1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ

227 878 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Tác giả Vũ Thị Hương Lý
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thanh Bình, PGS.TS Phan Thanh Long
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử giáo dục
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện cơ bản của giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ...52 Kết luận chương 1...56 Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN GIÁO DỤC TÍNH K

Trang 1

- -VŨ THỊ HƯƠNG LÝ

GIÁO DỤC TÍNH KỶ LUẬT HỌC TẬP CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử giáo dục

Mã số: 62.14.01.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Nguyễn Thanh Bình

2 PGS.TS Phan Thanh Long

Trang 2

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu là của riêng tôi Các

số liệu khảo sát và thực nghiệm là kết quả nghiên cứu trung thực,chưa công bố ở các tài liệu khác Nếu có gì sai, tác giả xin hoàn toànchịu trách nhiệm!

Tác giả luận án

Vũ Thị Hương Lý

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Mục lục ii

Danh mục những chữ viết tắt sử dụng trong luận án vi

Danh mục các bảng vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Luận điểm bảo vệ 6

9 Đóng góp mới của luận án 6

10 Cấu trúc của luận án 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC TÍNH KỈ LUẬT HỌC TẬP CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 8

1.1.1 Những nghiên cứu về giáo dục tính kỷ luật học tập ở nước ngoài 8

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về giáo dục tính kỉ luật học tập ở Việt Nam 13

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 16

1.2.1 Tính kỷ luật 16

1.2.2 Kỷ luật học tập và tính kỉ luật học tập 18

1.2.3 Tín chỉ và đào tạo theo tín chỉ 23

Trang 5

1.2.4 Tính kỉ luật học tập của sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo

theo học chế tín chỉ 24

1.3 Giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong

đào tạo theo học chế tín chỉ 34

1.3.1 Quan niệm về giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng

sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 34 1.3.2 Mục tiêu giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư

phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 36 1.3.3 Nhiệm vụ giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm

trong đào tạo theo học chế tín chỉ 37 1.3.4 Nội dung giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư

phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 37 1.3.5 Các hình thức giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng

sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 42 1.3.6 Phương pháp giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng

sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 46 1.3.7 Đánh giá kết quả giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao

đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 48 1.3.8 Điều kiện cơ bản của giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao

đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 52

Kết luận chương 1 56 Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN GIÁO DỤC TÍNH KỈ LUẬT HỌC TẬP

CHO SINH VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐÀO

TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 59 2.1 Kinh nghiệm tổ chức đào tạo trong học chế tín chỉ nhằm phát huy

tính kỷ luật học tập tự giác của sinh viên của một số nước trên thế giới 59 2.2 Một số chủ trương chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ và

vai trò của việc phát huy tính tích cực, tự giác học tập của sinh viên

trong các trường Cao đẳng, Đại học hiện nay 61

Trang 6

2.3 Thực trạng tính kỷ luật học tập và giáo dục tính kỷ luật học tập cho

sinh viên trong các trường cao đẳng sư phạm hiện nay 62

2.3.1 Giới thiệu về khảo sát thực trạng 62 2.3.2 Mục tiêu, nội dung, đối tượng và phương pháp khảo sát thực trạng

62

2.3.3 Phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng tính kỷ luật học tập của

sinh viên cao đẳng sư phạm của khi thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ

69

2.4 Phân tích kết quả thực trạng giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh

viên ở các trường cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 88

2.4.1 Đánh giá của các lực lượng giáo dục và tự đánh giá của sinh viên

về việc thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục kỷ luật học tập cho sinh viên

88

2.4.2 Đánh giá của các lực lượng giáo dục và đánh giá của sinh viên về

các lực lượng tham gia giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao

đẳng sư phạm 90 2.4.3 Thực trạng đánh giá của các lực lượng giáo dục và sinh viên về các

biện pháp giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm

trong đào tạo theo học chế tín chỉ 92

Kết luận chương 2 101 Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH KỈ LUẬT HỌC TẬP CHO

SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC

CHẾ TÍN CHỈ 103 3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh

viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 103 3.2 Biện pháp giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư

phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 106

3.2.1 Nhóm biện pháp xây dựng ý thức kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng

sư phạm 107

Trang 7

3.2.2 Nhóm biện pháp tổ chức rèn luyện hành vi thói quen chấp hành kỷ

luật học tập 116

3.2.3 Nhóm biện pháp kích thích và điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi chấp hành kỷ luật học tập của sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 122

3.2.4 Nhóm biện pháp xây dựng môi trường giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 124

3.3 Thực nghiệm sư phạm về biện pháp giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ 128

3.3.1 Khái quát chung về quá trình thực nghiệm 128

3.3.2 Tiến hành thực nghiệm 130

3.4 Kết quả và phân tích kết quả thực nghiệm 133

3.4.1 Kết quả thực nghiệm tác động lần 1 133

3.4.2 Kết quả thực nghiệm tác động lần 2 139

3.4.3 Hiệu quả của các tác động trong thực nghiệm trên lớp thực nghiệm .144

Kết luận chương 3 145

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 1PL

Trang 8

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

BGD & ĐT Bộ giáo dục và Đào tạoCBQLSV Cán bộ quản lý sinh viên

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các lực lượng GD đánh giá nhận thức về các yêu cầu kỷ luật học tập

70Bảng 2.2 Tự đánh giá của SVCĐSP về những hiểu biết đối với yêu cầu KLHT

72Bảng 2.3 So sánh nhận thức về vai trò của KLHT ở SV có học lực khác nhau 74Bảng 2.4 Đánh giá của các lực lượng GD về thái độ thực hiện KLHT của SV

75Bảng 2.5 Tự đánh giá của SVCĐSP về thái độ thực hiện kỷ luật học tập 77Bảng 2.6 Bảng so sánh ý chí quyết tâm thực hiện KLHT của SV có học lực

khác nhau 79Bảng 2.7 Đánh giá của GV và các lực lượng GD về hành vi chấp hành

KLHT của SVCĐSP trong các hoạt động học tập 80Bảng 2.8 Tự đánh giá của SV về hành vi chấp hành KLHT trong các hoạt

động học tập 84Bảng 2.9 So sánh hành vi chấp hành KLHT của SV có học lực khác nhau 86Bảng 2.10 Đánh giá của các lực lượng GD và đánh giá của SV về việc thực

hiện mục tiêu, nội dung giáo dục tính KLHT cho SV 88Bảng 2.11 Đánh giá của các lực lượng GD và đánh giá của SV về các biện

pháp GD tính KLHT cho SVCĐSP trong ĐT theo học chế TC 92Bảng 2.12 Đánh giá của các lực lượng GD và đánh giá của SV về các hình

thức xử lý vi phạm KLHT của SVCĐSP 95Bảng 2.13 Đánh giá của các lực lượng GD và sinh viên về nguyên nhân thực

trạng tính KLHT cho SVCĐSP trong đào tạo theo học chế TC 98Bảng 3.1 Đo đầu học lực, nhận thức, thái độ, hành vi chấp hành yêu cầu KLHT

của SV lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trước thực nghiệm 132Bảng 3.2 Tính KLHT của lớp thực nghiệm trước và sau thực nghiệm lần 1

134Bảng 3.3 Kết quả đo tính KLHT của lớp ĐC trước và sau thời gian TN lần 1

136Bảng 3.4 So sánh điểm tính KLHT của lớp TN và ĐC sau TN lần 1 137Bảng 3.5 Bảng tính hệ số tương quan giữa tính KLHT và học lực của lớp

TN sau TN lần 1 138Bảng 3.6 Kết quả đánh giá tính KLHT của lớp thực nghiệm sau TN lần 2

140Bảng 3.7 Kết quả đo tính KLHT của lớp đối chứng cùng thời gian tương

ứng thực nghiệm lần 2 141Bảng 3.8 So sánh kết quả tính KLHT của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

sau thực nghiệm lần 2 142

Trang 10

Bảng 3.9 Kết quả tính tương quan Pearson giữa điểm TB học tập và tính

KLHT của lớp thực nghiệm sau thực nghiệm lần 2 143Bảng 3.10 Kết quả học tập của lớp thực nghiệm sau thời gian thực nghiệm

bằng các biện pháp giáo dục tính KLHT 144Bảng 3.11 Kết quả học tập của lớp ĐC cùng thời gian thực nghiệm 145

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kỷ luật nói chung và kỷ luật học tập trong nhà trường nói riêng là một trongnhững yếu tố quan trọng để tạo ra sự ổn định, trật tự, sự thống nhất cao và vẻ đẹpvăn hóa của mỗi nhà trường Đặc biệt, kỷ luật là yếu tố tạo nên sự thành công chomọi hoạt động dạy - học và giáo dục trong nhà trường Trong đó, nhiệm vụ dạy học

và giáo dục học sinh là nhiệm vụ chính trị quan trọng của nhà trường Chính vì vậy,việc xây dựng nhà trường “kỷ cương, tình thương, trách nhiệm” được xem là mộttrong những nhân tố hàng đầu đảm bảo thành công cho mọi hoạt động của nhàtrường và sự phát triển của mỗi nhân cách học sinh trong nhà trường đó Nếu thiếu

đi yếu tố kỷ luật thì chắc chắn nhà trường không còn là một môi trường giáo dụcđào tạo nên những con người, những công dân chân chính của xã hội

Xuất phát từ vai trò quan trọng của kỷ luật trong nhà trường như vậy cho nêngiáo dục tính kỷ luật cho người học với tư cách là một bộ phận của giáo dục đạođức là nhiệm vụ cơ bản của các nhà trường nói chung, trong đó có trường cao đẳng

sư phạm nói riêng, nơi được so sánh như là cái nôi đào tạo nên những thế hệ thanhniên – những nhà giáo tương lai để họ trở thành những người có kiến thức, có kỹnăng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức mẫu mực, đồng thời họ cũng phải có tính

kỷ luật học tập tự giác cao để không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môntrong suốt cuộc đời gắn với nhiệm vụ “trồng người”

Trong bối cảnh giáo dục đại học chung nước ta trong những năm gần đâyđang thực hiện chuyển đổi hình thức đào tạo từ học chế niên chế sang hình thức đàotạo theo học chế tín chỉ thì đã có một số trường CĐSP đã và đang thực hiện hìnhthức đào tạo theo tín chỉ Trong quá trình thực hiện đào tạo theo tín chỉ,các trườngCĐSP đã cố gắng bám sát với bản chất của hình thức đào tạo này là xu hướng “cánhân hóa trong nền giáo dục cho số đông người” Muốn vậy, đòi hỏi các trườngphải sự có chuẩn bị nhiều yếu tố, trong đó khâu đặc biệt quan trọng là phải làm tốtcông tác giáo dục tính kỷ luật học tập tự giác cho sinh viên

Trang 12

Tuy nhiên, từ thực tế triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ ở các trường đạihọc nói chung và một số trường cao đẳng sư phạm nói riêng đã cho thấy công tácgiáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên chưa được thực hiện tốt, đồng thời tính

kỷ luật học tập của một số lượng lớn sinh viên cao đẳng sư phạm còn thiếu tự giác,

ý thức học, đặc biệt là tự học còn yếu kém, chất lượng đào tạo chưa được như yêucầu của chuẩn đầu ra trong các chương trình đào tạo Điều đó tạo ra sự e ngại lớncho nền giáo dục của nước nhà khi nhìn vào đội ngũ những nhà giáo dục sẽ đảmđương, gánh vác nền giáo dục trong một tương lai gần nhất Điều đó một lần nữađòi hỏi những nhà quản lý giáo dục và những nhà giáo dục trong các trường caođẳng sư phạm hiện nay phải có trách nhiệm điều chỉnh, thay đổi thực trạng trên

Đã có một số công trình nghiên cứu về giáo dục tính kỷ luật học tập nhưngchủ yếu mới nghiên cứu về các biện pháp giáo dục tính kỷ luật học tập trên lớpcho đối tượng là học sinh phổ thông và những nghiên cứu về biện pháp giáo dụctính kỷ luật cho học viên các trường quân đội Như vậy, vấn đề nghiên cứu về giáodục tính kỷ luật học tập cho đối tượng là sinh viên cao đẳng sư phạm trong hìnhthức đào tạo theo học chế tín chỉ còn chưa có Vì vậy, cần thiết phải có những

nghiên cứu sâu về vấn đề này Do đó, tác giả luận án đã chọn đề tài: “Giáo dục

tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ” để làm luận án tiến sĩ.

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng

sư phạm trong hình thức đào tạo theo học chế TC nhằm góp phần nâng cao chấtlượng đào tạo

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình đào tạo sinh viên ở trường cao đẳng sư phạm

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa cách thức giáo dục tính kỉ luật học tập với kết quả đạtđược về tính kỉ luật học tập của sinh viên cao đẳng sư phạm

Trang 13

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu các biện pháp giáo dục tính KLHT trong cáchoạt động học tập của SV trong hình thức đào tạo theo học chế TC

Đối tượng khảo sát gồm 720 SV ở khoa sư phạm của một số trường cao đẳng

sư phạm đang tiến hành đào tạo theo học chế TC

5 Giả thuyết khoa học

Tính kỷ luật học tập của sinh viên cao đẳng sư phạm trong các hoạt độnghọc, đặc biệt là hoạt động tự học của hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ hiện naycòn thiếu tự giác, thiếu nghiêm túc Nếu các biện pháp giáo dục tính KLHT tácđộng có hệ thống vào nhận thức, thái độ, hành vi và các điều kiện thực hiện nội quyhọc tập trong môi trường đào tạo theo tín chỉ thì chúng sẽ có ảnh hưởng tích cựcđến tính kỷ luật học tập và kết quả học tập của SV

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Phân tích cơ sở lý luận về giáo dục tính KLHT cho SVCĐSP trong đào tạo theo học chế TC.

6.2 Phân tích cơ sở thực tiễn và đánh giá thực trạng giáo dục tính KLHT cho sinh viên trong đào tạo theo học chế TC ở một số trường cao đẳng sư phạm.

6.3 Đề xuất biện pháp giáo dục tính KLHT cho SVCĐSP trong hình thức đào tạo theo học chế TC và thực nghiệm.

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Hồi cứu, phân tích, tổng hợp các tư liệu khoa học về tính kỷ luật, tính kỷ luậthọc tập của SVCĐSP để xây dựng cơ sở lý luận của GD tính kỷ luật học tập cho SVtrong đào tạo theo học chế tín chỉ

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

a Phương pháp quan sát

Mục đích: Nhằm tìm hiểu tình hình kỉ luật học tập và những biện pháp giảng

viên đã sử dụng để giáo dục tính kỉ luật trong học tập cho sinh viên

Nội dung quan sát:

Trang 14

+ Thái độ và hành vi thực hiện kỉ luật học tập của sinh viên trong các giờ học

có phù hợp hay không hợp với các yêu cầu của kỉ luật học tập

+ Các phương pháp và hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp giáo dụctính kỉ luật học tập của giảng viên

Hình thức quan sát: Thông qua dự giờ để quan sát trực tiếp là chủ yếu.

b Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích của điều tra: Nhằm tìm hiểu nhận thức của giảng viên và sinh

viên về các vấn đề của tính kỉ luật học tập và giáo dục tính kỉ luật học tập trongđào tạo theo TC

Nội dung điều tra:

+ Đối với giảng viên: Đánh giá của GV về trình độ nhận thức của SV về cácyêu cầu KLHT được thể hiện trong hệ thống các văn bản quy định đào tạo, nội quycủa nhà trường và thái độ, hành vi thực hiện KLHT của SV; đánh giá về thực trạngnội dung giáo dục tính KLHT của các trường CĐSP, các lực lượng tham gia vàoquá trình giáo dục tính KLHT cho SV và các biện pháp giáo dục tính KLHT đượccác lực lượng giáo dục trong các trường cao đẳng sư phạm đang sử dụng hiện nay

+ Đối với sinh viên: nhận thức của SV về các yêu cầu, qui định với hoạtđộng học tập được thể hiện trong các văn bản quy định đào tạo, nội quy của nhàtrường, thái độ và hành vi thực hiện theo KLHT của SV, nội dung giáo dục tínhKLHT của các trường và sự tham gia của các lực lượng giáo dục trong nhà trườngCĐSP vào quá trình giáo dục tính KLHT cho SV và đánh giá về các biện pháp giáodục tính kỉ luật học tập của các lực lượng giáo dục đang sử dụng hiện nay

Hình thức điều tra: Sử dụng bảng hỏi đã chuẩn bị phát cho giảng viên, sinh

viên, hướng dẫn họ cách thức trả lời, tổ chức cho họ trả lời và thu phiếu

c Phương pháp phỏng vấn (phỏng vấn cá nhân và nhóm)

Mục đích phỏng vấn: Thu thập thêm thông tin trực tiếp về thực trạng tính

KLHT của sinh viên và công tác giáo dục tính KLHT cho sinh viên

Nội dung phỏng vấn: Phỏng vấn cán bộ - giảng viên, sinh viên về thực trạng kỉ

luật học tập và giáo dục kỉ luật học tập ở một số trường cao đẳng sư phạm và nguyênnhân của thực trạng đó

Trang 15

Hình thức phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp, qua điện thoại, qua E.mail

d Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Mục đích thực nghiệm: nhằm xác định hiệu quả và cách thức tổ chức của các

biện pháp đã đề xuất đối với việc nâng cao tính kỉ luật học tập cho sinh viên trongquá trình giáo dục

Nội dung thực nghiệm: một số biện pháp giáo dục tính kỉ luật học tập cho

sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ

Đối tượng thực nghiệm: sinh viên của trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây

Hiệu quả của các biện pháp tác động được đánh giá trên sự chuyển biến vềcác mặt: nhận thức, thái độ, hành vi thực hiện kỉ luật học tập của nhóm thực nghiệm

so với nhóm đối chứng trong từng năm học

Nội dung nghiên cứu:

+ Nhận thức về yêu cầu KLHT trong các hoạt động học tập trên lớp, hoạtđộng tự học, hoạt động rèn luyện NVSPTX, hoạt động thực hành, thực tập sư phạmsau quá trình thực nghiệm tác động

+ Thái độ thực hiện yêu cầu KLHT trong các hoạt động học tập trên lớp,hoạt động tự học, hoạt động rèn luyện NVSPTX, hoạt động thực hành, thực tập sưphạm sau quá trình thực nghiệm tác động

+ Hành vi chấp hành yêu cầu KLHT trong các hoạt động học tập trên lớp,hoạt động tự học, hoạt động rèn luyện NVSPTX, hoạt động thực hành, thực tập sưphạm sau quá trình thực nghiệm tác động

+ Sự thay đổi về kết quả học tập của SV sau thực nghiệm

7.3 Nhóm phương pháp bổ trợ

7.3.1 Phương pháp chuyên gia

Nhằm thẩm định khung lý thuyết về giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinhviên cao đẳng sư phạm và các biện pháp giáo dục tính kỉ luật học tập được đề xuất.7.3.2 Phương pháp xử lí số liệu bằng toán thông kê

Nhằm xử lý số liệu thu thập được bằng phần mềm SPSS (thống kê mô tả vàthống kê suy luận)

Trang 16

8 Luận điểm bảo vệ

- Trong đào tạo theo TC, sinh viên được trao quyền ra quyết định về lộ trìnhhọc tập và chịu trách nhiệm về quyết định đó, cho nên KLHT của SV trong hìnhthức đào tạo theo học chế tín chỉ thể hiện cao hơn so với trong hình thức đào tạotheo niên chế và cần phải đạt đến mức độ tính KLHT tự giác

- Biện pháp giáo dục tính KLHT cho SV trong hình thức đào tạo theo học chếtín cần phải thay đổi so với hình thức đào tạo theo niên chế, bởi vì để đạt được tínhKLHT với tư cách là thuộc tính, phẩm chất nhân cách cần phải có những biện pháptác động để sinh viên vừa nhận thức được tính tất yếu của KLHT vừa có nhu cầu, ýchí thực hiện hành vi KLHT một cách tự giác, không đợi sự kiểm soát từ bên ngoài

- Do đó, để giáo dục được tính KLHT cho sinh viên cao đẳng trong học chế

TC đòi hỏi cần sử dụng đồng thời những biện pháp tác động vào ý thức và hành vichấp hành KLHT của SV và tạo dựng môi trường khích lệ KLHT trong nhà trường

và còn cần đặc biệt quan tâm khích lệ vai trò chủ thể của sinh viên trong quá trìnhgiáo dục tính KLHT để thúc đẩy quá trình chuyển hóa yêu cầu bên ngoài thành nhucầu tự thân

9 Đóng góp mới của luận án

- Xác định được quan niệm khoa học về tính KLHT của SVCĐSP trong đàotạo theo học chế tín chỉ và hệ thống khung lý luận về giáo dục tính KLHT cho sinhviên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ

- Phát hiện được được một số vấn đề thực trạng tính KLHT và công tác giáodục tính KLHT cho SVCĐSP của một số trường đào tạo theo học chế tín chỉ hiệnnay để từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện thựctrạng còn có những hạn chế

- Đề xuất bốn nhóm biện pháp giáo dục tính KLHT cho SV khoa sưphạm ở trường cao đẳng sư phạm nhằm tác động vào các mặt: ý thức chấp hànhKLHT, hành vi thói quen chấp hành KLHT và các biện pháp kích thích, điềuchỉnh nhận thức, thái độ và hành vi chấp hành KLHT của SVCĐSP, nhóm biện

Trang 17

pháp xây dựng môi trường giáo dục tính KLHT cho SVCĐSP trong đào tạotheo học chế TC.

- Những kế hoạch và kịch bản tổ chức giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinhviên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ có thể là tài liệu để thamkhảo cho các lực lượng giáo dục trong quá trình tổ chức hoạt động nhằm giáo dụctính kỷ luật học tập trong các trường cao đẳng sư phạm

10 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm: Ngoài phần mở đầu 3 chương, kết luận, khuyến nghị và danhmục tài liệu tham khảo

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC TÍNH KỈ LUẬT HỌC TẬP CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRONG ĐÀO TẠO

THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu về giáo dục tính kỷ luật học tập ở nước ngoài

- Những nghiên cứu về vai trò của giáo dục tính kỷ luật

Giáo dục tính kỷ luật như một phẩm chất nhân cách của con người đã đượcnhiều tác giả luận bàn, trong đó có thể kể đến như: C Mac và Ph Ăngghen Haiông đã cho rằng: Nhiệm vụ của chúng ta không phải chỉ giáo dục cho mình một thái

độ đúng đắn, hợp lý đối với các vấn đề hành vi mà còn phải giáo dục những thóiquen đúng đắn, tức là những thói quen hành động hoàn toàn không phải ngồi ngẫmnghĩ nữa, tức là người ta không thể làm khác được vì vốn đã quen làm như thế Vàviệc giáo dục những thói quen đó là công việc khó khăn rất nhiều [13, tr.29]

Trong nghiên cứu của tác giả Culacốp về vai trò của giáo dục phẩm chất –tính KL trên đối tượng thanh niên tác giả đã viết: Phải làm cho đối tượng giáo dụcbiến những yêu cầu, quy định có tính chất bắt buộc thành yêu cầu của chính bảnthân mình và việc thực hiện yêu cầu đó trở thành sự bức thiết của mỗi người Đồngthời tác giả đã xác định con đường hình thành phẩm chất này: Giáo dục một hành viđẹp đẽ, một thói quen ổn định luôn luôn hành động theo đúng yêu cầu, điều lệ,mệnh lệnh - việc này chỉ có thể làm được trên cơ sở sự giác ngộ cao, sự tin tưởngsâu sắc của họ vào những điều lệ ấy [13, tr.31]

Một lần nữa nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác giáo dục tính kỉ luậtcho học sinh trong trường học, nhà giáo dục A.X.Macarenco đã cho rằng: Sự rènluyện tính KL là một quá trình sư phạm phức tạp, là kết quả chung của toàn bộ côngtác giáo dục hoặc sản phẩm của toàn bộ công tác giáo dục [57, tr.37] và theo tác giả

kỷ luật sẽ tạo nên sự thống nhất, chặt chẽ và tạo ra “Vẻ đẹp cho bộ mặt văn hóa của nhà trường”, ông cũng nhấn mạnh thêm:“Trường học mà thiếu kỉ luật thì giống

Trang 19

như cái cối xay nước mà không có nước” và ông cho rằng, nhiệm vụ của trường học

phải xây dựng được cho mình những biện pháp giáo dục kỉ luật mà trong đó trướctiên cần giáo dục về KL là KLHT “Kỷ luật làm cho quá trình tổ chức giáo dục đảmbảo tiến hành có kết quả và ngược lại kỷ luật là kết quả nỗ lực của tập thể học sinhtrong các hoạt động của các em; học tập, lao động, sản xuất văn hóa… nó chính làkết quả của quá trình giáo dục Hiểu kỷ luật chỉ là những biện pháp, những trật tự bềngoài đó là điều nguy hại và sai lầm Vì điều đó tạo cho tập thể trẻ em sự chống đối,mong muốn được tự do thoát khỏi vòng kỷ luật Trong xã hội của chúng ta, kỷ luật

là hiện tượng đạo đức Tính vô kỷ luật, con người sống không có kỷ luật đó là conngười ta chống lại xã hội Kỷ luật của chúng ta luôn đi kèm ý thức Trẻ em cầnđược giáo dục để hiểu rằng muốn đảm bảo sự yên ổn về chính trị và đạo đức trongtập thể cần có kỷ luật [57]

Tác giả I.A.Cairov khi bàn về giáo dục tính kỉ luật trong các cơ sở giáo dục,tác giả đã thấy vai trò của việc giáo dục tính KLHT với kết quả hoạt động dạy vàhọc trong nhà trường: Kỷ luật có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập, giảng dạy Do

đó, muốn nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học phải chú ý đầy đủ đến việc rènluyện kỉ luật học tập cho học sinh [9]

Như vậy, điểm lại ở một số những quan điểm của các tác giả trên thế giới khibàn về vai trò của giáo dục tính kỉ luật các tác giả đều nhấn mạnh đến sự cần thiếtphải giáo dục phẩm chất này trên mọi đối tượng người học và quá trình giáo dụcnày là quá trình giáo dục khó khăn, lâu dài và phức tạp Nhờ có kỷ luật mà mọi hoạtđộng trong nhà trường được diễn ra theo đúng trật tự của nó

- Những nghiên cứu về điều kiện đảm bảo giáo dục kỷ luật tự giác trong học tập

Những nghiên cứu về vai trò chủ đạo của người giáo viên như là điều kiệnđảm bảo cho giáo dục kỷ luật tự giác trong học tập có thể kể đến như:

Tác giả V.E Gmurman [97] đã cho rằng: Việc thực hiện kỉ luật học tập củahọc sinh phụ thuộc phần lớn vào cách tổ chức hoạt động học của người giáo viên.Chính vì vậy, tác giả đưa ra yêu cầu cần phải:

- Tổ chức tốt giờ học, đảm bảo cho tất cả học sinh đều tham gia vào hoạt

Trang 20

động nhận thức tích cực.

- Giáo viên phải chuẩn bị bài chu đáo, giảng dạy nhiệt tình có sức lôi cuốn, hấp dẫn học sinh và duy trì giờ học bằng một nhịp độ thích hợp.

- Luôn để lớp “bận rộn với công việc, không dừng lại vì thiếu công việc”.

Cùng quan điểm với tác giả V.E Gmurman, tác giả Bondar [95] cũng chorằng: Kỷ luật là trật tự cần thiết cho mỗi giờ học, mỗi hoạt động chung của học sinhtrong và ngoài trường Để đảm bảo kỉ luật trong học tập, theo tác giả cần phải chú ýđến những đặc điểm sau:

- Học sinh nắm được mục đích của giờ học và trình tự công việc sẽ làm

- Tài liệu học tập, dụng cụ thí nghiệm cần được chuẩn bị sớm và chu đáo

- Giáo viên biết cách phối hợp nhiều cách thức dạy học

- Tất cả học sinh đều bị lôi cuốn vào công việc một cách tích cực

- Đưa ra yêu cầu rõ ràng, hợp lí đối với hành vi của học sinh trong giờ học.

Đồng thời tác giả cũng đưa ra quan niệm của mình khi cho rằng nhữngnguyên nhân dẫn đến học sinh vi phạm kỉ luật học tập là do giáo viên không khéoléo tổ chức công việc độc lập của học sinh trong giờ học và sự thiếu hiểu biết củacác em đối với những yêu cầu kỉ luật

Cùng quan điểm với hai tác giả trên còn có tác giả: A.X.Macarencô cũng

cho rằng, kỉ luật học tập của học sinh phụ thuộc vào việc tổ chức giờ học và nội dung công việc mà học sinh phải hoàn thành Theo tác giả, sở dĩ học sinh vi phạm

kỉ luật trong giờ học là do giáo viên không tính đến mức độ mệt mỏi của các em

và không chú ý đến thay đổi hình thức hoạt động trên lớp để giảm bớt sự mệt mỏicủa các em [57]

Tác giả Ân Thực Trước cũng cho rằng lớp học là môi trường chính yếu đểgiáo dục kỉ luật học tập cho học sinh Tác giả đã nêu ra một số phương pháp giáodục kỉ luật học tập cho học sinh:

- Phải phát triển đầy đủ tính tư tưởng của bài giảng

- Cần giảng bài thật tốt mới làm cho giờ học có sự hấp dẫn đối với học sinh

- Thường xuyên theo dõi hành vi của học sinh để kịp thời uốn nắn

Trang 21

Tác giả cũng nêu lên sự cần thiết phải xây dựng một chế độ, một nội quy lớphọc học tập thống nhất, trong đó phản ánh yêu cầu của việc giáo dục kỉ luật học tậpcho học sinh [77,tr24 - 37].

Như vậy, những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về điều kiện giáo dục

kỷ luật tự giác trong học tập cho học sinh đều có điểm chung khi tác giả đều nhấnmạnh đến vai trò của người giáo viên như là điều kiện tất yếu quyết định đến việcthực hiện KLHT của HS và cho rằng nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm KLHTcủa học sinh là do “giáo viên chưa tổ chức hợp lý” quá trình dạy học của mình.Quan niệm đến mức tuyệt đối hóa vai trò của giáo viên trong hình thức tổ chức dạyhọc trên lớp đối với việc thực hiện kỉ luật học tập của học sinh như vậy chưa thật sựđầy đủ mà cần xem vai trò của người GV như một yếu tố cơ bản ngoài ra còn cầnnhững yếu tố khác

Nghiên cứu bàn về tính tích cực, tự giác học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ

Học chế TC ra đời vào năm 1872 ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng sangcác nước Châu Âu từ những thập niên cuối của thể kỉ XX với triết lý nó không bắtbuộc người học phải học những gì mà người thầy có, mà người học được quyền lựachọn (chọn thầy, chọn môn học, chọn tiến trình học ) học những gì họ cần Đồngthời với triết lý giáo dục đó, hình thức đào tạo theo học chế TC cũng đòi hỏi ởngười học có tinh thần tự giác cao, nỗ lực hết mình mới hoàn thành được nhiệm vụhọc tập, trong đó lấy hình thức tự học là chủ đạo [1, tr.47] Muốn vậy, đòi hỏi ngườihọc cần phải có tính kỉ luật học tập Có thể nói, chưa có những nghiên cứu cụ thể,điển hình về tính KLHT của SV (trong đó có SVCĐSP) trong đào tạo trong học chế

TC nhưng cũng đã có nhiều tác giả nêu ra những quan niệm có liên quan và đề cậptới tính KLHT của SV ở trong những hình thức đào tạo gần gũi với hình thức đàotạo theo học chế TC như:

Tác giả R Retxke – người Đức đã đề cập tới tính KLHT của người SV khicho rằng: học tập ở đại học là một quá trình phát triển của con người, quá trình nàyphụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong các yếu tố đó thì yếu tố bên trong (tính tự giác

Trang 22

học tập) đóng vai trò quyết định đến kết quả học tập Việc hoàn thành có kết quảnhững nhiệm vụ học tập đặt ra đòi hỏi người học phải đấu tranh với bản thân mộtcách có phê phán và phải sáng tạo trong quá trình học [68, tr.33].

Ở Mỹ ngay từ những năm 1920 đã có các nghiên cứu chỉ ra phương phápgiáo dục dựa trên việc phát huy vai trò tự học của học sinh Theo quan điểm nàytoàn bộ hoạt động học của người học là do họ tự thực hiện theo những công việc màgiáo viên giao Với cách dạy như vậy, người học được chủ động bộc lộ khả nănghoạt động của bản thân

Trong cuốn “Những vấn đề tự quản trong hệ thống các trường cao đẳng”

xuất bản năm 1983 tại trường Đại học Tổng hợp Kazan do N.M.Paysakhov chủ biên

đã đề cập tới công tác độc lập tự học trong giờ lên lớp và giờ tự quản ở nhà của SV,trong đó ý thức kỉ luật của SV giữ vai trò quan trọng

Tác giả P.V.Êxipov đã cho rằng: Tự học là việc của học sinh tiến hành khikhông có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Trong đó người học phải

tự giác vươn tới mục đích đề ra Trong nghiên cứu của mình, tác giả cũng đưa raphương hướng để kích thích hoạt động tự học của học sinh là: Trong quá trình dạyhọc giáo viên có thể nêu lên hàng loạt các vấn đề và yêu cầu học sinh hoàn thànhtrong một thời gian xác định [27] Nhưng cách thức hướng dẫn người tự học đểhoàn thành những yêu cầu mà giáo viên giao thì tác giả chưa đề cập tới

Theo R.Singh đã đưa ra quan niệm để phân biệt quá trình dạy - học, tuy vẫnkhẳng định giáo viên giữ vai trò quan trọng song ông cũng nhấn mạnh: Người họcphải tích cực, chủ động trong quá trình học kiến thức và nhận ra tiềm năng của bảnthân mình [67]

Năm 1979 trong cuốn “Thuật ngữ giáo dục cho người lớn” do UNESCO

xuất bản bằng ba thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha đã xác định “Sự giáo dục mànội dung quá trình tự học được xác định bởi các nhu cầu, mong muốn của ngườihọc và họ tích cực tham gia vào việc hình thành và kiểm soát Sự giáo dục này đãhuy động những nguồn lực và kinh nghiệm của người học”

Tác giả Dewey trong “Dân chủ và giáo dục” đã viết: Tất cả những điều kiện

Trang 23

ngoại cảnh thuận lợi, tất cả những lời khuyên nhủ, tất cả những sự giúp đỡ tronghọc tập chỉ có thể phát huy được tác dụng một khi có sự cố gắng bản thân, không có

sự nỗ lực của bản thân thì không có sự học tập nào có kết quả được Làm việc tựlập, có chí kiên trì, có tinh thần phấn đấu cao cho mục đích đề ra, đặt yêu cầu caođối với bản thân, tinh thần kỷ luật tự giác sắt đá và chấp hành nghiêm túc các quyđịnh học tập – đó là điều kiện tiên quyết nhất thiết phải có để tiến bước một cách cókết quả đến đích của học tập [17]

Như vậy, các nghiên cứu về tính tích cực, tự giác của SV trong các hoạt độnghọc tập đều cho thấy, đối với hoạt động học tập của người SV đòi hỏi sự tự giác,tích cực học tập rất cao Chỉ khi người SV có sự tự giác, tích cực học tập mới đạtđược kết quả học tập theo mục tiêu đào tạo

Tóm lại: Tổng quan những nghiên cứu về giáo dục tính kỉ luật học tập đã

cho thấy vấn đề giáo dục tính kỉ luật học tập cho người học nói chung và cho sinhviên nói riêng đã được nhiều tác giả luận bàn ở những khía cạnh khác nhau nhưngđều có sự thống nhất trong quan niệm đều cho rằng giáo dục tính kỉ luật học tập làvấn đề quan trọng trong các cơ sở giáo dục Điều đó cho thấy, đây là một vấn đềcần được quan tâm và tiếp tục có những nghiên cứu sâu hơn trong nhiều đối tượngngười học khác nhau và ở những hình thức học tập khác nhau không chỉ có hìnhthức học tập trên lớp

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về giáo dục tính kỉ luật học tập ở Việt Nam

- Những nghiên cứu về tính KL và biện pháp giáo dục tính kỉ luật

Nghiên cứu về biện pháp giáo dục tính kỉ luật đã được các tác giả trong nước

đi sâu vào nghiên cứu, có thể kể đến những công trình sau: Luận án tiến sĩ giáo dục

học của tác giả Phạm Đình Hòe với đề tài:“Hệ thống biện pháp giáo dục kỷ luật cho học viên văn hóa nghệ thuật quân đội”[42]; Luận án tiến sĩ giáo dục học:

“Nghiên cứu quy trình tổ chức giáo dục kỉ luật cho học viên trong nhà trường quân đội” của tác giả Vũ Quang Hải [38], và “Sử dụng tổng hợp các phương pháp giáo dục thói quen hành vi kỉ luật cho học viên sĩ quan ở các trường đại học quân sự”,

luận án tiến sĩ giáo dục học của tác giả Phạm Minh Thụ [73]

Trang 24

Trong những nghiên cứu về giáo dục tính KL của các tác giả trên đã bàn luậnđến những biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỉ luật cho học viên trong họctập ở các nhà trường thuộc lực lượng vũ trang nhân dân Đặc biệt, các nghiên cứutrên đã làm rõ tác dụng, hiệu quả của các biện pháp giáo dục như nêu gương, thuyếtphục, khen thưởng, trách phạt đối với việc giáo dục tính KL cho HV và ở nhữngnghiên cứu này, các tác giả cũng đã phân tích được cấu trúc thành phần tạo nên tính

KL của HV Trong luận án của này, chúng tôi sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu

ở các công trình trên trong việc xác định cấu trúc tính KLHT của SVCĐSP (nhậnthức về KLHT, thái độ chấp hành KLHT và hành vi thực hiện KLHT) và sử dụngcác phương pháp giáo dục như: nêu gương, thuyết phục, khen thưởng, trách phạttrong các biện pháp đề xuất nhằm giáo dục tính KLHT cho SVCĐSP trong đào tạotheo học chế TC

- Những nghiên cứu về tính KLHT và biện pháp giáo dục tính kỉ luật trong hoạt động học tập của học sinh phổ thông

Năm 1991 trên tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục” công bố bài viết của tác giả

Nghiêm Thị Phiến, “Hình thành tính kỉ luật trong hoạt động học tập của học sinh cấp II”[65] và năm 1996 cũng trên tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, tác giả có bài viết: “Hình thành tính kỉ luật trong hoạt động học tập cho học sinh lớp 1”[64] Ở

hai công trình này, tác giả đã nêu lên đặc điểm và biểu hiện của tính kỉ luật trongnhà trường và các biện pháp tác động để nâng cao tính kỉ luật (tổ chức lớp, hàngtuần cho học sinh đánh giá về thái độ chấp hành kỉ luật, đề ra yêu cầu đối với họcsinh theo nhiều cách)

Luận án Phó tiến sĩ của tác giả Phạm Minh Hùng [45], khi nghiên cứu về

“Biện pháp giáo dục tính kỉ luật trong hoạt động học tập trên lớp cho học sinh đầu bậc tiểu học”, tác giả đã đưa ra được cách hiểu của tác giả về khái niệm tính KLHT

như là một phẩm chất nhân cách, một giá trị của học sinh tiểu học Tác giả đã nêu racác thành phần cơ bản của tính KLHT, xác định các biện pháp giáo dục tính KLHTcho học sinh đầu tiểu học và con đường hình thành phẩm chất này và phân tích cácyếu tố tạo thành kỉ tính KLHT, cấu trúc của tính KLHT

Trang 25

Theo tác giả, những yếu tố tạo thành tính KLHT gồm:

- Trước hết là thái độ đối với học tập Tính kỉ luật học tập trên lớp của họcsinh thể hiện ở sự nỗ lực và cố gắng tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thực hiệnnhiệm vụ học tập

- Tính kỉ luật trong hoạt động học tập có liên quan mật thiết với hứng thú học tập

- Tính kỉ luật học tập có quan hệ chặt chẽ với tính tích cực độc lập của họcsinh Nếu trong giờ học sinh luôn bận rộn với công việc học tập, luôn tham gia vàoquá trình nhận thức thì các em ít vi phạm kỉ luật Nếu giáo viên không biết kíchthích phát huy tính tích cực để hướng học sinh vào việc giải quyết nhiệm vụ học tậpthì sẽ dẫn đến vi phạm kỉ luật

- Tính kỉ luật học tập gắn với các phẩm chất ý chí cần thiết cho hoạt độnghọc tập như (tính mục đích, tính vượt khó khăn, tính kiềm chế, tính tự chủ…)

- Tính kỉ luật học tập là điều kiện để nâng cao kết quả học tập những sự thànhcông trong học tập của học sinh đều trở thành nguồn kích thích kỉ luật cho học sinh

Nghiên cứu về tính KLHT của SVSP trong đào tạo theo học chế TC

Chưa có những nghiên cứu mang giá trị lý luận và thực tiễn về giáo dụctính KLHT cho SVCĐSP trong đào tạo theo học chế TC Tuy nhiên, đã có một sốbài báo khoa học đề cập đến những vấn đề có liên quan đến giáo dục tính KLHTcho SVSP trong hướng dẫn kĩ năng tự học và kĩ năng giảng dạy cho SV trong đàotạo TC nhằm phát huy tính tự giác trong học tập của SV có thể kể đến những bài

viết như: “Hướng dẫn SV tự học ngay từ giai đoạn khởi đầu trong đào tạo theo TC” của tác giả Đỗ Hồng Quang đăng trên NCGD số 265/2011 và “Nghiên cứu

kỹ năng giảng dạy trên lớp phù hợp với phương thức đào tạo theo TC của SVSP trong thực tập sư phạm” của tác giả Dương Thị Thoan đăng trên NCGD số 267/2011, “Một số biện pháp nâng cao khả năng thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên và sinh viên trong đào tạo theo học chế TC” của tác giả Nguyễn

Anh Tuấn trên NCGD số 244/ 2010

Như vậy, những nghiên cứu về tính KLHT giáo dục tính KLHT của các tác

giả trong nước cũng đã xác định được các thành phần cấu trúc của tính KLHT và đề

Trang 26

ra được các biện pháp giáo dục tính KLHT cho học sinh Tuy nhiên, điểm hạn chếcủa những công trình nghiên cứu về tính KLHT mới để cập tới giáo dục tínhKLHTcho người học trong hoạt động học tập trên lớp, ngoài ra những hình thức họctập khác như: tự học trong giờ học trên lớp, tự học ngoài giờ lên lớp chưa được đềcập đến và đối tượng nghiên cứu chủ yếu là học sinh phổ thông Trong khi đó, đốitượng nghiên cứu là SVCĐSP còn đang khuyết, chưa có những nghiên cứu cụ thể.Thực tiễn đó cho thấy, việc cần thiết phải có những nghiên cứu về giáo dục tínhKLHT cho đối tượng là SVCĐSP.

Tóm lại, trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu về vấn đề giáo dục tính kỉ luậthọc tập trên thế giới và trong nước đã tạo cơ sở lý luận vững chắc cho sự kế thừa,phát triển và luận giải sáng tỏ quá trình và những biện pháp nâng cao chất lượng,hiệu quả giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên Tuy nhiên, việc giáo dục tínhKLHT cho SVCĐSP trong đào tạo theo học chế TC thì chưa có công trình nàonghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống dưới góc độ khoa học giáo dục Do đó, đây làmột mảng trống cần được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn

1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài

1.2.1 Tính kỷ luật

Nội dung rất quan trọng của kỷ luật chính là sự chấp hành của con người vềnhững qui định, luật lệ cụ thể nào đó Từ đó dẫn tới một phẩm chất tâm lý rất quantrọng của con người đó là sự chấp hành, năng lực chấp hành nghiêm, đúng về mộtyêu cầu nào đó Chính sự chấp hành nghiêm và chính xác của con người là nhân tốquyết định làm cho các chuẩn mực, qui định, qui tắc ấy được hiện thực hóa Khi đó

kỷ luật mới thực sự đảm bảo cho hoạt động của tổ chức, tập thể và cá nhân diễn ratheo một trật tự nhất định

Khái niệm tính kỷ luật đã được định nghĩa trong các ngành khoa học chính trịquân sự và tâm lý - giáo dục trên thế giới và trong nước với các định nghĩa như sau:

Theo Từ điển Bách khoa Tâm lý học – Giáo dục học Việt Nam do GS.TSKHPhạm Minh Hạc (chủ biên) đã định nghĩa về tính kỷ luật như sau: Kỷ luật là biểuhiện hành vi bên ngoài của cá nhân nhưng việc thực hiện nó như thế nào lại phụ

Trang 27

thuộc vào phẩm chất tâm lý của mỗi cá nhân và tập thể - đó là tính kỷ luật.

V.Đ.Culacôp coi tính KL là một trong những phẩm chất nhân cách của con

người, gắn chặt với những phẩm chất khác của nhân cách Bản chất của nó là khảnăng điều chỉnh hành vi của mình, hoạt động của mình theo đúng yêu cầu của điều

lệ, qui định [13]

Như vậy, ở những quan niệm này, các tác giả đã xem xét tính KL như là mộtphẩm chất của nhân cách, nhờ có phẩm chất này mà cá nhân luôn hành động tuântheo kỷ luật

A.X.Macarencô có quan niệm về tính KL như sau: Chỉ có quyền gọi là người

có tính KL với những ai luôn luôn trong bất kỳ điều kiện nào cũng chọn hành viđúng đắn có lợi nhất cho xã hội mặc dù có gặp những khó khăn, trở ngại như thế

nào đi nữa cũng khẳng định tiếp tục hành vi đó đến cùng [57].

Theo quan niệm của Macarencô thì tính KL ở đây là hành vi của cá nhânmang lại lợi ích cho cộng đồng, xã hội và trong hành vi đó bao gồm cả ý chí kiênđịnh thực hiện hành vi đó trong mọi hoàn cảnh Như vậy, trong quan niệm về tính

KL, Macarencô đã nêu lên một yêu cầu rất cơ bản đó là hành vi KL của cá nhân phảigắn lợi ích của xã hội và những hành vi mang lại lợi ích cho xã hội đồng thời cũng làhành vi mang lại lợi ích của cá nhân trong đó và chỉ có hành vi chứa đựng sự thốngnhất giữa lợi ích tập thể và lợi ích của cá nhân khi đó mới được gọi là tính KL

A.I.Êvemencô cho rằng: Tính kỉ luật là sự thống nhất của sự hiểu biết vềtrật tự, điều lệ, qui tắc với niềm tin tính tất yếu phải thực hiện nghiêm ngặt vàchính xác các đòi hỏi của kỉ luật cũng như với hành vi tích cực có sự thúc đẩymang tính động cơ [26]

Như vậy, theo A.I.Êvenmencô sẽ chỉ được coi là tính KL khi có sự thống nhất cao giữa hiểu biết, niềm tin và hành vi có chứa đựng động cơ tích cực phải

thực hiện nghiêm ngặt, chính xác các đòi hỏi của KL Nếu thiếu đi sự thống nhấtcủa ba yếu tố này sẽ không thể có tính KL

Cùng có quan niệm tương tự với A.I.Êvenmencô là các quan niệm khác như:Gordin [98] coi: Tính kỉ luật là một phẩm chất tự điều khiển, điều chỉnh của nhân

Trang 28

cách Nhờ phẩm chất này mà con người có được hành vi có kỉ luật, tức là chấp hànhnghiêm kỉ luật của tổ chức và I.S Dolinskaya cũng đã đưa ra quan niệm về tính KLvới cấu trúc như là một hợp kim của thái độ, tri thức (sự hiểu biết), niềm tin, các kĩnăng, kĩ xảo, thói quen [100].

Tác giả Phạm Đình Hòe coi “tính KL chính là sự chấp hành của con người

về những quy định, luật lệ cụ thể, từ đó dễ dẫn tới một phẩm chất tâm lý rất quantrọng của con người đó là sự chấp hành, năng lực chấp hành nghiêm, đúng về mộtyêu cầu nào đó - đấy là tính KL” [42]

Tác giả Phạm Đình Hòe đã đưa ra quan niệm về tính KL theo góc độ về sựphát triển của tính KL ở người chiến sỹ quân đội từ thấp đến cao Theo đó, ban đầu

là sự chấp hành những quy định luật lệ có tính chất bắt buộc người chiến sỹ phảithực hiện, dần dần sự chấp hành đó được được nâng lên thành năng lực chấp hành(nghiêm, tự giác)

Như vậy, các quan niệm về tính KL tiếp cận ở góc độ tâm lý, giáo dục hay

khoa học chính trị thì đều có sự thống nhất chung về khái niệm tính KL ở chỗ đãkhẳng định tính KL là một phẩm chất nhân cách, có cấu trúc bao gồm (nhận thức vềluật lệ, quy định, thái độ và hành vi chấp hành nghiêm túc, tự giác những yêu cầucủa luật lệ, quy định)

1.2.2 Kỷ luật học tập và tính kỉ luật học tập

1.2.2.1 Kỷ luật học tập

Tác giả Phạm Đình Hòe cho rằng: KLHT chính là sự chấp hành về những quy

định, điều lệ cụ thể nào đó được quy định trong nội quy, điều lệ nhà trường [47 tr.22]

Như vậy, ở quan niệm này, tác giả Phạm Đình Hòe đã xem KLHT bao gồm

cả hành vi chấp hành nội quy, quy định trong nhà trường

Trong khi đó, tác giả Phạm Minh Hùng quan niệm: KLHT là những quy địnhđối với hành vi của học sinh, đảm bảo cho các em học tập một cách thuận lợi và cókết quả[45, tr.20]

Ở đây, tác giả Phạm Minh Hùng hiểu về KLHT chỉ là những quy định đốivới hành vi của học sinh mà chưa xem xét đến yếu tố hành vi đó được thực hiện như

Trang 29

thế nào?

Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu khách quan của hoạt động học tập trong nhàtrường, để đạt được kết quả học tập của người học theo đúng mục tiêu đào tạo thì mọihoạt động học tập của người học đều phải được cụ thể hóa thành những yêu cầu, quyđịnh có tính chất bắt buộc người học phải có nghĩa vụ thực hiện nghiêm túc, thốngnhất ở tất cả mọi học sinh mà không có cá nhân nào có thể làm khác đi được Thôngthường, những quy định này được thể hiện trong những văn bản có tính chất thốngnhất chung trong toàn trường như: điều lệ, nội qui, qui chế Như vậy, điều đó cónghĩa là: Nội quy, quy định của mỗi nhà trường với hoạt động học của người học vốntồn tại bên ngoài nhưng không phải tự dưng mà có Nó được xây dựng, đề ra trên cơ

sở thực tiễn đòi hỏi khách quan của hoạt động học tập Chính sự chấp hành của ngườihọc về những quy định, nội quy, yêu cầu đó và hiện thực hóa những qui định, yêu cầu

đó trong hoạt động học tập của người học đó là kỉ luật học tập.

Như vậy, hiểu quan niệm về kỷ luật học tập theo tác giả Phạm Đình Hòe thì

khái niệm kỷ luật học tập được mang ý nghĩa hiện thực hóa hơn và quan niệm nàygần gũi hơn với những quan niệm về kỷ luật trong các từ điển tâm lý – giáo dục.Mặt khác, khi hiểu quan niệm về kỷ luật học tập chỉ là những quy định đối với hành

vi của học sinh như tác giả Phạm Minh Hùng thì quan niệm này mang nhiều ý nghĩanhư là những yếu tố đảm bảo cho việc học tập của học sinh đạt được kết quả

Từ những quan niệm về kỷ luật học tập của các tác giả khác nhau, tác giả

luận án quan niệm: Kỷ luật học tập là biểu hiện hành vi chấp hành bên ngoài những

quy định, yêu cầu trong hoạt động học tập

Vì vậy, những hành vi chấp hành đúng, đầy đủ của học viên trong học tập sẽđược coi là có kỷ luật trong học tập

1.2.2.2 Tính kỷ luật học tập

Khái niệm về tính KLHT đã được một số tác giả quan niệm như sau:

Êgorova cho rằng: Tính KLHT là một phẩm chất với đặc trưng gồm có cácthành phần; động cơ, năng lực nhận thức, những ý chí cần thiết cho hoạt động họctập Các thành phần này không tách rời nhau mà phụ thuộc vào nhau, tác động qua

Trang 30

lại với nhau [101].

Tác giả Nguyễn Minh Hùng quan niệm: Tính KLHT là một phẩm chất nhâncách được hình thành trong quá trình học tập của người học Nó đặc trưng cho thái

độ tự giác và thói quen tự điều khiển, điều chỉnh hành vi của bản thân cho phù hợp

với yêu cầu của giờ học [45].

Trong quá trình thực hiện KLHT, nhận thức, thái độ, động cơ và hành vi củangười học hướng tới việc thực hiện một cách chính xác, nghiêm minh các qui định,qui tắc, điều lệ sẽ dẫn tới phẩm chất tâm lý – tính kỉ luật học tập của người học [73]

Như vậy, các quan niệm trên đã cho rằng: Tính kỷ luật là một phẩm chất với

sự thống nhất của các thành tố: nhận thức được sự tất yếu về KLHT, thái độ và hành

vi chấp hành KLHT tự giác được thúc đẩy bằng một động cơ học tập đúng đắn

Thống nhất với quan niệm về tính KL của các tác giả giả trên, tác giả luận án

xác định: Tính KLHT là một phẩm chất nhân cách của người học với đặc trưng từ nội tâm người học nhiệt tình, tự giác, tích cực thực hiện các quy định, yêu cầu của hoạt động học tập.

a Mối liên hệ mật thiết của tính kỷ luật học tập với những thành tố của hoạt động học tập:

- Thái độ đối với hoạt động học tập thể hiện trách nhiệm đối với hoạt độnghọc tập, thể hiện sự nỗ lực, cố gắng của người học trong việc tiếp thu tri thức, rènluyện kỹ năng, kỹ xảo, thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ học tập Thiếu đi sự nỗ lực,

cố gắng người học không thể hoàn thành được yêu cầu của hoạt động học tập

- Tính KLHT có liên quan mật thiết với hứng thú học tập: hứng thú học tậpbên trong của người học là cơ sở của sự tự giác tích cực học tập Hứng thú học tậpbiểu hiện ở thái độ, xúc cảm tích cực đối với những hoạt động học tập Hứng thú lànhân tố kích thích hoạt động học tập của người học, chiếm vị trí quan trọng trong sốcác động lực và nhân tố điều chỉnh hành vi thực hiện KLHT của người học Không

có hứng thú học tập, người học sẽ không có thái độ say mê trong học tập K.D.Usinxki viết: một sự học tập nào mà không có hứng thú gì, chỉ biết hoạt động bằngsức mạnh, cưỡng bức thì sẽ giết chết lòng ham muốn học tập của người học [78,tr.41] Nhờ có hứng thú học tập mà người học khắc phục được những khó khăn, trở

Trang 31

ngại trong học tập.

- Tính KLHT có quan hệ chặt chẽ với tính tích cực học tập của SV Biểu hiệncủa mối quan hệ này thể hiện ở chỗ tích cực học biểu hiện ở cường độ học tập cao,thái độ tích cực đối với các môn học, bài học, có phương pháp học tập phù hợp.Đồng thời, tính KLHT thể hiện ở sự chủ động xây dựng kế hoạch học cho từng mônhọc, từng học kỳ, năm học, và sự nghiêm túc thực hiện kế hoạch học tập theo kếhoạch đặt ra

- Tính KLHT gắn liền với các phẩm chất ý chí cần thiết cho hoạt động họctập của SV (như tính mục đích, tính vượt khó, tính quyết đoán, tính tự chủ…).Những phẩm chất này, một mặt giúp SV kiên trì theo đuổi mục đích học tập đếncùng mặt khác kiềm chế những hành vi vi phạm KLHT trong các hoạt động học tập

- Tính KLHT có mối quan hệ mật thiết với kết quả học tập của SV TínhKLHT là điều kiện để nâng cao kết quả học tập của SV Những kết quả thành công

từ học tập là nguồn động viên, kích thích tính KLHT của SV

b Cấu trúc của tính kỷ luật học tập

Đã có nhiều quan niệm khác nhau khi xác định cấu trúc của tính KLHTnhư sau:

Tác giả P.V.Êxipov nêu ra cấu trúc của tính KLHT gồm hai nhóm: Thànhphần bên trong và thành phần bên ngoài Nhóm thành phần bên trong gồm các yếu

tố đóng vai trò là động lực thúc đẩy hoạt động học tập với việc trả lời câu hỏi học vìcái gì? Học mang lại lợi ích gì? Biểu hiện ở bên trong là các động cơ, mục đích, dựđịnh về kế hoạch hành động và biểu hiện bên ngoài là hành vi chấp hành KLHT [27]

E.F.Kharlamop cho rằng tính KLHT tự giác có những thành phần chủ yếulà: Động cơ học tập, năng lực nhận thức, phẩm chất ý chí cần thiết cho hoạt độnghọc tập [50]

Dựa trên quan niệm cho rằng tính KLHT là một phẩm chất đạo đức có thểxác định cấu trúc của tính KLHT gồm các thành phần sau đây: Nhận thức vềKLHT, thái độ đối với KLHT và hành vi chấp hành KLHT

Cơ sở đầu tiên của tính kỉ luật học tập là tri thức về những yêu cầu, chuẩn

Trang 32

mực, quy định của hoạt động học tập đối với người học Trên cơ sở sự thấm nhuầnsâu sắc những yêu cầu, quy định và nhận thức rõ trách nhiệm của mình về nhữngquy định, luật lệ đó sẽ nâng cao ý thức trách nhiệm đối với công việc được giao.

Trong tác phẩm “Giáo dục các chiến sĩ Xô viết” tác giả V.Đ.Culacốp viết: “Kinh

nghiệm cho thấy rằng những tri thức chỉ có ảnh hưởng tích cực đến việc rèn luyệntính kỉ luật khi nào những tri thức đó chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người,được sử dụng để hoàn thiện hành vi của người đó” [13,tr.43]

Yếu tố hợp thành trong cơ cấu của tính kỉ luật học tập nữa là lòng tin Mọingười đểu biết rằng muốn trở thành người có tính kỉ luật mà chỉ có tri thức thôi thìkhông đủ mà cần có lòng tin được hình thành trên cơ sở những tri thức khoa họcđược người học quán triệt để biến thành yêu cầu của chính bản thân mình Culacốp

cũng đã từng phân tích: Giáo dục một hành vi đẹp đẽ, một thói quen ổn định luôn

luôn hoạt động theo đúng yêu cầu, điều lệ, mệnh lệnh – việc này chỉ có thể làmđược trên cơ sở sự giác ngộ cao, sự tin tưởng sâu sắc của họ vào những điều lệ ấy [13]

Do đó, thông qua toàn bộ hệ thống giáo dục – giảng dạy người giáo dục phải làmsao cho những tri thức mà người học tiếp thu được sẽ góp phần bồi dưỡng cho họmột thế giới quan, lòng tin đúng đắn và sẽ trở thành kim chỉ nam cho hành độngthực tiễn của họ

Yếu tố hợp thành trọng yếu trong cơ cấu của tính kỉ luật là kĩ năng, tức lànhững hành động được thực hiện một cách tự động – một bộ phận của hành động tựgiác “Kỹ năng hành vi có kỉ luật đó là một hành động mà đặc điểm là sự thấmnhuần sâu sắc những yêu cầu của hoạt động học tập và những quy định của điều lệ,nội qui nhà trường” [9] Kĩ năng, sau khi đã trở thành một nhu cầu bên trong vữngchắc sẽ biến thành thói quen và thói quen cũng đóng vai trò to lớn trong quá trìnhrèn luyện tính kỉ luật

Kỹ xảo cũng là một bộ phận hợp thành trong cơ cấu của tính kỉ luật Thựctiễn cho thấy rằng, người học có thể biết rõ chức trách của mình, có thể nhận rõ sựcần thiết phải tuân thủ chặt chẽ những yêu cầu của điều lệ nhưng nếu không có kỹxảo cần thiết khi làm nhiệm vụ thì vẫn có thể phạm sai lầm trong hành vi, sẽ viphạm vào kỉ luật Kỹ xảo hành vi kỉ luật thể hiện ở sự nhận thức sâu sắc và tuân thủ

Trang 33

chính xác trong quá trình hoạt động thực tiễn.

Tính kỉ luật gắn liền với động cơ hoạt động Động cơ là lực lượng bên trongthúc đẩy con người trong mọi trường hợp đều hành động một cách dứt khoát Nhưvậy, từ việc xác định được cơ cấu của tính kỉ luật như trên sẽ giúp cho hoạt độnggiáo dục tính kỉ luật học tập đạt được mục đích

1.2.3 Tín chỉ và đào tạo theo tín chỉ

1.2.3.1 Tín chỉ

Trong các từ điển bách khoa, các tài liệu về giáo dục đại học, cao đẳng có thểtìm thấy nhiều quan niệm khác nhau về TC Tác giả luận án đề cập đến cách diễnđạt về khái niệm TC và đào tạo theo TC với nội dung như sau:

Theo James Quann, TC học tập là một đại lượng đo toàn bộ phần thời gianbắt buộc của mỗi SV bình thường để học một giáo trình cụ thể Thời gian toàn phầnbao gồm 3 thành tố: 1) thời gian lên lớp; 2) thời gian ở phòng thí nghiệm, studio,thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; 3) thời giandành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài Giờ họccủa một học kỳ 2 quý hay của học kỳ 1 quý được ấn định theo tỷ lệ sau đây của cácgiờ thành phần được dành hàng tuần cho việc học môn đó.1) Các môn học lý thuyết– một giờ tiếp xúc hàng tuần cho một giờ TC (bao hàm 2 giờ chuẩn bị ở nhà); 2) cácmôn học ở phòng thí nghiệm – ít nhất là 2 giờ tiếp xúc hàng tuần cho một giờ TC(bao hành 1 giờ chuẩn bị ở nhà); 3) tự nghiên cứu – ít nhất 3 giờ làm việc hàng tuầncho một giờ tín chỉ” [48]

TC học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian học tập của người học trungbình để học một môn học cụ thể, bao gồm: 1) thời gian lên lớp; 2) thời gian ở phòngthí nghiệm, thực hành, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thờikhóa biểu; 3) thời gian cho dành cho việc đọc sách, nghiên cứu, chuẩn bị bài… Đốivới môn học lý thuyết, 1 TC là một giờ học trên lớp (+ 2 giờ chuẩn bị bài ở nhà)trong 1 tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần; đối với các môn học thực hành, ítnhất 2 giờ lên lớp (+ 1 giờ chuẩn bị ở nhà) trong một tuần; đối với việc tự nghiên

Trang 34

cứu, ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần [47].

1.2.3.2 Đào tạo theo học chế tín chỉ

Đào tạo theo học chế TC là phương thức đào tạo cho phép SV đạt được vănbằng hoặc chứng chỉ sau khi đã tích lũy đủ hệ thống môn học (được đo bằng số TC)theo trình tự quy định của chương trình đào tạo với các văn bằng, chứng chỉ đó.Đào tạo theo học chế TC chuyển quyền quyết định mục đích đào tạo cụ thể cũngnhư lựa chọn môn học và cả kế hoạch học tập từ nhà trường cho SV trong điều kiệnquy định công khai số lượng, cấu trúc các môn học dẫn đến văn bằng [47]

Khi phương thức đào tạo được thể chế hóa với các quy định gắn với chế độhọc tập theo quy trình tích lũy nội dung đào tạo tiến tới văn bằng và triển khai triệt

để các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo theo TC thường được gọi là học chế TC

Hệ thống TC là hệ thống đào tạo chủ yếu liên quan tới phương thức tổchức hoạt động đào tạo và quá trình học tập để lấy văn bằng theo HCTC của một

cơ sở đào tạo

1.2.4 Tính kỉ luật học tập của sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ

1.2.4.1.Đặc điểm hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên cao đẳng sư phạm

Trong trường đại học, cao đẳng, nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất của SV

là học tập và rèn luyện tay nghề Tuy nhiên, khác với học sinh phổ thông, hoạt độnghọc tập của SV được phát triển lên một trình độ mới Cụ thể:

- SV học tập nhằm lĩnh hội các tri thức, hệ thống khái niệm khoa học, những

KN, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển các phẩm chất nhân cách

- Hoạt động học tập của SV được diễn ra theo thời gian chặt chẽ, nhưngkhông quá khép kín mà được mở rộng theo khả năng và sở trường để có thể pháthuy được tối đa năng lực nhận thức của mình trong nhiều lĩnh vực

- Hoạt động học tập của SV mang tính độc lập, tự chủ và sáng tạo cao

Trong điều kiện chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo họcchế TC, hoạt động học tập của SV cũng có nhiều đặc điểm mới Trước hết, việc họctập của SV chủ yếu được diễn ra trong các lớp tín chỉ - là một loại lớp học khá linh

Trang 35

hoạt, năng động, bao gồm các nhóm SV có nhu cầu nguyện vọng và những điềukiện học tập nhất định kết hợp lại với nhau theo kế hoạch đào tạo của nhà trường.

Do đó, SV giữa các lớp, các khóa học, các ngành học có nhiều cơ hội được giaolưu, trao đổi, chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng với nhau Thứ hai,giờ học tín chỉ được thiết kế theo xu hướng giảm số tiết lý thuyết, tăng cường cáctiết thực hành, thảo luận nhóm và tự học Do đó, SV cần có tinh thần độc lập, tựgiác làm việc

Đối với SVSP, bên cạnh những đặc điểm chung của SV Việt Nam, họ cũng

có những đặc trưng riêng gắn với những đặc điểm hoạt động nghề nghiệp mà các

em đang được đào tạo Trước hết, mục tiêu của nhà trường sư phạm là đào tạonhững thầy cô giáo, những kỹ sư tâm hồn có đầy đủ những phẩm chất và năng lực

để thực hiện thành công sự nghiệp giáo dục đào tạo thế hệ trẻ cho đất nước Sau khi

ra trường, SVSP không trực tiếp làm việc với máy móc, với công trường nhà máy,với bệnh nhân, hay khách hàng… mà họ trực tiếp làm việc với những con người,với thế hệ trẻ Do đó, quá trình đào tạo trong nhà trường sư phạm không chỉ hướngvào thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cả về mặt trí tuệ, tâm hồn và thể chất choSVSP mà còn cần chú trọng hình thành và phát triển ở các em những KN nghềnghiệp, KN giao tiếp, KN xã hội, đặc biệt là kỹ năng tự học để họ có thể tự trau dồikiến thức chuyên môn suốt đời Vì vậy, để đạt được các mục tiêu này cần phải:

Thứ nhất, để phát huy tính tích cực của học sinh, chức năng chính của người

thầy trong quá trình dạy học hiện đại là tổ chức, hướng dẫn, thiết kế các hoạt động

để người học thông qua đó tự thu lượm kiến thức, hình thành KN Vai trò của GVkhông chỉ truyền thụ kiến thức, mà cái chính là người tạo hứng thú học tập, hướngdẫn người học về phương pháp học tập Ngoài ra, người thầy còn đóng vai trò làtrọng tài, cố vấn, kết luận về các cuộc tranh luận, đối thoại trò – trò, trò – thầy đểkhẳng định về mặt kiến thức khoa học do học sinh tự tìm ra Cuối cùng, thầy làngười kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của học sinh trên cơ sở trò tự đánh giá, tựđiều chỉnh Điều này đòi hỏi người thầy không chỉ cần có kiến thức uyên thâm, cónăng lực dạy học mà còn là một nhà giáo dục GV phải biết tôn trọng ý kiến củangười học, tôn trọng vai trò chủ thể của người học, biết khuyến khích họ mạnh dạn

Trang 36

nêu ra những suy nghĩ, hiểu biết của mình và sẵn sàng trao đổi thảo luận cùng nhautrong quá trình nhận thức Đồng thời, bản thân họ ngoài việc phải không ngừng họctập, trau dồi kiến thức, nâng cao hiểu biết, người GV cũng cần biết lắng nghe họcsinh, trao đổi ý kiến một cách bình đẳng với học sinh và hợp tác tích cực với các em

để cùng nhau tạo ra một môi trường học tập có sự giao lưu cởi mở, chân thành,thẳng thắn và tin tưởng lẫn nhau

Thứ hai, lao động sư phạm là lao động mà công cụ chủ yếu là chính nhân

cách của người thầy, do đó người thầy giáo phải không ngừng học tập, trau dồiphẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm, là tấm gương mẫumực cho mỗi SV noi theo

Thứ ba, sản phẩm của lao động sư phạm là nhân cách của học sinh Sản

phẩm này không phải là kết quả công tác của một người giáo viên cụ thể nào đó mà

là sản phẩm của sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Trong quátrình ấy, mỗi người giáo viên muốn thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của mình đòihỏi họ phải hợp tác với các lực lượng giáo dục khác nhằm thống nhất các tác động

Về bản chất tính KLHT của SVCĐSP trong đào tạo theo học chế tín chỉ là kỷluật học tập tự giác Người SV tự giác ngộ về nhiệm vụ học tập của mình chứ khôngphải do nhà trường, do GV bắt buộc

Tính KLHT của SVCĐSP là một phẩm chất nhân cách, bởi vì:

Tính KLHT của SVCĐSP chứa đựng yếu tố nhu cầu, động cơ, thái độ họctập nhằm trả lời cho câu hỏi học cho ai? Học vì cái gì? Học ở đâu? Học bằngphương pháp nào? Học những nội dung gì? Môn gì?

Trang 37

Tính KLHT của SVCĐSP phản ánh tính tự sinh, tự phát triển, lúc đầu thái độ

tự giác chưa cao nhưng càng về sau theo sự phát triển của nhân cách tính tự giáccàng cao trên cơ sở sự nhận thức, giác ngộ đầy đủ về tính tất yếu cần phải thực hiệnKLHT “tự do là cái được nhận thức tất yếu”

Tính KLHT của SVCĐSP gắn với xu hướng nghề nghiệp của SVSP.Trong học tập, từ động lực thôi thúc có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp vữngchắc, hiểu sâu sắc được ý nghĩa của nghề giáo viên với bản thân và xã hội luônđược đặt ra Đồng thời, do hoạt động của nghề giáo viên luôn là hình mẫu, là tấmgương của học sinh Vì vậy luôn đòi hỏi người SVCĐSP phải trau dồi phẩm chất

tự giác, tích cực học tập

Tính KLHT của SVCĐSP phản ánh kỳ vọng của nhân cách, trình độ pháttriển của nhân cách (phẩm chất và năng lực) thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụhọc tập

1.2.4.2 Đặc điểm tính kỷ luật học tập của sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ

Tính KLHT của SVCĐSP trong đào tạo theo học chế TC là tính kỷ luật tựgiác học tập Vì vậy, nó sẽ có những đặc điểm sau đây:

a.Tự nguyện: Hình thức đào tạo theo học chế TC lấy người học làm trung

tâm của toàn bộ quá trình đào tạo Chương trình đào tạo của các trường CĐSP tạođiều kiện để SV được lựa chọn môn học, tự xây dựng cho mình một chương trìnhhọc phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của SV Đồng thời, để đáp ứng được yêucầu của hoạt động học theo hình thức đào tạo TC đòi hỏi SV phải tự nguyện, tựgiác học tập cao SV tự giác đặt ra cho mình những yêu cầu, đòi hỏi về KLHT đốivới bản thân Do đó, cái ta gọi là “tự giác” thực chất là sự tôn trọng kỷ luật củabản thân đã đề ra với nhiệm vụ học tập Từ trong nội tâm, SV sẽ nhiệt tình thựchiện các nguyên tắc chung do nhà trường đặt ra và những yêu cầu của chính bảnthân mà không chờ đợi sự quản lý, giám sát từ thầy, cô và các lực lượng giáo dụctrong nhà trường Với ý thức tự giác học tập, SV sẽ tự động, vui vẻ hoàn thành

Trang 38

nhiệm vụ học tập của mình.

b Nghiêm túc: Chương trình học của SV theo hình thức đào tạo theo học chế

TC mang tính linh hoạt và mềm dẻo với một hệ thống các môn học thuộc khối kiếnthức chung, các môn thuộc khối kiến thức chuyên ngành và các môn học thuộc khốikiến thức cận chuyên ngành Do đó, SV có thể chủ động lựa chọn các môn học và

từ đó thiết kế kế hoạch học tập cho mình Vì vậy, đòi hỏi SV phải nghiêm túc thựchiện theo kế hoạch học tập đã được đề ra

Mặt khác, từ bản chất của hình thức đào tạo theo học chế TC là giảm tối đagiờ học trên lớp, lấy tự học của SV là chủ yếu Do đó, việc điểm danh trên lớpkhông còn mang nhiều ý nghĩa Tuy nhiên, SV cần phải nghiêm túc, tự giác thamgia giờ học trên lớp vì nếu không sẽ gặp nhiều khó khăn và không hoàn thành đượcnhiệm vụ của môn học

c Có tính tổ chức: Tính KLHT của SV trong đào tạo theo học chế TC đòi

hỏi tính tự giác cao trong tập thể Trong đào tạo theo học chế TC, việc tổ chức cáclớp học phần không ổn định, chỉ kéo dài trong một kỳ, khi sang học kỳ mới lại hìnhthành các lớp học phần mới nên có nhiều ý kiến cho rằng khó tạo nên sự gắn kếttrong SV, tạo cơ hội cho chủ nghĩa cá nhân, vô tổ chức được hình thành Tuy nhiên,không vì thế mà SV thoát ly ra khỏi đời sống tập thể, trái lại SV cần phải tích cực,

tự giác tham gia hoạt động trong những tập thể như các câu lạc bộ học tập, câu lạc

bộ ngoại khóa của Chi đoàn, Liên chi đoàn, Hội sinh viên

d Có tính kiên định: KLHT tự giác của SVCĐSP nuôi dưỡng cho SV sự

nhiệt tình đấu tranh, ý chí không chịu khuất phục để khắc phục mọi khó khăn trongquá trình học tập, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học tập của bản thân

e Tính thân thiện: Tính KLHT của SVCĐSP trong đào tạo theo học chế TC

đòi hỏi tính tích cực, tự giác, độc lập trong học tập cao, đặc biệt là trong hoạt động

tự học, tự nghiên cứu Nhưng đồng thời, nó cũng thể hiện sự thân thiện, hợp tác rấtcao với những biểu hiện của sự đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập Tính KLHTcủa SVCĐSP không chỉ thể hiện thái độ đòi hỏi sự tự giác cao ở bản thân mà cònthể hiện ở thái độ đồng tình, ủng hộ với những hành vi thực hiện KLHT của những

cá nhân khác và tỏ thái độ phản đối, đấu tranh với những biểu hiện vi phạm KLHT,

Trang 39

đoàn kết giúp đỡ bạn không vi phạm KLHT.

1.2.4.3 Biểu hiện tính kỷ luật học tập của sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ

Nghiên cứu về những biểu hiện của sự tự giác trong học tập đã có một số tácgiả nghiên cứu như sau: Tác giả Thái Duy Tuyên ở góc độ dạy học và giáo dục đãnêu ra những biểu hiện của tính tự giác, tích cực học tập của người học có nhữngdấu hiệu như sau:

- Những dấu hiệu bên ngoài của thái độ, hành vi học tập:

+ Có thời gian tham gia các hoạt động xã hội

- Những dấu hiệu bên trong như sự căng thẳng về trí tuệ, sự nỗ lực hoạtđộng, sự phát triển tư duy, ý chí và cảm xúc

+ Có biểu hiện hứng thú, say mê, hoài bão học tập

+ Có ý chí vượt khó khăn trong học tập

+ Có sự phát triển về năng lực học tập và sự sáng tạo trong học tập

- Kết quả học tập

+ Hoàn thành nhiệm vụ được giao

+ Ghi nhớ tốt những điều đã học

+ Vận dụng được kiến thức vào thực tế

+ Kết quả học tập, thi, kiểm tra cao

Theo tác giả Nguyễn Minh Hùng tính KLHT của HS tiểu học có những biểuhiện như sau:

Về nhận thức: HS hiểu được bản chất của KLHT, ý nghĩa của nó, tính hợp lý

và sự cần thiết của nó

Về thái độ, HS đồng tình, ủng hộ những hành vi KL, phê phán những

Trang 40

hành vi vô KL.

Vế hành vi: HS thực hiện tốt các yêu cầu hoạt động học tập

Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu của các tác giả và cấu trúc của tính KLHT tác giả luận án xác định được những biểu hiện của tính KLHT của SVCĐSP

trong đào tạo theo học chế TC

Một là: Nhận thức được mục đích học tập đối với bản thân, xã hội và những yêu cầu của hình thức đào tạo theo TC là lấy người học làm trung tâm.

Đây là dấu hiệu đầu tiên phản ánh động cơ, mục đích học tập của SVCĐSP,

nó được biểu hiện ở chỗ SV nhận thức được học tập là để nắm vững tri thức khoahọc, hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển nhân cách của người giáoviên Ngoài ra, SV có sự giác ngộ sâu sắc về yêu cầu, nhiệm vụ trong quá trình họctập theo hình thức đào tạo theo học chế TC đòi hỏi hoạt động tự học của SV là chủyếu, SV là người tự chủ quyết định lựa chọn việc học của mình theo mục tiêu họctập của từng cá nhân Do vậy, SV cần nhận thức được muốn học tập tốt theo hìnhthức đào tạo theo học chế TC, SV cần có KLHT, từ đó hình thành tình cảm, niềmtin, xây dựng ý chí quyết tâm phấn đấu vượt qua mọi khó khăn để đạt kết quả caotrong học tập

Hai là, có thái độ say mê, hứng thú trong học tập và tự giác trong các hoạt động ngoại khóa.

Hứng thú học tập là động cơ mạnh, một nhân tố kích thích SV tự giác họctập với những biểu hiện: chủ động lập kế hoạch học tập cho bản thân và nghiêm túc

đề ra những yêu cầu để thực hiện được kế hoạch, trong hoạt động học trên lớp: thamgia đầy đủ thời gian học tập, chăm chú nghe giảng, hướng dẫn học của GV, hănghái tham gia các hình thức học tập trên lớp (thảo luận nhóm, sêmina, tự học trênlớp), cần cù nhẫn nại, vượt qua những khó khăn học tập; trong hoạt động tự học cầndành đủ số thời gian cần thiết cho hoạt động tự học, tích cực đọc thêm sách, tài liệuliên quan đến môn học, tích cực tham gia giải quyết các tình huống học tập khi GVđặt ra; trong hoạt động thực hành, thực tập có thái độ tự giác chuẩn bị nội dung thựchành, thực tập chu đáo, đầy đủ, lắng nghe tích cực những ý kiến đóng góp của GV

Ngày đăng: 30/12/2013, 16:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban giáo dục và Đào tạo – Vụ đại học (1994), về hệ thống tín chỉ học tập,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về hệ thống tín chỉ học tập
Tác giả: Ban giáo dục và Đào tạo – Vụ đại học
Năm: 1994
2. Ban liên lạc các trường đại học, cao đẳng Việt Nam (2006), Kỷ yếu hội thảo khoa học: Đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nhận thức và kinh nghiệm triển khai tạo các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nhận thức và kinh nghiệm triểnkhai tạo các trường đại học, cao đẳng Việt Nam
Tác giả: Ban liên lạc các trường đại học, cao đẳng Việt Nam
Năm: 2006
3. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, NXBĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinhtrong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Nhà XB: NXBĐHSP
Năm: 1995
5. Bộ giáo dục và Đào tạo (2007), Điều lệ trường cao đẳng, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường cao đẳng
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2007
4. Bộ giáo dục và Đào tạo (1999), Quyết định số 04/1999/QĐ – BGD&ĐT Quy chế đào tạo và cao đẳng chính quy Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức và  PPGDNội dung - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Hình th ức và PPGDNội dung (Trang 64)
Bảng 2.1. Các lực lượng GD đánh giá nhận thức về các yêu cầu kỷ luật học tập - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng 2.1. Các lực lượng GD đánh giá nhận thức về các yêu cầu kỷ luật học tập (Trang 76)
Bảng 2.2. Tự đánh giá của SVCĐSP về những hiểu biết đối với yêu cầu KLHT TT Các tiêu chí - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng 2.2. Tự đánh giá của SVCĐSP về những hiểu biết đối với yêu cầu KLHT TT Các tiêu chí (Trang 78)
Bảng 2.3. So sánh nhận thức về vai trò của KLHT ở SV có học lực khác nhau TT Học lực - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng 2.3. So sánh nhận thức về vai trò của KLHT ở SV có học lực khác nhau TT Học lực (Trang 80)
Bảng 2.4. Đánh giá của các lực lượng GD về thái độ thực hiện KLHT của SV - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng 2.4. Đánh giá của các lực lượng GD về thái độ thực hiện KLHT của SV (Trang 81)
Bảng 2.5. Tự đánh giá của SVCĐSP về thái độ thực hiện kỷ luật học tập - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng 2.5. Tự đánh giá của SVCĐSP về thái độ thực hiện kỷ luật học tập (Trang 83)
Bảng 2.7. Đánh giá của GV và các lực lượng GD về hành vi chấp hành KLHT của SVCĐSP  trong các hoạt động học tập - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng 2.7. Đánh giá của GV và các lực lượng GD về hành vi chấp hành KLHT của SVCĐSP trong các hoạt động học tập (Trang 85)
Bảng 2.8. Tự đánh giá của SV về hành vi chấp hành KLHT trong các  hoạt động học tập - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng 2.8. Tự đánh giá của SV về hành vi chấp hành KLHT trong các hoạt động học tập (Trang 89)
Bảng 2.10. Đánh giá của các lực lượng GD và đánh giá của SV về việc thực  hiện mục tiêu, nội dung giáo dục tính KLHT cho SV - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng 2.10. Đánh giá của các lực lượng GD và đánh giá của SV về việc thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục tính KLHT cho SV (Trang 94)
Bảng 2.12. Đánh giá của các lực lượng GD và đánh giá của SV về các hình thức  xử lý vi phạm KLHT của SVCĐSP - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng 2.12. Đánh giá của các lực lượng GD và đánh giá của SV về các hình thức xử lý vi phạm KLHT của SVCĐSP (Trang 101)
Bảng 3.4. So sánh điểm tính KLHT của lớp TN và ĐC sau TN lần 1 - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng 3.4. So sánh điểm tính KLHT của lớp TN và ĐC sau TN lần 1 (Trang 142)
Bảng 3.5. Bảng tính hệ số tương quan giữa tính KLHT và học lực của lớp TN  sau TN lần 1 - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng 3.5. Bảng tính hệ số tương quan giữa tính KLHT và học lực của lớp TN sau TN lần 1 (Trang 144)
Bảng 3.6. Kết quả đánh giá tính KLHT của lớp thực nghiệm sau TN lần 2 Chỉ tiêu đánh giá Nhận thức Thái độ Hành Vi - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng 3.6. Kết quả đánh giá tính KLHT của lớp thực nghiệm sau TN lần 2 Chỉ tiêu đánh giá Nhận thức Thái độ Hành Vi (Trang 146)
Bảng kết quả trên cho thấy; sau quá trình thực nghiệm điểm trung bình tính  KLHT của lớp thực nghiệm đã tăng lên đáng kể - Giáo dục tính kỉ luật học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Bảng k ết quả trên cho thấy; sau quá trình thực nghiệm điểm trung bình tính KLHT của lớp thực nghiệm đã tăng lên đáng kể (Trang 146)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w