Bài viết giải thích cụ thể và chi tiết mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức cùng những minh họa cụ thể trong khoa họcxã hội. Đồng thời, đưa ra quan điểm cá nhân về mục tiêu trong tương lai dựa vào MQH đó.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
Môn học: Triết học Mác – LêninHọc kỳ II (2019-2020)
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN Quan hệ vật chất và ý thức ? Mục tiêu của bản thân bạn 10 năm sau là gì ? Xác định cơ sở và yêu cầu cần có trên hai phương diện khách quan và chủ quan
trong xây dựng kế hoạch hành động để đạt được mục tiêu này
Sinh viên: Trần Thị Thu Hiền
Mã số sinh viên: K194101381Lớp: K19410
Trường: Đại Học Kinh Tế-LuậtGiảng viên: Nguyễn Thị Hồng Hoa
Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 25 tháng 05 năm 2020
Trang 2Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa ý thức và vật chất Tại sao có thểkhẳng định như vậy? Trong tác phẩm Lutvich Phoi-ơ-bắc và sự cáo buộc chung của
triết học cổ điển Đức, Ăng-ghen đã chỉ rõ: “Vấn đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt
là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” (Các mác và ghen toàn tập, T21, NXB CTQG, 1995, trang 403) Thật vậy, thứ nhất, mối quan hệ
Ăng-giữa tư duy và tồn tại nảy sinh cùng với sự ra đời của triết học và nó tồn tại trong mọitrường phái triết học, dù là nhà triết học duy vật hay nhà triết học duy tâm đều phảibàn đến mối quan hệ này, dù là trực tiếp hay gián tiếp Thứ hai, suy cho cùng, tất cảcác hiện tượng xảy ra trong thế giới đều có thể quy về một trong hai mảng lớn đó làvật chất hoặc ý thức, triết học với tư cách lí luận chung nhất về thế giới không thểkhông đề cập, giải quyết quan hệ giữa chúng Cuối cùng, vấn đề quan hệ giữa ý thức
và vật chất được coi là vấn đề cơ bản hay tối cao của triết học vì việc giải quyết vấn
đề này là cơ sở để giải quyết mọi vấn đề khác của triết học, bao gồm tự nhiên, vănhóa, xã hội, nhận thức, tư duy… thậm chí cả những vấn đề không thuần túy triết họcnhư chính trị, đạo đức, …
Vậy nhiệm vụ của chúng ta là gì? Đó là phải nắm rõ mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức để từ đó, vận dụng được vốn hiểu biết của mình vào thực tế khách quan, gópphần xây dựng và cải tạo thế giới khách quan Với tư cách sinh viên trường Đại họcKinh tế-Luật, bản thân em nhận thấy rằng, việc nghiên cứu chủ đề cơ bản này của triếthọc là việc làm vô cùng có ý nghĩa, đây sẽ đóng vai trò là cơ sở lí luận để bản thân emđịnh hướng cũng như xây dựng kế hoạch, mục tiêu cho chính mình Đó cũng chính là
lí do để em chọn đề tài này Dưới đây là toàn bộ những vấn đề liên quan đến đề tài,song, bài làm chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót, mong cô thông cảm và chỉnh sửagiúp, em xin chân thành cảm ơn ạ!
PHẦN 2: NỘI DUNG
Trang 3A. QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
I. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm
Chủ nghĩa duy tâm là một trong những trường phái triết học lớn trong lịch sử bao gồmtrong đó toàn bộ các học thuyết triết học được xây dựng trên lập trường duy tâm trongviệc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Nói đến mối quan hệ giữa vật chất và ýthức, CNDT cho rằng ý thức tinh thần có trước và là cơ sở tồn tại của giới tự nhiên,của vật chất; ý thức tinh thần quyết định vật chất và bản chất của tồn tại này là ý thưc,tinh thần
1. Quan điểm của CNDT chủ quan trong mối quan hệ vật chất và ý thức
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng, cảm giác, ý thức con người là cái có trước, cáiquyết định sự tồn tại của mọi sự vật, hiện tượng bên ngoài Các sự vật, hiện tượng chỉ
là những phức hợp của cảm giác Do đó, những quan điểm của chủ nghĩa duy tâm chủquan không tránh khỏi dẫn tới cái gọi là chủ nghĩa duy ngã tức là chủ nghĩa xuất phát
từ cái tôi cá nhân Một trong những triết gia tiêu biểu cho quan điểm này là GeorgeBerkeley, ông cho rằng cái thực là nhận thức, có nghĩa là một thứ gì đó chỉ tồn tại khi
nó đang được nhận thức (nhìn thấy, sờ thấy…) bởi một chủ thể Lấy ví dụ như việccon người có thể cảm nhận được màu sắc, âm thanh của tự nhiên, theo quan điểm củaCNDT chủ quan chẳng qua là do cảm giác của mỗi người, hoàn toàn không phải dovật chất tác động vào mà là do ý thức của chính con người
Có thể kể đến câu nói của triết gia nổi tiếng người Đức E Kant rằng “nét đẹp của người phụ nữ không nằm trên đôi má hồng của cô ấy mà nằm trong đôi mắt của kẻ si tình” Ông tuyên bố: “Không có khoa học về cái đẹp mà chỉ có phán đoán về cái đẹp” Với ông cái đẹp không có khái niệm, nó gắn với cảm xúc của từng người về đối
tượng và như vậy nó không xác định Điều này là không thể phủ nhận bởi quan điểm
về cái đẹp là khác nhau phụ thuộc sở thích và gu(gout) của mỗi người Tuy nhiên, khimột người phụ nữ “đẹp” trong mắt nhiều người thì cái đẹp ở đây lại trở thành chân lí,
nó không còn là cái chủ quan nữa mà trở thành sự thật khách quan, là cái quyết địnhnhận thức của con người Điều này cho thấy một mặt hạn chế của chủ nghĩa duy tâmchủ quan trong việc nhìn nhận, đánh giá về thế giới
2. Quan điểm của CNDT khách quan trong mối quan hệ vật chất và ý thức
Trang 4Chủ nghĩa duy tâm khách quan lại cho rằng, ý thức ý niệm là cái có trước thế giớivật chất, nó độc lập và bên ngoài ý thức của con người đồng thời nó quyết định sự tồntại của tự nhiên, xã hội và tư duy con người Tất cả mọi sự vật, hiện tượng trong xãhội đều là hiện thân của “ý niệm” Điển hình trong hệ thống triết học duy tâm kháchquan là quan niệm của hai nhà triết học PLaton và Hegel, trong đó, Platon thì đưa raquan niệm về hai thế giới: thế giới các sự vật cảm biết và thế giới ý niệm Theo ông,thế giới các sự vật cảm biết là không chân thực, không đúng đắn vì các sự vật luônthay đổi, không ngừng sinh ra và mất đi Còn thế giới ý niệm là thế giới của đúng đắn,chân thực Thế giới ý niệm “sinh ra” thế giới cảm biết và các sự vật cảm biết chỉ là cáibóng của ý niệm chẳng hạn như cái cây, ngôi nhà, màu sắc…mà ta thường thấy là dosuy nghĩ siêu tự nhiên về chúng hay khi ta thấy các vật bằng nhau là vì ta đã có ýniệm sẵn trong đầu về sự bằng nhau v…v Trong khi đó, theo quan điểm của Hegel,trong khuôn khổ của hệ thống triết học duy tâm của mình, Hegel không chỉ trình bàynhững phạm trù, quy luật cơ bản của phép biện chứng, các phạm trù như chất, lượng,phủ định, mâu thuẫn,… mà còn nói đến các quy luật “lượng đổi dẫn đến chất đổỉ vàngược lại”, “phủ dịnh của phủ định” và “quy luật mâu thuẫn”, những quy luật vậnđộng và phát triển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối Hạn chế lớn nhất củaHegel là tính chất duy tâm, thần bí khi ông coi mọi sự vật, hiện tượng đều là hiện thâncủa “ý niệm tuyệt đối” nhưng điều tích cực mà ông đã đạt được trong khi các nhà triếtgia Tây Âu thời kì đó chưa làm được đó là đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhấtcủa một phép biện chứng một cách cụ thể hóa dưới dạng các nguyên lí, các quy luật,các phạm trù Hay nói cách khác, đây là một tiền đề quan trọng đối với nền triết họcduy vật biện chứng sau này
Lấy ví dụ cho quan điểm của CNDT khách quan, có thể kể đến ở phương Tây, nhữngngười theo CNDT khách quan thường cho rằng sự vật, hiện tượng chỉ tồn tại do một ýthức khách quan là thượng đế hay ở phương Đông, nhiều người thần thánh hóa cáchình tượng siêu nhiên, thờ cúng thần linh, xem thần linh là đấng tạo ra vật chất, điềukhiển các hoạt động của con người Ông bà ta xưa nay vẫn thường có câu “cha mẹsinh con, trời sinh tính”, “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời” ý muốn khẳng định tính
Trang 5cách, nhận thức của con người là do có sự sắp đặt của bề trên, không vì điều kiện hayhoàn cảnh mà thay đổi được Đây là một quan điểm mang tính duy tâm, thiếu khoahọc của nhiều người Việt Nam nói riêng và những người theo CNDT khách quan nóichung.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Như vậy, có thể thấy rằng, về mặt nhận thức, CNDT khách quan hay chủ quan tuy cóbiểu hiện khác nhau nhưng lại giống nhau về cơ bản, bằng cách này hay cách khácđều phủ nhận nguồn gốc khách quan của thế giới tự nhiên, của vật chất và đều cườngđiệu vai trò của nhân tố chủ quan, duy ý chí tức là khẳng định ý thức, tinh thần sángtạo ra thế giới Thực chất của điểm này là sự tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, tinh thần
mà theo Lê-nin, triết học trường phái này là một sự phát triển, thổi phồng bơm to,phiến diện, thái quá của một trong những mặt, khía cạnh của nhận thức thành một cáituyệt đối tách rời khỏi vật chất, khỏi giới tự nhiên, thần thánh hóa Ở điểm này, CNDTgần gũi với tôn giáo Hơn thế nữa, về mặt thực tiễn, đây còn là nguồn gốc xã hội cho
sự hình thành và phát triển các giai cấp đối lập nhau về lợi ích, là sự phân công giữalao động trí óc và lao động chân tay Sau khi tách khỏi tầng lớp lao động chân tay, laođộng trí óc có vị trí tương đối trong xã hội, trở thành những đặc quyền của giai cấpthống trị Vì thế những nhà tư tưởng của giai cấp đó thường khinh miệt lao động chântay và ngộ nhận rằng chính lao động trí óc quyết định sự tồn tại và phát triển của xãhội Sai lầm lệch lạc trên đây của CNDT dẫn đến việc bị thế lực phản động lợi dụng
sơ hở để khai thác nhằm biện hộ, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
Tuy nhiên, nói đi nói lại, vẫn phải khẳng định vai trò của CNDT là tiền đề trong việchình thành quan điểm triết học khách quan, khoa học về mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức, từ đó giải thích rõ ràng hơn sự tồn tại của thế giới quan và của nhận thức
II. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật là một trong những trường phái triết học lớn trong lịch sử, bao gồmtrong đó toàn bộ các học thuyết triết học được xây dựng trên lập trường duy vật trongviệc giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học và khẳng định vật chất là tính thứ nhất,
ý thức - tinh thần là tính thứ hai, bản chất của tồn tại này là vật chất Khẳng định điều
Trang 6đó cũng là thừa nhận và minh chứng rằng, suy đến cùng bản chất và cơ sở của mọi tồntại trong tự nhiên, xã hội chính là vật chất, ý thức chỉ là sự phản ánh của thế giới vậtchất.
1. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật chất phác về quan hệ giữa vật chất và ý thức
Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổđại, tồn tại cả ở triết học Phương Đông và Phương Tây Chủ nghĩa duy vật chất pháckhẳng định vật chất là tính thứ nhất quyết định sự tồn tại của ý thức nhưng lại đồngnhất vật chất với một hay một số chất cụ thể và coi đó là thực thể đầu tiên, là bảnnguyên của vũ trụ Nhận thức này mang nặng tính trực quan, nên những kết luận của
họ về thế giới vật chất còn mang tính ngây thơ, cảm tính
Lấy ví dụ, ở Phương Tây: Ta-let cho rằng bản nguyên của tồn tại này chính là nước,Heraclit lại cho rằng đó là lửa, ông còn đưa ra khái niệm “logos” nhằm khẳng địnhquy luật“mọi thứ đều chảy” (“không ai tắm hai lần trên một dòng sông”) thể hiện sựchuyển hóa, thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, song quan điểm đó củaHeraclit vẫn chỉ mang tính tự phát, bẩm sinh …hay ở phương Đông, trong triết họcTrung Quốc, có thuyết ngũ hành coi năm yếu tố: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là nhữngyếu tố khởi nguyên cấu tạo mọi vật, thuyết âm-dương thì cho rằng có hai lực lượng
âm dương đối lập nhau nhưng lại gắn bó, cố kết với nhau, là nguồn cơn của mọi sựsinh thành, biến hóa; Kinh Dịch Trung Quốc còn có quan niệm về tính biến đổithường xuyên của vũ trụ v v Một ví dụ khác xét về phương diện tôn giáo, chẳng hạnnhư triết học Phật giáo có đưa ra quan niệm về vô ngã, vô thường, nhân duyên… Tuy còn nhiều hạn chế nhưng CNDV thời cổ đại về cơ bản là đúng vì nó lấy bảnthân vật chất của tự nhiên để giải thích cho giới tự nhiên, nó không cầu viện thần linhhay một đấng sáng tạo nào để giải thích thế giới
2. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình trong mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức
Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật,thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỷ 15 đến thế kỷ 18 và đỉnh cao là vào thế kỉ
Trang 717-18 Đây là thời kì khoa học thực nghiệm và cơ học cổ điển đạt được những thànhtựu lớn và nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến nền triết học, do đó đặc điểm nổi bật nhất củatriết học thời kì này là phương pháp tư duy siêu hình, máy móc Phương pháp nàyxem xét thế giới như một bộ máy cơ giới khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo ra nó luôn ởtrạng thái biệt lập, tĩnh tại, không vận động, không biến đổi, còn nếu có biến đổi đichăng nữa thì chỉ đơn thuần là sự tăng, giảm về lượng do những nguyên nhân bênngoài gây ra Có thể thấy, chủ nghĩa duy vật siêu hình chưa phản ánh đúng hiện thựctrong mối quan hệ phổ biến của vật chất và ý thức, đồng thời tuyệt đối hóa yếu tố vậtchất sinh ra ý thức, quyết định ý thức cũng như phủ nhận tính độc lập tương đối vàtính năng động, sáng tạo của ý thức trong hoạt động thực tiễn, tức là chưa nhận thấyđược sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất và dẫn đến rơi vào tình trạng thụđộng, ỷ lại, không đem đến hiệu quả cao trong hoạt động thực tiễn Tuy vậy, chủnghĩa duy vật siêu hình đã có công rất lớn trong việc chống lại thế giới quan duy tâmtôn giáo, nhất là giai đoạn lịch sử chuyển từ thời kì trung cổ sang phục hưng ở cácnước Tây Âu Ph Anghen đã từng vạch rõ sự hạn chế của phương pháp siêu hình là
“chỉ nhìn thấy sự vật mà không thấy mối liên hệ qua lại giữa những vật ấy, chỉ nhìn thấy sự vật ấy mà không thấy sự tiêu vong, phát sinh của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh cảu những sự vật ấy mà quên đi sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng” (“C Mark, Anghen toàn tập, tập 20, trang37, NXB Chính trị quốc gia”).
Trong thực tế cũng vậy, khi nhìn nhận một sự vật hiện tưởng bằng cảm quan siêuhình, tức là chỉ xem xét nó trên một khía cạnh, cô lập nó với hiện thực khách quan sẽdẫn đến những đánh giá sai lệch về bản chất của sự vật, hiện tượng; đơn giản như việcnăm ông thầy bói mù trong truyện ngụ ngôn Việt Nam, mỗi người khi chỉ sờ vào một
bộ phận của con voi mà đã cho rằng đó là toàn bộ cơ thể của con voi là tư duy phiếndiện, chủ quan, không phản ánh đúng hiện thực Đó là một trong những hạn chế lớnnhất của chủ nghĩa duy vật siêu hình mà sau này chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời
đã giúp nó hoàn thiện
Trang 83. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Khái quát lại, lịch sử của triết học từ thời kì cổ đại cho đến nay luôn là lịch sử đấutranh không ngừng nghỉ giữa các trường phái triết học, sự đấu tranh về hệ tư tưởng,khuynh hướng khác nhau đều hướng đến việc giải quyết một trong những vấn đề cơbản của triết học: giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào quyết định cái nào?Tuy nhiên quan điểm về chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước chủ nghĩa Mácđều bộc lộ những hạn chế nhất định về mối quan hệ của vật chất và ý thức như: tuyệtđối hóa vai trò của hoặc là vật chất hoặc là ý thức và đặc biệt không thấy mối quan hệbiện chứng giữa chúng, tức là không thấy được sự tác động, ảnh hưởng qua lại của vậtchất và ý thức Trên cơ sở đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng do Mác và Ăng-ghen xâydựng sau đó được Lê-nin phát triển đã gạt bỏ các quan niệm duy tâm, thần bí, chủquan để đưa ra các quan điểm khoa học của mình về vật chất và ý thức cũng như mốiquan hệ giữa chúng Vậy, mối liên hệ giữa vật chất và ý thức được thể hiện như thếnào trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng?
3.1 Thứ nhất, ta đề cập đến vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức
Theo Lê-nin, “vật chất” là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan,
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chép lại, chụp lại, phảnánh lại, không lệ thuộc vào cảm giác Như vậy, ông đã đặt vật chất trong mối tươngquan đối lập với ý thức, hiểu vật chất là tất cả những gì tác động vào giác quan củacon người tạo nên cảm giác, và cảm giác là sự phản ánh của ý thức, để thông qua đókhẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức
3.1.1 Vật chất quyết định nguồn gốc (sự hình thành) của ý thức
Cơ sở lí luận của khẳng định này chính là khoa học và phép biện chứng khoa học,khoa học hiện đại đã chứng minh rằng giới tự nhiên có trước con người, con người có
ý thức trên trái đất này chỉ mới cách đây vài triệu năm, còn trái đất, hệ mặt trời đã cócách đây vài tỉ năm Hơn nữa, xét về nguồn gốc tự nhiên của ý thức, mặc dù cơ quanphản ánh của ý thức là bộ óc người nhưng nếu không có sự tác động của các sự vậthiện tượng bên ngoài thì bộ não người cũng không có đối tượng để phản ánh Lấy một
Trang 9ví dụ, nếu một người chưa bao giờ nhìn thấy, ăn thử quả chanh thì làm sao biết vịchua của chanh càng không có phản ứng gì khi nghe nói về “chanh”, nhưng ngược lạimột người khi đã biết rõ về quả chanh thì chỉ cần nghe nhắc đến từ “chanh” thôi đã cóphản ứng nuốt nước bọt Ví dụ trên chứng tỏ rằng, nếu không có sự tác động của vịchua của chanh vào lưỡi và khiến não người hình thành phản xạ có điều kiện để phảnứng với thông tin trên thì sẽ chẳng bao giờ có chuyện con người ta có ý thức về tráichanh và phản ánh nhận thức đó bẳng hành động nuốt nước bọt cả! Chính vì lí do đó
mà ý thức chính là sự phản ánh một cách năng động sáng tạo thế giới khách quan haythế giới vật chất Mặt khác, nếu xét về nguồn gốc xã hội của ý thức, có hai yếu tốquan trọng là lao động và ngôn ngữ: Thông qua lao động con người buộc phải sửdụng công cụ sản xuất để tác động vào thế giới nhằm tạo ra các của cải vật chất, giúpcon người sinh tồn và phát triển, đồng thời làm cho giới tự nhiên bộc lộ ra thuộc tính,kết cấu, bản chất, quy luật của nó và từ đó con người có những nhận thức cụ thể hơn
về giới tự nhiên nhằm phục vụ mục đích, quá trình cải tạo thế giới, giống như
Ăng-ghen đã từng nói rằng “trí tuệ con người phát triển song song với việc cải biến tự nhiên” Nhờ lao động, con người nảy sinh ra ngôn ngữ, góp phần hình thành nên các
mối quan hệ xã hội Khi nghiên cứu về con người, Mác có một quan điểm rất hay,
Mác đã khẳng định “trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Do đó, nói tóm lại, vật chất phải có trước để quyết định, còn ý
thức là cái có sau, là cái phản ánh vật chất Nói tóm lại, điều đó cho thấy, vật chất lànguồn gốc của ý thức, là tiền đề cho sự hình thành của ý thức!
3.1.2 Vật chất quyết định bản chất của ý thức
Ý thức chính là sự phản ánh năng động sáng tạo thế giới khách quan vào bộ nãongười, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Vật chất và ý thức đều là hiệnthực, tức là đều tồn tại nhưng có sự đối lập: Ý thức là cái phản ánh, vật chất là cáiđược phản ánh, có nghĩa là vật chất độc lập với ý thức, quy định ý thức còn ý thức lạichịu sự chi phối của vật chất, lấy cái hiện thực khách quan làm tiền đề và không phải
là một hiện tượng vật chất Hơn thế nữa, ý thức còn mang bản chất của lịch sử-xã hội,tính lịch sử-xã hội của ý thức thể hiện ở nguồn gốc hình thành và phương thức vận
Trang 10động, phát triển của nó trong mối quan hệ chặt chẽ với thực tiễn, không tách rời thực
tiễn Do đó, Mác đã khẳng định rằng: “Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” So sánh quan điểm này với
chủ nghĩa duy tâm, cả CNDT chủ quan hay khách quan đều khẳng định ý thức khôngphản ánh thế giới khách quan mà nó là do chính ý thức sinh ra, sự phát triển của khoahọc tự nhiên đã bác bỏ quan điểm sai lầm này; còn đối với chủ nghĩa duy vật trướcMác với tư duy siêu hình lại đem đồng nhất vật chất với ý thức, coi ý thức cũng chỉ làmột dạng vật chất, não người tiết ra ý thức cũng như gan tiết ra mật vậy! Những tưtưởng sai lệch trên đã bị bác bỏ bởi CNDV biện chứng, khẳng định bản chất của ýthức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan và là hình ảnh chủ quancủa nó thông qua sự cải biến của bộ óc người Từ đó cũng nhằm khẳng định vai tròquyết định của vật chất đối với bản chất của ý thức! Lấy một ví dụ đơn giản như cùngnhìn vào một bức tranh nhưng không phải ai cũng khen đẹp và ngược lại, không phải
ai cũng chê xấu Tính “đẹp” của bức tranh được phản ánh vào trí óc của mỗi người làkhác nhau vì nó bị chính tư duy của mỗi người cải biến đi, không ai giống ai, rất linhhoạt và năng động, tạo ra sự đa dạng của cái khách quan, tức là bức tranh mà kháiquát lên là vật chất
3.1.3 Vật chất quyết định nội dung của ý thức
Có thể nói, vật chất quyết định nội dung của ý thức hay nói cách khác, vật chất như
thế nào thì ý thức như thế ấy Khẳng định cho điều này, C Mác đã từng nói “Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào đầu óc con người và được cải biến trong đó” Thật vậy, bản chất của ý thức là phản ánh nên ý thức chắc chắn sẽ mang
thông tin và chứa đựng những nội dung, đặc điểm của thế giới vật chất
Và một điều chắc chắn rằng, con người dù có óc sáng tạo hay giàu sức tưởng tưởngđến đâu đi chăng nữa thì cũng không thể thoát li khỏi đời sống vật chất, con người lạicàng không thể tự nghĩ ra những thứ không thuộc thế giới vật chất, do vậy toàn bộ nộidung của ý thức đều do điều kiện vật chất quyết định
Dân gian ta thường có câu:
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Trang 11Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”
Đặc biệt, một dẫn chứng khác cho luận điểm trên đó chính là nếu xét trên cấp độ tưtưởng, lí luận, có thể thấy, phong trào công nhân chính là tiền để thực tiễn để kháiquát cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác, và là cơ sở để hình thành nên hệ tư tưởng khoahọc tiến bộ, dẫn đường cho phong trào đấu tranh chống lại áp bức, bóc lột tàn bạo củagiai cấp công nhân-vô sản trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam ta
3.1.4 Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, vật chất quyết định mọi sự biến đổi của ýthức, hay nói cách khác, khi vật chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng thay đổitheo Bởi, ý thức là sự phản ánh của vật chất, chịu sự chi phối của vật chất về nộidung Đương nhiên, sự thay đổi này cũng có rất nhiều mức độ: thay đổi toàn bộ haythay đổi từng bộ phận, thay đổi nhanh hay chậm là còn tùy thuộc vào điều kiện, hoàncảnh nhất định, nhưng, sớm hay muộn đều chắc chắn sẽ thay đổi Khi nói đến việc vậtchất làm biến đổi mọi nội dung của ý thức, ta có thể lấy một dẫn chứng điển hình đó
là truyền thống yêu nước của dân tộc ta từ thời chiến đấu trên chiến trường chống lạimọi kẻ thù xâm lược cho đến ngày hôm nay, khi đất nước ta đang phải đối diện vớimột kẻ thù chung của thế giới đó là đại dịch Covid-19: Trước đây, đứng trước những
kẻ thù hung hãn, lớn hơn ta về mọi mặt, toàn dân ta vẫn một lòng đoàn kết, anh dũng,thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu khuất phục, không chịu làm nô lệ, làm taysai cho bọn ngoại xâm Ngày nay, đất nước hòa bình, điều kiện vật chất ngày một cảithiện, chiến tranh bom đạn đã lùi xa, thì ngay lúc này, Việt Nam nói riêng và toàn thế
Trang 12giới nói chung lại phải gồng mình chống lại dịch bệnh quái ác, đã và đang dần cướp
đi sinh mạng của cả trăm nghìn người, làm suy thoái cả nền kinh tế, văn hóa, xã hội.Trong bối cảnh như vậy, tình yêu nước của nhân dân ta lại một lần nữa được thể hiện
rõ qua hình ảnh những chiến sĩ áo trắng, những y bác sĩ và nhân viên y tế ngày đêm lolắng, mất ăn mất ngủ chữa trị cho bệnh nhân; hình ảnh của những chú công an, bộ độingày đêm túc trực ở khu cách li, bảo vệ cộng đồng; hình ảnh của Đảng, Chính Phủlàm việc không ngừng nghỉ, bận rộn, sốt sắng đưa ra các biện pháp chống dịch kịpthời đến người dân; hay việc xây những cây ATM phát gạo miễn phí cho người nghèo,những tấm gương người tốt việc tốt sẵn sàng miễn phí tiền thuê nhà cho công nhân,người lao động, …Tất cả những nghĩa cử cao đẹp đó chính là biểu hiện của tình đoànkết, của lòng yêu nước sâu sắc Có thể thấy, ở mỗi thời kì khác nhau, trong điều kiện
và hoàn cảnh khác nhau, tình yêu nước, ý thức dân tộc cũng có những biểu hiện khácnhau song đều rất đáng được trân trọng, gìn giữ và phát huy Tin chắc rằng, chỉ cần cảnước đồng lòng thì bất cứ khó khăn nào cũng vượt qua, thành công nào cũng có thểđạt được!
3.2 Vai trò của ý thức có thể tác động trở lại vật chất
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức không hoàn toàn thụ động
mà nó có tính độc lập tương đối, có thể tác động, ảnh hưởng tới vật chất Lê-nin đã
từng nói: “Ý thức con người không phải chỉ để phản ánh thế giới khách quan mà còn
để cải tạo thế giới khách quan” Nói như vậy bởi vì bản chất của ý thức là phản ánh
vật chất một cách năng động, sáng tạo, ý thức ở đây là ý thức của con người và chỉ cócon người mới có ý thức cho nên khi nói đến vai trò của ý thức đối với vật chất tức làmuốn đề cập đến vai trò của con người thông qua hoạt động thực tiễn!
3.2.1 Sự tác động của ý thức lên vật chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Thứ nhất, ý thức tác động lên vật chất phụ thuộc vào mức độ phản ánh của ý thức Sẽ
là tích cực nếu trình độ phản ánh của ý thức cao, thể hiện những nhận thức, đánh giáđúng đắn, tiến bộ về thực tại và sẽ là tiêu cực nếu trình độ nhận thức kém, phản ánhsai sự thật, thể hiện cái nhìn thiển cận, thiếu xác thực về thực tại Ví dụ, cùng một vấn
đề nhưng người khôn ngoan và thông minh sẽ giải quyết theo cách khác còn những
Trang 13người vội vàng, bốc đồng, thiếu kiến thức sẽ giải quyết theo một cách khác, giốngnhư việc một bức tranh đẹp, một bản nhạc hay, một triết lí đúng đắn không thể đưacho một con người không có con mắt nghệ thuật và tư duy sáng tạo mà phải đượcthẩm định bởi những tâm hồn nghệ thuật, yêu cái đẹp thì mới đưa ra những nhận xétkhách quan nhất về sự vật
Thứ hai, sự tác động của ý thức lên vật chất còn phụ thuộc vào mức độ thâm nhập của
ý thức vào quần chúng Trong diễn biến phức tạp của Covid-19, ai ai cũng lo sợ rằngmình nhiễm bệnh, mình phải cách li nhưng để toàn xã hội đẩy lùi được dịch bệnh thì
đòi hỏi cần phải có ý thức chung của toàn xã hội Yêu nước lúc này phải nói là “ai ở đâu thì đứng yên ở đó” và để làm được điều đó, nhận thức phải được thâm nhập thật
sâu, thật rộng vào cộng đồng, vào từng cá nhân, từng thành phần của xã hội!
Thứ ba, nó phụ thuộc vào điều kiện con người thực hiện hoạt động thực tiễn dưới sựchỉ đạo của ý thức Điều đó có nghĩa là, xét cho đến cùng, điều kiện vật chất vẫnquyết định ý thức của con người Không có nền tảng là điều kiện vật chất thì ý thức cótốt đến đâu vẫn không thể đưa vào đời sống thực tế Ví dụ như một người có tốt đếnđâu, có muốn làm từ thiện giúp đỡ mọi người đến đâu mà chính bản thân mình cònchưa lo được cuộc sống của chính mình thì mong muốn đó mãi chỉ là cái hư ảo, cáikhông thể đạt được!
3.2.2 Ý thức tác động trở lại thế giới vật chất nhưng thường biến đổi chậm hơn so với thế giới vật chất
Bản thân ý thức là cái phản ánh vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.Trong khi thế giới vật chất thay đổi với tốc độ nhanh thì ý thức là cái phản ánh nênthường không bắt kịp và trở nên lạc hậu Hơn nữa, một số hình thái của ý thức xã hộithường có tính bảo thủ, khó thay đổi như những tư tưởng về tôn giáo, những quanniệm về chuẩn mực đạo đức, những tập tục xa xưa, …và đồng thời, ý thức thường gắnliền với lợi ích của những nhóm, những tập đoàn người, những giai cấp nhất địnhtrong xã hội, vì vậy mà chúng trở thành công cụ để các lực lượng phản tiến bộ dùng
để truyền bá nhằm chống đối các lực lượng tiến bộ Đó chính là những nguyên nhânkhiến cho ý thức thường khó thay đổi hơn hoặc chậm hơn so với vật chất Lấy ví dụ,