Đây là đề tài hấp dẫn cho các nhà văn hoá học, ngôn ngữ học,… Nghiên cứu tên gọi sự vật, đặc biệt là sự vật liên quan đến sông nướcĐBSCL, là một nội dung khá thú vị, có nhiều ý ng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-HỒ VĂN TUYÊN
ĐỊNH DANH SỰ VẬT LIÊN QUAN ĐẾN SÔNG NƯỚC
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TRONG PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ
HÀ NỘI - 2013
Trang 3VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-HỒ VĂN TUYÊN
ĐỊNH DANH SỰ VẬT LIÊN QUAN ĐẾN SÔNG NƯỚC
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TRONG PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ
Chuyên ngành: Lí luận Ngôn ngữ
HÀ NỘI - 2013
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Số liệu trong
luận án là trung thực, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án chưa từng được người
khác công bố trong bất kì một công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam đoan của mình
Ngày 1 tháng 1 năm 2013
Nghiên cứu sinh
Hồ Văn Tuyên
Trang 5
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
0.1 Lí do chọn đề tài 1
0.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
0.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ngữ liệu khảo sát 3
0.4 Phương pháp nghiên cứu 4
0.5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài 6
0.6 Tổng quan về tình hình nghiên cứu định danh 6
0.7 Cấu trúc của luận án 14
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 15
1.1 CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC .15
1.1.1 Định danh 15
1.1.1.1 Lí thuyết về định danh 15
1.1.1.2 Định danh sự vật ở cấp độ từ vựng 20
1.1.1.3 Về tính võ đoán trong định danh 23
1.1.1.4 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy 26
1.1.2 Phương ngữ Nam Bộ 27
1.1.2.1 Khái niệm phương ngữ 27
1.1.2.2 Vấn đề phân vùng phương ngữ tiếng Việt và xác định vùng phương ngữ Nam Bộ 29
1.1.2.3 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ 30
1.1.2.4 Sự tiếp xúc ngôn ngữ ở Đồng bằng sông Cửu Long 36
1.2 CƠ SỞ VĂN HOÁ HỌC 37
1.2.1 Văn hoá, đặc trưng văn hoá và vùng văn hoá 37
1.2.1.1 Về khái niệm văn hoá 37
1.2.1.2 Đặc trưng văn hoá 38
Trang 61.2.1.3 Vùng văn hoá và việc phân vùng văn hoá Việt Nam 38
1.2.2 Đặc trưng văn hoá vùng Đồng bằng sông Cửu Long 39
1.2.2.1 Vài nét về vùng sông nước Đồng bằng sông Cửu Long 39
1.2.2.2 Đặc trưng văn hoá vật chất vùng Đồng bằng sông Cửu Long 46
1.2.2.3 Đặc trưng văn hoá tinh thần vùng Đồng bằng sông Cửu Long 48
1.2.2.4 Sự biến đổi và giao thoa văn hoá ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long 50
1.3 TIỂU KẾT 51
Chương 2: CẤU TẠO VÀ PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH TÊN GỌI SỰ VẬT LIÊN QUAN ĐẾN SÔNG NƯỚC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 54
2.1 CẤU TẠO TÊN GỌI 54
2.1.1 Thành tố và mô hình cấu tạo 54
2.1.1.1 Tên chung 54
2.1.1 2 Tên riêng 55
2.1.2 Hình thức ghép yếu tố trong cấu tạo tên gọi 60
2.1.2.1 Yếu tố ghép 60
2.1.2.2 Cơ chế ghép 64
2.1.2.3 Số lần ghép 64
2.2 PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH SỰ VẬT LIÊN QUAN ĐẾN SÔNG NƯỚC 66
2.2.1 Phương thức cơ sở 67
2.2.1.1 Sử dụng yếu tố ngôn ngữ biểu thị đặc trưng của đối tượng hoặc biểu thị sự vật, yếu tố có quan hệ gần gũi với đối tượng 67
2.2.1.2 Ghép chữ số, chữ cái, yếu tố Hán 89
2.2.2 Phương thức chuyển hoá 90
2.2.2.1 Chuyển đổi loại hình 91
2.2.2.2 Chuyển đổi từ tên người sang tên kênh rạch 96
2.2.3 Phương thức vay mượn 97
2.2.4 Hiện tượng lặp tên, trùng tên khác đối tượng 101
2.3 TIỂU KẾT 101
Trang 7Chương 3: NGUỒN GỐC, NGỮ NGHĨA VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ
CỦA TÊN GỌI SỰ VẬT LIÊN QUAN ĐẾN SÔNG NƯỚC ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG 105
3.1 NGUỒN GỐC CỦA TÊN GỌI 105
3.1.1 Nguồn gốc thuần Việt của tên gọi 105
3.1.2 Nguồn gốc vay mượn của tên gọi 106
3.1.2.1 Vay mượn tiếng Hán 106
3.1.2.1 Vay mượn tiếng Khmer 106
3.1.2.1 Vay mượn ngôn ngữ khác 108
3.2 NGỮ NGHĨA CỦA TÊN GỌI 108
3.2.1 Nghĩa phân biệt của tên gọi 108
3.2.1.1 Tên chung 109
3.2.1.2 Tên riêng 119
3.2.2 Nghĩa chuyển của tên gọi 121
3.2.3 Ý nghĩa của tên gọi 123
3.2.3.1 Tên gọi phản ánh hiện thực 123
3.2.3.2 Về mức độ rõ lí do của tên gọi 128
3.2.4 Hiện tượng đồng sở chỉ của tên gọi 133
3.3 ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA TRONG TÊN GỌI 136
3.3.1 Đặc trưng văn hoá biểu hiện qua phương thức định danh 136
3.3.2 Đặc trưng văn hoá biểu hiện qua hiện tượng biến đổi tên gọi 138
3.3.3 Đặc trưng văn hoá biểu hiện qua cấu tạo tên gọi 139
3.3.4 Đặc trưng văn hoá biểu hiện qua nguồn gốc của tên gọi 139
3.3.5 Đặc trưng văn hoá trong ý nghĩa của tên gọi 140
3.4 TIỂU KẾT 141
KẾT LUẬN 144
Công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án 149
Tài liệu tham khảo 150
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 9bảng biểu
gian
75
sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, biển Đông, biển Tây
81
tên riêng
86
nước vùng ĐBSCL
100
Trang 10MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong cuộc sống, con người có thể chỉ miêu tả sự vật, hiện tượng mà khôngcần định danh - tức là phi định danh hoá sự vật, hiện tượng, Tuy nhiên, định danhkhông chỉ là một chức năng của ngôn ngữ mà còn là nhu cầu của con người trướcthế giới khách quan “Con người cần đến các tên gọi các đối tượng xung quanh nhưcần đến không khí” [15,167] Nếu đối tượng xung quanh con người không có têngọi thì con người sẽ khó nhận biết được mình đang ở đâu “Mất cái tên gọi con
Trang 11người sẽ mất một trong những khả năng định hướng trong thế giới quanh mình”[15,167]
Định danh thể hiện khả năng tư duy của con người và có vai trò quan trọngtrong tư duy của con người, vì “… các tên gọi làm cho tư duy trở nên rành mạchsáng sủa” [16,99] Bởi vậy, nghiên cứu định danh trong ngôn ngữ chính là nghiêncứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy
Những từ ngữ biểu thị các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan ởĐồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không những phản ánh cách phân cắt hiệnthực của những con người vùng sông nước nơi đây trong quá trình định danh màcòn thể hiện những nét văn hoá rất đặc trưng của vùng đất mới này Đây là đề tài
hấp dẫn cho các nhà văn hoá học, ngôn ngữ học,…
Nghiên cứu tên gọi sự vật, đặc biệt là sự vật liên quan đến sông nướcĐBSCL, là một nội dung khá thú vị, có nhiều ý nghĩa trong việc nghiên cứu ngônngữ và văn hoá của vùng đất Thế nhưng vấn đề này vẫn chưa được các nhà Việtngữ học quan tâm một cách sâu sắc và toàn diện
ĐBSCL thuộc miền Tây Nam Bộ (TNB) là một vùng đất mới của người Việtở phương nam Do có thuận lợi về điều kiện tự nhiên nên nơi đây có nhiều tiềmnăng và lợi thế để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Tính cách, tâm hồn và nếpsinh hoạt của con người TNB có những nét rất riêng so với những vùng đất khác,thậm chí so với cả người miền Đông Nam Bộ (ĐNB) Đó là những con người bộctrực, thẳng thắn, cần cù, chịu khó, yêu nước, thương nòi - truyền thống vốn có củadân tộc Một miền đất giàu có, trù phú với mênh mang sông nước và những conngười nhân hậu có sức lôi cuốn mạnh mẽ những ai yêu quý và quan tâm đến cuộcsống của những con người vùng đất tận cùng Tổ quốc
Đề tài “Định danh sự vật liên quan đến sông nước vùng Đồng bằng sông CửuLong trong phương ngữ Nam Bộ” xuất phát từ nhu cầu lí luận và thực tiễn trên
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Trang 122.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án muốn chỉ ra đặc điểm riêng về định danh sự vật liên quan đến sôngnước qua các tên gọi (bao gồm cả tên chung và tên riêng) ở ĐBSCL, qua đó làm rõnhững nét đặc trưng về ngôn ngữ và văn hóa của vùng sông nước này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các vấn đề về lí thuyết định danh và một số vấn đề khác có liênquan như ngôn ngữ học tri nhận, văn hóa học, phương ngữ học, từ vựng học tiếngViệt, làm cơ sở lí luận để triển khai đề tài;
- Thu thập và thống kê các tên gọi sự vật liên quan đến sông nước vùngĐBSCL; mô tả và phân tích các cứ liệu (ở một số nội dung, có sự so sánh với ngônngữ toàn dân, so sánh giữa tên chung và tên riêng, ) để rút ra những nhận xét cầnthiết về đặc điểm nguồn gốc, cấu tạo, phương thức định danh, ngữ nghĩa và đặctrưng văn hoá của tên gọi sự vật liên quan đến sông nước vùng ĐBSCL Từ đó,luận án trình bày khái quát những đặc điểm định danh sự vật liên quan đến sôngnước của vùng đất này
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NGỮ LIỆU KHẢO SÁT
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tên gọi các sự vật liên quan đến sôngnước vùng ĐBSCL (bao gồm tên riêng chỉ sông ngòi, kênh rạch ; các từ ngữ chỉphương tiện sinh hoạt, công cụ lao động của con người trong môi trường sôngnước; các từ ngữ chỉ địa hình sông nước, dòng nước, )
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 13Các từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến sông nước có nhiều loại nên đối tượng
mà đề tài hướng đến là khá rộng Vì vậy, luận án chỉ tập trung nghiên cứu nhữngmảng tên gọi, các từ ngữ sau:
- Tên riêng của sông ngòi, kênh rạch, ao đầm,…
- Các từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng liên quan đến sông nước Mảng nàygồm có các nhóm:
+ Các từ ngữ chỉ phương tiện di chuyển trên sông nước;
+ Các từ ngữ chỉ phương tiện đánh bắt thủy sản;
+ Các từ ngữ chỉ dòng nước, mực nước, loại nước, loại sóng;
+ Các từ ngữ chỉ địa hình tự nhiên sông nước
3.3 Ngữ liệu khảo sát
Nguồn ngữ liệu được thu thập từ các tài liệu (liệt kê ở phần Nguồn ngữ liệu),
qua bản đồ, qua phiếu điều tra và điền dã
Về xử lí ngữ liệu, chúng tôi tiến hành như sau:
- Nếu một đối tượng có nhiều tên gọi, thì tất cả những tên gọi khác nhau này
đều được nghiên cứu Ví dụ: nước đứng – nước nằm, Hậu Giang – sông Hậu,…
- Đối với các tên riêng, luận án khảo sát cả những tên gọi sự vật có dòngchảy và không có dòng chảy (loại không có dòng chảy có số lượng tên gọi ít hơn)
- Những trường hợp cùng một tên riêng có các thành tố chung khác nhau là
rạch, sông hoặc kênh thuộc cùng một tỉnh/ thành thì chúng tôi chỉ lấy một tên (vì
người dân ĐBSCL thường gọi ít phân biệt giữa các loại hình này) Ví dụ: rạch Bà
Già, kênh Bà Già thì xử lí kênh/ rạch Bà Già Những trường hợp chỉ hai đối tượng
ở hai địa phương khác nhau mà có tên gọi giống nhau thì chúng tôi thống kê cả hai
tên Tuy nhiên, trường hợp này không nhiều Ví dụ: rạch Chùa, kênh Ngang (ở Long An) và kênh Chùa, kênh Ngang (ở Cà Mau) Tên gọi khác nhau do biến âm (nói trại) thì chỉ thống kê một tên Ví dụ: rạch Cái Tràm (Cái Chàm), rạch Chanh
Trang 14(rạch Tranh), kênh Thoại Hà (Thụy Hà), Và dĩ nhiên, một con sông, một con
kênh chảy qua địa phận nhiều tỉnh mà chỉ có một tên gọi thì chỉ được thống kê một
lần (nghĩa là không tính tên gọi riêng theo từng tỉnh); ví dụ: kênh Vũng Gù ở Long
An và Tiền Giang thì chỉ thống kê một lần tên gọi này
Các trường hợp có hai yếu tố đều chỉ loại hình địa danh đi liền nhau như:
cửa sông, cửa rạch, vàm sông, vàm rạch, thì được xác định cả hai yếu tố đều là
thành tố loại hình – danh từ chung Ví dụ: cửa rạch Gốc, vàm rạch Cái Thia, vàm
sông Ba Thắc, vàm sông Cái Nứa,…
Tổng số tên gọi được khảo sát là 1127 đơn vị Cụ thể:
- Các từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến sông nước có 157 đơn vị Trong đó, các
từ ngữ chỉ phương tiện di chuyển trên sông nước có 59 đơn vị; các từ ngữ chỉ dòngnước, mực nước, loại nước, loại sóng có 50 đơn vị; các từ ngữ chỉ công cụ vàphương tiện đánh bắt thủy sản có 20 đơn vị; các từ ngữ chỉ địa hình tự nhiên sôngnước có 28 đơn vị
- Tên riêng có 970 đơn vị Trong đó, tên riêng chỉ sự vật có dòng chảy là 946đơn vị, sự vật không có dòng chảy là 24 đơn vị
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp điều tra điền dã
Ngoài việc tập hợp ngữ liệu thu thập được từ các tài liệu đã xuất bản, các
công trình nghiên cứu, qua bản đồ của các tỉnh thành thuộc khu vực khảo sát, luận
án còn sử dụng phương pháp điều tra điền dã để thu thập tài liệu hoặc kiểm tra các
luận điểm mà luận án đưa ra
4.2 Phương pháp miêu tả
Trang 15Phương pháp miêu tả được sử dụng để chỉ ra các thành tố cấu tạo của các têngọi khi tìm hiểu cấu tạo, phương thức định danh, ý nghĩa của tên gọi Những nhậnxét cần thiết cũng được rút ra từ việc phân tích sự phân bố của các tên gọi
4.3 Phương pháp thống kê
Luận án cũng tiến hành tổng hợp và thống kê số liệu tên gọi, tính tỉ lệ về tần
số xuất hiện của chúng; thống kê các thành tố cấu tạo tên gọi,… định lượng để địnhtính chúng, tạo thuận lợi cho việc so sánh, nhận xét
4.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu
Trong quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp này để tìm nét
riêng của PNNB trong định danh khi so sánh với phương ngữ ở các vùng khác vàvới ngôn ngữ toàn dân, tìm nét khác biệt trong sự tri nhận hiện thực khách quan củangười Việt ở ĐBSCL so với người Việt nói chung, tìm nét độc đáo trong việc địnhdanh sự vật của người Việt ở đây và người Việt ở các vùng khác của đất nước, v.v
Ở một số trường hợp nhất định, nếu có cứ liệu, luận án sử dụng phươngpháp so sánh - lịch sử để xác định lí do đặt tên của một số tên gọi sự vật có nguồngốc ngôn ngữ Việt cổ, ngôn ngữ vay mượn khác, đặc biệt là những tên gọi có nguồngốc Khmer
4.5 Phương pháp lập sơ đồ, mô hình hóa
Khi cần minh họa cho phương vị hay thứ tự không gian của đối tượng địnhdanh, luận án thực hiện công việc lập sơ đồ (dựa trên bản đồ sông ngòi hoặc bản đồhành chính gốc) để xác định vị trí Tuy nhiên, sơ đồ chỉ cần thiết đối với một sốtrường hợp mà thôi Cấu tạo tên gọi và một số phương thức định danh được chúngtôi mô hình hóa, lập bảng biểu, v.v Cách làm này khiến cho việc diễn đạt vừa kháiquát lại vừa cụ thể
5 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Về ý nghĩa lí luận, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏmột số vấn đề lí thuyết về định danh, thúc đẩy sự phát triển của các bộ môn như
Trang 16Phương ngữ học, đặc biệt là các bộ môn Danh học, Ngôn ngữ học xã hội (mới chỉđược phát triển mạnh ở nước ta gần đây); đồng thời làm rõ thêm mối quan hệ giữangôn ngữ, văn hóa và tư duy được thể hiện qua định danh ngôn ngữ
Về ý nghĩa thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảophục vụ cho việc biên soạn giáo trình về phương ngữ học và văn hóa học, biên soạn
từ điển địa danh Nam Bộ
6 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỊNH DANH
6.1 Những nghiên cứu về lí thuyết định danh
Nhiều công trình đề cập đến chức năng định danh của tín hiệu ngôn ngữ
Trong cuốn sách Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (NXB Giáo dục, 1998) và cuốn Từ
vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (NXB Giáo dục, 1999), Đỗ Hữu Châu đã dành nhiều
trang nói về vấn đề này Ông khẳng định vai trò quan trọng của định danh tronggiao tiếp và tư duy của con người, miêu tả một cách cụ thể và đầy đủ quá trình địnhdanh trong tiếng Việt
Tuy nhiên, ông chỉ thừa nhận định danh ở cấp độ từ, không thừa nhận địnhdanh ở cấp độ cụm từ (trừ cụm từ ở dạng định danh hóa) và câu Ông cho cụm từ tự
do chỉ có chức năng biểu vật chứ không có chức năng định danh
Trong chuyên luận “Từ ngữ tiếng Việt trên đường tìm hiểu và khám phá” (từ trang 311 đến trang 441 của Tuyển tập ngôn ngữ học – NXB KHXH, 2010), tác giả
Hoàng Văn Hành đã xem xét về mặt chức năng định danh của từ và thành ngữ,nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc hình thái và ngữ nghĩa của các đơn vị địnhdanh bậc hai (định danh phái sinh) trong tiếng Việt Đây là đơn vị có cấu trúc phứctạp hơn đơn vị định danh gốc, mang nghĩa biểu trưng hóa dưới hình thái ẩn dụ hayhoán dụ (tr 327)
Về cơ chế tạo ra các đơn vị định danh bậc hai trong tiếng Việt, tác giả HoàngVăn Hành (trong tài liệu vừa nêu) đưa ra hướng tiếp cận vấn đề dựa trên những cơ
Trang 17sở lí thuyết và phương pháp luận mới mẻ Hướng tiếp cận này được diễn đạt bằng
mô thức “yếu tố - cơ chế”
yếu tố có giá trị hình thái làm đơn vị định danh phái sinh (hình tố) và có một hệ quytắc Ông hình thức hóa cơ chế này bằng sơ đồ sau:
TTrong đó, Q: quy tắc vận hành, H: hình tố, N: nguyên tố, M: đơn vị pháisinh, T: một kiểu nghĩa nhất định tương ứng với M
Ông đưa ra cơ chế tạo ra các đơn vị định danh phái sinh ở các đơn vị ngônngữ đơn lập như tiếng Việt, khi vận hành thì diễn ra như một cơ trình gồm ít nhất
ba công đoạn đồng bộ, liên quan chặt chẽ với nhau: (1) sử dụng yếu tố làm phươngtiện, (2) tác động vào hệ nguyên tố, (3) tạo lập nên đơn vị phái sinh theo cách nào
đó Và do đó, hệ quy tắc nằm trong cơ chế tạo ra các đơn vị định danh phái sinhcũng sẽ gồm ba nhóm tương ứng là: (1) quy tắc sử dụng các hình tố làm phươngtiện, (2) quy tắc về cách tác động vào nguyên tố, (3) quy tắc về tạo lập các đơn vịphái sinh
Truyền thống hình thái học tiếng Việt và các ngôn ngữ cùng loại hình với nóđã dựa vào loại quy tắc thứ ba mà phân biệt những cách, hay phương thức cấu tạo
từ khác nhau như ghép, láy, v.v… (tr 330)
Nghiên cứu về đặc điểm văn hóa dân tộc trong định danh có thể kể đến công
trình Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy (trong sự so
sánh với những dân tộc khác) – (NXB ĐHQG HN, 2002) của tác giả Nguyễn Đức
Tồn Trong công trình này, khi đối chiếu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ
và tư duy ngôn ngữ ở người Việt và người Nga, tác giả đã đề cập đến một số vấn đề
về lí thuyết định danh; nghiên cứu đặc điểm văn hóa - dân tộc của định danh trên cơsở các tên gọi động vật, thực vật, bộ phận cơ thể người… trong sự so sánh tiếng
Trang 18Việt với một số ngôn ngữ khác, đặc biệt là tiếng Nga Tác giả đi sâu nghiên cứu vềđặc điểm dân tộc của định danh trên các phương diện: nguồn gốc, kiểu ngữ nghĩa,cách thức biểu thị, đặc trưng văn hóa…, đặc điểm ngữ nghĩa (cấu trúc ngữ nghĩacủa các tên gọi, đặc điểm quá trình chuyển nghĩa, ý nghĩa biểu trưng…) Đây là mộtcông trình nghiên cứu theo hướng lí thuyết thuộc về lĩnh vực tâm lí – ngôn ngữ họctộc người – một lĩnh vực khá mới mẻ đối với ngành ngôn ngữ học Việt Nam
Gần đây, tác giả cho công bố cuốn sách Đặc trưng văn hóa – dân tộc của
ngôn ngữ và tư duy (NXB KHXH, 2008, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa tái bản
năm 2010) cũng đề cập đến lĩnh vực này Đây là cuốn sách chuyên khảo “thuộc loại
mở đầu về vấn đề này ở Việt Nam” (Lời giới thiệu) được mở rộng, bổ sung và phát
triển từ công trình xuất bản năm 2002 nói trên Cuốn sách đang được sử dụng làmgiáo trình đào tạo sau đại học cho học viên cao học và nghiên cứu sinh Ngoài ra,tác giả cũng đã có nhiều bài viết liên quan đến lĩnh vực này như các tài liệu [155],[156], [157], [159], [161],…
Trong định danh, dấu ấn về tâm lí của chủ thể định danh, sự tri nhận của chủ
thể định danh trước đối tượng định danh là khá rõ nét Cuốn sách Ngôn ngữ học tri
nhận: Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (NXB KHXH, 2005) của Lý
Toàn Thắng là một công trình đại cương về ngôn ngữ học tâm lí và ngôn ngữ họctri nhận Tác giả đã phân tích “ở một trình độ lí thuyết cao” (tr.10) về việc địnhhướng không gian và cách biểu đạt chúng trong ngôn ngữ Việt Có thể nói cáchkhác, cuốn sách đã đề cập đến vấn đề tri nhận và cách định danh không gian củangười Việt
Cũng bàn về vấn đề này, bài viết “Về cơ chế ngữ nghĩa – tâm lí trong tổ hợp
song tiết chính phụ tiếng Việt” trong cuốn Đi tìm bản sắc tiếng Việt (NXB Trẻ,
2002), tác giả Trịnh Sâm đã gợi ra một số vấn đề ngữ nghĩa liên quan đến địnhdanh Ông viết: “cơ chế định danh hiện thực bằng từ ghép là có khả năng phản ánhnhiều nhất và sinh động nhất đặc điểm tâm lí của người bản ngữ thuộc những dântộc khác nhau trong quá trình chia cắt hiện thực để gọi tên nó” (tr.125)
Trang 196.2 Những nghiên cứu về định danh sự vật, tên chung và tên riêng
Nghiên cứu về định danh tên gọi động vật, trong Luận án tiến sĩ (1996) Đặc
điểm trường từ vựng – ngữ nghĩa tên gọi động vật (trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga), Nguyễn Thúy Khanh đã đối chiếu định danh tên gọi động vật trong
tiếng Việt và tiếng Nga Công trình chỉ ra những đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc,ngữ nghĩa của các tên gọi động vật Trước đó, tác giả còn có nhiều bài viết khácnhư [73], [74],… liên quan đến lĩnh vực này
Nghiên cứu về tên chung và tên riêng, Phạm Tất Thắng có bài “Sự khác biệt
giữa tên riêng và tên chung” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 6 - 2004) và bài
“Một cách phân loại tên riêng trong tiếng Việt” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 - 1996), đặc biệt là công trình Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong
tiếng Việt (Luận án tiến sĩ, 1996) của ông
Trong bài viết “Một cách phân loại tên riêng trong tiếng Việt” nêu trên, tácgiả cho rằng tên chung và tên riêng khác nhau ở chỗ “Tên chung (general names) làtên gọi thường gắn với một lớp đối tượng cùng loại; còn tên riêng (proper names) làtên gọi cho một đối tượng cá biệt, đơn nhất và xác định” (tr.32)
Bàn về ngữ nghĩa và chức năng của tên riêng, trong Luận án tiến sĩ (1993)
Các đơn vị định danh đa thành tố, một cách tiếp cận từ điển học tương phản của
mình, Dương Kì Đức viết: “Có thể thấy, vấn đề nghĩa và chức năng của tên riênghiện còn đang là cả một vấn đề gây tranh cãi trong giới ngôn ngữ học”
Địa danh là một trong những đối tượng nghiên cứu của Danh học Nghiêncứu về địa danh có các tác giả với các công trình sau đây
Tác giả Nguyễn Văn Âu có hai công trình tiêu biểu nghiên cứu về địa danh
Đó là công trình Địa danh Việt Nam (NXB Giáo dục - 1996) được tác giả tập hợp,
hệ thống hóa một cách sơ lược về địa danh Việt Nam và công trình Một số vấn đề
về địa danh học Việt Nam (NXB ĐHQG HN- 2000) được tác giả tiếp cận vấn đề
theo hướng địa lí – lịch sử - văn hóa
Trang 20Cũng nghiên cứu về địa danh, với Địa danh học Việt Nam (NXB
KHXH-2006), tác giả Lê Trung Hoa đề cập khá đầy đủ về địa danh học như vấn đề nguyêntắc và phương pháp nghiên cứu địa danh, các phương thức đặt địa danh, cấu tạo địadanh,… Tác giả đã nêu ra hai phương thức định danh của địa danh là phương thức
tự tạo (dựa vào đặc điểm của chính bản thân đối tượng; dựa vào sự vật, yếu tố cóquan hệ chặt chẽ với đối tượng; ghép các yếu tố Hán; dùng số đếm hoặc chữ cái;phái sinh hoặc hỗn hợp) và phương thức chuyển hóa (chuyển hóa trong nội bộ mộtloại địa danh; nhân danh chuyển sang địa danh hay địa danh vùng cũ thành địa danhvùng mới; địa danh bằng các ngôn ngữ khác thành địa danh Việt) (tr.65-76) Cuốnsách cũng đã dành nhiều trang nói về nguồn gốc và ý nghĩa của một số địa danhnhư Cần Thơ, Đồng Nai, Sài Gòn, v.v
Cách thức chuyển địa danh bằng các ngôn ngữ khác thành địa danh Việtđược tác giả xếp vào phương thức chuyển hóa Chúng tôi gọi cách định danh này làphương thức vay mượn và tách riêng thành một phương thức, đối lập với phươngthức cơ sở (tác giả Lê Trung Hoa gọi là phương thức tự tạo) Phương thức vaymượn không chỉ được vận dụng để đặt tên riêng (ở đây là địa danh) mà còn sử dụngtrong cả đặt tên chung nữa
Ngoài ra, nghiên cứu về lĩnh vực này còn có một số luận án tiến sĩ nghiên
cứu địa danh địa phương như luận án Những đặc điểm chính của địa danh Hải
Phòng (sơ bộ so sánh với địa danh một số vùng khác) của Nguyễn Kiên Trường
(1996), luận án Nghiên cứu địa danh Quảng Trị của Từ Thu Mai (2004), luận án
Những đặc điểm chính của địa danh Dak Lăk của Trần Văn Dũng (2004), v.v
Các luận án này đều tập trung nghiên cứu về nguồn gốc, cấu tạo, phươngthức định danh, ý nghĩa và đặc trưng văn hoá của địa danh trên địa bàn mình khảosát Các luận án đều thống nhất cơ bản ở mô hình cấu tạo của địa danh, cho địadanh là một phức thể gồm hai thành tố (thành tố chung chỉ loại hình địa danh và tênriêng) và đều cho rằng ý nghĩa của địa danh là phản ánh hiện thực
Trang 21Riêng các phương thức định danh được xác định ở mỗi luận án có khácnhau Luận án của Từ Thu Mai đưa ra hai phương thức định danh của địa danhQuảng Trị: phương thức cấu tạo mới (phương thức này bao gồm năm cách thức nhưdựa vào đặc điểm của bản thân đối tượng, dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặtchẽ với đối tượng, ghép yếu tố, dùng yếu tố và chữ cái, chữ số để kết hợp, dùng độclập các chữ số) và phương thức chuyển hóa Luận án của Trần Văn Dũng lại chiaphương thức cấu tạo địa danh Dak Lăk thành ba phương thức: tự tạo, chuyển hóa vàvay mượn Luận án của Nguyễn Kiên Trường đưa ra bốn phương thức: phươngthức ghép số và ghép địa danh, dựa vào các thuộc tính, tính chất phản ánh hình thức
và nội dung có trong hoặc gắn với bản thân đối tượng…, phương thức chuyển hóa
và phương thức vay mượn (vay mượn địa danh khác và mượn nhân danh)
Chúng tôi thống nhất cơ bản với quan điểm trong công trình của Lê TrungHoa nêu trên Tuy nhiên, về phương thức định danh chúng tôi có sự phân chia khác.Chúng tôi chia thành ba phương thức, gồm: phương thức cơ sở (với các cách thứcnhư: sử dụng ngôn ngữ biểu thị đặc trưng đối tượng hoặc biểu thị sự vật, yếu tố cóquan hệ gần gũi với đối tượng; ghép chữ cái, chữ số, yếu tố Hán), phương thứcchuyển hoá và phương thức vay mượn
6.3 Những nghiên cứu về định danh sự vật liên quan đến sông nước trong tiếng Việt
Nghiên cứu về tên gọi sông ngòi, trong bài báo khoa học “Mối liên hệ về
ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông” (Thông báo khoa học của
Đại học Tổng hợp Hà Nội, NXB Giáo dục - 1996), dưới góc nhìn lịch đại, bằngphương pháp so sánh lịch sử, tác giả Hoàng Thị Châu đã tìm ra mối liên hệ giữa tênmột vài con sông ở Đông Nam Á (trong đó có tên các con sông ở Việt Nam) vớingôn ngữ cổ đại trong khu vực này Tuy nhiên, đối tượng mà bài viết khảo sát chỉ
bó hẹp trong phạm vi tên một vài con sông và ngữ liệu được lấy ở một không giankhá rộng, trải dài trên toàn bộ khu vực Đông Nam Á
Trang 22Gần đây, trong bài viết “Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người
Việt” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 12 - 2011), qua ngữ liệu về sông nước từ Từ điển Việt
– Bồ - La cho đến từ điển tiếng Việt hiện đại, tác giả Trịnh Sâm đã chỉ ra được
“nước là thành tố quan yếu của kết cấu định danh” (tr 2), tác giả cho rằng: “miền ý
niệm là một cấu trúc nhiều thành tố nghĩa (semantic slots) biểu đạt về một đốitượng có liên quan với nhau…” Đáng chú ý là bài viết đã đưa ra mô hình kết cấu
khái quát về định danh nước trong tiếng Việt: X + nước (trong đó X là vật chứa),
nước + X (trong đó X có thể do nhiều từ thuộc nhiều trường nghĩa khác nhau đảm
nhiệm) Bài viết cũng chỉ ra được sự tương đồng giữa con người và dòng sông quaphương thức đồng xuất trải nghiệm và tương đồng trải nghiệm của người Việt.Những cấu trúc ẩn dụ giữa con người, cuộc đời con người và dòng sông được tácgiả minh chứng qua cách diễn đạt của người Việt
Tuy nhiên, bài viết nghiêng về nghiên cứu tri nhận của người Việt về sôngnước và cấu tạo của từ ngữ sông nước trong ngôn ngữ Việt nói chung
6.4 Nghiên cứu về định danh sự vật liên quan đến sông nước trong phương ngữ Nam Bộ
Nghiên cứu về tên gọi sự vật liên quan đến sông nước Nam Bộ còn khákhiêm tốn, các công trình khoa học chỉ tập trung ở mảng tên riêng chỉ địa hình tựnhiên thuộc địa danh Nam Bộ
Hai tác giả tiêu biểu nghiên cứu về mảng này là Bùi Đức Tịnh với Lược
khảo nguồn gốc địa danh Nam Bộ (NXB Văn nghệ Tp HCM, 1999) và Lê Trung
Hoa với nhiều bài viết, công trình như: “Tìm hiểu ý nghĩa và nguồn gốc một số
thành tố chung trong địa danh Nam Bộ” (Văn nghệ Tp HCM, số 276 - 1983), Tìm
hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và tiếng Việt văn học (NXB KHXH, 2002), Từ điển địa danh Thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh (NXB Trẻ, 2003), “Những nét
đặc thù của địa danh hành chính Nam Bộ” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 12- 2004),
“Nguồn gốc và ý nghĩa một số địa danh miền Đông Nam Bộ” (Tạp chí Ngôn ngữ,
số 9- 2004), “Địa danh Nam Bộ mang thành tố cái” (Tạp chí Nguồn sáng dân gian,
Trang 23số 2 - 2011),… Hai tác giả chỉ dừng lại miêu tả một số tên gọi địa hình sông nước ởNam Bộ mà thôi.
Nghiên cứu về nhóm từ liên quan đến sông nước trong phương ngữ Nam Bộ
(PNNB) cũng không nhiều Trong công trình Phương ngữ Nam bộ (những khác
biệt về từ vựng – ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ)
(NXB KHXH, 1995) của mình, tác giả Trần Thị Ngọc Lang dành hẳn một chươngnghiên cứu về vấn đề này Tác giả thống kê được 78 từ thuộc nhóm từ này, cụ thể:
28 từ trong nhóm chỉ địa hình tự nhiên của vùng đất, 10 từ trong nhóm chỉ sự vậnđộng của dòng nước, 40 từ trong nhóm chỉ sự vận động của con người trên sôngnước và những phương tiện dùng cho hoạt động này Trong số từ thống kê trên có
cả tên chỉ sự vật và cả tên chỉ hoạt động Các từ trên được tác giả phân biệt về mặtngữ nghĩa khá tường minh Tuy nhiên, con số thống kê trên vẫn chưa thật đầy đủ vàcông trình không đặt vấn đề nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo cũng như phương thứcđịnh danh sự vật liên quan đến sông nước
Như vậy, vấn đề định danh sự vật liên quan đến sông nước ĐBSCL hiệnchưa có công trình nào được nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện Các nhàkhoa học đi trước chỉ đề cập đến vấn đề ở một phần rất nhỏ trong công trình, bàiviết của mình Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước
là những tham khảo quý báu, là những gợi ý ít nhiều giúp cho chúng tôi thực hiện
đề tài này
Sau khi tìm hiểu, đánh giá những kết quả nghiên cứu về định danh của cáccông trình đã được công bố, chúng tôi đã tìm cho mình một hướng đi trên cơ sở kếthừa những thành tựu của các tác giả đi trước và chọn cho mình một lĩnh vựcnghiên cứu chưa được các nhà khoa học quan tâm nhiều: định danh sự vật liên quanđến sông nước vùng ĐBSCL
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có bachương như sau:
Trang 24- Chương 1: Cơ sở lí luận
- Chương 2: Cấu tạo và phương thức định danh tên gọi sự vật liên quan đến sông nước Đồng bằng sông Cửu Long
- Chương 3: Nguồn gốc, ngữ nghĩa và đặc trưng văn hóa của tên gọi sự vật liên quan đến sông nước Đồng bằng sông Cửu Long
Ở chương một, luận án trình bày về lí thuyết định danh, ngôn ngữ học trinhận, lí thuyết về phương ngữ, văn hoá và vùng văn hoá làm cơ sở khoa học choluận án và định hướng cho việc triển khai vấn đề ở hai chương tiếp sau
Đóng góp của luận án chủ yếu thể hiện ở chương hai và chương ba Ở haichương này, luận án tập trung trình bày những vấn đề như: nguồn gốc, đặc điểmcấu tạo, phương thức định danh, đặc điểm ngữ nghĩa và đặc trưng văn hóa trong têngọi sự vật liên quan đến sông nước ở ĐBSCL Luận án lần lượt trình bày các đốitượng định danh thuộc tên riêng và tên chung mang nhiều dấu ấn sông nước củavùng đất này
Trang 25a Khái niệm định danh
Từ vựng học là một chuyên ngành của ngôn ngữ học Từ vựng học có các bộmôn như: từ nguyên học, danh học, ngữ nghĩa học và từ điển học
Danh học (onomatology) là “khoa học về sự biểu thị, sự gọi tên Nhiệm vụ
của nó là nghiên cứu những nguyên tắc và những quy luật của việc biểu thị các đốitượng, khái niệm bằng các phương tiện từ vựng của các ngôn ngữ” [52,162]
Định danh (nomination) là một nội dung nghiên cứu của bộ môn danh học.Khái niệm định danh hiện nay được hiểu khác nhau
Nguyễn Như Ý (chủ biên) định nghĩa định danh là “sự cấu tạo các đơn vị
ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực kháchquan trên cơ sở đó hình thành những khái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các
từ, cụm từ, ngữ cú và câu” [190,89]
Trong một từ điển khác [192], Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Vũ
Quang Hào, Phan Xuân Thành quan niệm định danh ở bình diện hẹp hơn Từ điển
này chỉ coi định danh là cách “gọi tên sự vật, hiện tượng, tính chất, hoạt động (với
tư cách là một chức năng của từ ngữ: chức năng định danh của từ)”
G.V Consanski quan niệm: định danh là “sự cố định (hay gắn) cho một kíhiệu ngôn ngữ một khái niệm – biểu niệm (signifikat) phản ánh những đặc trưngnhất định của một biểu vật (denotat) – các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các
Trang 26đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngônngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ” (dẫn theo [160,164]).
Con người tri giác, phân cắt hiện thực khách quan và dùng kí hiệu ngôn ngữđể đặt tên các khúc đoạn hiện thực khách quan ấy hoặc dùng kí hiệu ngôn ngữ đểtạo ra các đơn vị ngôn ngữ với mục đích gọi tên Đó là định danh Như vậy, về cơbản chúng tôi theo quan niệm của tài liệu [190] về định danh Tuy nhiên, luận ánchỉ đi sâu nghiên cứu định danh trên cấp độ từ vựng, cụ thể là các tên gọi chỉ sự vậtchung và sự vật cá thể liên quan đến sông nước ĐBSCL
b Về cơ chế định danh
Đối với những tên gọi được đặt theo cách tri nhận của chủ thể định danh, cơchế định danh diễn ra như sau
Hiện thực khách quan là một khối liên kết với nhau, nó giống như những
“gam màu” Để phục vụ cho nhận thức và cho cuộc sống của mình, con người trigiác hiện thực ấy và chia cắt chúng ra thành những mảng màu khác nhau Sau đó,thể hiện sự phân cắt này bằng các kí hiệu ngôn ngữ Kí hiệu ngôn ngữ ấy là các từ,các cụm từ, là những tên gọi “Sau khi tri giác, phân cắt hiện thực khách quan phụcvụ nhu cầu nhận thức, quá trình tiếp theo là biểu hiện kết quả của quá trình đó bằngngôn ngữ” [160,163] Có thể nói, định danh là một quá trình chuyển từ tri giác cảmtính sang lí tính hay nói một cách khác: “Tri giác cảm tính cho ta sự vật, lí tính cho
ta tên gọi sự vật” [1,88]
Đối với những tên gọi dùng các kí hiệu ngôn ngữ có sẵn để cấu tạo, ở ngôn
ngữ đơn lập như tiếng Việt, cơ chế tạo ra các đơn vị định danh phái sinh sẽ diễn ra
theo một “cơ trình gồm ít nhất ba công đoạn đồng bộ, liên quan chặt chẽ với nhau:(a) sử dụng yếu tố làm phương tiện, (b) tác động vào hệ nguyên tố, (c) tạo lập nênđơn vị phái sinh theo cách nào đó” [54,332]
Trang 27c Về đặc điểm và nguyên tắc định danh
Theo V.G Gac, đặc điểm định danh có thể được xét theo ba tiêu chí sau(dẫn theo [160,215]):
(1) Cách biểu thị tên gọi theo lối hòa kết hay phân tích,
(2) Mức độ về tính rõ lí do của tên gọi,
(3) Cách chọn đặc trưng của đối tượng để làm cơ sở định danh”
Đối với loại hình ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt thì tiêu chí (1) là cáchbiểu thị tên gọi theo lối phân tích
Khi định danh một đối tượng nào đó, chủ thể định danh phải tuân thủ theocác nguyên tắc sau đây
(1) Nhãn của khách thể định danh – tức là cái biểu hiện (hay vỏ âm thanh vậtchất của tên gọi) thường phải có mối liên hệ nào đó đối với cái được biểu hiện (ýnghĩa tên gọi) “Khi đặt tên cho khách thể mới, chủ thể sử dụng những yếu tố ởbình diện biểu hiện và ở bình diện nội dung đã có trong ngôn ngữ” [160,201]
(2) Tên gọi của đối tượng phải có sự phân biệt với các tên gọi khác Chẳnghạn trước một khách thể có nhiều đặc điểm có thể chọn để đặt tên nhưng chủ thểđịnh danh phải chọn đặc điểm nào đấy không chỉ tiêu biểu mà còn phải có giá trịphân biệt với đối tượng khác “Đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh miễn sao
có giá trị khu biệt sự vật ấy với sự vật khác” [160,190]
(3) Nếu định danh theo kiểu vay mượn thì tên gọi phải được chuyển từ loạihình ngôn ngữ được mượn sang loại hình ngôn ngữ mượn và phải được thiết lậptheo hệ thống của ngôn ngữ mượn
d Các dạng định danh và phương thức định danh
G.V Consanski chia định danh thành ba dạng như sau: “Định danh bằng từ
và từ tổ (định danh từ vựng), định danh bằng câu (mệnh đề), định danh bằng vănbản” (dẫn theo [160,198])
Trang 28Ở dạng định danh thứ nhất, khi định danh một khách thể mới, người ta sửdụng những hình thức đã biết để biểu hiện một nội dung mới diễn ra; hoặc bằngcách tổ chức lại những đơn vị, yếu tố đã có sẵn theo mô hình nhất định
B.A Serebrennikov nêu cụ thể bảy cách định danh như sau: (1) sử dụng tổ
hợp âm biểu thị đặc trưng nào đó trong số các đặc trưng của đối tượng; (2) môphỏng âm thanh (tức tượng thanh); (3) phái sinh; (4) ghép từ; (5) cấu tạo các biểungữ đặc ngữ; (6) can – ke (hay sao phỏng); (7) vay mượn (dẫn theo [160,199])
Các phương thức định danh trên còn được quy định bởi loại hình ngôn ngữ.Tiếng Việt còn có một phương thức định danh nữa “rất phổ biến và cực kì quantrọng” là phương thức “chuyển nghĩa của từ” [158,51]
Phương thức định danh cũng có thể chia thành hai loại: định danh trực tiếp(nguyên sinh) và định danh gián tiếp (thứ sinh, chuyển nghĩa) Tuy nhiên, “Về thựcchất, phương thức định danh gián tiếp gắn bó khăng khít với sự chuyển nghĩa củacác từ, (…) Sự khác biệt giữa định danh trực tiếp và sự chuyển nghĩa (tức địnhdanh gián tiếp) chỉ là quan điểm xem xét, hay từ góc độ nghiên cứu Cùng một hiệntượng ngôn ngữ được xem xét từ góc độ danh học và từ góc độ ngữ nghĩa học”[158,53]
e Quá trình tri nhận trong định danh
Thế giới xung quanh ta bao gồm vô số sự vật và hiện tượng, ta phải nhậndiện, phân loại và định danh chúng Đây là quá trình tinh thần (mental process) củacon người Nghiên cứu về định danh cần thiết phải quan tâm đến quá trình tinh thầnnày Nghiên cứu quá trình tinh thần của con người nhờ vào ngôn ngữ tự nhiên là nội
dung của ngành Ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics) - “một trường phái
mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinhnghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như các cáchthức mà con người tri giác và ý niệm hoá các sự vật và sự tình của thế giới kháchquan đó” [125,15-16]
Trang 29Quá trình tinh thần ấy liên quan mật thiết đến quá trình thu nhận, xử lí, chếbiến và lưu trữ thông tin trong não Việc tổng hợp những kết quả thu nhận được từthế giới khách quan bắt đầu từ tri giác cảm tính thông qua năm giác quan của con
người rồi cuối cùng tạo ra những ý niệm (concept/ концепт) – đơn vị nhỏ nhất của
quá trình tri nhận (cognition)
Hoạt động tri nhận của con người cũng mang đậm dấu ấn của môi trườngsống, môi trường văn hoá: “hoạt động tri nhận của con người có quan hệ trực tiếpvới môi trường sống của con người là cộng đồng dân tộc và văn hoá của cộng đồng
ấy, nên hoạt động tri nhận mang đặc thù văn hoá - dân tộc” [32,103] Do vậy, khiđịnh danh, chủ thể có những cách lựa chọn đặc điểm của đối tượng định danhkhông giống nhau Sự không giống nhau này trước hết là do cơ chế ngôn ngữ, loạihình ngôn ngữ, sau nữa là do tâm lí của mỗi cộng đồng người khác nhau, do vănhoá cũng như điều kiện tự nhiên - xã hội của mỗi vùng dân tộc khác nhau G.V.Consansky cũng có phát biểu tương tự: “Cùng một đối tượng có thể được gọi têntrong các ngôn ngữ theo cách khác nhau phụ thuộc vào đối lập kiểu nào về tâm lí,lịch sử, dân tộc và xã hội đã làm cơ sở cho sự định danh” (dẫn theo [160,16])
Ta có thể kiểm chứng điều trên qua cách tri nhận, chọn đặc trưng đối tượngđể định danh của người Việt ở Nam Bộ và người Việt ở Bắc Bộ Ví dụ, “khe hở ởsọ động vật còn non, do mảng xương sọ chưa phát triển đầy đủ” người Nam Bộ gọi
là mỏ ác (hình dạng), người Bắc Bộ gọi là thóp (hoạt động); “cái hộp trong chứa nhiều que, đầu có tẩm chất diêm sinh dùng để đánh lửa”, ở Nam Bộ gọi là hộp quẹt (động tác), ở Bắc Bộ gọi là bao diêm (chất liệu); “loại bánh làm bằng bột gạo tẻ xay
ướt, tráng thành tấm mỏng hình tròn, rắc vừng, phơi khô, khi ăn thì nướng lên”
[103], Nam Bộ gọi là bánh tráng (động tác), Bắc Bộ gọi là bánh đa (hình dạng) Có thể kể ra rất nhiều những trường hợp tương tự: mướp đắng - khổ qua, thông gia –
sui gia, cá quả - cá lóc, quần đùi - quần cụt, dạ dày – bao tử, cái bút – cây viết, ở
hai miền đều có cách lựa chọn đặc trưng đối tượng không giống nhau để đặt tên
Trang 301.1.1.2 Định danh sự vật ở cấp độ từ vựng
Như chúng ta đã biết, từ vựng hay vốn từ là tập hợp các từ và các đơn vịtương đương Các nhà Việt ngữ học từ lâu đã thống nhất cho rằng, theo kiểu cấu tạo(cấu trúc), tiếng Việt có các loại từ đơn, từ ghép và từ láy Từ đơn hình thành theophương thức từ hóa hình vị, từ ghép theo phương thức ghép và từ láy theo phươngthức láy
Tuy nhiên, gần đây, có một số nhà khoa học không thống nhất với quan điểm
về phương thức cấu tạo từ nêu trên Các nhà khoa học này (Nguyễn Đức Tồn,Hoàng Dũng) cho rằng tiếng Việt không có từ láy, nghĩa là không có phương thứccấu tạo từ láy Một số từ trước đây được cho là từ láy thì đó là lặp lại ngữ âm đểdiễn đạt số nhiều, hoặc thực ra đó là những từ ghép
Các nhà khoa học này cũng cho rằng tiếng Việt không có phương thức từhóa hình vị, “có thể khẳng định trong số các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt
không hề có cái gọi là “phương thức từ hóa hình vị” [161]
Trong lịch sử ngôn ngữ học, giới nghiên cứu thường quan tâm đến chứcnăng của ngôn ngữ Hai chức năng cơ bản của ngôn ngữ mà ai cũng thừa nhận làchức năng giao tiếp và chức năng tư duy Từ là một đơn vị cơ bản của ngôn ngữ.Ngoài chức năng giao tiếp và chức năng tư duy, từ còn có thêm một chức năng nữa
- chức năng định danh Chức năng định danh của từ “là cái cầu nối liền chức nănggiao tiếp và chức năng làm công cụ tư duy trừu tượng của ngôn ngữ” [15,157]
Từ là đơn vị định danh sự vật, hiện tượng, quá trình… ở cấp độ từ vựng Tuynhiên, không phải tất cả các từ đều có chức năng định danh Chỉ thực từ mới cóchức năng này Trong vốn từ tiếng Việt, những từ đơn âm tiết là những đơn vị địnhdanh gốc (bậc một), những từ đa âm tiết (phần lớn là song tiết) là những đơn vị địnhdanh phái sinh (bậc hai) Những đơn vị định danh gốc trở thành yếu tố cơ sở để tạo
ra những đơn vị định danh phái sinh
Những đơn vị định danh gốc có cấu trúc tối giản và thường mang nghĩa đen,còn những đơn vị định danh phái sinh có hình thức cấu trúc phức tạp và thường
Trang 31mang nghĩa biểu trưng Những đơn vị định danh phái sinh của từ tiếng Việt thườngđược hình thành theo phương thức phụ nghĩa Song việc lựa chọn yếu tố chính vàphụ như thế nào còn “bị chế định bởi chính nếp nghĩ, nếp cảm, nếp tư duy củangười Việt” [154,132]
Loại hình ngôn ngữ cũng được xác định qua cấu tạo từ, qua việc định danh
“Cấu tạo từ như thế nào, tức định danh hiện thực như thế nào, là một tiêu chí quantrọng để phân chia các loại hình ngôn ngữ” [109,125]
Chức năng định danh của từ xuất hiện là do nhu cầu của con người Đó lànhu cầu phân biệt các sự vật ở ngoại giới với nhau Tên gọi là kết quả của sự phânbiệt đó “Phân biệt là bước đầu của nhận thức của tư duy Nhờ có tên gọi, con người
có những “bàn đạp” để từ những nhận thức cũ tiến lên những nhận thức cao hơn”[15,158]
Phương thức cấu tạo từ và phương thức cấu tạo tên gọi tuy hai mà một, chỉkhác nhau ở góc nhìn: một bên là hình thức ngữ pháp của từ và một bên là hìnhthức chức năng của từ Dựa vào hình thái bên trong của từ có thể tách ra được cácthành phần cấu tạo, biểu thị các đặc trưng định danh tương ứng
Con người dùng từ hoặc yếu tố ngôn ngữ để cấu tạo tên gọi Tên (name) là
“từ hoặc nhóm từ dùng để chỉ một cá nhân, cá thể, phân biệt với cá nhân, cá thểkhác cùng loại” [103,874] Tên gồm có tên chung và tên riêng
Nếu tên chung là những từ chỉ một lớp đối tượng cùng loại, liên hệ đến khái niệm thì tên riêng chỉ là những kí hiệu định danh cho một đối tượng cá biệt, đơn lẻ,
không có mối liên hệ đến bất kì một khái niệm nào
Tên chung và tên riêng đều có nghĩa Tên chung biểu thị khái niệm, hay nóicách khác: “tên chung đưa trí óc ta không phải đến một cá thể mà với một kháiniệm trong tính chất khái quát, trừu tượng” [180,78] Tên riêng chỉ có nghĩa khi nóxác lập được mối liên hệ trực tiếp với đối tượng được định danh Lúc này hình tháibên trong của tên gọi phản ánh bản chất của đối tượng Điều này có nghĩa là chủ thểđịnh danh dùng hình thức ngôn ngữ biểu hiện đặc trưng nào đấy của khách thể và
Trang 32lấy đó làm căn cứ để gọi tên Khi ấy tên riêng mang nghĩa biểu vật “Một tên riêngtạo nên trong trí óc ta sự liên hệ đến một thực thể trong tính chất cá thể Đó là chứcnăng ngữ nghĩa của tên riêng” [180,77]
Tên chung và tên riêng đều có tính định danh như nhau, sự khác nhau là ởchỗ tên chung hay danh từ chung “dùng để gọi cùng một tên như nhau những sự vậtthuộc cùng một loại” [103,234], còn tên riêng hay danh từ riêng là “tên gọi của từng
cá nhân, cá thể, phân biệt với những cá nhân, cá thể khác cùng loại” [103,874] haytên riêng “dùng để gọi tên từng sự vật, đối tượng riêng lẻ” [103,234]
Đỗ Hữu Châu cũng phân biệt: “Nếu như danh từ riêng (tên riêng) chỉ đượcdùng để gọi cá thể chứ không được dùng để gọi tên cho loại của cá thể thì tên chung(danh từ chung) lại vừa được dùng để gọi tên cả loại, vừa được dùng để gọi tên cáthể trong loại” [19,67]
Giữa tên chung và tên riêng có sự chuyển hoá lẫn nhau Tên riêng chuyểnhoá thành tên chung khi “cái cá thể mà tên riêng biểu thị phải có giá trị biểu trưngđể làm cơ sở thực tế cho một khái niệm” [180,80] Ví dụ: Cái tập thể ấy có những
cô Tấm và có cả những Chí Phèo thời nay
Khi nghiên cứu về định danh sự vật, đối tượng khảo sát chính là tên gọi.Khảo sát tên gọi, chúng ta cần phải khảo sát cả tên chung (danh từ chung) và tênriêng (danh từ riêng) Tên riêng gồm có nhân danh, địa danh và hiệu danh
Trong địa danh có các tên gọi địa hình tự nhiên, đơn vị hành chính, vùnglãnh thổ và công trình xây dựng (có không gian hai chiều) Ở mảng tên riêng sự vậtliên quan đến sông nước ĐBSCL, luận án chọn tên riêng chỉ sông ngòi, kênh rạch,
ao đầm,… làm đối tượng khảo sát Như vậy, ở góc nhìn khác, phạm vi nghiên cứucủa luận án có một phần là tên riêng địa hình tự nhiên (thuộc địa danh)
Sở dĩ chúng tôi chọn loại tên riêng này trước hết không chỉ vì đó là một bộphận của tên gọi sự vật và còn vì đây là loại tên thuộc địa hình tự nhiên sông nước.Tìm hiểu về mảng tên riêng này, chúng tôi nghĩ rằng nó sẽ có giá trị trong việc xem
Trang 33xét đặc điểm định danh tên gọi sự vật nói chung và hi vọng sẽ tìm thấy ở đây nhữngnét riêng về định danh sự vật liên quan đến sông nước vùng ĐBSCL
Nghiên cứu định danh sự vật liên quan đến sông nước ở mảng tên riêng nêutrên, về cách tiếp cận, hướng triển khai vấn đề cơ bản giống như nghiên cứu địadanh Chúng có khác chăng là khác về góc nhìn, về mục đích nghiên cứu Mục đíchnghiên cứu về định danh sự vật liên quan đến sông nước của đề tài được chúng tôitrình bày như ở Phần Mở đầu của luận án này
Đối với mảng tên chung sự vật liên quan đến sông nước vùng ĐBSCL, nhưđã xác định trong Phạm vi nghiên cứu, luận án đã chọn các loại tên gọi như: tên gọiphương tiện di chuyển trên sông nước; tên gọi công cụ, phương tiện đánh bắt thủysản; tên gọi dòng nước, mực nước, loại nước, loại sóng; tên gọi địa hình tự nhiênsông nước Những nhóm tên gọi, những trường từ vựng này được sử dụng nhiềutrong đời sống cộng đồng người dân ĐBSCL, gắn bó với môi trường tự nhiên, thểhiện được đặc trưng văn hoá Nam Bộ, lối tư duy của người Việt nơi đây
1.1.1.3 Về tính võ đoán trong định danh
Trong quá trình định danh, chủ thể định danh có căn cứ vào cơ sở nào để đặttên hay không, nghĩa là mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiệncủa tên gọi (hay kí hiệu ngôn ngữ) là có lí do hay không có lí do ? Đây là vấn đềhiện có nhiều quan niệm rất khác nhau
a Quan niệm tên gọi là võ đoán
Quan niệm này xuất phát từ lí thuyết về tín hiệu ngôn ngữ của F deSaussure: “tín hiệu ngôn ngữ là võ đoán” [111,122] Tính võ đoán ở đây có nghĩa làkhông có mục đích rõ ràng nào trong việc lựa chọn sử dụng các tín hiệu ngôn ngữ.Saussure cũng nói rõ thêm: “mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểuhiện là võ đoán” [111,122] Tuy nhiên, ông cũng lại chia: võ đoán tương đối và võđoán tuyệt đối Võ đoán tương đối là các trường hợp có lí do về âm thanh (từ tượngthanh), có lí do về hình thái học (cấu tạo từ), có lí do về ngữ nghĩa (chuyển nghĩa).Saussure coi những từ tượng thanh về cơ bản không phải là thành phần hữu cơ
Trang 34trong hệ thống ngôn ngữ, số lượng của từ này lại vô cùng hạn chế Từ tượng thanhkhông phải là các âm thanh mà chỉ là sự mô phỏng âm thanh một cách tương đối
mà thôi
K Mark, Ph Anghen, V.I Lenin trong “Bàn về ngôn ngữ” đã viết về mốiquan hệ giữa khách thể và tên gọi (tên riêng): “tên gọi là một cái ngẫu nhiên, chứkhông biểu hiện được chính ngay bản chất của sự vật.” [1,89] hay “tên gọi một vậtrõ ràng là không có liên can gì đến bản chất của sự vật đó cả, tôi tuy có biết ngườikia tên là Giắc, nhưng vẫn không biết ông ta là người như thế nào cả” [1,28-29]
Ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học có cùng quan niệm này, chẳng hạn HoàngTuệ khi đưa ví dụ về nghĩa của từ “đầu”, “trâu”, “lúa” của tiếng Việt cũng đã khẳngđịnh rằng: “không giải thích nổi vì sao gọi thế; có đi ngược lên tới cội nguồn xa củangôn ngữ thì nói chung cũng chẳng phát hiện được mối quan hệ giữa một mặt là âmthanh được phát ra, mặt khác là ý niệm được gợi ra, trong những từ như thế củatiếng Việt, những từ đơn, thành một tiếng gọi của tổ tiên chúng ta để lại thế và bâygiờ chúng ta cứ thế dùng…” [163,75-76]
Tác giả Bùi Minh Toán cũng cho: “Trong tiếng Việt, những từ đơn âm tiếtthường không có cớ trực tiếp để cắt nghĩa” [154,118] Các tác giả Nguyễn ThiệnGiáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết cũng khẳng định: “Những kháiniệm được biểu thị hoàn toàn do quy ước, hay là do thói quen của tập thể quy địnhchứ không thể giải thích lí do” [49,56]
Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến khi phân loại các ngônngữ theo loại hình đã đưa ra tiêu chí tính võ đoán: “tiền đề quan trọng nhất là tínhvõ đoán trong quan hệ ngữ âm với ý nghĩa” Các tác giả này đã nêu ra ví dụ kháiniệm “cây” và âm “cây” trong tiếng Việt và kết luận giữa chúng “không hề có mối
quan hệ tự nhiên nào quy định lẫn nhau” [30,48]
b Quan niệm tên gọi là phi võ đoán
Đây là quan niệm của tác giả Nguyễn Đức Tồn - “theo chúng tôi, tất cả mọikí hiệu ngôn ngữ đều có lí do, chứ không phải là võ đoán” [159,180] Ông lập luận:
Trang 35“Trong lịch sử ngôn ngữ, có lẽ không có ngôn ngữ nào lấy tổ hợp âm vốn vô nghĩađể làm tên gọi cho một đối tượng mới”, “Không có lí do thì có lẽ khó mà đặt đượctên gọi cho một sự vật mới” hay “Tên gọi vốn là thứ nhãn để thay thế, phân biệt sựvật với nhau, nên không thể không dựa vào chất, vào các thuộc tính của sự vật”[160,181]
Tác giả Nguyễn Đức Tồn trong [158] và [160] đã căn cứ vào hai tham tốkhông thể thiếu khi tham gia vào quá trình định danh để chia lí do định danh thànhhai loại: nếu lấy đặc trưng nào đó có giá trị khu biệt của đối tượng được định danh
làm cơ sở để định danh thì đó là lí do khách quan; nếu đặc trưng làm cơ sở định danh là do chính chủ thể định danh áp đặt cho sự vật thì đó là lí do chủ quan
Loại có lí do khách quan thường chứa trong yếu tố thứ hai (yếu tố phái sinh)của tên gọi - định danh thứ cấp Ví dụ, người Nam Bộ gọi loài cá có lưng cong, hàm
trên nhô ra, hàm dưới thụt vào, như mồm ông lão là cá ông lão; gọi loại ốc có hình dạng giống vú phụ nữ (loại ốc này có nhiều ở Vũng Tàu) là ốc vú nàng; dựa vào tính chất của loại quần ống ngắn đến đùi, thường dành cho nam mặc là quần cụt (trong khi người Bắc Bộ gọi là quần đùi), v.v
Loại có lí do chủ quan thường có trong tên riêng (địa danh, nhân danh) Loạinày chỉ có chủ thể định danh mới biết lí do đặt tên Nhà nghiên cứu muốn biết phải
qua suy luận hợp lí hoặc phải điều tra điền dã Ví dụ, Đỗ Cử Nhân (tên người) thể hiện ước muốn con mình học hành đỗ đạt của cha mẹ (người đặt tên); Tân Hiệp (tên
đất) muốn chỉ vùng đất mới hợp lại từ các vùng đất khác nhau Tên gọi có lí do chủquan cũng có thể tìm thấy trong những tên gọi được đặt theo cách đồng hóa trạngthái tâm lí, cảm xúc của chủ thể định danh với đặc điểm của đối tượng định danh
Ví dụ, vàm Nao, ghe khoái,
Những tên gọi khó nhận biết được lí do, muốn biết phải nhiều công phunghiên cứu về từ nguyên học bằng phương pháp so sánh – lịch sử với những ngônngữ có quan hệ họ hàng gần gũi Có khi người nghiên cứu phải chấp nhận xếp
chúng vào dạng tồn nghi Tuy nhiên, phải hiểu rằng “cái chưa được nhận thức (và
Trang 36cả cái chưa nhận thức được) nhiều khi đã bị lầm lẫn mà coi là cái không có, nghĩa
là do bị lầm lẫn giữa hai bình diện nhận thức và bản thể…” [160,183]
Đỗ Hữu Châu cũng cho rằng: “nguyên tắc tạo thành các tên gọi là nguyên
tắc có lí do” [15,166] Tên chung thường có lí do khách quan, tên riêng thường có lí
do chủ quan
Chúng tôi có cùng quan niệm với Nguyễn Đức Tồn và Đỗ Hữu Châu khi xácđịnh cơ sở định danh các tên gọi sự vật sông nước ĐBSCL Chúng tôi chia theomức độ: loại rõ lí do và loại chưa rõ lí do (hoặc lí do chưa rõ ràng)
Loại rõ lí do thường là những từ ghép, yếu tố thứ hai – thứ cấp, hoặc chuyểnnghĩa, từ tượng thanh
Lí do có cơ sở từ chính khách thể định danh và có khi từ chủ thể định danh Loại chưa rõ lí do “thường là những từ đơn, có nguồn gốc lâu đời và lànhững từ thuần Việt Lí do của chúng phải được xác định bằng phương pháp sosánh lịch sử giữa tiếng Việt và các tiếng có quan hệ thân thuộc: Mường, MônKhơmer v.v.” [160,229]
1.1.1.4 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy
Khi nghiên cứu định danh, chúng ta không thể không quan tâm đến bộ ba
mối quan hệ: ngôn ngữ - văn hóa - tư duy (hay nhận thức)
Trước hết là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa Ngôn ngữ là một thành
tố quan trọng của văn hóa, biểu hiện đậm nét bản chất của văn hóa “Ngôn ngữkhông tồn tại ngoài văn hoá” (E Sapir) Khi tìm hiểu về văn hoá qua ngôn ngữ, ĐỗHữu Châu cũng khẳng định: “Ngôn ngữ là sản phẩm của văn hoá, đồng thời nócũng là hợp phần, thậm chí là hợp phần quan trọng nhất của văn hoá” [18,5]
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong sự phát triển của văn hóa Nó làphương tiện và điều kiện cho các thành tố khác của văn hóa nảy sinh, hoạt động vàphát triển Nó đóng vai trò tàng trữ, lưu truyền trong không gian, thời gian nhữnggiá trị văn hóa
Trang 37Nghiên cứu văn hoá không thể bỏ qua ngôn ngữ vì “đặc thù của văn hóađược biểu hiện trong ngôn ngữ…” [160,49] Nghiên cứu ngôn ngữ, ta thấy đượcđặc trưng của văn hoá, bởi vì ngôn ngữ là “yếu tố văn hoá quan trọng hàng đầumang sắc thái dân tộc rõ ràng nhất” [160,49]
Tên gọi sự vật, một nội dung thuộc ngôn ngữ của một dân tộc, của một vùngđất nào đó, chứa đựng những giá trị văn hóa của dân tộc, vùng đất ấy
Đến lượt mình, văn hóa là nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngônngữ, đặc biệt trong quá trình trao đổi văn hóa, giao lưu văn hóa giữa các dân tộctrong thời đại ngày nay
Nói về mối quan hệ khăng khít giữa văn hoá và ngôn ngữ, tác giả Cao XuânHạo viết: “Những ảnh hưởng của các nhân tố văn hoá đối với cấu trúc của một ngônngữ là điều khó có thể hồ nghi… và đến lượt nó, các sự kiện ngôn ngữ lại có thể gợicho ta những điều hữu ích về cách cảm nghĩ của người bản ngữ và từ đấy về nềnvăn hoá của họ” [58, 289]
Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá cũng có nghĩa là nghiêncứu bộ ba: ngôn ngữ – văn hoá – nhận thức Bởi vì, “không thể nghiên cứu mối liên
hệ giữa bản sắc văn hóa với ngôn ngữ mà lại bỏ qua vấn đề nhận thức, vấn đề tưduy của con người thuộc cùng một cộng đồng văn hóa – ngôn ngữ đang được xemxét” [176,160] Hơn nữa, một trong những chức năng quan trọng của ngôn ngữ là tưduy, hay nói như K Mark: “Hiện thực trực tiếp của của tư tưởng là ngôn ngữ” Vìthế, nghiên cứu ngôn ngữ cũng chính là nghiên cứu tư tưởng, tư duy
1.1.2 Phương ngữ Nam Bộ
1.1.2.1 Khái niệm phương ngữ
Phương ngữ (dialect) còn được gọi là phương ngôn Quan niệm về phương
ngữ cũng có sự khác nhau chút ít:
- Là loại ngôn ngữ khu vực, ngôn ngữ lãnh thổ, là “biến thể địa lí của mộtngôn ngữ” [52,356]; “phương ngữ học thường gắn với ngôn ngữ học địa lí” [57];
Trang 38- Là “biến dạng của ngôn ngữ toàn dân được dùng ở những người cùng mộtđịa phương hoặc cùng một tầng lớp xã hội” [192] và phương ngữ được xếp cùngvới từ nghề nghiệp, tiếng lóng;
- Là “biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với nhữngnét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác”[23,29] Đây cũng là quan niệm của chúng tôi về phương ngữ
Chúng tôi cho rằng: phương ngữ là một hệ thống hoàn chỉnh riêng của nóchứ không phải là “một cái nhánh được tách ra từ thân cây” [20,54] ngôn ngữ toàndân (national language)
Ngôn ngữ toàn dân cũng không phải là cái trừu tượng còn phương ngữ là cáicụ thể vì “phương ngữ cũng như ngôn ngữ toàn dân đều có mặt trừu tượng và mặtcụ thể” [20,54] của nó Ngôn ngữ một địa phương nào đó nhưng có nhiều đặc điểm
“chuẩn” hơn các ngôn ngữ địa phương khác, “vì lí do đặc biệt nào đó, đã đạt được
sự vượt nổi trên các phương ngữ khác của quốc gia” [82,14] thì nó trở thành ngônngữ toàn dân
Phương ngữ cũng không phải là biến thể của ngôn ngữ toàn dân Bởi vì nếu
là “biến thể” thì phải có cái “tiêu thể” Tiêu thể ở đây là cái chuẩn Nhưng nhiềutrường hợp trong phương ngữ không có tiêu thể, không có trong ngôn ngữ chuẩn -ngôn ngữ toàn dân Có những vấn đề ngôn ngữ chỉ thấy xuất hiện trong phương ngữ
mà không thấy có mặt trong ngôn ngữ toàn dân Ví dụ: nghĩa của từ nón trong PNNB rộng hơn nghĩa từ nón trong ngôn ngữ toàn dân; những từ chôm chôm, măng
cụt… chỉ có trong PNNB,…
Phương ngữ và thổ ngữ là hai thuật ngữ cùng chỉ sự đa dạng của ngôn ngữ
trên lãnh thổ Nếu phương ngữ là biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trên một vùng,miền rộng thì thổ ngữ chỉ giới hạn ở lãnh thổ hẹp hơn như làng, xã, huyện
Có quan niệm cho rằng ngôn ngữ có phạm vi một tỉnh, hoặc hơn một tỉnh(nhỏ hơn vùng) thì vẫn gọi là phương ngữ (ví dụ: phương ngữ Nghệ Tĩnh, phương
Trang 39ngữ Sơn Tây) Theo chúng tôi, phạm vi này nên gọi là tiểu phương ngữ như quanđiểm của Phạm Văn Hảo [57] sẽ hợp lí hơn
1.1.2.2 Vấn đề phân vùng phương ngữ tiếng Việt và xác định vùng phương ngữ Nam Bộ
Về phân vùng phương ngữ của tiếng Việt cũng có rất nhiều quan điểm khácnhau và hết sức phức tạp L.C Thompson (1965) không chia vùng phương ngữtiếng Việt H Maspero (1912), M.V Gordina, I S Bustrov (1970), Hoàng Phê(1963) chia hai vùng phương ngữ Hoàng Thị Châu (1963), Phạm Văn Hảo (2009),Nguyễn Bạt Tụy (1950), Vương Hữu Lễ (1974) chia ba vùng Nguyễn Kim Thản(1982) chia bốn vùng Nguyễn Bạt Tụy sau này (1961) lại chia ra năm vùng
Các quan điểm trên đều lấy ngữ âm làm tiêu chí chính để phân chia các vùngphương ngữ Nếu lấy thêm tiêu chí từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp thì cũng chỉ dừngở những vùng phương ngữ lớn mà thôi [theo 23; 87- 90]
Tiếng Việt xuất hiện ở vùng địa lí từ Thuận Hải trở vào, Hoàng Phê gọi là
tiếng miền Nam, nơi có Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh) là trung tâm [101].
Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu gọi là phương ngữ Nam
[118; 51- 69]
Tiếng Việt ở vùng địa lí từ Bình Tuy trở vào, Nguyễn Bạt Tuỵ cũng gọi là
phương ngữ Nam [165]
Tiếng Việt ở vùng địa lí trải dài từ đèo Hải Vân đến cực nam Tổ quốc,
Hoàng Thị Châu gọi là phương ngữ Nam [23,91]; ở vùng địa lí từ Quảng Nam trở vào, Cao Xuân Hạo cho là phương ngữ miền Nam [58,120-121].
Từ thế kỉ XVII, xuất hiện tiếng Việt ở địa phương Nam Bộ - vùng địa lí từĐồng Nai, Bình Phước đến mũi Cà Mau Tiếng Việt ở vùng này được Nguyễn VănÁi [3,10], Trần Thị Ngọc Lang [82,7], Hồ Lê [86,229-230], Bùi Khánh Thế
[131,77], Cao Xuân Hạo [58,120], v.v gọi là phương ngữ Nam Bộ
Trang 40Như vậy, không gian địa lí của tiếng miền Nam, phương ngữ miền Nam hay
phương ngữ Nam được các tác giả xác định khá rộng
Không gian địa lí của phương ngữ Nam Bộ được xác định hẹp hơn: cơ bản
nằm trong vùng địa lí tự nhiên Nam Bộ Đây cũng là quan điểm trong việc xác địnhvùng PNNB của chúng tôi ở luận án này
Do đó, chúng tôi chia tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ sau:
- Phương ngữ Bắc Bộ: trong vùng địa lí từ Thanh Hoá trở ra
- Phương ngữ Bắc Trung Bộ: trong vùng địa lí gồm các tỉnh từ Nghệ An đếnThừa Thiên- Huế
- Phương ngữ Nam Trung Bộ: trong vùng địa lí từ Đà Nẵng đến Bình Thuận
- Phương ngữ Nam Bộ: trong vùng địa lí từ Bình Phước đến Cà Mau
Việc phân vùng phương ngữ tiếng Việt theo không gian địa lí bốn miền củachúng tôi cũng như nhiều cách chia khác chỉ mang tính tương đối mà thôi Bởi vì,như chúng ta đã biết, phương ngữ có đường giáp ranh giữa các vùng, tức là đồngngữ tuyến
Tiếng Việt vùng ĐBSCL thuộc một bộ phận quan trọng của PNNB Nómang đậm đặc điểm của PNNB Nói một cách khác, tiếng Việt ở ĐBSCL là PNNBtiêu biểu
1.1.2.3 Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ
Mỗi phương ngữ đều có những đặc điểm ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữpháp riêng PNNB cũng có những đặc điểm riêng ấy Những đặc điểm này đối lậpvới các phương ngữ khác
Nam Bộ có điều kiện giao thông đường thủy thuận tiện và sớm có nền kinh
tế hàng hoá Điều này đã khiến cho PNNB thống nhất trên một địa bàn dân cư rộnglớn, trải dài từ phía đông sang phía tây của vùng đất này Đúng như tác giả Bùi