lập trường bảo thủ lạc hậu của giai cấp quý tộc chủ nô
mà đã hàm chứa nhiều yếu tố tích cực
Trong cái bảo thủ, không hợp thời và duy tâm của tư tưởng Mạnh Tửvẫn tồn tại những nét sáng nổi bật rất có ý nghĩa nhân đạo Đó là tư tưởng về
“Nhân”, “Nhân nghĩa”, “Nhân chính” của ông Ông là một nhà Nho xuất sắc
mà theo Sử ký Tư Mã Thiên đã chép, thì Mạnh Tử là một trong ba đại nho
Trang 19thời Xuân Thu - Chiến Quốc Trong các vị tiền bối của Nho giáo, ông là “ÁThánh”, vị thánh đứng thứ hai sau Khổng Tử Để bảo vệ và phát huy tư tưởngcủa Khổng Tử, mong muốn dùng triết thuyết của mình cứu đời, Mạnh Tử đãchu du khắp các nước Chư hầu để truyền bá tư tưởng và chủ trương của mình.
Ông chu du qua Tề, Ngụy, Lương, cố đem điều lợi hại khuyên răn cácvua hiếu chiến đương thời Song trong tình thế các nước đang bằng mọi cách
để thôn tính lẫn nhau, thì những điều Mạnh Tử khuyên dạy, họ đều do dựhoặc cho là viển vông không chấp nhận được Vì thế, đi đến đâu ông cũngkhông thỏa mãn được mong muốn của mình, nhưng ông không hề nản chí.Ông lui về dạy học và cùng với các học trò của mình như Vạn Chương, NhạcKhắc Chính, Công Tôn Sửu, xếp đặt thứ tự trong Kinh Thi, thuật lại ý củaTrọng Ni, ghi chép những lời của ông đã bàn luận đối đáp với các vua Chưhầu và những lời phê bình của ông đối với các học thuyết khác, làm ra bảythiên sách, có tên là Mạnh Tử Sau này đến đời Tống, Chu Hy đã xếp cuốnMạnh Tử là một trong những sách kinh điển của Nho gia, gọi là Tứ Thư Sáchnày là kinh điển của Khổng học trong Tứ Thư, Ngũ Kinh
Nếu như Khổng Tử khi bàn về phạm trù “Nhân” với cả hai tư cách làtác dụng của nó và bản thể, nhưng không quyết đoán nó từ đâu ra: “Tínhngười ta vốn gần với nhau, vì tập nhiễm mà thành ra xa nhau vậy” (Tínhtương cận dã, tập tương viễn dã) [tr.43, 34], thì Mạnh Tử lại bàn về “Nhân”với tư cách là “tính”, là “tâm” và ông quả quyết bản tính con người là thiện.Ông cho rằng tính của con người ta là thiện và ai cũng có và ai cũng giốngnhau Con người luôn hành động đúng với bản tính thiện của mình, nhữngviệc làm bất thiện là do tự gò ép, bắt buộc Ông ví: “Cái bản tính của conngười ta vốn là thiện cũng giống như bản tính tự nhiên của nước là chảy từcao xuống thấp vậy Không một người nào sinh ra mà tự nhiên bất thiện cũngnhư không có một thứ nước nào lại không có chảy xuống thấp” [tr.221, 3]
Trong khi tranh luận với Cáo Tử, Mạnh Tử nói rằng: “Miệng đối với vịngon đều thích như nhau, tai đối với tiếng hay đều nghe như nhau, mắt đốivới sắc đẹp thì đều thấy như nhau Thế mà cái tâm của người ta lại khônggiống nhau là cớ sao” [tr.223, 22] Tức là ông khẳng định bản tính con người
là thiện, ai cũng có và giống như nhau Tính thiện vừa là bản thể của conngười, vừa là tác dụng trong mối quan hệ giữa người với người và mối quan
hệ giữa người với vạn vật Cái giống nhau của mọi người đó là nhân tâm Từ
Trang 20bản thể nhân tâm ấy mà có tác dụng nhân đạo là từ ái Ông nói: “Nhân loại aicũng có lòng bất nhẫn cả” (Nhân giai hữu bất nhẫn tâm chi tâm – Công tônsửu – thượng) Lòng bất nhẫn ấy là lòng nhân từ đương nhiên có của conngười, là tính thiện bẩm sinh của con người chứ không phải sự áp đặt của bất
do người ta không biết gìn giữ, nuôi dưỡng cái phần cao đại, tôn quý trongtâm mình để cho cái thấp hèn, nhỏ nhen trong con người lấn át, che lấp
Cái tiến bộ là phạm trù “Nhân” của ông với các nội dung sau đây:
Thứ nhất: “Nhân” là bản năng cố hữu của tâm Nhân là thương người,
và ai ai cũng có: “Nhân giai hữu bất nhẫn nhân chi tâm” [tr.226, 22] Ai cũng
có lòng thương xót đối với người khác, và lòng thương xót ấy là đầu mối của
“Nhân” (Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan dã) [tr.47, 34] Cái lòng thương xóttrắc ẩn ấy là lòng thương yêu, do cái lòng nhân phát xuất ra Và Mạnh Tử chorằng cái điểm trắc ẩn ấy thì ai làm người cũng có một cách tự nhiên Đấy làđiểm cộng thông giữa người với người, và là điểm phân biệt người với cầmthú Cái lòng trắc ẩn ấy còn gọi là cái lòng bất nhẫn không nở của mọi người
Vì có cái lòng bất nhẫn ấy nên mới biết thương xót, như thương xót đứa trẻthơ sắp rơi xuống giếng chợt nhìn thấy cảnh tượng ấy thì không kịp nghĩ đếnđiều gì khác mà là nổi lên lòng thương xót, trắc ẩn, đấy là khởi điểm của lòngyêu do lòng “Nhân” phát xuất ra vậy Như vậy, “Nhân” chung chung củaKhổng Tử giờ đây ở Mạnh Tử đã có một cơ sở lý luận với tư cách là bản tínhcủa chính con người Chính lẽ đó, ông tự ví mình như thánh hiền, như trượngphu Điều đó có gì mà không được, bởi lẽ mọi người đều vốn sẵn tính thiệntiên thiên, nhân từ
Thứ hai: “Nhân” là làm điều lành, làm điều thiện, như thế “Nhân” gần
với mọi người, không xa con người “muôn vật đều có đủ trong người ta, ta tựxét mình thành thực thì có vui thú nào lớn hơn nữa Ta cố sức làm điều lànhnhư ta muốn người làm cho ta, thì cái “Nhân” có gì gần hơn nữa (vạn vật giai
Trang 21bị ư ngã hĩ Phân thân nhi thành, lạc mạc đại yên, cung thứ nhi hành cầu Nhânmạc cận yên – Tận tâm – thượng) [tr.232, 22] Như vậy, ở điểm này “Nhân”của Mạnh Tử không khác mấy với “Nhân” của Khổng Tử, bởi Khổng Tửcũng có quan điểm về “Nhân” là: mình thích điều gì thì cũng thích cho ngườikhác, mình không muốn điều gì thì cũng đừng mong muốn cho người khác.Tuy nhiên, cái không khác mấy ấy lại khác rất căn bản “Nhân” ở Mạnh Tử làrất gần với con người, nếu con người luôn cố sức làm điều lành cho mọingười và đó là điều tự nguyện thành tâm, thành ý không phải vì khen, hay chêcủa người khác.
Thứ ba: “Nhân” là tiêu chí để phân biệt Đại nhân với Tiểu nhân Mặc
dù quan niệm bản tính của con người là thiện và ai ai cũng giống nhau, vì
“Nhân” là bản năng cố hữu của tâm, trong đó lòng thương xót yêu người làđầu mối của “Nhân”: “Trắc ẩn chi tâm nhân chi đoan dã” Nhưng mặt khác,con người còn bị tham vọng làm mất lương tâm, vật dục xui khiến, hoàn cảnhtác động, không biết gìn giữ, nuôi dưỡng cái phần cao đại, tôn quý trong tâmmình, để cho cái thấp hèn, nhỏ nhen trong con người lấn át, che lấp Trongthân thể con người có phần cao quý có phần tăng lên ti tiện, có phần lớn, cóphần nhỏ, “nuôi phần nhỏ là Tiểu nhân, dưỡng phần lớn là Đại nhân” (Mạnh
Tử – Cáo Tử Thượng) Theo Mạnh Tử, phần cao quý, phần lớn trong conngười đó chính là lương tâm (gọi là đại thể), còn phần nhỏ, phần ti tiện là giácquan tai mắt (gọi là tiểu thể), luôn bị vật dục lôi kéo Tâm là cơ quan để suynghĩ để hiểu biết đạo lý, ngoài cái tâm ra không còn gì cao quý cả Tâm là cáithiên phú là bản thể của con người “Mình bảo tồn tâm, dưỡng tính của mình
là để thờ trời vậy” (Mạnh Tử – Tận Tâm Thượng) Người Đại nhân thì khôngthể đánh mất tâm, không đánh mất lương tâm Chỉ có Tiểu nhân mới đánhmất tâm, đánh mất lương tâm Ông nói: “có cái tước trời cho, có cái tướcngười cho Nhân nghĩa trung tín vui làm điều lành không mỏi là tước trời cho.Công khanh đại phu là tước của người cho” (Hữu thiên tước giả, hữu nhântước giả Nhân nghĩa trung tín, lạc thiện bất quyên, thử thiên tước giả; côngkhanh đại phu, thử nhân tước giả) [tr.233, 22]
Theo Mạnh Tử, ở đời sỡ dĩ có người hiền kẻ ngu là do người ta giữđược hay không giữ được tâm linh của mình mà thôi Nếu ai cũng theo đạo lý
mà tu dưỡng lương tâm mà hành động thì không có ai hơn ai cả Cho nênMạnh Tử nói: “Quân tử sỡ dĩ khác người ta giữ được cái tâm mà thôi, các
Trang 22quân tử lấy “Nhân” mà giữ cái tâm, lấy lễ mà giữ cái tâm (Mạnh Tử – Ly LâuHạ) [tr.329, 3] Theo ông, người xưa lo sửa mình theo thiên tước để đượcnhân tước, còn người ngày nay (thời đại ông) cầu nhân tước mà bỏ thiên tướcnên về sau mọi việc đều hỏng cả Cái thiên tước “Nhân nghĩa đạo lý” làm tônphẩm giá con người Cái phẩm giá ấy không ai cho, cũng không ai lấy điđược, nhưng muốn có nó thì phải tự tìm lấy, phải tự tu dưỡng lấy Đã tự hạimình, tự bỏ mình thì không thể có phẩm giá ấy Kẻ giữ được phẩm giá
“Nhân” là Đại nhân Kẻ đánh mất phẩm giá “Nhân” là Tiểu nhân Ông cũngthan rằng: “lòng muốn cái tôn quý thì ai cũng như nhau cả Thế mà người ta
ai cũng có cái tôn quý ở trong mình mà không nghĩ đến Cái tôn quý củangười ta cho không phải là thật là tôn quý Những người mà ngài Triệu –Mạnh đã cho được tôn quý thì ngài Triệu – Mạnh cũng có thể làm cho đê tiệnđược” (Cáo tử – Thượng) [tr.230, 3]
Thứ tư: “Nhân” của Mạnh Tử cũng là “Nhân” của Khổng Tử với nội
dung “người có lòng nhân là yêu người, cả yêu người thì được người yêu lại”(Nhân giả “ái Nhân”, ái Nhân” giả nhân hằng ái chi) Nhưng đồng thời, ông
có mở rộng thêm “Nhân” của Khổng Tử
“Nhân” ở Mạnh Tử do đó, không chung chung như “Nhân” của Khổng
Tử, cũng không phải không có biên giới, chủ trương đại đồng như Mặc Tử.Cái yêu, ghét, kính trọng ở Mạnh Tử có phân biệt thân, sơ, gia đình, thiên hạ,
có trình tự trước sau và có thứ bậc của Nho giáo Ở Mạnh Tử “Nhân” vớingười thống nhất là đạo Nhân: “Nhân là cái lẽ sở dĩ người ta làm người vậy.Đem làm người lòng nhân thuộc về phần lý tính, thân người là hình thể hợplại mà nói tức là đạo vậy” (Nhân dã giả, Nhân dã Hợp nhi ngôn chi, Đạo dã)[tr.54, 34] “Nhân” ở Mạnh Tử là trên cơ sở tình yêu nhân loại “Thân yêungười thân thích đến thân yêu ngoài” (Thân thân dĩ cập nhân) [tr.56, 34] Thìphàm người có phẩm hạnh, có nhân cách hòan toàn tất phải thực hiện đượctình yêu ấy đến triệt để
Theo Mạnh Tử, người có nhân cách hoàn toàn thì trước hết phải là mộtngười có hiếu, biết yêu cha mẹ, rồi từ chỗ yêu cha mẹ đi đến chỗ yêu dân tộc,nhân loại cho chí muôn vật Là phải từ cái ân với người thân mà suy ra ân vớithiên hạ Bởi vậy Mạnh Tử nói: “kính người già của mình, đến người giàthiên hạ, âu yếm con thơ của mình đến con thơ của người” Kinh thi nói “làmphép cho vợ mình trước rồi đến anh em, sau thống trị cả nhà nước” là nói đem
Trang 23cái lòng yêu mến này mà thi hành ra đến người khác đó thôi Cho nên biết suy
ân ra thì có thể quy được bốn biển, không biết suy ân ra thì không giữ được
vợ con (lão ngô lão, dĩ cập nhân chi lão, ấu ngô ấu, dĩ cập nhân chi ấu… thivân: “hình vu quả thê, chi vu huynh đệ, dĩ ngự vu gia bang”, “ngôn cử tư tâm,gia chư bi nhi dĩ Cố suy ân túc dĩ bão tứ hải, bất suy ân vô dĩ bảo thê tử –Lương Huệ Vương,Thượng) [tr.54, 34]
Như vậy, “Nhân” ở Mạnh Tử tuy vẫn là “thân yêu có phương pháp”(thân thân hữu thuẫn) của Khổng Tử, nhưng nó đã được mở rộng hơn, khôngchỉ dừng lại ở “nếu điều gì mình thích thì cũng thích cho người khác, cái gìmình không thích thì không thích cho người khác” nữa, ở Mạnh Tử “Nhân”
ấy là “người có Nhân suy cái mình yêu thì ngay đến cái mình không yêu cũngyêu Kẻ bất nhân thì vì cái mình không yêu thì ngay đến cái mình yêu cũngchẳng yêu nữa” (Nhân giả dĩ kỳ sở ái, cập kỳ sở bất ái Bất nhân giả dĩ kỳ sởbất ái cập kỳ sở ái) [tr.54, 34] Cái yêu có phương pháp và là có tính khả thi,không phải không tưởng như kiêm ái của Mặc Tử Lòng nhân ái ở Mạnh Tửkhông chỉ suy rộng cho mọi người, mà còn suy rộng đến vạn vật “người quân
tử đối với vật thì yêu mà không Nhân, đối với nhân dân thì huệ mà khôngthân thiết Thân thiết với người thân rồi mới suy lòng nhân huệ ra cho dân.Nhân huệ với dân rồi mới yêu đến vạn vật” [tr.55, 34]
Thứ năm: Theo Mạnh Tử, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí đều là gốc ở tâm
(Nhân nghĩa lễ trí căn ư tâm) Khổng Tử cũng đã đề cập đến “Nhân, Lễ,Nghĩa, Trí” Nhưng, Khổng Tử coi trọng Lễ, Trí như Nhân, thì Mạnh Tử lại ítnhắc đến Lễ, Trí mà luôn đề cao Nhân, Nghĩa “Đức Nhân là cái lẽ người, là
sở dĩ người hợp với cái lẽ ấy với bản thân con người mà có, thì tức là conđường nghĩa lý phải noi theo vậy” (Nhân giã, dã nhân dã hợp chi ngôn chi,đạo giả-Mạnh Tử,Tận Tâm Hạ) [tr.222, 3]
Theo Mạnh Tử, bốn đức tính đó bắt đầu từ tứ đoan, hay bốn đầu mốicủa thiện, còn gọi là thiện đoan, là tại chất, bản tính trời phú cho con người,sinh ra đã có, như mầm cây trong hạt giống, như tứ chi của cơ thể Bởi vậy,
mà xét không có lòng trắc ẩn (lòng thương xót) không phải là người, không
có lòng tu ố (lòng thẹn ghét) không phải là người, không có lòng thị phi (phânbiệt phải trái) không phải là người Lòng trắc ẩn là đầu mối của Nhân, lòng tu
ố là đầu mối của Nghĩa, lòng từ nhượng là đầu mối của Lễ, lòng thị phi là đầumối của Trí
Trang 24“Trắc ẩn chi tâm, Nhân chi đoan dã.
Tu ố chi tâm, nghĩa chi đoan dã
Từ nhượng chi tâm, lễ chi đoan dã
Thị phi chi tâm, trí chi đoan dã” [tr.48-49, 34]
Mạnh Tử cho rằng các điều Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, đều không phải từbên ngoài nung đúc vào ta, mà nó vốn có sẵn trong ta, mà do ta chẳng nghĩđến đấy thôi Cho nên Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, hễ cầu thì được, bỏ thì mất
Tóm lại, “Nhân” ở Mạnh Tử là việc duy tâm hóa “Nhân” của Khổng
Tử Tuy nhiên, Mạnh Tử đã có những sự mở rộng “Nhân” với nhiều điểm tiến
bộ và tích cực Nếu như ở Khổng Tử “Nhân” là chung chung và không có cơ
sở lý luận nào, thì ở Mạnh Tử “Nhân” đã có cơ sở lý luận đó chính là conngười “Nhân” ở Mạnh Tử đó là bản năng cố hữu của tâm và nó là thiên phú,
ai ai cũng có và giống nhau “Nhân” không chỉ là thích làm điều tốt, điềuthiện mà còn làm điều tốt, điều thiện một cách tự nguyện không vì một mụcđích nào khác, mà vì lòng trắc ẩn vốn có của con người, nó rất gần với mọingười không xa con người “Nhân” còn là tiêu chí để phân biệt Đại nhân vớiTiểu nhân hay là Quân tử với Tiểu nhân Người Quân tử, Đại nhân thì khôngthể đánh mất tâm, lương tâm; chỉ có kẻ Tiểu nhân mới đánh mất tâm, lươngtâm “Nhân” ở Mạnh Tử là yêu, ghét, kính trọng, là có trước có sau, thân, sơ,gia đình, thiên hạ có trật tự của Nho giáo, chứ không biên giới hay chủ nghĩađại đồng của Mặc Tử, “Thân yêu người thân đến thân yêu người ngoài” Lấylòng nhân đối với người thân để thực hiện đối với người ngoài Theo Mạnh
Tử, Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí đều là gốc ở tâm Bốn đức tính này bắt nguồn từ tứđoan hay bốn đầu mối của thiện, hay còn gọi là thiện đoan, là bản tính trờiphú cho con người Ông đặc biệt nhấn mạnh đến “Nhân” và “Nghĩa”
Như vậy “Nhân” của Mạnh Tử là một sự duy tâm hóa “Nhân” củaKhổng Tử, nhưng nó lại tiến bộ hơn “Nhân” của Khổng Tử và so với thuyết
“Kiêm ái” của Mặc Tử thì nó có tính thực tế hơn
1.1.3 Sự kết hợp “Nhân” với “Nghĩa” trong phạm trù “Nhân nghĩa” của Mạnh Tử
Cũng như quan niệm về “Nhân”, ở Mạnh Tử “Nghĩa” cũng là tính tựnhiên của con người Đầu mối của “Nghĩa” là lòng xấu hổ, tự trọng, là ghétnhững gì bất nhân, là sự biết cái gì đáng làm, cái gì không đáng làm “Nghĩa”
là tính thiện của con người là bản thể của tâm con người, nó tự có bên trong
Trang 25của tâm mà khởi phát chứ không do tác động bên ngoài chi phối, đó là khíhạo nhiên Ông chủ trương phải nuôi khí hạo nhiên đó theo lẽ tự nhiên, khôngđược sao nhãng, không gián đoạn và cũng không vội vã “để nghĩa hợp lại màsinh ra chứ không phải lấy nghĩa mà chụp lấy” (thi tập nghĩa sở sinh giả, phinghĩa tập nhi thủ chi giả) [tr.236, 22].
Theo Mạnh Tử, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, bốn đức tính lớn đó bắt nguồn từ
tứ đoan Mạnh Tử đã gắn chặt Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí là một, và đó là bản chấttrời phú cho mỗi con người sinh ra đã có như mầm cây trong hạt giống, như
tứ chi trong cơ thể Và ông chủ trương, người là phải biết mở rộng một cáchđầy đủ, phải biết khuyếch sung những tác dụng to lớn ấy để hoàn thành cáinhân tính của mình Ông ví, phàm người đã có bốn đầu mối ở mình thì phảibiết mở rộng cho đầy đủ vậy Cũng như lửa bắt đầu cháy, như suối nước bắtđầu tuôn Nếu có thể sung mãn được bốn mối lớn ấy thì phải đủ giữ gìn đượcbốn bể, bằng không sung mãn được thì không đủ để phụng sự cha mẹ” (Phàmhữu tứ đoan ư ngã giả, chi giác khuyếch nhi sung chi hĩ, nhược hỏa chi thủynhiên, tuyền chi thủy đạt cầu năng, sung chi, túc dĩ bảo tứ hải Cầu bất sungchi, bất túc dĩ sự phụ mẫu) [tr.49, 34] Tuy nói tứ đoan, nhưng Mạnh Tử haynói đến “Nhân”, “Nghĩa” và kết hợp chúng thành phạm trù “Nhân nghĩa”
“Nhân nghĩa” là gì? Đó là cha từ, con hiếu, anh nhường, em đễ, chồngnghĩa, vợ nghe, người lớn có huệ, người nhỏ thuận theo, vua nhân đức, tôi hếtlòng Đó là 10 điều của “Nhân nghĩa”
Phạm trù “Nhân Nghĩa” của Mạnh Tử gồm những nội dung sau:
Thứ nhất, “Nhân nghĩa” là bản tính tự nhiên, tiên thiên của con người
Trong khi tranh cãi với Cáo Tử, Mạnh Tử đã nói: nếu ví tính như cây kỷ, cây liễu, “Nhân nghĩa” như cái chén, cái thìa, thì người ta có thể thuận theo tính
tự nhiên của cây kỷ, cây liễu để làm cái chén, cái thìa không, hay là phải đẽo gọt gỗ kỷ, gỗ liễu để làm chén, thìa thì cũng phải đẽo gọt tính con người thì mới làm ra được điều “Nhân nghĩa” Như thế chẳng hại cho “Nhân nghĩa sao”? (Mạnh Tử, Cáo Tử thượng) [tr.221, 3]
Con người luôn có lương tâm (tính thiện bẩm sinh) nên luôn biết điềunhân, điều nghĩa, lẽ phải, lẽ trái Điều này thì dẫu là thánh nhân hay là ngườithường cũng chẳng khác gì nhau Theo ông, vì tâm chỉ có một, đạo cũng chỉ
có một mà thôi, nên ai ai cũng có đạo lý ở trong tâm, cứ thế mà tu dưỡng, cứthế mà hành động thì không ai hơn ai cả “Thân yêu cha mẹ là “Nhân”, cung
Trang 26kính tôn trưởng ấy là “Nghĩa”, không có gì khác lạ, vì là cái đạo thông hànhtất cả trong thiên hạ, ai cũng vậy” [tr.227, 3].
Thứ hai: Cũng như “Nhân”, “Nhân nghĩa” là tiêu chí để phân biệt kẻ
hiền, người ngu Ông quan niệm, ai cũng có “Nhân nghĩa” như nhau, song vìcuộc sống thường ngày con người thường để vật dục làm cho lương tâm mờtối nên đã bỏ mất “Nhân nghĩa” Con người, khi đói ăn gì cũng ngon; khi khátuống gì cũng ngon, thì chưa biết rõ thực của cái ngon ăn uống Chính là cáiđói, cái khát theo kiểu đó đã làm hại cái miệng, cái bụng và đã làm hại cảlương tâm Kẻ ngu thì đánh mất tâm, để cho vật dục làm hại mình Ngườihiền, Đại nhân, thánh hiền thì không để vật dục làm hại tâm nên luôn giữđược điều “Nhân nghĩa” Dùng “Nhân nghĩa” mà đối xử với thiên hạ, trời, đấtthì dẫu có thua chị kém em, chưa bằng chưa kịp người cũng không đó làm lo
“Bậc Đại nhân không bỏ mất cái tâm hồn nhiên của đứa con đỏ” (Đại Nhângiả, bất thất kỳ xích tử chi tâm giả giã – Ly lâu, hạ) [tr.230, 22]
“Nhân nghĩa” là mối quan hệ biện chứng ràng buộc hữu cơ không tách
rời nhau giữa “Nhân” và “Nghĩa” “Nhân”, “Nghĩa” là hai mặt, hai phươngdiện của cùng một tâm, là thể và dụng của cùng một tâm, là tính và tình củacùng một tâm “Nhân” bao gồm cả lý và trí, cả ba mối quan hệ này đều là cáitính tự nhiên của tâm phát ra Nhân là thương yêu con người, lễ là biết phânbiệt trên dưới, trí là biết phân biệt phải trái – đó là cái lý, cái thể, cái tính, làtrạng thái tĩnh của tâm, thì không có lý do gì mà ở trạng thái động với tư cách
là động cơ của hành vi, là cái tình, cái dụng của tâm lại không là “nghĩa”được Mạnh Tử dùng “Nghĩa” để thuyết minh tính thiện của tâm Bởi theoông, “Nghĩa” là khí hạo nhiên, tự tâm phát khởi chứ không bị chi phối bởingoại cảnh Người giữ được tâm “Nhân nghĩa” ấy thì không làm hỏng việc
Kẻ bị vật dục chi phối , bị ngoại cảnh chi phối làm hỏng làm hại cái tâm thìmới sinh ra ác, mới làm hỏng việc
Vì thế, “Nhân nghĩa” như trên đã nói là tiêu chí để phân biệt bậc Đại nhân với kẻ Tiểu nhân, nhân loại với cầm thú Ông nói: “Dầu ở phận người
ta, lúc mới há lại không có cái tâm Nhân, Nghĩa ư?” Chỉ vì cái vật dục nó
làm phóng mất cái lương tâm của người ta đi, cũng như rìu búa nó làm trụicây ở sườn núi đi vậy Sớm ấy, sớm khác mà đẵn mãi đi không thể nào cònxanh tốt được nữa Nhưng còn chút thiện tâm chưa mất hẳn, ngày đêm nó lạisinh trưởng ra, buổi sớm bình minh khi còn trong sạch, lúc ấy cái lòng yêu
Trang 27ghét công minh gần với lương tâm người thì ít lắm Ban ngày lại bị những vậtdục nó cùm trói cả khí trong sạch lúc ban đêm không đủ giữ lại cái tâm, cáikhí trong sạch ban đêm không đủ giữ lại được thì người ấy cách với loài cầmthú không xa mấy Người ta thấy người ấy là loài cầm thú mới nghĩ rằng,người ấy chưa từng có tài năng, há phải cái tính của người ta vậy thay!” (Tuytồn hồ nhân giả, khởi vô Nhân nghĩa chi tâm tại, kỷ sở dục phóng kỳ lươngtâm giã, việc do phủ cân chi ư mộc dã, đán đán nhi phạt chi, khả dĩ mĩ hồ, kỳnhật dạ chi sỡ tức, bình đán chi sở khí, kỳ hiếu ố dữ (Nhân) tương cận giã cô
hy Tắc kỳ đán trú chi số vi, hữu cốc vong chi hỹ Cốc chi phản phúc tắc kỳ
dạ khí bất túc dĩ tồn, dạ khí bất túc dĩ tồn, tắc kỳ vi cầm thú bất viễn kỹ Nhânkiến kì cầm thú dã, nhi dị vi thường hữu tài yên giã, thị khởi nhân chi tính dãtai - Mạnh Tử – Cáo Tử, thượng) [tr.51, 34]
Ông quan niệm: “giết một người không có tội không phải là “Nhân”;không phải của mình mà lấy không phải là “Nghĩa” Chỗ mình ở là đâu? Làchỗ “Nhân”; Đường mình đi là đâu? Là chỗ “Nghĩa” Ở chỗ “Nhân” đi theochỗ “Nghĩa” như thế là việc của bậc đại nhân” (sát nhân vô tội, phi nhân giã;phi kỳ hữu nhi thủ chi, phi nghĩa giả Cư ô tạ? Nhân thi giã; Lộ ô tại? Nghĩathị giã Cư nhân do nghĩa, đại nhân chi sự cư nhân do nghĩa, đại nhân chi sự
bị lũy-Tận tâm -Thượng) [tr.169, 29] Cứ lý ấy mà suy, thì “Nhân” là cái nhàcủa người ta ở yên, “Nghĩa” là con đường chính của người ta đi Đã là conngười thì không thể bỏ cái nhà yên không ở, bỏ con đường chính không đi
“Nhân nghĩa” là cái tước trời cho, là phẩm giá cao quý của con người Chỗrộng trong thiện là Nhân, đường lớn trong thiên hạ là Nghĩa Phàm là người aicũng có tâm nhân thì cũng luôn đem tình nghĩa mà đối xử với nhau Bởi thế
mà ông quan niệm: “Lễ không phải lễ, nghĩa không phải nghĩa thì bậc đạinhân không làm” Đạo làm người quý nhất là “Nhân”, “Nghĩa” Đầu mối của
“Nhân” là lòng trắc ẩn, thì đầu mối của “Nghĩa” là lòng tu ố Người đã biết hổthẹn, biết điều gì nên làm, điều gì không nên làm thì không thể không độnglòng thương người được Biết “Nhân”, biết “Nghĩa” thì tùy thời hành đạo
“Nhân nghĩa” làm việc gì cũng thành đạt
Thứ ba: “Nhân nghĩa” là thể và dụng của tâm (là bản tính thiện tiên
thiên) của con người, đồng thời nó cũng là phẩm giá cao quý không ai cho,cũng không ai lấy được của mỗi người Để có “Nhân nghĩa” con người phảiluôn tu dưỡng, luôn rèn luyện, phải tồn tâm dưỡng tính, và phải siêng năng
Trang 28cần mẫn trong học tập tu dưỡng đạo lý Mạnh Tử ví việc tu dưỡng rèn luyệnnày giống như: “Ở trên núi, đường mòn được người đi lại luôn thì thành ngayđường lớn Hễ bỏ trống không đi lại nữa, thì bị cỏ tranh mọc lấy ngay” (Mạnh
Tử, Tận tâm hạ) [tr.231, 3] Không tu dưỡng không rèn luyện, tồn tâm dưỡngtính để có được “Nhân nghĩa”, thì đó chính là tự đánh mất bản thân mình là
“bỏ ngôi nhà lớn” và “con đường chính”
“Nhân nghĩa” về thực chất vẫn là Ngũ luân: cha con có tình thân, vuatôi có nghĩa, vợ chồng phân biệt, lớn bé có trật tự, bàn bè giữ chữ tín Nhữngđiều luân thường đó là không khó, nhưng do người ta làm mà không biết, theo
mà không xem xét, không hiểu đạo đã để đạo ở gần mà phải đi tìm xa, việc ởcái dễ mà đi tìm ở cái khó Chính lẽ này, muốn đạt được “Nhân nghĩa” conngười cần phải được giáo dục, rèn luyện, dạy bảo Nếu không, tuy con người
có “Nhân nghĩa” bẩm sinh, nhưng cứ ngồi ăn no, mặc ấm, không được dạybảo thì sẽ bị vật dục, ngoại cảnh chi phối làm mất bản tâm, rất dễ sẽ giốngcầm thú
Ông cũng quan niệm, sự giáo dục con người cần phải lấy những khuônphép của thánh hiền làm tiêu chuẩn Trong xã hội người trung chính dạyngười không trung chính, người có tài năng dạy người không có tài năng,người có tài đức dạy người không có tài đức Ông đòi hỏi cả người dạy vàngười học đều phải chuyên tâm, trì chí theo đúng các khuôn mẫu thánh hiền
đã dạy cũng như: “Hậu Nghệ dạy người ta học bắn tất phải để chí vào sự kéodây cung sao cho thẳng, người học tất phải để chí tài vào sự kéo dây cung saocho thẳng vậy” (Mạnh Tử, Cáo Tử, thượng) [tr.234, 3] Ông hoàn toàn khôngđồng tình với những thái độ “muốn làm thầy người khác” Ông cho rằng:
“Phàm kẻ đến cầu học, nếu cậy mình là tôn ký mà hỏi, cậy mình là tài năng
mà hỏi, cậy mình là lớn tuổi mà hỏi, cậy mình có huân cao mà hỏi, cậy mình
có tính có cựu mà hỏi, đều không đáng trả lời” (Mạnh Tử, Tận Tâm Thượng)[tr.234, 3]
Phương pháp giáo dục của Mạnh Tử cũng rất phong phú Mạnh Tửcũng phân biệt rõ các loại đối tượng khác nhau và tùy theo khả năng, sởtrường của từng người để có phương pháp dạy thích hợp Đối với nhữngngười có phương pháp học cao, thì cách dạy như trận mưa phải thời, để thấmnhuần mà cảm hóa cho Đối với những người có tính chất thuần hậu thì cầndạy cho họ được thành đức hạnh Hạng người thiên sứ sáng suốt, thì cần dạy
Trang 29cho họ để trở thành tài năng Còn đối với những người đến đòi hỏi điều gì thìtrả lời cho, để giải thích cho những điểm nghi hoặc, tức là dùng phương phápvấn đáp Hạng người chỉ trộm nghe những điều hay lẻ phải mà tự tu tĩnh lấymình, đó là tự nghiên cứu Điều quan trọng nhất trong giáo dục “Nhân nghĩa”của Mạnh Tử là hướng dẫn cho người ta ai thích học thì tự học và phải tự cốgắng mà học Cứ giữ đạo mà đứng, ai theo được thì theo (Trung đạo nhi lập,năng giả lòng chi) [tr.240, 22].
Theo Mạnh Tử, người Quân tử thì dạy người, nhưng muốn dạy ngườithì trước hết phải tự sửa mình phải giữ cho tâm mình luôn chính, không được
tự mãn, biết xấu hổ về những việc làm sai trái, biết liêm sỹ về sự xấu xa củamình “Mình cong queo thì không thể nào cho người thẳng được”(Mạnh Tử,Cáo Tử Thượng)
Thứ tư: “Nhân nghĩa” theo Mạnh Tử là điều cao quý nhất của đạo làm
người Vua mà bất “Nhân nghĩa” cũng là đáng khinh Chính điều này conngười, nhất là bậc quân tử phải luôn luôn tu dưỡng “Nhân nghĩa”: thấy ngườigiàu sang mà không muốn, thấy mình nghèo hèn mà không sợ Người quân tửtôn quý đạo “Nhân nghĩa”, không ham muốn yêu chuộng thế lực, chức tước
Kẻ Tiểu nhân có thể cậy giàu, cậy quyền lực; người quân tử chỉ cậy ở cái
“Nhân”, cái “Nghĩa” bản tâm của mình Người có “Nhân nghĩa” (quân tử) điđâu cũng giáo hóa được người, làm việc gì cũng thành công, trong cuộc sốngthì trên dưới đồng lòng
Để đạt được cái vốn quý “Nhân nghĩa” con người phải có lòng tin ở
“Nhân nghĩa”, phải luôn giữ nó làm lẽ sống, dẫu có chết cũng không bỏ
“Nhân nghĩa” Ông nói: “thiên hạ có đạo thì đem đạo theo thân mà thi hành,thiên hạ vô đạo thì lấy thân mình chôn theo với đạo, không bao giờ thân vớiđạo lìa nhau vậy” (Thiên hạ hữu đạo dĩ đạo tuẫn thân, thiên hạ vô đạo dĩ thântuẫn đạo – Tận tậm – thượng) [tr.58, 34]
Ông cũng là người chủ trương để đạt được cái Nhân nghĩa cao cả, quýbáu ấy con người phải đội trời đạp đất, dẫu có phải khổ tâm, nhọc gân cốt, đóilòng, túng bấn vẫn không lìa đạo, để nhìn lên không xấu với trời, cúi xuốngkhông thẹn với người: “Cùng khổ không mất nghĩa, thành đạt không xa lìađạo Cùng khổ một mình mình làm hay cho mình, thành đạt thì làm thay chothiên hạ” (Cùng bất thất nghĩa, đạt bất lý đạo, cùng tắc động thiện kỳ thân, đạttất đắc kiêm thiện thiên hạ – Tận tâm - thượng)[tr.243, 22]
Trang 30Như vậy, “Nhân Nghĩa” ở Mạnh Tử thực chất là Nhân, Lễ của Khổng
Tử Tuy nhiên, ở Khổng Tử thực hành Nhân, Lễ với tư cách Nhân là nộidung, Lễ là hình thức Người có Nhân ắt có Lễ Kẻ vô Lễ thì không thể cóNhân Ở Khổng Tử, như vậy mới chỉ thống nhất thiện với mỹ Còn ở Mạnh
Tử, “Nhân nghĩa” là sự thống nhất biện chứng giữa Nhân với Nghĩa, là bảntính thiện bẩm sinh của con người, không ai cho và cũng không ai lấy điđược Nó là tiêu chí để phân biệt người hiền với kẻ ngu Người hiền thì không
bị vật dục làm mờ tối, đánh mất lương tâm của mình, còn kẻ ngu thì khônglàm được như thế “Nhân nghĩa” của Mạnh Tử là sự thể hiện của thể và dụng,của tâm là tính và tình của con người, là cái vốn quý cao thượng nhất của đạolàm người, con người phải luôn luôn tồn tâm dưỡng tính, tu dưỡng rèn luyện
để đạt được và giữ được “Nhân nghĩa” Như vậy, ta thấy Mạnh Tử đã tiến bộhơn Khổng Tử ở chỗ ông đã đi đến thống nhất chân - thiện - mỹ
Mặc dù những quan điểm này của ông vẫn hằn sâu dấu ấn giai cấp vàmang màu sắc duy tâm thần bí, là công cụ đắc lực phục vụ cho lợi ích, mụcđích của giai cấp quý tộc; song những đóng góp của ông với những quan điểm
về giáo dục, chuẩn mực đạo đức thì không thể phủ nhận được Trong giaiđoạn hiện nay, khi chúng ta đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước với sự phát triển nền kinh tế thị trường; bên cạnh những mặttích cực mà nó đem lại thì mặt tiêu cực của nó cũng rất nhạy cảm đòi hỏichúng ta phải lưu ý khắc phục Những luân lý đạo đức của Mạnh Tử góp phầngiáo dục, rèn luyện lối sống tích cực cho mỗi con người và khắc phục mặt tiêucực của cơ chế kinh tế này Cho dù sự thống nhất ấy còn mang nhiều yếu tốduy tâm, còn hạn chế ở sự bảo vệ cho lợi ích của quý tộc chủ nô, thì nhữngđiều vừa kể trên không phải không có ý nghĩa tích cực trong giáo dục, rènluyện đạo đức lối sống con người ngày nay, nhất là khi chúng ta đang thựchiện cơ chế thị trường
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT “NHÂN CHÍNH” CỦA MẠNH TỬ
Với tư tưởng cơ bản là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí và sự kết hợp “Nhân” và
“Nghĩa” thành phạm trù “Nhân nghĩa” đóng vai trò là hai mặt là hai phươngdiện, là thể và dụng của tâm, là tính và tình của tâm, phải là gốc, là bản tínhcủa con người, cùng với mục tiêu lý tưởng của mình là mong muốn cho quốcthái dân an, nhân dân sống trong ấm no, hòa bình, được tôn trọng đề cao,
Trang 31Mạnh Tử đã xây dựng học thuyết “Nhân chính” của mình Kiên trì với chủnghĩa nhân đạo, luôn một lòng trung thành với đạo để mà tu mình, luôn nhân
từ, lượng thứ đối với mọi người; do vậy trên lĩnh vực chính trị Mạnh Tử cànglấy “Nhân nghĩa” làm gốc
Như trên đã nêu Mạnh Tử coi “Nhân nghĩa” là thể – dụng, tính – tìnhcủa tâm, phải là gốc, là bản tính của con người; do vậy trên lĩnh vực chính trịông cũng lấy “Nhân nghĩa” làm gốc, luôn một lòng trung thành với đạo để mà
tu mình, luôn nhân từ, lượng thứ đối với người để dạy người Ông coi hoạtđộng chính trị là lĩnh vực tối quan trọng để thi hành “Nhân nghĩa” Biểu hiệncủa “Nhân nghĩa” trong tư tưởng chính trị của ông là học thuyết “Nhânchính”
1.2.1 Quan hệ giữa “Nhân nghĩa” và “Nhân chính” trong tư tưởng của Mạnh Tử
Mạnh Tử sống vào thời Chiến Quốc - thời kỳ chiến tranh liên miên,bọn vua chúa chỉ lo mở rộng lãnh thổ, nâng cao quyền lực và hưởng thu xahoa theo lối vị ngã mà không lo cứu dân, không đoái hoài gì đến cuộc sống,quyền lợi, mong ước của dân Trong bối cảnh như vậy, Mạnh Tử muốn đem
tư tưởng “Nhân nghĩa” của mình giúp các ông vua thực hiện lối cai trị nhânđức, lấy dân làm gốc Chính vì thế, trong học thuyết “Nhân chính” của mình,Mạnh Tử đã chủ trương thi hành “Nhân nghĩa”, coi “Nhân nghĩa” là gốc củachính trị
Nhìn chung, triết thuyết chính trị của Mạnh Tử vẫn tôn trọng truyềnthống cổ truyền của Nho giáo: làm cho dân giàu, làm cho tài sản sung túc vàgiáo hóa dân “thứ chi, phú chi, giáo chi”; nhưng đã đặt nó trên cơ sở nền tảng
cơ bản nhất là “Nhân nghĩa” Ông cho rằng “nhà vua không nên nói đến lợi
mà chỉ nên nói đến “Nhân nghĩa” (vương hà tất viết lợi, diệc hữu “Nhânnghĩa” nhi dĩ hĩ - Lương Huệ Vương , thượng)
Nguồn gốc của đường lối chính trị “Nhân nghĩa” ấy bắt nguồn từ quanniệm của ông về tính thiện bẩm sinh của con người ai ai cũng như nhau:
“người ta ai cũng có lòng bất nhẫn” (Nhân giai hữu bất nhẫn chi tâm) Tínhthiện là phần thiên lý trời phú cho đủ cả nhân, nghĩa, lễ, trí, mọi người đều cósẵn Chỉ vì con người không để ý tới hoặc hãm đắm trong vật dục mà sinh bấtnhẫn thôi Mạnh Tử quan niệm: Lòng trắc ẩn là nhân, lòng tu ố là nghĩa, lòngcung kính là lễ, lòng thị phi là trí Nhân, nghĩa, lễ, trí, ta vốn có sẵn Cái tính
Trang 32trời phú cho con người là thiện Nếu có thành ra bất thiện là vì người ta khôngbiết giữ lấy bản tâm Người ta ai cũng có lòng thương người (nhân giai hữubất nhẫn nhân chi tâm) Trong Công Tôn Sửu, Thượng, Mạnh Tử khẳng định:
Ai không có lòng trắc ẩn không phải là người; ai không có lòng tu ố khôngphải là người; ai không có lòng từ nhượng không phải là người; ai không cólòng thị phi không phải là người Lòng trắc ẩn là mối của nhân, lòng tu ố làmối của nghĩa, lòng từ nhượng là mối của lễ, lòng thị phi là mối của trí.Người ta có bốn mối ấy như tứ thể vậy
Mạnh Tử cũng quan niệm tâm và tính là một Tính là thiên lý trời phú.Tâm là phần chủ trong con người Vì thế mà ông cũng đưa ra quan niệm cáchvật trí tri: Biết hết cái tâm của mình là biết hết cái tính của mình Biết cái tínhcủa mình là biết trời Giữ cho còn cái tâm của mình, nuôi cái tâm của mình là
để thờ trời Yểu, thọ không thay đổi, sửa mình mà đợi là để lập mệnh vậy(“Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính giả Tri kỳ tính tắc tri thiên hỹ Tồn kỳ tâm,dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự thiên giã Yểu thọ bất nhị, tu thân dĩ sĩ chi, sở dĩ lậpmệnh giã” Tận tâm, thượng)
Vì thế, mà Mạnh Tử cũng quan niệm: Người quân tử khác người ta làchỉ là ở chỗ giữ được cái tâm Quân tử lấy nhân mà giữ còn cái tâm, lấy lễ màgiữ còn cái tâm (“Quân tử sở dĩ dị ư nhân giả, dĩ kỳ tồn tâm giã Quân tử dĩnhân tồn tâm, dĩ lễ tồn tâm” Ly Lâu, hạ) Cái tâm mà Mạnh Tử nói ở đây làlương tâm Người có lương tâm thì mới biết điều nhân nghĩa, lẽ phải trái Cólương tâm thì mới có cái giỏi cái biết tự nhiên và mẫn tiệp Nhân nghĩa là cái
có sẵn trong lương tâm con người Người quân tử khác người ta là chỗ giữđược cái lương tâm ấy Sự học vấn của con người cần nhất chính là phải tìmthấy bản tâm của mình đã để sổ mất Nếu ai cũng giữ được cái khí hạo nhiên(tâm-tính) thì đều là quân tử, thánh nhân cả
Ở Mạnh Tử, chính trị vương đạo là chính trị nhân đạo: bảo dân, dưỡngdân và giáo dân Ông đã không ngừng khuyên các vua các nước chưa hầuphải quay về gốc của chính trị là thi hành “Nhân nghĩa”
Theo ông: “Các vua hiền ngày xưa có lòng bất nhẫn nên mới có chínhsách bất nhẫn” (Tiên vương hữu bất nhẫn chi tâm, tư hữu bất nhẫn nhân chichính hỷ – Công Tôn Sửu, thượng) Như vậy, ông coi các vua thời ông làkhông có lòng bất nhẫn, đã không có lòng bất nhẫn thì không thuận ý trời,không thuận lòng dân Ông cũng khẳng định, chỉ lấy đức thi hành chính trị
Trang 33“Nhân nghĩa” thì mới là vương đạo Trong đường lối chính trị phải thực hiệnđiều “Nhân nghĩa”, thì các quan ai cũng muốn phục vụ triều đình, dân ai cũngmuốn cày đất vua, thương gia ai cũng muốn đến chợ vua, và ai ai cũng muốn
đi đường của vua Nhờ thế mà triều đình được bền vững, không ai chống lạivua cả
Phạm trù “Nhân nghĩa” của Mạnh Tử được thể hiện rõ nhất, sâu sắc
nhất ở tư tưởng chính trị của ông – đó là học thuyết “Nhân chính” Ở học
thuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử là thực hiện “Nhân nghĩa”, coi “Nhânnghĩa” là gốc của chính trị “Nhân chính” không thể tách rời “Nhân nghĩa”.Trong hoàn cảnh bá đạo hoành hành, bá đạo lấn át vương đạo, nhân dân khổcực, đất nước loạn lạc Ông đưa ra đường lối “Nhân chính” với học thuyết
“Nhân nghĩa” để khuyên răn mọi người (nhất là bậc vua chúa cầm quyền),giúp mọi người tĩnh ngộ, lấy “Nhân nghĩa” mà quan hệ với nhau, và quan hệgiữa các nước với nhau nhằm cứu vớt muôn dân
Với Mạnh Tử, bậc làm vua không bàn đến điều lợi mà chỉ bàn điềunhân nghĩa mà thôi (“Vương hà tất viết lợi Diệc hữu nhân nghĩa nhi dĩ hỹ”Lương Huệ vương, thượng) Mạnh Tử quan niệm: nếu ai cũng nghĩ đến lợi
mà quên nhân nghĩa thì người đời đều say đắm lợi riêng cho mình mà sinh raphá hại lẫn nhau Từ đó mà sinh ra biến loạn, chiến tranh, làm cho thiên hạlầm than Cái lợi ấy là hại chứ không phải lợi Nhân nghĩa tuy không nói đếnlợi nhưng mới thất là lợi Vì nhân nghĩa mà trong thiên hạ ai cũng lo cái lợichung trước cái lợi riêng, trên hoà dưới thuận, ai cũng đều được hạnh phúc
Kẻ bề tôi trung thành với vua, không dùng điều lợi mà dùng điều nhân nghĩakhuyên vua theo đạo nhân nghĩa mà trị nước trị dân (“Quân tử chi sự quângiã, vụ dẫn kỳ quân dĩ đương đạo, chí ư nhân nhi dĩ” Cáo Tử, hạ) Người làmvua phải thấu rõ cái quyền trị dân là do trời trao cho, tức là do lòng dân ưngthuận mà cho ai thì người ấy mới được Vì thế mà đạo làm vua phải là “Dân
vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Cáo Tử, hạ) Người làm vua phải lúcnào cũng chăm lo hạnh phúc cho dân, vui cùng cái vui của dân, lo cùng cái locủa dân Làm cho dân được sung túc (hằng sản hằng tâm), an ủi, vỗ về, giúp
đỡ, che chở, cho dân Người làm vua muốn cho dân kính phục thì phải biếtquý kẻ có đức mà tôn người có học thức, kẻ hiền ở ngôi, kẻ giỏi ở chức, nướcnhà nhàn hạ, trong lúc ấy lo sửa sang việc hình, việc chính cho phân minh(“Quý đức nhi tôn sỹ, hiền giả tại vị, năng giả tại chức, quốc gia nhàn hạ, cập
Trang 34thị thời, minh kỳ chính hình” Công Tôn Sửu, thượng) Người muốn làmvương cả thiên hạ thì phải phát cái chính trị ra, thi hành những điều nhân,khiến kẻ ra làm quan ở trong thiên hạ ai cũng muốn đứng ở triều của vua, kẻcày ruộng ai cũng muốn cày ở đất của vua, kẻ buôn bán ai cũng muốn đến ởchợ của vua, người đi đường ai cũng muôn đi đường của vua (“Phát chính, thinhân, sử thiên hạ sỹ giả giai dục lập ư vương chi triều, canh giả giai dục canh
ư vương chi dã, thương cổ giai dục tàng ư vương chi thị, hành lữ giai dục xuất
ư vương chi đồ” Lương Huệ vương, thượng)
Vì thế, ông định nghĩa rõ nghiệp vương, bá: người dùng sức mạnh màmượn tiếng làm điều nhân là bá, người làm bá tất phải có nước lớn Người lấyđức làm điều nhân là vương, người làm vương không đợi nước lớn (“Dĩ lựcgiả nhân giả bá, bá tất hữu đại quốc Dĩ đức hành nhân giả vương, vương bấtđãi đại” Công Tôn Sửu, thượng) Người lấy sức mạnh mà bắt người ta phục,
là không phải người ta tâm phục, chỉ vì sức không đủ mà thôi Người lấy đức
mà làm cho người ta phục, thì trong lòng người ta yêu mến và thành thực màphục (“Dĩ lực phục nhân giả, phi tâm phục giã, lực bất thiệm giã Dĩ đức phụcnhân giả, tâm trung duyệt nhi thành phục giã” Công Tôn Sửu, thượng)
Mối quan hệ giữa tư tưởng Nhân nghĩa và tư tưởng Nhân chính trongđường lối chính trị của Mạnh Tử chính là đường lối chính trị lấy hoà bình màbảo tồn dân, lấy nhân nghĩa mà đối với quốc gia để cứu vớt muôn dân Vuaxem bầy tôi như tay chân, thì bầy tôi xem vua như bụng như lòng Vua xembầy tôi như chó như ngựa, thì bầy tôi xem vua như người lạ trong nước Vuaxem bầy tôi như đất như cỏ, thì bầy tôi xem vua như giặc như thù (“Quân chithị thần như thủ túc, tắc thị quân như phúc tâm Quân chi thị thần như khuyển
mã, tắc thần thị quân như quốc nhân Quân chi thị thần như thổ giới, tắc thầnthị quân như khấu thù” Ly Lâu, hạ)
1.2.2 Nội dung cơ bản của học thuyết “Nhân chính” trong tư tưởng của Mạnh Tử
Chủ trương xây dựng một xã hội yên ổn, thái bình nhân ái Mạnh Tửcho rằng: đề xướng nhân đạo, thực hành “Nhân chính” là con đường duy nhất
để thực hiện lý tưởng đó Học thuyết “Nhân chính” đó là sự biểu hiện tưtưởng “Nhân nghĩa” trên lĩnh vực chính trị của Mạnh Tử
Trang 35Học thuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử là triết thuyết về sự hòa bìnhbảo tồn dân, coi dân là gốc nước, dùng đức trị thay cho pháp trị, trong đức trịcoi giáo dân là quan trọng bậc nhất
Thứ nhất: Dân không phải là của riêng Vua, mà là của chung thiên hạ.
Ý dân là ý trời, quyền trị dân do trời trao cho Từ đó ông xác định “dân là gốcnước, có dân mới có nước, có nước mới có Vua Ý vua là ý trời, trời trông dân
ở dân ta trông, trời nghe ở dân ta nghe (Vạn Chương thượng)” Vì vậy, “hễ aihiểu được lòng dân chúng thì được làm thiên tử ” (Mạnh Tử - Tận tâm thiênhạ) [tr.245, 3]
Ông yêu cầu người làm vua phải hiểu và thực hiện nghĩa vụ gìn giữhạnh phúc của dân, không áp chế dân, không lừa dối dân Mạnh Tử nói: “dân
vi quý, thứ đến xã tắc, vua là thường” (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vikhinh – Cáo Tử, hạ) Đưa ra khẳng định này, Mạnh Tử đã lý luận: “Bởi vì nếuđược nhân dân giúp đỡ thì mới có thể được làm thiên tử Nếu được thiên tửtrọng dụng thì mới có thể được làm chư hầu, được làm chư hầu mới có thểđược làm quan đại phu Nếu chư hầu nhiều mà quốc gia nguy khốn thì ngôi vịcủa vua sẽ bị phế truất, thay đổi” [tr.81, 29]
Hơn hai nghìn năm trước, đây là lời bàn thật tiến bộ “Dân vi quý”trong những lời kêu gọi: “Bảo dân nhi vương”, “Dự dân đồng lạc”, Mạnh Tử
đã nêu ra một cách rõ ràng Điều đáng quý hơn là ông dám nêu ngay trướcmặt bọn vua chúa rằng: “Quân vi khinh” Dưới thời chuyên chế phong kiến,
đó thật là suy nghĩ và dũng khí đáng ghi nhớ, đáng khâm phục
Ông cũng nói: “Nếu không có thiện tâm bình thường thì dông dài, càn
rỡ, điều gì là chẳng làm, đến lúc mắc tội lại liền theo mà bắt tội, thế là giănglưới để bắt dân Có lẽ đâu, người nhân đức làm vua lại chịu làm cái sự lừa dânmắc lưới?” [tr.243, 22]
Theo ông cái tinh thần “dân vi quý, quân vi khinh” là tinh thần dân chủngày nay Nhưng ngày nay (thời ông) tinh thần dân chủ đó đã mất một cáchthực sự Chính vì thế ông không quản ngại muôn dặm xa xôi, không quản khókhăn vất vả đi đến rất nhiều nước chư hầu để khuyên bảo các vua chư hầu vềtrọng dân, dưỡng dân theo gương thánh hiền
Thứ hai: Theo Mạnh Tử “Nhân chính” đó là vương đạo là phải bảo vệ
dân “Bảo vệ nhân dân mà làm cho thiên hạ thịnh vượng thì không ai có thể
Trang 36ngăn cản được” (bảo dân nhi vượng, mặc chi năng ngự dã – Lương HuệVương, thượng)
Trong bảo dân, ông cho rằng cần phải dạy dân làm ăn, dạy dân lập nghiệp,phải cho nhân dân có tài sản, có như thế dân mới theo vua, dân mới thực sựlàm gốc cho vua, làm gốc cho nước được Muốn được như thế vua chúa cầnphải thực hiện chính sách điền địa công bằng, thích hợp, sắp đặt phân chiaranh giới ruộng đất phân minh, thu thuế liệm của dân phải công bằng hay còngọi là thực hiện chính sách “Tĩnh điền”, khuyến khích nhà nhà chăn nuôi,trồng dâu nuôi tằm trên đất của mình Ông đã vẽ ra bức tranh của nền kinh tếtiểu nông ở Trung Quốc thời bấy giờ và đề ra các biện pháp phát triển kinh tếhết sức thiết thực “Nhà có năm mẫu đất, trồng dâu ở dưới chân tường, ngườiđàn bà chăm lo nuôi tằm dệt lụa, thì người già được đầy đủ vải lụa mà mặc.Nuôi năm con gà mái, hai con lợn nái đừng làm mất mùa sinh sản của nó, thìngười già cả được đầy đủ không thiếu thịt ăn Ruộng có trăm mẫu, người đànông trong nhà chăm lo cày cấy thì nhà có tám miệng ăn có thể không bị đóivậy” (Mạnh Tử, Tận Tâm hạ) [tr.247, 3]
Ông rất coi trọng kinh tế trong dân, nhưng về thực chất ông không phải
là người coi trọng kinh tế, mà điều đó chỉ là chương trình dân sinh, kinh tế đểgiáo dục dân Ông giải thích rõ gốc của chính trị và điều hòa kinh tế sản xuất,nhấn mạnh “dân dĩ thực vi tiên” chứ không thuyết “Nhân nghĩa” một cáchchung chung như Khổng Tử
Đề cao kinh tế của dân, nhưng ông cũng là người kịch liệt phản đối vớichủ nghĩa công lợi cá nhân Ông nói: “Nếu ai cũng chỉ thích vì lợi ích thìthành ra người làm tôi lấy bụng lợi mà thờ vua, người làm con lấy bụng lợi
mà thờ cha mẹ, người em lấy bụng lợi mà kính anh (Mạnh Tử, Cáo Tử hạ)[tr.244, 3] Theo ông, vua cùng biết cái vui của dân, lo cái lo của dân thì dânkhông bao giờ bỏ vua “làm vua mà không cùng dân hưởng lạc là không đúng,phải lấy cái vui của muôn dân làm cái vui của mình, lấy cái lo của muôn dânlàm cái lo của mình, như vậy muôn dân cũng sẽ lấy cái lo của vua làm cái locủa mình, lo cái lo của thiên hạ, vui cái vui của thiên hạ, như vậy thiên hạkhông thể không qui phục Xưa nay chưa từng có hay sao?” [tr.70, 29]
Trong chính trị, Nho giáo luôn lấy “bảo dân” làm trọng Họ cùng cóchung quan điểm: Nếu vua không “bảo dân”, mà chỉ biết vui thú riêng mình
để dân cực khổ là vua bất nhân
Trang 37Mạnh Tử không ra ngoài khuôn khổ đó Nhưng ở ông “bảo dân có tínhmạnh mẽ hơn, thân thiết gần gũi và cách mạng hơn Theo ông, vua là cha mẹdân, đã cha mẹ dân thì phải thương dân Nếu làm vua mà “biết vua có thịtbéo, tàu vua có ngựa mập, mà dân thì thất đói, ngoài đồng ruộng nằm la liệtnhững kẻ chết đói Như vậy chẳng khác nào vua kiếp thú ăn thịt người, loàithú con này ăn con kia, người ta còn ghét thay Huống chi làm bậc cha mẹdân, thi hành chính trị, lại chẳng ngăn cản được loài thú, để cho chúng ăn thịtngười, há đáng làm cha mẹ dân sao” (bào hữu phi nhục, cứu hữu phi mạc, dânhữu cơ sắc, giả hữu ngã biểu, thử xuất thú như thật nhân dã, Lương HuệVương, thượng) [tr.17, 5].
Mong ước, ca ngợi chế độ chính trị lý tưởng là ngôi thiên tử, phải thuộc
về người có tài có đức của các bậc thánh nhân, trị nước theo mệnh trời Mạnh
Tử kiên quyết chủ trương phải phế truất những ông vua vô đạo, hại nước hạidân Theo ông, người hại “Nhân” là tặc, người hại “Nghĩa”là tàn “Người tàntặc là một tên không ra gì” [tr.248, 3] Bởi thế khi nghe đệ tử hỏi mình vềquan điểm trung với vua, ông nói “ta nghe giết một đứa Trụ, chưa nghe nóigiết vua Trụ (Mạnh Tử – Lương Huệ Vương, thượng) [tr.248, 3]
Ông cũng nói “làm bậc cha mẹ dân thi hành chính trị mà chẳng ngănchặn được loài thú, để cho chúng ăn thịt người, há đáng làm cha mẹ dân sao”(vì dân phụ mẫu, hành chính, bất miễn ư suất thú nhi thực nhân, ở tại kì vi dânphụ mẫu dã – Lương Huệ Vương , thượng) [tr.17, 5]
“Bảo dân” còn phải là coi trọng dân Trong chỉnh thể quân chủ tuy cóvua có tôi, nhưng vua phải lấy lễ mà đãi tôi, tôi phải trung mà thờ vua Trêndưới rõ ràng
Nhưng trung với vua ở Mạnh Tử không là lòng trung thành mù quángvào bất cứ một vị vua nào Tôi chỉ trung với vị vua nào coi trọng mình, bảo vệhạnh phúc cho mình Ông nói với Tề Tuyên Vương rằng: “Vua coi bề tôi nhưchân tay thì bề tôi coi vua như tâm phúc Vua coi bề tôi như chó ngựa, bề tôicoi vua như người đi đường Vua coi bề tôi như đất cỏ, bề tôi coi vua như giặcthù” (Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm Quân chithị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc Nhân Quân chi thị thầnnhư thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù – Ly lâu , hạ) [tr.250, 22]
Như vậy, từ quan điểm dân là gốc nước, Mạnh Tử đã tiến xa hơnKhổng Tử, tích cực hơn Khổng Tử trong việc bảo dân Thời Khổng Tử mới
Trang 38chỉ dừng ở “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”; thì ở Mạnh Tử, ông đã nêurằng quân không ra quân, thần phải xử như thế nào? Điều này không phảikhông có ý nghĩa tích cực trong thời đại mới của chúng ta.
Thứ ba: “Nhân chính” là không dùng sức mạnh mượn tiếng “Nhân
nghĩa” để xưng bá, mà phải lấy đức để thực hành “Nhân nghĩa” Mạnh Tửquan niệm người dùng sức mạnh để đè nén người khác thì có thể làm nênđược việc lớn, nhưng lòng dân không phục Kẻ đó chỉ là bá đạo Người muốnxưng vương thì không cần đợi đến nước lớn nước nhỏ, cứ lấy đức mà làmđiều “Nhân nghĩa” thì được người ta kính phục Người làm vương không cầnsức mạnh, không ỷ sức mạnh mà chỉ cần thu phục nhân tâm Chính lẽ đó, vuaphải biết trọng người hiền tài giúp nước: “quý kẻ có đức mà tôn người có họcthức, người hiền lên ngôi báu, kẻ giỏi vào những chức vị thì nước nhà nhàn
hạ, trong lúc đó lo sửa việc hình việc chính cho phân minh” (Quý đức nhi tôn
sỹ, hiện giả tại vị, năng giả tại chức, quốc gia nhàn hạ, cập thị thời, minh kỳchính hình – Công Tôn Sửu , thượng )
Thời Chiến Quốc chưa có chế độ kiểm tra khách quan để trọng dụngngười tài, nhưng Mạnh Tử đã ý thức được tính quan trọng của vấn đề này.Căn cứ vào những kiến giải của ông, sự thành bại trên trường chính trị, tínhquyết định quan trọng vẫn ở chỗ: sử dụng nhân tài Chỉ có con người mới lànhân tố quyết định chính trị thành công hay thất bại
Như vậy làm vua phải hiểu đạo vua, làm tôi phải hiểu đạo tôi Tôi trungvới vua hiền, vua phải biết làm gương, phải thi hành điều “Nhân nghĩa”, phảihọc thánh nhân (vua Nghiêu, vua Thuấn) mà làm Ông nói: “làm vua thì phảihết đạo vua, làm tôi phải hết đạo tôi Hai điều đó chỉ làm như vua Nghiêu vuaThuấn thôi Không theo cách vua Thuấn thờ vua Nghiêu mà thờ vua là khôngkính với vua Không theo cách trị dân của vua Nghiêu mà trị dân là hại dân”(Dục vi quân, tận quân đạo; dục vi thần, tận thần đạo Nhị giả giai phápNghiêu, Thuấn nhị dĩ hỷ Bất dĩ Thuấn chi sở dĩ sự Nghiêu, sự quân, bất kính
kỳ quân giả giã Bất dĩ Nghiêu chi sở dĩ trị dân, trị dân, tặc kỳ dân giả giã –
Ly Lâu , thượng )
Bởi thế, thực hiện “Nhân chính” mà không tin người hiền, nước sẽtrống không, không có lễ nghĩa thì trên dưới đều loạn, không có chính sự thìcủa cải không đủ dùng Làm vua phải chọn người hiền, người giỏi giúp việc,
Trang 39chọn người có lễ nghĩa để giữ trật tự, chọn người có năng lực chính sự đểkinh doanh có như thế nước mới thịnh trị.
Ông là người công kích chiến tranh và công kích những ai vì danh vị,
vì lợi lộc làm hại dân Thời ông vua chúa, chư hầu đều để hết tâm vào việckinh doanh mưu lợi nên ông đã than rằng: đời xưa làm cửa ải để ngăn chặn sựtàn bạo, đời nay làm cửa ải để làm điều tàn bạo Tức là theo ông, các thánhnhân ngày xưa xây thành đắp lũy để phòng chống cho dân những điều tai họa,còn ở thời ông vua chúa chỉ vì lợi ích của mình xây thành đắp lũy mang họacho dân Ông cũng cho rằng: đánh nhau để lấy đất giết người đầy đồng, đánhnhau để lấy thành giết người đầy thành, tội ấy xử sao cho hết tội Bởi thế, ôngcho rằng kẻ thiện chiến thì nên chịu thượng hình, kẻ liên hiệp chư hầu đểđánh nhau chịu tội thứ, kẻ bắt dân đi làm phu phục vụ cho lợi ích của vua chịutội thứ nữa Quan điểm đó là đầy lòng nhân ái
Thứ tư: “Nhân chính” còn là giáo dân, bởi giáo dục dân là một chức
năng rất quan trọng của Nho giáo trên lĩnh vực chính trị Giáo hóa dân là mộtnhiệm vụ rất trọng yếu của đất nước Ông viết: “Muốn trị nước, vua nên thihành một cách nhân huệ cho chế độ điền địa và chế độ giáo hóa dân, dẫu saunày bậc vương giả ra đời mà gom thâu thiên hạ, ắt cũng giữ theo hai phép ấy– Mạnh Tử - Đằng Văn Công, thượng” [tr.247, 3]
Để giáo hóa cho dân, Mạnh Tử vẽ nên một bức tranh về cơ cấu giáodục, đó là nhà nước cần lập nên những trường từ làng xã đến kinh đô để dạydân về tri thức, đạo lý, phong tục, võ nghệ gọi là tường, tự, hiệu, học trongđó:
Tường là dạy cho người dân biết kính nhường và phụng sự người giàcả
Tự là trường dạy cho dân về phép bắn cung
Hiệu là trường dạy cho dân về phong hóa, đạo đức
Học là trường quốc học, tức là trường tại kinh đô
Trong tất cả các trường kể trên đều dạy cho người ta về đạo lý nhânluân
Như một sự tổng kết khái quát về phương pháp trị nước Mạnh Tử đãrút ra được kết luận: “Chính trị hay thì dân sợ mà luận theo, giáo hóa hay thìdân yêu mà kính phục Chính trị hay thì được của dân, giáo hóa hay thì đượclòng dân” (Mạnh Tử – Tận Tâm, thượng) [tr.248, 3]
Trang 40Theo Mạnh Tử, người trị nước trước phải chăm lo cho công việc củadân để dân được sung túc, hạnh phúc, rồi còn phải dạy dỗ cho dân, để dânkhỏi làm những điều bậy bạ Trong “Đằng Văn Công – thượng” ông cho rằng:
hễ dân có của thì có sẵn lòng tốt, dân không có của thì không có lòng tốt sinh
ra phóng đãng, gian tà không kể điều gì là không làm Bởi thế, trong “LươngHuệ Vương, thượng” ông khuyên: “đấng Minh Quân phải cho dân tài sản để
có cái mà thờ cha mẹ, nuôi nấng vợ con Năm được mùa thì no đủ, năm mấtmùa không phải chết đói Được thế mới bắt dân làm điều thiện được, và đượcthế dân mới làm điều thiện một cách dễ dàng” [tr.253, 22]
Đây vừa là sự nghiệp “bảo dân”, đồng thời là phương pháp, cách thức
“giáo dân” Quan điểm này tuy có hạn chế trong việc đánh giá siêu hình vềbản chất con người, nhưng tư tưởng “có hằng sản mới hằng tâm” của ôngkhông phải không có những giá trị tích cực Điều này càng có ý nghĩa nhânđạo cao cả, khi trong xã hội tồn tại một số người chuyên làm những điều tiêucực, vơ vét cho lợi ích cá nhân, áp chế hà hiếp dân, ăn hối lộ của dân …
Mạnh Tử quan niệm rằng người ta ai cũng có bản tính thiện, có sẵn bảnnăng đạo lý, nhưng người ta ai lo nhàn cư, hưởng lạc, ăn no mặc ấm khôngđược giáo dục thì gần giống như cầm thú Và ông cũng nêu lên trong lịch sửthánh nhân (vua Nghiêu, Thuấn) cũng rất lo cho vấn đề đó nên sai Tư Đỗ dạydân, giáo dân đạo lý làm người, dạy dân biết ngũ luân “Nhân nghĩa” Bởi vìđạo “Nhân nghĩa” tuy không khó, nhưng con người làm mà không biết, tậpquen mà không xét, suốt đời theo mà không hiểu một cách rõ ràng về đạo
Mặt khác, như mục 1.3.4 đã nêu, cũng trong “Đằng Văn Công thượng” Mạnh Tử đã quan niệm: người ta tuy có đạo lý “Nhân nghĩa”, nhưng
-cứ ăn no, mặc ấm, ngồi không mà không được dạy dỗ thì gần giống như cầmthú Việc học “Nhân nghĩa” từ Quân tử đến Tiểu nhân đều phải học Ôngcũng cho rằng, Quân tử là người không chỉ học mà còn dạy cho Tiểu nhânhọc “Nhân nghĩa”
Phương pháp dạy cũng rất phong phú đa dạng Ông cũng đã từng quanniệm về con đường giáo dục là sự rèn luyện của con người trong hoàn cảnhnhất định lâu ngày sẽ cảm hóa được tính tình của con người Ông cũng làngười có quan điểm tiến bộ khi coi người có “Nhân nghĩa” là Quân tử, kẻkhông có “Nhân nghĩa” là Tiểu nhân, chứ không chỉ dùng Quân tử để chỉ giai