Sử dụng nguyên tắc doanh lợi và rủi ro trong tài chính doanh nghiệp, bình luận ý kiến trên.Lợi nhuận của một khoản đầu tư được hiểu là phần chênh lệch giữa kết quả thu được sau một khoản
Trang 1ÔN TẬP TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 2
1 Một doanh nghiệp có rủi ro cao thì lợi nhuận sẽ lớn? Sử dụng nguyên tắc doanh lợi và rủi ro trongtài chính doanh nghiệp, bình luận ý kiến trên
2 Nêu một ví dụ thực tế về nguyên tắc giá trị thời gian của tiền trong quản lý tài chính doanh nghiệp?Cho biết tầm quan trọng của nguyên tắc này trong quản lý tài chính?
3 Khả năng hoạt động của doanh nghiệp được phân tích thông qua báo cáo tài chính như thế nào?Bình luận về những báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán ViệtNam?
4 Cách xác định chi phí vốn trung bình của doanh nghiệp
5 Nhận xét vấn đề về chi phí vốn của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
6 Chứng khoán phái sinh
7 Có ý kiến cho rằng, chi phí vốn chủ sở hữu luôn thấp hơn chi phí nợ vay Bình luận ý kiến trên? Tạisao các doanh nghiệp niêm yết của Việt Nam lại ưa thích phát hành cổ phiếu hơn là phát hành tráiphiếu để tăng vốn?
8 Một doanh nghiệp sử dụng càng nhiều nợ thì càng có lợi? Hãy bình luận ý kiến trên và liên hệ tìnhhình thực tế ở Việt Nam hiện nay?
9 Phân tích mối quan hệ giữa chi phí vốn và tỷ lệ chiết khấu được sử dụng trong đánh giá hiệu quả tàichính dự án đầu tư
10 Mức “ Thu sử dụng vốn ngân sách nhà nước” ở Việt Nam được quy định giảm, khoản thu này có
xu hướng bị loại bỏ Hãy phân tích
11 Sử dụng nợ luôn bất lợi cho DN?
12 Lý thuyết về thị trg hiệu quả? Qđịnh trong thị trg ntn?
13 Trình bày mối liên hệ giữa các bảng báo cáo tài chính của doanh nghiệp
14 Khả năng thanh toán của DN được pt ntn thông qua các BCTC? Nhận xét về tình hình pt TC củacác doanh nghiệp VN hiện tại
15 Phân biệt DT và thu, CP và chi
16 Trả cổ tức bằng tiền tốt or không? Chính sách cổ tức
17 Việc tăng thuế TNDN trong khi các yếu tố khác ko đổi chắc chắn làm giảm tỷ lệ nợ trong cơ cấuvốn
18 Cơ cấu vốn và chi phí vốn của DN Nhận xét về cơ cấu vốn của DN VN hiện nay
19 Đòn bẩy tài chính tạo ra rủi ro tài chính Tại sao các nhà quản trị không loại bỏ rủi ro này bằngcách chỉ tài trợ cho hoạt động kinh doanh bằng vốn cổ phần, tránh sử dụng Nợ vay?
20 Tại sao nói đòn bẩy kinh doanh là đòn bẩy giai đoạn đầu, đòn bẩy tài chính là đòn bẩy giai đoạnsau?
Trang 21 Một doanh nghiệp có rủi ro cao thì lợi nhuận sẽ lớn? Sử dụng nguyên tắc doanh lợi và rủi ro trong tài chính doanh nghiệp, bình luận ý kiến trên.
Lợi nhuận của một khoản đầu tư được hiểu là phần chênh lệch giữa kết quả thu được sau một
khoảng thời gian đầu tư và phần vốn gốc mà nhà đầu tư bỏ ra Lợi nhuận thực tế phản ánh kết quảcủa hoạt động kinh doanh đã được thực hiện trong khi đó, lợi nhuận kì vọng cho biết mong đợi củanhà đầu tư về kết quả hoạt động kinh doanh trong tương lai
Rủi ro là khả năng hay xác suất xảy ra những kết quả đầu tư ngoài dự kiến hay là khả năng làm
cho mức sinh lời thực tế nhận được trong tương lai khác với mức sinh lời dự kiến ban đầu
Khi rủi ro càng lớn tức là khả năng xảy ra sai biệt giữa lợi nhuận kì vọng và lợi nhuận thực tế
càng cao Doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực có độ rủi ro cao tương đương với doanh nghiệp có kìvọng lợi nhuận thu được cao Nếu hoạt động hiệu quả, DN sẽ thu được lợi nhuận lớn, ngược lạihoạt động kém hiệu quả, chịu thua lỗ thì tồn thất mà DN phải chịu không hề nhỏ
Vậy có thể thấy, rủi ro cao thì lợi nhuận kì vọng cao hay DN muốn có lợi nhuận cao thì phải chấp
nhận mức độ rủi ro cao tương ứng chứ không phải “ DN có rủi ro cao thì LN sẽ lớn” Ý kiến trên
100*0.08=8 triệu
Tại thời điểm đáo hạn, doanh nghiệp nhận được khoản thu nhập là: 100+8= 108 triệu
Giá trị tương lai của khoản đầu tư 100 triệu ngày hôm nay là : 8*(1+8%)+108=116.64 triệu
(giả sử lãi suất tái đầu tư của khoản coupon nhân được năm 1 là 8%)
Giá trị hiện tại của khoản thu nhập 116.64 triệu 2 năm sau là 100 triệu ngày hôm nay (=
8/1.08+108/1.08^2)
Tầm quan trọng của nguyên tắc này trong quản lý tài chính:
Trang 3(Phần này mình có đáp án từ TCDN1 cũng khá đầy đủ, khi nào đi in tlieu, mình photo luon trangnày cho mọi người.Lười đánh lại.:D)
3 Khả năng hoạt động của doanh nghiệp được phân tích thông qua báo cáo tài chính như thế nào? Bình luận về những báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
Khả năng hoạt động của doanh nghiệp được ptich thông qua báo cáo tài chính ( trang 47 GtrinhTCDN- Các tỷ số về khả năng hoạt động )
Bình luận về những báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán ViệtNam :
Thực trạng chất lượng BCTC tại các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam
Ưu điểm:
- Nhìn chung, các CTCP niêm yết đã tuân thủ quy định lập và nộp BCTC định kỳ Nhữngcông ty lớn, có thương hiệu, uy tín trên thị trường chấp hành tốt theo đúng quy định tạiQĐ15/2006/QĐ-BTC, tạo ra các báo cáo có chất lượng tốt, thông tin đầy đủ giúp cho cácđối tượng sử dụng đưa ra quyết định dễ dàng hơn
- Với quy định hiện nay báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo bắt buộc trong hệ thống báocáo đã giúp các nhà đầu tư, ngân hàng, chủ nợ… thấy được nguồn tiền hiện tại của công ty
- Bảng thuyết minh BCTC được trình bày chi tiết cung cấp cho người sử dụng đủ thông tin
về công ty (vốn chủ sở hữu, tình hình đầu tư, các khoản vay…) Bảng cân đối kế toán vàThuyết minh BCTC được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ giúp cho người sử dụng BCTCcủa công ty đánh giá được tình hình tài chính của công ty
- Một số công ty khi lập BCTC hợp nhất đã sử dụng phương pháp vốn chủ sở hữu để hạchtoán các khoản đầu tư tài chính cung cấp thông tin trung thực về giá trị tài chính hiện tại củacác khoản đầu tư
Hạn chế và nguyên nhân:
Dưới góc độ các cơ quan ban hành chính sách và quản lý kinh tế Nhà nước:
Trang 4- Chuẩn mực kế toán Việt Nam còn một số hạn chế và chưa phù hợp so với thay đổi của nềnkinh tế Một số nghiệp vụ trên thực tế đã xuất hiện nhưng chưa có chuẩn mực, thông tưhướng dẫn rõ ràng gây khó khăn cho các công ty khi thực hiện Những khác biệt thực tếgiữa chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) có ảnhhưởng lớn đến đối tượng sử dụng BCTC Liên quan đến các khoản đầu tư chứng khoán(theo phương pháp giá gốc và phương pháp vốn chủ sở hữu): một số chuẩn mực kế toánchưa được soạn thảo hướng dẫn đúng và chi tiết để thực sự làm được trong thực tế như VAS
07, 08, 10,16, 25, 26; chưa hướng dẫn cụ thể phương pháp vốn chủ sở hữu (chỉ mới có TT161/2007-BTC - chuyển từ BCTC riêng theo phương pháp giá gốc sang BCTC hợp nhấttheo phương pháp vốn chủ sở hữu)
- Ở một số nước đã có quy định rằng các BCTC phải công bố thông tin về thu nhập của hộiđồng quản trị và ban giám đốc bao gồm các khoản thu nhập bằng tiền mặt, cổ phiếu ưu đãi,quyền mua cổ phiếu, cổ phiếu được cấp và giá trị các khoản lợi khác Ở Việt Nam chưa cóquy định này, điều này làm thiệt hại đến các cổ đông nhỏ, các cổ đông không nằm trong banđiều hành trong việc biểu quyết thông qua các phương án phát hành cổ phiếu ưu đãi cho cáccán bộ điều hành chủ chốt của công ty
- Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu là báo cáo quan trọng đối với các công ty cổ phần vì báocáo này cho biết lợi ích của cổ đông Ở Việt Nam báo cáo này chưa phải là báo cáo bắt buộctrong hệ thống BCTC, các thuyết minh trong BCTC về chỉ tiêu này chỉ nêu tóm tắt, sơ sài
Dưới góc độ các công ty cổ phần niêm yết:
- CTCP đưa ra với nhiều lý do khác nhau khi công bố thông tin chậm so với quy định, tìnhtrạng công bố thông tin theo kiểu đánh đố cũng được nhiều công ty áp dụng như có công ty
để file word, excel, PDF (cả PDF từ word chuyển sang lẫn file scan bản cứng), thậm chí cócông ty công bố BCTC bằng hàng chục bức ảnh chụp các trang tài liệu cứng
- Phần lớn các công ty thuyết minh BCTC sơ sài, chính sách kế toán áp dụng nêu rất chung vàthường trích dẫn theo chuẩn mực kế toán là chính, nhiều khoản mục thực tế không có sốliệu phát sinh tại công ty nhưng vẫn có thuyết minh chính sách về khoản mục đó Phần cácthông tin khác như nợ tiềm tàng, thông tin về các bên liên quan, báo cáo bộ phận nhiềucông ty có trình bày nhưng không kỹ hoặc không trình bày Chi phí bán hàng, chi phí quản
lý doanh nghiệp hay bị bỏ qua không thuyết minh Các khoản đầu tư, dự phòng, hàng tồn
Trang 5kho, chi phí trả trước chủ yếu diễn giải các số liệu, không thuyết minh cụ thể Một sốthuyết minh ghi chú xem các phụ lục nhưng công ty không đính kèm phụ lục.
- Các công ty phải lập BCTC hợp nhất chưa biết phương pháp điều chỉnh giá gốc trongBCTC riêng sang phương pháp vốn chủ sở hữu trong BCTC hợp nhất Ban giám đốc, hộiđồng quản trị, ban kiểm soát chưa thực sự quan tâm đến thông tin đầu tư tài chính theophương pháp vốn chủ sở hữu; Các đối tượng sử dụng BCTC quen với thông tin được báocáo theo giá gốc; Một số công ty kiểm toán độc lập khi lập báo cáo kiểm toán đã không nêubật những sai sót này, cho rằng sai sót không trọng yếu hoặc loại trừ khi báo cáo kiểm toánphát hành
- Một số công ty có đầu tư tài chính không trích lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính hoặctrích lập không đủ, không thực hiện trích lập dự phòng trong báo cáo quý, và sau khi kiểmtoán năm đã có một sự điều chỉnh giảm lớn về lợi nhuận của mình do công ty trích lập thêm
dự phòng đầu tư tài chính Việc trích lập dự phòng cho danh mục hàng tồn kho, công nợcũng chưa được các công ty tuân thủ theo đúng yêu cầu của chuẩn mực
- Các công ty hoạt động trong ngành xây dựng chiếm tỷ trọng khá nhiều trong các công ty cổphần niêm yết trên thị trường hiện nay Phần lớn các công ty hạch toán doanh thu theotrường hợp thanh toán theo giá trị khối lượng thực hiện, vì cách này đã quen thuộc với cáccông ty trước đây (theo Chuẩn mực kế toán số 15 về Hợp đồng xây dựng, có hai hình thứcthanh toán là thanh toán theo tiến độ kế hoạch và thanh toán theo giá trị khối lượng thựchiện)
- Liên quan đến BCTC đã được kiểm toán: có sự khác biệt lớn số liệu trước và sau kiểm toán,lợi nhuận nhiều CTCP bị giảm do cách hiểu, áp dụng các chuẩn mực kế toán giữa công tyniêm yết và phía đơn vị kiểm toán độc lập không thống nhất Nhiều báo cáo bị kiểm toánviên loại trừ bởi vì đó là những điều kiểm toán viên không thể khẳng định,với những báocáo này thì mức độ tin cậy rất thấp đối với nhà đầu tư
4 Cách xác định chi phí vốn trung bình của doanh nghiệp
Vốn là nhân tố không thể thiếu để một doanh nghiệp hình thành và phát triển sản xuất, kinhdoanh Có thể hiểu chi phi vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn, được tính bằng số lợi nhuận
kỳ vọng đạt được trên vốn đầu tư vào dự án hoặc doanh nghiệp để giữ ko làm giảm số lợi nhuậndành cho chủ sở hữu
Trang 6Vốn của doanh nghiệp cú thể hỡnh thức từ nhiều nguồn tài trợ khỏc nhau như vay nợ, phỏthành trỏi phiếu, phỏt hành cổ phiếu, thu nhập giữ lại… Mỗi bộ phận vốn cấu thành cú chi phớriờng Trong khi đú, mỗi doanh nghiệp đều muốn đạt tới một cơ cấu vốn tối ưu nhằm tối đa húa giỏtrị cổ phiếu của DN, DN phải tỡm cỏch tài trợ sao cho đảm bảo được cơ cấu vốn tối ưu đú
Tỷ lệ nợ, cổ phần ưu tiờn, cổ phần thường cựng với chi phớ cơ cấu của vốn được sử dụng đểtớnh chi phớ bỡnh quõn gia quyền vốn WACC
Giả sử doanh nghiệp cú cỏi nguồn vốn với chi phớ như sau:
lãi suất của các khoản nợ mới (trước thuế
chi phi sau thuế của nợ, trong đú T là tỷ lệ thuế biờn
chi phớ vốn cổ phiếu ưu đói
chi phớ của thu nhập giữ lại; nú bằng với tỷ lệ lợi tức yờu cầu của cổ phiếu thường
chi phớ vốn ngoại sinh đạt được bằng cỏch phỏt hành cổ phiếu thường bổ sung; khỏc biệt sovới vốn chủ sử hữu được huy động từ thu nhập giữ lại do chi phớ gia tăng khi cổ phiếu mới đượcphỏt hành
WACC = chi phớ bỡnh quõn gia quyền vốn
Tớnh chi phớ bỡnh quõn gia quyền vốn được trỡnh bầy dưới đõy đối với một doanh nghiệp cútài trợ 30% nợ, 10% vốn cố phần ưu đói và 60% vốn cổ phần thường và chi phớ cấu thành sau thuế:
= Chi phớ
gia quyền
=13,38%
Khi đợc khái quát hoá thành phơng trình thì,
Chi phớ vốn trung binh chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều nhõn tố.
Trang 7Hai nhân tố quan trọng nhất vượt ra ngoài tầm kiểm soỏt trực tiếp của doanh nghiệp là lóisuất và thuế.
Nếu lói suất trong nền kinh tế tăng, thỡ chi phớ nợ tăng bởi vỡ doanh nghiệp phải trả cho cỏcchủ nợ lói suất cao hơn Lói suất cao hơn cũng làm gia tăng chi phớ vốn cổ phần thờng và cổphần u đãi
Tỷ lệ thuế được sử dụng trong việc xỏc định chi phớ nợ sau thuế - một bộ phận cấu thànhWACC, tuy nhiờn chớnh sỏch thuế tỏc động đến chi phớ vốn theo những cỏch thức khụng rừ ràng
Vớ dụ, giảm tỷ lệ thuế đỏnh vào khoản lời vốn so với mức đỏnh vào thu nhập thụng thường hẳn sẽlàm cho cỏc cổ phiếu hấp dẫn hơn vỡ làm giảm chi phớ vốn chủ sở hữu so với chi phớ nợ Điều nàyhẳn sẽ dẫn tới thay đổi trong cơ cấu vốn mục tiờu
Một doanh nghiệp cú thể tỏc động tới chi phớ vốn thụng qua chớnh sỏch cơ cấu vốn, chớnhsỏch cổ tức và chớnh sỏch đầu tư
Doanh nghiệp cú thể thay đổi cơ cấu vốn của mỡnh, và chớnh sự thay đổi đú cú thể tỏc độngtới chi phớ vốn Nếu doanh nghiệp quyết định sử dụng nhiều nợ và ớt vốn cổ phần thường hơn, thỡthay đổi quyền số trong phương trỡnh xỏc định WACC sẽ cú xu hướng làm giảm WACC Tuynhiờn, tăng nợ sẽ làm gia tăng mức độ rủi ro cho cả chủ nợ và chủ sở hữu, và sẽ dẫn tới tăngWACC - cuối cựng là triệt tiờu những tỏc động của thay đổi quyền số
Đối với bất kỳ mức độ thu nhập nào, tỷ lệ chi trả cổ tức càng cao, mức độ thu nhập giữ lạicàng thấp và điểm gẫy của thu nhập giữ lại trong đờng chi phi von can bien MCC càng thấp
Khi chỳng ta ước tớnh chi phớ vốn, chỳng ta sử dụng tỷ lệ lợi tức yờu cầu đối với cổ phiếucủa doanh nghiệp và chi phớ nợ mới làm điểm khởi đầu cho phõn tớch Mức độ chi phớ phản ỏnhmức độ rủi ro đối với cỏc tài sản của doanh nghiệp Vỡ thế, chỳng ta ngầm giả định rằng vốn mới sẽđược đầu tư vào tài sản cựng loại và cú cựng mức độ rủi ro đối với tài sản hiện hành Giả định này
sẽ là khụng chớnh xỏc nếu doanh nghiệp đột nhiờn thay đổi chớnh sỏch đầu tư của mỡnh
5 Nhận xột vấn đề về chi phớ vốn của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
Như chỳng ta đó biết, vốn là một trong những đầu vào cơ bản cho tất cả cỏc hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong bối cảnh nền kinh tế chỳng ta vừa thoỏt khỏi những ảnhhưởng của khủng hoảng toàn cầu, và vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều khú khăn thực tại nhưlạm phỏt, lói suất cao, tỷ giỏ bất ổn định, TTCK liờn tục chạm đỏy, và thờm vào đú là với chớnh
Trang 8sách tiền tệ thắt chặt, dường như việc tiếp cận các nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Việt Nam lại càng khó khăn hơn bao giờ hết
Khi xem xét chi phí vốn, ta cần xem xét 2 vấn đề : cơ cấu vốn ( tức là tỷ trọng của từng loạivốn trong tổng nguồn ) và chi phí của từng loại vốn đó
1 Cơ cấu vốn của các DN VN hiện nay:
Như đã biết, một cấu trúc nguồn vốn hợp lí phải đảm bảo sự hài hòa giữa vốn chủ sở hữu vàcác khoản nợ phải trả, có chi phí sử dụng vốn thấp và rủi ro chấp nhận được, phù hợp với điều kiệnkinh doanh cụ thể của DN Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành
mà DN hoạt động, tuỳ thuộc vào quyết định của người quản lý trên cơ sở xem xét tình hình kinhdoanh và tài chính của DN
Cấu trúc nguồn vốn của DN được thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau:
Hệ số nợ = Nợ phải trả/Tổng nguồn vốn
Hệ số nợ phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh bình quân mà DN đang sử dụng có bao nhiêuđồng được hình thành từ vốn nợ
Hệ số vốn chủ sở hữu = vốn chủ sở hữu/Tổng nguồn vốn = 1 - Hệ số nợ
Hệ số vốn chủ sở hữu phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh mà DN đang sử dụng có bao nhiêuđồng do chủ sở hữu DN bỏ ra Nếu hệ số vốn chủ sở hữu càng cao, các khoản nợ của DN càngđược đảm bảo khả năng thanh toán và dĩ nhiên tài chính của DN càng nằm trong giới hạn an toàn.Ngược lại, hệ số nợ cao chứng tỏ DN sử dụng nhiều nợ vay, có khả năng gặp phải rủi ro thanh toánlớn khi khoản vay đáo hạn
Tuy nhiên, vốn vay sẽ là nhân tố quan trọng kích thích DN đang có những hợp đồng, dự ánthực sự hiệu quả tận dụng tốt lợi thế đòn bẩy tài chính để gia tăng lợi nhuận Do vậy, nhìn vào cấutrúc nguồn vốn có thể đánh giá được một cách khái quát chính sách tài trợ vốn kinh doanh của DN,mức độ an toàn trong sử dụng tài sản, mức độ an toàn hay rủi ro khác trong kinh doanh…
Ở Việt Nam cũng như một số quốc gia những năm qua tồn tại các DN có “đặc quyền ” sửdụng vốn vay quá mức Tình trạng này thường diễn ra trong các DNNN Trên danh nghĩa DNNNhoạt động sản xuất kinh doanh bình đẳng với các DN khác, tuy nhiên trong thực tế DNNN hầu nhưvẫn được hưởng khoản “lợi ích vô hình”, đó là dễ dàng hơn trong tiếp cận các nguồn vốn vay Nếukhông có sự quản lý, giám sát chặt chẽ, nhiều DNNN sẽ sử dụng vốn vay tràn lan mà không bị áplực về nguy cơ phá sản
Chính những điều đó đã khiến cho cấu trúc nguồn vốn của các DN này bị mất cân đốinghiêm trọng, vốn cho hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa vào nguồn vốn đi vay Vì vậy, phải tìm
Trang 9đội ngũ nhà quản lý DNNN thực sự tài năng, có chuyên môn, năng lực quản lý và phát triển kinhdoanh, coi trọng việc tái cấu trúc nguồn vốn hướng đến hoạt động tài chính minh bạch và lànhmạnh Bên cạnh đó, cần loại bỏ những nhà quản lý DN yếu kém, làm ăn thua lỗ kéo dài hoặckhông phát huy được ưu thế của DNNN đúng với thế mạnh, tiềm năng.
2 Chi phí nguồn vốn DNo hiện nay :
Theo khảo sát hiện nay, ở VN khoảng hơn 32% doanh nghiệp cho biết vay vốn ngân hàng vẫn
là nguồn huy động vốn chính trong thời gian qua Hai hình thức huy động vốn phổ biến tiếp theo làhuy động vốn trong nội bộ DN (21%) và vốn đối ứng của khách hàng (17%)
Chi phí nguồn vay : Mặc dù tín dụng ngân hàng vẫn là kênh truyền thông được ưa chuộng,
nhưng các DN cho rằng lạm phát và lãi suất cao, cộng với tỷ giá không ổn định và thắt chặt chovay và hạn mức tín dụng quá khắt khe của các ngân hàng đang là những yếu tố ảnh hưởng lớn nhấttới khả năng huy động vốn của DN Mức lãi suất vay vốn hiện nay của các NHTM đều lớn hơn20%/năm Khó khăn lớn nhất mà họ phải đối mặt là lãi suất và các loại phí đi vay quá cao, đồngthời, khó đáp ứng điều kiện cho vay của các nhà đầu tư hay bên cung ứng vốn
Trong bối cảnh siết tín dụng và thị trường chứng khoán ảm đạm như hiện nay, DN cho rằngquan trọng nhất là phải tái cấu trúc nguồn vốn để sử dụng hiệu quả đồng vốn hiện có của DN, tối
ưu hóa các nguồn vốn nhàn rỗi và thu hẹp danh mục đầu tư với những dự án chưa cần thiết để tiếtkiệm chi phí Lãi suất và tỉ giá hiện đang là vấn đề rất lớn với DN nhưng đây cũng là cơ hội để DNtái cấu trúc để hoạt động hiệu quả hơn Chi phí vốn ở Việt Nam cao hơn nhiều so với các nướckhác Nó tác động đến dòng chảy của vốn vì người ta sẽ tìm tới những thị trường có chi phí thấphơn”
Các DN Việt Nam cần phải bảo toàn vốn trong những lúc "bão tố", còn khi sóng yên biển lặngthì cũng phải duy trì quan hệ tốt với ngân hàng Thực tế có những DN vay vốn ở mức lãi suất 17%
- 18% do có quan hệ tốt và được ngân hàng tin tưởng
Chi phí vốn CSH : Nguồn vốn CSH vẫn luôn là một nguồn quan trọng đối với mỗi DN Trong
bối cảnh huy động vốn khó khăn như hiện nay, các DN cân nhắc các nguồn vốn khác như liên kếttheo chiều dọc, sáp nhập theo chiều ngang, từ các quỹ đầu tư, tham gia vào thị trường chứng khoánquốc tế và huy động từ các nhà đầu tư nhỏ lẻ
Một số DN lớn, có uy tín đã biết tận dụng nguồn vốn trên kênh quốc tế như Hoàng Anh Gia Lai
là ví dụ khi phát hành thành công 100 triệu USD TPDN và niêm yết trên TTCK Singapore Sắp tớiVincom cũng có ý định phát hành 300 triệu USD TP cũng niêm yết tại Singapore Tuy nhiên, theo
Trang 10khảo sát, chỉ có 10% DN cho rằng tìm kiếm vốn từ các quỹ đầu tư nước ngoài là một biện pháphiệu quả để đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh Khó khăn là hiện hữu nhưng đó cũng là cơ hộicho các doanh nghiệp có trình độ quản lý vốn tốt chiếm ưu thế để vươn lên, mở rộng thị phần.
Như vậy vấn đề nguồn vốn nào dành cho DN luôn là một vấn đề đau đầu của bất cứ nhàquản trị tài chính Yêu cầu cấp thiết đối với mỗi DN là phải có một chính sách tái cấu trúc nguồnvốn , tức là cấu trúc lại nguồn vốn hợp lý hơn với các chi phí vốn nhằm cân bằng giữa rủi ro và tỷsuất sinh lời để đạt tới tối đa hóa giá trị DN Quyết định cấu trúc nguồn vốn là một vấn đề hết sứcquan trọng đối với mỗi DN, bởi nó là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sởhữu và rủi ro tài chính mà DN có thể phải đối mặt Tuy nhiên không phải bất kỳ DN nào cũng cóthể xác định được cho mình ngay từ đầu một cấu trúc nguồn vốn hợp lý đảm bảo cho DN kinhdoanh hiệu quả Kể cả khi DN đã xây dựng được một cấu trúc nguồn vốn hợp lý thì cấu trúc đócũng không phải là bất biến trong một thời gian dài Bối cảnh hiện nay đòi hỏi nhà quản lý DN ởViệt Nam ngày càng phải am hiểu sâu về lĩnh vực tài chính DN - điều còn thiếu ở rất nhiều lãnhđạo DN Việt Nam
6 Chứng khoán phái sinh
Chứng khoán phái sinh là những hợp đồng tài chính, hay công cụ tài chính mà giá trị của nóđược xác định dựa vào giá trị của một công cụ khác, thường gọi là công cụ cơ sở (the underlying)
Phân loại :
Chứng khoán phái sinh hay còn gọi là công cụ phái sinh, theo chuẩn mực Quốc tế, bao gồmnhiều loại Nhưng có thể liệt kê 5 loại chứng khoán phái sinh chủ yếu sau: quyền mua cổ phần;chứng quyền; hợp đồng kỳ hạn; hợp đồng tương lai; và quyền lựa chọn
Quyền mua cổ phần (hay quyền mua trước) là quyền ưu tiên mua trước dành cho các cổđông hiện hữu của một công ty cổ phần được mua một số lượng cổ phần trong một đợt phát hành
CP phổ thông mới tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty, tại mức giá xác định,thấp hơn mức giá chào mời ra công chúng và trong một thời hạn nhất định
Chứng quyền là một loại chứng khoán trao cho người nắm giữ nó quyền được mua một sốlượng xác định một loại chứng khoán khác, thường là cổ phiếu thường, với một mức giá xác định
và trong một thời hạn nhất định Quyền này được phát hành khi tổ chức lại các công ty hoặc khicông ty nhằm mục tiêu khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua các trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu
Trang 11đãi có những điều kiện kém thuận lợi Để chấp nhận những điều kiện đó, nhà đầu tư có được mộtlựa chọn đối với sự lên giá có thể xảy ra của cổ phiếu thường.
Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuậnthực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tươnglai với một mức giá ấn định vào ngày hôm nay
Hợp đồng tương lai là một thoả thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ mua hoặc bán mộthàng hoá nào đó tại một thời hạn xác định trong tương lai theo một mức giá đã định trước Chứcnăng kinh tế cơ bản của các thị trường hợp đồng tương lai là cung cấp một cơ hội cho những ngườitham gia thị trường để phòng ngừa rủi ro về những biến động giá bất lợi
Quyền lựa chọn: Một quyền chọn là một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được mua(nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hànghoá tại một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định Các hàng hoá cơ sở này có thể là cổphiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm
Mặt tiêu cực của công cụ phái sinh:
Có thể gây ra thua lỗ lớn do việc sử dụng các công cụ đòn bẫy hay vay mượn; rủi ro do đốitác không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng (đặc biệt là trong hợp đồng swaps); tiềm ẩn rủi ro rất lớnđối với những nhà đầu tư nhỏ, thiếu kinh nghiệm
Giá trị danh nghĩa quá lớn: rủi ro dẫn đến thua lỗ lớn mà nhà đầu tư không thể bù đắp được.Khả năng dẫn đến phản ứng dây chuyển phá hủy hàng loạt khi có khủng hoảng kinh tế Giá trịdanh nghĩa quá lớn dẫn tới việc làm méo mó thị trường vốn thực Nhà đầu tư bắt đầu nhìn vào thịtrường các công cụ phái sinh để quyết định mua hoặc bán chứng khoán, như vậy cái mà ban đầuđược xem là thị trường là để chuyển rủi ro trở thành một chỉ số hướng dẫn thị trường
Đòn bẩy nợ trong nền kinh tế: việc gia tăng đòn bẩy nợ trong nền kinh tế làm nền kinh tếthực không đủ khả năng để tài trợ cho nghĩa vụ nợ và điều chỉnh những hoạt động kinh tế thực,điều này có thể gây ra suy thoái hay khủng hoảng kinh tế
Mặt tích cực của công cụ phái sinh:
Thúc đẩy việc mua bán rủi ro, vì thế tạo ra một tác động tích cực trong nền kinh tế Trongđiều kiện bình thường, giao dịch các chứng khoán phái sinh không tác động nghiêm trọng đến hệthống kinh tế vì nó không phải là một trò chơi có tổng bằng không về tính hữu dụng, giảm tác độngkhi có suy giảm kinh tế xảy ra, giúp tăng tính thanh khoản của các công cụ cơ sở; cho phép sửdụng đòn bẩy nâng cao lợi nhuận
Trang 127 Có ý kiến cho rằng, chi phí vốn chủ sở hữu luôn thấp hơn chi phí nợ vay Bình luận ý kiến trên? Tại sao các doanh nghiệp niêm yết của Việt Nam lại ưa thích phát hành cổ phiếu hơn là phát hành trái phiếu để tăng vốn?
Ở Vn hiện nay, thị trường trái phiếu công ty còn quá nhỏ và kém thanh khoản Nguyên nhân là hệthống tài chính doanh nghiệp thiếu các hoạt động đánh giá tín nhiệm đúng chuẩn và thường xuyên,
hệ thống tài chính và giá trị đồng nội tệ thiếu ổn định, dẫn đến không có đường cong lãi suất làmchuẩn
Mặt khác, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đốivới 1 phần vốn nợ của công ty phát hành Nhà phát hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo các camkết nợ được xác định trong hợp đồng vay Nếu công ty không hoàn trả được lãi cho trái phiếu,người ta sẽ xem xét vấn đề phá sản của công ty
Ngược lại, cổ phiếu là chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với
1 phần vốn cổ phần của công ty phát hành Thứ nhất, phát hành cổ phiếu doanh nghiệp không phảichịu gánh nặng nợ nần, không tạo áp lực với tính thanh khoản của doanh nghiệp Thứ 2, các chủđầu tư có thể cung cấp cho doanh nghiệp những hỗ trợ kinh doanh quan trọng mà daonh nghiệpkhông có Cuối cùng, phát hành cổ phiếu doanh nghiệp không phải thế chấp tài sản hay nhờ bảolãnh bởi vốn huy động là của chủ sở hữu
=> doanh nghiệp niêm yết của Việt Nam lại ưa thích phát hành cổ phiếu hơn là phát hành trái phiếu
Thực tiễn hoạt động tài chính chỉ rõ: Một đồng ngày hôm nay có giá trị hơn một đồng trong tươnglai, bởi 3 lý do sau:
- Thứ nhất: do lạm phát làm cho đồng tiền mất giá
- Thứ hai: do rủi ro trong đời sống kinh tế xã hội hàng ngày
Trang 13- Thứ ba: do cơ hội đầu tư làm cho một đồng ngày hôm nay nếu để tới ngày mai, ngoài tiềngốc còn có tiền lãi do chính nó sinh ra, còn một đồng ở tương lai thì vẫn chỉ là một đồng màthôi.
Ví dụ: một người lấy một dòng tiền, cho lãi suất chiết khấu rùi quy về hiện tại nhé
8 Một doanh nghiệp sử dụng càng nhiều nợ thì càng có lợi? Hãy bình luận ý kiến trên và liên
hệ tình hình thực tế ở Việt Nam hiện nay?
Trả lời:
Thực tế, việc sử dụng nợ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp cóthêm nguồn vốn mạnh hơn trong quá trình đầu tư Ngoài ra, đây là một vấn đề mà CFO hoạch địnhmột cấu trúc vốn mục tiêu với những lợi ích từ tấm chắn thuế Lãi từ chứng khoán nợ mà một công
ty chi trả là một chi phí được khấu trừ thuế Khoản khấu trừ thuế của lãi từ chứng khoán nợ làmtăng tổng lợi nhuận của doanh nghiệp Theo lý thuyết cấu trúc vốn của Miller và Modigliani(MM), một doanh nghiệp nên gia tăng tỷ lệ nợ cho đến khi giá trị hiện giá của tấm chắn thuế từ lãivay vừa đủ để bù trừ bằng gia tăng trong hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính Vì vậy, các nhàquản trị tài chính của doanh nghiệp phải phân tích và đưa ra mức vay nợ bao nhiêu là có lợi chodoanh nghiệp mình, tránh trình trạng sử dụng quá nhiều nợ sẽ dẫn đến chi phí kiệt quệ tài chính lớnhơn phần bù trừ tấm chắn thuế, khi đó sẽ đưa doanh nghiệp đến những rủi ro về tài chính
Theo định đề II của MM, khi nợ là phi rủi ro thì tỷ suất sinh lợi dự kiến từ cổ phần thường của mộtdoanh nghiệp có vay nợ tăng tương ứng với tỷ lệ nợ / vốn cổ phần, tức là tỷ lệ nợ / vốn cổ phầncàng nhiều thì tỷ suất sinh lợi từ cổ phiếu tăng có lợi cho NĐT Khi doanh nghiệp vay nợ nhiềuhơn, rủi ro không thực hiện nghĩa vụ tăng lên và doanh nghiệp buộc phải chịu lãi suất vay nợ caohơn MM dự báo rằng khi điều này xảy ra, tỷ lệ gia tăng trong tỷ suất sinh lợi dự kiến từ vốn cổphần chậm lại Doanh nghiệp càng có nhiều nợ, tỷ suất sinh lợi dự kiến càng ít nhạy cảm với cáckhoản nợ vay thêm
Khi nợ có rủi ro thì trái chủ gánh chịu một phần rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp Khi doanhnghiệp vay nợ nhiều hơn, rủi ro này chuyển từ các cổ đông sang các trái chủ Vay nợ làm tăng tỷsuất sinh lợi dự kiến từ đầu tư của các cổ đông Nhưng nó cũng làm gia tăng rủi ro của các cổphiếu của doanh nghiệp MM cho thấy rằng rủi ro gia tăng vừa đúng bù trừ cho gia tăng trong tỷsuất sinh lợi dự kiến, nên những người nắm giữ cổ phiếu không được lợi mà cũng không bị thiệt
Trang 14Theo số liệu điều tra tại 108 Tổng công ty 90, 91 của Công ty tư vấn Mekong, số nợ phải thu tồnđọng tính đến hết năm 2006 là 2.272 tỉ đồng, chiếm 4,7% tổng số nợ phải thu Nợ phải trả tồn đọng
là 21.904 tỉ đồng, chiếm 13,7% tổng nợ phải trả Riêng trong hệ thống ngân hàng thương mại nhànước, nợ quá hạn (nợ xấu) lên tới 10.046 tỉ đồng Nếu tính cả ngân hàng chính sách xã hội và ngânhàng phát triển, tổng số nợ xấu lên đến 13.659 tỉ đồng Còn theo số liệu ước tính của các tổ chứctài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, Ngân hàng Thế giới WB, nợ xấu của các DN VNvào khoảng 6,2 tỉ USD, tức là chiếm hơn 13% GDP cả nước
Cho đến cuối năm 2006, theo Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DN, các DNNN mới xử lý giãn
nợ, khoanh nợ, xoá nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước với tổng số tiền là 314,91 tỉđồng; xử lý nợ đọng hơn 19 nghìn tỉ đồng, chủ yếu bằng biện pháp thu hồi nợ, bán tài sản đảm bảo,
sử dụng dự phòng rủi ro của ngân hàng Trong số DN đã CPH, có khoảng 2.000 DN có nợ và tàisản loại trừ không tính vào giá trị DN
Theo Cục Tài chính DN (Bộ Tài chính) thì số nợ phải trả của DNNN thường gấp 1,2 -1,5 lần vốnnhà nước tại DN, thậm chí có nhiều DN nợ gấp vài lần đến hàng chục lần vốn chủ sở hữu Số nợphải thu cũng chiếm từ 50-60% vốn chủ sở hữu, đặc biệt nợ khó đòi chiếm đến 15-20% lợi nhuậnhàng năm, nhưng lại không được ghi đầy đủ trong sổ sách kế toán DN Đến thời điểm này, việc xử
lý các khoản nợ tồn đọng của khối DNNN mà Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước đưa ra biệnpháp vẫn chủ yếu là giãn nợ, khoanh nợ
9 Phân tích mối quan hệ giữa chi phí vốn và tỷ lệ chiết khấu được sử dụng trong đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư.
Trả lời:
- Chi phi sử dụng vốn được xem như là 1 liên kết quyết định tài trợ và quyết định đầu tư
- Chi phí sử dụng vốn thường được sử dụng để thay thế với tỷ suất sinh lời đòi hỏi của doanhnghiệp, tỷ suất rào cản cho các nhà đầu tư mới và cơ hội phí của sử dụng vốn
Trang 15với việc gia tăng giá trị tài sản của các chủ sở hữu theo yêu cầu của các nhà đầu tư trên thịtrường, là cơ sở để lựa chọn dự án đầu tư nào sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp.
- Chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp : tỷ lệ dùng để chiết khấu dòng tiền bình quân củadoanh nghiệp, qua đó tác động đến giá trị của doanh nghiệp
- Tỷ lệ chiết khấu được sử dụng trong đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư là mức lãisuất chiết khấu được dùng khi rủi ro của dự án cá thể nàu khác biệt với rủi ro của doanhnghiệp Trong trường hợp nàu phải điều chỉnh mức lãi suất chiết khấu phản ánh được mức
độ lệch bình quân giữa rủi ro của doanh nghiệp và rủi ro của dự án cá thể
Tỷ lệ chiết khấu được sử dụng trong đánh giá hiệu quả tài chính dự án = r +Δr +Δr*Po/Io
Trong đó: r : chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp trước đầu tư
Δr : gia tăng trong chi phí sử dụng vốn do tính rủi ro của dự án mới này
Io: đầu tư ban đầu của dự án mới
Po: giá trị của doanh nghiệp trước đầu tư
Nhận xét: từ công thức trên ta thấy:
Chi phí sử dụng vốn sẽ khác nhau giữa dự án này với dự án khác tùy thuộc vào mức độ rủi
ro của dự án
- Nếu Δr = 0 thì chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp (WACC) là lãi suất chiếtkhấu thích hợp
- Nếu Δr >0 ( đây là 1 dự án có rủi ro)thì cần cộng thêm phần bù rủi ro vào WACC
- Nếu Δr< 0 ( đây là 1 dự án ít rủi ro hơn độ rủi ro bình quân của doanh nghiệp ) thì phải trừ
đi 1 “ phí an toàn” từ WACC của doanh nghiệp
Trước tiên, ta so sánh việc sử dụng nờ và vốn chủ sở hữu cái nào tốn ít chi phí hơn, “chi phí” được
đề cập ở đây chính là chi phí có thể đo lường được cho việc huy động vốn tài trợ cho hoạt độngcủa doanh nghiệp Với nợ, đó chính là chi phí lãi vay mà doanh nghiệp phải trả cho khoản vay củamình Với vốn cổ phần, chi phí sử dụng vốn được hiểu như là quyền đối với thu nhập phải đủ thỏamãn được các cổ đông khi họ quyết định góp vốn vào côngty
Trang 16Ví dụ, nếu bạn điều hành một doanh nghiệp nhỏ và cần tài trợ khoảng $40,000, bạn có thể hoặc là
đi vay ở ngân hàng số tiền $40,000 với lãi suất 10% hoặc bạn có thể bán 25% cổ phần doanhnghiệp cho người hàng xóm với giá $40,000
Giả sử trong năm sau đó, doanh nghiệp của bạn có thể tạo ra được lợi nhuận hoạt động là $20,000.Nếu ban đầu bạn quyết định đi vay ở ngân hàng với chi phí lãi vay (hay còn gọi là chi phí tài trợcủa nợ) sẽ là $4,000, bạn còn lại lợi nhuận $16,000 Ngược lại, nếu bạn đã sử dụng tài trợ vốn cổphần, nghĩa là bạn không hề có nợ và dĩ nhiên là không có chi phí lãi vay nhưng bạn chỉ được nắmgiữ 75% lợi nhuận của doanh nghiệp thôi (25% khác thuộc sở hữu của người hàng xóm nhà bạn)
Do đó, lợi nhuận của bạn bây giờ chỉ có $15,000 (tức 75%*$20,000)
Từ ví dụ này, bạn có thể thấy nợ rẻ hơn vốn cổ phần là như thế nào, do đó cũng rất dễ hiểu khi các
cổ đông sáng lập của công ty quyết định lựa chọn phát hành nợ chứ không phải vốn cổ phần Thuếcũng là một yếu tố giúp cho tình huống phát hành nợ trở nên tốt hơn Nếu doanh nghiệp của bạn sửdụng nợ, bởi vì chi phí lãi vay được khấu trừ ra khỏi thu nhập hoạt động trước khi thu nhập bị đánhthuế, do đó chính hành động đã đem đến cho doanh nghiệp lợi ích tấm chắn thuế từ nợ
Dĩ nhiên, lợi ích của tài trợ nợ với lãi suất cố định đôi khi lại có thể là điểm bất lợi Bởi vì nợ đượcxem chi phí tài chính cố định, dù doanh nghiệp của bạn có hoạt động ra sao, thu nhập nhiều haythậm chí đang thua lỗ thì doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo việc trả lãi vay đúng kỳ hạn và trả nợ gốckhi đáo hạn, do vậy một sự gia tăng nợ của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc gia tăng thêmrủi ro tài chính
Quay trở lại ví dụ trên, giả sử trong năm sau, công ty của bạn chỉ tạo ra được có $5,000 Với tài trợ
nợ, bạn có thể vẫn có cùng $4,000 lãi vay phải trả và vì vậy lợi nhuận của bạn chỉ còn lại $1,000($5,000 -$4,000) Trong trường hợp tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần, tức là bạn không hề phảitrả một đồng lãi vay nào hết, thì bạn vẫn có 75% lợi nhuân tương đương với $3,750 (75% x
Trang 17Dễ thấy, các doanh nghiệp không bao giờ có thể chắc chắn 100% về lượng thu nhập trong tương lai(mặc dù họ có thể có những dự đoán hợp lý) và khi thu nhập tương lai của các doanh nghiệp càngkhông ổn định thì rủi ro càng tăng lên Do đó, các doanh nghiệp trong ngành có rủi ro kinh doanhthấp, có dòng tiền ổn định thường sử dụng nợ nhiều hơn là các doanh nghiệp trong các ngànhnhiều rủi ro hơn Các doanh nghiệp nhỏ hoặc mới bắt đầu hoạt động, đang trong giai đoạn khởinghiệp cũng sử dụng nợ rất ít, nếu không muốn nói là không có sử dụng nợ Các doanh nghiệp mớivới sự không chắc chắn cao có thể phải trải qua một thời gian đầy khó khăn để tìm được tài trợbằng nợ vay, nên thường thì các hoạt động của chúng hầu hết được tài trợ bằng vốn cổ phần.
Ở Việt Nam, nhắc đến nợ, người ta thường có tâm lý e dè, nhất là đối với các doanh nghiệp đangtrong thời kỳ “sung mãn”, lượng tiền mặt vô cùng dư thừa thì dường như họ lại càng không quantâm đến nợ “Tiền tôi có, tại sao phải vay?” Cũng vậy, sau 7 năm TTCKVN ra đời, đi vào hoạtđộng và đạt được sự phát triển như hôm nay thì để giải quyết bài toán thiếu vốn, doanh nghiệpniêm yết thường chọn giải pháp vốn cổ phần chứ không mấy mặn mà với việc sử dụng tài trợ bằng
nợ Các doanh nghiệp dường như đã quên đi lợi ích từ việc sử dụng đòn bẩy tài chính Hi vọngtrong tương lai không xa, vấn đề tài trợ bằng nợ sẽ được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm thỏađáng và đạt được hiệu quả tốt nhất trong việc sử dụng nợ Cũng cần nhắc lại là, phát hành tráiphiếu doanh nghiệp cũng là một hình thức vay nợ của doanh nghiệp
12
Lý thuyết về thị trg hiệu quả? Qđịnh trong thị trg ntn?
Lý thuyết thị trường hiệu quả:
Thị trường hiệu quả về mặt thông tin đòi hỏi các giả định:
- Có một số lượng lớn các thành viên tham gia thị trường cạnh tranh, mỗi thành viên phântích và định giá độc lập nhằm tối ưu hóa lợi nhuận của mình
- Các nhà đầu tư cạnh tranh cố gắng điều chỉnh giá cổ phiếu ngay tức khắc với tất cả cácthông tin liên quan sẵn có nhằm phản hồi được ảnh hưởng của thông tin
- Giá cả chứng khoán được thay đổi tại thời điểm bất kỳ chủ yếu dựa vào thông tin mới đượcngẫu nhiên đưa ra
Đặc điểm của thị trường hiệu quả thông tin:
- Các nhà đầu tư nên kỳ vọng thu được một mức hoàn vốn đầu tư có thể trang trải các chi phí( lợi nhuận hợp lý)
- Không thể suy luận hiệu quả hoạt động tương lai từ hiệu qủa hoạt động quá khứ
- Thị trường chỉ có thể hiệu quả nếu có đủ người tin rằng thị trường không hiệu quả
- Thị trường vốn phản ứng nhanh và đầy đủ với thông tin mới
- Các thành viên tham gia thị trường thường bỏ qua các thông tin không liên quan
Trang 18 Các hình thái thị trường hiệu quả:
- Dạng yếu: nếu thị trường hiệu quả về thông tin trong quá khứ, hay nói cách khác, nếu tất cảcác thông tin quá khứ đã được phản ánh vào trong giá , ta gọi là thị trường hiệu quả dạngyếu
- Dạng trung bình: nếu mức giá thị trường phản ánh tất cả các thông tin hiện có, người ta gọi
đó là hiệu quả dạng trung bình
- Dạng mạnh: thị trường mà tất cả các thông tin, bao gồm cả thông tin nội gián được phản ánhtrong giá được gọi là hiệu quả dạng mạnh
Hiệu quả thị trường và chính sách đầu tư:
- ở thị trường dạng yếu, việc sử dụng PTKT sẽ không dẫn tới hiệu quả vượt trội vì thông tinđược sử dụng để xây dựng chiến lược đầu tư đã được phản ánh trong giá chứng khoán thứctế
- nếu thị trường ở dạng trung bình, PTCB lại không mang lại kết quả hoạt động tốt hơn vìmọi thông tin công bố rộng rãi đã được phản ánh trong giá chứng khoán
Tóm lại, những người bảo vệ giả thiết thị trường hiệu quả sẽ áp dụng chiến lược thụ động( mua và nắm giữ ) Những người nghĩ rằng thị trường luôn tạo ra khoảng trống cơ hội sẽtham gia chiến lược thụ động, gọi là chiến lược lựa chọn cổ phiếu và lựa chọn thời điểm thịtrường
Do vậy, để quản lý danh mục đầu tư kể cả ở các thị trường hiệu quả hoàn hảo, vị thế tối ưucủa nhà đầu tư sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như tuổi tác, thuế, tâm lý ngại rủi ro, việc làm,…
13 Trình bày mối liên hệ giữa các bảng báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Báo cáo tài chính là một trong hai loại báo cáo của hệ thống báo cáo kế toán doanh nghiệp Báocáo tài chính được lập theo những chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành Báo cáo tài chính phảnánh các chỉ tiêu kinh tế - Tài chính chủ yếu của doanh nghiệp, nó phản ánh các thông tin tổng hợpnhất về tình hình tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu, công nợ, tình hình lưu chuyển tiền tệ cũng nhưtình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh nhất định
Theo quyết định số 15/2006 QĐ/BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính vềban hành chế độ kế toán doanh nghiệp, hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, bao gồm 4loại báo cáo sau đây: (1) Bảng cân đối kế toán, Mã số B01 - DN; (2) Báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh, Mãsố B02 - DN; (3) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Mã số B03 - DN; (4) Thuyết minhbáo cáo tài chính, Mã số B09 - DN
Báo cáo tài chính đánh giá hoạt động kinh doanh cũng như các khía cạnh phi tài chính của mộtdoanh nghiệp, nhằm dự báo tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp đó trong tương lai.Mỗi loại báo cáo có những mục đích sử dụng riêng:
Trang 19- Bảng cân đối kế toán mô tả tình trạng tài chính của 1 doanh nghiệp tại 1 thời điểm nhất định, có ýnghĩa quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lývới doanh nghiệp Nhìn vào đó, nhà phtich có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô,mức độ tự chủ tài chính của DN, hơn nữa giúp các nhà ptich đánh giá đc khả năng cân bằng tàichính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp.
- BC KQKD: cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình SXKD của DN và cho phép dự tínhkhả năng hoạt động của DN trong tương lai, giúp nhà pt so sánh doanh thu cới số tiền thực nhậpquỹ khi bán hàng hóa, dịch vụ, so sánh tổng chi phí phát sinh vs số tiền thực xuất quỹ để vận hành
DN => cung cấp thông tin tổng hợp về tình hình và kết quae sử dụng các tiềm năng về vốn, laođộng, kỹ thuật và trình độ quản lý SXKD của DN
- BCLCTT: xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập và thực xuất quỹ, trên cơ sở đó, nhà pt thựchiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xđ số dư ngân quỹ cuối kỳ => từ đó thiết lậpmức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho DN nhằm mục tiêu đảm bảo chi trả
Tóm lại, để phân tích tình hình tài chính của 1 DN, các nhà pt cần đọc và hiểu được cá báo cáo tàichính, qua đó, nhận biết đc và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêupt
14 Khả năng thanh toán của DN được pt ntn thông qua các BCTC? Nhận xét về tình hình pt
TC của các doanh nghiệp VN hiện tại.
- Lý thuyết : sgk 41
- Liên hệ:
Thực trạng phân tích tài chính trong các doanh nghiệp hiện nay là kiêm nhiệm bởi bộ phận tàichính - kế toán kiêm nhiệm Nhân viên phân tích tài chính là những người có liên quan đến việcthu thập và phân tích những thông tin tài chính, phân tích xu hướng và đưa ra các dự báo kinh tế.Tuy nhiên các DN vẫn còn rất coi nhẹ việc này
Công việc của các nhân viên phân tích tài chính là vô cùng quan trọng vì các đề xuất của họ hỗ trợdoanh nghiệp trong việc đưa ra quyết định tài chính Điều đó đòi hỏi nhân viên phân tích phải đọcnhiều để nắm bắt được các thông tin liên quan, các vấn đề về pháp luật, biến động thị trường, cáctình hình hoạt động được đăng tải trên tạp chí tài chính, sách báo Vì vậy với tình hình hiện nay,các doanh nghiệp nên chú trọng những vấn đề như: Chọn lọc những nhân viên cho bộ phận tàichính phải có trình độ cơ bản về tài chính và có kinh nghiệm và thâm niên trong công tác tài chínhcủa công ty; Không ngừng đào tạo các bộ chuyên trách thông qua các khoá tập huấn của Bộ Tài
Trang 20chính, trung tâm giáo dục của các trường đại học chuyên ngành; Kịp thời tiếp nhận những thay đổichính sách kế toán và những chuẩn mực kế toán mới; Bổ sung những kiến thức về pháp luật và cácchính sách tài chính thông qua các thông tin trên các báo, công báo, các trang Web liên quan;Khuyến khích tìm hiểu thông tin kinh tế trong và ngoài nước từ mọi nguồn đăng tải; Có thể cửhoặc tạo điều kiện nhân viên tham gia các khoán học ngắn, dài hạn tại các nước trên thế giới vềkiến thức quản lý và tài chính doanh nghiệp hiện đại; Tin học hoá đội ngũ nhân viên tài chính;Thường xuyên cử họ đi dự các hội thảo chuyên ngành
Tuy nhiên để thực hiện được những yêu cầu này về bản thân doanh nghiệp, cần thực hiện nghiêmtúc công tác kế toán và kiểm toán theo chế độ kế toán mới ban hành, những chuẩn mực kế toán,kiểm toán Việt Nam và hệ thống pháp luật về kinh tế
Để có được những thông tin kế toán có giá trị, thì doanh nghiệp nên có những biện pháp kiểm trabằng chính nội bộ hoặc kiểm toán Mặt khác, để doanh nghiệp hoà nhập với quá trình phát triểncủa nền kinh tế, bắt nhịp với sự thay đổi của đất nước, công tác kế toán phải tuân thủ theo chế độ
kế toán mới và những chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam Bên cạnh đó cần chú trọng thựchiện các vấn đề sau Thứ nhất, bổ sung những báo cáo tài chính ngoài hệ thống báo cáo tài chínhbắt buộc của Bộ Tài chính để phục vụ luồng thông tin đầy đủ cho công tác phân tích Như phântích Báo cáo thu nhập (Income statement) rất quan trọng và được sử dụng trong hầu hết phân tíchtài chính dùng cho những quyết định về cơ cấu vốn, sử dụng vốn, các quyết định về đầu tư và sửdụng những đòn bẩy mà hầu như các doanh nghiệp hiện nay không sử dụng, sự hiểu biết của họ
về báo cáo thu nhập và các chỉ tiêu trong báo cáo là chưa rõ ràng Do vậy, doanh nghiệp nên đưabáo cáo thu nhập vào hệ thống báo cáo tài chính Thứ hai, nâng cao trình độ và phẩm chất của cán
bộ quản lý Tất cả các quyết định về kinh doanh, tài chính, quản lý của doanh nghiệp đều từ cán bộquản lý Do vậy, trình độ, năng lực và đạo đức của họ là quyết định sự hoạt động có hiệu quả củadoanh nghiệp, hiệu quả hoạt động tài chính và công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Thứ ba,nâng cao trình độ nhân viên chuyên trách Và cuối cùng là thường xuyên trao đổi thông tin bênngoài về kinh tế, tài chính, thị trường qua trang Web hoặc các hình thức khác
15 Phân biệt DT và thu, CP và chi.
SGK193
- DT và thu:
+ DT là số tiền mà khách hàng chấp nhận thanh toán cho DN trong quá trình cung cấp sp, hànghóa, dvu
Trang 21+ Thu là số tiền mà khách hàng thanh toán , số tiền thực thu đc của DN, là thời điểm xuất hiệndòng tiền di vào
vd: Dn bán đc 1000 sp với số tiền là 2000$, khách hàng chấp nhận thanh toán trc 50% số tiền Vậy
- Mở rộng quy mô DN => chính sách trả cổ tức = cổ phiếu có thể làm tăng giá trị TS của CSH.)
Cổ tức là một trong những chính sách quan trọng của bất cứ công ty cổ phần đại chúng nào trên thếgiới, không chỉ ở Việt Nam Lãnh đạo doanh nghiệp luôn cân nhắc thận trọng về chính sách này vì
nó phải đáp ứng đồng thời 3 mục tiêu: làm hài lòng các cổ đông qua việc trả cổ tức định kỳ, đảmbảo luôn có tái đầu tư để phát triển doanh nghiệp, mức trả cổ tức phải ổn định để dự phòng cho cảnhững năm kinh doanh không như mong đợi (vì một khi đã trả cổ tức cao trong 1 hay vài nămtrước, doanh nghiệp sẽ “khó ăn nói” với cổ đông nếu năm sau hạ mức cổ tức xuống) Trong 3 mụctiêu trên, mục tiêu thứ hai là quan trọng nhất
Bản thân doanh nghiệp, hay nói cách khác là ban lãnh đạo doanh nghiệp – hơn ai hết hiểu rõ nhữnglợi thế và khó khăn của mình Họ biết lúc nào công ty cần vốn và cần giữ lại lợi nhuận để bổ sungcho nguồn vốn của mình, cũng như lúc nào mới bắt đầu tăng thêm cổ tức cho cổ đông
Do đó, nếu doanh nghiệp đang làm ăn tốt, thì nên giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư Bản thân cổ đôngcũng sẽ được hưởng lợi ích cho dù không nhận cổ tức, vì khoản lợi nhuận giữ lại đó sẽ góp phần