Mặt khác, công tác bồi dưỡng, hoàn thiện KNDH nói riêng,năng lực sư phạm nói chung của lãnh đạo, chỉ huy các cấp cho TG còn ít được quantâm tổ chức thường xuyên, trong khi “Kết quả tự họ
Trang 1Lêi cam ®oan
T «i cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nghiªn cøu nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc vµ cã xuÊt
xø râ rµng.
T¸c gi¶ luËn ¸n
Thân Văn Quân
MỤC LỤC Trang
Trang 2Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN KỸ NĂNG DẠY
HỌC CHO TRỢ GIẢNG Ở ĐẠI HỌC QUÂN SỰ 30
1.3. Con đường hoàn thiện thiện kỹ năng dạy học và các tiêu chí
đánh giá kỹ năng dạy học của trợ giảng ở đại học quân sự 55
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA HOÀN THIỆN KỸ NĂNG
DẠY HỌC CHO TRỢ GIẢNG Ở ĐẠI HỌC QUÂN SỰ
Chương 3 BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN KỸ NĂNG DẠY HỌC CHO
TRỢ GIẢNG Ở ĐẠI HỌC QUÂN SỰ HIỆN NAY 90
3.3. Rèn các kỹ năng dạy học cơ bản cho trợ giảng thông qua thực
tiễn hoạt động nghiệp vụ sư phạm thường xuyên 106 3.4. Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức rèn luyện kỹ năng dạy học
cho trợ giảng theo hướng kết hợp truyền thống với hiện đại 112
4.2. Xử lý và phân tích kết quả sau tác động thực nghiệm 135
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC
Trang 4KNDH ở nhóm TN và ĐC tại cơ sở TN 1
Trang 5của nhóm TN và nhóm ĐC tại cơ sở TN 1
Trang 6DANH M C CÁC ỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ ĐỒ TH , SỊ, SƠ ĐỒ Ơ ĐỒ ĐỒ
TT Tên đồ
1 2.1 Đồ thị so sánh kết quả tự đánh giá của TG về tính tích cực khi
2 2.2 Đồ thị so sánh kết quả đánh giá của cán bộ, GV về tính tích
cực của TG khi tham gia các hoạt động hoàn thiện KNDH 84
3 4.1 Đồ thị biểu diễn tần suất tích lũy về sự tiến bộ của KNDH ở
4 4.2 Đồ thị biểu diễn tần suất tích lũy về sự tiến bộ KNDH của
5 1.1 Mối quan hệ giữa hai thành tố trong cấu trúc của KN 34
6 1.2 Cấu trúc quá trình phát triển KNDH trong các chức
8 3.1 Sơ đồ quy trình hoàn thiện KN chuẩn bị và tiến hành
9 2.1 Mối quan hệ của các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới quá
trình hoàn thiện KNDH cho TG ở trường ĐHQS 177
MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu khái quát về công trình nghiên cứu
Trợ giảng là một trong những giai đoạn của các chức danh nhà giáo, làbước quan trọng để xây dựng nền tảng vững chắc cho các phẩm chất và năng lực
Trang 7sư phạm của người GV Hoàn thiện KNDH cho TG là nhiệm vụ thường xuyêntrong quá trình bồi dưỡng, phát triển đội ngũ GV ở trường ĐHQS hiện nay Thựctiễn sư phạm cho thấy, trong quá trình phát triển đội ngũ GV, TG được quan tâmrèn luyện, hoàn thiện thường xuyên sẽ tạo ra một thế hệ GV kế cận có năng lực sưphạm tốt, có phẩm chất nhân cách mẫu mực, thực sự là tấm gương mẫu mực cho
HV noi theo Tuy nhiên, hoàn thiện KNDH cho TG hiện nay đang gặp rất nhiềukhó khăn trong cả lý luận và thực tiễn, đòi hỏi cần có một cơ sở khoa học xácđáng, phương hướng, biện pháp thực hiện phù hợp, khả thi với trường ĐHQS, sựphối hợp đồng bộ của các chủ thể mới tạo sự chuyển biến tích cực
Đề tài Luận án “Hoàn thiện KNDH cho TG ở ĐHQS hiện nay” được thựchiện với mong muốn đưa ra các kiến giải khoa học góp phần nâng cao chất lượngthực hiện nhiệm vụ, hoàn thiện KNDH cho TG trong thời gian tập sự Để thực hiện
đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận hoàn thiện KNDH choTG; đánh giá thực trạng trình độ KNDH và thực trạng hoàn thiện KNDH cho TG ởtrường ĐHQS, tìm ra những nguyên nhân chủ yếu Từ đó, đề xuất biện pháp hoànthiện KNDH cho TG ở ĐHQS Kết cấu của đề tài gồm phần mở đầu, 4 chương, kếtluận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
2 Lý do lựa chọn đề tài
Để phát triển đất nước, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, Đảng ta
đã xác định rõ: “phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu thenchốt” [16, tr.131] Trong đó, chú trọng nâng cao trình độ tay nghề, bồi dưỡngnăng lực sư phạm và đạo đức nhà giáo, đảm bảo đội ngũ nhà giáo “đủ về sốlượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng” [16, tr.216]
Hoàn thiện KN nghề nghiệp là một yêu cầu thường xuyên của bất cứngành nghề nào KNDH là một trong những KN quan trọng của người GV ởĐHQS, là bộ phận cấu thành năng lực sư phạm trong cấu trúc văn hoá sư phạmcủa người GV, không có KNDH hoặc KNDH yếu, GV sẽ không đảm nhiệmđược chức năng chủ yếu của mình Hoàn thiện KNDH là yêu cầu thường xuyên,liên tục và bắt buộc đối với người GV nói chung, trong ĐHQS nói riêng Nghị
Trang 8quyết số 86 của ĐUQSTƯ về Công tác giáo dục - đào tạo trong tình hình mới đãchỉ rõ: “Chú trọng về nâng cao trình độ học vấn, năng lực và tay nghề sư phạm,kinh nghiệm thực tiễn” [19, tr.22] Đây cũng là những yêu cầu cấp thiết đặt rađối với mỗi GV trong qúa trình tự hoàn thiện mình Những năm qua, nhìn chungđội ngũ GV ở ĐHQS đã đảm đương được nhiệm vụ, phát huy được chức năngcủa mình trong giáo dục và đào tạo Một số GV phát triển tốt cả về phẩm chất vànăng lực sư phạm, trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, đứngtrước yêu cầu mới, chất lượng đội ngũ giáo viên nhà trường quân đội còn:
“Thiếu về số lượng và tỷ lệ đạt chuẩn về chất lượng còn thấp…Kết quả tự học,
tự nghiên cứu của một số nhà giáo còn hạn chế”[19, tr.7]
Trong quá trình đào tạo tại các nhà trường, HV được trang bị hệ thốngkiến thức và KN sư phạm chung cho hoạt động nghề nghiệp tương lai Saukhi ra trường nhận công tác ở các trường ĐHQS, để trở thành GV, họ phải trảiqua thời gian làm TG để tiếp tục hoàn thiện những phẩm chất và năng lực đápứng yêu cầu thực tiễn sư phạm quân sự Thời kỳ TG chính là giai đoạn “quáđộ” quan trọng để họ có thể chuyển hoá từ HV thành GV, đây cũng là thờigian để TG tập làm các công việc của người GV trong thực tiễn nghề nghiệp
Trợ giảng là lực lượng GV kế cận quan trọng ở các trường ĐHQS.Thực tiễn sư phạm hiện nay cho thấy, TG sau khi được phân công đảmnhiệm công tác giảng dạy đã phát huy được vai trò, chức trách của mình,thường xuyên tự bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện tay nghề sư phạm, tudưỡng phẩm chất nhân cách Nhiều đồng chí đã vươn lên trở thành GV
có uy tín trong công việc và trong cuộc sống Tuy nhiên, vẫn còn một sốđồng chí trong thời kì TG chất lượng thực hiện nhiệm vụ còn chưa cao;nắm và vận dụng các KNDH vào thực tiễn sư phạm quân sự còn lúngtúng, nhiều KNDH còn chưa thành thạo (kể cả những KNDH đơn giản); “Khảnăng tư duy, năng lực thực hành độc lập sáng tạo và quản lý bộ đội còn yếu”[17,tr.3], chưa đáp ứng được yêu cầu chức trách, nhiệm vụ; chậm thích ứng với những
Trang 9biến đổi nhanh chóng của thực tiễn sư phạm quân sự; một số KNDH cơ bản chưađược chú ý và rèn luyện đúng mức, nặng về làm theo mẫu đơn thuần; chất lượng
BG chưa cao, chưa làm chủ được nội dung và phương pháp, cách thức truyền đạtkiến thức còn đơn điệu Nguyên nhân, do TG nặng về học theo, bắt chước, chưatích cực rèn luyện KNDH; phương pháp tư duy sư phạm của một bộ phận TG cònyếu; trải nghiệm thực tiễn sư phạm quân sự, lãnh đạo, chỉ huy còn ít; một số chưaqua đào tạo sư phạm Mặt khác, công tác bồi dưỡng, hoàn thiện KNDH nói riêng,năng lực sư phạm nói chung của lãnh đạo, chỉ huy các cấp cho TG còn ít được quantâm tổ chức thường xuyên, trong khi “Kết quả tự học, tự nghiên cứu của một số nhàgiáo còn hạn chế” [19, tr.7], các tiêu chí và xét công nhận các chức danh nhà giáo ởĐHQS còn chưa thống nhất đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng thực hiệnnhiệm vụ và ý chí vươn lên của TG Quá trình hoàn thiện KNDH cho TG trong cáctrường ĐHQS hiện nay còn mang tính tự phát, chưa có kế hoạch, nội dung, chươngtrình hoàn thiện cụ thể Một số TG bằng lòng với hiện tại, sự tiến bộ còn chậm
Hiện nay, trước yêu cầu của chiến tranh hiện đại, nhiệm vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đã và đang đặt ra những yêu cầu caotrong việc chuẩn hoá chất lượng đội ngũ GV ở ĐHQS, buộc họ phải khôngngừng trau dồi, tự hoàn thiện thường xuyên mới có thể thực hiện tốt nhiệm
vụ Đặc biệt, trước yêu cầu đổi mới nền giáo dục, nâng cao chất lượng dạyhọc ở các trường ĐHQS thì việc hoàn thiện KNDH cho TG trong thời kỳ tập
sự là một trong những vấn đề cấp thiết để tạo ra một thế hệ GV kế cận có
“tâm”, có “tầm”, hết lòng phụng sự đất nước, phụng sự nhân dân Từ những
lý do cơ bản trên, chúng tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện kỹ năng dạy học cho trợ giảng ở đại học quân sự hiện nay", để nghiên cứu với mong muốn góp phần
đưa ra những kiến giải khoa học trước thực trạng nêu trên
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp hoàn thiện KNDH cho TG nhằm góp phần nângcao năng lực sư phạm của TG trong các trường ĐHQS hiện nay
Trang 104 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu: Quá trình bồi dưỡng GV ở các trường ĐHQS.
* Đối tượng nghiên cứu: Hoàn thiện KNDH cho TG ở các trường ĐHQS
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài đi sâu nghiên cứu tìm ra các biện pháp hoàn thiện KNDH cho TG trongthời gian tập sự, làm cho KNDH của họ thuần thục hơn, chuẩn bị và tiến hành BGtrên lớp đạt hiệu quả hơn Sau thời gian tập sự, TG có đủ điều kiện để trở thành GV
Kỹ năng dạy học bao gồm hệ thống rất nhiều các KN và nằm trong hệthống các KN sư phạm có quan hệ biện chứng với nhau Đề tài không đi sâuvào nghiên cứu các KNDH mà dựa trên hệ thống các KNDH của người GV ởĐHQS, chúng tôi tập trung đi sâu vào hoàn thiện KN chuẩn bị và tiến hành
BG trên lớp (lý thuyết) cho TG với các KN cơ bản, phục vụ cho hoạt độngdạy học của TG trong thời gian tập sự đạt hiệu quả
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Những đóng góp mới của Luận án
Luận án làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của hoàn thiệnKNDH cho TG ở các trường ĐHQS Với cách tiếp cận, tác giả đã đưa ra quanniệm mới về hoàn thiện KNDH cho TG ở ĐHQS hiện nay Theo đó, hoànthiện KNDH là một khái niệm động, được tiến hành thường xuyên đối với
GV đại học nói chung, GV ở ĐHQS nói riêng Mục tiêu và nội dung hoànthiện kỹ năng dạy học cho trợ giảng là hoàn thiện theo chuẩn chức danh nhàgiáo, đồng thời hoàn thiện theo yêu cầu phát triển mới của lý luận dạy học vàthực tiễn sư phạm quân sự Đặc biệt, Luận án đã xây dựng được hệ thống cácKNDH cơ bản mà TG cần hoàn thiện trong thời gian tập sự
Luận án đã đề xuất các biện pháp và quy trình hoàn thiện KNDH của
TG trong thời gian tập sự, đây cũng là quy trình chung góp phần hoàn thiệnKNDH cho GV ở trường ĐHQS hiện nay
Trang 115.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
Kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ góp phần bổ sung, phát triển làmphong phú thêm kho tàng lý luận và thực tiễn hoạt động bồi dưỡng GV ởĐHQS hiện nay, đặc biệt sẽ là nội dung tham khảo hữu ích trong công tác xâydựng, phát triển lực lượng GV ở các trường ĐHQS
Trên cơ sở hướng tới tìm ra các biện pháp hoàn thiện KNDH cho TG,Luận án còn có ý nghĩa nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cấp lãnhđạo, quản lý trong công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, xây dựng và pháttriển đội ngũ GV ở các trường ĐHQS hiện nay; bồi dưỡng, rèn luyện thóiquen hành vi, KN và phương pháp tự hoàn thiện cho TG
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1 Những nghiên cứu về kỹ năng dạy học và hoàn thiện kỹ năng dạy học trên thế giới
Trang 12Trong lịch sử phát triển của giáo dục thế giới, các nhà sư phạm đã sớmnhận ra vai trò của KNDH và hoàn thiện KNDH đối với người thầy
Ngay từ thời Cổ đại, các nhà tư tưởng tiến bộ đã đề cập nhiều đến vấn
đề năng lực và phẩm hạnh của người giáo viên Có thể kể tên một số nhà giáodục tiêu biểu như: Socrate, Platon, Aristote, Khổng Tử, Mạnh tử…
Khổng Tử (551 - 479 TCN), người được mệnh danh là "Vạn thế sưbiểu" (Người thầy của muôn đời) đã chỉ rõ: Trong giảng dạy, người thầy phảibiết cách (KN) để truyền thụ kiến thức cho học trò như: Dụ: ví von Đạo:hướng dẫn Trợ: giúp đỡ Khải: mở mang Phát: khêu gợi "Tuần tuần thiện dụnhân" (Thầy khéo dẫn dắt người từng bước, mở rộng tri thức ta bằng vănchương, ước thúc hành vi ta bằng lễ tiết, khiến ta muốn ngừng hoạt động cũngkhông thể được) Cách dạy học của Khổng Tử là sự gợi mở để trò tự tìm rachân lý, thầy không bao giờ làm thay, bày sẵn cho người học mà phải bằng sựkhéo léo, hướng dẫn, khêu gợi, mở mang tạo nên ở người học sự hứng thú,tích cực, độc lập nhận thức trong quá trình dạy học [5, tr.8 - 13] Hay là quanđiểm: “Học hải vô nhai” (Biển học vô bờ), qua đó nhắc nhở cả thầy và tròkhông bao giờ được sao nhãng việc học tập, biết tự trau dồi học vấn để trởthành người có ích cho xã hội Đặc biệt, với người thầy giáo, Ông luôn đề rayêu cầu cao trong việc phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức và trí tuệ để làmgương cho học trò noi theo Mặc dù không đề cập trực tiếp tới hoàn thiệnKNDH nhưng Khổng Tử đã chỉ ra vai trò quan trọng của việc tu dưỡng nhữngphẩm chất và năng lực của người thầy giáo Người thầy phải trở thành hìnhảnh mẫu mực nhất, toàn diện nhất trong học trò
Socrate (469 – 399 TCN), đã sáng tạo ra phương pháp tranh luận(Thuật đỡ đẻ) trong dạy học với những KN gợi mở cần thiết của người thầygiúp cho người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi và tự tìm ra chân lý Ở mức độ nào
đó, Socrate đã đưa ra được các yêu cầu trong tổ chức quá trình nhận thức củangười học với cách thức, phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học hướng tớiphát huy được sự sáng tạo của học sinh, làm cho họ tích cực, chủ động
Trang 13nhận thức nhằm nâng cao hiệu quả dạy học [63, tr.40] Ông đã đưa ra yêucầu cao với người thầy giáo là phải thường xuyên trau dồi kiến thức, phẩmchất đạo đức Theo Ông, kiến thức là thực tiễn cuộc sống, chân lý có sẵntrong mỗi con người là vô tận, điều quan trọng là mỗi người phải tự mìnhtìm ra nó để tự hoàn thiện mình.
Từ thời kỳ Phục hưng trở đi, vấn đề KNDH và hoàn thiện KNDH củangười thầy giáo trong các nhà trường được quan tâm nghiên cứu nhiều hơnvới những quan điểm khoa học và những hoạt động cụ thể được tiến hànhnhằm nâng cao chất lượng dạy học của giáo viên, các nghiên cứu gắn với têntuổi của các nhà sư phạm nổi tiếng như : Mông-te-nhơ (Pháp), Kômenxki(Tiệp Khắc), Rút-xô (Pháp), Usin-xki (Nga), Đitexvec Trong đó, nổi bật là
tư tưởng của Kômenxki (1592 - 1670), người được mệnh danh là “Ông tổ củanền sư phạm cận đại” cho rằng: người thầy phải có phương pháp giảng dạythích hợp với từng đối tượng và sáng tạo nhiều phương pháp phong phú như:đàm thoại, kể chuyện, câu đố; người giáo viên phải quan tâm tìm tòi tất cảmọi con đường dẫn tới việc mở mang trí tuệ và tận dụng hợp lí những conđường đó Kômenxki luôn qúy trọng, đề cao và tôn vinh nghề dạy học vàchức vị giáo sư (giáo viên) Với vị trí, chức năng của nghề dạy học, Ông yêucầu người thầy phải mẫu mực, trong sáng về đạo đức và tác phong, có lòngnhân ái: “Không thể trở thành người thầy nếu không phải là một ngườicha”[63, tr.88] Người thầy giáo không chỉ cần tấm lòng bao dung, độ lượngcủa một người cha, mà còn biết không ngừng mệt mỏi tìm kiếm phương thức
mở mang trí tuệ cho người học, đồng thời mở mang trí tuệ cho chính bản thânmình Với ý nghĩa như vậy, Kômenxki cũng đã yêu cầu người thầy giáo phảibiết không ngừng tự hoàn thiện mình
Cũng đề cao vai trò của người thầy giáo, theo Usinxki (1824 - 1870)người thầy giáo là cầu nối giữa quá khứ và tương lai, sự nghiệp của người
Trang 14thầy giáo là sự nghiệp vĩ đại nhất trong lịch sử Trong dạy học và giáo dục,ông cho rằng: “Điều chủ yếu là nhân cách của người giáo viên trực tiếp làm việcvới học sinh Nhân cách của nhà giáo dục có sức mạnh giáo dục to lớn đến mứckhông thể thay thế bằng sách giáo khoa, bằng lời khuyên bảo về đạo đức, bằng
hệ thống khen thưởng và kỷ luật nào cả” [10, tr.75] Đánh giá cao vai trò, tầmquan trọng của người thầy trong giáo dục, Usinxki là người đầu tiên trong lịch
sử giáo dục thế giới đã đề xuất ý tưởng thành lập trường sư phạm, trường chuyênlàm nhiệm vụ đào tạo giáo viên Qua môi trường chuyên biệt đó, các phẩm chất
và năng lực sư phạm của người giáo viên được hình thành, rèn luyện và pháttriển một cách có hệ thống và khoa học Đây là cơ sở quan trọng giúp người giáoviên tự hoàn thiện tay nghề trước những yêu cầu của thực tiễn sư phạm
Nhưng phải đến thế kỷ XX, vấn đề KNDH và hoàn thiện KNDH chongười thầy giáo mới được đề cập một cách chi tiết và khoa học
Từ những năm 30 của thế kỷ XX, hầu hết các nước trên thế giới đều rấtquan tâm đến việc nâng cao chất lượng đào tạo, rèn luyện kỹ xảo, KN nghềnghiệp sư phạm Đặc biệt, ở Liên Xô (trước đây) và các nước XHCN ở Đông
Âu, hàng loạt các công trình nghiên cứu về vấn đề này đã ra đời Dựa trên nềntảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhiều nhà giáo dục đã tiếp tục khẳngđịnh sự cần thiết và tầm quan trọng của các KNDH, hoàn thiện KNDH củangười giáo viên nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học Đặc biệt, cácnghiên cứu về KNDH, hoàn thiện KNDH không chỉ hướng tới mục đích giúphọc sinh sau khi ra trường có thể thích ứng nhanh với nghề nghiệp mà cònhướng tới cho họ khả năng tự hoàn thiện, tự đào tạo mình trong cuộc sống
Antôn Sêmiônôvic Makarenko (1888 - 1939) là nhà giáo dục Xô Viếtlỗi lạc, khi bàn về vấn đề này, Ông đã yêu cầu người thầy giáo phải rèn luyện,học tập và tự hoàn thiện mình về phẩm chất tư cách, năng lực Ông cho rằng:
“Tôi đi đến một niềm tin sâu sắc là không có nhà giáo dục nào cả còn tốt hơn
Trang 15là có những nhà giáo dục tự rèn luyện kém’’[63, tr.272] Ông đã chỉ ra một sốnghệ thuật giáo dục mà nhà giáo dục phải rèn luyện và hoàn thiện như: Phảibiết giọng nói của mình như thế nào, nói năng với học sinh ra sao, nói gì vàkhi nào nên nói Với ông thì một người thầy giáo không làm chủ được vẻ mặthoặc khí sắc là một nhà giáo không tốt Phải biết giữ dáng điệu, phải biết đùacợt, phải biết vui buồn và có khả năng điều khiển học sinh Phải biết xử lýmọi cử chỉ để nó có tác dụng giáo dục [63, tr.272], để có được KN đó đòihỏi người thầy giáo phải khổ công rèn luyện, biết tự hoàn thiện mình mãi mãi.
Đầu những năm 60 của thế kỷ XX, O.A Apdullina với công trình:
“Bàn về KN sư phạm”, đã nêu rõ từng loại KN sư phạm của người giáo viên,đồng thời đi sâu phân tích KN chung và KN chuyên biệt trong hoạt độnggiảng dạy và giáo dục của họ Đặc biệt, tác giả đã đề cập đến KNDH và đã đềxuất những biện pháp phát triển các KN đó ở người giáo viên Ông nhấnmạnh vai trò của KNDH đối với người giáo viên, việc phát triển các KN đókhông chỉ khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường sư phạm mà ngay cả khi họ đãtốt nghiệp, trên cương vị thực tế của mình Cùng quan điểm đó, Ph.N.Gônôbôlin trong tác phẩm: “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” đãđưa ra những năng lực sư phạm, mà sinh viên cần rèn luyện và phát triển.Theo Ông, phát triển và hoàn thiện các năng lực cho sinh viên phải được tổchức thường xuyên ở trên lớp và trong thực tập sư phạm, đây là các cơ hội cơhội để "lần đầu tiên" "lựa chọn", "lắp ráp", "ứng dụng" các thuộc tính tâm lý củangười giáo viên vào những yêu cầu hoạt động sư phạm" [24, tr.111], từng bướcgiúp sinh viên rèn luyện và tự hoàn thiện năng lực sư phạm của mình Đối vớingười giáo viên sau khi tốt nghiệp ra trường, Ông cho rằng: “Dù cho việc họctập trong nhà trường sư phạm có ý nghĩa to lớn thế nào đi chăng nữa trong việcđào tạo người giáo viên tương lai, nhưng trong bốn bức tường của nhà trườngkhông thể nảy sinh ra một con người có những năng lực sư phạm đã được hình
Trang 16thành đầy đủ” [24, tr.11] Như vậy, sự phát triển các năng lực sư phạm củangười giáo viên chủ yếu diễn ra trong quá trình họ công tác trong nhà trường;hoạt động sư phạm sáng tạo đòi hỏi lao động căng thẳng hàng ngày; sự giúp đỡcủa lãnh đạo, đồng nghiệp lớn tuổi đối với các giáo viên mới vào nghề chỉ lànhững góp ý và chỉ dẫn chung Còn bản thân người giáo viên phải giải quyếtnhiều nhiệm vụ khó khăn Và chính ở đây, trong quá trình lao động thực sự sángtạo và đầy tính trách nhiệm, các năng lực sư phạm của họ mới được thực sự hìnhthành Tác phẩm giúp cho GV trẻ mới bước vào nghề thấy được những yêu cầu
mà nghề nghiệp đề ra cho họ, họ cần rèn luyện và phát triển các năng lực sưphạm như thế nào, đặc điểm của công tác giáo dục và giảng dạy là gì để rènluyện tay nghề một cách đầy đủ, có hệ thống và vững chắc hơn Đây chính là cơ
sở lý luận để khẳng định hoàn thiện KN sư phạm nói chung, KNDH nói riêngphải được tiến hành thường xuyên, liên tục ở mỗi giai đoạn, mỗi mức độ pháttriển khác nhau trong nghề dạy học của người GV
Những năm 70, nhiều công trình nghiên cứu về KNDH và hoàn thiệnKNDH cho giáo viên ra đời nhằm nâng cao chất lượng quá trình dạy học, đàotạo nguồn nhân lực Tiêu biểu có các tác giả như: M Ia Côvaliôv, Iu.K.Babanxki, N.I Bônđưrev… Nổi bật là công trình nghiên cứu của X.I.Kixegop: “Hình thành các KN, kỹ xảo sư phạm trong điều kiện giáo dục đạihọc” Tác giả đã khẳng KNDH được hình thành thông qua luyện tập, qua rènluyện nghiệp vụ trong nhà trường sư phạm Ông đã chia thực tập sư phạm củasinh viên làm 2 giai đoạn: Thực tập tập luyện và thực tập tập sự Ở giai đoạn thứnhất, sinh viên cần hình thành các KN, như: KN thiết kế, KN kiến thiết, KNnhận thức, KN tổ chức, KN giao tiếp Ở giai đoạn thứ hai, ông cho rằng điềucốt yếu của sinh viên là tiếp thu các KN đó để tiến hành giờ lên lớp có hiệu quả.Mặc dù Kixegop đã đưa ra hệ thống các KNDH và luận chứng khoa học về quátrình hình thành và phát triển chúng trong rèn luyện tay nghề sư phạm cho sinh
Trang 17viên Tuy nhiên, việc rèn luyện, hoàn thiện các KNDH đó như thế nào sao khi họ ratrường thì chưa được bàn đến Cùng với X.I Kixegop, O.A.Apđulinna cũng đã luậnchứng đưa ra một hệ thống các KN giảng dạy và các KN giáo dục riêng biệt, các
KN được mô tả cụ thể theo thứ bậc Trong nghiên cứu, các tác giả đã liệt kê đượchơn 100 KN nghiệp vụ giảng dạy và giáo dục, trong đó tập trung vào 50 KN cầnthiết nhất, được phân chia luyện tập theo từng thời kỳ thực hành, thực tập cụ thể.Các KN giảng dạy và KN giáo dục được các tác giả mô tả theo thứ bậc
Một số nước phương Tây và tư bản phát triển như Hoa Kỳ, Canada,Úc… cũng quan tâm đến KNDH của người thầy giáo trong việc tạo ra hứngthú học tập cho học sinh Các nghiên cứu đã có nhiều khám phá trong việc tổchức rèn luyện, hoàn thiện KNDH cho sinh viên theo những luận điểm của cácnhà TLH hành vi như J Watson 1926, A Pojoux 1926, F Skinner 1963…Những công trình tiêu biểu như: The process of learning của J.B Bigs vàR.Tellfer, 1987; Beginning teaching của K.Barry và L.King 1993 đang được sửdụng và đưa vào giáo trình thực hành lý luận dạy học trong đào tạo giáo viên ở
Úc và một số nước khác
Trung Quốc là quốc gia gần gũi với Việt Nam, công cuộc cải cách giáodục của họ đang được tiến hành rất mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực phươngpháp giảng dạy Những cách dạy học trước đây được các nhà sư phạm làmmới lại theo tinh thần coi người học là trung tâm, một trong những nghiên cứu
về KNDH và hoàn thiện KNDH nổi bật là “Bộ sách bồi dưỡng KNDH mônNgữ văn cho giáo viên Trung học cơ sở, Trung học phổ thông” Bộ sách gồm
6 cuốn, giới thiệu và huấn luyện các KNDH rất cơ bản của người giáo viênnhư: KN tổ chức lớp – KN biến hoá trong giảng dạy [13], KN giảng giải, KNnêu vấn đề [14], KN dẫn nhập, KN kết thúc [20], KN phản hồi, KN luyện tập[28], KN trình bày bảng, KN trình bày trực quan [81], KN ngôn ngữ, KNnâng cao hiệu quả học tập [89] Các KN trên được trình bày kỹ lưỡng về cơ
Trang 18sở lý thuyết kèm theo các BG mẫu minh họa Theo các tác giả, thông qua việcbồi dưỡng nâng cao các KNDH này:
Sinh viên sư phạm có thể có được trình độ cơ bản để đảm nhiệmcông việc dạy học của người giáo viên; người giáo viên mới vàonghề có thể làm cho KNDH của mình được chuẩn hoá, thuần thụchơn, nhanh chóng đáp ứng được những yêu cầu trong công tác giảngdạy; giáo viên lâu năm thì có thể tôi luyện nghệ thuật dạy học củamình thành thạo, điêu luyện hơn, đồng thời kết hợp giữa kinhnghiệm dạy học phong phú của bản thân với kiến thức chuyênngành để hình thành được phong cách và mầu sắc độc đáo tronggiảng dạy [89, tr.7]
Có thể nói, đây là bộ sách đầu tiên được biên soạn chi tiết nhằm hoànthiện KNDH môn Ngữ văn cho giáo viên trung học cơ sở và trung học phổthông Đây là những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn sinh động để tiến hànhhoàn thiện các KNDH cho GV đại học
Theo UNESCO: Người thầy giáo thế kỷ XXI phải là một nhà chuyênmôn nắm vững khoa học cơ bản, thấm nhuần một khoa học sư phạm mới dựatrên cơ sở liên ngành, có khả năng đối thoại với sinh viên, chuẩn bị cho sinhviên lựa chọn và sử dụng một cách có phê phán các thông tin công cộng và làmquen với một vài nguyên tắc cơ bản về giáo dục người lớn Khuyến cáo trên củaUNESCO muốn đi đến một khẳng định, giáo viên phải được đào tạo để trở thànhnhững nhà giáo dục hơn là trở thành người “thợ dạy” Người giáo viên không phải
là một cỗ máy dạy học cứng nhắc mà họ phải là người thổi linh hồn vào các BGthông qua vận dụng hiệu quả các KNDH Người giáo viên phải là tấm gương mẫumực về đạo đức, học tập và rèn luyện không ngừng nghỉ để học sinh noi theo
Khi bàn về xã hội tương lai là “xã hội dựa vào tri thức”, “kiến thức là sứcmạnh”, với mục tiêu đào tạo những con người hiếu học, một “xã hội học tập”, R
Trang 19Singh đã yêu cầu cần nhận thức lại vai trò của người giáo viên trong dạy học Ông chorằng:
Giáo viên không chỉ là người truyền thụ những phần tri thức rời rạc,giáo viên phải là người cố vấn, hướng dẫn, người mẫu mực của ngườihọc Để có được điều đó, giáo viên phải có các KN tương ứng, vàmuốn như vậy không có cách nào tốt hơn người giáo viên phải đượcthường xuyên bồi dưỡng về mọi mặt, phải là người học tập suốt đời[60, tr.90 - 115]
Ngoài ra, còn rất nhiều tác giả và các công trình nghiên cứu khác đềcập đến vấn đề KNDH, hoàn thiện KNDH Các nghiên cứu đều rất quan tâmđến việc dạy nghề cho sinh viên, đặc biệt là hình thành và rèn luyện KNDHcho sinh viên sư phạm
1.2 Những nghiên cứu về kỹ năng dạy học và hoàn thiện kỹ năng dạy học ở Việt Nam
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, ngay từ thời phong kiến, dưới ảnhhưởng mạnh mẽ của Nho giáo, các triều đại đã nhận thấy vai trò to lớn củagiáo dục đối với sự hưng thịnh đất nước Xã hội đặt lên vai người thầy trọngtrách to lớn là giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo nhân tài cho đất nước, nhưng chínhnhững người thầy cũng luôn “tự biết mình, trau đồi vốn kiến thức và học vấnsâu sắc, uyên thâm và rộng mới có thể đi dạy được người khác” [32, tr.20].Việc học tập, tu dưỡng, tự hoàn thiện của các thầy giáo trong lịch sử đã trởthành những tấm gương bất hủ, mãi mãi được các thế hệ học trò kính trọng vànoi theo Cùng với sự thương yêu học trò hết mực của thầy, sự thông minh,cần cù, chăm chỉ, ham học hỏi của những thế hệ học trò đã tạo nên truyềnthống hiếu học của dân tộc Việt Nam
Vấn đề KNDH và hoàn thiện KNDH chỉ được quan tâm thực sự khi cómột nền giáo dục mới, nền giáo dục XHCN Sau khi Cách mạng tháng Támthành công, chúng ta bắt tay vào thực hiện cải cách nền giáo dục Trong đó,
Trang 20Đảng ta xác định vấn đề then chốt, quyết định chất lượng giáo dục chính làđội ngũ thầy giáo, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo cả về số lượng vàchất lượng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: phải xây dựng được đội ngũđông đảo những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trường, hết lòngthương yêu, chăm sóc giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tựbồi dưỡng nâng cao tay nghề để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noitheo Người thường nhắc nhở các thầy, cô giáo: “Dạy cũng như học phải biếtchú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc, rất quantrọng Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng” [44, tr.329].Người đề cao vai trò của đạo đức, coi đạo đức là linh hồn của người thầy giáo,Người luôn căn dặn: “Muốn cho học sinh có đạo đức thì giáo viên phải có đức
… Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu” [44, tr.492] Vì vậy, Hồ ChíMinh luôn coi trọng và dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự trau đồi, rèn luyệnphẩm chất và năng lực của người làm công tác giáo dục Theo Người thì tự traudồi đạo đức là nguyên tắc để phát triển các phẩm chất đạo đức cách mạng, để
“tự mình tiến bộ mãi”, đây là một trong những cơ sở xuất phát quan trọng choviệc nghiên cứu, phát triển các phẩm chất nhân cách, hoàn thiện KN nghềnghiệp của người giáo viên
Cùng với các quan điểm đó là các trường sư phạm, các trung tâm bồidưỡng giáo viên được thành lập, đặc biệt là các công trình nghiên cứu vềKNDH và những yêu cầu hoàn thiện phẩm chất nhân cách của người giáo viênđược tiến hành một cách toàn diện và sâu sắc
Tác giả Lê Văn Hồng với công trình nghiên cứu về: “Một số vấn đề vềnăng lực sư phạm của người giáo viên xã hội chủ nghĩa”(1975), đã đưa ra hệthống những năng lực sư phạm của người giáo viên XHCN cần phải có trong sựnghiệp giáo dục và đào tạo, phát triển con người Đây là công trình nghiên cứuđầu tiên của nước ta đã đề cập đến KNDH, bồi dưỡng, rèn luyện một số KNDH
để hình thành và phát triển năng lực sư phạm cho người giáo viên
Trang 21Từ những năm 1990, các vấn đề chương trình đào tạo, rèn luyện nghiệp
vụ sư phạm mới được đề cập chính thức trong các văn bản pháp quy của ngànhgiáo dục về mục tiêu, chương trình đào tạo Đáng lưu ý là một số công trình sau
Năm 1995, đề tài “Hình thành KN sư phạm cho giáo sinh sưphạm”[11] của tác giả Nguyễn Hữu Dũng đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về KN
sư phạm, vị trí của KN sư phạm trong việc hình thành năng lực sư phạmcho sinh viên Năm 1996, trong đề tài cấp Bộ mang mã số B94 - 37 - 46:
“Định hướng đổi mới phương pháp đào tạo và bồi dưỡng giáo viên” [12],Ông đã đề cập đến nhiều KN cần có của người giáo viên Trên cơ sở đó,Ông đã đưa ra một số định hướng đổi mới quy trình đào tạo giáo viên nhằmđáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảongười giáo viên sau khi ra trường có khả năng tự hoàn thiện mình, đáp ứngđược những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn sư phạm
Năm 1997, Nguyễn Đình Chỉnh đã xuất bản tài liệu có tính chuyênkhảo về thực tập sư phạm, trong đó tác giả đã giải quyết được những vấn đề
cơ bản như: Xác định khái niệm năng lực sư phạm; cấu trúc của năng lực sưphạm; các con đường hình thành và phát triển năng lực sư phạm [9] Trongcấu trúc năng lực sư phạm, tác giả đã đề cập đến năng lực dạy học, con đườngphát triển, hoàn thiện các năng lực dạy học của giáo sinh sư phạm
Tác giả Phan Thị Hồng Vinh trong giáo trình “Phương pháp dạy họcgiáo dục học”, cũng cũng cho rằng, KNDH là KN thuộc nhóm các KN sưphạm chuyên biệt [99] Trong dạy học GDH, tác giả yêu cầu cần rèn luyệnnghiêm túc các KN sư phạm cơ bản và các KN sư phạm chuyên biệt, trên cơ
sở đó, hình thành và phát triển năng lực sư phạm Mặc dù chưa đưa ra hệthống các KNDH cụ thể nhưng tác giả đã đưa ra quy trình 6 bước để rènluyện KN sư phạm cho sinh viên; các điều kiện và phương pháp rèn luyện KN
sư phạm có hiệu quả trong dạy học GDH
Trang 22Trước yêu cầu đổi mới nền giáo dục nước nhà, nâng cao chất lượng dạyhọc, đổi mới phương pháp giảng dạy trong các nhà trường, các nghiên cứu vềKNDH, hoàn thiện KNDH của các nhà khoa học ngày càng cụ thể, đi sâumang tính chuyên biệt hơn, thúc đẩy hoạt động dạy học của giáo viên manglại hiệu quả cao hơn Tác phẩm “Rèn luyện KN sư phạm” của Hà Nhật Thăng
và Lê Quang Sơn đã đề cập đến hầu hết các KNDH và các hoạt động củangười giáo viên ở nhà trường phổ thông trước ý nghĩa và yêu cầu đổi mớigiáo dục hiện nay Theo các tác giả thì tổ chức hoạt động dạy học ngày nay cónhững yêu cầu khác trước đây, vì:
Dạy học ngày nay là tạo cơ hội cho học sinh phát huy tính tích cựcnhận thức và rèn luyện, là dạy cho học sinh cách học, cách chiếmlĩnh tri thức của nhân loại Dạy học là kích thích sự ham hiểu biết,tạo ra và phát triển động cơ thái độ học tập tự giác sáng tạo ở họcsinh Khơi dậy ở thế hệ trẻ ý thức trách nhiệm, sự ham mê cống hiếncho xã hội để khẳng định vai trò chủ thể trong cuộc sống [64, tr.53] Quá trình dạy học ngày nay đã có nhiều thay đổi, nó không phải là quátrình truyền thụ tri thức một chiều mà là quá trình tương tác, trong đó ngườihọc đóng vai trò làm trung tâm Do vậy, giáo viên phải có những KNDH mới,cập nhật những tri thức mới, và thường xuyên học tập để không tụt hậu trước
sự phát triển của thực tiễn dạy học Nhận thức được thực tiễn sư phạm nhưvậy, các tác giả đã chỉ ra 22 KNDH mà sinh viên sư phạm cũng như giáo viênphổ thông cần phải rèn luyện Trong đó, có các KNDH đã có và nhữngKNDH mới, những yêu cầu mới trong rèn luyện, hoàn thiện KNDH của sinhviên sư phạm ngày nay
Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Như An với đề tài: “Hệ thống KN giảngdạy trên lớp về môn GDH và quy trình rèn luyện các KN đó cho sinh viênkhoa tâm lý- giáo dục” [2] Công trình công trình đã làm rõ các vấn đề về KN
sư phạm và KN giảng dạy; Xây dựng được hệ thống các KN giảng dạy trên
Trang 23lớp; quy trình rèn luyện các KN giảng dạy trên lớp cho sinh viên sư phạm.KNDH là kết quả của sự rèn luyện, sự thuần thục của KNDH tỷ lệ thuận với
sự miệt mài, chăm chỉ của sinh viên sư phạm Để thuần thục KNDH sinh viêncần được rèn luyện, hoàn thiện theo quy trình, đây là điều kiện tiên quyết đểKNDH của họ bền vững
Tác giả Trần Anh Tuấn với luận án Tiến sĩ: “Xây dựng quy trìnhluyện tập các KN giảng dạy cơ bản trong các hình thức thực tập sư phạm”[80] Cho rằng, KNDH cũng là các hành động, thao tác mà giáo sinh thựchiện khi lên lớp, người có KN là người thực hiện có hiệu quả các thao tác,các hành động đó Tuy nhiên, để có KN cần phải có sự luyện tập chặt chẽ,luyện tập theo quy trình nhất định, chỉ có như vậy mới nâng cao chất lượngthực tập cho sinh viên sư phạm Luận án chỉ ra những ưu điểm, nhược điểmcủa công tác thực hành, thực tập sư phạm hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả
đã đưa ra một quy trình luyện tập các KN giảng dạy cho sinh viên trongquá trình học tập
Luận án Tiến sĩ của tác giả Phan Thanh Long: “Các biện pháp rènluyện KNDH cho sinh viên cao đẳng sư phạm” [41] Tác giả đã phân chia hệthống các KNDH thành các KNDH cơ bản và các KNDH chuyên sâu, tổ chứcrèn luyện từng KNDH cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong quá trình đàotạo, đặc biệt trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên củacác trường cao đẳng sư phạm
Là một bộ phận nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong nhữngnăm qua nhà trường ĐHQS đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về KN, KNnghề nghiệp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, đáp ứng với yêucầu của thực tiễn quân sự hiện nay
Tác phẩm “Những vấn đề huấn luyện và giáo dục trong các nhà trườngquân sự”, tập 2, xuất bản năm 1986 các nhà GDH Liên Xô (cũ) đã đưa ra hai
Trang 24giải pháp cần thực hiện nghiêm túc để hoàn thiện tay nghề sư phạm cho giảngviên trẻ trong nhà trường quân sự.
Một là, hoàn thiện kiến thức của giáo viên về các môn chuyênngành theo kịp các thành tựu khoa học kỹ thuật quân sự mới nhất.Hai là, bảo đảm việc nghiên cứu các môn cơ sở của lao động sưphạm quân sự (sư phạm và tâm lý quân sự) và hoàn thiện tài nghệ
sư phạm dưới sự hướng dẫn của các giáo viên giỏi nhất của học viện[39, tr.193]
Tác phẩm cũng chỉ ra biện pháp cụ thể để thực hiện hai giải pháp nângcao trình độ, hoàn thiện tay nghề cho giáo viên đó là: thông qua tổ chức cáckhoá nâng cao trình độ, tổ chức cả quá trình huấn luyện cũng như từng buổilên lớp thật mẫu mực để cho mỗi giáo viên khi trở về trường mình đềuphấn đấu thực hiện được như vậy; tổ chức thực tập tại đơn vị, tham gia cáccuộc diễn tập của bộ đội, thực hành ở các xí nghiệp; tổ chức công tácphương pháp như hội nghị khoa học phương pháp, hội thảo phương pháp
và xêmina phương pháp, tập huấn, công tác nghiên cứu khoa học… đây lànhững biện pháp rất cụ thể và hiệu quả mà các nhà GDH Xô Viết đã đưa ranhằm hoàn thiện tay nghề cho cán bộ sư phạm
Nghiên cứu về người giáo viên, tác giả Hoàng Linh và Lê Hồng Quang cũng
đã đưa ra 5 KN trong hệ thống năng lực khi bàn về mô hình người giáo viênKHXH&NV các trường cao đẳng quân sự như: KN truyền đạt kiến thức và kỹ xảo
có được; KN mô hình hoá mục tiêu đào tạo; KN điều khiển trí tuệ HV; KN sử dụngphương tiện kỹ thuật dạy học; KN làm chủ các trạng thái tâm lý [30, tr.18]
Trong tác phẩm “Lý luận dạy học đại học quân sự” và “Giáo trìnhphương pháp dạy học GDH quân sự”, tác giả Đặng Đức Thắng đã đề cập chitiết về các KNDH, đặc biệt là các KNDH trên lớp của người GV ở ĐHQS.Trên cơ sở phân chia hệ thống các KNDH theo từng bước, công đoạn của
Trang 25người GV, tác giả đã đưa ra quy trình chung (6 bước), những cách thức, biệnpháp cụ thể để rèn các KNDH cho HV sư phạm Đây cũng là cơ sở, nền tảngvững chắc để HV sư phạm sau khi ra trường có thể tự hoàn thiện mình Mặtkhác, các tác phẩm cũng là lời cảnh báo, nhắc nhở người GV ở ĐHQS phảiluôn biết vươn lên chiếm lĩnh những KNDH mới để theo kịp sự phát triển củathời đại, bởi nếu không “người GV sẽ không đảm nhận được chức năng chủyếu của mình” [75, tr.79].
Tác giả Lê Minh Vụ trong tác phẩm “Quy trình đánh giá năng lực
sư phạm quân sự của đối tượng tuyển chọn đào tạo GV hiện nay” cũng
đã bàn đến hệ thống các năng lực sư phạm của người GV trong nhàtrường quân sự, xây dựng quy trình để hình thành, phát triển các nănglực sư phạm đó cho HV sư phạm Tác giả nhấn mạnh: năng lực sư phạm
có thể là “năng khiếu” sẵn có tiềm tàng trong mỗi con người, nhiệm vụcủa các nhà sư phạm là cần phát hiện, bồi dưỡng những năng lực tiềmtàng đó, giúp cho chúng phát triển thuận lợi nhất để tạo ra những thế hệ
GV ưu tú cho nhà trường quân đội [103] Tuy nhiên, để có thể thực hiệnđược nhiệm vụ nặng nề đó, người GV phải có năng lực nghề nghiệp, biếtcách khơi gợi những tiềm tàng trong mỗi HV
Ngoài ra, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học của tác giả Nguyễn Thành Vân,với đề tài: “Những biện pháp bồi dưỡng KN tổ chức hoạt động nhận thức chogiáo viên KHXH&NV ở các trường ĐHQS hiện nay”, đã trình bày khái niệm
về KN, KN sư phạm, KN tổ chức hoạt động nhận thức, phân tích cơ chế vậnhành quá trình bồi dưỡng KN hoạt động nhận thức, xác định biện pháp cơ bản
để bồi dưỡng những nội dung trên cho giáo viên KHXH&NV ở các trườngĐHQS hiện nay [97]
Các Luận án Tiến sĩ của các tác giả như: Mai Văn Hoá [25], NguyễnHọc Từ [86], Nguyễn Văn Phán [52]…đề cập đến vai trò của người thầy
Trang 26trong trang bị tri thức cho HV, vấn đề tự học của HV, phương pháp để nângcao chất lượng dạy học theo cách thức học tập mới, graph trong dạy học, rènluyện các KN tự học, tự giáo dục cho HV trong quá trình đào tạo
2 Những vấn đề đặt ra Luận án tiếp tục giải quyết
Qua các nghiên cứu về KNDH và hoàn thiện KNDH ở trên cho thấy.Các công trình nghiên cứu đã xây dựng được hệ thống khái niệm công cụ về
KN, KN sư phạm, KNDH của người giáo viên tương đối hoàn chỉnh và khoa học,đáp ứng được yêu cầu thực tiễn sư phạm trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử
Các tác giả đã tập trung đi sâu vào hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sưphạm cho sinh viên trong nhà trường sư phạm, qua đó đã xây dựng được hệthống cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn trong việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạmcho sinh viên một cách vững chắc, đảm bảo cho họ sau khi ra trường có thểđảm nhiệm tốt nhiệm vụ giảng dạy
Các nghiên cứu mang tính chất ứng dụng ngày càng nhiều, có chiềuhướng phát triển đi sâu vào các vấn đề chuyên biệt, hướng tới hình thành, rènluyện và hoàn thiện nghiệp vụ sư phạm rõ hơn, cụ thể hơn cho người học
Nhiều quan điểm, tư tưởng ra đời từ rất sớm nhưng vẫn giữ nguyên giá trịtrong công tác rèn luyện, bồi dưỡng, phát triển, hoàn thiện KNDH cho người giáoviên hiện nay Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết
Một là, nhiều công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở đại cương, một
số nghiên cứu mang tính ứng dụng nhưng chủ yếu tập trung cho đối tượngsinh viên trong các nhà trường sư phạm Những nghiên cứu này đã có giá trịnhất định cho các nhà trường trong các giai đoạn phát triển của lịch sử Do sựphát triển của khoa học - kỹ thuật và công nghệ đã tạo ra những thay đổi đốivới người giáo viên, đòi hỏi người giáo viên phải có những KN và năng lựcmới để bổ sung, phát triển, hoàn thiện thêm những năng lực cũ đã không cònphù hợp với hiện tại
Trang 27Hai là, mặc dù các nghiên cứu đã đề cập nhiều đến vấn đề KNDH và
những yêu cầu hoàn thiện KNDH đối với người thầy giáo trước thực tiễn sưphạm, nhưng họ mới chủ yếu dừng lại ở những giải pháp chung trong việchình thành, rèn luyện các KN giảng dạy, KN giáo dục cho sinh viên trong quátrình đào tạo, còn việc hoàn thiện, phát triển các KN đó như thế nào sau khingười học ra trường, trên cương vị là TG và các chức danh nhà giáo thì chưa
có công trình nào đề cập một cách trực tiếp và cụ thể
Hoàn thiện KN nghề nghiệp cho người học sau khi ra trường là vấn đề
có ý nghĩa cấp thiết đối với yêu cầu của thực tiễn sư phạm hiện nay Đặc biệtvới chức danh TG ở ĐHQS, việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần nâng cao chấtlượng dạy học của TG, xây dựng và phát triển quân đội theo hướng cáchmạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụxây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn hoàn thiệnKNDH cho TG ở ĐHQS Trên cơ sở đánh giá thực trạng tìm ra những nguyênnhân cơ bản, đề tài tập trung đề xuất các biện pháp hoàn thiện KNDH cho TG
ở các trường ĐHQS hiện nay
4 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận hoàn thiện KNDH cho TG ở ĐHQS
Đánh giá thực trạng hoàn thiện KNDH cho TG ở ĐHQS hiện nay, tìm ranhững nguyên nhân cơ bản
Xây dựng các biện pháp nhằm hoàn thiện KNDH cho TG ở ĐHQS hiện nay
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của cácbiện pháp
5 Phương pháp nghiên cứu và giả thuyết khoa học của đề tài
5.1 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trang 285.1.1 Cơ sở phương pháp luận
Luận án được thực hiện trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dụcnhằm định hướng cho việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu, luận giải các nhiệm
vụ của đề tài Đặc biệt, trên quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử cụ thể vàquan điểm hệ thống cấu trúc, tác giả đã nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luậnhoàn thiện KNDH, thực trạng hoàn thiện KNDH cho TG, tìm ra các nguyênnhân của thực trạng, từ đó xây dựng các biện pháp hoàn thiện KNDH cho TG
ở các trường ĐHQS hiện nay
5.1.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong Luận án, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu lýthuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm phân tích, khai thác các tài liệuthuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài Cụ thể:
5.1.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các báo cáo tổng kết của khoa, nhà trường về chất lượng đàotạo, chất lượng đội ngũ cán bộ, GV, bồi dưỡng đội GV; nghiên cứu cách viếtgiáo án, thục luyện giáo án
Khai thác, tổng hợp, phân tích các tài liệu liên quan đến công tác giáodục - đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên, nhiệm vụ xâydựng và phát triển đội ngũ nhà giáo quân đội tìm ra vấn đề liên quan, hoànthiện KNDH, năng lực sư phạm cho TG
5.1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động giảng dạy trên lớp của TG, các hoạt động rèn luyệnnghiệp vụ sư phạm trong bộ môn, khoa, trường, những biểu hiện và mức độ thuần
thục của KNDH Dự các buổi lên lớp chính thức và các hoạt động khác của TG,
nắm chất lượng thực hiện nhiệm vụ của TG
* Phương pháp điều tra
Trang 29Trưng cầu ý kiến bằng phiếu điều tra với cán bộ chỉ huy khoa, bộ môn;đội ngũ cán bộ trong thời kỳ TG Sử dụng phiếu điều tra trên các đối tượngnày với mẫu đủ lớn để tìm hiểu thực trạng KNDH của TG và những biệnpháp hoàn thiện KNDH.
* Phương pháp đàm thoại
Tọa đàm, trao đổi với cán bộ quản lý cấp khoa, bộ môn, với HV, cán bộquản lý về KNDH của TG hiện nay, thu thập thêm những thông tin cần thiếtliên quan đến vấn đề nghiên cứu, làm rõ thêm một số vấn đề nảy sinh trong qúatrình điều tra gặp phải
5.1.2.3 Phương pháp toán học
Dùng các kỹ thuật, công thức toán học phù hợp nhằm thống kê sốliệu đã thu thập được, từ đó định tính và định lượng kết quả nghiên cứucũng như giúp cho việc khẳng định các các kết quả nghiên cứu của đềtài là có ý nghĩa
5.1.2.4 Phương pháp chuyên gia
Quá trình triển khai, tác giả tranh thủ sự góp ý, định hướng của các nhàkhoa học, các chuyên gia nghiên cứu trên các lĩnh vực có liên quan về hướngtriển khai đề tài, những phương pháp nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tế vàtiến hành khảo sát kết quả nghiên cứu của đề tài
5.1.2.5 Phương pháp thực nghiệm
Tổ chức thực nghiệm một số nội dung biện pháp nhằm kiểm chứng cácbiện pháp đã đề xuất, thực nghiệm được tiến hành tại các trường Đại học TrầnQuốc Tuấn (Trường Sĩ quan Lục quân 1), Trường Đại học Chính trị (Trường
Sĩ quan Chính trị) Sau khi xử lý, tác giả phân tích số liệu qua sử dụng cácphương pháp thống kê toán học nhằm kiểm chứng tính khả thi và khách quancủa các kết quả nghiên cứu
5.1.2.6 Phương pháp tổng kết các kinh nghiệm sư phạm.
Trang 30Thu thập các thông tin, số liệu, các kinh nghiệm và các bài học mà các
cá nhân, tổ chức đã có trong quá trình hoàn thiện KNDH cho TG ở ĐHQS hiệnnay, làm cơ sở, dữ liệu để phân tích thực trạng, tìm ra nguyên nhân và giảipháp phù hợp
5.2 Giả thuyết khoa học của đề tài
Kỹ năng dạy học là bộ phận cấu thành năng lực sư phạm trong cấu trúcvăn hoá sư phạm của người GV TG là một chức danh trong các chức danh củanhà giáo, thời gian TG là bước quan trọng để xây dựng nền tảng vững chắccho các phẩm chất và năng lực sư phạm của người GV Hoàn thiện KNDHcho TG là nhiệm vụ thường xuyên trong quá trình bồi dưỡng, phát triển độingũ GV ở các trường ĐHQS hiện nay Trước yêu cầu chuẩn hoá chất lượngđội ngũ GV ở các trường ĐHQS, nếu xây dựng được cơ sở lý luận vềhoàn thiện KNDH cho TG; đánh giá đúng thực trạng KNDH của TG; đềxuất được hệ thống các biện pháp bổ sung kiến thức và kinh nghiệm sưphạm cho TG; xây dựng được quy trình hoàn thiện KNDH; tổ chức cho TGtham gia vào các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; đổi mới phươngpháp, hình thức tổ chức rèn luyện KNDH cho TG thì KNDH của họ sẽ đượchoàn thiện và phát triển phù hợp với chuẩn chức danh nhà giáo theo quyđịnh hiện hành
Trang 31Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN KỸ NĂNG DẠY HỌC CHO
TRỢ GIẢNG Ở ĐẠI HỌC QUÂN SỰ 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm kỹ năng dạy học
Thuật ngữ KN đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu,trong mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau có cách hiểu khác nhau
Quan niệm thứ nhất xem xét KN nghiêng về mặt kỹ thuật, thao tác củahành động, hoạt động, coi việc nắm được cách thức hành động là có KN Đạidiện cho quan niệm này là các tác giả Ph.N Gônôbôlin, V.A Kruchexki,V.X Rudin, A.G Côvaliôp, Trần Trọng Thuỷ
Theo cách tiếp cận này khái niệm KN được hiểu là sự thành thạo taynghề theo những quy trình công nghệ có sẵn Quan niệm này nhấn mạnhnhững thao tác hành vi mà không đề cập đến các yếu tố kiến thức, năng lực,kinh nghiệm cá nhân của chủ thể
Quan niệm thứ hai xem xét KN không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hànhđộng mà còn là một biểu hiện năng lực của con người Đại diện cho quan niệmnày là N.Đ Lêvitốp, K.K Platônốp, A.V Pêtrôpxki, F.K Kharlamốp
Quan niệm này coi KN là sự biểu hiện ra bên ngoài của năng lực, KNđược quy định bởi trình độ nắm kiến thức, kinh nghiệm và sự hiểu biết của chủthể Nhưng khi quan niệm KN là khả năng hoặc là năng lực thì chưa thật chínhxác Bởi vì KN không phải là yếu tố tiềm ẩn bên trong mà phải được thể hiện rabên ngoài bằng hành vi
Theo Đặng Thành Hưng thì “KN không phải là khả năng, không phải là
kỹ thuật hành động, mà chính là hành động được thực hiện có ý thức, có kỹ thuật
và có kết quả”[36, tr 72]
Tuy hình thức diễn đạt các khái niệm có khác nhau, nhưng thực chấtđều toát lên những dấu hiệu nổi bật sau: KN liên quan mật thiết đến năng lực
Trang 32của con người, là biểu hiện cụ thể của năng lực, thể hiện ở tính hiệu quả và sựnhuần nhuyễn của các thao tác; mọi KN đều phải dựa trên cơ sở tri thức, hiểubiết Muốn hành động, muốn thao tác được, trước hết phải có kiến thức Kiến thứcchính là công cụ của hành động, trên cơ sở kiến thức mới rèn luyện được kỹ xảo,
KN tương ứng; nói tới KN là nói tới hành động có mục đích Nghĩa là, trong quátrình thực hiện hành động, bao giờ con người cũng hình dung ra kết quả hànhđộng, cách thức để đạt tới kết quả đó; để có KN, con người phải nắm được cáchthức hành động trong những điều kiện cụ thể với sự luyện tập nhất định
Với cách nhìn nhận như trên, có thể hiểu một cách khái quát về KN như
sau: KN là sự thực hiện thành thạo những hành động về một công việc nào đó, bằng cách vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với điều kiện nhất định của thực tiễn, nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã xác định.
Đi sâu nghiên cứu về khái niệm này, phần lớn các nhà TLH, GDH đềucho rằng, KN là một phạm trù được biểu hiện trong những tình huống, trình độthể hiện khác nhau; có KN đơn giản và KN phức tạp KN đơn giản là trình độ ápdụng kiến thức, kỹ xảo trong những điều kiện hoàn cảnh thông thường như: KNviết, KN đọc… KN phức tạp là trình độ vận dụng sáng tạo những tri thức, kỹxảo và kinh nghiệm vào những tình huống phức tạp và đạt được kết quả nhấtđịnh Ở đây, KN được hiểu là trình độ của sự vận dụng sáng tạo kiến thức, hiểubiết, kinh nghiệm để giải quyết các công việc có hiệu quả Đề tài của chúng tôinghiên cứu thống nhất với quan điểm này và khi nói đến KN đó là KN ở trình độcao, trình độ phức tạp hay còn gọi là KN bậc hai
Trên mỗi góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà sư phạm đều đưa ra cáchphân loại KN khác nhau Theo chúng tôi, KN có 2 loại:
Kỹ năng được hình thành tự phát, do hoạt động thực tiễn mà có Đây làloại KN được hình thành do sự lặp đi, lặp lại nhiều lần các thao tác, động táctrong một điều kiện nhất định Loại KN này có cả ở người và động vật, nó đượcquy định bởi kinh nghiệm thực tế, sự từng trải của chủ thể Vì vậy, các KN được
Trang 33hình thành tự phát chỉ có thể phát huy và thực hiện có hiệu quả trong một điềukiện, hoàn cảnh nhất định, vượt ra ngoài các điều kiện đó, nó không mang lạihiệu quả cho chủ thể hoạt động.
Kỹ năng được hình thành do rèn luyện một cách có ý thức của chủ thể Vídụ: KN thực hiện các động tác điều lệnh đội ngũ của người quân nhân, KNDHcủa người thầy giáo, KN lập kế hoạch chiến đấu Đây là loại KN chỉ có ở ngườivới sự kiểm soát chặt chẽ của ý thức Những KN này được quy định bởi hệthống kiến thức lý thuyết, kinh nghiệm của chủ thể Quá trình hình thành KNphải dựa trên hệ thống kiến thức lý thuyết và tuân thủ nghiêm túc quy trình rènluyện mới đạt được Các KN được hình thành qua các mức độ khác nhau, sựthuần thục của KN phụ thuộc vào mức độ rèn luyện của chủ thể
K.K Platônốp và G.G Gôlubep đã chia quá trình này thành 5 giaiđoạn, đó là:
Giai đoạn 1: Giai đoạn có KN sơ đẳng, ở giai đoạn này, con người ý thức
được mục đích hành động và tìm kiếm cách hành động dựa trên vốn hiểu biết và
kỹ xảo đời thường Hành động được thực hiện theo cách “thử - sai”
Giai đoạn 2: Giai đoạn biết làm nhưng không đầy đủ Ở giai đoạn này,
con người có hiểu biết về cách thức thực hiện hành động, sử dụng các kỹ xảo
đã có nhưng không phải là các kỹ xảo chuyên biệt dành cho hành động này
Giai đoạn 3: Giai đoạn có những KN chung nhưng mang tính chất
riêng lẻ, con người có hàng loạt KN phát triển cao nhưng còn mang tính chấtriêng lẻ, các KN này cần thiết cho các dạng hoạt động khác nhau
Giai đoạn 4: Giai đoạn có KN phát triển cao Trong giai đoạn này, con
người biết sử dụng sáng tạo vốn hiểu biết và kỹ xảo đã có Họ không chỉ ýthức được mục đích hành động, mà còn ý thức được cả động cơ lựa chọn,cách thức để đạt mục đích
Giai đoạn 5: Giai đoạn có tay nghề, trong giai đoạn này, con người biết
sử dụng sáng tạo đầy triển vọng các KN khác nhau [57, tr 74 ]
Trang 34Khi nghiên cứu về cấu trúc của KN, nhiều nhà khoa học đã đưa ra nhữngcấu trúc khác nhau theo hướng tiếp cận của mình Tác giả Đặng Thành Hưngcho rằng, KN được cấu trúc bởi 4 yếu tố: hệ thống thao tác được tổ chức linhhoạt; trình tự lôgic của tiến trình thực hiện các thao tác; các quá trình điều chỉnhhành động; nhịp độ thực hiện và cơ cấu thời gian.
Theo chúng tôi, KN là mức độ thuần thục của những thao tác được biểuhiện ra bên ngoài, nhưng lại bị quy định bởi các nhân tố bên trong, đó chính là tưduy của chủ thể
Phần biểu hiện ra bên ngoài của KN, đó là các thao tác, động tác, cáchành động kỹ thuật Đây là phần mà mọi người đều có thể quan sát được, có thể
đo được, đánh giá được bằng các thang đánh giá, bằng các tiêu chí hay bằng sựcông nhận các kết quả, sản phẩm đạt được của chủ thể hoạt động
Phần bên trong của KN, đó là kiến thức, kinh nghiệm của cá nhân đượchình thành trong quá trình học tập, rèn luyện Hay nói cách khác, đó chính là tưduy và sự linh hoạt của các thao tác tư duy của chủ thể, là một phần của năng lựcđược biểu hiện ra bên ngoài bằng các thao tác, động tác
Mối quan hệ của hai thành tố cấu trúc nên KN là mối quan hệ biện chứnggiữa các nhân tố bên ngoài và các nhân tố bên trong (hình thức – nội dung).Những hành động, thao tác bên ngoài được quy định bởi yếu tố bên trong, là sựchuyển ra bên ngoài của tư duy Thông qua hành động để kiểm chứng tư duy,đồng thời rút ra những kinh nghiệm thực tiễn bổ sung cho tư duy, hoàn thiệnnhững kiến thức lý thuyết đã lĩnh hội được trong quá trình học tập Quá trình bổsung cho tư duy được gọi là quá trình chuyển từ ngoài vào trong
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa hai thành tố trong cấu trúc của kỹ năng
Tư duy(Bên trong)
Hành động(Bên ngoài)
Trang 35Kỹ năng dạy học là bộ phận của KN sư phạm và nằm trong nhóm các
KN chuyên biệt của người GV Theo Nguyễn Như An: “KNDH là sự thựchiện có kết quả một số thao tác hay một loạt thao tác phức tạp của mộthành động giảng dạy, bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức,những cách thức và quy trình đúng đắn’’[2, tr.21] Tác giả Trần Anh Tuấncũng đã đưa ra định nghĩa: “KNDH là sự thực hiện có kết quả một số thaotác hay một loạt thao tác phức hợp của một hành động giảng dạy bằng cáchlựa chọn và vận dụng những tri thức chuyên môn và nghiệp vụ cần thiết vàocác tình huống dạy học’’[80, tr.71]
Từ một số khái niệm trên cho thấy:
Kỹ năng dạy học là KN thứ sinh, do quá trình rèn luyện mà có, baogồm hệ thống KN phức tạp của hành động giảng dạy đã được GV nắm vững
Nó được thể hiện ra bên ngoài bằng các thao tác, kỹ thuật của hành độnggiảng dạy, là sự biểu hiện tập trung nhất của năng lực sư phạm trong mỗi GV
Thành phần của KNDH bao gồm tri thức sư phạm và kinh nghiệm sưphạm đã có, quá trình thực hiện hành động sư phạm, sự kiểm soát thường xuyên,trực tiếp của ý thức và kết quả hành động (các yếu tố bên trong và bên ngoài)
Tiêu chuẩn để xác định sự hình thành và mức độ phát triển của KNDHcăn cứ vào tính chính xác, tính thành thạo, tính linh hoạt và sự phối hợp nhịpnhàng các động tác trong hành động
Kỹ năng dạy học được thể hiện rõ nét trong việc lựa chọn tri thức,cách thức, quy trình giảng dạy hiệu quả của GV, có mối quan hệ chặt chẽvới kết quả học tập của người học KNDH là sự thể hiện mối quan hệ biệnchứng với trình độ nắm nội dung của GV, việc nắm vững nội dung dạy họckhông chỉ giúp cho GV chủ động trong phương pháp, trong tổ chức và xử
lý các tình huống dạy học mà còn là cơ sở quan trọng giúp họ vận dụng cácKNDH để tiến hành có hiệu quả BG Vì vậy, bồi dưỡng, rèn luyện KNDHcho GV phải được tiến hành đồng thời với việc bồi dưỡng kiến thức ch uyênngành, nắm vững nội dung chuyên môn
Trang 36Kỹ năng dạy học vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật vìchúng đồng thời dựa vào lý luận dạy học lẫn kinh nghiệm và phong cách nghềnghiệp của GV KNDH có tính chất tích hợp vừa mang tính chất chuyên mônsâu, chuyên biệt đặc thù của nghề nhưng cũng mang tính xã hội sâu sắc và tiêubiểu cho văn hoá giảng dạy của GV.
Như vậy, theo chúng tôi thì: KNDH là sự thực hiện thành thạo hệ thống các thao tác phức tạp của hành động giảng dạy, bằng cách lựa chọn và vận dụng những kiến thức sư phạm, kinh nghiệm sư phạm đã có của người giảng viên nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.
Trong phân loại KN dạy học, có rất nhiều cách phân loại khác nhau.Dựa vào chức năng, nhiệm vụ người thầy giáo, đặc điểm nghề dạy học A.V.Pêtrôpxki đã chỉ ra các KN như: KN, kỹ xảo thông tin; KN, kỹ xảo độngviên; KN, kỹ xảo phát triển; KN, kỹ xảo định hướng
Dựa trên sự phân chia thành nhóm, Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt đãphân chia KN sư phạm của người thầy giáo thành 2 nhóm: KN nền tảng và
KN chuyên biệt Tác giả coi KNDH thuộc nhóm KN chuyên biệt, bao gồmcác KN như: KN xác định mục đích, nhiệm vụ dạy học, sử dụng các nguồntài liệu; KN soạn bài và lên lớp, tổ chức các dạng hoạt động độc lập cho họcsinh; bồi dưỡng học sinh kém và học sinh giỏi; sử dụng và chế tạo cácphương tiện dạy học; kiểm tra, đánh giá tri thức, KN, kỹ xảo của học sinh
Tác giả Nguyễn Như An cũng phân chia KNDH nằm trong nhóm KNchuyên biệt và bao gồm các KN như: KN phân tích kế hoạch, nội dungchương trình; KN phân tích, đánh giá BG và các hoạt động dạy học khác; KNthiết kế và chuẩn bị một BG; KN lên lớp; KN kiểm tra, đánh giá tri thức, KN,
kỹ xảo của học sinh; KN tổ chức hoạt động tự học cho học sinh; KN hướngdẫn thực hành, thực tế thực tập sư phạm thường xuyên; KN giúp đỡ riêng(phụ đạo) giúp đỡ học sinh kém, bồi dưỡng học sinh giỏi; KN nghiên cứu và
Trang 37tập sử dụng các sổ sách của giáo viên như điểm danh, sổ điểm Theo tác giả,đây là những KN quan trọng nhất đảm bảo cho người giáo viên thực hiệnđược chức năng chủ yếu của mình
Căn cứ vào các nhiệm vụ dạy học, tác giả Đặng Thành Hưng đã chiaKNDH thành 4 nhóm cơ bản như: những KN nghiên cứu người học và việchọc; những KN lãnh đạo và quản lý người học, việc học; những KN thiết kếdạy học và hoạt động giáo dục; những KNDH trực tiếp [36, tr.86-87]
Ngoài những cách phân loại KNDH như trên, có thể phân loại theo tiếp cậnlôgic các hình thức tổ chức dạy học Theo cách tiếp cận này KNDH bao gồm: KNchuẩn bị và tiến hành BG; KN tổ chức, điều khiển hoạt động tự học của HV; KN tổchức, điều khiển xêmina; KN tổ chức thực hành, thực tập; KN thực hiện các hìnhthức tổ chức dạy học bổ trợ; KN tổ chức ôn tập, củng cố kiến thức, KN kiểm trađánh giá kết quả học tập của HV Trong đó, KN chuẩn bị và tiến hành BG là mộttrong những KN cơ bản quan trọng hàng đầu của người GV
Kỹ năng chuẩn bị BG là những thao tác xử lý, chế biến nội dung dạyhọc, thiết kế phương pháp giảng dạy, biên soạn giáo án phù hợp với đối tượng
HV và mục tiêu yêu cầu của buổi học Bao gồm các KN như: nghiên cứu kếhoạch, chủ đề BG, KN nghiên cứu tài liệu lý luận và thực tiễn liên quan đếnchủ đề BG, KN soạn giáo án, KN thục luyện giáo án
Kỹ năng tiến hành BG là những thao tác linh hoạt, sáng tạo của GVtrong giờ lên lớp, nhằm tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HV thựchiện các nhiệm vụ dạy học của BG đã được xác định trong giáo án Bao gồmcác KN như: KN mở đầu BG, KN tổ chức thực hiện các nội dung dạy học,
KN nắm và điều khiển các thông tin ngược, KN định hướng nhận thức cho
HV sau buổi học
Ngày nay, trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã làm xuất hiệnnhiều KNDH mới, hay còn gọi là KNDH hiện đại Thực chất đây là những
Trang 38hoạt động ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ vào trongquá trình dạy học của người GV Bao gồm các KN như: KN ứng dụng côngnghệ thông tin trong chuẩn bị và tiến hành BG, KN dạy học bằng phươngpháp e-learning, KN dạy học hợp tác, KN dạy học dự án, KN graph Mặtkhác, trước sự phát triển của thực tiễn sư phạm việc phân loại KNDH của GVcòn được xem xét bao gồm các KN cứng và KN mềm
Khó có thể liệt kê được tất cả các KNDH của người GV, bởi mỗi hànhđộng, mỗi thao tác của họ đều đòi hỏi sự thuần thục, sự chính xác, mẫu mực.Người GV có bao nhiêu thao tác, bao nhiêu hoạt động trong dạy học thì cầnphải có bấy nhiêu KN
Như vậy, KNDH bao gồm nhiều loại hình, nhiều cấp độ và luôn vậnđộng phát triển cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của Lý luận dạyhọc, của thực tiễn sư phạm Điều đó đòi hỏi người GV phải thường xuyên cậpnhật, bổ sung, phát triển, hoàn thiện KNDH của bản thân theo sự vận độngphát triển của thực tiễn
1.1.2 Khái niệm hoàn thiện kỹ năng dạy học
Thuật ngữ “Hoàn thiện” hiểu theo nghĩa thông thường là gọt bỏ nhữngcái không cần thiết, bổ sung, phát triển thêm làm cho cái đã có trở thành đầy
đủ, chính xác, phù hợp với mô hình, mục tiêu đã xác định Hoàn thiện trên cơ
Trang 39lai Ví dụ: hoàn thiện nhà, công trình… Tuy nhiên, trong dạy học, hoàn thiệnlại không có ý nghĩa tuyệt đối như vậy, hoàn thiện trong dạy học là hoàn thiệntheo các chuẩn, đạt chuẩn, các chuẩn này thay đổi theo thời gian, công việc,yêu cầu nhiệm vụ Các chuẩn đặt ra cho GV phải phấn đấu để đạt đượcnhững bước tiến nhất định trong nghề nghiệp của mình Ví dụ: các chuẩnchức danh GV như trợ giảng, GV chính, GV cao cấp Mặt khác, trong thựctiễn nghề nghiệp sư phạm, hoàn thiện tay nghề tới mức trọn vẹn, hoàn hảo,tuyệt đối là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp và hầu như là không thể.Thực tiễn sư phạm rất phong phú và đa dạng, luôn đưa ra các yêu cầu mới,đòi hỏi buộc chúng ta phải thường xuyên hoàn thiện, bổ sung và phát triểnmình Khi năng lực sư phạm của chúng ta đạt được ở mức độ này thì lại cómức độ mới cao hơn được đề ra, khi hoàn thiện được KNDH này thì lại xuấthiện KNDH mới đặt ra ở trình độ cao hơn… và cứ như vậy tạo ra một chutrình động phát triển không ngừng Cho nên, thuật ngữ hoàn thiện trong dạyhọc là một khái niệm động và có thể được hiểu ở mức độ là sự bổ sung, pháttriển thêm, làm cho cái đã có trở thành đầy đủ, chính xác, phù hợp với môhình, mục tiêu đã xác định Hoàn thiện với từng mức độ, cấp độ khác nhautheo các thời kỳ, chu trình trong hoạt động dạy học
Với cách hiểu về hoàn thiện như vậy, chúng tôi cho rằng: Hoàn thiện KNDH là quá trình rèn luyện, bổ sung, phát triển các KNDH của GV, làm cho chúng đầy đủ, chính xác, thuần thục hơn, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu của quá trình dạy học và từng giai đoạn phát triển nghề nghiệp.
Hoàn thiện KNDH cho GV là quá trình thường xuyên, liên tục, được thựchiện theo các giai đoạn, các trình độ, các chức danh nhà giáo khác nhau KNDHcủa nhà giáo được hình thành từ khi còn học tập trong nhà trường sư phạm vàtiếp tục phát triển trong suốt cả cuộc đời GV Quá trình hình thành, phát triển,hoàn thiện KNDH của nhà giáo được diễn ra theo các giai đoạn như sau
Trang 40Giai đoạn học tập trong nhà trường Giáo sinh được trang bị đầy đủ những
kiến thức chuyên môn và kiến thức về nghiệp vụ sư phạm, họ vừa được học kiếnthức lý thuyết vừa được tham gia thực hành, rèn luyện, thực tập dưới sự chỉ dẫn,giúp đỡ của các GV có kinh nghiệm Trình độ KNDH của họ chủ yếu mang tínhchất kiến thức sách vở, chưa có thực tiễn Xét một cách toàn diện thì đây mới chỉ
là giai đoạn bắt đầu của việc hình thành các KNDH, còn KNDH được phát triểnnhư thế nào phụ thuộc rất lớn vào các giai đoạn tiếp theo, đặc biệt là giai đoạn TG
Giai đoạn TG: Đây là giai đoạn họ bắt đầu bước vào nghề dạy học với
cương vị mới, chức trách, nhiệm vụ mới và môi trường làm việc mới Tronggiai đoạn này TG đã ý thức rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của mình trong sựnghiệp giáo dục, mọi hành động của TG sẽ liên quan đến uy tín và danh dựcủa họ Cho nên, đa số TG đã thể hiện sự cố gắng vươn lên vượt bậc tronghọc tập và rèn luyện TG khi về công tác tại các trường ĐHQS, ngoài nhữngyêu cầu chung, mỗi trường đều đưa ra những yêu cầu riêng trong việc đánhgiá quá trình dạy học Chính sự thay đổi đó đã làm cho một số TG lúng túng
và gặp khó khăn trong quá trình hoàn thiện KNDH và các KN sư phạm khác,nhưng đây là giai đoạn quan trọng cho mỗi TG có được những bứt phá để xâydựng nền tảng nghề nghiệp sư phạm vững chắc
Với các nhiệm vụ và chức năng của TG đã được quy định thì sự tiến bộ
về KNDH của mỗi TG không chỉ phụ thuộc vào lượng kiến thức (chuyên môn
và nghiệp vụ) mà TG có được mà còn phụ thuộc và sự tự giáo dục của mỗi
TG Trong giai đoạn này, TG tự mình chuyển hoá những kiến thức đã họctrong nhà trường thành KNDH theo yêu cầu, đặc điểm của nhà trường nơiđang công tác, theo yêu cầu và kinh nghiệm thực tiễn sư phạm của đội ngũ
GV trong khoa; kiểm nghiệm các kiến thức và các KNDH trong thực tiễn sưphạm quân sự Ở giai đoạn tập sự ban đầu (năm thứ 1 và 2), các thao tác,động tác KNDH của TG còn thô sơ, đơn giản, rời rạc, nặng về lý thuyết, bắtchước, làm theo các GV trong khoa, chưa có sự chủ động, sáng Cùng với sự