1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả của chính sách xã hội đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người khuyết tật ở thành phố huế

71 1,4K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu quả của chính sách xã hội đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người khuyết tật ở thành phố Huế
Tác giả Lương Thị Diệu
Trường học Trường Đại Học Huế
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 23,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chung về hiệu quả của chính sách xã hội và những vấn đề đặt ra đối với việc giải quyết việc làm cho người khuyết tật ở thành phố Huế...49 2.3.1.. Chính vì vậy tôi chọn đề tài: “

Trang 1

MỤC LỤC

A. PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4

6 Đóng góp của đề tài 4

7 Kết cấu 4

B. NỘI DUNG 6

Chương 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI, VIỆC LÀM VÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT 6

1.1 Chính sách xã hội - một số nội dung và quan điểm 6

1.1.1 Một số khái niệm về chính sách xã hội 6

1.1.2 Một số quan điểm về chính sách xã hội 7

1.1.3 Nội dung, vai trò của chính sách xã hội 13

1.2 Việc làm và người khuyết tật 15

1.2.1 Quan niệm về việc làm và chính sách giải quyết việc làm 15

1.2.2 Vấn đề việc làm của người khuyết tật ở Việt Nam 18

1.2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giải quyết việc làm cho người khuyết tật 23

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28

2.1.1 Vị trí địa lí và đặc điểm khí hậu 28

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 29

2.2 Thực trạng người khuyết tật và việc làm của người khuyết tật ở thành phố Huế hiện nay 30

2.2.1 Thực trạng lực lượng lao động người khuyết tật trên địa bàn thành phố Huế 30

2.2.2 Thực trạng việc làm của người khuyết tật ở Thành phố Huế 38

2.3 Đánh giá chung về hiệu quả của chính sách xã hội và những vấn đề đặt ra đối với việc giải quyết việc làm cho người khuyết tật ở thành phố Huế 49

2.3.1 Những thành tựu đạt được 49

2.3.2 Những hạn chế và những vấn đề đặt ra trong giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Huế 51

2.4 Những giải pháp cơ bản để phát huy chính sách xã hội đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người khuyết tật 53

2.4.1 Nhóm giải pháp về kinh tế 53

2.4.2 Nhóm giải pháp về giáo dục 55

2.4.3 Tăng cường vai trò của các tổ chức đoàn thể trong việc tìm kiếm và tạo việc làm cho người khuyết tật 56

C. KẾT LUẬN 58

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 2

PHỤ LỤC 62

Trang 4

8 Lí do chọn đề tài

Việc làm cho người lao động là một trong những vấn đề xã hội có tínhchất toàn cầu, là mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia Việt Nam trong quátrình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước đã đạtđược những kết quả nhất định trong phát triển kinh tế như: tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao trong một số năm, giải quyết tốt vấn đề lương thực… Tuynhiên, Việt Nam cũng còn phải đối phó với những thách thức to lớn trongquá trình phát triển Một trong những thách thức to lớn đó là tỷ lệ thấtnghiệp cao, nhu cầu về việc làm đang tạo nên sức ép to lớn đối với nền kinh

tế nhất là việc làm cho người khuyết tật

Trong bối cảnh đó, việc chăm lo giải quyết việc làm cho người khuyếttật đã trở thành nhiệm vụ cơ bản và cấp bách, đòi hỏi mỗi cấp, mỗi ngành vàtoàn xã hội phải quan tâm Chính vì vậy, việc xây dựng kế hoạch giải quyếtviệc làm cho người khuyết tật là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết

Vì nếu không được làm việc thì người khuyết tật sẽ phải sống phụ thuộc, trởthành gánh nặng của gia đình và cộng đồng

Có rất nhiều nguyên nhân khiến người khuyết tật ít cơ hội tìm đượcviệc làm, trong đó trước hết là do trình độ văn hóa thấp Trong khi đó, muốn

có nghề, có việc làm thì phải có trình độ văn hóa nhất định Hơn nữa,trongquá trình tiếp cận cơ hội học nghề, tìm việc làm người khuyết tật cũng gặpnhiều khó khăn, thiếu thông tin về học nghề, việc làm

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu giải quyết việc làm cho người khuyếttật cần thực hiện tốt các chính sách xã hội, tăng cường sự hỗ trợ của Nhànước trong giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động để ngườikhuyết tật có thêm cơ hội tìm kiếm được việc làm

Ở Thành phố Huế có khoảng 5774 người khuyết tật Vì vậy, giảiquyết việc làm cho người khuyết tật là vấn đề bức xúc, đòi hỏi chính sách xãhội phải quan tâm giải quyết nhằm bảo vệ cho người khuyết tật có được

Trang 5

những quyền cơ bản mà họ đáng được hưởng giúp họ vượt qua được tự ti,mặc cảm, hòa nhập cộng đồng.

Chính vì vậy tôi chọn đề tài: “Hiệu quả của chính sách xã hội đối với

vấn đề giải quyết việc làm cho người khuyết tật ở thành phố Huế” làm khóa

luận tốt nghiệp của mình

9 Tình hình nghiên cứu

Các tác giả: Lương Thế Bản, Lê Doãn Nam, Nguyễn Thị Từ An,Huỳnh Thị Nương … đã có nhiều công trình nghiên cứu về người khuyếttật, về các chính sách xã hội Tuy nhiên chưa có đề tài nào đề cập cụ thể đếnchính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật ở Thành phố Huế

Trong đề tài: “Công tác xã hội với người tàn tật ở huyện Can Lộc,

tỉnh Hà Tĩnh” tác giả Lương Thế Bản đã nêu một cách tổng quát về các

chính sách xã hội đối với người tàn tật Tác giả đã tập trung đi sâu vào côngtác xã hội để thấy được hiệu quả của nó như thế nào Không những thế tácgiả đã làm nổi bật được thực trạng của người tàn tật ở huyện Can Lộc- HàTĩnh để cho ta thấy được những khó khăn, vất vả mà người tàn tật còn gặpphải nhất là ở vùng quê nghèo này Tác giả còn cho chúng ta thấy được hơnlúc nào hết phải quan tâm hơn nữa đến công tác xã hội để làm sao giúp đượccàng nhiều cho người tàn tật để họ hòa nhập cộng đồng

Trong đề tài: “Công tác xã hội với nhóm trẻ em khuyết tật, thực trạng,

nguyên nhân và giải pháp can thiệp ở tỉnh Quảng Trị” tác giả Lê Doãn Nam

lại chọn một đối tượng cụ thể hơn để nghiên cứu đó là trẻ em khuyết tật.Đây là nhóm đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất trong sinh hoạt cũng nhưhọc tập, các em rất khó để hòa nhập vì tâm lí tự ti luôn bao trùm làm các emcảm thấy mặc cảm Bên cạnh đó tác giả cũng nêu lên thực trạng, nguyênnhân cũng như đưa ra một số giải pháp để giúp các em vượt qua được nhữngrào cản đó Các em dù thế nào thì cũng là thế hệ trẻ của tương lai chính vìvậy mà cần có những biện pháp can thiệp sớm, giúp các em được đến trường

để sau này có được một công việc ổn định góp phần xây dựng đất nước

Trang 6

Tác giả Huỳnh Thị Nương trong đề tài: “Tìm hiểu việc làm của người

khuyết tật vận động ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” lại chọn đối tượng

khác để nghiên cứu đó là những người bị khuyết tật hệ vận động Tác giảcũng đề cập đến những khó khăn mà dạng người khuyết tật này gặp phảicũng như sự khó khăn của họ khi tìm kiếm một công việc làm phù hợp Cóthể nói rằng hầu như họ đều không đi lại được nên cơ hội tìm được việc làmcủa họ là rất hiếm hoi nếu như không muốn nói là vô cùng khó khăn Nhữngnhà tuyển dụng hầu như đều e ngại với dạng khuyết tật này Tác giả cũng đãđưa ra một số giải pháp thiết thực và chủ yếu để giúp bộ phận này có đượcmột công việc làm để sớm ổn định cuộc sống

Tác giả Nguyễn Thị Từ An trong đề tài: “Những vấn đề về tổ chức

gia đình của người khuyết tật ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” lại bàn về

một khía cạnh hoàn toàn khác của người khuyết tật đó là vấn đề tổ chức giađình Bởi vì cũng như bao nhiêu người bình thường khác người khuyết tậtcũng cần có một mái ấm gia đình Vì đó là nơi mà tâm hồn của họ đượcthanh thản nhất, đó cũng là nơi họ có thể chia sẻ được mọi điều của cuộcsống đời thường mà họ gặp phải Tuy nhiên đây cũng không phải là mộtđiều đơn giản đối với người khuyết tật Không ai lại muốn kết hôn với mộtngười khuyết tật cả vì họ cho rằng đó là cả một gánh nặng Chính vì vậy màtác giả đã nêu ra những khó khăn cần mọi người phải biết quan tâm và chia

sẻ cùng người khuyết tật để họ cũng có một mái ấm như bao nhiêu ngườibình thường khác

10.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Đề tài nhằm làm sáng tỏ thực trạng của người khuyết tật ở thành phốHuế,

- Làm rõ hiệu quả của chính sách xã hội đối với vấn đề giải quyếtviệc làm cho người khuyết tật ở thành phố Huế,

Trang 7

- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của chínhsách xã hội đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người khuyết tật ở thànhphố Huế.

11.Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng duy vật

12.Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hiệu quả củachính sách xã hội đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người khuyết tật ởthành phố Huế

13.Đóng góp của đề tài

Trên cơ sở điều tra, phỏng vấn, lấy các số liệu để từ đó phân tích, đánhgiá hiệu quả của chính sách xã hội đối với vấn đề giải quyết việc làm chongười khuyết tật ở thành phố Huế

Đề tài hoàn thành sẽ là tài liệu cho các trung tâm khuyết tật, cho các SởLao động, Thương binh và Xã hội sử dụng, nghiên cứu

14.Kết cấu

Ngoài mục lục, danh mục từ viết tắt, phần mở đầu, kết luận, danh mụctài liệu tham khảo, phụ lục đề tài được kết cấu gồm hai chương với 6 tiếtnhư sau:

Chương 1: Lí luận chung về chính sách xã hội và việc làm cho người

khuyết tật

1.1 Chính sách xã hội- một số nội dung và quan điểm1.2 Việc làm và người khuyết tật

Trang 8

Chương 2: Hiệu quả của chính sách xã hội đối với vấn đề giải quyết

việc làm cho người khuyết tật ở Thành phố Huế

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu2.2 Thực trạng người khuyết tật và việc làm của ngườikhuyết tật ở Thành phố Huế hiện nay

2.3 Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra trong thực hiệnchính sách xã hội đối với việc giải quyết việc làm cho người khuyết tật

2.4 Những giải pháp cơ bản để phát huy chính sách xã hộiđối với vấn đề giải quyết việc làm cho người khuyết tật

Trang 9

B NỘI DUNG

Chương 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI, VIỆC

LÀM VÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.3 Chính sách xã hội - một số nội dung và quan điểm

1.1.4 Một số khái niệm về chính sách xã hội

Chính sách xã hội là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chínhsách của Nhà nước Để làm rõ khái niệm chính sách xã hội cần hiểu một sốkhái niệm liên quan như: “chính sách” và “xã hội”

“Chính sách” là cách thức tác động có chủ đích của một nhóm, tậpđoàn xã hội này vào những nhóm, tập đoàn xã hội khác thông qua các thiếtchế khác nhau của hệ thống chính trị nhằm thực hiện các mục tiêu đã đượcxác định trước Chính sách thường được thể hiện trong các quyết định, hệthống văn bản luật pháp và các quy định chuẩn hành vi khác

“Xã hội” thường được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau.Theo nghĩa rộng, xã hội là tất cả những gì gắn với con người, với xã hội loàingười nhằm phân biệt với các hiện tượng tự nhiên

“Cái xã hội” dùng trong khái niệm “chính sách xã hội” là theo nghĩahẹp, được hiểu như con người với những mối quan hệ nhiều mặt của họ về

cả kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng Nghĩa là, yếu tố con người là khíacạnh nhân văn của tất cả những mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa và tưtưởng ấy Như vậy “cái xã hội” theo nghĩa hẹp chính là mục tiêu, là mụcđích của tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng ấy

CSXH là công cụ của Nhà nước được thể chế hóa để tác động vàonhững quan hệ xã hội nhằm giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra, gópphần thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diệncon người

Trang 10

Hoặc hiểu cách khác: CSXH là một bộ phận hợp thành chính sách củaĐảng và Nhà nước, là sự thể hiện cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng,

hệ thống pháp luật của Nhà nước, nhằm đảm bảo những nhu cầu vật chất vàtinh thần của con người, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và tạo động lựctrực tiếp để con người hoạt động trên mọi lĩnh vực xã hội.[19, 4-5]

CSXH là sự cụ thể hoá, thể chế hoá các đường lối, chủ trương để giảiquyết những vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm phù hợp vớibản chất xã hội-chính trị phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xãhội nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếpvào con người và điều chỉnh các quan hệ giữa con người với con người, giữacon người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất là thoả mãn những nhucầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân.[4, 290]

1.1.5 Một số quan điểm về chính sách xã hội

1.1.2.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về chính sách xã hội

Chính sách xã hội là bộ phận cấu thành của chính sách chung của mộtchính đảng hay một chính quyền nhà nước nhất định, nó bao gồm việc giảiquyết một phạm vi ít nhiều rộng rãi các vấn đề xã hội phù hợp với thực chấtgiai cấp và những mục tiêu hoạt động của đảng đó, của chính quyền nhànước đó [24,44]

Dưới chế độ TBCN chính sách xã hội trước hết là tổng hòa những biệnpháp do nhà nước tư sản thi hành đối với quần chúng nhân dân Mặc dầuCSXH được mô tả dưới hình thức “sự quan tâm” đến nhu cầu trong đời sốngcủa những người lao động, nhưng trên thực tế nó bổ sung cho bạo lực côngkhai CSXH bao gồm các biện pháp điều tiết bằng luật pháp những điều kiệnlao động của công nhân và giải quyết “những xung đột lao động”, sự bảođảm xã hội (nghĩa là sự bảo đảm “bằng tiền của xã hội” do nhà nước tậptrung) đối với những người thất nghiệp, già nua và những người khác mấtkhả năng lao động, những người nghèo đông con, trong một số trường hợp,

Trang 11

đó là việc bảo đảm, bằng một hình thức nào đó, nơi ăn chốn ở, sự giúp đỡ y

tế cho các tầng lớp nghèo…

CSXH này xuất hiện chủ yếu như một sự phản ứng thích nghi của giaicấp bóc lột cầm quyền nhằm duy trì các đặc quyền của mình, đối phó vớicuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của nhân dân lao động, coi chính sách

ấy là “cái van bảo hiểm” để giảm bớt sức ép của cuộc đấu tranh giai cấp.Kết quả lớn nhất có thể đạt được nhờ thi hành một chính sách như vậy, chỉ

là một sự giảm nhẹ nào đó những tai họa không thể khắc phục được củanhân dân lao động dưới chế độ TBCN, chỉ là một sự cải thiện từng mặt đờisống của nhân dân Đương nhiên, CSXH Tư sản không thể loại trừ được đấutranh giai cấp của giai cấp vô sản và của những tầng lớp lao động khác chốnglại chế độ bóc lột TBCN, và cuộc đấu tranh này không ngừng tăng lên

Trái ngược hẳn với CSXH của giai cấp tư sản là CSXH của các đảngcộng sản hoạt động trong điều kiện chủ nghĩa tư bản Đây là bộ phận cấuthành của chính sách chung của các đảng ấy, một chính sách cách mạng vềthực chất và về những mục đích cuối cùng Trong khi đề ra mục tiêu là thayđổi một cách căn bản những điều kiện xã hội, thì đồng thời các Đảng cộngsản-chừng nào chủ nghĩa tư bản còn tồn tại- đấu tranh đòi giai cấp thống trị

và chính quyền nhà nước của nó phải nhượng bộ càng nhiều càng tốt nhằmthỏa mãn những nhu cầu xã hội bức hiết của nhân dân lao động

Việc chuyển chính quyền nhà nước vào tay gia cấp công nhân tạo ranhững khả năng khách quan để giải quyết một cách triệt để rất nhiều vấn đề

xã hội có liên quan đến việc thực hiện các quyền lợi của nhân dân lao động:thủ tiêu tình trạng người bóc lột người, cải thiện mạnh mẽ các điều kiệnsống cho quần chúng nhân dân, tạo các tiền đề cho sự phát triển toàn diệncủa quần chúng nhân dân để họ tham gia các hình thức hoạt động xã hộisáng tạo, để xây dựng một lối sống mới thực sự nhân đạo của con người,thiết lập sự bình đẳng xã hội.[24,44-45]

Trang 12

Nội dung của chính sách xã hội XHCN nhằm cải thiện toàn diện điềukiện sống của người lao động bộc lộ ra một cách đầy đủ CSXH còn baogồm một nhóm nhiệm vụ độc lập là điều tiết tổng hòa các quan hệ xã hộigiữa giai cấp lao động và các tầng lớp lao động, nghĩa là hoàn thiện cơ cấu

xã hội của xã hội xã hội chủ nghĩa CSXH góp phần vào sự tiến triển củanhững quá trình như củng cố khối liên minh và tình hữu nghị giữa giai cấpcông nhân, nông dân, trí thức, dần dần khắc phục những sự khác biệt giữacác giai cấp và các tầng lớp qua đó mà triệt để củng cố sự thống nhất xã hội Việc thực hiện tất cả các nhiệm vụ trong CSXH có liên quan trực tiếpđến con người, đến địa vị của con người trong xã hội, đến điều kiện và nộidung hoạt động sống của con người, đến việc hình thành và thực hiện cácnhu cầu trong đời sống và những khả năng của con người nhằm đạt tới sựphát triển toàn diện của cá nhân Đây là điều mà chủ nghĩa Mác- Lêninmong muốn đạt đến.[24,46-47]

1.1.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách xã hội

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định rằng: giải quyết các vấn đề xã

hội phản ánh bản chất của một chế độ của con người, do con người và vì conngười, là một vấn đề cơ bản của chủ nghĩa xã hội

Lần đầu tiên văn kiện Đại hội VI đưa ra khái niệm chính sách xã hội,thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng: giải quyết các vấn đề xã hội được đặt

trong tổng thể đường lối phát triển của đất nước Nội hàm của chính sách xã

hội được xác định là: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sốngcon người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ giađình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc ” [ 5, 86]

Từ những quan điểm nêu trên, Đại hội VI đã đề ra chủ trương về giải

quyết các vấn đề xã hội như: Phấn đấu hạ tỷ lệ phát triển dân số, coi đây là

một điều kiện quan trọng để tăng thu nhập quốc dân bình quân đầu người,

để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội; Đảm bảo việc làm cho người lao

Trang 13

động là nhiệm vụ kinh tế - xã hội hàng đầu Nhà nước cố gắng tạo thêm việclàm và có chính sách để người lao động tự tạo ra việc làm bằng cách khuyếnkhích phát triển kinh tế gia đình, khai thác mọi tiềm năng của các thànhphần kinh tế khác, kể cả thành phần kinh tế tư bản tư nhân Ban hành vàthực hiện Luật lao động; Đảm bảo cho người lao động có thu nhập thoảđáng phụ thuộc trực tiếp vào kết quả lao động, có tác dụng khuyến khíchnhiệt tình lao động; Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của nhân dân.Trước mắt là tập trung sức nâng cao chất lượng các hoạt động y tế và đạtđược những tiến bộ rõ rệt trong việc chăm sóc sức khoẻ của nhân dân; Từng

bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội xã hội chủ nghĩa đối với toàn dân,

theo phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”, tạo lập nhiều hệ thống

và hình thức bảo trợ xã hội cho những người có công với cách mạng vànhững người gặp khó khăn Điều chỉnh, bổ sung các chính sách, nhất là cácvấn đề quan hệ tới lợi ích thiết thân của mỗi giai cấp và tầng lớp xã hội

Như vậy, chủ trương của Đại hội VI về lĩnh vực xã hội, tập trung vàocác vấn đề: lao động và việc làm; ổn định và nâng cao đời sống nhân dân;thực hiện kế hoạch hoá gia đình, chăm lo người có công với cách mạng,phòng chống các tệ nạn xã hội Trong đó, tư duy mới của Đảng thể hiệnthông qua các chủ trương: giải quyết chính sách xã hội là nhiệm vụ gắn bóhữu cơ với đổi mới kinh tế; vấn đề lao động, việc làm được giải quyết gắnvới phát triển nhiều thành phần kinh tế; nâng cao đời sống của nhân dân gắnvới thực hiện ba chương trình kinh tế lớn

Đại hội Đảng lần thứ VII (6-1991) và Hội nghị đại biểu toàn quốcgiữa nhiệm kỳ Khoá VII (1-1994) chủ trương tăng cường xây dựng các luậtnhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động, vừa khuyến khích đầu tưphát triển, vừa hạn chế bất công xã hội Từng bước nhận thức rõ hơn vềnhiều hình thức phân phối, bên cạnh phân phối theo lao động, còn có chínhthức phân phối theo nguồn vốn đóng góp vào sản xuất kinh doanh Đẩymạnh đào tạo tay nghề, mở rộng hệ thống dịch vụ tư vấn lao động; có chính

Trang 14

sách ưu đãi hợp lý về nhiều mặt để tạo điều kiện cho người nghèo vươn lênlàm đủ sống và trở thành khá giả Khuyến khích làm giàu chính đáng đi đôivới tích cực xoá đói giảm nghèo Có chính sách ưu đãi hợp lý về tín dụng,

về thuế, đào tạo nghề nghiệp để tạo điều kiện cho người nghèo có thể tựmình vươn lên [6, 47] Nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội trong vấn đềgiải quyết bất công xã hội “Có chính sách điều tiết hợp lý đối với nhữngngười giàu; động viên các doanh nghiệp; các tổ chức, cá nhân tự nguyệntham gia các hoạt động nhân đạo, ái hữu, từ thiện, giúp đỡ những nạn nhânchiến tranh, những người bị thiên tai, những người tàn tật, già cả, neo đơn,không có khả năng lao động” [6, 48]

Từ thực tế triển khai thực hiện chính sách xã hội, Đại hội VIII củaĐảng (6-1996) đã tổng kết thành các quan điểm định hướng xây dựng vàphát triển xã hội như: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và côngbằng xã hội trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng

xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâuphân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơhội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình; Khuyến khích làm giàu hợppháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo; Phát huy truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, nhân hậu, thuỷchung; Các vấn đề xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nướcgiữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp,các tổ chức trong xã hội , cũng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội [7,113-114]

Các quan điểm cơ bản nêu trên đã định hình tổng thể tư duy lý luậncủa Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội trong thời kỳ đổi mới Nó vừathích ứng với nhu cầu tạo động lực cho sự phát triển bền vững, vừa hướngtới giá trị công bằng và tiến bộ xã hội

Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đại hội VIII, các chính sách xã hội

có sự đổi mới Chính sách lao động và việc làm đã gắn kết với quá trình

Trang 15

chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, phát triển sản xuất Chính sách xoá đói giảmnghèo được đặc biệt coi trọng với việc hình thành Chương trình quốc giatheo Quyết định 133 của Thủ tướng chính phủ (23-7-1998) Ưu đãi người cócông được luật hoá bằng Pháp lệnh do Quốc hội ban lệnh với những chế độtrợ cấp ưu đãi đặc biệt Bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân đượcđảm bảo bằng mở rộng mạng lưới y tế đến cộng đồng dân cư, thực hiện chế

độ bảo hiểm y tế Phòng và chống tệ nạn xã hội được đảm bảo bằng luậtpháp; Mở rộng các hoạt động đền ơn đáp nghĩa đối với những người cócông với nước, đảm bảo cho người có công và gia đình có mức sống bằnghoặc cao hơn mức trung bình của xã, phường nơi cư trú [ 7, 38-39]

Đại hội Đảng lần thứ IX (4-2001) và các Hội nghị Trung ương Khoá

IX đã cụ thể hoá và bổ sung các quan điểm về chính sách xã hội của Đại hộiVIII, với những nội dung cơ bản:

- Giải quyết chính sách xã hội phải gắn liền với quá trình xây dựngthể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt là “pháttriển thị trường lao động; người lao động được tìm và tạo việc làm ở mọi nơitrong nước; đẩy mạnh xuất khẩu lao động với sự tham gia của các thànhphần kinh tế”

- Trong giải quyết các chính sách xã hội, Nhà nước vừa là người điềutiết, vừa là nhà đầu tư

- Coi trọng công bằng trong hưởng thụ các dịch vụ xã hội, đặc biệt làcông bằng trong thụ hưởng dịch vụ giáo dục và chăm sóc y tế, với việc tạo

cơ hội cho những đối trọng, những vùng còn khó khăn có cơ hội được chămsóc tốt hơn

- Xã hội hoá việc giải quyết các vấn đề xã hội, động viên toàn xã hộitham gia giải quyết các vấn đề xã hội

- Thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnhhoá xã hội [8,192-193]

Trang 16

Đại hội lần thứ X của Đảng (4-2006), trong khi khẳng định nhữngthành tựu đạt được là cơ bản, đồng thời cũng chỉ rõ những hạn chế trongviệc tổ chức thực hiện một số chính sách xã hội như: Kết quả xoá đói giảmnghèo chưa thật vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn lớn; khoảng cách về thunhập, mức sống giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng có xu hướngchênh lệch rõ ràng; nhu cầu về việc làm ở thành thị và nông thôn chưa đượcđáp ứng tốt; tội phạm và tệ nạn xã hội có chiều hướng tăng Để khắc phụctình trạng trên, Đại hội X đề ra chủ trương “Thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội ngay trong từng buớc và từng chính sách phát triển”

Những vấn đề xã hội đã được Đại hội Đảng lần thứ X nhận thức vàgiải quyết toàn diện cả ở góc độ mục tiêu và hệ thống giải pháp trong tổngthể các chính sách phát triển, mà ở đó con người thực sự là trung tâm, làđộng lực và mục tiêu của phát triển xã hội bền vững

1.1.6 Nội dung, vai trò của chính sách xã hội

* CSXH bao gồm những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất: Tái tạo tiềm năng nhân lực của đất nước thông qua cácchính sách về dân số, giáo dục, y tế, bảo hộ lao động, tổ chức nghỉ ngơi,giải trí cho tầng lớp nhân dân, khắc phục các tệ nạn xã hội, bảo đảm antoàn xã hội

Thứ hai: Góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng nền tảng vữngchắc của xã hội với các chính sách về nhà ở, bảo vệ môi trường, sự pháttriển của văn hóa, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, hệ thống các tổ chức dịch

vụ nhằm mục đích phục vụ cuộc sống tốt đẹp của con người

Thứ ba: Giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhântài cho đất nước, tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập cho các tầng lớpnhân dân, đặc biệt là thanh niên; đào tao và đào tạo lại người lao động đểtiếp thu công nghệ mới, kỹ thuật hiện đại, không ngừng nâng cao năng suấtlao động

Trang 17

Thứ tư: Tạo điều kiện cho xã hội ngày càng có nhiều khả năng và biếttiêu thụ những sản phẩm vật chất, tinh thần một cách đúng đắn, tiết kiệm,phù hợp với trình độ phát triển sức sản xuất của đất nước và những chuẩnmực đạo đức, pháp lí của chế độ mới- xã hội chủ nghĩa.

Thứ năm: Tạo sự hình thành mô hình lối sống mới với những đặcđiểm chủ yếu vì sự phát triển toàn diện của con người, hài hòa với sự pháttriển của cộng đồng, bảo vệ những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống tốtđẹp của dân tộc, không ngừng tiếp thu tinh hoa trí tuệ và văn hóa của nhânloại.[19, 6-7]

*Vai trò của chính sách xã hội

Chính sách xã hội có vai trò to lớn đối với sự phát triển xã hội, cụ thể:

Nó bao trùm tất cả các mặt, các lĩnh vực hoạt động của đời sống conngười, các nhóm người và toàn bộ cộng đồng dân cư Nó luôn có vị trí hàngđầu trong hệ thống chính sách kinh tế- xã hội của Nhà nước

Vị trí quan trọng của chính sách xã hội được quy định bởi vị trí quantrọng của con người trong xã hội Nó giải quyết những vấn đề xã hội, tạođiều kiện và khai thác triệt để tiềm lực con người cho sự phát triển Vai trònày ngày càng to lớn khi đất nước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và nhân loại bước vào thời đại khoa học, kỹ thuật, công nghệ

CSXH là cầu nối giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng

xã hội Tăng trưởng và phát triển kinh tế là một cơ sở để tạo ra sự tiến bộ xãhội, nhưng chỉ đạt được khi phải thông qua các chính sách xã hội

CSXH còn là công cụ hữu hiệu để Đảng và Nhà nước ta phát triểnđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Nó là công cụ chủ yếu để thực hiện ngày mộttốt hơn sự công bằng và tiến bộ xã hội

CSXH là một công cụ để thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lícủa Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó được thể hiện: Khắc phục và hạn chế các khuyết tật của kinh tế thị trường về phântầng xã hội và phân hóa giàu nghèo, tạo điều kiện cho nhóm thiệt thòi cóđiều kiện vươn lên hòa nhập với cộng đồng

Trang 18

Thực hiện công bằng trong phân phối, thu nhập trên nguyên tắc theolao động.

Tạo những cơ hội như nhau cho tất cả các chủ thể xã hội phát huy mọitiềm năng, tham gia lao động, các sự nghiệp giáo dục đào tạo, văn hóa, y tế,thể dục, thể thao và những hoạt động chính trị xã hội khác

Tạo lập nếp sống lành mạnh, văn minh, duy trì và phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững và nhân văn củađất nước.[19, 7-8]

1.4 Việc làm và người khuyết tật

1.2.4 Quan niệm về việc làm và chính sách giải quyết việc làm

* Quan niệm về việc làm

Việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi người vì nhờ nócon người có điều kiện tạo thu nhập để đảm bảo các nhu cầu vật chất, tinhthần của mình và các thành viên trong gia đình, đồng thời là điều kiện đểcon người tham gia vào các hoạt động xã hội, quan hệ xã hội, qua đó khẳngđịnh vai trò, giá trị xã hội của mình

Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), người có việclàm là người làm việc trong các lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động cóích, không bị pháp luật cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và giađình, đồng thời góp một phần cho xã hội

Theo chương II, Điều 13, Bộ luật lao động, việc làm được định nghĩa:

“Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều thừanhận là việc làm” Với định nghĩa này, việc làm được hiểu đầy đủ hơn, làmthay đổi nhận thức chật hẹp trước đây, tạo yếu tố thuận lợi về tâm lý, tránh

sự mặc cảm hoặc thái độ không đúng với một số công việc cần thiết trongđời sống hàng ngày

Đối lập với việc làm là thất nghiệp Theo Tổ chức Lao động quốc tế,thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động

Trang 19

muốn làm việc, nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công đangthịnh hành.

Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đốivới mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lựclượng lao động lớn như Việt Nam; giải quyết việc làm cho người lao độngtrong sự phát triển của thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sửdụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thànhthể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiếnkịp khu vực và thế giới

Nhận thức được điều đó nhiều năm qua Nhà nước và toàn xã hội đãhết sức quan tâm giải quyết việc làm cho người lao động Cùng với hệ thốngchính sách, cơ chế, phương tiện bảo đảm, Nhà nước còn quy định nhiều vănbản pháp luật về việc làm Điều 55 Hiến pháp năm 1992 ghi rõ: “Lao động

là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạongày càng nhiều việc làm cho người lao động” Tại nhiều điều khoản của BộLuật lao động, trách nhiệm của Nhà nước, của các cơ quan, tổ chức, đơn vịkinh tế trong vấn đề giải quyết việc làm, hỗ trợ cho người lao động khi mấtviệc làm v.v…được xác định rất cụ thể, cùng với việc tự do lựa chọn việclàm của người lao động

* Khái niệm và vai trò của chính sách việc làm

- Khái niệm: Chính sách việc làm là một trong những chính sách xã

hội cơ bản nhất của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định

và phát triển xã hội Hội nghị Thượng đỉnh Copenhagen tháng 3/1995 đã coi

mở rộng việc làm là một trong những nội dung cơ bản nhất của chiến lượcphát triển xã hội của các nước trên thế giới đến năm 2010

CSVL là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các mục tiêu, các giải pháp

và công cụ nhằm sử dụng lực lượng lao động và tạo việc làm cho lực lượnglao động đó Nói cách khác, chính sách việc làm là sự thể chế hóa pháp luậtcủa Nhà nước trên lĩnh vực lao động và việc làm, là hệ thống các quan điểm,

Trang 20

phương hướng, mục tiêu và các giải pháp giải quyết việc làm cho người laođộng.

CSVL thực chất là một hệ thống các chính sách chung có quan hệ và tácđộng đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lực lượng lao động củatoàn xã hội, như các chính sách: khuyến khích phát triển các lĩnh vực, nhữngngành, nghề có khả năng thu hút nhiều lao động; chính sách tạo việc làmcho những đối tượng đặc biệt (người tàn tật, người già, đối tượng tệ nạn xãhội…); chính sách hợp tác và xuất khẩu lao động đi nước ngoài

[19,54-55]

-Vai trò của chính sách việc làm:

CSVL là một vấn đề nhạy cảm, vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có

ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội Việc hoạch định và thực hiện không tốtchính sách này sẽ dẫn đến những hậu quả, những thiệt hại trực tiếp cả vềkinh tế (không sử dụng hết tiềm năng lao động để phát triển kinh tế- xã hội),lẫn chính trị và xã hội cho đất nước (thất nghiệp tăng thì tệ nạn xã hội cũngtăng, thất nghiệp đồng hành với đói nghèo)

CSVL có mối quan hệ biện chứng với các chính sách khác như chínhsách dân số, chính sách giáo dục-đào tạo, chính sách cơ cấu kinh tế…Chẳnghạn giáo dục- đào tạo tốt thì cơ hội có việc làm tăng; hay giảm tốc độ tăngdân số là công cụ chủ yếu để khắc phục tình trạng thất nghiệp về lâu dài,… Như vậy thực hiện tốt CSVL, nguồn nhân lực được sử dụng có hiệuquả thì hiện tượng thất nghiệp sẽ giảm đi làm cho chính sách bảo hiểm xãhội sẽ giảm được chi phí cho các trợ cấp thất nghiệp Ngược lại, khi CSVLchưa được giải quyết tốt, nạn thất nghiệp sẽ tăng lên cùng với nó là tìnhtrạng đói nghèo, các tệ nạn xã hội sẽ dễ dàng phát sinh Khi đó, gánh nặngđối với các chính sách về bảo trợ xã hội, an sinh xã hội sẽ tăng lên thậm chícòn gây ra bất ổn định về chính trị, xã hội

Trang 21

1.2.5 Vấn đề việc làm của người khuyết tật ở Việt Nam

Có thể nói mối liên hệ giữa khuyết tật, nghèo đói và tình trạng bị côlập với xã hội là không thể phủ nhận Việc từ chối các cơ hội việc làm côngbằng cho NKT chính là một trong những nguyên nhân gốc rễ dẫn đến tìnhtrạng bị đói nghèo và phân biệt đối xử cho nhiều trong số những NKT Cónhiều bằng chứng cho thấy người khuyết tật dễ vấp phải những bất lợi, bịđứng ngoài lề và bị phân biệt đối xử trên thị trường lao động và cả ở nhữngnơi khác nữa Hậu quả là NKT không có việc làm cao hơn tỉ lệ những ngườikhác Kể cả khi họ có việc làm thì đó cũng thường là những việc khôngthuộc thị trường lao động chính thức với đồng lương rất thấp và những vị tríđòi hỏi kỹ năng thấp, có ít hoặc không có cơ hội thăng tiến trong nghềnghiệp Người lao động khuyết tật thường được làm việc ít hơn những ngườikhác Chính những điều này vô tình đã đẩy NKT ra ngoài xã hội làm cho họkhông thể hòa nhập được

1.2.2.1 Một số quan niệm về người khuyết tật trên thế giới và Việt Nam

Khái niệm NKT, cơ sở xác định ai được công nhận là NKT và từ đóđược bảo vệ bởi hệ thống luật pháp liên quan phụ thuộc rất nhiều mục tiêu

mà luật hoặc các chính sách cụ thể đó theo đuổi Do vậy không có một kháiniệm chung nào về NKT có thể được áp dụng cho tất cả các văn bản phápluật về lao động xã hội

Sau đây là một số quan niệm về người khuyết tật trên thế giới và ViệtNam:

- Ở Trung Quốc, Luật của Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về

bảo vệ người khuyết tật ban hành năm 1990 định nghĩa: NKT là người bị

“mất khả năng về nhìn, nghe, nói hoặc thể chất, mất khả năng về trí não, rốiloạn tâm thần, khuyết tật bị đa tật và các dạng khuyết tật khác”

- Ở Đức, sách số chín của Bộ Luật Xã hội định nghĩa: NKT là người có

các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lí tiến triển không bình thường sovới người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình

Trang 22

thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộcsống xã hội.

- Ở Ấn Độ, Luật về NKT ban hành năm 1995 (về cơ hội bình đẳng, bảo

vệ quyền và đảm bảo cho người khuyết tật tham gia mọi hoạt động xã hội)định nghĩa: khuyết tật bao gồm những tình trạng mù, nghe kém, lành bệnhphong, thính lực kém, suy giảm khả năng vận động, chậm phát triển về trí óc

và mắc bệnh tâm thần

- Ở Nam Phi, Luật bình đẳng việc làm của Nam Phi định nghĩa người

khuyết tật là “người bị suy giảm về khả năng thể lực hoặc trí lực trong mộtthời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể vềkhả năng tham gia hoặc phát triển trong nghề nghiệp.[18,20]

- Ở Việt Nam:

Người tàn tật là người không bình thường về sức khỏe do các khuyếttật, hoặc do bệnh tật làm hủy hoại, rối loạn các chức năng của cơ thể, hoặc

do hậu quả của những chấn thương dẫn đến những khó khăn trong đời sống

và cần được xã hội quan tâm giúp đỡ, bảo vệ

Người tàn tật là người bị mất toàn phần hay một phần khả năng, điềukiện để tự phục vụ mình, học tập và tham gia lao động, họ phải tự vận động

di chuyển, giao tiếp và tự kiểm soát hành vi của mình

Những người bị què cụt, đui mù, câm điếc, những người bị rối loạn chứcnăng cơ thể, những người bị liệt toàn thân hay một phần… là những ngườitàn tật do sự sai lệch rõ ràng so với thể trạng bình thường của một con người[10, 89-90]

Ngày 01/01/2011 Luật người khuyết tật bắt đầu có hiệu lực đã đưa racách giải thích thuật ngữ về người khuyết tật như sau:

NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bịsuy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinhhoạt, học tập gặp khó khăn

Dạng tật và mức độ khuyết tật

Trang 23

Dạng tật bao gồm:

Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói;

Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần;

Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác

Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:

NKT đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thựchiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

NKT nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một

số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

NKT nhẹ là người khuyết tật không thuộc hai trường hợp trên

Định nghĩa về người khuyết tật dù một hay nhiều định nghĩa, đều nhấtthiết phải phản ánh một thực tế là người khuyết tật có thể gặp các rào cản doyếu tố môi trường hoặc con người trong khi tham gia vào thị trường việclàm mở như hiện nay

1.2.2.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của người khuyết tật

* Về chủ quan:

- Tự ti, mặc cảm: là những người ngại hòa nhập với cộng đồng xã hội.

Phần lớn người khuyết tật thường tự ti mặc cảm nên ngại đi học Vì vậy đãlàm cho trình độ học vấn của NKT ngày càng thấp kém, phần lớn ngườikhuyết tật không biết chữ Không những thế đại đa số NKT học nghề chưađến nơi đến chốn vì gia đình không quan tâm đến nhu cầu đi học và có việclàm của con, hoặc sợ con khổ, hoặc không tin con mình có thể làm việcđược Chính điều này đã tạo ra một rào cản thật sự cho NKT trong việc tìmkiếm việc làm Họ rất khó vượt qua được điều này nếu như không có sựgiúp đỡ, quan tâm của người khác và hơn hết là của toàn xã hội

- Sức khỏe: hầu hết những NKT đều có sức khỏe không tốt Họ bị khiếm

khuyết về cơ thể nên sức khỏe không thể như người bình thường Đây cũng

là điều hạn chế rất lớn đến khả năng tìm dược việc làm của NKT Họ khôngthể nhanh nhẹn như những người khác nên hiệu quả công việc sẽ không

Trang 24

bằng được người bình thường Mặt khác, họ cũng thường xuyên ốm đau nênrất cần có người kề bên để chăm sóc Chính những điều này đã tạo ra sự engại cho các nhà tuyển dụng khi tuyển lao động là NKT.

- Thiếu những kỹ năng xã hội cần thiết: họ không biết cách tiếp cận với

các chính sách hỗ trợ, các trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm, hoặccác nguồn vốn ưu đãi Thậm chí sau khi học nghề và có chứng chỉ của cáctrung tâm dạy nghề, NKT vẫn thiếu thông tin về nhà tuyển dụng, không biếtđến chính sách việc làm cho người tàn tật, hoặc không đáp ứng yêu cầu củanhà tuyển dụng Những người đã có việc làm thì gặp khó khăn trong việc

bố trí việc làm phù hợp với thể trạng và dạng tật nên khó phát huy được hếtkhả năng, ít được tập huấn thêm nên khó thăng tiến và lương thấp

- Những gia đình có người khuyết tật: Có một đứa con khuyết tật thường

là một cú sốc lớn cho các bậc cha mẹ Họ thường không hề chuẩn bị chođiều này và bối rối trước những thử thách sắp đến Phản ứng của họ thường

là “Tôi đã làm gì sai thế này?” hoặc “Tôi đã làm gì mà phải nên tội thế này!” Những gia đình có người thân mới trở thành NKT cũng trải quanhững đau đớn và bối rối tương tự Đặc biệt hơn, mất đi một phần haynguồn thu nhập chính từ người thân giờ đã trở thành khuyết tật, mất cả mộtcông lao động để phải chăm sóc cho NKT này, và những thay đổi trong tâmtính của người mới bị khuyết tật làm cho sự tàn tật trở thành một “tai họa”cho cả gia đình Mọi người, cả NKT lẫn các thành viên khác của gia đình,đều mệt mỏi và thay đổi

Những bậc cha mẹ và các thành viên trong những gia đình này thườngkhông biết phải làm gì hoặc tìm đến ai khi cần Và thái độ thương hại haytội nghiệp của những người thân quen càng làm cho họ đau khổ hơn Họ hếtsức cần những hỗ trợ thích hợp để không cảm thấy đơn độc hay bị bỏ rơitrong tình huống bất ngờ nhưng sẽ gắn bó lâu dài với cuộc sống của họ và

cả gia đình

Trang 25

* Về khách quan:

- Định kiến xã hội: các thành viên của xã hội cũng thường lệnh lạc về

cách nhìn thẩm mỹ, họ cho rằng NKT và người không khuyết tật khôngxứng đôi vừa lứa (như đôi đũa lệch) Nguy hiểm hơn, có người cho rằngNKT không có khả năng tình dục hoặc sinh con, hoặc khuyết tật là di truyềnnên sẽ sinh ra những đứa con dị tật Không những thế xã hội rất có thànhkiến khi nhắc đến NKT Họ cho rằng đây là những người vô tích sự chẳnglàm được gì; khả năng làm việc không có năng suất, hiệu so với người bìnhthường; thời gian làm việc cũng không nhiều hơn, NKT không thể làm tăng

ca so điều kiện sức khỏe… Những điều này cũng là nguyên nhân khiếnngười khuyết tật cảm thấy mình thật lẻ loi giữa cuộc đời, cảm giác mặc cảm,

tự ti lại càng tăng lên Họ không đủ tự tin để vượt qua được những định kiếnquá khắc nghiệt của xã hội

- Môi trường đi lại, sinh hoạt chưa thuận tiện: NKT có thể vượt qua

được rào cản tâm lý về những khiếm khuyết của mình nhưng không thể vượt

qua được những rào cản bằng bêtông từ các công trình công cộng – Đó cũng

là thực trạng khiến người khuyết tật lo ngại khi hòa nhập cộng đồng Cáccông trình công cộng thường không được không được xây dựng hay sửachửa theo Quy Chuẩn Tiếp Cận của Bộ Xây dựng nên người khuyết tật luônphải đối mặt với rào cản như bậc tam cấp và nhà vệ sinh không phù hợp.Đồng thời, người khuyết tật luôn gặp khó khăn về phương tiện đi lại mà hệthống xe buýt sẵn có lại khó sử dụng vì thiếu bộ phận nâng xe lăn, thái độphục vụ chưa tốt (nhân viên xã hội thường gắt gỏng, không dừng hẳn đểngười khuyết tật lên xuống xe an toàn) Điều này làm cho NKT rất khó khăntrong việc đi lại, làm giảm rất đáng kể khả năng xin được việc làm củaNKT

- Các doanh nghiệp còn thiếu thông tin về người khuyết tật: do thiếu

thông tin về NKT nên các doanh nghiệp vẫn còn kỳ thị, chưa tin vào khảnăng của người khuyết tật Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần người kiêm

Trang 26

được một lúc nhiều việc và một số nghề đòi hỏi ngoại hình cũng hạn chế thịtrường việc làm của người khuyết tật Còn những doanh nghiệp lớn thì nhucầu tuyển dụng NKT lại càng ít Họ yêu cầu những người nhanh nhẹn, hoạtbát, có thể đi công tác xa…mà những điều này thì người khuyết tật khôngthể đáp ứng được

- Tác động của kinh tế thị trường: hiện nay khi nền kinh tế thị trường

đang phát triển nhanh chóng, nhu cầu tuyển dụng lao động ngày càng caođặc biệt là đội ngũ lao động có trình độ cao Nhưng chỉ có một phần nhỏlượng lao động khuyết tật đáp ứng được yêu cầu này còn phần lớn đều cótrình độ thấp do họ không được học hành đến nơi đến chốn Họ không thểnào theo kịp được xu hướng của thời đại ngày càng biến đổi nhanh chóng.Không những thiếu trình độ, kinh nghiệm mà họ còn thiếu những kỹ năng

cơ bản để phát huy được năng lực của bản thân mình Cơ chế mới càng pháttriển nhanh bao nhiêu thì cơ hội việc làm cho NKT càng ít bấy nhiêu Khôngchỉ riêng người khuyết tật mà những người bình thường không có trình độ,tay nghề cũng đang lâm vào tình cảnh này Cơ chế mới sẽ tạo ra nhiều cơhội hơn nhưng cũng tạo ra không ít rào cản, khó khăn cho người khuyết tật

Vì vậy mà hơn lúc nào hết toàn xã hội phải quan tâm hơn nữa đến NKT để

Trang 27

phân biệt giữa các biện pháp về CSXH có thể áp dụng bất kì khi nào với cácbiện pháp thuộc CSVL ưu đãi cho phép không theo quy luật về đối xử bìnhđẳng và do đó cần có sự giải trình rõ ràng.[14,22]

Các biện pháp việc làm ưu đãi- đôi khi còn được gọi bằng cái tênhành động tích cực nhằm mục đích củng cố nguyên tắc cơ hội bình đẳng chocác đối tượng thuộc nhóm yếu thế thiệt thòi và ít có tiếng nói trong xã hộibằng cách dành cho họ một số hình thức ưu đãi đặc biệt CSVL ưu đãi vốnđược coi là hình thức đáp lại những hành vi phân biệt đối xử do lí do thể chếhoặc cơ cấu, đồng thời đây được coi là một ngoại lệ chính đáng của nguyêntắc đối xử công bằng Nói cách khác, CSVL ưu đãi không phải là sự phânbiệt đối xử Các chính sách này nhằm thúc đẩy bình đẳng về cơ hội và giúpvượt qua những mặt tiêu cực của cơ cấu mà các nhóm đối tượng gặp phải.Những biện pháp này không nhằm phục vụ nhu cầu những cá nhân riêng lẻ

và đó chính là điểm để phân biệt chính sách này với chính sách môi trườnglàm việc phù hợp Các biện pháp chính sách việc làm ưu đãi về bản chất chỉ

là các biện pháp tạm thời và chỉ kéo dài cho đến khi có những thay đổi vềthể chế và câu trúc đã cho phép bù đắp được hoặc giúp những nhóm ngườiyếu thế vươn lên đúng với vị trí đáng có của họ [18,22-23]

Đôi khi tình trạng khuyết tật có thể gây ảnh hưởng đến năng lực làmviệc của một cá nhân theo cách thức thông thường hoặc theo thói quen củatừng cá nhân Các văn bản pháp luật về chống phân biệt đối xử thường nêucác quy định bắt buộc về tạo điều kiện thuận lợi hoặc hợp lí cho NKT hoặcnêu quyền được tạo điều kiện có môi trường làm việc phù hợp của NKT.Luật pháp về chống phân biệt đối xử ngày càng có nhiều yêu cầu gắt gaonhững người sử dụng lao động và các đối tượng khác phải nỗ lực quan tâmđến nhu cầu của người lao động, ứng viên xin việc làm là người khuyết tật;phá bỏ những rào cản do môi trường vật thể và xã hội tạo ra Trách nhiệmnày được gọi là yêu cầu về môi trường làm việc phù hợp Việc không tạođược một môi trường làm việc như vậy để hỗ trợ người lao động và người

Trang 28

xin việc đang gặp khó khăn trong khi tham gia thị trường lao động sẽ khôngchỉ là một cách làm không được khuyến khích mà còn bị đánh giá là mộthình thức phân biệt đối xử về việc làm không thể chấp nhận được.[18,30]

Tại nhiều điều trong chương V của Luật người khuyết tật(01/01/2011) đã nêu nhiều điều liên quan đến vấn đề dạy nghề và việc làm

Cụ thể như sau:

Về vấn đề dạy nghề đối với người khuyết tật, điều 32 đã quy định rõ:

Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễnphí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như nhữngngười khác

Cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhậnnghề đào tạo khi NKT học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theoquy định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề

Cơ sở dạy nghề tổ chức dạy nghề cho NKT phải bảo đảm điều kiệndạy nghề cho người khuyết tật và được hưởng chính sách ưu đãi theo quyđịnh của pháp luật

Người khuyết tật học nghề, giáo viên dạy nghề cho NKT được hưởngchế độ, chính sách theo quy định của pháp luật

Tại điều 33 cũng đã quy định về việc làm đối với người khuyết tậtnhư sau:

Nhà nước tạo điều kiện để NKT phục hồi chức năng lao động, được

tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe vàđặc điểm của người khuyết tật

Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụngNKT có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyểndụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của NKT

Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là NKTtùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môitrường làm việc phù hợp cho NKT

Trang 29

Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là ngườikhuyết tật phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối vớilao động là NKT.

Tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn học nghề, tư vấn vàgiới thiệu việc làm cho NKT

Người khuyết tật tự tạo việc làm hoặc hộ gia đình tạo việc làm choNKT được vay vốn với lãi suất ưu đãi để sản xuất kinh doanh, được hướngdẫn về sản xuất, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm theo quyđịnh của Chính phủ

Về vấn đề giải quyết việc làm cho NKT, điều 34 quy định rõ về việc

sử dụng lao động là người khuyết tật của cơ sở sản xuất, kinh doanh :

Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên làNKT được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho ngườikhuyết tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãisuất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuêđất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nướcphục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độkhuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp

Nhà nước cũng đã đưa ra chính sách để khuyến khích nhận ngườikhuyết tật vào làm việc Điều 35,đã quy định rất rõ về vấn đề này Cụ thểnhư sau:

Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận NKTvào làm việc Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là NKT được hưởngchính sách ưu đãi theo quy định tại Điều 34 của Luật này

Chính phủ quy định chi tiết chính sách khuyến khích cơ quan, tổ chức

và doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc quy định tại khoản 1 Điều này Những chính sách và việc làm cụ thể trên đây đã phần nào giúp NKT cóthêm cơ hội tìm kiếm việc làm Cánh cửa việc làm đã không còn khép chặtnhư trước nữa Nói đúng hơn là NKT đã có thể hòa nhập tốt hơn với cộng

Trang 30

đồng Tuy nhiên đây chưa phải là tất cả Đảng, Nhà nước và toàn xã hội phảiđưa ra thêm nhiều chính sách, biện pháp hơn nữa để xóa được quan niệmNKT và người bình thường Phải nâng cao hơn nữa ý thức của mọi người để

họ biết tôn trọng người khuyết tật và xem họ cũng có khả năng lao động nhưbao nhiêu người bình thường khác Chỉ có như vậy mới xóa nhòa được sự tự

ti, mặc cảm luôn tồn tại trong lòng NKT

Trang 31

Chương 2 HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở THÀNH PHỐ HUẾ HIỆN NAY

2.5 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.3 Vị trí địa lí và đặc điểm khí hậu

Vị trí địa lí

Thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, trên trục Bắc Nam của các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển,gần tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây của tuyến đường Xuyên Á Cách HàNội 675 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.060 km về phíaNam, Huế nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ với các trung tâmkinh tế đang phát triển nhanh như khu kinh tế - thương mại Chân Mây-Lăng

-Cô, Khu công nghiệp Phú Bài, Thành phố Đà Nẵng, khu kinh tế mở Chu Lai(Quảng Nam), khu kinh tế mở Dung Quất (Quảng Ngãi)

Thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm, nơi có phong cảnh thiên nhiên

đa dạng, phong phú từ núi Ngự Bình, đồi Thiên An - Vọng Cảnh; Thànhphố hội đủ các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng, sông, biển tạo thành mộtkhông gian cảnh quan thiên nhiên-đô thị-văn hoá lý tưởng Bên cạnh đóKinh thành Huế còn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới,Nhã nhạc cung đình Huế được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể củathế giới

Thành phố Huế là địa bàn có sự gắn kết các tài nguyên văn hoá truyềnthống đặc sắc với du lịch mà không một tỉnh thành, địa phương nào ở nước

ta có được và là một trong 5 trung tâm du lịch lớn nhất của quốc gia Huếnằm ở vị trí trung tâm của các di sản văn hoá thế giới của Việt Nam (Hội

An, Mỹ Sơn, Phong Nha-Kẻ Bàng), đây là điều kiện thuận lợi cho việc pháttriển các dịch vụ du lịch và lữ hành

Đặc điểm khí hậu

Thành phố Huế có khí hậu mang đặc trưng của vùng Bắc Trung Bộnhưng cũng có những nét đặc thù so với khí hậu ở các địa phương khác

Trang 32

trong tỉnh Thừa Thiên Huế Huế chịu tác động của chế độ gió mùa khá đadạng; ở đây luôn luôn diễn ra sự giao tranh giữa các khối không khí xuấtphát từ các trung tâm khí áp khác nhau từ phía Bắc tràn xuống, từ phía Tâyvượt Trường Sơn qua, từ phía Đông lấn vào từ phía Nam di chuyển lên Huế

có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, trời nóng và oi bức, cólúc lên tới 39,9ºC Từ tháng 8 đến tháng 1 là mùa mưa và hay xảy ra bão lụt,nhiệt độ trung bình 19,7ºC, cũng có khi hạ xuống còn 8,8ºC, trời lạnh Vàomùa này có những đợt mưa suốt ngày, kéo dài cả nhiều tuần lễ Đây cũng làđặc trưng rất riêng của Huế

2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Thành phố Huế đang tập trung phát triển để trở thành thành phố

Festival đặc trưng của Việt Nam, trung tâm văn hóa, du lịch lớn của cảnước, trung tâm y tế, trung tâm đào tạo đại học và nghiên cứu khoa học củamiền Trung và cả nước; trung tâm thương mại lớn của Tỉnh Các ngànhthương mại, dịch vụ, nhất là dịch vụ du lịch giữ vai trò quan trọng và làđộng lực phát triển kinh tế với các loại hình dịch vụ đa dạng, chất lượngngày càng cao; dịch vụ viễn thông, ngân hàng, công nghệ thông tin pháttriển; cơ sở phục vụ khách du lịch, hệ thống bệnh viện, trường học, siêuthị… cơ bản đáp ứng được yêu cầu

Hệ thống cơ sở hạ tầng từng bước được hoàn thiện, tạo diện mạocủa đô thị văn minh Công tác chỉnh trang đô thị, nâng cấp, mở rộng cáctuyến đường nội thị, hệ thống lề đường, vỉa hè, thoát nước, điện chiếu sáng,cây xanh được thành phố tập trung triển khai

Nhiều công trình dịch vụ về y tế, giáo dục – đào tạo, dịch vụ du lịch,văn hoá trên địa bàn Thành phố đã đáp ứng được nhu cầu của nhân dântrong toàn tỉnh, các tỉnh, thành trong khu vực miền Trung và cả nước

Năm 2010, nền kinh tế thành phố Huế duy trì mức tăng trưởng khá,

có 13/16 chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt và vượt kế hoạch Tốc độ tăng trưởng

Trang 33

đạt 13,5%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng: Dịch vụ (71%)-Côngnghiệp, xây dựng (27,9%), Nông lâm ngư (1,1%) GDP bình quân đầu ngườiđạt 1.350 USD Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 10.383 tỷ đồng,tăng 35,2% Hoạt động du lịch có dấu hiệu phục hồi và tăng trưởng khá vớidoanh thu đạt 831 tỷ đồng, tăng 21,47%, tổng lượt khách đến Huế đạt1.451,6 nghìn lượt, tăng 12% Thu ngân sách đạt 417,535 tỷ đồng Tổng vốnđầu tư trên địa bàn đạt 2.887 tỷ đồng ; các lĩnh vực văn hóa - xã hội, anninh, quốc phòng đã có những chuyển biến mạnh mẽ.[ 25]

Dịch vụ du lịch phát triển cả về quy mô, số lượng và chất lượng hoạtđộng; công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến thị trường được chú trọnghơn; đội ngũ lao động ngành du lịch được đào tạo, nâng cao chất lượng.Hoạt động du lịch nhân dân được mở rộng với nhiều hình thức qua du lịchnhà vườn, du lịch sinh thái, lễ hội, gắn du lịch với khôi phục ngành nghề thủcông truyền thống Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch được tăng cườngđầu tư, hình thành các cụm điểm du lịch mới làm phong phú thêm các sảnphẩm du lịch Một số khách sạn được đầu tư, nâng cấp đảm bảo tiêu chuẩnđón khách và các hội nghị quốc tế Công suất sử dụng buồng phòng kháchsạn đạt gần 70%, thời gian lưu trú khách đạt 2 ngày/người Tài nguyên dulịch văn hoá được giữ gìn, phục hồi và khai thác tốt hơn Du lịch phát triển

đã giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động thuộc các ngành nghề như vậntải, thương mại, thủ công mỹ nghệ và các dịch vụ khác Các kỳ Festival Huếđược nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp, mở ra nhiều cơ hội cho dulịch của thành phố Huế phát triển

2.6 Thực trạng người khuyết tật và việc làm của người khuyết tật ở thành phố Huế hiện nay.

2.2.3 Thực trạng lực lượng lao động người khuyết tật trên địa bàn thành phố Huế

* Số lượng người khuyết tật:

Tính đến tháng 09 năm 2009, Thành phố Huế có 5.774 người khuyếttật, chiếm 1,71% dân số toàn thành phố Trong đó một số phường có số

Trang 34

lượng người khuyết tật cao như: Phú Hiệp có 334 người chiếm 5,78% tổng

số người khuyết tật trong toàn thành phố; Phường Đúc có 296 người,chiếm 5,13%; Hương Sơ có 289 người, chiếm 5,01 %; Kim Long 287

người, chiếm 4,97% (Xem chi tiết ở bảng 1)

Bảng 1: Tổng hợp số lượng người khuyết tật trên toàn thành phố

Trang 35

* Về độ tuổi của người khuyết tật:

NKT thành phố Huế phân bố ở hầu hết ở các độ tuổi, trong đó

số người tàn tật ở độ tuổi từ từ 36 - 55 chiếm tỉ lệ cao nhất với 2504người, chiếm 43,37% tổng số người ở các độ tuổi khuyết tật; kế tiếp là độtuổi 56 trở lên có 1828 người, chiếm 31,66%; độ tuổi từ 16 - 35 có 901

người, chiếm 15,60%; và từ 1-15 tuổi có 541 người, chiếm 9,37% (Xem

chi tiết ở bảng 2)

Bảng 2: Tổng hợp người khuyết tật theo độ tuổi

TT Tên phường 1 - 15 16 - 35 Độ tuổi 36 - 55 Trên 55

Ngày đăng: 30/12/2013, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và đào tạo- Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học- NXB CTQG, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học
Nhà XB: NXBCTQG
2. Bộ Giáo dục và đào tạo- Giáo trình triết học Mác- Lênin- NXB CTQG, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác- Lênin
Nhà XB: NXBCTQG
4. Bùi Đình Thanh- Xã hội học và chính sách xã hội- NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học và chính sách xã hội
Nhà XB: NXB Khoa học xãhội Hà Nội
5. Đảng cộng sản Việt Nam- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI- NXB CTQG, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVI
Nhà XB: NXB CTQG
6. Đảng Cộng sản Việt Nam- Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII- NXB CTQG, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữanhiệm kỳ khoá VII
Nhà XB: NXB CTQG
7. Đảng Cộng sản Việt Nam- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII- NXB CTQG, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII-
Nhà XB: NXB CTQG
8. Đảng Cộng sản Việt Nam- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX- NXB CTQG, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX-
Nhà XB: NXB CTQG
10. Lê Văn Phú- Công tác xã hội- NXB Đại học Quốc gia Hà Nội- Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội- HàNội
12. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng- Xã hội học- NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
13. Phạm Xuân Nam- Đổi mới chính sách xã hội- NXB CTQG, Hà Nội,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách xã hội
Nhà XB: NXB CTQG
18. Tổ chức lao động quốc tế- Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật-Tài liệu hướng dẫn- Cơ quan phát triển AiLen, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng chongười khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật
19. Trần Xuân Bình- Nội dung ôn tập môn chính sách xã hội- Tài liệu lưu hành nội bộ- Đại học Huế- Đại học Khoa học Huế, Huế 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung ôn tập môn chính sách xã hội-
24. A.M. Ru-mi-an-txép-Chủ nghĩa cộng sản khoa học từ điển-NXB Sự thật, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cộng sản khoa học từ điển
Nhà XB: NXB Sựthật
3. Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- năm 1995 Khác
9. Hội người mù thành phố Huế-Hợp tác xã Nhân đạo- Báo cáo tổng kết hoạt động sản xuất năm 2010, phương hướng kế hoạch sản xuất năm 2011 Khác
14. Phòng LĐ,TB&XH thành phố Huế- Bảng tổng hợp tình hình người khuyết tật thành phố Huế- điều tra tháng 09/2009 Khác
15. Phòng LĐ,TB&XH thành phố Huế- Báo cáo tổng kết công tác Lao động- Thương binh và Xã hội năm 2008 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2009 Khác
16. Phòng LĐ,TB&XH thành phố Huế- Báo cáo tổng kết công tác Lao động- Thương binh và Xã hội năm 2009 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2010 Khác
17. Phòng LĐ,TB&XH thành phố Huế- Báo cáo tổng kết công tác Lao động- Thương binh và Xã hội năm 2010 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2011 Khác
20. Trung tâm dạy nghề và tạo việc làm cho người tàn tật- Báo cáo hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người tàn tật năm 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tổng hợp người khuyết tật theo độ tuổi - Hiệu quả của chính sách xã hội đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người khuyết tật ở thành phố huế
Bảng 2 Tổng hợp người khuyết tật theo độ tuổi (Trang 35)
Bảng 3: Phân chia người khuyết tật theo đối tượng khuyết  tật - Hiệu quả của chính sách xã hội đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người khuyết tật ở thành phố huế
Bảng 3 Phân chia người khuyết tật theo đối tượng khuyết tật (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w