Huế được coi là một trung tâm tôn giáo lớn bậc nhất của nước ta,bao gồm các tôn giáo: Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, Cao Đài.Thu hút số lượng đáng kể trong lực lượng thanh thiếu n
Trang 1Phần 1: MỞ ĐẦU 1.1 Tính Cấp Thiết Của Đề Tài
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, có tiềm năng hùng hậu, làngười chủ của một dân tộc, quốc gia trong tương lai Chính vì vậy, Nghịquyết BCHTW Đảng lần IV khóa 7 đã xác định: “Thanh niên là lựclượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Sự nghiệpđổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỉ 21 có vị tríxứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam cóvững bước theo con đường Chủ Nghĩa Xã Hội hay không phần lớn tùythuọc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệthanh niên đó là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân
tố quyết định sự thành bại của cách mạng Đúng như Bác Hồ đã nói: “Vìlợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồngngười” [4; 2]
Thừa Thiên Huế, một tỉnh dân số lớn và trẻ, nên lực lượng thanhniên đông đảo khoảng 251.000 thanh niên (chiếm 25% dân số năm1996) Công cuộc đổi mới đất nước, quá trính công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước ”đa số thanh niên Thừa Thiên Huế vẫn giữ được bản sắccủa một trung tâm văn hóa Cố Đô, sống thanh lịch, giàu lòng nhân ái,cần cù, chịu khó, hăng say học tập văn hóa, chủ động trong việc họcnghề, chọn nghề và lao động để tự nuôi sống bản thân, từng bước thíchnghi với cơ chế thị trường Tuy nhiên, một bộ phận thanh niên đang cóbiểu hiện dao động về định hướng chính trị, thiếu niềm tin ở Chủ Nghĩa
Xã Hội hoặc ít quan tâm đến thời cuộc, đến sinh hoạt chính trị, xem nhẹtruyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa, trốn tránh nghĩa vụ quân
sự Một bộ phận nhỏ khác có xu hướng chạy theo lối sống không lànhmạnh, xem thường kỉ cương luật pháp, ngại khó, sợ khổ, mắc nhiều tệnạn xã hội dẫn đến phạm tội (số này chiếm 70% tổng số người phạm tộihiện nay), tình trạng mê tín, dị đoan trong thanh niên có chiều hướngphát triển ”[3; 1]
Những vấn đề tồn tại đó sẽ là lực cản đối với công cuộc đổi mới
mà toàn Đảng, toàn dân ta quyết tâm thực hiện cũng như là tạo điều kiệnthuận lợi cho kẻ thù chống phá ta
1
Trang 2Huế được coi là một trung tâm tôn giáo lớn bậc nhất của nước ta,bao gồm các tôn giáo: Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, Cao Đài.Thu hút số lượng đáng kể trong lực lượng thanh thiếu niên tham giatrong đó có khoảng 16.548 thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo tham giasinh hoạt Gia Đình Phật Tử, một tổ chức quy tụ để bồi dưỡng, giáo giụcthanh thiếu niên Phật tử Gia Đình Phật Tử Huế đã có những đóng góptích cực vào phong trào đấu tranh chống chế độ Mỹ-Ngụy của Phật Giáotrước đây Ngày nay, Gia Đình Phật Tử đã và đang có tác động mạnh
mẽ đến sự hình thành tính cách, lối sống của thanh thiếu niên và có một
vị trí nhất định trong tín đồ Phật giáo tại Thừa Thiên Huế
Những năm gần đây, nhất là từ năm 1992 đến nay, hoạt động GiaĐình Phật Tử phát triển khá mạnh, cả hình thức lẫn nội dung, lôi kéođược đông đảo quần chúng tín đồ Phật tử Bọn phản động lợi dụng Phậtgiáo, nhất là số đối tượng cực đoan chống phá cách mạng trong hàngngũ tu sỹ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất Phái Ấn Quang(Quảng Đức) tích cực lôi kéo tổ chức này theo chúng, tách rời sự lãnhđạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tập hợp lực lượng hậu thuẫn khicần thiết
Chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế muốn sử dụng tôngiáo như là một công cụ quan trọng để thực thi chiến lược ”Diễn BiếnHòa Bình” hòng chống phá Chủ Nghĩa Xã Hội ở nước ta, nên chúngcàng làm cho vấn đê tôn giáo ở bất kì nước nào, cũng như ở nước tatăng thêm phần phức tạp Bọn thù địch lấy vấn đề nhân quyền, đanguyên chính trị, đa đảng đối lập làm mất ổn định xã hội và gây bạoloạn lật đổ chế độ ta Huế luôn là ”điểm nóng” về tôn giáo nói chung,cũng như đối với Phật giáo nói riêng Vì vậy, đập tan âm mưu của kẻthù muốn lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá chế độ ta là vấn đề có ýnghĩa quan trọng sống còn Chúng ta chú ý tới việc tập hợp thanh thiếuniên tín đồ Phật giáo với ý nghĩa ”tranh thủ, tập hợp quần chúng”, trong
đó có thanh thiếu niên Phật tử về phía cách mạng, phá tan âm mưu
”giành quần chúng” để thực hiện những mưu đồ chính trị nham hiểmcủa các thế lực thù địch bên ngoài và bọn phản động lưu vong ngườiViệt
2
Trang 3Do vậy, nghiên cứu Gia Đình Phật Tử là vấn đề cần thiết đểchúng ta có cơ sở để quản lí và đấu tranh với hoạt động không thuần túytôn giáo của nó, giúp chúng ta nhận thấy được những ảnh hưởng của nóđối với thanh thiếu niên Huế hiện nay.
1.2 Tình Hình Nghiên Cứu Đề Tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề Phật giáo như: BùiĐăng Duy với “Phật giáo với văn hóa Việt Nam”; Nguyễn Tài Thư với:
”Lịch sử Phật giáo Việt Nam”; Thích Phụng Sơn với ”Những nét vănhóa của đạo Phật”; Lê Cung với ”Phật giáo Việt Nam với cộng đồng dântộc”, ”phong trào phật giáo ở Huế”; Trần Đại Vinh, Nguyễn HữuThông: ”Danh lam xứ Huế ”, Trần Cao Phong với ”Phật giáo Huế vớiviệc hình thành nhân cách con người Huế ”; Hoàng Ngọc Vĩnh với
”Chùa Huế và đời sống văn hóa tinh thần con người Huế ”, “Nét riêngPhật giáo Huê ”, “Về ảnh hưởng của Phật giáo Huế với đời sống vănhóa xã hội Huê ”, “Nhân sinh quan Phật giáo Huế qua góc nhìn của lịch
sử triết học”, “Phật giáo Huế và đời sống văn hoá tinh thần con ngườiHuế”; Phạm Thị Xê với ”Phật giáo Huế và vấn đề chính trị ”; về vấn đềlối sống của người Huế có các tác giả: Phan Ngọc, Hoàng Phủ NgọcTường, Tôn Thất Bình v.v
Ngoài ra, cũng đã có một số công trình nghiên cứu khoa học cấptrường đã nghiệm thu của một số cán bộ giảng dạy, sinh viên khoa Mác-Lenin Đại Học Khoa Học Huế, một số luận văn tốt nghiệp của sinh viêntriết học, giáo dục chính trị viết về đề tài Phật giáo
Nhìn chung, những công trình về đề tài Phật giáo đã được các tácgiả nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng nghiên cứu các tổchức thanh thiếu niên tôn giáo, đặc biệt đối với Gia Đình Phật Tử - một
tổ chức giáo dục thanh thiếu niên Phật giáo thì có thể xem chưa có mộtcông trình nào nghiên cứu kỹ lưỡng
Vấn đề nghiên cứu “Gia Đình Phật Tử và ảnh hưởng của nó trongthanh thiếu niên Huế hiện nay“ để bước đầu có được những nhìn nhận
và đánh giá về Gia Đình Phật Tử và ảnh hưởng của nó đến thanh thiếuniên hiện nay
1.3 Mục Đích Và Nhiệm Vụ Nghiên Cứu
3
Trang 4Hiện nay, trên thực tế sinh hoạt Gia Đình Phật Tử đã trở thànhnguyện vọng của một bộ phận thanh thiếu nhi Phật tử và gia đình của
họ Hiện tượng trên có nhiều nguyên nhân đáng quan tâm là ”sự lo lắngcủa nhiều cha mẹ Phật tử về tình trạng đạo đức xã hội có mặt xuống cấp,
số thanh thiếu niên hư hỏng chưa giảm, hiệu quả hoạt động của các đoànthể và và quản lí nhà nước về mặt xã hội còn chưa đạt hiệu qủa cao; từ
đó họ muốn có một hình thức sinh hoạt Phật tử, để giáo dục đạo đức vàvui chơi lành mạnh cho con em, mà trước đây họ có phần tin tưởng ”[17; 2]
Vấn đề đặt ra của luận văn là nghiên cứu Gia Đình Phật Tử, ảnhhưởng của nó đến thanh thiếu niên Huế hiện nay như thế nào
Từ mục đích đó nhiệm vụ của luận văn là:
- Giới thiệu một số nét về Phật Giáo và Gia Đình Phật Tử
- Tìm hiểu ảnh hưởng của Gia Đình Phật Tử đối với thanh thiếuniên Huế
- Nhận định, đánh giá về tổ chức hoạt động và ảnh hưởng của GiaĐình Phật Tử - từ đó, nêu lên những đề xuất, kiến nghị đóng góp
1.4 Cơ Sở Lí Luận Và Phương Pháp Nghiên Cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi chủ yếu dựa trên cơ sở vận dụng tổnghợp lí luận và phương pháp luận triết học Mác -Lênin, phương phápluận Mác Xít về vấn đề tôn giáo
Các quan điểm của Đảng, Nhà nước, Đoàn Thanh Niên về vấn đềthanh thiếu niên và tôn giáo , các tác phẩm của các nhà nghiên cứuPhật học; kế thừa có chọn lọc một số công trình nghiên cứu, các bài viếtcủa nhiều tác giả có liên quan đến nội dung của luận văn
Ơ đề tài này, tôi sử dụng phương pháp chủ yếu là: phương phápDuy Vật Biện Chứng và Duy Vật Lịch Sử, bên cạnh đó còn kết hợp vớiquan sát , phỏng vấn, phân tích, tổng hợp từ các báo cáo, các số liệuđiều tra mới của địa phương, các cơ quan chức năng liên quan đến tôngiáo ở Thừa Thiên Huế
1.5 Đối Tượng Và Phạm Vi Nghiên Cứu
4
Trang 5+ Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là tổ chức
và hoạt động của Gia Đình Phật Tử và ảnh hưởng của Gia Đình Phật Tửđối với thanh thiếu niên ở tỉnh Thừa Thiên Huế
+ Phạm Vi Nghiên Cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu ởThành phố Huế và ở các huyện có Gia Đình Phật Tử, số lượng lớn thanhthiếu niên tín đồ Phật giáo và những thanh thiếu niên khác
1.6 Giá Trị Của Đề Tài:
Đây là vấn đề tương đối mới, việc xác định bản chất, phươnghướng xử lí vấn đề Gia Đình Phật Tử là việc làm có ý nghĩa Trên cơ sởnghiên cứu ”Gia Đình Phật Tử và ảnh hưởng của nó trong thanh thiếuniên Huế hiện nay”, nhằm đưa ra những biện pháp để hạn chế nhữngảnh hưởng tiêu cực của nó là vấn đề thực tiễn cấp bách ở Thừa ThiênHuế hiện nay
Do thời gian tương đối ngắn cũng như trình độ của người nghiêncứu còn hạn chế, cho nên khó tránh khỏi nghiên cứu chưa sâu sắc Songvới thái độ khoa học và tình cảm của một người sinh ra và lớn lên ởHuế, trưởng thành trong tổ chức Đội Thiếu Niên Tiền Phong và là thànhviên của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, tôi bước đầu tìmhiểu đề tài này trên góc độ triết học, xã hội học và mang tính thựcnghiệm ứng dụng
Có thể nói, một số vấn đề được nghiên cứu trong luận văn có thểđóng góp cho đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội, Đội những hình thức sinhhoạt Gia Đình Phật Tử để có thể tham khảo
1.7 Kết Cấu Của Đề Tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài có 4chương, sáu tiết:
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ NÉT VỀ PHẬT GIÁO VÀGIA ĐÌNH
PHẬT TỬ VIỆT NAM1.1 Một Số Nét Về Phật Giáo Việt Nam1.2 Một Số Nét Về Gia Đình Phật Tử Việt NamCHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA GIA ĐÌNHPHẬT TỬ TRONG
5
Trang 6THANH THIẾU NIÊN Ở THỪA THIÊNHUẾ HIỆN NAY
2.1 Về Phương Diện Đạo Đức Lối Sống2.2 Về Phương Diện Sinh Hoạt Xã HộiCHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH- ĐÁNH GIÁ
VỀ GIA ĐÌNH
PHẬT TỬ Ở THỪA THIÊNHUẾ
3.1 Một Số Nhận Định Đánh Giá Chung3.2 Nhận Định Đánh Giá Anh Hưởng Của Gia ĐìnhPhật
Tử Trong Thanh Thiếu Niên Thừa Thiên HuếCHƯƠNG 4: MỘT SỐ Ý KIẾN KIẾN NGHỊ
Phần 2 : NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ NÉT VỀ PHẬT GIÁO
GIA ĐÌNH PHẬTTỬ VIỆT NAM 1.1 MỘT SỐ NÉT VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Phật giáo là tôn giáo từ bên ngoài đưa vào Việt Nam từ rất sớm,khoảng đầu kỉ nguyên tây lịch (khoảng thế kỉ thứ II) Luy Lâu, trị sởquận Giao Chỉ (hiện nay là phủ Thuận Thành- Bắc Ninh), đã sớm trởthành một trung tâm Phật giáo phồn vinh và quan trọng Tại đây, vớihoạt động truyền giáo của Khâu Đà La đã xuất hiện truyền thuyết Phậtgiáo Việt Nam đầu tiên với Thạch Quang Phật và Man Nương PhậtMẫu Sau nhiều thế kỉ chỉ đón nhận các nhà sư Ấn Độ và Trung Hoanhư Ma Ha Kỳ Vực, Khang Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác,Minh Viễn, Trí Hoằng, Tăng Già Bạc Ma đến thế kỉ thứ V trở đi, ViệtNam bắt đầu có các nhà sư như: Vân Kì, Mộc Xoa, Huệ Diệm, TríHành, Huệ Thắng, Đạo Thiền Tuy vậy, cho tới thế kỉ thứ X, ảnhhưởng Phật giáo Trung Hoa là chủ yếu ở Việt Nam
Từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ XIV là giai đoạn cực thịnh của Phậtgiáo Việt Nam, mà đỉnh cao là dưới triều đại Lý- Trần (1010-1400), giaiđoạn này Phật giáo phát triển mạnh, ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực
6
Trang 7của xã hội nhất là về tư tưởng, đạo đức, văn học, kiến trúc nhiều vịcao tăng trở thành quốc sư và là cố vấn của các nhà vua về mặt chính trị,quân sự, ngoại giao, kinh tế như nhà sư Đỗ Thuận, nhà sư Vạn Hạnh,
Từ Lộ Do đó, Phật giáo thời kì này là quốc giáo
Từ thế kỉ thứ XV trở đi, Phật giáo suy tàn dần, Nho giáo thay thế
vị trí của Phật giáo và trở thành quốc giáo Trong thời kỳ Nam Bắc phântranh Phật giáo được phục hồi lại, song không được rực rỡ nhưtrước.Các chúa Nguyễn và sau này là triều Nguyễn lấy Nho giáo làmchính thống song vẫn duy trì đạo Phật, không bài bác đạo Phật Do đó,Phật giáo cũng có sự phát triển nhất định đối tầng lớp quý tộc, quan lại
và đặc biệt là trong quần chúng nhân dân
Từ thế kỉ XVIII, Phật giáo có nhiều bước thăng trầm, cùng với sựthăng trầm của lịch sử dân tộc Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam, thựcdân Pháp cho phát triển Thiên chúa giáo, chèn ép phật giáo, tín đồ giảmsút, một số đông tăng ni phật tử tham gia chống Pháp, trở thành một bộphận trong khối quần chúng cách mạng Thực dân Pháp tạo ra tổ chức
”Chấn hưng Phật giáo”, nhằm khai thác khuynh hướng tiêu cực nhưsùng bái mê tín, lễ bái rùm beng tăng ni Phật tử không bỏ lỡ cơ hội,nắm phong trào đó để tập hợp lực lượng dưới nhiều hình thức, góp phầnthuận lợi cho cuộc Cách Mạng Tháng 8 năm 1945 Trong Mặt Trận ViệtMinh, đã xuất hiện Hội Phật Giáo Cứu Quốc; sau đó giáo hội tăng giàmiền Bắc, giáo hội tăng già miền Trung, giáo hội tăng già miền Nam,hội phật học miền Bắc, hội phật học miền Trung, hội phật học miềnNam, họp tại chùa Từ Đàm- Huế để thống nhất lại thành Tổng Hội PhậtGiáo Việt Nam (8/4/1951)
Từ năm 1954 đến 1975 là giai đoạn Phật giáo Việt Nam có nhiềubiến đổi Ơ miền Bắc, Hội phật giáo thống nhất Việt Nam ra đời, vừahoạt động tôn giáo, vừa hoạt động yêu nước trong cương lĩnh mặt trậnLiên Việt, sau là mặt trận Tổ Quốc Tăng ni, Phật tử cùng đồng bào cácgiới tích cực thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ CNXH, cùng nhândân miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà Năm 1958, Hội phật giáothống nhất Việt Nam tập hợp giới phật giáo miền Bắc, vừa hoạt độngtrong nước, vừa hoạt động quốc tế
7
Trang 8Ơ miền Nam, là giai đoạn sóng gió nhất trong lịch sử Phật giáoViệt Nam Chính quyền Ngô Đình Diệm, với chủ trương ”quốc gia hóaThiên chúa giáo trong 5 năm” đã thi hành chính sách kỳ thị tôn giáo,cấm đoán, đàn áp Phật giáo Để tổ chức lại lực lượng, các tăng ni vàPhật tử ở miền Nam đã thành lập được ”Giáo Hội Phật Giáo Việt Namthống nhất” (GHPGVNTN); lúc đầu có xu hướng thiên về các hoạt độngdân tộc và dân chủ nên GHPGVNTN rất mạnh, có uy tín Nhưng đếnnăm 1965-1966, dưới sự tác động, lôi cuốn, chia rẽ của Mỹ, Ngụy,GHPGVNTN bị phân hóa thành 2 phái “Việt Nam Quốc Tự” và ”ÂnQuang”.
Sau ngày miền Nam giải phóng (1975), đại đa số các chức sắc,tăng ni, phật tử có tinh thần dân tộc, gắn bó với cách mạng, phấn khởi tựhào yên tâm tu hành và tham gia hoạt động xã hội, xây dựng đất nước
Để đoàn kết lực lượng phật giáo cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng,11/1981 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN) được thành lập đây
là tổ chức thống nhất trong lịch sử 2000 năm của Phật giáo Việt Nam.GHPGVN hoạt động với phương châm: Đạo Pháp - Dân Tộc - CNXH,
đã trải qua 3 kỳ đại hội, đến nay đã được củng cố và phát triển Tuynhiên, bên trong tổ chức cũ, còn đọng lại một số chức sắc hậm hực vìđường lối hoạt động nói trên của Giáo hội, đã tìm cách nói xấu Giáo hội,gây rối trật tự, nhưng không gây được ảnh hưởng đáng kể Một số tăng
ni bỏ ra nước ngoài như Thích Nhất Hạnh, Thích Quảng Độ nhennhóm thành một tổ chức “hải ngoại” Bên cạnh cộng đồng người Việt ởnước ngoài chủ yếu là hoạt động quyên cúng, đóng góp xây chùa, và lẻ
tẻ có người kêu gào “nhân quyền” cho người trong nước, đòi thành lậpnước ”Việt Nam tự do mới”
Có thể nói rằng, đạo Phật vào Việt Nam đã hơn 2000 năm, đã quanhiều thời kì biến động, lúc thịnh đạt, lúc suy yếu, song được cải biếnkhông ít cả về nội dung giáo lý, niềm tin tôn giáo và hình thức tổ chức.Nhờ đó, cho đến nay đã khá hòa nhập với đời sống tinh thần và nhu cầutâm linh của đa số dân cư Tiếp thu ảnh hưởng của cả hai phía Ân Độ vàTrung Quốc, Phật giáo Việt Nam ngày nay hội tụ cả hai dòng chính củađạo Phật là Đại thừa và Tiểu thừa, chịu ảnh hưởng của cả 3 tông pháilớn là Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông Phật giáo Việt Nam đã
8
Trang 9tạo dựng cho mình một truyền thống gắn bó với dân tộc và xứ sở, gópphần quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, tạo nên nhiềunét khắc sâu trong tâm tưởng, đạo đức, tâm lý lối sống của nhân dân,thực tiễn là khi phát huy truyền thống đó thì Phật giáo thu được nhiềuthành quả cả về đạo và đời; ngược lại, thì uy tín giảm sút, quần chúngtín đồ lơ là, không gắn bó
Hiện nay, ở nước ta có 6 tôn giáo lớn: ”Phật Giáo với số lượngkhoảng 12.500 chùa chiền, gần 30.000 tăng ni, khoảng hơn 10 triệu tín
đồ (không kể hàng chục triệu người chịu ảnh hưởng của Phật giáo).Công Giáo khoảng gần 6 triệu tín đồ Tin Lành khoảng gần 400 ngàn tín
đồ Cao Đài khoảng gần 3 triệu tín đồ Hòa Hảo khoảng gần 2 triệu tín
đồ Hồi Giáo khoảng gần 50 ngàn tín đồ” (theo số liệu năm 1996) [8;1]
Từ số liệu đó ta thấy được rằng, Phật giáo là tôn giáo lớn nhất ở ViệtNam; trải qua hơn 2000 năm tồn tại và phát triển, có thể khẳng địnhđược rằng: đạo Phật đã thấm sâu vào lòng dân tộc, có thời kì đã trởthành quốc đạo
Phật giáo đã có những đóng góp đáng kể vào phát triển của xã hộiViệt Nam Tăng ni, tín đồ Phật giáo đã đoàn kết với toàn dân trong sựnghiệp dựng nước và giữ nước, đã cùng đứng về phía dân tộc chốngngoại xâm và xây dựng CNXH Tuy nhiên , Phật giáo còn có những hạnchế nhất, những tiêu cực nhất định, có lúc một bộ phận phật giáo bị bọnphản động nước ngoài lôi kéo, đã tỏ ra bất mãn, xuyên tạc cách mạng làđàn áp Phật giáo, phủ định những đóng góp của Phật giáo, kêu gọi
“nhân quyền” hảo kích động tăng ni, tín đồ chống lại cách mạng Songnhững điều đó không căn bản, Phật giáo Việt Nam nhìn chung vẫn gầngũi, gắn bó với dân tộc, với cách mạng, với sự nghiệp đổi mới của đấtnước
1.2 MỘT SỐ NÉT VỀ GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM 1.2.1 Sự Ra Đời Của Gia Đình Phật Tử Việt Nam
Vào những năm 30- 40 của thế kỷ XX, trong bối cảnh đất nước bị
nô lệ dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, đời sống của nhândân ta “một cổ hai tròng”, lầm than cơ cực; đời sống thanh niên vô cùngtối tăm trước chính sách “ngu dân để trị” và chúng còn đầu độc ta bằng
9
Trang 10rượu cồn và thuốc phiện; đa số thanh niên bị bắt lính, bắt phu, thất học.Trong hoàn cảnh ấy, một vài cơ sở ở thành thị, phong trào thanh niênđược nhen nhóm Lo sợ trước phong trào bình dân và phong trào thanhniên, thực dân Pháp, một mặt đàn áp, một mặt dùng mọi cách để phânhóa, đánh lạc hướng phong tráo cách mạng của thanh niên ta.
Vào thời điểm ấy, Phật giáo Việt Nam đang bước vào thời kỳchấn hưng ở cả 3 Miền Nhiều tổ chức Phật giáo ra đời như “Hội PhậtGiáo Bắc Kỳ”, “Hội An Nam Phật Học”, “Hội Phật Học Việt Nam” một số thanh niên trí thức theo đạo Phật, thấy các thanh niên tiến bộngoài xã hội luôn bị thực dân pháp nhòm ngó, đánh phá, họ cũng nhậnthấy rằng đạo đức thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ xuống cấp nghiêmtrọng, nên họ đã dựa vào phong trào chấn hưng Phật giáo để tổ chức cáchội, đoàn trong Phật giáo với mục đích chăm lo ”đức dục” và “trí dục”cho thanh thiếu niên theo tinh thần của đạo Phật Những năm 1930-
1944, từ tổ chức “Gia Đình Phật Tử Đồng Ấu” đổi thành ”Đoàn ThanhNiên Đức Dục” và “Gia Đình Phật Hóa Phổ” những người sáng lập vàhướng dẫn đầu tiên là các ông Lê Đình Thám, Tôn Thất Tùng, NgôĐiền đó cũng là những cư sĩ đầu tiên trong việc phục hưng và cách tânPhật giáo nước ta
Sau cách mạng Tháng 8 năm 1945, Pháp bội ước, quay lại xâmlược nước ta, cả dân tộc đi vào kháng chiến chống Pháp Đại bộ phận cư
sĩ và huynh trưởng Gia Đình Phật Tử và nhiều người khác tham gia cáchmạng, họ làm nòng cốt trong phong trào Phật giáo cứu quốc như bác sĩ
Lê Đình Thám, Tôn Thất Tùng, Phan Duy Trinh, Nguyễn Thị Vân cùngnhiều người khác
Ơ vùng tự do, các tổ chức thanh thiếu niên Phật giáo nói trênkhông hoạt động nữa, tất cả tuổi trẻ tham gia phong trào quần chúng,chiến đấu cứu quốc
Ơ vùng tạm chiếm, xuất phát và tập trung ở Huế, các cư sĩ, huynhtrưởng và các nhà sư đã tiếp tục và phát triển các “Gia Đình Phật HóaPhổ” dưới hình thức “Gia Đình Hướng Thiện” sinh hoạt tại tư gia bácPhan Cảnh Tú, ”Gia Đình Gia Thiện” sinh hoạt tại Chùa Ông, ”GiaĐình An Thiện” sinh hoạt tại tư gia bác Phan Tuân ở An Cựu cho đếnnhững năm 1949- 1950 Mặc dù, “Gia Đình Phật Hóa Phổ” phát triển
10
Trang 11mọi nơi, nhưng tại Thuận Hóa, năm 1947, danh từ “Gia Đình Phật Tử”lần đầu tiên được sử dụng, sau đó lan dần ra Quảng Trị, Đà Nẵng, ĐàLạt, Sài Gòn
Ngày 6/5/ 1951, Đại hội phật giáo toàn quốc họp tại chùa TừĐàm- Huế, gồm 51 đại biểu tăng già và cư sĩ của 6 tập đoàn ba Miền đểthành lập ”Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam” do hòa thượng Thích TịnhKhiết làm hội chủ, chức danh ủy viên gia đình Phật tử được xác địnhtrong tổng hội và do ông Võ Đình Cường phụ trách Từ đó “Gia ĐìnhPhật Tử” chính thức ra đời, có quy chế , cấp hiệu, đồng phục có cơ cấu
từ trung ương đến địa phương Ngày 1/1/1953, Hội nghị Gia Đình Phật
Tử toàn quốc lần thứ nhất được triệu tập tại chùa Từ Đàm- Huế thì danhhiệu, tổ chức và sinh hoạt Gia Đình Phật Tử lần đầu tiên được thốngnhất trong toàn quốc (vùng tạm chiếm là chính)
Sau hòa bình lập lại (1954), ngày 31/7/1955, Gia Đình Phật Tửtiến hành đại hội III tại Đà Lạt để củng cố tổ chức, kiện toàn Ban hướngdẫn Trung Ương cũng như quy định ban hướng dẫn cho các cấp tỉnh,thành Song Gia Đình Phật Tử chỉ hoạt động ở miền Nam và gặp nhiềukhó khăn do chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô ĐìnhDiệm, nhất là tiếp tục thực hiện Đạo Dụ Số 10 của Bảo Đại Tổng thốngNgô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp, bắn giết, thủ tiêu, cướp bóc vànhiều đoàn sinh, thượng tọa, đại đức, tăng ni bị chụp mũ là ”Việt cộng”,
bị tù đày, thủ tiêu như Phật tử Hà Thừa, Đỗ Trọng, Dương Khanh,Nguyễn Hữu Khánh , Phạm Thơ, Hà Ngu, Phạm Phẩm, Nguyễn Thị Lễ,Nguyễn Nhung bị ”tình nghi là cộng sản” nên tạm giam vào trại cảihuấn ; thầy Thích Minh Tịnh bị vu khống là “cộng sản” nên lãnh đòn tratấn
Như một nhu cầu tìm sự ổn định tâm linh và phản ứng mạnh mẽvới chế độ Ngô Đình Diệm, quần chúng miền Nam tham gia ủng hộ vàdựa vào Phật giáo ngày càng đông Gia Đình Phật Tử, do đó có nhiềuđiều kiện để thu hút, tập hợp thanh thiếu niên vào tổ chức Gia ĐìnhPhật Tử ngày càng phát triển và trở thành nòng cốt của Giáo Hội PhậtGiáo
Cùng với phong trào của đoàn sinh Phật tử, các đoàn thể thanhniên như: Đoàn thanh niên hướng đạo, Đoàn thanh niên nhu đạo phát
11
Trang 12động phong trào đấu tranh mạnh mẽ bằng mọi hình thức như: tổ chứcbiểu tình, bãi khóa liên tục trong các trường đại học, trung học công và
tư Tinh thần đấu tranh anh dũng của các trường nam trung học như:Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn, Võ Trường Toản; các trường nữ trung họcnhư Gia Long, Trưng Vương v.v các trường Pháp như Jj.Rouseau,Marie Curie cũng vùng lên ủng hộ bằng cách bãi khóa và tổ chức nhữngcuộc biểu tình ngoài ra còn có các tư thục như Thủ Khoa, Trần HưngĐạo, trường cao đẳng kỹ thuật Cao Thắng, trường mỹ nghệ Gia Định vàcòn nhiều trường đại học khác tạo thành ngòi nổ và là lực lượng chínhhậu thuẫn cho Giáo hội, bảo vệ Giáo hội, góp phần tạo nên sự kiện ngày1/11/1963
Vào những năm 1964-1967, Gia Đình Phật Tử phát triển mạnh,đoàn sinh gia đình phật tử lên đến 30 vạn, có 3 vạn huynh trưởng ở cáctỉnh, thành trong toàn quốc
Năm 1967, cùng với sự phân hóa trong các chức sắc lãnh đạoGHPGVNTN, thì Gia Đình Phật Tử không còn là một tổ chức thuần túygiáo dục thanh thiếu niên Phật giáo như mục đích ban đầu của nhữngngười sáng lập mà bị chi phối bởi những phe phái và cá nhân có tham
vọng trong Giáo hội Trước tình hình đó, đại hội huynh trưởng Gia Đình
Phật Tử toàn quốc lần thứ IV (1967) được triệu tập tại chùa Xá Lợi - SàiGòn đã đánh dấu sự phát triển, lớn mạnh của Gia Đình Phật Tử Nộidung đại hội là: tu chỉnh quy chế huynh trưởng Gia Đình Phật Tử ViệtNam, nội quy Gia Đình Phật Tử Việt Nam, xác định các hình thức đàoluyện huynh trưởng, thành lập Ban hướng dẫn Trung Ương thay thế choBan hướng dẫn các phần
Đặc biệt, qua các quy chế này, Gia Đình Phật Tử gần như tồn tạisong song với GHPGVNTN, điều đó chứng tỏ rằng Gia Đình Phật Tửvừa có đủ sức mạnh, vừa không bị ràng buộc với Giáo hội Nhưng dochiến tranh “leo thang” liên tục của Mỹ nên nhiều huynh trưởng, đoànsinh phải tham gia Ngụy quân, Ngụy quyền tuy nhiều người khôngmong muốn; song, đại bộ phận vẫn tích cực tham gia phong trào đấutranh đô thị, một số khác thoát ly, tham gia cách mạng Những gươngmặt đã hy sinh trong cuộc đấu tranh chống lại sự đàn áp của chínhquyền Ngô Đình Diệm như: huynh trưởng Phan Duy Trinh của Gia
12
Trang 13Đình Phật Tử Kim An, oanh vũ Đặng Văn Công bị bắn chết tại Đài phátthanh- Huế, Đào Phi Yến của Gia Đình Phật Tử Linh Khứu- Nha Trang,Nguyễn Thị Vân của Gia Đình Phật Tử Thành Nội- Huế, huynh trưởngPhan Gia Ly của Gia Đình Phật Tử Hòa Bình- Huế, Đào Thị Tuyết củaGia Đình Phật Tử ở Sài Gòn
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, Gia Đình Phật Tử không cònhoạt động nữa Một bộ phận di tản ra nước ngoài, số lượng trung giantiếp tục bị phân hóa; trong đó, đại đa số ủng hộ cách mạng Một bộ phậnnhỏ trung thành với Gia Đình Phật Tử vẫn bí mật sinh hoạt, xây dựngphong trào nhưng chưa chính thức và mang sắc thái riêng như trướcnăm 1975
Từ những năm 1986-1987, với không khí đổi mới trong xã hội,xuất hiện nhiều tổ chức hoạt động theo nhu cầu nghề nghiệp Một số tổchức Phật giáo và Gia Đình Phật Tử trước năm 1975 được phục hồi.Trong tình hình đó, Gia Đình Phật Tử nhanh chóng được khôi phục tạiHuế, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên và từ 1991 đến nay, Gia Đình Phật
Tử công khai hoạt động và phát triẻn nhanh chóng hầu hết các tỉnh miềnTrung và một số tỉnh miền Nam Cuối năm 1994 Gia Đình Phật Tử đã
có ở 18 tỉnh thành trong cả nước Tuy vậy, nhiều vị cao tăng trong GiáoHội Phật Giáo Việt Nam cương quyết không thừa nhận Gia Đình Phật
Tử, phải đến Đại hội III của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được triệutập (1995), vấn đề Gia Đình Phật Tử mới được chính thức đặt ra vàthông bạch 445 ngày 21/7/1995 của Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội PhậtGiáo Việt Nam và nghị quyết 473/ NQ/ HĐTS đã cụ thể hóa tinh thầnĐại hội III về Gia Đình Phật Tử là:
- Gia Đình Phật Tử là một hình thức tu học của nam nữ Phật tửtrẻ, là một phận sự quan trọng của giáo hội, được sự lãnh đạo trực tiếpcủa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Sinh hoạt Gia Đình Phật Tử phảiđúng Hiến chương Phật giáo và Pháp luật Nhà Nước Việt Nam
- Hoạt động Gia Đình Phật Tử phải được thực hiện trong chùa,Niệm Phật Đường, phải được sự bảo trợ của tăng ni trụ trì chùa hoặcban hộ trợ của niệm phật đường Không được danh xưng trước năm
1975 nếu không được sự cho phép của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
13
Trang 14- Từng bước triển khai, nghiên cứu thí điểm và xây dựng quy chếcho Gia Đình Phật Tử trong điều kiện mới.
Tuy vậy, trong quá trình khôi phục và phát triển, Gia Đình Phật
Tử có chiều hướng được khôi phục theo quan điểm cũ Ngày 20/2/1995Hội nghị huynh trưởng cấp toàn quốc họp tại Đà Lạt và thành lập: “Banhướng dẫn Gia Đình Phật Tử Trung Ương” với 28 thành viên, doNguyễn Châu làm quyền trưởng ban, đã đi trái với pháp luật, ngược lạichủ trương của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Hoạt động của Gia Đình Phật Tử ngày càng trở nên phức tạp, khimột số huynh trưởng công khai chống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.Đặc biệt, khi Đảng và Nhà Nước ta cho phép Gia Đình Phật Tử hoạtđộng lại thì những hoạt động chống phá càng rõ nét hơn Một bộ phậnhuynh trưởng di tản ra nước ngoài đã liên lạc Gia Đình Phật Tử trongnước phát triển và Gia Đình Phật Tử bắt đầu nhen nhóm ở Hà Nội.Trước tình hình đó, Đại hội Phật giáo Việt Nam lần thứ IV (1997) họptại Hà Nội, vấn đề Gia Đình Phật Tử đã được ghi vào Hiến chương củaGiáo hội (chương 5 điều 19), quy định Gia Đình Phật Tử nằm trong Banhướng dẫn Phật tử là một phân ban gọi là Phân ban hướng dẫn Gia ĐìnhPhật Tử Việt Nam Như vậy, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có Banhướng dẫn phật tử từ trung ương đến địa phương để hướng dẫn việc tuhọc và có pháp lý để sinh hoạt
1.2.2 Mục Đích- Tôn Chỉ Của Gia Đình Phật Tử
Mục đích- tôn chỉ của Gia Đình Phật Tử Việt Nam là ”đào luyệnthanh thiếu niên, đồng niên thành Phật tử chân chính” [12; 457], xâydựng hạnh phúc, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần của Phật giáo.Một Phật tử chân chính là một phật tử đã quy y Phật - Pháp- Tăng, giữgiới phát nguyện tức là rèn luyện, giữ giới luật của đức Phật chế địnhnhư ngũ giới, ngũ hạnh
- Châm ngôn của Gia Đình Phật Tử được quy định theo trạng tháitâm lý của đoàn sinh:
+ Đối với ngành Oanh (độ tuổi từ 6 đến 12 tuổi) châm ngôn làHòa - Tin Yêu - Vui Vẻ
+ Đối với ngành Thiếu (độ tuổi từ 13 đến 17 tuổi) và ngànhThanh (độ tuổi từ 18 đến 35 tuổi) châm ngôn là Bi- Trí- Dũng
14
Trang 15Những châm ngôn ấy được thể hiện nhuần nhuyễn trong chươngtrình tu học và sinh hoạt của Gia Đình Phật Tử là: Phật pháp, văn nghệthường thức và hoạt động thanh niên Cho nên, Gia Đình Phật Tử là một
tổ chức giáo dục trong hội Phật học, nó lấy giáo lý nhà Phật làm cănbản, vì giáo lý ấy có đủ 3 điều kiện cần thiết để đào tạo con người theođúng nghĩa của nó: phần tình cảm ” Bi”; phần lý trí ” Trí”; phần ý chí ”Dũng”, “Thiếu một trong ba phần ấy, con người chưa phải là con người
Ba phần ấy được phát triển điều nhau và cho đến cùng độ, để xứng đángvới con người luôn tiến bộ Chúng tôi vì mục đích giáo dục mà lựa chọnPhật giáo làm nền tảng chứ không phải vì Phật giáo mà lôi kéo thanhniên Đạo là con đường, mà con đường mới thực sự là mục đích” [7; 25-
26 ]
Khẩu hiệu chung của Gia Đình Phật Tử là “Tinh - Tấn”, nghĩa làluôn tiến thân trên con đường trong sạch, trên con đường hướng đếnmục đích của Gia Đình Phật Tử, trên con đường đạo Tinh - Tấn là sựtiến lên, vươn tới những cái tốt đẹp hơn, trong sáng hơn
Các đoàn sinh phải tuân theo luật của Gia Đình Phật Tử như sau:
- Đối với đồng niên (ngành Oanh): + Em luôn tưởng nhớ Phật +
Em luôn kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh, chị, em + Em thươngngười và vật
- Đối với Thanh Thiếu Niên (ngành Thiếu và ngành Thanh): +Phật tử quy y Phật - Pháp- Tăng và giữ giới đã phát nguyện + Phật tử
mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống + Phật tử trau dồi trí tuệ, tôntrọng sự thật + Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nóiđến việc làm + Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo
Kỳ hiệu của Gia Đình Phật Tử có kích thước và hình dáng lớnnhỏ khác nhau, một mặt thêu hoa sen trắng tám cánh trên nền xanh lá
mạ viền trắng trong vòng tròn, một mặt thêu tên của Gia Đình Phật Tử(tỉnh); đoàn (tên đoàn); đội chúng (tên); đàn (tên) nền cờ màu lục rêu
Đồng phục: ngành Oanh Vũ, nam: quần, mũ màu xanh; nữ: mũtrắng, đỉnh tròn, vành tròn, jupe xanh Cả hai giới đều mang áo lam, hợpvới lứa tuổi các em nhỏ
15
Trang 16Nam huynh trưởng và thiếu nam: áo sơ mi ngắn tay có màu lam,quần sọt xanh, mũ có vanh rộng, chân đi giày có tấc cao hết ống chân,hoặc dép có quai sau.
Nữ huynh trưởng và thiếu nữ: áo dài màu lam, trên ngực đeo huyhiệu, phù hiệu, bảng tên, vai tay trái có cấp hiệu
Cách chào của Gia Đình Phật Tử theo lối bàn tay phải bắt ấn “CátTường” đưa lên ngang tai
Huy hiệu của Gia Đình Phật Tử có hình hoa sen trắng tám cánhtrên nền xanh lá cây, đặt trong một hình tròn
Bài ca chính thức của Gia Đình Phật Tử là ”Hoa Sen Trắng” nhạccủa Ưng Hội, lời của Phạm Hữu Bình và Nguyễn Hữu Quán
1.2.3 Hệ Thống Tổ Chức Của Gia Đình Phật Tử
Hệ thống tổ chức của Gia Đình Phật Tử khá chặt chẽ, mỗi giađình là một tế bào cấu thành Gia Đình Phật Tử Việt Nam, gắn liền mộtchùa hay một niệm phật đường Mỗi Gia Đình Phật Tử có tối thiểu làhai đoàn và tối đa là 6 đoàn; nếu có nhiều đoàn, có thể tổ chức thànhliên đoàn nam, liên đoàn nữ, mỗi đoàn có từ 12 đến 32 đoàn sinh Dướiđoàn là đội (thanh thiếu niên nam), chúng ( thanh thiếu niên nữ), đoàn( Oanh vũ nam, Oanh vũ nữ ) Mỗi đội, chúng, đoàn có từ 6 đến 8 đoànsinh
Mỗi đoàn có một đoàn trưởng, một hoặc hai đoàn phó Mỗi đội,chúng, đoàn có một trưởng và một phó trông coi Có thể dựng cấu trúcGia Đình Phật Tử như sau:
16
GĐPT
( 2-6 đoàn)
Đoàn
Trang 17
Phụ trách một Gia Đình Phật Tử là Ban huynh trưởng gia đìnhgồm một huynh trưởng, hai liên đoàn (một phụ trách đoàn nam, một phụtrách đoàn nữ), một thư ký, một thủ quỹ và các đoàn trưởng, đoàn phócủa hai ngành Bên cạnh đó, có một ban bảo trợ của khuôn hội, niệmphật đường hay một chùa
Trong hệ thống tổ chức Gia Đình Phật Tử, các huynh trưởng cóvai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thịnh, suy của tổ chức và
có tác dụng giáo dục dối với đoàn sinh Các huynh trưởng được phâncấp theo tiêu chuẩn và mỗi cấp có quyền hạn, nhiệm vụ nhất định, đượcghi trong quy chế huynh trưởng Huynh trưởng có bốn cấp từ thấp đếncao: Tập, Tín, Tấn, Dũng; huynh trưởng cấp Dũng thường nằm trongban hướng dẫn Gia Đình Phật Tử Trung Ương và là cấp cao nhất Hệthống chỉ đạo của Gia Đình Phật Tử khá chặt chẽ từ trung ương đến cơ
sở, mỗi đơn vị cấp dưới phải phục tùng cấp trên và tổ chức giáo hộicùng cấp Nhưng xét toàn cục, Gia Đình Phật Tử lại là một hệ thống tồntại song hành và tương đối độc lập với Giáo Hội Phật Giáo, đặt dưới sựlãnh đạo do Đại hội Gia Đình Phật Tử cùng cấp bầu lên Tính đến năm
1975, Gia Đình Phật Tử đã qua 8 kỳ đại hội
Hệ thống tổ chức Gia Đình Phật Tử trước 1975 được mô phỏngkết cấu như sau:
Đàn
(Oanh vũ nam)
Đàn
(Oanh vũ nữ)
Vụ GĐPT
Ban hướng dẫn TW
GĐPT
Ban hướng dẫn GĐPT Miền
Ban hướng dẫn GĐPT Quận
Ban hướng dẫn
GĐPT
Ban hướng dẫn
Trang 18Ơ đây chúng ta thấy, hệ thống tổ chức Gia Đình Phật Tử gần nhưtách biệt với Giáo hội, hình thành một hệ thống tổ chức riêng đi quá xa
so với tinh thần của một tổ chức tu học cho nam nữ Phật tử trẻ và khác
xa so với tinh thần thành lập ban đầu Vì vậy, trong lịch sử phát triểncủa Gia Đình Phật Tử có lúc hoạt động của nó vượt quá giới hạn tôngiáo và mang màu sắc chính trị
Trong điều kiện mới, thông bạch 445 và hướng dẫn thực hiệnthông bạch của hội đồng trị sự TW- GHPGVN đã xác định: Gia ĐìnhPhật Tử là một tổ chức tu học của thanh thiếu niên Vì vậy, mọi hoạtđộng của Gia Đình Phật Tử đặt dưới sự lãnh đạo và bảo trợ trực tiếp củaGiáo Hội Phật Giáo Việt Nam thông qua Ban hướng dẫn nam nữ phật tửtrong đó có ủy viên đặc trách của Gia Đình Phật Tử
Mô phỏng tổ chức Gia Đình Phật Tử theo tinh thần Thông Bạch
Ban hướng dẫn nam, nữphật
tử Tỉnh, Thành phố
Trang 19
1.2.4 Hoạt Động Của Gia Đình Phật Tử
1.2.4.1 Những Nội Dung Hoạt Động
Mục đích của Gia Đình Phật Tử là đào tạo thanh thiếu niên thànhnhững Phật tử chân chính, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phậtgiáo Vì vậy, nội dung giáo dục chính tập trung trên hai mặt: giáo dụcĐức dục và giáo dục Trí dục Vấn đề giáo dục của Gia Đình Phật Tửdựa trên những vấn đề cơ bản trong giáo lý, giới luật để xây dựngchương trình giáo dục cho thanh thiếu niên
Giáo dục đạo Phật dựa trên nguyên tắc: ”Lý, Nhân, Duyên, Sinh”.Nguyên tắc này chi phối vũ trụ và nhân sinh
- Vũ trụ quan của Phật giáo là vũ trụ quan: Nhân, Duyên
Giáo lý “Duyên khởi” là giáo lý độc đáo nhất của phật giáo,
”Duyên khởi nói lên được thực tướng và thực tính của các pháp “Duyênkhởi” được Đức Phật quan niệm như sau: ”này các Tỳ kheo, thế nào là
lý Duyên khởi? Này các Tỳ kheo, vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúcduyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh,sinh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên Như vậy toàn
bộ khổ uẩn tập khởi Này các tỳ kheo như vậy gọi là tập khởi do đoạndiệt ly tham vô minh một cách hoàn toàn, nên hành diệt, do hành diệtnên thức diệt, do thức diệt nên danh sắc diệt, do danh sắc diệt nên sáu
xứ diệt, do sáu xứ diệt nên thọ diệt, do thọ diệt nên ái diệt, do ái diệt nênthủ diệt, do thủ diệt nên hữu diệt, do hữu diệt nên sinh diệt, do sinh diệt
19
Uy viên đặc tráchGĐPTTỉnh, Thành phố
Trang 20nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não diệt, như vậy toàn bộ khổ uẩn nàyđoạn diệt, này các tỳ kheo như vậy gọi là đoạn diệt” [20; 1-2]
Theo giáo lý “Duyên khởi” thì 12 chi phần này, vô minh khôngphải là điểm đầu, vì các pháp nương nhau mà có, một pháp sinh thìmười một pháp kia sinh khởi Nên ở đây vô minh được kể làm đầu làĐức Phật muốn nhấn mạnh cho chúng ta thấy ý nghĩa tu tập về trí tuệ
“Duyên khởi” được diễn tả qua 12 chi phần, ở đây như vòng trònmắt xích nối tiếp nhau liên tục, chặt chẽ, nó không có điểm đầu và điểmcuối Chúng vận hành theo một quy luật tự nhiên, tạo nên sự hiện hữucủa vũ trụ, tạo nên vòng luân hồi trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị laiđây cũng là sự vận hành nhân quả của 12 chi phần này là kết quả của chiphần trước đó, và là nguyên nhân của chi phần sau nó Ngược lại, mộtchi phần diệt thì 12 chi phần đoạn diệt và toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt
“Duyên khởi” được Đức Phật tóm tắt như sau:
“Do cái này có mặt, cái kia có mặt Do cái này sinh, cái kia sinh
Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt Do cái này diệt, cái kiadiệt” [20; 33]
Điều đó nói lên được tính trùng trùng duyên khởi của các pháp,
do vậy mọi sự vật- hiện tương trong thế gian luôn chịu sự liên hệ hổtương với nhau, biến đổi “vô thủy”, “vô chung”, “vô cùng”, “vô tận”.Cho nên, chính trong tự thân của chúng không có chủ thể trường tồn,chúng chỉ tồn tại theo quy luật nhân duyên
Giáo lý “duyên khởi” Phật giáo nói lên được sự thật thực tướngcủa các pháp và chỉ cho chúng ta thấy được tính tương hệ mật thiết giữapháp này với pháp kia Đồng thời trả lời được câu hỏi về bản chất củacác pháp và nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ “Duyên khởi” của phậtgiáo nói lên sự vô ngã và phủ nhận tự ngã Đức Phật dạy con người vì
vô minh nên không thấy được thực tính của các pháp là vô thường biếnhoại mà luôn cho nó là trường tồn, vĩnh cửu nên tham ái, chấp thủ chịukhổ mãi trong luân hồi sinh tử
- Nhân sinh quan Phật giáo:
Đức Phật luôn đặt trọng tâm vào con người, những gì đức Phậtdạy đều nhằm vào mục đích vì con người và cho con người Phật giáo
sở dĩ có sức thuyết phục lớn đối với nhân loại là chính đức Phật luôn đặt
20
Trang 21quyền bình đẳng giữa con người với con người Ngài dạy: ”nhất thiếtchúng sanh giai hữu Phật tánh” và tuyên bố ”ta là Phật đã thành cácngười là phật sẽ thành”.
Theo tinh thần duyên khởi của Phật giáo, con người được cấuthành bởi 5 thủ uẩn:
+ Sắc uẩn gồm tứ đại: địa, thủy, hỏa, phong
+ Thọ (thụ) uẩn là sự thọ nhận, với cảm giác vui, buồn, không vuikhông buồn
+ Tưởng uẩn là khả năng khinh nghiệm, hồi tưởng về sắc, hương,
vị, xúc, pháp
+ Hành uẩn là sự vận hành của thân, khẩu, ý
+ Thức uẩn là ý thức, hiểu biết, ghi nhận sự hiện hữu của cácpháp Năm yếu tố này hình thành do sự tiếp xúc của sáu căn, sáu trầnvới ý niệm chấp thủ, tạo thành thân ngũ uẩn uẩn, thực tế con người là docác duyên kết hợp mà sanh, duyên tan gọi là diệt Do đó, con người là
vô ngã vô thường, con người do vì nắm giữ cái ngã, cái thường nên cảmthọ khổ đau, giữa đời thật sự vô ngã, vô thường Đức phật dạy:
“Tất cả các pháp vô ngã Với tuệ quán thấy vậy Đau khổ được nhàm chán Chính con đường thanh tịnh” [10; 279]
Hiểu được như vậy, chúng ta không còn chấp thủ linh hồn là chủthể tuyệt đối, linh hồn là bất diệt, tách rời thân xác Phật giáo quan niệmrằng, không có đấng tối thượng nào chi phối con người cả, đời sống conngười do con ngươi tự quyết định Mọi nguyên nhân khổ đau của conngười đều xuất phát từ vô minh, vì vô minh che lấp chơn tâm Muốnthoát khỏi khổ đau phải phá bỏ vô minh để chơn tâm thể hiện trở về bảntánh thanh tịnh của mình Chính vì vô minh tạo nên nghiệp ác, chồngchất, đưa đẩy đến đau khổ
Toàn bộ giáo lý của đức Phật chỉ nói lên một điểm duy nhất là sựthực của khổ và con đường diệt khổ, đức Phật nói: ”này các tỳ kheo, xưacũng như nay ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ” [19; 140] Đức phật dạytất cả những gì ngài nói đều là phương tiện giúp chúng sanh đoạn tậnkhổ đau, kinh Kim Can viết: ”nhất thiết tu đa la như tiêu nguyệt chỉ”,
21
Trang 22”những đẳng tỳ kheo tri ngã thuyết pháp như phiệt dự giả, pháp thượngưng xả, hà huống phi pháp” tức là như ngón tay chỉ mặt trăng mà ngóntay không phải là mặt trăng, như chiếc thuyền giúp chúng sanh đến bờgiác ngộ.
Đức phật khuyên chúng ta hãy tự mình tìm giải thoát cho chínhmình, vì con người là chủ nhân của chính mình ”đức Phật không giảithoát con người, nhưng ngài dạy con người phải tự giải thoát chínhmình, như chính ngài đã tự giải thoát ngài Con người chấp nhận giáo lýcủa ngài là chân lý, không phải giáo lý này đến từ nơi ngài Nhưng vìlòng xác tín cá nhân, thức tĩnh bởi những lời ngài dạy, trỗi dậy bởi ánhsáng trí tuệ của chính mình” [16; 121] Đức phật dạy: ”ví như, này pa hà
rà da, biển lớn chỉ có một vị mặn, cũng vậy, này pa hà rà da pháp và luậtnày cũng chỉ có một vị là vị giải thoát” [19; 563], qua câu nói này chúng
ta có thể xác định rằng: mục đích duy nhất của đức Phật là đưa chúngsanh đến bờ giải thoát mọi sự khổ đau, vắng mọi vô minh , ái thủ haynói cách khác mục đích hướng đến nhằm đem lại hạnh phúc cho nhânloại
Theo ngài tất cả mọi đau khổ sung sướng của kiếp người đều donghiệp lực của chúng ta tạo nên Tạo nghiệp thiện chúng ta sẽ được anvui, tạo nghiệp ác chúng ta sẽ chịu đau khổ Những chủng tử thiện áchằng ngày đều huân tập trong lại gia thức của chúng ta, do vậy chúng tahuân tập nhiều chủng tử thiện để con người trở nên hiền thiện, hạnhphúc tối thượng không bị tam độc Tham- Sân- Si chi phối mà là mộthạnh phúc bằng Từ Bi, Trí Tuệ và nghị lực, phải nhận biết mọi vấn đềđều có Tánh (bản chất tự tánh)- Tướng (hình thức thể hiện tự tánh)-Dụng (vận dụng cái tướng để đi đến cái tánh) là những vấn đề thiết thựcnâng cao giá trị và địa vị của mỗi người tốt đẹp
Đứng về mặt triết học, phật giáo là duy tâm chủ quan, có yếu tố
vô thần và tư tưởng biện chứng ở cấp độ sơ khai Yếu tố duy tâm củaphật giáo khi xem xét thế giới và con người, giải thoát của đạo phật làbằng con đường giác ngộ, giác ngộ để cứu thoát, cứu giả nhân loạinhưng chủ trương giải thoát bằng con đường ”tu dưỡng” hoặc kêu gọi từbi- hỷ xả Con đường này thực tế không thể giải quyết được những vấn
đề mâu thuẫn giai cấp gay gắt nảy sinh trong xã hội có giai cấp Trước
22
Trang 23những mâu thuẫn đó phật sa vào cõi hư vô, kinh duy ma cật viết: ”nếutâm con người thanh tịch thì thế giới trở nên thanh tịch” [5; 125]
Phương pháp tu hành của đạo phật có nhiều pháp môn cao thấpkhác nhau tùy thuộc vào trình độ hiểu biết, tùy ở căn tính của từng hạnngười, nên phép tu được phân biệt theo 5 thừa: nhơn thừa, thiên thừa,thinh văn, duyên giác và bồ tát Trong đó, có hai môn pháp chủ yếu là:nhân thừa và thiên thừa:
- Tu nhơn thừa phải theo hai điều: + quy y tam bảo: xuất gia,nương vào phật, pháp, tăng + giữ giới: gồm 5 điều cấm: sát sinh, đạotạc, tà dâm, vọnh ngữ, tửu
- Tu theo thiên thừa: Người tu theo thiên thừa còn phải tránh 10điều ác, thực hành 10 điều thiện vì con người làm điều lành hay điều ácđều do Thân, Khẩu, Ý mà ra Do đó, ngoài việc giữ giới, thiên thừa cònchú trọng vào việc khuyên làm các điều lành trong phép tu Thân, Khẩu,Ý:
* Tu thân gồm 3 điều cấm vừa phải làm điều lành:
+ không giết hại chúng sanh + phải phóng sanh
+ không trộm cắp + phải bố thí
+ không tà dâm + phải tìm thú vui về tinh thần, đạo lý
* Giữ khẩu gồm 4 điều :
+ không phạm vọng ngữ + phải nói theo thiện ý
+ không nói lời vu khống, xuyên tạc + phải nói lời trung thực+ không nói lời độc ác, xúc phạm + phải nói về điều thiện, khiêmtốn
+ không có lời gây thù nghịch + phải nói lời gây tình thân
* Giữ ý có 3 điều: không tham, không sân, không si
Phật giáo luôn coi trọng việc tu dưỡng, rèn luyện của bản thâncon người nên đề cao tinh thần sám hối Sám hối đúng nghĩa của nó phải
có đủ tâm hổ thẹn và cầu tiến Vì hổ thẹn, phật tử không thể chấp nhậntội lỗi mãi, cầu thành tâm sám hối rồi mới an ổn Với tinh thần cầu tiến,phật tử dứt khoát với những lỗi lầm đã qua, để tiến lên tu hành tinh tiến
Vì vậy, khẩu hiệu của Gia Đình Phật Tử là tinh tấn, trong sinh hoạt GiaĐình Phật Tử có phút sám hối cũng như các tôn giáo khác, phật giáo rấtcoi trọng niềm tin, đó là “chánh tín”
23
Trang 24- Phương pháp tập thể tự quản: Phương pháp này nhằm giáo dụccác đoàn sinh trong tập thể, vì tập thể để các đoàn sinh dễ hòa nhập vớicộng đồng, với xã hội Tổ chức Gia Đình Phật Tử triệt để ứng dụngphương pháp này thông qua kết cấu, tổ chức chặc chẽ từ đoàn, đội,chúng, đàn, liên đoàn; từ gia đình cơ sở đến trung ương là một khốithống nhất, hoạt động cùng một mục tiêu, cùng một đồng phục, màu sắcriêng biệt Trong mỗi gia đình, từng đơn vị nhỏ bên trong đã có tổ chức
tự quản, đoàn sinh ngành thiếu giúp đỡ, hướng dẫn đoàn sinh nghànhoanh; anh chị huynh trưởng cũ dìu dắt, nâng đỡ anh chị em huynhtrưởng mới
Vai trò tự quản của Gia Đình Phật Tử được xác định rõ nét thôngqua sự rạch ròi trong mối quan hệ giữa đoàn sinh với huynh trưởng, giữahuynh trưởng cấp này với cấp kia Từ đó, sự điều hành được thực hiệnthông qua nguyên tắc tự quản trong một hệ thống chung và thống nhất
- Phương pháp xây dựng và phát huy cá nhân của Gia Đình PhậtTử: Phương pháp này nhằm chú ý phát triển, chăm lo đến điều kiệnsống, học tập, trưởng thành của mỗi thành viên Trách nhiệm của từngđơn vị, từng người hướng dẫn là phải tìm hiểu, chú ý chăm lo phát huymặt mạnh, giúp đỡ mặt yếu của cá nhân để họ phát huy mọi năng lực,
24
Trang 25cùng rèn luyện tiến bộ Phương pháp này chú trọng sự rèn luyện và khảnăng thực thụ của cá nhân; lựa chọn, phát triển theo nguyên tắc ”hạt gạotrên sàng”.
Ba phương pháp trên kết hợp với nhau một cách chặc chẽ, vừa làphương tiện, vừa là phương thức để thực hiện mục tiêu và nội dung sinhhoạt của Gia Đình Phật Tử Vì vậy, những đoàn sinh Gia Đình Phật Tửthường có chất lượng cao, hiểu biết khá sâu về tổ chức của mình, đếnvới tổ chức bằng sự tự giác, sự thôi thúc của nhu cầu cá nhân Vấn đềtrên được lý giải qua kết quả khảo sát: có đến 50% đoàn sinh Gia ĐìnhPhật Tử cho rằng: đi sinh hoạt Gia Đình Phật Tử để hiểu biết thêm vềđạo Phật, 40% để phát triển nhân cách cá nhân, còn các yếu tố khác có
Do đo, khi nói về sự ảnh hưởng của Gia Đình Phật Tử Trong ThanhThiếu Niên Huế hiện nay, luận văn chủ yếu nói về sự ảnh hưởng củaGia Đình Phật Tử đối với thanh thiếu niên tham gia sinh hoạt Gia ĐìnhPhật Tử ảnh hưởng trên những phương diện sau:
2.1 VỀ PHƯƠNG DIỆN ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG
Từ những lý thuyết cơ bản trong nội dung giáo dục, Gia ĐìnhPhật Tử giáo dục các đoàn sinh thông qua truyện ngụ ngôn, kinh Phật điều này ảnh hưởng đến Thế giới quan và Nhân sinh quan của thanhthiếu niên khi nhìn sự vật trong mối quan hệ nhân quả có tính biệnchứng sơ khai Nó giúp cho thanh thiếu niên xây dựng lòng tin vào bản
25
Trang 26chất tốt đẹp ”tính thiện” và “tính Phật’’ của con người, tin rằng dù conngười chưa tốt, nhưng có thể cải hóa, giáo dục được Giáo lý của Phậtthấm nhuần tinh thần từ bi, vị tha phù hợp với xây dựng tình nhân ái,nhân đạo cho thanh thiếu niên.
“Nghiệp” là hành động tự thân, tự tâm con người gây ra do đógiúp cho thanh thiếu niên xác định thái độ, trách nhiệm về ý thức, hành
vi của mình đã làm cho nên phải tu dưỡng, rèn luyện bản thân để tácnghiệp thiện, giải nghiệp ác, ở hiền, sống lành, tránh xa những điều ác.Phật giáo khuyên: ” ác hạnh không nên làm, làm xong chịu khổ lụy,thiện hạnh ắt làm nên, làm xong không ăn năn” [9; 318] Điều đó giảithích vì sao 60% thanh thiếu niên phật giáo Thừa Thiên Huế thích hoạtđộng xã hội, từ thiện, trong lúc đó hoạt động khác chỉ chiếm 40%
Mặt khác, giới luật có tác động tích cực đến việc giáo dục đạođức cho thanh thiếu niên ”Ngũ giới”, “Thập thiện” thể hiện tinh thầnnhân bản của Phật giáo giúp cho thanh thiếu niên tu dưỡng, rèn luyện đểtrở thành con người tốt, tự nhận thấy những sai lầm của mình và biếtthành tâm sám hối, sống chân thành và thương yêu người khác, có thái
độ tôn trọng và khiêm tốn đối với mọi người xung quanh Điều đó, thểhiện rõ trong nhận thức của thanh thiếu niên sinh hoạt Gia Đình Phật
Tử, họ luôn mong muốn gia đình được hòa thuận, thích tham gia hoạtđộng xã hội, từ thiện, muốn được phát triển tài năng, muốn hoàn thiệnnhân cách
Hiểu được “tam độc” của Phật giáo ”phân biệt rành rọt đâu làthiện, đâu là bất thiện mà con người cần phải theo và cần phải tránh.Tham là bất thiện, vô tham là thiện Sân là bất thiện, vô sân là thiện Si
là bất thiện, vô si là thiện” [6; 273 ], “Chính tham- sân- si là ba cái phiềnnão nhất của con người Con người sống mà không có lòng tham, khônggiận dữ, bực bội và không si mê, luôn tỉnh táo, sáng suốt, thì con ngườithanh thản và người quan hệ người luôn trong sáng và nhân ái” [6; 129-130]
“Thương người” và “ở hiền” là nguyên lý đạo đức của Phật giáotạo cho thanh thiếu niên đức tính trung thực, tận tụy, tín nghĩa, khoandung, độ lượng
26