- Giám sát hạ tầng cơ sở tài chính hệ thống pháp lý về hoạt động tài chính, về hoạt động giám sát tài chính, hệ thống hỗ trợ thanh khoản, hệ thống bảo hiểm tiền gửi,…nhằm đảm bảo các điề
Trang 1MỤC LỤC
***
Contents
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT AN TOÀN TÀI CHÍNH 4
1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.1 An toàn tài chính là gì? 4
1.1.2 Giám sát tài chính là gì? 4
1.1.3 Nội dung của giám sát tài chính 4
1.1.4 Hệ thống giám sát tài chính: 5
1.1.5 Nguyên tắc và quan điểm của giám sát tài chính 5
1.1.6 Đôí tượng của hoạt động giám sát tài chính bao gồm: 7
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm 8
1.2.1 Vốn chủ sở hữu 8
1.2.2 Dự phòng nghiệp vụ 9
1.2.3 Khả năng thanh toán 15
1.2.4 Khả năng sinh lời 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC DN BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM 20
2.1 Khái quát về hệ thống giám sát tài chính ở các doang nghiệp bảo hiểm thế giới 20
2.1.1.Hệ thống giám sát RBC 20
2.1.2.Hệ thống Solvency II 22
2.2 Khái quát về hệ thống giám sát tài chính ở các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam 28
2.3 Nhu cầu về việc thành lập một mô hình cơ quan giám sát (CQGS) tài chính hợp nhất 32
2.3.1.Cơ quan giám sát tài chính hợp nhất 32
2.3.2.Những ưu điểm và hạn chế mô hình CQGS hợp nhất 33
2.3.2.1.Ưu điểm 33
2.3.2.2.Hạn chế 34
2.4 Những tồn tại, hạn chế về Doanh ngiệp bảo hiểm và hoạt động giám sát tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam 35
2.4.1.Các vấn đề còn tồn tại của Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam 35
2.4.2.Thực trạng hoạt động giám sát tài chính các DNBH 36
2.4.2.1.Thực trạng giám sát tài chính đối với các công ty bảo hiểm Việt Nam 36
2.4.2.2.Những mặt đạt được 38
2.4.2.3.Hạn chế về hoạt động giám sát tài chính các DNBH 39
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANG NGHIỆP BẢO HIỂM VIỆT NAM 42
3.1 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ thực trạng hệ thống giám sát an toàn tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm trên thế giới và tại Việt Nam 42
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động giám sát tài chính đối với các Doanh nghiệp Bảo hiểm Việt Nam 43
Trang 23.2.1 Cơ cấu lại doanh nghiệp 43
3.2.2 Nâng cao năng lực về tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm 44
3.2.3 Nâng cao năng lực về giám sát tài chính 46
3.3 Một số kiến nghị cho việc hoàn thiện hệ thống giám sát an toàn tài chính 46
3.3.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, bộ máy cơ quan quản lý NN về kinh doanh bảo hiểm 47
3.3.2 Đào tạo nâng cao trình độ cho các cán bộ về kinh doanh bảo hiểm 47
3.3.3 Cần xây dựng hệ thống các chỉ tiêu hoàn chỉnh phục vụ cho công tác giám sát tài chính được chặt chẽ 48
3.3.4 Thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế trong giám sát tài chính 48
3.3.5 Hoàn thiện mô hình giám sát tài chính cho các công ty bảo hiểm 49
LỜI KẾT 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hiểm ra đời từ rất lâu, thời cổ đại nó chỉ mang tính ý niệm dần dần pháttriển thành hoạt động kinh doanh bảo hiểm vào thế kỷ 17 sau Công nguyên Bảo hiểmphát triển dần cho đến nay với nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau như: bảo hiểm nhânthọ, phi nhân thọ, tai nạn, xe cơ giới, hàng không…
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là “sự đảo ngược chu kỳ kinhdoanh” tức là phí bảo hiểm thu trước còn cam kết bồi thường thực hiện sau mộtkhoảng thời gian nhất định nào đó Với đặc thù riêng biệt như vậy đòi hỏi các doanhnghiệp kinh doanh bảo hiểm phải thực sự am hiểu lĩnh vực mình kinh doanh, cũng nhưnắm bắt toàn bộ thông tin diễn biến trên thị trường Vì mỗi doanh nghiệp bảo hiểmkhông chỉ kinh doanh một lĩnh vực bảo hiểm mà còn phải đầu tư vào các lĩnh vựckhác Vì trong giai đoạn nghiệp vụ bồi thường chưa phát sinh doanh nghiệp bảo hiểm
sẽ nắm giữ lượng vốn nhàn rỗi tương đối lớn, do đó các doanh nghiệp phải thực hiệnviệc đầu tư vào lĩnh vực khác trong nền kinh tế nhằm tìm kiếm lợi nhuận để đáp ứngkịp thời khoản tiền bồi thường, trang trải chi phí hoạt động, cũng như mở rộng quy môkinh doanh Muốn đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn, hoạt động đầu tư mang lại hiệuquả như mong muốn thì đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng cho mìnhmột hệ thống giám sát an toàn tài chính nhằm kiểm soát toàn bộ hệ thồng tài chính củadoanh nghiệp Chính vì tầm quan trọng của hệ thồng giám sát tài chính mà nhóm đãquyết định chọn đề tài tiểu luận:
“Hệ thống giám sát an toàn tài chính của các doanh ng hiệp bảo hiểm”.
Kết cấu bài viết bao gồm ba chương
Chương 1: Khái quát về hệ thống giám sát an toàn tài chính
Chương 2: Thực trạng về hệ thống giám sát an toàn tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm trên thế giới và Việt Nam
Chương 3: Bài học và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động giám sát tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT AN TOÀN TÀI CHÍNH
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.2 Giám sát tài chính là gì?
Giám sát tài chính là hoạt động theo dõi, kiểm tra tình hình tài chính – tiền tệnhằm mục đích ngăn ngừa nguy cơ mất an ninh tài chính, giảm thiểu rủi ro về tài chínhtiền tệ Giám sát tài chính là hoạt động thường xuyên, nằm trong chức năng quản lýkinh tế của Chính phủ trong lĩnh vực tài chính Tùy theo từng giai đoạn phát triển cụthể, tùy theo yêu cầu thực tiễn và mục tiêu chiến lược của từng quốc gia mà vai trò vànhiệm vụ của giám sát tài chính có những thay đổi, được coi trọng hơn hay ít được chútrọng hơn Sau khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997, giám sát tài chính trởthành trọng tâm trong hoạch định chính sách của nhiều nước, đặc biệt là của nhữngquốc gia có nền kinh tế đang phát triển theo xu hướng mở cửa và hội nhập quốc tế Lý
do là trong hàng loạt nguyên nhân khác nhau dẫn đến khủng hoảng thì đa số đều thốngnhất nguyên nhân của sự yếu kém giám sát tài chính, đặc biệt là những bất cập tronggiám sát các trung gian tài chính và các luồng vốn ngắn hạn Nhiệm vụ chính của giámsát tài chính là ngăn chặn sự đổ vỡ của hệ thống tài chính thông qua phát hiện nhữngvấn đề khó khăn về tài chính và ngăn chặn trước khi nó vượt ra khỏi tầm kiểm soát
1.1.3 Nội dung của giám sát tài chính
Bao gồm:
- Giám sát sự an toàn, lành mạnh tài chính của các định chế tài chính, đặc biệt
là của các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm nhân thọ vì nếu xảy ra việc phá
Trang 5sản của các định chế này sẽ gây ra hiệu ứng lan truyền và tạo ra sự bất ổn cho khu vực tàichính.
- Giám sát các hành vi giao dịch của các định chế tài chính trên thị trường tài
chính (đặc biệt là hành vi giao dịch của các công ty môi giới chứng khoán, các quỹ đầutư,…trên thị trường chứng khoán) nhằm đảm bảo môi trường giao dịch tài chính lànhmạnh, minh bạch, bình đẳng đối với tất cả người tiêu dùng tham gia trên thị trường tàichính
- Giám sát diễn biến của thị trường tài chính (lãi suất, tỷ giá, giá cả các công
cụ tài chính, khối lượng giao dịch, tính thanh khoản,…) nhằm đảm bảo phát hiện, giảm
thiểu những bất cập, rủi ro của thị trường, góp phần thúc đẩy sự vận hành hiệu quả củathị trường tài chính đối với việc phân bổ hợp lý các nguồn vốn cho nền kinh tế
- Giám sát hạ tầng cơ sở tài chính (hệ thống pháp lý về hoạt động tài chính, về
hoạt động giám sát tài chính, hệ thống hỗ trợ thanh khoản, hệ thống bảo hiểm tiền gửi,…)nhằm đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho sự vận hành hiệu quả của thị trường tài chínhđối với sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
1.1.4 Hệ thống giám sát tài chính:
Hệ thống giám sát tài chính là tập hợp các cơ quan giám sát tài chính chuyên thựchiện hoạt động giám sát đối với các định chế tài chính, thị trường tài chính, công cụ tàichính và hạ tầng cơ sở tài chính Hoạt động này được thực hiện nhằm đảm bảo việc tuânthủ các quy định quản lý hiện hành đối với khu vực tài chính, với mục đích cuối cùng là
để duy trì tính ổn định của thị trường tài chính
Ví dụ: Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, có thanh tra của Ngân hàng Nhà nước
để thanh tra, giám sát chuyên ngành về ngân hàng; có thanh tra của Ủy ban Chứng khoánnhà nước, có bộ máy Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước cũng thường xuyênthanh tra, kiểm toán các ngân hàng Dưới các địa phương cũng có các cơ quan thanh tra,giám sát trực thuộc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố, thanh tra các cấp Ngay tại nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng cũng đều đã có các ban bệ kiểm sát, thanhtra nội bộ
1.1.5 Nguyên tắc và quan điểm của giám sát tài chính
Nguyên tắc của giám sát tài chính
Để đảm bảo giám sát tài chính có hiệu quả cần đảm bảo những nguyên tắc sau
- Nguyên tắc liên tục: Giám sát tài chính phải là quá trình thường xuyên và liêntục Kinh nghiệm cho thấy giám sát giống như những biện pháp phòng ngừa khác, chỉ
Trang 6được chú trọng mỗi khi xảy ra tình huống quá xấu, sau đó bị lơi lỏng dần đến khi xuấthiện một tình huống xấu khác Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế - tài chính,những biến động tài chính diễn ra nhiều hơn, với quy mô lớn hơn, phức tạp và khó dựđoán hơn, nên không thể coi nhẹ việc duy trì tính liên tục của giám sát tài chính
- Nguyên tắc đổi mới: Luôn đổi mới cho phù hợp, tránh cứng nhắc Các đốitượng của giám sát tài chính luôn vận động theo hướng phát triển cả về số lượng và chấtlượng, ngày càng đa dạng hóa và phức tạp hơn nên hệ thống giám sát tài chính phải luônhoàn thiện đặc biệt là phương pháp giám sát để theo kịp yêu cầu phát triển vừa không bỏsót đối tượng vừa không quá cứng nhắc
- Vì sự phát triển của đối tượng giám sát: Giám sát tài chính được thực hiện tốthơn sẽ góp phần đảm bảo hoạt động tài chính của đối tượng được giám sát được diễn rathông suốt, ổn định, an toàn, lành mạnh và vững chắc Quy trình và chỉ tiêu giám sát cầnđược thiết kế dựa trên lợi ích của đối tượng được giám sát Chính vì vậy, quy trình và chỉtiêu giám sát cần đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu và yêucầu của giám sát tài chính
- Đảm bảo tính hệ thống: Hệ thống tài chính là một hệ thống phức tạp, đan xennhau Vì vậy, đòi hỏi giám sát tài chính phải có sự kết hợp một cách biện chứng, logicgiữa những người giám sát, giữa những đối tượng được giám sát để tạo nên một chỉnh thể
có mối quan hệ mật thiết với nhau, vừa không bỏ sót vừa tránh chồng chéo đồng thờinâng cao được hiệu quả giám sát tài chính
- Kết hợp nhuần nhuyễn tính đặc thù và tính quốc tế: Giám sát tài chính cũnggiống như tất cả các hoạt động kinh tế tài chính khác, không thể tách rời khỏi thực trạngmỗi quốc gia Giám sát tài chính của nước đang phát triển khác với nước phát triển Vàtại mỗi nước đang phát triển cũng có sự khác nhau về tổ chức, hình thức và phạm vi…Tuy nhiên, các xu thế phát triển kinh tế tài chính quốc tế đang thúc đẩy các quốc gia chútrọng hơn đến việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong giám sát tài chính Sự xâm nhậplẫn nhau giữa các đối tượng được giám sát không phân biệt trong và ngoài nước, sự phốihợp quốc tế của người giám sát làm cho vai trò của việc kết hợp tính đặc thù và tính quốc
tế trong giám sát tài chính ngày một quan trọng hơn
Mục đích của việc giám sát tài chính (bao gồm 3 mục đích chính):
- Thứ nhất, nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của khu vực tài chính: Mục
đích của giám sát tài chính nhằm đảm bảo các định chế tài chính tuân thủ các chuẩn mực
an toàn do các chủ thể giám sát đặt ra Bằng cách đó hệ thống định chế tài chính (khu vực
Trang 7tài chính) có đủ sức chống đỡ các cú sốc bên ngoài cũng như các tác động tiêu cực từ cácthị trường khác trong và ngoài nước Điều này cũng có nghĩa là đảm bảo cho các địnhchế tài chính đủ sức tham gia thị trường và cạnh tranh một cách bình đẳng, đồng thời loại
bỏ các định chế không đủ điều kiện tham gia và cạnh tranh cung ứng dịch vụ tài chínhtrên thị trường
- Thứ hai, nhằm đảm bảo sự hiệu quả vận hành của thị trường tài chính: Một
trong những yêu cầu của giám sát tài chính là đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữanhững chủ thể cung cấp sản phẩm, dịch vụ tài chính trên thị trường, giám sát yêu cầuminh bạch thông tin và tạo cơ chế khai thác và công bố thông tin, giám sát tiêu chí gianhập thị trường, hạn chế tình trạng độc quyền và sự chi phối của các chủ thể điều tiết cónguy cơ làm suy giảm mức độ cạnh tranh của khu vực tài chính Cạnh tranh sẽ làm tănghiệu quả của thị trường tài chính thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận và định giácác dịch vụ tài chính, hạn chế các hoạt động làm tổn thương đến thị trường tài chính,phân bổ hợp lý nguồn lực đối với các tổ chức trên thị trường
- Thứ ba, nhằm bảo vệ người tiêu dùng: Các quy định quản lý đối với khu vực
tài chính được thiếp lập thông qua các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động củacác định chế tài chính cũng như các quy định về đạo đức kinh doanh để bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của người tiêu dùng trên thị trường tài chính (người gửi tiền, các nhàđầu tư nhỏ lẻ trên thị trường chứng khoán, những người tham gia/ mua bảo hiểm) Bảo vệngười tiêu dùng là điều chỉnh những sự không hoàn hảo của thị trường (tình trạng thôngtin bất cân xứng, năng lực tư vấn khách hàng yếu kém, xử lý tranh chấp không côngbằng,…) gây ra và do đó cho phép người tiêu dùng có thể tiếp cận với các dịch vụ, sảnphẩm tài chính với mức giá tương xứng với chất lượng dịch vụ, sản phẩm và được xử lýtranh chấp, khiếu kiện một cách công bằng
1.1.6 Đối tượng của hoạt động giám sát tài chính bao gồm:
- Các định chế tài chính: là các trung gian tài chính thực hiện việc kết nối các
nhu cầu giao dịch các công cụ tài chính trên thị trường Vai trò trung gian này được thựchiện dưới nhiều hình thức khác nhau; nó có thể là vai trò trung gian đầu tư (vừa đi vay -bán công cụ nợ, vừa cho vay - mua công cụ nợ), thuộc về nhóm này là các ngân hàng,công ty bảo hiểm; có thể là tổ chức môi giới cung cầu và hưởng hoa hồng, thuộc nhómnày là các công ty chứng khoán, có thể là quỹ đầu tư - với chức năng tập trung vốn củacác nhà đầu tư cá thể và tổ chức và chuyên nghiệp hóa hoạt động đầu tư này
Trang 8- Thị trường tài chính: là nơi thực hiện việc phát hành và mua bán các công cụ
tài chính bằng cách đó mà vốn được di chuyển từ những nơi dư thừa (theo những thờihạn khác nhau) sang nơi có nhu cầu sử dụng vốn Bằng cơ chế giá và quan hệ cung cầu,thị trường tài chính còn cho phép vốn được di chuyển đến những nơi được sử dụng hiệuquả nhất Thị trường tài chính được phân thành 2 thị trường: thị trường tiền tệ (vốn ngắnhạn: thị trường liên ngân hàng, thị trường hối đoái,…) và thị trường vốn (vốn trung vàdài hạn: thị trường chứng khoán, thị trường tín dụn trung và dài hạn,…)
- Hạ tầng cơ sở tài chính: là hệ thống pháp luật tài chính (bao gồm cả cơ chế
phá sản, quyền chủ nợ,…), mạng lưới an toàn tài chính, cơ sở hạ tầng thanh khoản hệthống; các hệ thống thanh toán bù trừ và hỗ trợ giao dịch; tính minh bạch và quản trị, cơ
sở hạ tầng thông tin,…
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm
Trong nền kinh tế hiện nay có nhiều loại hình kinh doanh trong số đó có bảohiểm, đây là loại hình kinh doanh đặc biệt, chính vì vậy mà năng lực tài chính củadoanh nghiệp bảo hiểm được đánh giá bởi các yếu tố như: quy mô vốn, chất lượng dựphòng nghiệp vụ, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời
1.2.1 Vốn chủ sở hữu
Bất cứ loại hình kinh doanh nào trong nền kinh tế đều cần đến vốn, vốn có vaitrò to lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó không những giúp chodoanh nghiệp hoạt động mà còn giúp cho doanh nghiệp tăng trưởng, đặc biệt là đối vớidoanh nghiệp bảo hiểm thì vốn có vai trò rất lớn vì nó đảm bảo khả năng chi trả chokhách hàng, và cũng là yếu tố để khách hàng có lựa chọn doanh nghiệp hay không.Chính vì vậy mà hiện nay vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bảo hiểm đóng vai trò rấtquan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp, vậy vốn chủ sở hữu bao gồm các bộphận chủ yếu sau: vốn điều lệ ban đầu, lợi nhuận không chia và vốn điều lệ tăng thêm
Vốn điều lệ ban đầu của doanh nghiệp bảo hiểm được các cổ đông đóng góp.Vốn điều lệ của doanh nghiệp không được thấp hơn vốn pháp định theo quy định củapháp luật về kinh doanh bảo hiểm Theo khoản 1 điều 4 Nghị định 46/2007/NĐ-CP
của Chính phủ, "Mức vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm:
Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: 300.000.000.000 đồng Việt Nam
Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ: 600.000.000.000 đồng Việt Nam"
Trang 9Các doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập một quỹ dự trữ bắt buộc từ lợinhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp để bổ sung vào vốn chủ sở hữu nhằm đảm bảomức độ an toàn và thận trọng Theo điều 31 Nghị định 46/2007/NĐ-CP của Chính
phủ, “doanh nghiệp bảo hiểm phải trích 5% lợi nhuận sau thuế hàng năm để lập quỹ
dự trữ bắt buộc Mức tối đa của quỹ dự trữ bắt buộc bằng 10% mức vốn điều lệ của doanh nghiệp”.
Vốn chủ sở hữu sẽ giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chínhtrong quá trình hoạt động, phát triển các sản phẩm dịch vụ mới; tạo niềm tin, sự camkết và gây dựng uy tín với khách hàng Vốn chủ sở hữu có chức năng bảo vệ doanhnghiệp, giúp doanh nghiệp chống lại các rủi ro về khả năng thanh toán, phá sản, bù đắpnhững thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ; bảo vệ khách hàng trước những cam kết đãđược thiết lập với doanh nghiệp Do đó, có thể khẳng định, vốn chủ sở hữu là yếu tốquan trọng đối với doanh nghiệp bảo, thể hiện sức mạnh và khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp bảo hiểm
1.2.2 Dự phòng nghiệp vụ
Sau vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bảo hiểm chính là dự phòng nghiệp vụ
Dự phòng nghiệp vụ là một đặc thù riêng có của hoạt động kinh doanh bảo hiểm Đó làkhoản dự trữ liên quan đến từng nghiệp vụ bảo hiểm, tương ứng với trách nhiệm củatừng hợp đồng bảo hiểm Theo điều 96 Luật kinh doanh bảo hiểm, dự phòng nghiệp
vụ là:
"1 Dự phòng nghiệp vụ là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích
lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định trước và phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết.
2 Dự phòng nghiệp vụ phải được trích lập riêng cho từng nghiệp vụ bảo hiểm và phải tương ứng với phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm.
3 Bộ Tài chính quy định cụ thể về mức trích lập, phương pháp trích lập dự phòng nghiệp vụ đối với từng nghiệp vụ bảo hiểm."
Dự phòng nghiệp vụ bao gồm:
Dự phòng toán học là khoản chênh lệch giữa giá trị hiện tại của số tiền bảo
hiểm và giá trị hiện tại của phí bảo hiểm sẽ thu được trong tương lai, được sử dụng đểtrả tiền bảo hiểm đối với những trách nhiệm đã cam kết khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
Trang 10Dự phòng phí chưa được hưởng : là khoản dự phòng cho phần doanh thu chưa
được hưởng từ phần phí bảo hiểm đã thanh toán trước tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm, vàđược tính cho tất cả các hợp đồng còn hiệu lực vào ngày kết thúc năm tài chính
Dự phòng bồi thường : là khoản dự phòng cho tất cả các khoản bồi thường đã
nộp nhưng đang trong quá trình giải quyết giải quyết vào ngày kết thúc kỳ kế toánnăm
Dự phòng chia lãi : là khoản dự phòng cho phần lãi tích lũy chưa trả đối với
các hợp đồng được chia lãi
Dự phòng bảo đảm cân đối: là khoản dự phòng chung cho số tiền bảo hiểm
phải trả trong trường hợp có sự chênh lệch đáng kể giữa tỷ lệ tử vong giả định hoặc lãisuất kỹ thuật so với thực tế
Giá trị hiện tại của tổng
số tiền bảo hiểm sẽ phảitrả trong tương lai
-Giá trị hiện tại của tổng số phí bảo hiểmthuần điều chỉnh Zillmer 3% số tiền bảohiểm sẽ thu trong tương lai
Trang 11a) Phương pháp trích lập theo tỷ lệ phần trăm của tổng phí bảo hiểm:
+ Đối với nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ, đườngbiển, đường sông, đường sắt và đường không: bằng 25% của tổng phí bảo hiểm giữ lạithuộc năm tài chính của nghiệp vụ bảo hiểm này
+ Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm khác: bằng 50% của tổng phí bảo hiểm giữlại thuộc năm tài chính của các nghiệp vụ bảo hiểm này
b) Phương pháp trích lập theo hệ số của thời hạn hợp đồng bảo hiểm:
+ Phương pháp 1/8:
Phương pháp này giả định phí bảo hiểm thuộc các hợp đồng bảo hiểm pháthành trong một quý của doanh nghiệp bảo hiểm phân bố đều giữa các tháng trong quý,hay nói một cách khác, toàn bộ hợp đồng bảo hiểm của một quý cụ thể được giả định
là có hiệu lực vào giữa quý đó Dự phòng phí chưa được hưởng sẽ được tính theo côngthức sau:
Dự phòng phí
chưa được hưởng =
Phí bảo hiểmgiữ lại x
Tỷ lệ phí bảo hiểmchưa được hưởng
+ Phương pháp 1/24:
Ph ương pháp phí bảo hiểm thuần được điều chỉnh ng pháp này gi ảo hiểm thuần được điều chỉnh định phí bảo hiểm thuộc các hợp đồng bảo hiểm phát nh phí b o hi m thu c các h p ảo hiểm thuần được điều chỉnh ểm thuần được điều chỉnh ộc các hợp đồng bảo hiểm phát ợc điều chỉnh đồng bảo hiểm phát ng b o hi m phát ảo hiểm thuần được điều chỉnh ểm thuần được điều chỉnh hành trong m t tháng c a doanh nghi p b o hi m phân b ộc các hợp đồng bảo hiểm phát ủa doanh nghiệp bảo hiểm phân bố đều trong tháng, hay nói ệp bảo hiểm phân bố đều trong tháng, hay nói ảo hiểm thuần được điều chỉnh ểm thuần được điều chỉnh ố tiền bảo hiểm tính theo nguyên tắc sau: đều chỉnh u trong tháng, hay nói
m t cách khác, toàn b h p ộc các hợp đồng bảo hiểm phát ộc các hợp đồng bảo hiểm phát ợc điều chỉnh đồng bảo hiểm phát ng b o hi m c a m t tháng c th ảo hiểm thuần được điều chỉnh ểm thuần được điều chỉnh ủa doanh nghiệp bảo hiểm phân bố đều trong tháng, hay nói ộc các hợp đồng bảo hiểm phát ụ thể được giả định là có ểm thuần được điều chỉnh được điều chỉnh c gi nh là có ảo hiểm thuần được điều chỉnh định phí bảo hiểm thuộc các hợp đồng bảo hiểm phát
hi u l c vào gi a tháng ó D phòng phí ch a ệp bảo hiểm phân bố đều trong tháng, hay nói đ ư được điều chỉnh c h ưởng sẽ được tính theo công ng s ẽ được tính theo công được điều chỉnh c tính theo công
th c sau: ức sau:
Dự phòng phí
chưa được hưởng =
Phí bảo hiểmgiữ lại X
Tỷ lệ phí bảo hiểmchưa được hưởng
c) Phương pháp trích lập dự phòng phí theo từng ngày:
Ph ương pháp phí bảo hiểm thuần được điều chỉnh ng pháp này có th ểm thuần được điều chỉnh được điều chỉnh c áp d ng ụ thể được giả định là có đểm thuần được điều chỉnh tính d phòng phí ch a ư được điều chỉnh c
h ưởng sẽ được tính theo công ng đố tiền bảo hiểm tính theo nguyên tắc sau: i v i h p ợc điều chỉnh đồng bảo hiểm phát ng b o hi m thu c m i th i h n theo công th c t ng quát sau: ảo hiểm thuần được điều chỉnh ểm thuần được điều chỉnh ộc các hợp đồng bảo hiểm phát ọc theo phương pháp phí bảo hiểm thuần được điều chỉnh ời hạn theo công thức tổng quát sau: ạn theo công thức tổng quát sau: ức sau: ổng quát sau:
Dự phòng phí
chưa được
hưởng
Phí bảo hiểm giữ lại x Số ngày bảo hiểm còn lại
của hợp đồng bảo hiểm
Trang 12nghiệp bảo hiểm nhưng đến cuối năm tài chính chưa được giải quyết.
a) Phương pháp trích lập dự phòng bồi thường theo hồ sơ yêu cầu đòi bồi thường:
Theo phương pháp này, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh nướcngoài phải trích lập 2 loại dự phòng:
Dự phòng bồi thường cho các yêu cầu đòi bồi thường chưa được giải quyết:được trích lập cho từng nghiệp vụ bảo hiểm theo phương pháp ước tính số tiền bồithường cho từng vụ tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm đã thông báo hoặc đã yêu cầuđòi bồi thường doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh nước ngoài nhưng đếncuối năm tài chính chưa được giải quyết
Dự phòng bồi thường cho các tổn thất đã phát sinh thuộc trách nhiệm bảohiểm nhưng chưa thông báo hoặc chưa yêu cầu đòi bồi thường được trích lập theocông thức sau đối với từng nghiệp vụ bảo hiểm:
Số tiềnBTphátsinhcủanămTChiệntại
Doanh thu thuầnhoạt động kinhdoanh của năm
TC hiện tại
Thời gianchậm yêucầu đòi BTbình quân củanăm TC hiệntại
= - X x -
X -Tổng số tiền BT phátsinh của 3 năm TCtrước liên tiếp
Doanh thu thuầnhoạt động kinhdoanh bảo hiểmcủa năm TCtrước
Thời gianchậm yêu cầu đòi BT bìnhquân của năm
TC trướcTrong đó:
Số tiền bồi thường phát sinh của một năm tài chính bao gồm số tiền bồithường thực trả trong năm cộng với dự phòng bồi thường cho các yêu cầu đòi bồithường chưa được giải quyết tại thời điểm cuối năm tài chính đó
Trang 13Thời gian chậm yêu cầu đòi bồi thường bình quân là thời gian bình quân từ khitổn thất xảy ra tới khi doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh nước ngoài nhậnđược thông báo tổn thất hoặc hồ sơ yêu cầu đòi bồi thường (tính bằng số ngày).
Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh nước ngoài không
có đầy đủ số liệu thống kê để thực hiện trích lập bồi thường cho các tổn thất đã phátsinh thuộc trách nhiệm bảo hiểm nhưng chưa thông báo hoặc chưa yêu cầu đòi bồithường theo công thức quy định, doanh nghiệp, chi nhánh phải trích lập theo tỷ lệ từ3% đến 5% tổng phí bảo hiểm giữ lại đối với từng nghiệp vụ bảo hiểm
b) Phương pháp trích lập dự phòng bồi thường theo hệ số phát sinh bồi thường:
Phương pháp này được áp dụng để trích lập dự phòng bồi thường cho từngnghiệp vụ bảo hiểm dựa trên nguyên lý sử dụng số liệu bồi thường trong quá khứ đểtính toán các hệ số phát sinh bồi thường nhằm dự đoán số tiền doanh nghiệp bảo hiểmphi nhân thọ, chi nhánh nước ngoài phải bồi thường trong tương lai Để tính toán dựphòng bồi thường theo phương pháp này, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chinhánh nước ngoài cần phân tích các dữ liệu quá khứ để đảm bảo rằng việc thanh toánbồi thường qua các năm tuân theo các quy luật ổn định và không có sự bất thường
Dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất:
a) Trích lập dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất:
Hàng năm, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh nước ngoài phảitrích lập dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất, kể cả trường hợpdoanh nghiệp, chi nhánh có sử dụng (hoặc không sử dụng) dự phòng này để bồithường cho các dao động lớn về tổn thất trong năm tài chính
Mức trích lập tối đa hàng năm được áp dụng theo tỷ lệ từ 1% đến 3% phí bảohiểm giữ lại theo từng nghiệp vụ bảo hiểm
Việc trích lập được thực hiện đến khi khoản dự phòng này bằng 100% phí giữlại trong năm tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh nướcngoài
b) Sử dụng dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất:
Dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất được sử dụng chonghiệp vụ bảo hiểm có dao động lớn về tổn thất
Nghiệp vụ bảo hiểm được coi là có dao động lớn về tổn thất khi tổng phí bảohiểm giữ lại trong năm tài chính của nghiệp vụ bảo hiểm sau khi đã trích lập dự phòng
Trang 14phí chưa được hưởng và dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết không đủ
để chi trả tiền bồi thường đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp, chi nhánhđối với nghiệp vụ bảo hiểm đó
Số tiền tối đa được sử dụng từ dự phòng bồi thường cho các dao động lớn vềtổn thất (DPDĐL) được tính theo công thức sau:
-Tổngphí bảohiểm giữlại củanăm TChiện tại
-Dự phòngphí chưa đượchưởng phảitrích lập trongnăm TC hiện tại
-Dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết phải lậpvào năm TC hiện tại
Dự phòng chia lãi :
Chỉ áp dụng với những hợp đồng có lãi chia được tích lũy qua các năm hợp đồngbảo hiểm và được tính theo công thức sau:
a) Dự phòng cho phần lãi đã công bố
Đối với các hợp đồng chia lãi dưới hình thức tiền mặt:
Dự phòng
chia lãi =
Tổng giá trị các khoảntiền lãi công bố chia chochủ hợp đồng trong năm
tài chính
+
Tổng giá trị tích lũy của các khoảntiền lãi đã công bố chia cho chủ hợpđồng trong các năm tài chính trước
nhưng chưa chi trảĐối với các hợp đồng chia lãi dưới hình thức bảo tức tích lũy:
Dự phòng
chia lãi =
Bảo tức công bố chiacho chủ hợp đồng trongnăm tài chính
+
Tổng giá trị tích lũy của bảo tức đãcông bố chia cho chủ hợp đồng trong các
năm tài chính trước
b) Dự phòng cho phần lãi chưa công bố
Dự phòng cho phần lãi chưa công bố là giá trị hiện tại của phần lãi sẽ chiathêm cho chủ hợp đồng trong tương lai nhằm đảm bảo quy định tại khoản 2 Điều 27Thông tư 125/2011-TT-BTC, được tính bằng tài sản của quỹ chủ hợp đồng có tham
Trang 15gia chia lãi trừ đi công nợ của quỹ, nguồn vốn hỗ trợ từ chủ sở hữu và lãi đã phân bổtrong năm hiện tại Việc trích lập dự phòng này phải đảm bảo nguyên tắc:
Mức trích lập hàng năm của dự phòng này không được vượt quá 10% tổngthặng dư của quỹ chủ hợp đồng có tham gia chia lãi phát sinh trong năm đó
Tổng giá trị của dự phòng cho phần lãi chưa công bố tại mọi thời điểm khôngđược vượt quá 0,5% nhân với thời hạn còn lại trung bình của các hợp đồng có thamgia chia lãi nhân với tổng mức trách nhiệm của quỹ chủ hợp đồng có tham gia chia lãitại thời điểm đó
Dự phòng bảo đảm cân đối :
Được trích lập hàng năm cho đến khi khoản dự phòng này bằng 5% phí bảohiểm thu được trong năm tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm Mức trích lập hàngnăm là 1% từ lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp bảo hiểm
Dự phòng đảm bảo cân đối: Mức trích lập hàng năm là 1% từ lợi nhuận trướcthuế của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, được trích lập hàng năm cho đến khi khoản
dự phòng này bằng 5% phí bảo hiểm thu được trong năm tài chính của doanh nghiệp
1.2.3 Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán được hiểu là khả năng của doanh nghiệp đáp ứng ngay
các nghĩa vụ tài chính phát sinh Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, khả năng thanh toánchính là khả năng duy trì vốn và lợi nhuận để lại cao hơn mức tiêu chuẩn tối thiểu vềvốn và lợi nhuận để lại do luật định.Việc không đáp ứng được tiêu chuẩn này có thểdẫn đến việc các cơ quan quản lý ngành bảo hiểm sẽ kiểm soát hoạt động của doanhnghiệp bảo hiểm Việc thiếu khả năng duy trì mức tiêu chuẩn tối thiểu bắt buộc về vốn
và lợi nhuận để lại của một doanh nghiệp bảo hiểm được gọi là mất khả năng thanhtoán
Tại Việt Nam, chỉ tiêu này được gọi là chỉ tiêu khả năng thanh toán, được quy
định rất cụ thể theo Quyết định số 153/2003/QĐ-BTC "Chỉ tiêu khả năng thanh toán
được tính bằng tỷ lệ giữa nguồn vốn, quỹ xác định biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định hiện hành Nguồn vốn, quỹ để xác định biên khả năng thanh toán là nguồn vốn, quỹ trừ đi số vốn góp vào doanh nghiệp bảo hiểm khác và nợ không có khả năng thu hồi."
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Chỉ tiêu khả năng = Nguồn vốn, quỹ xác định biên khả năng thanh toán thanh toán Biên khả năng thanh toán tối thiểu
Trang 16Trong đó Biên khả năng thanh toán tối thiểu của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là số lớn hơn của một trong hai kết quả tính toán sau:
a) 25% tổng phí bảo hiểm thực giữ lại tại thời điểm tính biên khả năng thanhtoán;
b) 12,5% của tổng phí bảo hiểm gốc và phí nhận tái bảo hiểm tại thời điểmtính biên khả năng thanh toán
Biên khả năng thanh toán tối thiểu của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ:
a) Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 năm trở xuống bằng tổngcủa 4% dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và 0,1% số tiền bảo hiểm chịu rủi ro;
b) Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thời hạn trên 5 năm bằng tổng của4% dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và 0,3% số tiền bảo hiểm chịu rủi ro
Số tiền bảo hiểm chịu rủi ro là phần chênh lệch giữa tổng số tiền bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực và tổng dự phòng nghiệp vụ”
Theo điều 15, NĐ 46 2007 ND-CP ,cũng quy định về khả năng thanh toán của
DN Bảo Hiểm:
“Doanh nghiệp bảo hiểm được coi là có đủ khả năng thanh toán khi đã trích lập
đầy đủ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và có biên khả năng thanh toán không thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu”
Trong đó:
Phần dự phòng được trích lập đầy đủ đã được nêu ở phần trên
Biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm là phần chênh lệch giữa giátrị tài sản và các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp bảo hiểm tại thời điểm tính biênkhả năng thanh toán Tính thanh khoản của các tài sản khi tính biên khả năng thanhtoán được xác định như sau:
Các tài sản được chấp nhận toàn bộ giá trị hạch toán:
o Các khoản tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển,
Trang 17 Các khoản vốn góp để thành lập doanh nghiệp bảo hiểm khác từnguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bảo hiểm;
Tài sản tương ứng với quỹ khen thưởng, phúc lợi (nếu có);
Các khoản nợ không có khả năng thu hồi theo quy định của phápluật sau khi trừ đi các khoản trích lập dự phòng nợ khó đòi tương ứng;
Tài sản cố định vô hình trừ phần mềm máy tính;
Chi phí trả trước, cho vay không có bảo lãnh, các khoản tạm ứng,trang thiết bị và đồ dùng văn phòng, các khoản phải thu nội bộ;
Phải thu phí bảo hiểm và phí nhận tái bảo hiểm quá hạn trên 2năm sau khi trừ đi các khoản trích lập dự phòng nợ khó đòi tương ứngtheo quy định của pháp luật;
Các khoản cho vay, đầu tư trở lại cho các cổ đông hoặc người cóliên quan quy định tại Điều 4 Luật Doanh nghiệp trừ trường hợp là cáckhoản tiền gửi ngân hàng
Các tài sản bị loại trừ một phần giá trị hạch toán:
Các tài sản đầu tư:
a) Trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh: loại trừ 1% giá trị hạch toán;
b) Trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh: loại trừ 3% giá trị hạch toán;c) Cổ phiếu được niêm yết: loại trừ 15% giá trị hạch toán;
d) Cổ phiếu không được niêm yết: loại trừ 20% giá trị hạch toán;
đ) Đầu tư trực tiếp vào bất động sản do chính doanh nghiệp sử dụng: loại trừ 8%giá trị hạch toán;
e) Đầu tư trực tiếp vào bất động sản để cho thuê, các khoản cho vay thương mại
có bảo lãnh: loại trừ 15% giá trị hạch toán;
g) Vốn góp vào các doanh nghiệp khác trừ doanh nghiệp bảo hiểm: loại trừ 20%giá trị hạch toán
Các khoản phải thu:
a) Phải thu phí bảo hiểm và phí nhận tái bảo hiểm quá hạn từ 90 ngày đến dưới 1năm sau khi trừ đi các khoản trích lập dự phòng nợ khó đòi tương ứng theo quy địnhcủa pháp luật: loại trừ 30%;
b) Phải thu phí bảo hiểm và phí nhận tái bảo hiểm quá hạn từ 1 năm đến dưới 2năm sau khi trừ đi các khoản trích lập dự phòng nợ khó đòi tương ứng theo quy địnhcủa pháp luật: loại trừ 50%
Trang 18 Tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình là phần mềmmáy tính và hàng tồn kho: loại trừ 25% giá trị hạch toán.
Tài sản khác: loại trừ 15% giá trị hạch toán
1.2.4 Khả năng sinh lời
Mặc dù khả năng sinh lời có thể đạt được và đo lường trong một thời kỳ ngắnhạn, nhưng các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải luôn nỗ lực theo đuổi khả năng sinhlời dài hạn Khả năng sinh lời dài hạn giúp cho một doanh nghiệp bảo hiểm có thể:
Có các nguồn tài chính để tài trợ đầu tư
Trả lãi chia cho các hợp đồng có chia lãi
Trả cổ tức cho các cổ đông và tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu doanh nghiệp đốivới các nhà đầu tư
Nâng cao thứ hạng từ các tổ chức đánh giá xếp hạng
Cung cấp nguồn tài chính cho việc phát triển sản phẩm, các nhóm sản phẩm, vàcác kênh phân phối
Cung cấp nguồn tài chính để mở rộng và mua lại các doanh nghiệp khác
Thước đo khả năng sinh lời sử dụng cả báo cáo kết quả kinh doanh và bảng tổng
kết tài sản là tỉ lệ lợi tức trên vốn (ROE Tỉ lệ này thường được biểu diễn như sau:
ROE = Thu nhập sau thuế/Vốn chủ sở hữu
Tỉ lệ lợi tức trên vốn thể hiện doanh nghiệp bảo hiểm đã sử dụng vốn và lợinhuận để lại hiệu quả đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận trong một thời kỳ xácđịnh.Tỉ lệ lợi tức trên vốn càng cao thì doanh nghiệp càng sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực để thu lợi nhuận Các tỉ lệ lợi tức trên vốn có thể được tính cho toàn bộdoanh nghiệp, cho từng lĩnh vực kinh doanh, cho một sản phẩm cụ thể, hoặc cho một
hệ thống phân phối
Khi sử dụng phương pháp phân tích tài chính DUPONT nhằm đánh giá tácđộng tương hỗ giữa các tỷ số tài chính nhà phân tích có thể thực hiện việc tách ROEnhư sau:
ROE = (Thu nhập sau thuế)/(Tài sản) x (Tài sản/Vốn chủ sở hữu)
= ROA x EM
= (Thu nhập sau thuế)/(Doanh thu) x (Doanh thu)/(Tài sản) x (Tài sản)/(Vốn chủ sở hữu)
Trang 19= PM x AU x EM
ROA: Doanh lợi tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp được dùng để đánh giá khảnăng sinh lời của một đồng vốn đầu tư, phản ánh mức sinh lời của toàn bộ danh mụctài sản của doanh nghiệp - khả năng quản trị tài sản của các nhà quản lý doanh nghiệp
PM: Hiệu suất doanh lợi tiêu thụ phản ánh tỷ trọng lợi nhuận sau thuế trongdoanh thu của doanh nghiệp Khi PM tăng, điều đó thể hiện doanh nghiệp quản lýdoanh thu và quản lý chi phí có hiệu quả
AU: Hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu này còn được gọi làvòng quay toàn bộ tài sản, nó được đo bằng tỷ số giữa doanh thu và tổng tài sản và chobiết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu
EM: Hệ số nhân vốn chủ sở hữu, nó phản ánh mức độ huy động vốn từ bênngoài của doanh nghiệp Nếu EM tăng, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp tăng vốn huyđộng từ bên ngoài
Trang 20CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI CÁC DN BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát về hệ thống giám sát tài chính ở các doang nghiệp bảo hiểm thế giới
Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giớiđánh dấu bằng sự kiện gia nhập thành công tổ chức thương mại thế giới WTO ngày
7 tháng 11 năm 2006 Các ngành, lĩnh vực kinh tế của Việt Nam đòi hỏi phải cónhững chuyển đổi cũng như bước phát triển mới trong tiến trình hội nhập kinh tế thếgiới Ngành Bảo hiểm Việt Nam là một trong những ngành phải có những bước tiếnmới trong thời kỳ hội nhập WTO Vì vậy, đòi hỏi ngành Bảo hiểm phải có nhữngđổi mới hợp với xu thế kinh tế thế giới Để phát triển nhanh, mạnh và bền vững thìviệc học hỏi kinh nghiệm phát triển của các nước phát triển trong lĩnh vực bảo hiểm
là điều cần thiết không thể thiếu
Ngành Bảo hiểm Việt Nam có sự hình thành và phát triển chậm hơn so vớicác nước trong khu vực cũng như trên thế giới Trong tiến trình vận động đi lên của
cả nền kinh tế để bắt kịp sự phát triển của thế giới nên ngành bảo hiểm cũng phải tựđặt ra cho mình những lộ trình phát triển cụ thể
Một trong những giải pháp thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững củaNgành Bảo hiểm Việt Nam đó là việc học hỏi kinh nghiệm phát triển của nhữngnước đi trước Từ những bài học kinh nghiệm đó, chúng ta sẽ đúc rút ra những vấn
đề trọng tâm để đẩy nhanh tiến trình hội nhập của ngành bảo hiểm Việt Nam
Hiện nay, các thị trường bảo hiểm phát triển đều áp dụng nguyên tắc dựa trênrủi ro để tính toán nguồn vốn yêu cầu này, phổ biến nhất là mô hình RBC (RiskBased Capital) và sắp tới có thể là Solvency II ở thị trường châu Âu Vì vậy, việctham khảo mô hình RBC và Solvency II sẽ đưa ra những gợi ý nhằm chuẩn bị choviệc xây dựng một hệ thống giám sát mới hiệu quả hơn, phù hợp với các chuẩn mựcquốc tế cho thị trường bảo hiểm VN
2.1.1 Hệ thống giám sát RBC
Trang 21Từ thập niên 90 của thế kỷ trước, hệ thống giám sát an toàn tài chính doanhnghiệp bảo hiểm ở những thị trường phát triển bắt đầu áp dụng nguyên tắc: vốn củadoanh nghiệp bảo hiểm để đảm bảo khả năng thanh toán phải được tính toán dựatrên những rủi ro trong hoạt động của chính doanh nghiệp đó nhằm giúp cơ quanquản lý giám sát một cách toàn diện và có những can thiệp kịp thời khi cần thiêt.Canada và Mỹ là hai nước đầu tiên áp dụng lần lượt vào năm 1992 và 1993 Chođến nay nhiều thị trường đã áp dụng nguyên tắc này mặc dù phương pháp tính toán
có thể khác nhau như: Nhật Bản (1996), Úc (2001), Đài Loan (2003), Singapore,Anh (2004), Thụy Sĩ (2006), Malaysia (2009) Hiện tại, Thái Lan cũng đang nghiêncứu để tiến đến áp dụng mô hình này
Về cơ bản, mô hình RBC dùng để tính toán mức vốn tối thiểu mà một doanhnghiệp bảo hiểm cần duy trì để đảm bảo hoạt động tùy thuộc vào đặc trưng rủi ro vàquy mô của doanh nghiệp đó Trong đó, những yếu tố quan trọng nhất bao gồm:
- Các nhân tố rủi ro được đưa vào tính toán RBC;
- Vốn yêu cầu (required capital) theo rủi ro;
- Vốn khả dụng (available capital) và các cấp độ can thiệp
Mô hình RBC không có một tiêu chuẩn nhất định Tùy thuộc vào đặc điểmcủa từng thị trường mà những quy định về nhân tố rủi ro, vốn khả dụng, công thứctính toán và cấp độ can thiệp sẽ khác nhau Mô hình RBC của Mỹ là một ví dụ điểnhình Trong mô hình này, các yếu tố rủi ro được đưa vào tính toán có sự khác nhaugiữa bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe, nhưng về cơ bản có 4nhóm rủi ro chính: rủi ro về tài sản; rủi ro nghiệp vụ; rủi ro thị trường (lãi suất,thanh khoản, tín dụng ) và rủi ro trong kinh doanh (marketing, pháp lý, quy trình,
…) Dựa vào các nhân tố rủi ro này, một công thức tính toán RBC được xây dựng đểtính riêng cho bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ hoặc sức khỏe Ví dụ: công thức tínhRBC cho bảo hiểm phi nhân thọ ở Mỹ như sau :
Trong đó :
: Rủi ro tài sản (của các công ty thành viên);
: Rủi ro tài sản (thu nhập cố định);
Trang 22: Rủi ro tài sản (cổ phiếu);
: Rủi ro tài sản (tín dụng, thu hồi nợ);
: Rủi ro đánh giá chấp nhận bảo hiểm, dự phòng;
: Rủi ro kinh doanh, khai thác hợp đồng mới
RBC sau khi được tính toán sẽ đem so sánh với nguồn vốn khả dụng (baogồm vốn pháp định, thặng dư vốn, dự phòng giảm giá tài sản, bảo tức cam kết,v.v…) Căn cứ vào tỷ lệ giữa tổng vốn khả dụng và RBC, các mức độ can thiệpđược đưa ra như sau:
- Nếu trên 200%: không cần can thiệp;
- Từ 150 đến 200%: doanh nghiệp phải gửi báo cáo (cấp độ doanh nghiệp);
- Từ 100% đến 150%: doanh nghiệp phải gửi một kế hoạch hành động (cấp
Trang 23của doanh nghiệp bảo hiểm Mục tiêu của Solvency II nhằm hướng đến:
- Một hệ thống dựa vào định lượng rủi ro (các tính toán dựa trên rủi ro cụthể);
- Một phương thức tích hợp cho dự phòng bảo hiểm và yêu cầu về vốn;
- Một khung giám sát hoàn chỉnh trong quản trị rủi ro;
- Yêu cầu về vốn được khuyến khích xác định bởi một phương thức chuẩnhoặc mô hình nội bộ;
- Ghi nhận nỗ lực đa dạng và giảm thiểu rủi ro
Hệ thống Solvency II bao gồm 3 thành phần trụ cột đại diện cho 3 lĩnh vựcgiám sát khác nhau: các yêu cầu về định lượng; các hoạt động giám sát và quản trịrủi ro nội bộ (định tính); báo cáo và công bố Những yêu cầu trong 3 thành phần nàyđều có tính nguyên tắc vì vậy sẽ tạo sự linh hoạt và phù hợp với các mục tiêu banđầu, thúc đẩy mạnh mẽ văn hóa quản trị rủi ro nội bộ và giúp các nhà quản lý phảnứng linh hoạt để thay đổi các tình huống
Thành phần trụ cột I xem xét đến các loại tài sản, các khoản nợ và sự tươngtác giữa chúng trong bảng cân đối, cụ thể:
- Phần nợ được chia thành dự phòng kỹ thuật và yêu cầu vốn đảm bảo khảnăng thanh toán (SCR);
- Phần tài sản được chia thành tài sản đảm bảo cho dự phòng kỹ thuật và biênkhả năng thanh toán hữu dụng (để đảm bảo cho SCR, nếu biên khả năng thanh toánhữu dụng lớn hơn SCR, sẽ tạo nên vốn thặng dư);
- Cả tài sản và nợ đều được tính theo giá thị trường;
- Dự phòng kỹ thuật là tổng của nợ ước tính cao nhất và một biên rủi ro (theophương pháp chi phí vốn);
- SCR được tính toán theo VaR 99,5% kì hạn 1 năm (xác suất vỡ nợ là 0,5%,tức 1 lần trong 200 năm) Có thể lựa chọn công thức chuẩn hoặc mô hình tính toánnội bộ, các doanh nghiệp lớn thích tính toán theo mô hình nội bộ hơn bởi vì phảnánh đặc trưng rủi ro tốt hơn, SCR thấp hơn vì vậy chi phí vốn thấp hơn;
Trang 24- Hiện nay vẫn chưa xác định yêu cầu vốn tối thiểu (MCR) là bao nhiêu (cóthể tính theo SCR), tuy nhiên, mức thấp nhất đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhânthọ là 2 triệu euros và phi nhân thọ là 1 triệu euros.
Bảng 1 Các thành phần trụ cột của hệ thống Solvency II Thành phần trụ cột I
Các yêu cầu định lượng
Thành phần trụ cột II
Các hoạt động giám sát vàquản trị rủi ro nội bộ (địnhtính)
+ Xem xét toàn diện
đến các yếu tố rủi ro
- Yêu cầu vốn tối thiểu
(MCR) được tính toán
dựa trên các yếu tố rủi ro;
- Yêu cầu vốn đảm
bảo khả năng thanh toán
(SCR) được tính với VaR
99,5% kì hạn 1 năm;
- SCR có thể được tính
theo phương thức chuẩn
hoặc mô hình nội bộ
- Nhận diện những rủi rokhông nằm trong trụ cột I;
- Giám sát ở quy mô tậpđoàn;
- Yêu cầu bổ sung vốn tùytrường hợp cụ thể;
- Giám sát quy trình kiểmtra và các cấp độ can thiệp;
- Thống nhất giữa các cơquan quản lý ở các nước thànhviên;
- Tự đánh giá rủi ro và khảnăng thanh toán
(ORSA) là yếu tố quantrọng
- Thúc đẩy công bốthông tin cho công chúng và
cơ quan quản lý;
- Minh bạch trongviệc cho phép các thànhviên trong thị trường tiếpcận thông tin về hồ sơ rủi
ro, quản trị rủi ro;
- Phù hợp với thịtrường, nhất quán trong khuvực châu Âu
Trang 25Trong việc tính toán vốn khả dụng (tài sản đảm bảo cho SCR, MCR và biênrủi ro), có 2 sự phân biệt quan trọng: phân biệt giữa các nguồn tài sản sở hữu trênbảng cân đối với ngoài bảng cân đối và phân biệt giữa ‘chất lượng’ các loại tài sản.
Trong việc tính toán MCR, chỉ có tài sản cấp độ 1 và 2 trên bảng cân đốiđược tính đến, trong đó tỷ lệ các khoản mục tài sản cấp độ 1 chiếm ít nhất ½;
Trong việc tính toán SCR, tỷ lệ các khoản mục tài sản cấp độ 1 ít nhất là 1/3
và tài sản cấp độ 3 nhiều nhất là 1/3
Bảng 2 Các cấp độ của tài sản phân theo “chất lượng”
Tài sản trên bảng cân đối Tài sản ngoài bảng cân đốiChất lượng cao Cấp độ 1 (Tier 1) Cấp độ 2 (Tier 2)
Chất lượng vừa Cấp độ 2 (Tier 2) Cấp độ 3 (Tier 3)
Chất lượng thấp Cấp độ 3 (Tier 3)
Mô hình hệ thống Solvency II
Vốn thặng dưdư
MCRBiên rủi ro
Nợ ước tính cao nhất
Trang 26Căn cứ vào việc so sánh giữa vốn khả dụng với SCR và MCR, có 3 khảnăng can thiệp như sau từ phía cơ quan quản lý nhà nước:
- Nếu vốn khả dụng lớn hơn
SCR: không có can thiệp;
- Nếu vốn khả dụng thấp hơn SCR: cơ quạn quản lý có những biện phápnhằm khôi phục tình hình tài chính của doanh nghiệp;
- Nếu vốn khả dụng thấp hơn MCR, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bị thu hồigiấy phép (phá sản hoặc chuyển giao cho doanh nghiệp bảo hiểm khác)
2.1.3 Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm ở các nước Châu Âu
Các nước Châu Âu đều chú trọng xây dựng Luật bảo hiểm từ rất sớm Đếnnay, với mục tiêu xây dựng một thị trường bảo hiểm chung, về cơ bản, các nước EU
đã thống nhất các quy định pháp luật về quản lý, giám sát, cấp giấy phép cho cáccông ty bảo hiểm thông qua việc ban hành các chỉ thị về bảo hiểm nhân thọ và phinhân thọ mà tất cả các nước thành viên đều phải tuân thủ Nhìn chung, hoạt độngbảo hiểm ở hầu hết các nước EU đều chịu sự điều chỉnh của Luật về doanh nghiệpbảo hiểm (hay Luật về quản lý, giám sát bảo hiểm) và Luật về hợp đồng bảo hiểm.Một số loại bảo hiểm đặc thù như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hàng không, bảohiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, tái bảo hiểm thường được điều chỉnhbằng các văn bản luật riêng
Ở nhiều nước, cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểmtrực thuộc các Bộ Tài chính, Kinh tế, Thương mại như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,Ý Tại hầu hết các nước EU, ngân sách dành cho cơ quan quản lý bảo hiểm đượchình thành từ các khoản đóng góp của các doanh nghiệp bảo hiểm, rất ít nước phảidùng đến tài trợ của ngân sách Nhà nước
Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm được EU kiểm soát kháchặt chẽ Pháp luật các nước đều có sự phân định các loại tài sản mà một doanhnghiệp bảo hiểm có thể dùng để đầu tư, bao gồm: các quỹ dự phòng nghiệp vụ đểchi trả các khiếu nại cho người được bảo hiểm và các tài sản dùng để thanh toán chocác chủ nợ khác Do có các tính chất khác nhau, mỗi loại tài sản phải tuân theo cácquy định riêng về đầu tư Theo định kỳ, doanh nghiệp bảo hiểm phải báo cáo cho cơ