Đây là bài tiểu luận đã được chỉnh sửa hoàn thiện về bố cục và cách trình bày so với bài "KHÍ HẬU VỚI NGÀNH CHĂN NUÔI" đã up lên trước đó.
Trang 1VỚI NGÀNH CHĂN NUÔI 4
I Khái quát chung về khí hậu và chăn nuôi 4 I.1 Khái quát về khí hậu và đặc điểm khí hậu Việt Nam 4
I.1.1 Khái niệm khí hậu 4
I.I.2 Vai trò của khí hậu 5
I.1.3 Đặc điểm khí hậu Việt Nam 6
I.2 Khái quát chung về ngành chăn nuôi 7
II Ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, thời tiết đến vật nuôi 10
II.1 Nhu cầu về bức xạ, ánh sáng 11
II.2 Nhu cầu về nhiệt độ và độ ẩm 12
CHƯƠNG II: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (BĐKH) VÀ NHỮNG THÁCH THỨC
ĐỐI VỚI NGÀNH CHĂN NUÔI 18
I Khái quát chung về BĐKH 18 I.1 Khái niệm BĐKH 18
I.2 Biểu hiện của BĐKH 19
II.2.2 Nguồn cung cấp nước cho chăn nuôi 24
II.2.3 Tính đa dạng sinh học (di truyền và giống) 25
II.2.4 Sức khỏe, năng suất và hiệu quả chăn nuôi 25
II.3 Giải pháp cho BĐKH 27
CHƯƠNG II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ MÔ HÌNH CHUỒNG TRẠI MANG HIỆU QUẢ CAO TRONG NGÀNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM 28
I Giải pháp 28
II Một số mô hình chuồng trại 31 II.1 Mô hình nuôi lợn theo hướng công nghiệp 31
KẾT LUẬN 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chăn nuôi là một ngành quan trọng của nền nông nghiệp nước ta Điều kiện khí hậu nước ta cho phép phát triển chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm có chất lượng cao, có năng suất tốt, góp phần nâng cao đời sống của người dân và thúc đẩy nền sản xuất lương thực, thực phẩm cũng như phát triển một số ngành kinh tế sản xuất lân cận khác
Chúng ta đều biết hiệu quả chăn nuôi phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu, thời tiết, khả năng thuần hóa khí hậu của một số giống, loiaf nhập nội có năng suất, chất lượng cao Tác động của khí hậu có thể được thể hiện trực tiếp qua các quá trình chuyển hóa trong bản thân con vật nuôi, gia súc hoặc gián tiếp qua nguồn thức ăn, qua tình hình dịch bệnh của vật nuôi
Chính bởi những vai trò quan trọng của khí hậu và những ảnh hưởng lớn đối với ngành chăn nuôi, việc hiểu và nắm được các quy luật của khí hậu sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn đối với ngành chăn nuôi nói riêng và nền kinh tế nói chung, tránh được những tác động xấu của khí hậu đến vật nuôi và sử dụng tốt các mặt có lợi của khí hậu Do vậy, trong nội dung chuyên đề Khí hậu ứng dụng
và cũng là để hiểu và biết được những đặc điểm của khí hậu nên em chọn vấn đề
"Khí hậu với ngành chăn nuôi Việt Nam" làm nội dung nghiên cứu của mình.
2 Mục tiêu đề tài
- Tìm hiểu về những tác động của khí hậu đối với vật nuôi
- Tìm hiểu sự biến đổi khí hậu tác động đến ngành chăn nuôi
- Trình bày một số mô hình chăn nuôi mang lại lợi ích kinh tế cao
Trang 3- Trình bày một số mô hình chăn nuôi mang lại lợi ích kinh tế cao
- Trình bày được tác hại của biến đổi khí hậu tới ngành chăn nuôi Việt Nam
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài vận dụng các quan điểm chủ yếu sau:
- Quan điểm hệ thống
- Quan điểm tổng hợp
- Quan điểm lịch sử
- Quan điểm phát triển bền vững
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, đề tài vận dụng các phương pháp chủ yếu sau:
Trang 4PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUÂN CHUNG VỀ KHÍ HẬU
VỚI NGÀNH CHĂN NUÔI
I Khái quát chung về khí hậu và chăn nuôi
I.1 Khái quát về khí hậu và đặc điểm khí hậu Việt Nam.
I.1.1 Khái niệm khí hậu
Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định Điều này trái ngược với khái niệm thời tiết về mặt thời gian, do thời tiết chỉ đề cập đến các diễn biến hiện tại hoặc tương lai gần Khí hậu của một khu vực ảnh hưởng bởi tọa độ địa lí, địa hình, độ cao, độ ổn định của băng tuyết bao phủ cũng như các dòng nước lưu ở các đại dương lân cận Khí hậu phân ra các kiểu khác nhau dựa trên các thông số chính xác về nhiệt độ và lượng mưa Sơ đồ phân loại khí hậu được sử dụng phổ biến nhất hiện nay do ông Wladimir Koeppen phát triển Hệ thống Thornthwaite sử dụng từ năm 1948 kết hợp thêm sự thoát-bốc hơi nước với nhiệt
độ và các thông tin về lượng mưa được dùng trong việc nghiên cứu về các loài động vật và tiềm năng tác động của sự biến đổi khí hậu Bergeron và Hệ thống Phân loại không gian khái quát (Spatial Sypnoptic Classification – SSC) tập trung vào nguồn gốc của các khối không khí xác định cho khí hậu từng khu vực nào đó
Khí hậu trong nghĩa hẹp thường định nghĩa là "Thời tiết trung bình", hoặc chính xác hơn, là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi về số lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến hàng nghìn, hàng triệu năm Khoảng thời gian truyền thống là 30 năm, theo như định nghĩa của Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological Organization - WMO) Các số liệu thường xuyên được đưa ra là các biến đổi về nhiệt độ, lượng
Trang 5mưa và gió Khí hậu trong nghĩa rộng hơn là một trạng thái, gồm thống kê mô tả của hệ thống khí hậu.
Phân biệt với thời tiết: Sự khác nhau giữa Khí hậu và Thời tiết thường được tóm tắt qua thành ngữ "khí hậu là những gì bạn mong đợi, thời tiết là những gì bạn nhận được" Trong lịch sử có một số yếu tố không đổi (hoặc chỉ thay đổi rất nhỏ theo thời gian) để xác định khí hậu như tọa độ địa lí, độ cao, tỉ
lệ giữa đất và nước, và các đại dương và vùng núi lân cận Cũng có các yếu tố quyết định khác sinh động hơn: Ví dụ, dòng hải lưu trong các đại dương đã làm cho phía Bắc Đại Tây Dương ấm lên 5 °C (9 °F) so với các vùng vịnh các đại dương khác Các dòng hải lưu cũng phân phối lại nhiệt độ giữa đất liền và nước trên một khu vực Mật độ các loài thực vật cũng cho thấy sự ảnh hưởng của sự hấp thu năng lượng mặt trời, sự duy trì nước lượng mưa trên cấp khu vực Sự thay đổi của lượng khí nhà kính quyết định đến số lượng năng lượng mặt trời vào hành tinh, dẫn tới sự ấm lên hay lạnh đi trên toàn cầu Ngoài ra, cũng có các yếu tố phức tạp khác để xác định khí hậu, nhưng có thỏa thuận chung là các phác thảo mở rộng được hiểu, ít nhất là trong phạm vi các biến đổi khí hậu trong lịch sử
I.I.2 Vai trò của khí hậu
Khí hậu là một thành phần tự nhiên có vai trò quan trọng đối với sự sống trên Trái Đất Mọi hoạt động sống tồn tại trên Trái Đất đều phụ thuộc vào điều kiện khí hậu
Thật vậy, sinh vật sống được là nhờ có các quá trình trao đổi vật chất và năng lượng Sư trao đổi này thực hiện được là nhờ các quá trình trao đổi giữa cơ thể sống và môi trường Trong đó chính là quá trình hô hấp của sinh vật, thực vật ban ngày hấp thụ cacbonic và nhả khí oxi, còn ban đêm thì ngược lại Riêng động vật đó là quá trình thải khí cacbonic và thu nhận khí oxi
Trang 6Nhờ có khí hậu mà các quá trình trên diễn ra một cách nhịp nhàng và bình thường đảm bảo cho cơ thể sinh vật tồn tại và phát triển được.
I.1.3 Đặc điểm khí hậu Việt Nam
- Lượng nhiệt phong phú
Nước ta nằm ở trong vùng nội chí tuyến , mỗi năm nhận được lượng bức
xạ Mặt trời lớn do góc nhập xạ lớn và mọi nơi trong năm đều có 2 lần mặt trời lên thiên đỉnh Tổng lượng bức xạ mặt trời làm nhiệt độ trung bình ở nước ta cao ( Trên ) Vì vậy mà khí hậu nước ta mang tính chất nhiệt đới
Tổng bức xạ lớn, cân bằng bức xạ dương quanh năm khiến cho nhiệt độ trung bình năm cao, vượt tiêu chuẩn khí hậu nhiệt đới Nhiệt độ trung bình năm trên toan quốc đều lớn hơn 200C (trừ vùng núi cao), nhiều nắng, tổng số giờ nắng tùy nơi từ 1400 đến 3000 giờ/năm
- Lượng mưa ,độ ẩm lớn :
Lượng mưa trung bình năm từ 1500-2000mm/năm do các khối khí di chuyển qua biển ( có cả biển Đông ) đã đem lại nước ta lượng mưa lớn Độ ẩm > 80% nên khí hậu mang tính chất ẩm
- Gió mùa
Nước ta có hai mùa gió chính : gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ + Gió mùa mùa đông :hoạt động từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau ,thổi về miền Bắc nước ta theo hướng đông bắc nên còn gọi là gió mùa đông bắc Vào đầu mùa đông ,ở lục địa Á-Âu hình thành nên trung tâm áp cao XiBia với phạm
vi rộng lớn.Tại bán cầu Nam hình thành nên hai áp thấp lớn ở lục địa Ôxtraylia
và phía nam châu Phi,gió thổi từ áp cao Xibia mang tính chất Lạnh và khô thổi về
2 áp thấp này theo hướng Đông Bắc và trên đường di chuyển nó đi qua Việt Nam gây nên một mùa đông lạnh và ít mưa ở miền Bắc nước ta Khi di chuyển xuống miền Nam ,gió mùa đông bắc bị suy yếu dần và hầu như bị chặn lại ở dãy bạch
mã Cuối đông (tháng 2 và 3) ở bắc Thái Bình Dương xuất hiện áp thấp có tên là
Trang 7Aleut hút gió mùa lệch về phía biển Đông đem theo hơi ẩm trở nên lạnh và ẩm ,gây mưa phùn cho vùng ven biển và các đồng bằng ở Bắc Bộ và Trung Trung
Bộ
+ Gió mùa mùa hạ : hoạt động vào tháng 5 đến tháng 10 vào nước ta theo hướng Tây Nam Đầu hạ bán cầu Bắc hình thành nên áp thấp Ỉan ở châu Á và Bắc Phi ,trong khi đó ở bán cầu nam hình thành nên áp cao Bắc Thái bình Dương Gió thổi từ lục địa Á Âu về đây theo hướng Tây Nam mang theo lượng
ẩm lớn và khi vào nước ta gây mưa lớn cho vùng đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên Tuy nhiên khi vượt qua các dãy núi chạy dọc theo biên giới Việt Lào và dãy Trường Sơn ,gió bị biến tính trở nên khô nóng hay còn gọi là gió Fơn Giữa
và cuối mùa hạ ,gió Tín Phong bán cầu Nam từ áp cao Nam Ấn Độ Dương và khối khí xích đạo hoạt động mạnh lên Khi vượt qua xích đạo ,gió đổi hướng Đông Nam thành Tây Nam (do tác động của lực Coriôlit ) đi qua vùng biển nhiệt đới va trở nên nóng ẩm hơn gây mưa lớn và kéo dài cho vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Kết hợp với dải hội tụ nhiệt đới ,gió gây mưa cho cả nước ta
Từ những đặc điểm trên, khí hậu nước ta mang tính chất nhiệt đới gió mùa
ẩm, là điều kiện để phát triển ngành nông nghiệp, trong đó có ngành chăn nuôi
I.2 Khái quát chung về ngành chăn nuôi
Chăn nuôi là ngành cổ xưa nhất của nhân loại Nó cung cấp cho con người thực phẩm có dinh dưỡng cao từ nguồn đạm động vật và bảo đảm sự cân đối trong khẩu phần ăn Sản phẩm của ngành chăn nuôi còn là nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ (tơ tằm, lông cừu, da), cho công nghiệp thực phẩm (đồ hộp), dược phẩm và cho xuất khẩu Cho dù con người đã sản xuất và sử dụng rộng rãi tơ, sợi, len, da nhân tạo, nhưng các sản phẩm tự nhiên từ ngành chăn nuôi có nhiều ưu điểm mà các vật liệu nhân tạo không thể có được Chăn nuôi còn cung cấp sức kéo, phân bón và tận dụng phụ phẩm của ngành trồng trọt Việc kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi sẽ làm cho sản xuất nông nghiệp tăng thêm hiệu quả
Trang 8Đặc điểm quan trọng nhất của ngành chăn nuôi là sự phát triển và phân bố của nó phụ thuộc chặt chẽ vào cơ sở thức ăn Ngoài các đồng cỏ tự nhiên và diện tích mặt nước, phần lớn thức ăn phục vụ chăn nuôi đều do ngành trồng trọt cung cấp Vì thế, ở đâu ngành trồng trọt phát triển, con người không phải quan tâm đến lương thực cho bản thân mình thì ở đó có nhiều điều kiện để đẩy mạnh ngành chăn nuôi Đây cũng là lý do vì sao ở phần lớn các nước phát triển, tỷ trọng của ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp lại cao hơn ngành trồng trọt (ở Hoa Kỳ, chăn nuôi chiếm 70%, ở Pháp hơn 50%, ở Anh trên 60%, ở Ai Len gần 90%)
Ngược lại, ở các nước đang phát triển, quy mô dân số đông, gia tăng dân số còn cao, nguồn lương thực chưa đủ cung cấp cho con người, nên chăn nuôi kém phát triển
Ngoài ra, sự khác biệt về chất lượng của cơ sở thức ăn được thể hiện khá rõ trong cơ cấu và phương hướng chăn nuôi Các đồng cỏ khô cằn của Mông Cổ và Tây Á chủ yếu để chăn nuôi cừu, dê, lạc đà Trong khi đó, các đồng cỏ tốt tươi ở nhiều nước châu Âu là vùng chuyên canh nuôi bò lấy thịt hoặc sữa
Cơ sở thức ăn cho chăn nuôi đã có những tiến bộ vượt bậc nhờ những thành tựu về khoa học công nghệ Ngành chăn nuôi trước kia dựa hoàn toàn vào nguồn thức ăn tự nhiên (đồng cỏ, bãi chăn thả ), rồi dần dần chuyển sang phụ phẩm của ngành trồng trọt và hiện nay chủ yếu là nguồn thức ăn chế biến bằng phương pháp công nghiệp Ngay cả các đồng cỏ tự nhiên ngày nay cũng đã được cải tạo Các đồng cỏ trồng với nhiều giống mới cho năng suất và chất lượng cao ngày càng trở nên phổ biến
Trong nền nông nghiệp hiện đại, ngành chăn nuôi có nhiều thay đổi về hình thức (từ chăn nuôi chăn thả, sang chăn nuôi nửa chuồng trại, rồi chuồng trại đến chăn nuôi công nghiệp) và theo chuyên môn hoá (thịt, sữa, len, trứng )
Chăn nuôi bao gồm ba ngành chính:
- Chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò, ngựa),
- Chăn nuôi gia súc nhỏ (lợn, cừu, dê)
Trang 9- Chăn nuôi gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng ).
a Chăn nuôi gia súc lớn
Trâu, bò là các loại gia súc lớn được nuôi phổ biến để lấy thịt, sữa, da và các sản phẩm khác Ở các nước đang phát triển, trâu bò là nguồn sức kéo chủ yếu trong nông nghiệp Thịt trâu, bò (chủ yếu là bò) chiếm 40% sản lượng thịt toàn của thế giới
- Ngành chăn nuôi bò của nước ta phát triển tương đối mạnh mẽ Đàn bò tăng nhanh qua các năm, từ 3,1 triệu con năm 1990 lên 3,6 triệu con năm 1995 và đạt 4,4 triệu con năm 2003 Bò được nuôi nhiều ở Duyên hải Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ Gần đây, đàn bò sữa đã phát triển mạnh ở ven các thành phố và trung tâm công nghiệp lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương
- Chăn nuôi Trâu: Những nước nuôi nhiều trâu đều thuộc về châu Á, đứng đầu là Ấn Độ (hơn 94 triệu con), Pakixtan (24 triệu con), Trung Quốc (trên 22 triệu con), Nêpan (3,7 triệu con), Ai Cập (3,6 triệu con), Việt Nam (2,8 triệu con), Mianma (2,6 triệu con), Inđônêxia (2,3 triệu con) và Thái Lan (2,1 triệu con)
Việt Nam là một nước nuôi nhiều trâu, đứng thứ 7 trong tổng số 40 nước có nuôi trâu Đàn trâu có xu hướng giảm nhẹ và không ổn định, từ 2,9 triệu con năm
1990 xuống còn 2,8 triệu con năm 2003 Một trong những nguyên nhân chủ yếu
là vì nhu cầu sức kéo của trâu đã bắt đầu được thay thế Trâu tập trung ở vùng Đông Bắc và Bắc Trung Bộ
b Chăn nuôi gia súc nhỏ
- Chăn nuôi lợn
+ Đàn lợn ở Việt Nam tăng nhanh do nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước cũng như do việc giải quyết tốt cơ sở thức ăn cho chăn nuôi.Đàn lợn của nước ta đứng hàng thứ 5 trên thế giới, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Bắc
- Chăn nuôi cừu
Trang 10+ Cừu là vật nuôi quan trọng được thuần dưỡng từ loài cừu núi cách đây khoảng 8.000 - 10.000 năm Cừu có khả năng thích nghi rộng Từ loài động vật ở vùng khí hậu khô nóng, ngày nay, cừu được nuôi khắp mọi nơi, ở vùng nhiệt đới
và cả xứ lạnh ở Bắc Âu
+ Ở Việt Nam, cừu đang được nuôi với tính chất thử nghiệm để lấy lông tại Ninh Thuận và Bình Thuận
- Chăn nuôi dê
+ Dê cũng là loại gia súc nhỏ và dễ tính như cừu được nuôi để lấy thịt và sữa tại những vùng khô hạn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt hoặc trong các thung lũng của vùng núi đá vôi Đối với người nông dân ở châu Á (Ấn Độ, Pakixtan, Bănglađét, Apganixtan), châu Phi (Êtiôpi, Nigiêria, Xu Đăng ), dê là nguồn đạm động vật quan trọng vì thịt nạc mà không xác, mỡ mà không béo Dê còn được coi là “con bò sữa của người nghèo”
+ Đàn dê trên thế giới ngày một đông hơn đã bổ sung nguồn thịt và sữa cho người nông dân nghèo của các nước đang phát triển
Đàn dê tập trung nhiều ở các nước đang phát triển thuộc châu Á và châu Phi như Trung Quốc (161,5 triệu con năm 2002), Ấn Độ (123,5 triệu con), Pakixtan (50,9 triệu con), Xu Đăng (40,0 triệu con), Bănglađet (34,1 triệu con), Nigiêria (26,0 triệu con), Iran (25,8 triệu con)
+ Ở Việt Nam, dê được nuôi nhiều tại vùng núi đá vôi Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An với trên 600 nghìn con (năm 2002)
c Chăn nuôi gia cầm.
Tại Việt Nam, số lượng đàn gia cầm cũng tăng lên đáng kể, các đà gia cầm phân bố rải rác trên lãnh thổ, tập trung nhiều ở Đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng
II Ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, thời tiết đến vật nuôi
Chúng ta đều biết hiệu quả chăn nuôi phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu, thời tiết, khả năng thuần hóa khí hậu của một số giống, loài nhập nội có năng suất, chất lượng cao Tác động của khí hậu có thể được thể hiện trực tiếp qua các
Trang 11quá trình chuyển hóa trong bản thân con vật nuôi, gia súc hoặc gián tiếp qua nguồn thức ăn, qua tình hình dịch bệnh.
Cũng như cây cối, con người và nhiều loài sinh vật hoang dã khác, bức xạ, ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và các chuyển động của không khí có ảnh hưởng không
ít đến sức khỏe, tốc độ tăng trưởng , sự hình thành năng suất và phẩm chất của sản phẩm chăn nuôi
II.1 Nhu cầu về bức xạ, ánh sáng
Tác nhân quan trọng nhất của khí hậu thời tiết đối với ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm ở nước ta là điều kiện ánh sáng Thiếu bức xạ Mặt Trời, vật nuôi thường mắc bệnh thiếu máu, rối loạn trao đổi chất, có thể mắc bệnh còi xương do rối loạn trao đổi photpho và canxi trong cơ thể vật nuôi, làm cho chúng chậm lớn, sinh sản giảm, lượng sữa ít, rối loạn chức năng sinh lý
Tia hồng ngoại trong bức xạ Mặt Trời làm tăng nhiệt độ không khí, sưởi ấm
da và lớp mô dưới da của vật nuôi, tăng lượng máu ngoại biên, chống lạnh tốt cho vật nuôi Nhờ đó các tế bào tăng tính hoạt hóa sinh học, số nhân tế bào và các hệ enzim trong cơ thể được hoạt hóa nhiều hơn
Thuận lợi có thể thấy rõ của nền bức xạ nhiệt đới gió mùa Việt Nam là sự giàu có về thành phần bức xạ siêu tím, cũng như sự phân bố khá điều hòa trong suốt năm Nhờ nguồn tài nguyên thiên nhiên này súc vật nuôi ở nước ta cũng mau lớn, hệ số chuyển hóa cao, nguồn thức ăn ở xứ xở nhiệt đới này cũng rất dồi dào, nhiều chất dinh dưỡng Ngay việc chúng ta có thể lợi dụng được một phần lớn nguồn thức ăn tự nhiên cũng chứng tỏ ưu thế của điều kiện sinh khí hậu nước ta trong chưn nuôi gia súc, gia cầm
Mặt ít thuận lợi của khí hậu nước ta, đặc biệt là khí hậu miền Bắc, là sự thiếu ánh sáng trong các tháng mùa đông Đó là lý do khiến cho gà đẻ trứng ít hơn hẳn trong mùa đông và súc vật thì chậm lớn trong thời kì này Về mùa hè, đặc biệt là nhiều khu vực của miền Nam, cường độ ánh sáng lại quá cao, gây tác động nhiệt mạnh mẽ cho gia súc, dẫn tới những bất lợi về mặt sinh lý trong đời
Trang 12sống của vật nuôi Gà thịt cũng đòi hỏi nhu cầu về ánh sáng và độ chiếu sáng khá đặc biệt Đối với chuồng hở ban ngày sử dụng ánh sáng tự nhiên Mùa hè, ngày nóng gà ít ăn, vì vậy cần chiếu sáng ban đêm để cho gà ăn nhiều hơn 3-4 tuần đầu cường độ chiếu sáng là 3-4 W/m2 chuồng Sau đó giảm dần và duy trì ở mức 1-2 W/m2 Tuy nhiên cường độ ánh sáng mờ như vậy chỉ đủ cho gà hoạt động và
ăn uống ở mức không nhiều, vẫn cần duy trì chế độ bật sáng hơn vào một số thời điểm để kích thích cả đàn cùng ăn và ăn nhiều hơn Sau 20 - 30 phút khi gà đã ăn xong lại tắt đèn sáng duy trì chế độ đèn mờ Để cho gà đẻ thương phẩm: đối với
gà con trong hai tuần đầu cần duy trì thời gian chiếu sáng tối đa 24/24 giờ với cường độ 3-4 W/m2 ; từ cuối tuần thứ 2 cho đến gia đoạn gà giò (tuần 16-18 tùy giống) chỉ cần 8 giờ chiếu sáng, cường độ 1 W/m2 ; từ tuần 17 -19 cần tăng cường độ chiếu sáng lên 3-4 W/m2 với thời gian tăng dần đến lúc gà đẻ đạt 16 giờ/ngày và duy trì ở mức này trong suốt thời gian gà đẻ
Chính vì lí do đó việc tổ chức chăn nuôi ở nước ta cần phải được phân mùa
và chọn vùng cho thích hợp, bên cạnh đó cũng cần có những biện pháp bảo vệ, phòng tránh những bất lợi về điều kiện bức xạ, ánh sáng cho gia súc
Trong việc nhập nội, thuần hóa gia súc, gia cầm với điều kiện bức xạ vùng nhiệt đới cũng phải chú ý tới một số giống nhậy cảm với điều kiện chu kì ánh sáng Ví dụ, gà chỉ đẻ trứng trong những trường hợp có chu kì ánh sáng thích hợp Việc đưa các giống ngoại lai vào nước ta, hoặc việc xây dựng chuồng trại thiếu ánh sáng sẽ làm giảm sút khả năng đẻ trứng Ngoài điều kiện ánh sáng, những đặc điểm khí hậu khác như: nóng, lạnh, mưa, gió, sương muối, sương giá,
độ ẩm đất (nếu gia cầm, gia súc cần chăn thả), độ ẩm và chất lượng không khí cũng đều tham gia tích cực trong các quá trình sinh lí, sinh hóa diễn ra trong vật nuôi, góp phần hình thành nên năng suất, chất lượng của sản phẩm chăn nuôi
II.2 Nhu cầu về nhiệt độ và độ ẩm
Súc vật thường có độ nhảy cảm cao đối với nhiệt độ, lớp da và lông không
đủ bảo vệ gia súc, gia cầm chống lại những thay đổi, dao động quá lớn Khí hậu
Trang 13nóng có thể khiến cho cơ thể vật nuôi phải tự điều tiết, duy trì hoạt động bình thường của các cơ chế chuyển hóa
Vật nuôi đang ở trong trạng thái "thoải mái'' về nhiệt độ là khi nó không phải dùng đến các cơ chế điều hòa nhiệt, như co các mạch máu dưới da, dựng lông, run và các cách tăng sinh nhiệt khác nhằm chống đỡ môi trường , hoặc dãn
nở các mạch máu dưới da, thở gấp, tiết mồ hôi và có thể giảm sinh nhiệt để chống nóng Ở trong môi trường nhiệt độ thích hợp dễ chịu con vật tiêu hao năng lượng mưc thâp nhất, dành năng lượng đồng hóa được cho quá trình sinh trưởng và sinh sản
Lợi dung cơ chế khi nhiệt độ môi trường giản kích thích nhóm động vật nuôi
că phải được ăn nhiều hơn để lấy năng lương từ thức ăn bổ trợ vào, người ta coi nhiệt độ lạnh là tác nhân kích thích vật nuôi cần ăn và ăn nhiều Và trong điều kiện vừa đủ những "kích thích nhẹ " đó có thể vẫn cần thiết
Nhiệt độ môi trường ở mức thấp đến độ vật nuôi phải huy động nhiệt lượng sinh ra để chống lạnh gọi là nhiệt độ tới hạn dưới Khi nhiệt độ môi trường vượt quá giới hạn này cân bằng nhiệt của vật nuôi bị phá vỡ nó không còn khả năng để chống lạnh nếu không có sự can thiệp chủ động của chúng ta vật nuôi sẽ chết Hiện tượng trâu, bò ngã đổ trong mùa đông rá rét ở miền Bắc nước ta cũng do những đợt rét kéo dài quá giới hạn mà con vật nuôi có thể chịu được Ngược lại với quá trình trên, khi nhiệt độ môi trường cao vượt quá sức chịu đựng của vật nuôi được gọi là nhiệt độ tới hạn trên Khoảng cách giữa hai giới hạn nhiệt độ này được gọi là miền trung hòa nhiệt- miền nhiệt thích hợp cho vật nuôi sinh sống bình thường Sống trong điều kiện này con vật ở trạng thái thoải mái, vượt khỏi miền ttrung hòa nhiệt, dù ở nhiệt độ tới hạn dưới hay tới hạn trên vật nuôi phải có những phản ứng về sinh lí, hóa sinh để chống chịu, sức sinh trưởng, sinh sản và sức khỏe của chúng bị giảm sút, năng suất và hiệu quả kinh tế của chăn nuôi giảm đi rõ rệt
Trong kinh tế chăn nuôi điều kiện sinh khí hậu tất quan trong, ví dụ: chỉ riêng nhiệt độ để nuôi gà thịt trong từng giai đoạn cũng rất khác nhau (Bảng 1) và
Trang 14việc đảm bảo nhu cầu về nhiệt độ môi trường nghiêm ngặt như vậy sẽ tạo điều kiện tốt để gà hấp thu được thức ăn và phát triển tốt.
Bảng 1: Nhiệt độ cho gà nuôi thịt
Tuổi gà Nhiệt độ chuồng (0C) Nhiệt độ dưới chụp úm (0C)
- Giai đoạn gà con, yêu cầu tương tự như nuôi gà thịt
- Giai đoạn gà giò, nhiệt độ môi trường thích hợp 18-21 0C (hoặc 15-25 0C trong một số tài liệu công bố khác)
Trong chăn nuôi lợn, một số điều đáng lưu ý là chúng ta thường nhập những giống cao sản phần lớn ở vùng khí hậu lạnh và khô ráo hơn khí hậu nước ta, do
đó nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng nhiều đến hiệu suất chăn nuôi Lợn là loài vật nuôi có lớp da hầu như không có tuyến mồ hôi, dưới da lại có lớp mỡ dày, do đó lợn dễ bị "bấc nóng", độ ẩm cao ngăn cản sự thoát hơi qua hệ thống hô hấp của lợn làm thân nhiệt trung tâm tăng, thông thường ở nhiệt độ 30 0C chúng vấn sống bình thường dù thân nhiệt của nó có tăng thêm 1 0C nhưng nếu nhiệt độ bên ngoài tăng, con vật sẽ mệt lả, kém ăn, ăn không ngon, ảnh hưởng đến tăng trọng khi nhiệt độ tăng từ 23 lên 330C, tăng trọng của lợn sẽ giảm đi 1/3 trong khi hệ số tiêu tốn thức ăn vẫn không đổi, nhiệt độ tăng quá nhanh lợn có thể bị sốc mạnh hoặc chết; nếu nhiệt độ là 350C con vật có thể chết trong vòng 6 giờ, ở 40 0C chết trong 3 giờ
Một số loài vật nuôi như lợn, cừu và có thể cả bò có xu thế điều hòa thân nhiệt chung môi trường cộng đồng- cả đàn khi gặp lạnh chúng quây quần lại với nhau sống xen xít, lợn thường nằm sát bên nhau Biểu hiện phản ứng mang tính
Trang 15quần thể này có tác dụng làm giảm đáng kể diện tích tỏa nhiệt của cá thể, tiết kiệm lượng nhiệt thoát ra ngoài, giữ được ấm chung cho cả đàn.
Nhìn chung chăn nuôi trong điều kiện khí hậu nóng ở nước ta, các gia súc, vật nuôi ăn thịt thường có lớp da mỏng, lông thưa, ít mỡ, khả năng sinh dục của chúng cũng giảm đi Còn trong điều kiện nhiệt độ cao và khô (như ở những khu vực thường có gió khô nóng hoạt động mạnh), cơ thể gia súc, vật nuôi thường phải chịu đựng tác động điều tiết nhiệt độ quá lớn hao tổn năng lương, tốc độ tăng trưởng bị hạn chế Trâu, bò sữa chăn nuôi trong điều kiện như vậy thường nhanh bị cạn kiệt nguồn sữa Ngược lại trong điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm cao, hiệu quả chuyển hóa cũng bị giảm sút, thêm vào đo dịch bệnh càng có điều kiện phát triển ảnh hưởng đến hiệu suất chăn nuôi
Một số kết quả thực nghiệm cho thây, mốc chuẩn của nhiệt độ lạnh làm giảm năng suất và sản lượng sữa của các giống bò sữa khác nhau không giống nhau Khi nhiệt độ môi trường quá cao, vật nuôi thường chán ăn, không ăn, nhưng đối với lợn thì không hoàn toàn như vậy Khi nhiệt độ cơ thể lợn tăng, lợn thường đòi ăn nhiều, tuy vậy nhưng trong môi trường nóng trọng lượng lợn cũng giảm đi rõ rêt Tóm lại các gia súc khác nhau, cũng như cùng một loại gia súc nhưng giống khác nhau cũng phản ứng không giống nhau với điều kiện môi trường Chính vì lí do đó, vấn đề chọn giống gia cầm, gia súc, để nhập nội thuần hóa là vô cùng quan trọng
Những điều kiện ẩm của môi trường cũng ảnh hưởng nhiều đến năng suất chăn nuôi, ví dụ như gà, chúng rất nhạy cảm với độ ẩm của không khí, và của lớp độn chuồng Khi độ ẩm cao gà có biểu hiện khó thở dễ bị bệnh đường hô hấp, độ
ẩm cao làm môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loiaj nấm môc, kí sinh trùng, độ ẩm quá thấp cũng làm cho da gà bị khô, ngứa ngáy, chuồng bụi bặm gà hay mổ nhau, độ ẩm thích hợp của chuồng là 65-70%
Do tính chất khí hậu miền Bắc nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh trâu bò nuôi để tận dụng sức kéo cũng cần biện pháp chống nóng, lạnh thích hợp Vụ mùa thời tiết thường quá nóng bức, nên bố trí cho trâu bò làm việc vào thời điểm
Trang 16mát mẻ trong ngày, cho trâu đằm, tắm thường xuyên Trâu bò có tầm vóc nhỏ, màu da sáng có khả năng chống chịu nóng tốt hơn Trong vụ chiêm xuân, thời tiết lại quá lạnh cần chống rét bằng cách đảm bảo để chuồng ấm áp khô ráo, không bị gió lùa, những ngày đại hàn cần có áo chống rét cho trâu, bò, khi làm việc không
sử dụng trâu bò quá sức, không đi làm quá sớm, thêm khẩu phần và bổ sung thành phần dinh dưỡng cho chúng
Phân tích điều kiện sinh khí hậu vật nuôi ở Việt Nam chúng ta thấy: để cho chăn nuôi đại gia súc, các vùng cao nguyên và vùng núi thấp là có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cả Ở độ cao đó mùa hạ không quá nóng, độ ẩm thấp hơn ở vùng đồng bằng và tương đối điều hòa, ánh sáng vừa phải giúp cho đàn gia súc tăng trọng nhanh, sinh sản tốt
Với cùng một chế độ nuôi dưỡng và cùng loại giống, người ta nhận thấy nuôi trong điều kiện khí hậu cao nguyên (700-800m)gia súc có khả năng tăng trọng và sinh sản nhanh hơn ở đồng bằng từ 10 đến 25%
Tuy nhiên, một số tài liệu nghiên cứu nước ngoài lại cho thấy, ở các nơi quá cao, không khí loãng do nồng độ ôxi thấp , chức năng điều hòa hô hấp của vật nuôi có thể bị rối loạn, ví dụ bò có biểu hiện triệu chứng "say núi cao" chiếm tới 10% số đàn vật nuôi ở một vài vùng núi cao thuộc miền Tây Hoa Kì, vật nuôi vùng đồng bằng được đưa lên vùng núi cao có hiện tượng sản lượng sữa giảm đi
rõ rệt Chính vì thế việc khai thác tiềm năng của các cánh đồng cỏ vùng núi cao vào mục đích chăn nuôi đại gia súc ở nước ta còn là vấn đề cần phải được nghiên cứu kĩ lưỡng hơn
Các kết quả nghiên cứu chỉ tiêu sinh lí khí hậu trong chăn nuôi gia súc ở Việt Nam đã được một số tác giả tổng kết, và nêu lên trong bảng 2:
Bảng 2: Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá điều kiện thời tiết đối với sức khỏe, điều dưỡng
Các ngưỡng
đánh giá
Trang 17Bảng 3: Một số chỉ tiêu sinh khí hậu của gia súc
Gia súc Nhiệt độ tối
thích (oC)
Độ ẩm tối thích (oC)
Giới hạn cảm ứng lạnh (oC)
Giới hạn cảm ứng nóng (oC)
Giới hạn tác hại
đó đã làm giảm sức đề kháng bệnh tật của gia súc, gia cầm Riêng yếu tố nhiệt, gió có thể hạn chế được phần nào nếu chúng ta có những thiết kế chuồng trại hợp lý
Bên cạnh nhiệt và ẩm, gia súc, gia cầm còn phải chịu ảnh hưởng của trường điện từ, tia tử ngoại, hồng ngoại Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu về vấn đề này hiện chưa nhiều, tuy nhiên căn cứ vào tài liệu nghiên cứu của các nước có nền chăn nuôi công nghiệp tiên tiến có thể nhận xét xơ bộ như sau:
- Bức xạ, trường điện từ, sóng siêu âm có thể có tác động đến "tính bảo thủ"
di truyền của vật nuôi Các phân tử protit hấp thu sóng điện từ và thay đổi sự phân bố các proton trong phân tử Sóng siêu âm làm thay đổi hoạt tính sinh lí của
Trang 18tế bào, thay đổi điện sinh học và hàm lượng oxi trong tế bào Với liều lượng không lớn các tác nhân này có tác dụng kích thích, gây hưng phấn hệ thần kinh trung ương, còn với liều lượng lớn thì có tác dụng ức chế thần kinh của vật nuôi.
- Vai trò của tia tử ngoại đối với vật nuôi được nghiên cứu nhiều hơn, nó có tác động ảnh hưởng đến tốc độ quang hóa của axit nucleic, làm thay đổi hàm lượng các sản phẩm phong hóa Tia tử ngoại với các bước sóng khác nhau gây nhiều biến dị di truyền ở trong và ngoài nhân các tế bào nấm men, điều này đã gợi ý cho chúng ta gây những biến dị và đột biến có lợi cho kinh tế chăn nuôi Nhìn chung tia tử ngoại rất cầm thiết để tạo thành vitamin A và để cho vật nuôi phát triển bình thường
- Một đặc điểm khác biệt nữa, rất đáng quan tâm là súc vật thường cảm ứng rất mạnh mẽ với các điều kiện khí quyển và những thay đổi vi lượng trong không khí Những hoạt động khác thường của gia súc, gia cầm và côn trùng trước những khi dông bão, biến động thời tiết hẳn phải có liên quan đến những phản ứng này
Do đặc thù của khí hậu nhiệt đới gió mùa Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực miền Bắc, thời tiết khí hậu ở nước ta có tính biến động rất lớn, rất đột ngột và điều này đã ảnh hưởng không ít đến vật nuôi Cơ chế điều tiết của vật nuôi thường kém linh hoạt, cho nên những dao động quá lớn về nhiệt độ, độ ẩm, gió (ví dụ như biến động thời tiết do gió mùa đông bắc tràn về, thời tiết bão, áp thấp nhiệt đới, gió khô nóng, dông ) đều có thể gây nên những dối lạn sinh học có hại Chính trong bối cảnh đó chăn nuôi gia súc, gia cầm cần phải được nghiên cứu, tổ chức, nuôi thử nghiệm kĩ lưỡng trước khi đem ra áp dụng rộng rãi
CHƯƠNG II: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (BĐKH) VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH CHĂN NUÔI
I Khái quát chung về BĐKH
I.1 Khái niệm BĐKH
Trang 19Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo".
Môi trường trước đây Môi trường hiện tại
“Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái
tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.(Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí hậu).
I.2 Biểu hiện của BĐKH
Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu trái đất gồm:
- Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất
- Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các
hệ sinh thái và hoạt động của con người