1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình

69 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hành Nghiên Cứu Khoa Học
Trường học Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Giáo Trình
Thành phố Ninh Bình
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của giáo trình là giúp các bạn có thể trình bày được những kiến thức cơ bản về các khái niệm khoa học, nghiên cứu khoa học, phương pháp luận và cách tiến hành các nghiên cứu khoa học Điều dưỡng. Chọn được vấn đề nghiên cứu, thu thập thông tin, phân tích, xử lý và trình bày số liệu nghiên cứu khoa học điều dưỡng. Viết được đề cương nghiên cứu khoa học điều dưỡng.

Trang 1

GIỚI THIỆU HỌC PHẦN THỰC HÀNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Đối tượng: Cao đẳng Điều dưỡng

+ Lý thuyết: 15 tiết + Thực hành: 30 tiết

- Thời điểm thực hiện: Sinh viên năm thứ hai

MỤC TIÊU HỌC PHẦN:

1 Trình bày được những kiến thức cơ bản về các khái niệm khoa học, nghiên cứu

khoa học, phương pháp luận và cách tiến hành các nghiên cứu khoa học Điều dưỡng

2 Chọn được vấn đề nghiên cứu, thu thập thông tin, phân tích, xử lý và trình bày số

liệu nghiên cứu khoa học điều dưỡng

3 Viết được đề cương nghiên cứu khoa học điều dưỡng

4 Nhận thức được tầm quan trọng của công tác nghiên cứu điều dưỡng và ứng dụng những kết quả nghiên cứu điều dưỡng vào công tác chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao hiệu

quả chăm sóc sức khỏe người bệnh

NỘI DUNG HỌC PHẦN:

Chương 1: Đại cương nghiên cứu khoa học 3 0

Bài 1 Một số khái niệm về khoa học 1 0 3 Bài 2 Nghiên cứu khoa học 1 0 6 Bài 3 Quy trình nghiên cứu 1 0 11

Chương 2 Nghiên cứu khoa học trong điều dưỡng 3 6

Bài 4 Đại cương về nghiên cứu khoa học điều dưỡng 1 0 14 Bài 5 Chọn vấn đề, mục tiêu và biến số nghiên cứu 2 6 19

Chương 3 Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích

Trang 2

Bài 10 Các bước tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học TK 58 Bài 11 Phương pháp viết bài báo cáo nghiên cứu khoa học TK 65 Bài 12 Tham khảo tài liệu và trích dẫn tài liệu liên quan TK 70

ĐÁNH GIÁ:

- Điểm kiểm tra định kỳ: 1 điểm (lý thuyết)

- Thi hết học phần: Câu hỏi tự luận

- Phần đánh giá thực hành: Bài tập

Trang 3

1 Trình bày được khái niệm khoa học

2 Trình bày được các chức năng của khoa học, trường phái khoa học, quy luật hình thành và phát triển của khoa học

3 Phân biệt được khoa học, công nghệ kỹ thuật

NỘI DUNG

1 Khái niệm khoa học:

- Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật tự nhiên, xã hội,

tư duy

- Khoa học còn được hiểu là một hoạt động xã hội nhằm phát hiện các quy luật của

sự vật hiện tượng, vận dụng các quy luật đó để sử dụng sáng tạo ra các nguyên lý, giải pháp tác động vào sự vật hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng

2 Chức năng của khoa học:

Khoa học có 3 chức năng cơ bản

- Chức năng khám phá:

Khoa học khám phá những thuộc tính của vật chất, tự nhiên, xã hội, sự vật, hiện tượng

+ Khoa học khám phá những vật thể tự nhiên vốn tồn tại: Ví dụ khoa học phát hiện

ra châu Mỹ, phát hiện Virut HIV là nguyên nhân gây nên hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (Accquired Immuno Deficiency Syndrom - AIDS)

+ Khoa học khám phá những quy luật vận động của vật chất, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, nhờ đó làm thay đổi

cơ bản nhận thức của loài người

- Chức năng dự báo:

Dựa vào kho tàng kiến thức của các Bộ môn khoa học, hiểu biết về thế giới vật chất, quy luật vận động của vật chất với những công cụ, thiết bị, phương tiện và phương pháp khoa học Khoa học có thể dự báo về các hiện tượng tự nhiên, xã hội ví dụ: dự báo thời tiết, khí hậu, hiện tượng thiên văn, dự báo các biến cố chính trị, kinh tế, xã hội

- Chức năng sáng tạo:

Khoa học vận dụng quy luật vận động của vật chất, tự nhiên, xã hội để sáng tạo các giải pháp tác động vào các vật chất, tự nhiên, xã hội nhằm cải tạo chúng

3 Trường phái khoa học:

Trên thực tế, cùng một lĩnh vực khoa học, xuất hiện các trường phái khoa học khác nhau Trường phái khoa học biểu hiện một hướng đi, hướng nghiên cứu mang các đặc trưng

Trang 4

khoa học là tất yếu khách quan, nhưng đôi khi sự tranh luận về học thuật, về phương pháp giữa các trường phái có thể rất gay gắt, xuất hiện mâu thuẫn, dẫn đến sự bài xích, phản bác giữa các nhà khoa học kìm hãm sự phát triển khoa học

Thái độ duy nhất đúng của các nhà khoa học là thừa nhận tôn trọng trường phái khoa học, nhận dạng mối quan hệ của trường phái, có những kết luận đúng đắn về trường phái, chấp nhận xu hướng phát triển của trường phái khoa học như bổ sung, bao hàm, hoà nhập hoặc thay thế Đó là những vấn đề xã hội học của khoa học Sự tồn tại trường phái khoa học tạo đà cho sự phát triển khoa học

4 Quy luật hình thành và phát triển khoa học:

Một bộ môn khoa học có thể được hình thành nhờ sự phát triển của hai xu thế ngược chiều nhau đó là sự phân lập các khoa học hoặc sự tích hợp các khoa học Có thể khái quát quy luật hình thành và phát triển khoa học như:

- Sự phát triển các tiên đề:

Tiên đề là một tri thức khoa học mặc nhiên được thừa nhận, không cần phải chứng minh bởi những tiên đề khác Sự phát hiện các tiên đề dẫn tới sự hình thành các bộ môn khoa học mới

5 Phân biệt khoa học, công nghệ, kỹ thuật:

- Khoa học: là hệ thống tri thức về vật chất, tự nhiên, xã hội, tư duy, về quy luật phát

triển khách quan của chúng Khoa học đề cập khái niệm: Tại sao?

- Công nghệ: là hệ thống các công cụ, phương tiện, phương pháp, quy trình, kỹ năng,

bí quyết công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Công nghệ

đề cấp khái niệm: "Làm như thế nào?"

- Kỹ thuật: là hệ thống kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, máy móc, thiết bị, phương

tiện được tạo nên nhằm mục đích sản xuất hoặc phục vụ các nhu cầu khác của xác hội như: quản lý, thương mại

Trong nhiều văn bản và trong đời sống đôi khi những khái niệm, thuật ngữ khoa học, công nghệ, kỹ thuật được sử dụng chưa đúng

- So sánh khái niệm khoa học và công nghệ

+ Khoa học: sự nghiên cứu khoa học mang tính xác suất Hoạt động khoa học làm đổi mới không lặp lại Sản phẩm khoa học khó định hình trước Sản phẩm khoa học mang đặc trưng thông tin Lao động khoa học linh hoạt, có tính sáng tạo cao Khoa học có thể mang mục đích tự thân Phát minh khoa học tồn tại mãi mãi với thời gian

Trang 5

+ Công nghệ: Điều hành mang tính xác định Hoạt động công nghệ được định hình theo thiết kế Sản phẩm công nghệ tuỳ thuộc ở đầu vào Lao động công nghệ định hình theo quy định Công nghệ không mang mục đích tự thân Sáng chế công nghệ tồn tại nhất thời và bị tiêu vong theo lịch sử tiến độ kỹ thuật

- So sánh khái niệm công nghệ và kỹ thuật

Trước đây: khái niệm kỹ thuật mang ý nghĩa bao quát, bao gồm phương pháp, trình

tự tác nghiệp, phương tiện Khái niệm công nghệ chỉ mang ý nghĩa hẹp là trình tự tác nghiệp

mà thôi Hiện nay khái niệm về kỹ thuật và công nghệ đã biến đổi

+ Công nghệ: Mang ý nghĩa tổng hợp, thường bao hàm những vấn đề đặc trưng xã hội như: trí thức, tổ chức, quản lí, phân công lao động Vì vậy khái niệm công nghệ thuộc phạm trù xã hội, phạm trù phi vật chất

+ Kỹ thuật: Mang ý nghĩa hẹp hơn, thường bao hàm những yếu tố vật chất, vật thể như: máy móc, thiết bị, sự tác nghiệp, vận hành của con người

+ Hiện nay khái niệm công nghệ đang có xu hướng mở rộng ra ngoài ngành công nghiệp thâm nhập vào các bộ môn khoa học và các lĩnh vực hoạt động xã hội Xuất hiện những thuật ngữ: công nghệ sinh học, công nghệ ngân hàng, công nghệ dạy học, công nghệ kiểm tra, công nghệ quản lý, công nghệ thông tin

Hiện có nhiều ý kiến bàn cãi về sự mở rộng khái niệm công nghệ

- Hoạt động khoa học công nghệ:

Hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm Nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ

- Phát triển công nghệ:

Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thực nghiệm

- Triển khai thực nghiệm:

Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống

Câu 1: Trình bày khái niệm khoa học ?

Câu 2: Trình bày các chức năng của khoa học, trường phái khoa học, quy luật hình thành

và phát triển của khoa học ?

Câu 3: Phân biệt giữa khoa học, công nghệ và kỹ thuật ?

Trang 6

Bài 2

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

MỤC TIÊU:

1 Trình bày được khái niệm nghiên cứu khoa học

2 Trình bày được các chức năng của nghiên cứu khoa học và đặc điểm của nghiên cứu khoa học

3 Trình bày được các loại hình nghiên cứu khoa học

NỘI DUNG:

1 Khái niệm nghiên cứu khoa học là gì?

Nghiên cứu khoa học (NCKH) là các hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng,

sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; Sáng tạo ra các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn

Mục đích của NCKH là nhận thức thế giới và cải tạo thế giới

Nghiên cứu khoa học bao gồm: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng

2 Chức năng của nghiên cứu khoa học:

- Mô tả:

Nghiên cứu khoa học giúp con người mô tả sự vật một cách chuẩn xác bằng ngôn ngữ, hình ảnh, cấu trúc, trạng thái, sự vận động của sự vật Chức năng mô tả của NCKH là công cụ để nhận dạng thế giới, phân biệt được sự khác nhau về bản chất giữa sự vật này với sự vật khác

Chức năng mô tả bao gồm:

+ Mô tả định tính: nhằm mô tả các đặc trưng về chất của sự vật

+ Mô tả định hướng: nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của sự vật

- Giải thích:

Giải thích một sự vật, hiện tượng là làm rõ nguyên nhân sự hình thành, quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật hiện tượng nhằm đưa ra những thông tin về thuộc tính bản chất của sự vật để có thể nhận dạng cả những thuộc tính bên ngoài và cả những thuộc tính bên trong của sự vật, hiện tượng

- Tiên đoán:

Tiên đoán là dựa vào nhận thức về sự vật, hiện tượng và quy luật vận động của chúng

để thực hiện các phép ngoại suy đưa ra những dự báo về quá trình hình thành, tiêu vong, sự vận động của sự vật, hiện tượng trong tương lai Mặc dù mọi phép ngoại suy đều có độ sai lệch nhất định, nhưng những dự báo về các hiện tượng khí hậu, thời tiết, thiên văn, hiện tượng kinh tế, biến cố chính trị, xã hội vẫn rất cần thiết cho đời sống

- Sáng tạo:

Nghiên cứu khoa học không dừng lại ở chức năng mô tả, giải thích, tiên đoán NCKH

có chức năng cao cả là sáng tạo ra các giải pháp khoa học để cấu tạo thế giới khách quan Các giải pháp khoa học bao gồm: các phương pháp, phương tiện, các giải pháp kỹ thuật

Trang 7

trong sản xuất, nguyên lý công nghệ mới, vật liệu mới, sản phẩm mới, hoặc các giải pháp tác nghiệp trong các hoạt động xã hội: như quản lý, dạy học, kinh doanh, tiếp thị

3 Tính chất của nghiên cứu khoa học:

- Tính mới:

Nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá hướng tới phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Tính mới là thuộc tính quan trọng nhất của NCKH Khi NCKH đã có kết quả tức là

đã đạt được một phát hiện mới, nhưng hoạt động NCKH không dừng lại mà vẫn phát triển

để tìm kiếm những phát hiện mới hơn

- Tính tin cậy:

Kết quả của NCKH được xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng nếu nó được kiểm chứng, lặp lại nhiều lần đúng như kết quả đưa ra do nhiều người khác nhau thực hiện, trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau Ví dụ kết quả của NCKH về nhiệt độ sôi của nước nguyên chất (ở điều kiện áp suất khí quyển đạt 1 atm) là 1000C Kết quả được nhiều người kiểm chứng lại, lặp lại vẫn đúng như kết quả đưa ra

- Tính thông tin:

Trong mọi trường hợp, sản phẩm NCKH luôn mang đặc tính thông tin, mặc dù kết quả NCKH được thể hiện đa dạng: báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về phương thức tổ chức sản xuất mới, phương thức quản lý mới NCKH luôn cung cấp thông tin về quy luật vận động của sự vật, hiện tượng,

về quy trình công nghệ

- Tính khách quan:

Nghiên cứu khoa học phải mang tính khách quan, người làm NCKH không được phép nhận định vội vàng theo cảm tính cá nhân của người nghiên cứu, phải luôn kiểm chứng lại những kết luận, kết quả NCKH phải phản ánh một cách khách quan bản chất của sự vật, hiện tượng

- Tính rủi ro:

Nghiên cứu khoa học có thể thành công, có thể thất bại, đó là tất yếu khách quan

Sự thất bại trong NCKH có thể do những nguyên nhân: thiếu thông tin, trình độ khoa học, khả năng của người nghiên cứu chưa đủ tầm, thiết bị, phương tiện nghiên cứu chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm chứng giả thuyết, do giả thuyết nghiên cứu sai, do những lý do bất khả kháng

Tuy nhiên trong NCKH, thất bại cũng được xem là một kết quả, kết quả thất bại vẫn mang ý nghĩa về một kết luận của NCKH mà nội dung các giả thuyết khoa học đặt ra không được xác nhận như đã dự kiến Thất bại của công trình NCKH này có thể là bài học quý giá cho những công trình NCKH khác

Ngay cả những NCKH đã thử nghiệm thành công cũng vẫn chịu những rủi ro trong

áp dụng mặc dù sản phẩm cuối cùng của NCKH đã có thể đạt trình độ "sáng chế" Rủi ro trong trường hợp này có thể do chưa làm chủ được kỹ thuật, hoặc không thành công khi áp dụng trong phạm vi mở rộng, không thành công trong yếu tố xã hội nào đó

Trang 8

- Tính thừa kế:

Ngày nay khoa học, công nghệ phát triển như vũ bão Mọi NCKH đều phải thừa kế các kết quả NCKH của trong hoặc ngoài lĩnh vực nghiên cứu Nắm vững đặc điểm kế thừa của NCKH, các nhà khoa học sẽ không bảo thủ với những lý luận, phương pháp luận chủ quan của mình, mà chấp nhận sự thâm nhập lý luận, phương pháp luận của các bộ môn khoa học khác

- Tính cá nhân:

Vai trò cá nhân trong NCKH mang tính quyết định, ngay cả khi công trình NCKH

do một tập thể thực hiện Vai trò cá nhân phụ thuộc vào tư duy cá nhân, chủ kiến cá nhân

Hậu quả kinh tế của NCKH hầu như không thể xác định, mặc dù có những kết quả nghiên cứu khoa học rất có giá trị, có thể mua bán trên thị trường song vẫn có thể không được áp dụng vì những lý do xã hội

4 Các loại hình NCKH:

Trong mọi lĩnh vực khoa học: khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật-công nghệ, khoa học xã hội-nhân văn luôn tồn tại 3 loại hình NCKH: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai Mỗi loại hình nghiên cứu đều có sản phẩm nghiên cứu đặc trưng Có thể khái quát các loại hình nghiên cứu khoa học và sản phẩm nghiên cứu khoa học đặc trưng theo mô hình sau:

Nghiên cứu và triển khai ( NC&TK )

NCCB thuần tuý NCCB định hướng NC chuyên đề

NC&TK trong phòng thí nghiệm NC&TK bán đại trà ( Pilot ) NC&TK đại trà

Trang 9

Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu thực nghiệm hoặc lý thuyết nhằm phát hiện

về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, con người, chưa có

ý định đặc biệt gì về ứng dụng

Nghiên cứu cơ bản bao gồm:

+ Nghiên cứu cơ bản thuần tuý là nghiên cứu chỉ nhằm mục đích tìm ra bản chất và quy luật của các hiện tượng tự nhiên, xã hội để nâng cao nhận thức chưa có sự vận dụng vào hoạt động của con người

+ Nghiên cứu cơ bản định hướng (NC thăm dò) là những nghiên cứu cơ bản đã dự kiến trước mục đích ứng dụng

+ Nghiên cứu nền tảng là nghiên cứu dựa trên các quan sát để thu thập số liệu, dữ kiện nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá quy luật tự nhiên Ví dụ: nghiên cứu dịch tễ học trong y học, điều tra cơ bản tài nguyên, nghiên cứu đại dương, khí quyển, khí tượng, nghiên cứu tổng hợp các chất, nghiên cứu bản chất vật lý, hóa học, sinh vật của vật chất

+ Nghiên cứu chuyên đề là nghiên cứu có hệ thống một hiện tượng đặc biệt của tự nhiên

- Nghiên cứu ứng dụng (Applied research)

Nghiên cứu ứng dụng là những nghiên cứu thực nghiệm hoặc lý thuyết vận dụng các quy luật của nghiên cứu cơ bản, đưa ra các kiến thức để xác định cách thức, biện pháp ( giải pháp ) đáp ứng một nhu cầu đã được đặt ra về công nghệ, sản phẩm, vật liệu, thiết bị,

tổ chức, quản lý, xã hội

- Nghiên cứu và triển khai (Research & development)

Nghiên cứu triển khai là những nghiên cứu sử dụng một cách có hệ thống những kiến thức thu được từ việc nghiên cứu, nhằm tạo ra các hình mẫu, các vật liệu, bản thiết kế, hệ thống, phương pháp hữu ích bao gồm cả việc thiết kế và tạo lập các sản phẩm đơn chiếc

Triển khai cũng được gọi là nghiên cứu phát triển, nhưng kết quả triển khai thì chưa triển khai được Sản phẩm của nghiên cứu triển khai mới chỉ là những vật mẫu, hình mẫu

có tính khả thi về kỹ thuật, nghĩa là chỉ mới được khẳng định không còn xác suất rủi ro về mặt kỹ thuật trong áp dụng Điều đó chưa hoàn toàn có nghĩa là đã có thể áp dụng vào một địa chỉ cụ thể nào đó, vì để áp dụng, người áp dụng còn phải tiến hành nghiên cứu tính khả thi về chính trị, kinh tế, xã hội, tài chính

Một số loại hình nghiên cứu phát triển thường được áp dụng là:

+ Nghiên cứu triển khai quy mô phòng thí nghiệm(Labo): loại hình này chỉ nhằm khẳng định kết quả sao cho ra được sản phẩm, hình mẫu Chưa quan tâm đến quy mô áp dụng + Nghiên cứu triển khai quy mô bán đại trà hoặc quy mô bán công nghiệp (Pilot) Loại hình này nhằm kiểm chứng giả thuyết về hình mẫu trên một quy mô nhất định, thường là quy mô bán đại trà

Khái niệm triển khai được áp dụng trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kỹ thuật

LƯỢNG GIÁ

Câu 1: Trình bày khái niệm nghiên cứu khoa học?

Câu 2: Trình bày các chức năng của nghiên cứu khoa học và đặc điểm của NCKH?

Câu 3: Nêu các loại hình nghiên cứu khoa học?

Trang 10

QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

MỤC TIÊU

1 Mô tả được trình tự các bước của quy trình nghiên cứu

2 So sánh được các bước phát triển một đề cương nghiên cứu

3 So sánh các bước của quy trình giải quyết vấn đề, quy trình điều dưỡng và quy trình nghiên cứu

NỘI DUNG

1 Các giai đoạn của quy trình nghiên cứu:

Tác giả Catherine H.C Seaman chia quá trình nghiên cứu thành 4 giai đoạn như sơ đồ sau:

Sơ đồ 3.1: Các giai đoạn của Quy trình nghiên cứu

Giai đoạn 1: Lập kế hoạch nghiên cứu

- Xác định vấn đề nghiên cứu

- Trình bày mục tiêu nghiên cứu

- Định nghĩa các khái niệm và biến số

- Đọc và trích dẫn tài liệu tham khảo

- Mô tả thiết kế nghiên cứu

- Mô tả cách thức thu thập số liệu

- Nghiên cứu thí điểm

- Xem xét các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Giai đoạn 2: Thu thập số liệu

- Tiếp xúc với cơ quan và đối tượng nghiên cứu để được sự đồng ý

- Tập huấn cho người thu thập số liệu

- Tiến hành thu thập số liệu

- Kiểm tra giám sát quá trình thu thập số liệu

Giai đoạn 3: Phân tích làm sáng tỏ số liệu

- Tổng hợp các số liệu thô vào các phiếu hoặc nhập số liệu trên máy tính

- Phân tích làm sáng tỏ số liệu: Mô tả số lượng và tỷ lệ

- Trình bày số liệu: dùng bảng, biểu đồ

Giai đoạn 4: Viết báo cáo và trình bày kết quả nghiên cứu

2 Các bước tiến hành xây dựng một đề cương nghiên cứu

Giai đoạn 4: Giai đoạn

Báo cáo kết quả Lập kế hoạch

(Viết đề cương)

Giai đoạn 3: Giai đoạn 2:

Phân tích số liệu Thu thập số liệu

Trang 11

(Lập kế hoạch nghiên cứu)

Các câu hỏi đặt ra Các bước

- Xác định vấn đề

- Xếp ưu tiên vấn đề

- Phân tích

- Cân nhắc và đưa ra lý lẽ Hiện đã có sẵn những thông tin

- Những thông tin rút ra từ các nghiên cứu trước và các nguồn tư liệu khác

- Tại sao chúng ta muốn tiến

hành nghiên cứu?

- Khi nghiên cứu chúng ta

mong muốn đạt được gì?

Hình thành mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể

- Các biến số, loại nghiên cứu

- Các kỹ thuật thu thập số liệu, chọn mẫu

- Kế hoạch thu thập số liệu

- Kế hoạch xử lý và phân tích số liệu

thiệu bản đề cương nghiên cứu

tới các cơ quan có thẩm quyền

cũng như những nhà tài trợ?

Tóm tắt đề cương

Bản đề cương nghiên cứu

Chú ý: Phát triển đề cương nghiên cứu thông thường là cả một quá trình lặp đi lặp

lại Các mũi tên cho thấy mối quan hệ giữa các bước không chỉ phải là một chiều mà chúng tác động qua lại lẫn nhau

3 So sánh các quy trình đang được áp dụng trong điều dưỡng:

Trong thực hành điều dưỡng, người điều dưỡng đã được làm quen với hai quy trình

cơ bản là quy trình giải quyết vấn đề và quy trình điều dưỡng Quy trình giải quyết vấn đề thường được áp dụng trong quản lý và quy trình điều dưỡng được áp dụng trong lĩnh vực thực hành chăm sóc người bệnh

Quy trình giải quyết vấn đề là công cụ hữu ích nhằm đưa ra được các quyết định giải quyết vấn đề Quy trình giải quyết vấn đề bao hàm các bước chính: Phân định giải quyết vấn đề, thực hiện giải pháp và đánh giá kết quả thực hiện

Trang 12

Quy trình điều dưỡng là công cụ để lập và thực hiện kế hoạch chăm sóc người bệnh Quy trình điều dưỡng được áp dụng trong lĩnh vực đào tạo và thực hành điều dưỡng Quy trình gồm các bước: Nhận định người bệnh, chuẩn đoán điều dưỡng, lập kế hoạch chăm sóc, thực hiện kế hoạch chăm sóc và đánh giá kết quả chăm sóc

Các quy trình trên cơ bản có nhiều điểm giống nhau tuy nhiên cũng có một số điểm khác nhau do đối tượng, yêu cầu kiểm soát và phạm vi khác nhau Dưới đây là bảng so sánh tương quan giữa ba quy trình đang được áp dụng trong quản lý và thực hành điều dưỡng

Quy trình giải

quyết vấn đề Quy trình điều dưỡng Quy trình nghiên cứu

- Xác định vấn đề - Nhận định:

+ Thu thập dữ liệu + Phân tích dữ liệu + Chuẩn đoán điều dưỡng

- Xác định chủ đề và lĩnh vực quan tâm nghiên cứu

- Thực hiện:

+ Thu thập dữ liệu + Phân tích dữ liệu + Viết báo cáo

- Đánh giá và

điều chỉnh

- Đánh giá và điều chỉnh - Phổ biến kết quả nghiên cứu

LƯỢNG GIÁ

Câu 1: Mô tả trình tự các bước của quy trình nghiên cứu ?

Câu 2: So sánh các bước phát triển một đề cương nghiên cứu ?

Câu 3: So sánh các bước của quy trình giải quyết vấn đề, quy trình điều dưỡng và quy trình nghiên cứu ?

Trang 13

1 Trình bày được định nghĩa về nghiên cứu

2 Trình bày được vai trò của nghiên cứu điều dưỡng

3 Trình bày được lịch sử và quá trình phát triển nghiên cứu điều dưỡng

4 Trình bày được các giải pháp tăng cường nghiên cứu điều dưỡng

NỘI DUNG

1 Khái niệm về nghiên cứu khoa học Điều dưỡng:

Những câu hỏi đặt ra cho những người nghiên cứu điều dưỡng là : Kiến thức là gì? Những kiến thức và thực hành điều dưỡng hiện nay dựa vào cơ sở nào? Bao nhiêu kiến thức và thực hành điều dưỡng dựa vào nghiên cứu? Những kiến thức và thực hành nào hiện nay không còn phù hợp? Những thực hành nào hay sự quan tâm của bạn về độ tin cậy cần phải nghiên cứu thêm Chắc chắn chúng ta chưa có câu trả lời đầy đủ để mô tả bức tranh hiện thực về kiến thức và về thực hành điều dưỡng hiện nay Để có câu trả lời chính xác, chúng ta phải tiến hành những nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu hay nghiên cứu khoa học là quá trình thu thập (chọn lọc), phân tích, diễn giải số liệu một cách chính xác và có hệ thống nhằm trả lời một câu hỏi hoặc giải quyết một vấn đề nhất định

Đặc điểm của nghiên cứu khoa học :

- Nghiên cứu đòi hỏi phải nêu được vấn đề một cách rõ ràng

- Nghiên cứu cần phải có kế hoạch

- Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở những dữ kiện (số liệu) đã có (đang tồn tại),

sử dụng cả các kết quả tốt (tích cực) và xấu (tiêu cực) Nếu là số liệu mới thì nó cần phải được thu thập theo đúng yêu cầu và được sắp xếp sao cho chúng có thể trả lời được các câu hỏi nghiên cứu đặt ra ban đầu

Mục đích của nghiên cứu :

- Nhằm tạo ra các kiến thức mới và công nghệ mới nhằm giải quyết các vấn đề khó (nghiên cứu cơ bản) để cải tiến thực hành chăm sóc sức khỏe

- Nhằm xác đinh các vấn đề cần ưu tiên, thiết kế và đánh giá các chính sách, chương trình, bằng chứng khoa học có độ tin cậy cao nhằm mang lại lợi ích cho y tế nhiều nhất, giúp sử dụng tối ưu các nguồn lực sẵn có (nghiên cứu trên mạng)

Vì vậy, trong y học và điều dưỡng người ta thường tiến hành các đề tài nghiên cứu

để tạo ra các kiến thức mới, để cung cấp các số liệu, các bằng chứng làm cơ sở cho việc

Trang 14

dự nhiều vào các họat động nghiên cứu qua đó mang lại lợi ích cho cả nghề nghiệp và cho người bệnh

Nghiên cứu điều dưỡng là một sự điều tra có hệ thống nhằm phát triển các lĩnh vực liên quan đến người điều dưỡng và người bệnh như: thực hành điều dưỡng, giáo dục điều dưỡng, quản lý điều dưỡng

2 Vai trò của nghiên cứu điều dưỡng:

Nghiên cứu điều dưỡng có tầm quan trọng rất lớn trong việc phát triển nghề nghiệp

và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc Nghiên cứu điều dưỡng sẽ đóng góp vào việc :

2.1 Thực hành dựa vào bằng chứng ( Evidence Based Practice)

Thực hành dựa vào bằng chứng là một nguyên tắc tiếp cận mới đang được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực y học Những dịch vụ chăm sóc và kỹ thuật do người điều dưỡng cung cấp liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người vì thế thực hành điều dưỡng phải dựa trên cơ sở kiến thức vững chắc và chính xác Thực hành dựa vào bằng chứng thể hiện trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức của người điều dưỡng nhằm đảm bảo an toàn cho người nhận nhiệm vụ chăm sóc Nghiên cứu được khẳng định

là phương tiện khách quan, hệ thống và đáng tin cậy nhất để tạo ra các kiến thức và bằng chứng để hướng dẫn thực hành chăm sóc lâm sàng

- Nghiên cứu về mối liên quan giữa bàn tay của cán bộ y tế và nhiễm khuẩn bệnh viện : Bác sỹ Ignaz Semmelweis (1861) là người đầu tiên nhận dạng được mối liên quan giữa

các bàn tay bẩn “Dirty Hands” với các trường hợp sản phụ sốt hậu sản sau khi sinh tại bệnh

viện của nước Áo Sau đó Tổ chức Y tế Thế giới khẳng định “Rửa tay là biện pháp đơn giản

và hiệu quả nhất trong phòng nhiễm khuẩn bệnh viện” và rửa tay hiện nay được coi là

một chiến lược quan trọng để làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện Một quan sát nhanh của Phạm Đức Mục (2002) về thói quen rửa tay của nhân viên bệnh viện đã nhận định rằng : nhân viên y tế rửa tay sau khi ăn nhiều hơn trước khi ăn và thói quen này đã tác động vào thực hành bệnh viện là nhân viên y tế thường rửa tay sau khi thăm khám, chăm sóc người bệnh hơn là trước khi tiếp xúc người bệnh Nghiên cứu về hiện trạng tiêm an toàn của Hội điều dưỡng Hà Nội, Nguyễn Minh Tâm và cộng sự (2001) đã khẳng định không rửa tay trước

và sau khi tiêm là sai sót hay gặp nhất đối với điều dưỡng viên Nguyễn Phúc Tiến (Chợ Rẫy) và cộng sự nghiên cứu về số lượng vi khuẩn trên tay 77 cán bộ y tế chưa rửa tay trong vòng 2 giờ đã thông báo 96% bàn tay có vi khuẩn, bình quân mỗi bàn tay có 267.378 khúm

vi khuẩn, số lượng vi khuẩn trên tay của hộ lý và bác sỹ cao hơn điều dưỡng Những kết quả nghiên cứu này đã có tác động rất lớn đến việc đưa ra các quy định, quy trình rửa tay và các biện pháp nhằm tăng cường sự tuân thủ rửa tay trong các cơ sở y tế

- Nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến nhiễm trùng bệnh viện

Tô Thị Điền (Việt Đức) và cộng sự đã kết luận rằng: “Nhiễm khuẩn bệnh viện

đường tiết niệu tỷ lệ thuận với thời gian đặt thông tiểu” Đặng Kim Lan (Bình Dương)

nghiên cứu NTBV đường tiết niệu do lưu thông trong bàng quang trên 90 người bệnh cho biết 33% người bệnh NKBV đường tiết niệu sau 4 ngày kể từ khi đặt thông và 100% người bệnh NTBV đường niệu sau 7 ngày lưu thông Kết quả nghiên cứu này gợi ý chỉ nên chỉ định đặt thông tiểu khi thật cần thiết, phải rút thông sớm khi tình trạng người bệnh cho phép

Trang 15

và phải thưc hiện nghiêm ngặt quy định vô khuẩn và chăm sóc cho ngừơi bệnh có thông tiểu

Trong một điều tra cắt ngang về tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện Phạm Đức Mục và cộng sự (2001) đã đưa ra các yếu tố liên quan làm tăng tần suất xuất hiện nhiễm trùng bệnh viện vết mổ là: thời gian phẫu thuật kéo dài >180phút, bệnh nhân phẫu thuật cấp cứu, bệnh nhân có thông khí hỗ trợ và thông tiểu Cao Thị Hạnh (Đồng Tháp) và cộng sự nghiên cứu nhiễm khuẩn vết mổ trên hai nhóm người bệnh mổ sạch bằng cách so sánh có thay băng thường quy sau 48 giờ và không thay băng sau 48 giờ cho biết nhiễm khuẩn vết mổ trên những người bệnh có thay băng thường quy sau 48 giờ cao hơn trên những người bệnh chỉ thay băng khi băng bẩn Nguyễn Thị Niên (Uông Bí) và cộng sự so sánh thay băng thường quy và khi thay băng cần trên 200 người bệnh có phẫu thuật sạch đã kết luận không có sự khác biệt về nhiễm khuẩn vết mổ trên những người bệnh thay băng thường quy và thay băng khi cần, trong khi đó số băng gạc dùng cho thay băng thường quy lớn gấp 7 lần so với thay băng khi cần

- Nghiên cứu về sự hài lòng của người bệnh:

Ngô Thị Ngoãn (Bạch Mai) và cộng sự đã kết luận sự hài lòng của người bệnh liên quan rất nhiều tới yếu tố bên ngoài như : Thời gian chờ đợi, được khám theo thứ tự, sự nhiệt tình, thời gian khám, sự tôn trọng của bác sỹ và điều dưỡng đối với người bệnh; người bệnh có bảo hiểm y tế kém hài lòng hơn người bệnh không có bảo hiểm y tế, giá viện phí không có liên quan thống kê tới sự hài lòng của người bệnh Mitchell đã khuyến cáo rằng

sự hài lòng của người bệnh tăng lên ở những khoa hồi sức cấp cứu khi tăng tỷ lệ điều dưỡng phục vụ, những người bệnh hài lòng với bác sỹ có xu hướng đánh giá cao trình độ kỹ thuật của bệnh viện Weisman cũng kết luận rằng sự hài lòng của điều dưỡng viên liên quan với

sự hài lòng của người bệnh…

- Nghiên cứu về các yếu tố liên quan tới tỷ lệ tử vong của người bệnh:

Trong một nghiên cứu ở 3.100 bệnh viện, Hart Etal đã chứng minh rằng ở các bệnh viện có nhiều điều dưỡng chuyên nghiệp thì tỷ lệ tử vong của người bệnh thấp hơn Tỷ lệ điều dưỡng / người bệnh có quan hệ với tỷ lệ tử vong Baggs Etal cũng cho rằng sự hợp tác kém giữa các cán bộ y tế liên quan tới nguy cơ tăng tử vong cho bệnh nhân

2.2 Đánh giá hiệu quả chi phí trong lĩnh vực chăm sóc:

Một chương trình y tế hay dịch vụ điều dưỡng sẽ đạt được hiệu quả khi nó mang lại nhiều lợi ích hơn mà chỉ sử dụng một lượng kinh phí nào đó Việc phân tích chi tiết sẽ giúp chúng ta đánh giá được hiệu quả của một dịch vụ chăm sóc hoặc một chương trình y tế Dưới thời bao cấp mục tiêu đối với những người làm lâm sàng là chăm sóc và phục vụ người bệnh vô điều kiện và ít quan tâm tới yếu tố kinh tế trong y tế Ngày nay, do chi phí trả cho dịch vụ y tế ngày càng cao làm cho người bệnh quan tâm ngày càng tăng tới chi phí cho các loại dịch vụ y tế mà họ nhận được Hơn nữa, hệ thống bệnh viện đang từng bước chuyển dịch tiến tới tự chủ về tài chính theo chủ trương của Nhà nước, đặt ra yêu cầu không chỉ với người quản lý bệnh viện mà cả thầy thuốc và điều dưỡng lâm sàng cũng phải quan tâm tới vấn đề chi phí Giảm một đồng chi phí tức là tăng thêm một đồng lợi nhuận đóng góp vào công quỹ của bệnh viện Chính vì vậy mà điều dưỡng cũng như các nghề khác cần

Trang 16

2.3 Tăng cường giá trị nghề nghiệp:

Theo quan niệm cũ điều dưỡng là một nghề phụ thuộc, người điều dưỡng thực hành chăm sóc theo lệnh của bác sỹ Ngày nay trước nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng

và áp dụng mới các thành tựu khoa học công nghệ vào y học ngày càng nhiều đòi hỏi những người điều dưỡng phải nâng cao tính chuyên nghiệp Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo dịch vụ chăm sóc do điều dưỡng và hộ sinh cung cấp là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế Người điều dưỡng cần được khuyến khích làm nghiên cứu để phát triển kiến thức nghề nghiệp đồng thời chứng tỏ với xã hội rằng sự đóng góp của họ sẽ tạo ra sự khác biệt về sức khỏe của nhân dân Như vậy, nghiên cứu chẳng những góp phần tăng cường uy tín nghề nghiệp mà còn làm cho xã hội đánh giá đúng mức giá trị của các dịch vụ chăm sóc

3 Lịch sử nghiên cứu điều dưỡng:

3.1 Từ thời Nightingale đến những năm 1960:

Người ta cho rằng, Florebt Nightingale là người khởi đầu nghiên cứu điều dưỡng Trên cơ sở phân tích các yếu tố tác động đến tỷ lệ tử vong của những người lính trong chiến tranh Crime, Nightingale đã thành công trong việc tác động vào các yếu tố môi trường để làm giảm tỷ lệ tử vong từ 42% xuống còn 2,2%

Sau Nightingale, trong y văn đề cập rất ít đến nghiên cứu điều dưỡng Cho mãi tới nửa đầu thế kỷ XX, các nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực giáo dục điều dưỡng, nhận dạng bản chất nghề điều dưỡng, vai trò chức năng của điều dưỡng…

Từ sau những năm 1950, nghiên cứu điều dưỡng phát triển với tốc độ rất nhanh do ngày càng có nhiều điều dưỡng viên được đào tạo ở trình độ cử nhân và sau đại học Giai đoạn này xuất hiện những nhu cầu nghiên cứu thực hành điều dưỡng lâm sàng và trong một

số tài liệu điều dưỡng đã chú ý tới việc nghiên cứu Chính phủ các nước đã hỗ trợ kinh phí

để thực hiện các nghiên cứu điều dưỡng và đã có nhiều Nội san chuyên phát hành về nghiên cứu điều dưỡng như ở nước Mỹ, Canada và ở Anh Quốc Từ năm 1963 các nghiên cứu điều dưỡng đã được đăng tải trên các tờ nghiên cứu điều dưỡng quốc tế

3.2 Nghiên cứu điều dưỡng từ những năm 1970 đến nay:

Sau những năm 1970, số lượng các nghiên cứu điều dưỡng ngày càng gia tăng và có thêm các tờ Nội san nghiên cứu điều dưỡng được ra đời ở Mỹ và Anh Quốc để đăng tải các báo cáo nghiên cứu điều dưỡng Nội dung nghiên cứu điều dưỡng trong giai đoạn này chuyển hướng từ lĩnh vực đào tạo , quản lý sang thực hành chăm sóc Và ngày càng quan tâm tới việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực hành chăm sóc người bệnh

Sau những năm 1980, những sự kiện nổi bật trong nghiên cứu điều dưỡng là : (1) đã

có tổng kết các đề tài nghiên cứu; (2) chính phủ một số nước đã cung cấp ngân sách quốc gia để tiến hành các đề tài nghiên cứu điều dưỡng như ở Canada, Mỹ và Anh Quốc; (3)

trung tâm nghiên cứu điều dưỡng quốc gia được thành lập ở Mỹ “National Center For

Research – NVCR” Sự ra đời của Trung tâm quốc gia nghiên cứu điều dưỡng đã thúc đẩy

nghiên cứu điều dưỡng phát triển ngang tầm với các lĩnh vực nghiên cứu của các nghề khác trong y tế

Từ sau những năm 1990 đến nay các Hội nghị nghiên cứu điều dưỡng quốc tế đã được tổ chức và nghiên cứu điều dưỡng trọng tâm vào các lĩnh vực như HIV/AIDS, các mô

Trang 17

hình điều dưỡng dựa vào cộng đồng, đánh giá hiệu quả thử nghiệm các can thiệp điều dưỡng đối với người bệnh HIV/AIDS, người bệnh mãn tính và đánh giá hiệu quả các can thiệp trong lĩnh vực nâng cao sức khỏe

4 Các giải pháp tăng cường nghiên cứu điều dưỡng:

Hội đồng điều dưỡng thế giới (ICN) khuyến cáo các giải pháp tăng cường nghiên cứu điều dưỡng như sau:

- Thiết lập bằng chứng vững chắc về nghề điều dưỡng thông qua chiến lược nghiên cứu khẳng định:

Người ta không thể thực hiện một cải tiến về quy trình kỹ thuật hoặc ứng dụng mới nếu chỉ dựa trên kết luận của một nghiên cứu hay một tác giả Vì vậy, thực hiện các nghiên cứu khẳng định trên các nhóm người bệnh khác nhau, trong tính khách quan và khoa học của các kết quả nghiên cứu Có thể thực hiện chiến lược nghiên cứu khẳng định bằng cách các nhà nghiên cứu cùng phối hợp thực hiện nghiên cứu tại các địa điểm khác nhau

- Khuyến khích thực hành dựa vào bằng chứng:

Điều dưỡng viên được khuyến khích áp dụng những kết quả nghiên cứu vào thực hành hay còn gọi là thực hành dựa vào bằng chứng ở Canada chính phủ đã đầu tư 5 triệu

đô la Canada để khuyến khích điều dưỡng nghiên cứu đưa ra các bằng chứng cải thiện thực hành điều dưỡng lâm sàng

- Tăng cường phổ biến kết quả nghiên cứu:

Sử dụng rộng rãi các kênh thông tin như: Nội san, tạp chí chuyên ngành, Internet, Website là các phương tiện truyền thông rất có hiệu quả để tăng cường phổ biến và sử dụng kết quả nghiên cứu một cách nhanh chóng và rộng rãi Ngoài ra, tổ chức các hội nghị nghiên cứu khoa học điều dưỡng ở các bệnh viện, các tỉnh, cấp quốc gia và quốc tế cũng là các giải pháp quan trọng để phổ biến các kết quả nghiên cứu và khuyến khích áp dụng các kết quả nghiên cứu vào thực hành

LƯỢNG GIÁ

Câu 1: Trình bày định nghĩa về nghiên cứu ?

Câu 2: Trình bày vai trò của nghiên cứu điều dưỡng ?

Câu 3: Nêu lịch sử và quá trình phát triển nghiên cứu điều dưỡng ?

Câu 4: Nêu các giải pháp tăng cường nghiên cứu điều dưỡng ?

Trang 18

Bài 5

CHỌN VẤN ĐỀ, MỤC TIÊU VÀ BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU

MỤC TIÊU

1 Lựa chọn được vấn đề nghiên cứu phù hợp và thực tiễn

2 Viết được mục tiêu nghiên cứu

3 Miêu tả được các loại biến số nghiên cứu

4 Vẽ được khung thiết kế nghiên cứu cho vấn đề nghiên cứu đã chọn

NỘI DUNG

1 Vấn đề nghiên cứu là gì?

Trước tiên chọn chủ đề nghiên cứu và sau đó chọn vấn đề nghiên cứu trong chủ đề nghiên cứu Chủ đề nghiên cứu là một vấn đề có phạm vi rộng như: Chăm sóc người bệnh toàn diện, kiểm soát nhiễm trùng bệnh viện, giáo dục sức khoẻ, quản lý điều dưỡng, đào tạo điều dưỡng mỗi chủ đề có nhiều vấn đề làm cho chúng ta quan tâm và mỗi vấn đề đó được coi là bước rất quan trọng đòi hỏi sự tìm tòi và tiêu tốn nhiều thời gian

Vấn đề nghiên cứu là những vấn đề làm cho bạn quan tâm nhưng chưa có nhu cầu trả lời khiến bạn muốn nghiên cứu để tìm lời giải cho vấn đề đó Những vấn đề làm cho bạn quan tâm có thể xuất phát từ kinh nghiệm cá nhân, thực hành lâm sàng, từ sách và tài liệu, từ những nghiên cứu trước đây, từ mối quan tâm của người bệnh hoặc của cộng đồng

Ví dụ 1: Nhận dạng vấn đề nghiên cứu

Đo huyết áp và kỹ thuật thường quy được áp dụng để chẩn đoán và điều trị cho người bệnh Đo huyết áp chính xác có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá người bệnh tăng huyết áp Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp của người bênh như: thuốc đang dùng, tư thế của bệnh nhân, nhiệt độ, quần áo chật, tâm lý của người bệnh, dụng cụ đo huyết áp Huyết áp vào đêm giảm khoảng 15% ở những người ban ngày hoạt động mạnh Thông thường bác sĩ dựa vào kết quả đo huyết áp cho người bệnh

Một số tài liệu hướng dẫn đã nêu: để đo huyết áp chính xác người bệnh cần phải nằm

và để hai chân và bàn chân duỗi thẳng trên mặt giường Tuy nhiên, còn thiếu bằng chứng ảnh hưởng của tư thế người bệnh bắt chéo chân qua đầu gối khi được đo huyết áp

Sau khi đọc phần trích đoạn báo cáo trên, hãy trả lời các câu hỏi sau:

- Vấn đề nghiên cứu là gì?

- Đối tượng nghiên cứu là ai?

- Theo bạn mục đích của nghiên cứu là gì?

2 Xác định vấn đề nghiên cứu:

2.1 Các lĩnh vực nghiên cứu cần được quan tâm:

-Vấn đề sức khoẻ hoặc bệnh có tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong cao cần nghiên cứu để đưa

ra các biện pháp can thiệp

- Phân tích nguyên nhân của các vấn đề yếu kém trong lĩnh vực quản lý và chăm sóc điều dưỡng Ví dụ: yếu kém về chất lượng, sự phàn nàn của người bệnh về giao tiếp, sai sót trong dùng thuốc, tiêm an toàn

Trang 19

- Đánh giá chất lượng, hiệu quả của các biện pháp can thiệp Ví dụ: chăm sóc toàn diện, các chương trình đào tạo nhân viên y tế, rửa tay, giáo dục sức khoẻ

2.2 Cách xác định vấn đề nghiên cứu:

Một vấn đề tình thế có cần phải đặt ra nghiên cứu hay không còn phụ thuộc vào

ba điều kiện sau:

- Cần phải có một sự khác biệt hay sự chênh lệch rõ rệt giữa những gì đang tồn tại ( tình hình thực tế ) với tình hình lý tưởng hay tình hình mà kế hoạch đã đặt ra

- Lý do hay nhữnh lý do của sự khác biệt này phải không rõ ràng ( vì vậy mới cần chúng ta đặt ra câu hỏi nghiên cứu )

- Cần có nhiều câu trả lời cho câu hỏi đó hay giải pháp cho vấn đề đó

Ví dụ: Xác định vấn đề nghiên cứu

Ở bất cứ thời điểm điều tra nào người ta cũng thấy nhiễm trùng bệnh viện chiếm 5- 10% người bệnh nhập viện Bàn tay của nhân viên y tế là yếu tố quan trọng lây truyền tác nhân gây bệnh do bàn tay thường xuyên tiếp xúc với máu và cơ thể Các nghiên cứu nuôi cấy cho thấy 21% tay nhân viên y tế có Acinotobacter và các vi khuẩn nhóm Klebsiella Enterobacter, 36 tay bác sĩ có S Aureaus, tỉ lệ vi khuẩn Gram (-) cao hơn ở tay nhân viên y

tế tại các khoa HSCC, nhất là những người rửa tay dưới 8 lần/ ngày

Các câu hỏi gợi ý để tìm kiếm vấn đề nghiên cứu:

- Các can thiệp điều dưỡng bạn quan tâm hiện nay là gì?

- Tại sao áp dụng can thiệp điều dưỡng này?

- Hiệu quả của can thiệp đó đến đâu?

- Liệu có can thiệp nào khác có hiệu quả hơn không?

- Đã có nghiên cứu nào đựơc thực hiện trong lĩnh vực này?

- Các kết quả nghiên cứu có khẳng định hiệu quả của can thiệp này không?

2.3 Các tiêu chuẩn chính ưu tiên cho vấn đề nghiên cứu:

Mỗi vấn đề có dự định làm nghiên cứu cần phải được cân nhắc dựa trên các chỉ dẫn hay tiêu chuẩn nào đó Có thể có một vài ý tưởng mà từ đó ta có thể chọn ra Trước khi quýêt định chọn một vấn đề nghiên cứu cụ thể, thì từng chủ thể dự định phải được so sánh, đối chiếu với những khả năng khác Các chỉ dẫn hay tiêu chuẩn được bàn đến là: Tính phù hợp, tránh trùng lặp, tính khả thi, sự chấp nhận về mặt chính trị, có thể áp dụng được, tính cấp thiết và sự chấp nhận được về mặt đạo đức

2.4 Phân tích vấn đề nghiên cứu:

Một số câu hỏi gợi ý phân tích vấn đề nghiên cứu:

- Cụ thể hoá và mô tả vấn đề sâu rộng hơn:

+ Bản chất của vấn đề (sự khác biệt)

+ Sự phân bố của vấn đề, đối tượng bị tác động bởi vấn đề, khi nào và ở đâu?

+ Tầm cỡ, mức độ tầm quan trọng và độ tập chung của vấn đề nghiên cứu là gì? ( đối tượng bị tác động, số lượng, sự phân bổ ) hậu quả của vấn đề đó ra sao?

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề

- Làm rõ mối quan hệ giữa vấn đề và các yếu tố ảnh hưởng?

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Trang 20

Khái niệm: Mục tiêu nghiên cứu là sự trình bày tóm tắt kết quả đầu ra mong muốn

của một đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu liên quan chặt chẽ với vấn đề nghiên cứu

Phân loại: Mục tiêu nghiên cứu gồm mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể:

- Mục tiêu tổng quát nêu tóm tắt kết quả mong muốn mà nghiên cứu cần đạt được, mục tiêu tổng quát gắn liền với vấn đề nghiên cứu (tên đề tài nghiên cứu)

- Mục tiêu cụ thể tức là cụ thể hoá các nội dung nghiên cứu; mục tiêu cụ thể bao gồm các yếu tố quan trọng được coi là ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu

Tại sao xây dựng mục tiêu nghiên cứu?

- Xác định rõ nội dung nghiên cứu

- Tránh thu nhập thông tin thừa

- Định hướng cho việc phân tích và báo cáo kết quả nghiên cứu

Cách viết mục tiêu nghiên cứu như thế nào?

- Viết mục tiêu nghiên cứu ngắn gọn, rõ ràng

- Bắt đầu mỗi mục tiêu bằng động từ hành động

- Mỗi mục tiêu chỉ nên bao gồm một đến hai biến số nghiên cứu

Ví dụ : Trong một điều tra về nhiễm trùng bệnh viện mục tiêu nghiên cứu tổng quát

được viết như sau “ Xác định tỷ lệ NTBV hiện mắc và các yếu tố nguy cơ” Từ mục tiêu tổng quát có thể tác thành các mục tiêu cụ thể như sau:

- Xác định tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện hiện mắc chung của bệnh viện

- Xác định tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện theo chuyên khoa và theo vị trí - cơ quan mắc

- Mô tả các yếu tố liên quan đến nhiễm trùng bệnh viện ( nhân khẩu học, tình trạng bệnh, các can thiệp điều trị và điều dưỡng khi nằm viện )

- Mô tả tác nhân thường gây nhiễm trùng bệnh viện trên những người bệnh có kết quả nuôi cấy vi sinh

Mỗi loại nghiên cứu có mục tiêu nghiên cứu khác nhau Ví dụ: Mục tiêu nghiên cứu của nghiên cứu mô tả nhằm mô tả các biến số nghiên cứu, nhận ra mối quan hệ và sự khác biệt giữa các nhóm nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu phân tích là để đo lường độ lớn

và loại quan hệ của các biến số nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu thử nghiệm là để khẳng định hiệu quả của một phương pháp điều trị hoặc là sự tác động của một biến số độc

lập lên một biến số phụ thuộc

4 Biến số nghiên cứu:

Khái niệm: Biến số các yếu tố mà nhà nghiên cứu đo lường, điều khiển hoặc kiểm

Trang 21

+ Biến số độc lập (nguyên nhân hoặc liệu pháp điều trị) :

Ví dụ: Các yếu tố về nhân khẩu học (tuổi, giới, trình độ ) các can thiệp điều trị và điều dưỡng (rửa tay, kỹ thuật mới, thuốc thử nghiệm, chương trình đào tạo, )

+ Biến số phụ thuộc: là các kết quả nghiên cứu mong muốn mà nhà nghiên cứu đo lường để tìm kiếm câu trả lời cho vấn đề nghiên cứu Ví dụ: tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện,

tỷ lệ sai sót, tỷ lệ tử vong, tỷ lệ mắc bệnh số nhân viên y tế bị rủi ro nghề nghiệp, công suất

sử dụng giường bệnh

+ Biến số gây nhiễu: là các yếu tố đã có từ trước hoặc các yếu tố tác động vào kết quả nghiên cứu mà người nghiên cứu không kiểm soát đựơc như: các bệnh phối hợp, tình trạng thể chất, tinh thần của đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa biến số độc lập và biến số phụ thuộc là nền tảng để hình thành giả thuyết nghiên cứu, trong các nghiên cứu phân tích và nghiên cứu thử nghiệm Biến số độc lập là các liệu pháp can thiệp mà nhà nghiên cứu sử dụng để tạo ra hiệu quả trên biến số phụ thuộc Biến số độc lập còn được gọi là biến số điều trị mà nhà nghiên cứu muốn dự đoán hoặc giải thích

Ví dụ: Lim Levy đã đưa ra giả thuyết “ Thở oxygen qua ống thông mũi với liều lượng 6 lít phút không ảnh hưởng đến nhiệt độ khoang miệng” Trong nghiên cứu này, oxygen với nồng độ 6 lít là biến số độc lập và nhiệt độ trong khoang miệng là biến số phụ thuộc

5 Khung nghiên cứu:

Khung nghiên cứư mô tả tóm tắt thiết kế nghiên cứu Nhìn vào khung nghiên cứu ta

có thể nhận biết được các biến số chính của nghiên cứu và tương quan giữa các biến số độc lập và biến số phụ thuộc

Ví dụ : Khung nghiên cứu trong đề tài nghiên cứu về “Sự hài lòng của người bệnh tại các khoa khám các bệnh viện tại Hà Nội” tác giả đã xây dựng khung nghiên cứu như trên

Trang 22

Các biến số độc lập Biến số phụ thuộc

* Hình thành giả thuyết nghiên cứu:

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của nghiên cứu là mô tả hình thành được giả thuyết về mối quan hệ tương quan giữa hai hay nhiều biến số nghiên cứu, là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo và đề xuất được các biện pháp ngăn ngừa hiệu quả, hạn chế được

sự phân bố của bệnh viện trong quần thể Giả thuyết dịch tễ học về mối quan hệ nhân quả phải có đầy đủ các thành phần sau đây:

- Yếu tố nguy cơ căn nguyên có thể là bất kỳ yếu tố nguy cơ nghi ngờ nào, có sự kết hợp có ý nghĩa thống kê giữa phôi nhiễm và bệnh

- Hậu quả: Là bệnh mà ta quan tâm, có thể được tính bằng số lượng, hoặc chia ra từng giai đoạn, từng mức độ nặng nhẹ khác nhau, việc phân chia đó phải có những số đo tương ứng để có thể tính toán được về mặt thống kê

- Ví dụ : Kết quả của một nghiên cứu được trình bày như bảng 3 dưới đây

Bảng 5.3: Các yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn bệnh vịên:

Yếu tố kinh tế xã hội:

Giới tính, tuổi, nghề, nơi

Trang 23

Những giả thuyết trên đây, gợi ý cho tiến hành các nghiên cứu phân tích tiếp theo

để xác định mối quan hệ nhân quả giữa các cặp biến số nghi ngờ có liên quan đến nhiễm trùng bệnh viện

LƯỢNG GIÁ

Câu 1: Trình bày cách lựa chọn vấn đề nghiên cứu phù hợp và thực tiễn ?

Câu 2: Trình bày cách viết được mục tiêu nghiên cứu ?

Câu 3: Trình bày các loại biến số nghiên cứu ?

Câu 4: Vẽ Sơ đồ khung thiết kế nghiên cứu cho vấn đề nghiên cứu đã chọn?

Trang 24

1 Trình bày được các kỹ thuật thu thập số liệu nghiên cứu

2 Thiết kế được bộ câu hỏi để thu thập số liệu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu

3 Áp dụng được các kỹ thuật thu thập số liệu vào chủ đề nghiên cứu

- Điều tra theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn

- Khám lâm sàng, xét nghiệm sàng lọc tại cộng đồng

- Thảo luận nhóm

1.3 Cơ sở để lựa chọn kỹ thuật thu thập thông tin:

Phụ thuộc vào các yếu tố sau:

- Mục tiêu nghiên cứu

- Đối tượng, quy mô của nghiên cứu

- Loại thông tin cần thu thập (các biến cố)

- Thông tin có sẵn và độ tin cậy của thông tin

1.4 Các khía cạnh đạo đức:

- Thu thập thông tin mà đối tượng không biết hoặc chưa đồng ý

- Để lộ thông tin liên quan tới cá nhân, nghề nghiệp hoặc quốc gia

- Điều chỉnh thông tin vì mục đích cá nhân

2 Các kỹ thuật thu thập số liệu:

2.1 Quan sát:

Quan sát là sự thu thập số liệu bằng 5 giác quan Mặc dù người điều dưỡng chủ yếu

xử dụng mắt nhưng trong hầu hết các quan sát đều có sự tham gia của các giác quan Quan sát có hai mặt: nhìn và làm sáng tỏ thông tin Ví dụ: người điều dưỡng nhìn thấy người bệnh mặt đỏ ửng đó có thể là dấu hiệu của sốt

Trang 25

2.1.1 Quan sát trực tiếp:

Áp dụng:

- Quan sát tiến trình công việc, thủ thuật, sự di chuyển của đối tượng

- Thu thập thôn tin về cơ sở hạ tầng, phương tiện dụng cụ

- Phối hợp quan sát và phỏng vấn ( so sánh thông tin thu được giữa phỏng vấn và quan sát)

* Ưu điểm:

- Người nghiên cứu cảm nhận trực tiếp vấn đề nghiên cứu

- Nhanh chóng thu được kết quả

* Nhược điểm:

- Dễ ngộ nhận nhất là người nghiên cứu từ bên ngoài đến với thời gian ngắn

- Sự có mặt của người quan sát tác động đến tâm lý và hành vi người được quan sát

- Kết quả có thể sai lệch do chọn mẫu

* Yêu cầu đối với người quan sát:

- Phải có kiến thức về vấn đề quan sát

- Phải nhớ được nội dung quan sát

- Hạn chế đựơc sự đối phó của người đựơc quan sát

- Hiểu biết về tập quán, ngôn ngữ nơi nghiên cứu

2.1.2 Quan sát tham gia:

Áp dụng:

- Thu thập thông tin thông qua chia sẻ kinh nghiệm

- Rất tốt cho việc nghiên cứu lập kế hoạch dự án

- Đánh giá hiệu quả dự án/ công việc

* Ưu điểm:

- So sánh được lý thuyết với thực tiễn

- Kiểm tra và xác định chính xác của thông tin

- Hiểu và mô tả được công việc, sự kiện và can thiệp dễ dàng hơn

* Nhược điểm:

- Cần nhiều thời gian

- Không đưa ra được số liệu chính xác

- Khó suy rộng ra các vùng và miền khác

* Yêu cầu đối với người quan sát tham gia:

- Hiểu biết và có kinh nghiệm về lĩnh vực quan sát

- Hiểu biết về tập quán, điều kiện kinh tế văn hoá nơi nghiên cứu

- Có khả năng giao tiếp và làm việc cùng người địa phương

2.2 Phỏng vấn:

2.2.1 Các hình thức phỏng vấn:

- Gửi bộ câu hỏi qua bưu điện

- Phỏng vấn qua điện thoại

- Phỏng vấn qua email

- Phỏng vấn trực tiếp

Trang 26

2.2.2 Kỹ thuật phỏng vấn:

Phỏng vấn là sự giao tiếp có phủ định Cuộc phỏng vấn thông thường có ba giai đoạn: Mở đầu, nội dung và kết thúc Các yếu tố ảnh hưởng tới cuộc phỏng vấn là: thời gian, địa điểm, chỗ ngồi, cách thức gián tiếp, sự tin tưởng, khoảng cách ngồi

- Mở rộng cuộc phỏng vấn là bước rất quan trọng vì những câu nói và việc làm

trong giai đoạn này quyết định chất lượng cuộc phỏng vấn Người phỏng vấn cần chủ động chào hỏi, tự giới thiệu tên và nói rõ mục đích cuộc phỏng vấn, thời gian phỏng vấn và nói cho người được phỏng vấn biết họ có quyền không trả lời các thông tin mà họ mong muốn

- Nội dung cuộc phỏng vấn: Trong gian đoạn này người được phỏng vấn dần bày

tỏ điều họ biết, họ cảm thấy, điều họ đang nghĩ và nhận thức của họ về các vấn đề mà người phỏng vấn hỏi Người phỏng vấn có thể chuyển sang giai đoạn phỏng vấn liên quan đến mục đích nghiên cứu bằng một câu hỏi dễ trả lời hoặc không gây tâm lý cho người bệnh

Ví dụ: Làm sao hôm nay bác phải đi khám? Người phỏng vấn cần sử dụng kỹ thuật giao tiếp để đảm bảo hai bên đều cảm thấy thoải mái trong việc đặt câu hỏi và trả lời Người phỏng vấn nêu câu hỏi cần ngắn gọn, hỏi từng câu hỏi một, các câu hỏi theo thứ tự logic, chú ý lắng nghe câu trả lời, tránh áp đặt kinh nghiệm cá nhân như “ Nếu tôi là anh chị thì ”,

sử dụng ngôn ngữ không lời biểu lộ sự tôn trọng, dùng ánh mắt để thể hiện sự thông cảm, chấp nhận giây phút im lặng để người được phỏng vấn sắp xếp ý tưởng trả lời

- Kết thúc cuộc phỏng vấn: Khi có đựơc các thông tin cần thiết người phỏng vấn

chủ động kết thúc cuộc phỏng vấn Đôi khi người được phỏng vấn chủ động kết thúc trước Dưới đây là một số kỹ thuật để kết thúc cuộc phỏng vấn: (1) Hãy đưa ra ám hiệu là cuộc phỏng vấn đã xong bằng cách hỏi “Ông bà có điều gì muốn nói nữa không? tôi rất vui lòng được trả lời câu hỏi của ông bà” (2) Để chấm dứt cuộc phỏng vấn có thể nói rằng: “Vâng,

đó là tất cả những thông tin chúng tôi muốn biết”; (3) Thể hiện sự hài lòng và đánh giá cao cuộc phỏng vấn “ tôi rất vui được nói chuyện với anh chị”, “xin cảm ơn sự giúp đỡ của anh chị” hoặc “ thông tin anh chị cung cấp sẽ rất hữu ích cho bệnh viện cải tiến công tác phục vụ”, (4) ám hiệu đã hết giờ “ Thời gian hôm nay trôi nhanh quá”, “ xin cảm ơn anh chị”,

- Đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ của nhóm đối tượng nghiên cứu

2.3.2 Kỹ thuật xây dựng câu hỏi :

y tế

Trang 27

- Ví dụ 1: Loại câu hỏi có không: Ông bà có ngủ được không?

1 Có 2.Không

- Ví dụ 2: Trình độ chuyên môn của ông/bà hiện nay (chọn một câu trả lời thích hợp

nhất )

1 Sơ cấp 2 Trung cấp 3 Cao đẳng

4 Đại học 5 Trên đại học

*Câu hỏi mở:

Là câu hỏi không có câu trả lời sẵn, đòi hỏi đối tượng sử dụng kiến thức và trả lời theo ngôn ngữ riêng cuả mình Loại câu hỏi mở thích hợp với các nghiên cứu về tâm lý, thái độ , kiến thức hoặc tìm hiểu sâu một vấn đề chưa biết Nhược điểm của sử dụng câu hỏi mở là khó phân tích và tổng hợp kết quả

Câu hỏi mở nhằm để khám phá, làm rõ thông tin, làm chi tiết thông tin và người đựơc phỏng vấn tự do trả lời, trong câu trả lời kèm theo cả thái độ, cảm xúc và niềm tin Loại câu hỏi này rất có ích khi bắt đầu cuộc phỏng vấn hoặc khi chuyển chủ đề Ví dụ: Hôm nay ông/bà cảm thấy thế nào? Vì sao ông/bà đến bệnh viện? Câu hỏi mở thường bắt đầu bằng cái gì, như thế nào, vì sao

- Ví dụ: Anh chị hãy kể tên các biện pháp tránh thai mà anh chị biết? Tiêm không

an toàn có thể lây truyền các bệnh gì qua đường máu? Anh chị hãy liệt kê nội dung 5 đúng khi dùng thuốc cho người bệnh?

* Câu hỏi nửa đóng, nửa mở:

- Là loại câu hỏi đóng, cuối câu trả lời là loại câu hỏi mở Áp dụng khi không liệt kê được hết các khả năng trả lời có thể có, hoặc khi muốn nhắc lại điều quan trọng để kiểm tra

sự nhất quán củ đối tượng trả lời

- Ví dụ: Anh/ chị có hài lòng với công việc đang làm không? Nếu không vì sao? Anh chị có bị rủi ro do vật sắc nhọn trong 3 tháng gần đây không? Nếu có, anh chị bị rủi ro khi đang làm việc gì?

*Câu trả lời cấu trúc theo thang điểm nhiều bậc:

-Thang điểm có hai cực, từ kém nhất đến tốt nhất Thang điểm thông thường có 4-5

bậc Người trả lời phải chọn một mức điểm đã được ghi trên thang điểm

- Ví dụ: Ông/bà cho biết chất lượng dịch vụ chăm sóc trong bệnh viện

Rất kém 1 2 3 4 5 Rất tốt

* Câu trả lời bằng số:

- Đối với loại câu hỏi này, chỉ áp dụng khi người hỏi phải biết chắc là đối tượng nghiên

cứu đã có trải qua vấn đề mà mình muốn nghiên cứu

- Ví dụ: Lương và các khoản thu nhập bình quân của ông/bà hàng tháng là đồng

* Câu hỏi đúng sai:

Dùng để đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ của người được phỏng vấn Dưới đây là các ví dụ về kỹ thuật đặt câu hỏi đúng sai?

* Câu tuyên bố khẳng định Đúng, Sai:

Trang 28

Thời gian đo nhiệt độ ở nách là 5 phút

Phân tích số liệu dựa vào mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả nhằm kiểm tra giải thuyết nghiên cứu

* Câu hỏi nhiều lựa chọn:

- Câu hỏi nhiều lựa chọn gồm hai phần Phần câu hỏi và phần liệt kê các lựa chọn

về khả năng trả lời Thông thường người ta đưa ra 4 lựa chọn để chọn lấy một câu đúng nhất

- Ví dụ: Trong bữa ăn chính hàng ngày anh/chị ăn các thức ăn gì?

1 Thịt hoặc cá 2 Trứng 3 Sữa hoặc pho mát 4 Đậu đỗ

Những chú ý khi đặt câu hỏi:

Ví dụ: Ông/bà lo lắng về cuộc giải phẫu thuật ngày mai phải không? Ông bà sẽ uống thuốc chứ? Loại câu hỏi này thường đưa đến câu trả lời có thể đoán trước đựơc

- Một bộ câu hỏi nên phân chia thành từng nhóm chủ đề có trình tự, logic để dễ hỏi

dễ trả lời

- Câu hỏi sử dụng từ ngữ đơn giản dễ hiểu phù hợp danh từ địa phương

- Một câu hỏi nên chỉ một cách trả lời

- Độ dài của bộ câu hỏi phỏng vấn không nên kéo dài quá 30 phút

2.3.3 Thảo luận nhóm

Là một kỹ thuật thu thập thông tin định tính thông qua một nhóm người Thảo luận nhóm áp dụng trong trường hợp muốn thu thập thông tin của một nhóm đại diện về chủ đề nhất định Câu hỏi thảo luận là các câu hỏi mở như: tại sao? Như thế nào?

Các bước thảo luận của nhóm:

- Chuẩn bị nội dung: chủ đề thảo luận và mục tiêu cần đạt được, dự kiến các câu

hỏi cần thảo luận ( câu hỏi dẫn gợi ý), số lượng tốt nhất 5-7 người Chuẩn bị địa điểm: Chú

ý địa điểm thuận lợi, đủ chỗ ngồi, hướng dẫn viên dễ quan sát, và giảm tối đa các yếu tố ảnh hưởng xung quanh

- Tiến hành thảo luận nhóm: Giới thiệu làm quen, nêu quy tắc làm việc, nội dung

thảo luận nên đi dần từ tổng quát sang chi tiết cụ thể Hướng dẫn viên cần có kỹ năng điều hành, bám sát mục tiêu, mềm dẻo, điều hoà mâu thuẫn giữa các đối tượng tham gia, ghi chép tóm tắt Thời gian thảo luận không quá 120 phút

- Tóm tắt kết luận: Người điều hành cần tóm tắt nội dung thảo luận kể cả những ý

kiến chưa thống nhất, có thể cần làm sáng tỏ thêm vấn đề cần thiết chưa đạt mục tiêu khi thảo luận

2.3.4 Khám lâm sàng, xét nghiệm sàng lọc hàng loạt ở cộng đồng:

- Khám lâm sàng là phương pháp thu thập số liệu được áp dụng rộng rãi Người điều dưỡng sử dụng các phương pháp nhìn, sờ, gõ, nghe, phỏng vấn quan sát để thu thập số liệu

và đưa ra các chẩn đoán điều dưỡng

- Khám sàng lọc: áp dụng đối với các bệnh có tỉ lệ mắc tử vong cao trong cộng đồng

Có kỹ thuật phát hiện ở giai đoạn sớm và cộng đồng chấp nhận được và khi phát hiện được bệnh có biện pháp dự phòng và điều trị có hiệu quả

- Ví dụ: đo huyết áp để phát hiện các người bệnh tăng huyết áp Xét nghiệm đờm tìm trực khuẩn lao trong số bệnh nhân viêm phế quản mãn tính Khám phát hiện suy dinh

Trang 29

dưỡng ở trẻ em <5 tuổi bằng cân đo Khám phát hiện mắt hột ở cộng đồng, xét nghiệm làm máu tìm KST sốt rét, xét nghiệm đường máu chẩn đoán sớm bệnh đái đường

2.3.5 Sử dụng thông tin có sẵn:

* Tiêu chuẩn thu thập thông tin sẵn có:

- Phù hợp của thông tin có sẵn với vấn đề nghiên cứu

- Yếu tố thời gian: mới, gần thời điểm điều tra

- Có thể so sánh được, đối chiếu với thông tin từ phương pháp thu thập khác

- Thông tin có độ tin cậy cao

* Cách thu thập thông tin có sẵn:

- Sử dụng trực tiếp số liệu có sẵn khi số liệu đáp ứng đựơc tiêu chuẩn

- Xử lý các thông tin có sẵn theo mục đích nghiên cứu

- Thu nhập thông tin bổ sung khi không có sẵn thông tin theo yêu cầu

LƯỢNG GIÁ

Câu 1: Trình bày các kỹ thuật thu thập số liệu nghiên cứu ?

Câu 2: Trình bày cách thiết kế bộ câu hỏi để thu thập số liệu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu ?

Câu 3: Hãy áp dụng các kỹ thuật thu thập số liệu vào chủ đề nghiên

Trang 30

Bài 7

PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ, PHÂN TÍCH VÀ TRÌNH BÀY SỐ LIỆU

MỤC TIÊU

1 Xây dựng được các bước của lập kế hoạch xử lý và phân tích số liệu

2 Trình bày được nội dung xử lý và phân tích số liệu

3 Chọn được phương pháp xử lý và phân tích số liệu phù hợp với đề tài nghiên cứu

4 Trình bày được các số liệu nghiên cứu bằng các bảng biểu đồ

NỘI DUNG

1 Kế hoạch xử lý và phân tích số liệu:

Các bước tiến hành phân tích số liệu thông qua các phương pháp định tính hoặc định lượng có sự khác biệt tương đối rõ ràng Do đó, khi tiến hành lập một kế hoạch cho việc xử

lý và phân tích số liệu, chúng ta cần quan tâm đến kiểu của nghiên cứu và các phương pháp thu thập số liệu được sử dụng trong nghiên cứu

Đối với các số liệu định lượng, điểm xuất phát của việc phân tích thường là việc mô

tả các số liệu của từng đơn vị nghiên cứu ( hoặc cho mỗi nhóm các đơn vị nghiên cứu ) Ở đây, người nghiên cứu bắt đầu phân tích số liệu trong khi thu thập, do vậy các câu hỏi còn chưa được trả lời ( hoặc các câu hỏi mới được đặt ra) có thể được hoàn thành trước khi kết thúc việc thu thập số liệu

Chuẩn bị một kế hoạch cho việc xử lý và phân tích số liệu sẽ cung cấp cho bạn một nhận thức rõ ràng về tính khả thi của việc phân tích số liệu và các nguồn lực cần thiết cho

nó Đó cũng là lúc bạn nhìn nhận lại về sự thích hợp của các công cụ thu thập số liệu của bạn

Khi lập kế hoạch xử lý số liệu bạn cần phải quyết định ngay rằng bạn sẽ chọn phương

pháp xử lý số liệu bằng tay hay bằng máy tính

Kế hoạch cho việc xử lý và phân tích số liệu nhất thiết phải được chuẩn bị trước khi các số liệu được thu thập tại thực địa để nếu cần bạn vẫn còn có thể thay đổi được các biến

số nghiên cứu hoặc công cụ thu thập số liệu

2 Nội dung kế hoạch xử lý và phân tích số liệu:

2.1 Một kế hoạch xử lý và phân tích số liệu bao gồm: Phân loại sắp xếp số liệu, tiến hành

kiểm tra chất lượng số liệu, xử lý số liệu, phân tích số liệu sau này

Trong một nghiên cứu so sánh, tốt nhất là chúng ta sắp xếp các số liệu sau khi chúng

ta được thu thập vào làm thành 2 hoặc 3 nhóm mà chúng ta sẽ tiến hành so sánh trong quá trình phân tích số liệu Ví dụ: Trong một nghiên cứu bệnh chứng về sự liên quan giữa hút thuốc lá và ung thư phổi ta chia làm 2 nhóm là nhóm bệnh và nhóm chứng Trong một nghiên cứu liên quan tới nguyên nhân việc chấp nhận các dịch vụ KHHGĐ thấp, có thể phân thành 2 nhóm cơ bản là nhóm những người sử dụng dịch vụ nhóm không sử dụng dịch

vụ

Trang 31

Sẽ rất thuận lợi nếu chúng ta đánh số các bộ phận câu hỏi vào từng nhóm một cách riêng biệt ngay sau khi chúng ta sắp xếp Ví dụ: các câu hỏi trong bộ câu hỏi dành cho nhóm người sử dụng dịch vụ KHHGĐ (user) có thể được đánh U1, U2, U3 và những câu cho nhóm không sử dụng dịch vụ (Nonuser)là N1, N2, N3…

Trong một nghiên cứu cắt ngang, chúng ta có thể phân các số liệu ra làm 2 hay nhiều nhóm khác nhau tuỳ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu

2.2 Tiến hành kiểm tra chất liệu:

Thông thường thì số liệu đã được kiểm tra ngay sau khi chúng ta đang ở giai đoạn thu thập số liệu ở thực địa Tuy nhiên, trước khi tiến hành xử lý số liệu, các thông tin cũng

cần được kiểm tra lại một lần nữa để khẳng định tính đầy đủ và thống nhất của số liệu

Một số vấn đề cần quan tâm khi tiến hành kiểm tra chất lượng số liệu:

- Bộ câu hỏi chưa được điền đầy đủ các thông tin (missing data), trường hợp có một phiếu nào đó mà rất nhiều thông tin chưa được điền thì bạn phải loại bỏ phiếu đó ra khỏi

bộ số liệu

- Nếu có sự không thống nhất về số liệu trong bộ câu hỏi mà có nguyên nhân rõ ràng

là do người đi phỏng vấn, bạn cần trao đổi với người đi phỏng vấn để chỉnh lại câu hỏi cho đúng

- Nếu có sự không thống nhất mà nguyên nhân không phải là sự ghi chép không rõ ràng thì phiếu đó cần phải đưa lại cho những người trả lời để họ trả lời lại thông tin đó

- Trong trường hợp những thông tin không thể hiệu chỉnh hoặc thông tin nào đó được trả lời một cách mơ hồ hoặc không rõ ràng bạn cũng cần loại bỏ ngay

Chú ý : Quyết định loại bỏ một phần số liệu nào đó cần được cân nhắc một cách kỹ

càng, nó có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng của nghiên cứu Quyết định đó là hoàn toàn mang tính đạo đức và nó cũng chứng tỏ tính trung thực về mặt khoa học của một nghiên cứu Bạn cần phải có chính xác bao nhiêu câu trả lời hoặc số phiểu phỏng vấn bạn đã loại

bỏ vì tính không đầy đủ hoặc không nhất quán, và bạn nên đưa vào bàn luận về điều này trong báo cáo cuối cùng của mình

2.3 Xử lý số liệu:

Quá trình xử lý số liệu bao gồm các bước sau : Phân loại số liệu, mã hoá, tổng hợp

số liệu trong bảng số liệu

2.3.1 Phân loại số liệu:

- Đối với các biến phân loại được điều tra thông qua các câu hỏi đóng hoặc quan sát (ví dụ có bị vật sắc nhọn xuyên thấu qua hay không) việc phân loại được định nghĩa ngay

từ khi thiết kế bộ câu hỏi

- Trong một cuộc điều tra, các kết quả trả lời cho dạng câu hỏi mở (Ví dụ : tại sao

bạn bị vật sắc nhọn xuyên thấu qua da) có thể được phân loại từ trước theo một phạm vi nào đó, phụ thuộc vào một số khả năng trả lời Tuy nhiên, chúng ta luôn luôn phải có một

số các dạng câu trả lời khác như “loại khác, xin chỉ rõ, ” dạng trả lời này chỉ có thể được

phân loại sau khi đã điều tra Các dạng trả lời này cần được liệt vào một bảng các dạng trả

lời khác nhau Một số câu trả lời không thể đưa vào một dạng nhất định nào đó thì ta có thể

đưa vào một dạng trả lời riêng biệt “khác” Tuy nhiên dạng này không được vượt quá 5%

Trang 32

- Đối với các biến dạng số, số liệu thường được thu thập mà không cần bất cứ một

sự phân loại nào trước Bởi vì chúng ta sẽ luôn tìm thấy được khoảng và sự phân tán của các giá trị khác nhau của biến dạng số khi chúng ta thu thập số liệu (ví dụ : khoảng cách từ nhà đến nơi làm việc), việc phân loại các biến số luôn luôn được thực hiện sau khi chúng

ta đã thu thập số liệu

2.3.2 Mã hóa số liệu:

Khi xử lý và phân tích số liệu, một việc làm mang lại cho ta rất nhiều thuận lợi đó

là việc mã hóa số liệu thu được Mã hóa số liệu là một phương pháp dùng để chuyển đổi số

liệu thu được từ cuộc điều tra sang một dạng ký hiệu phù hợp cho việc phân tích

* Mã hóa câu hỏi đóng:

Đối với việc phân tích số liệu trên máy tính, các biến số thường được mã hóa dưới dạng số Các câu trả lời giống nhau phải có cùng mã số, việc làm này sẽ làm hạn chế đến mức thấp nhất các sai sót khi mã hóa số liệu Ví dụ câu trả lời “có” được mã hóa là số 1,

“không” là số 2, “không trả lời” là số 9 Hoặc giới tính “nam” là 1 “nữ” là 2

* Mã hóa câu hỏi mở:

Việc mã hóa đối với câu hỏi mở chỉ có thể được tiến hành sau khi chúng ta đã có đủ

số liệu điều tra Các câu hỏi có số lượng lớn trùng lặp hoặc gần giống nhau cần được mã hóa thành 1 số, do đó ta sẽ giới hạn được số lượng các loại

Q2: Giới Q4: Hút thuốc Q5 : Số điếu

thuốc Nam Nữ Có Không Không trả lời

Trong nghiên cứu so sánh(phân tích), bạn cần phải có bảng tổng hợp số liệu khác

nhau cho 2 hoặc 3 nhóm mà bạn đang so sánh (ví dụ: nhóm sử dụng dịch vụ KHHGĐ và nhóm không sử dụng)

Trong điều tra cắt ngang, việc sử dụng nhiều bảng tổng hợp số liệu phụ thuộc vào

hoàn cảnh và các mục tiêu nghiên cứu và bạn có muốn so sánh hai hoặc nhiều nhóm với nhau không Trong bảng tổng hợp số liệu bạn nên đặt những mục “không trả lời “ hay “mất

số liệu” để có thể ước lượng luôn được tổng số

Trang 33

* Xử lý số liệu bằng tay:

- Nếu có một người duy nhất tiến hành phân tích số liệu bằng tay, hãy sử dụng sắp xếp bằng tay Nếu có hai người cùng làm, sắp xếp sử dụng số liệu bằng tay hoặc đếm dấu tay

- Sắp xếp số liệu bằng tay chỉ có thể sử dụng nếu số liệu của mỗi một vấn đề được ghi trên các trang, bảng riêng biệt

- Để tiến hành việc sắp xếp bằng tay, các bước cơ bản như sau:

+ Làm từng câu hỏi một

+ Chia các phiếu hỏi vào các chồng đó

- Cách đếm đánh dấu được thực hiện theo các bước sau:

+ Một thành viên đọc các thông tin trong khi đó người kia ghi lại theo dạng đánh dấu (ví dụ “III” thể hiện 3 đối tượng hoặc !!! thể hiện 5 đối tượng mang một biến nào đó)

+ Việc đếm đánh dấu không nên tiến hành cho trên 2 biến cùng một lúc Nếu cần phải thu thập thông tin về cả 3 biến hãy tiến hành sắp xếp bằng tay cho câu hỏi đầu tiên sau đó đếm đánh dấu cho câu còn lại

+ Sau khi tiến hành việc đếm đánh dấu, cộng tất cả các đánh dấu và ghi lại số các đối tượng vào từng nhóm

- Sau khi tiến hành việc sắp xếp bằng tay hoặc đếm đánh dấu, kiểm tra tổng số các đối tượng/ câu trả lời của mỗi một câu hỏi để đảm bảo rằng chúng ta không bỏ sót câu nào hoặc làm trùng

2.3.4 Xử lý số liệu bằng máy tính:

Khi cỡ mẫu càng lớn thì việc xử lý và phân tích số liệu bằng máy tính càng tịên ích Việc phân tích số liệu bằng máy tính bao gồm các bước như sau: Chọn chương trình máy tính phù hợp, nhập số liệu, kiểm tra chất lượng số liệu, lập chương trình tính toán (nếu cần)

và đưa ra các kết quả

- Chọn chương trình máy tính phù hợp:

Hiện nay có nhiều chương trình máy tính được sử dụng để xử lý và phân tích số liệu Trong nghiên cứu y học nói chung và điều dưỡng nói riêng các phần mềm sau đang được các nhà nghiên cứu sử dụng rộng rãi: EPI INFO phiên bản 6.04 SPSS 16.0, STATA, dBase.vv

Trang 34

+ Vị trí của các biến đó trong mối quan hệ với các chủ đề nghiên cứu (ví dụ: khuôn dạng số liệu)

+ Cần phân tích bao nhiêu đối tượng và sẽ so sánh những nhóm nào

+ Liệu có biến nào cần thiết phải mã hoá lại hoặc tính toán hay không + Cần phải lập tần số những biến nào, bảng chéo so sánh những biến nào

- Đưa ra kết quả:

Máy tính có thể thực hiện được nhiều phân tích, so sánh, trình bày kết quả khác nhau, nội dung này sẽ được trình bày ở bài tiếp theo

3 Trình bày số liệu:

3.1 Trình bày số liệu thô:

Số liệu “thô” là số liệu thu thập chưa qua xử lý bằng các phương pháp thống kê Ví

dụ, một nghiên cứu về chiều cao của 30 sinh viên điều dưỡng ta được các số liệu sau:

Bảng 7.2 Số liệu thô

1,62 1,64 1,67 1,68 1,58 1,56 1,57 1,58 1,60 1,59 1,61 1,63 1,64 1,56 1,66 1,59 1,59 1,68 1,69 1,60 1,58 1,66 1,63 1,59 1,54 1,52 1,62 1,60 1,60 1,63

3.2 Sắp xếp số liệu theo trình tự

Việc sắp xếp số liệu theo thứ tự có ưu điểm: Có thể nhanh chóng phát hiện ra giá trị cao nhất và thấp nhất trong tập hợp số liệu, có thể dễ dàng chia số liệu thành các nhóm, và

có thể nhìn thấy ngay giá trị nào xuất hiện bao nhiêu lần

Ví dụ : Từ số liệu bảng 1, Nếu sắp xếp theo thứ tự tăng dần ta có bảng 2:

Chiều cao của 30 sinh viên Điều dưỡng (đơn vị: m )như sau:

Bảng 7.3: Sắp xếp số liệu theo trình tự

1,52 1,57 1,59 1,60 1,62 1,64 1,54 1,57 1,59 1,60 1,63 1,66 1,56 1,58 1,59 1,60 1,63 1,68 1,56 1,58 1,59 1,61 1,63 1,68 1,56 1,58 1,60 1,62 1,64 1,69

3.3 Lập bảng:

Bảng là một hình thức trình bày các số liệu thống kê một cách có hệ thống hợp lý và

rõ ràng Sử dụng thích hợp các bảng thống kê làm cho việc trình bày số liệu sẽ trở nên rất sinh động và sức thuyết phục Yêu cầu của bảng thống kê là phải ghi rõ ràng và có đủ thông tin, người đọc có thể nhìn vào bảng và hiểu được ý nghĩa từ các con số mà không cần phải giải thích thêm

3.3.1 Các thành phần của bảng số liệu:

- Số thứ tự của bảng và tiêu đề của bảng Số thứ tự ghi theo thứ tự các bảng xuất hiện trong báo cáo nghiên cứu Tiêu đề của bảng phản ánh nội dung của bảng, viết ngắn

Ngày đăng: 10/10/2021, 13:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4. Các loại hình NCKH: - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
4. Các loại hình NCKH: (Trang 8)
Hình thành mục tiêu nghiên cứu  - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
Hình th ành mục tiêu nghiên cứu (Trang 11)
- Ví dụ: Kết quả của một nghiên cứu được trình bày như bảng 3 dưới đây. - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
d ụ: Kết quả của một nghiên cứu được trình bày như bảng 3 dưới đây (Trang 22)
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của nghiên cứu là mô tả hình thành được giả thuyết về mối quan  hệ tương quan giữa hai hay nhiều biến số nghiên cứu, là tiền đề cho  các nghiên cứu tiếp theo và đề xuất được các biện pháp ngăn ngừa hiệu quả, hạn ch - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
t trong những mục tiêu quan trọng nhất của nghiên cứu là mô tả hình thành được giả thuyết về mối quan hệ tương quan giữa hai hay nhiều biến số nghiên cứu, là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo và đề xuất được các biện pháp ngăn ngừa hiệu quả, hạn ch (Trang 22)
Từ kết quả nghiên cứu ở bảng 3 trên đây chúng ta có thể hình thành giả thuyết về mối liên quan giữa nhiễm khuẩn bệnh viện và các yếu tố liên quan như sau:  - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
k ết quả nghiên cứu ở bảng 3 trên đây chúng ta có thể hình thành giả thuyết về mối liên quan giữa nhiễm khuẩn bệnh viện và các yếu tố liên quan như sau: (Trang 23)
Bảng 7.1. Tổng hợp số liệu - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
Bảng 7.1. Tổng hợp số liệu (Trang 32)
*Bảng 2x2: Trong y học người ta thường dùng bảng 2x2 để mô tả sự tương quan giữa yếu tố phơi nhiễm và sự xuất hiện của bệnh - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
Bảng 2x2 Trong y học người ta thường dùng bảng 2x2 để mô tả sự tương quan giữa yếu tố phơi nhiễm và sự xuất hiện của bệnh (Trang 36)
Bảng 7. 6: Liên quan giữa can thiệp thủ thuật và nhiễm trùng bệnh viện. - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
Bảng 7. 6: Liên quan giữa can thiệp thủ thuật và nhiễm trùng bệnh viện (Trang 36)
3.4.3. Biểu đồ đường thẳng (hình dây): - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
3.4.3. Biểu đồ đường thẳng (hình dây): (Trang 37)
3.4.4. Biểu đồ hình chấ m( đám mây) - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
3.4.4. Biểu đồ hình chấ m( đám mây) (Trang 38)
Qua bảng 1 trình bày các bước của tính toán độ lệch chuẩn của 8 số đo thể tích huyết tương ở thí dụ 1 nêu trên, cho thấy:   - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
ua bảng 1 trình bày các bước của tính toán độ lệch chuẩn của 8 số đo thể tích huyết tương ở thí dụ 1 nêu trên, cho thấy: (Trang 42)
Bảng 8.1: Tính toán độ lệch chuẩn của thể tích huyết tương của 8 đàn ông khỏe mạn h( giống như thí dụ 1) - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
Bảng 8.1 Tính toán độ lệch chuẩn của thể tích huyết tương của 8 đàn ông khỏe mạn h( giống như thí dụ 1) (Trang 42)
Bảng 8.2. Phân phối của số các lần có thai trước của một nhóm phụ nữ tuổi từ 30-34 đến khám tại phòng khám tiền sản  - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
Bảng 8.2. Phân phối của số các lần có thai trước của một nhóm phụ nữ tuổi từ 30-34 đến khám tại phòng khám tiền sản (Trang 43)
Qua bảng trên: phân phối của số các lần mang thai trước của một nhóm phụ nữ khám tiền sản là: 18 trong 100 phụ nữ không có mang trước đó, 27 đã có mang một lần, 31 có   mang hai lần, 19 có mang 3 lần và 5 phụ nữ có mang 4 lần - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
ua bảng trên: phân phối của số các lần mang thai trước của một nhóm phụ nữ khám tiền sản là: 18 trong 100 phụ nữ không có mang trước đó, 27 đã có mang một lần, 31 có mang hai lần, 19 có mang 3 lần và 5 phụ nữ có mang 4 lần (Trang 43)
Bảng 9.2: Tỷ lệ chết vì ung thư theo nhóm tuổi ở Mỹ năm1940 và1980 - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
Bảng 9.2 Tỷ lệ chết vì ung thư theo nhóm tuổi ở Mỹ năm1940 và1980 (Trang 53)
Bảng 9.1: Số chết vì ung thư các loại phân bố theo nhóm tuổi của nước Mỹ năm 1980 - Giáo trình Thực hành nghiên cứu khoa học - Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
Bảng 9.1 Số chết vì ung thư các loại phân bố theo nhóm tuổi của nước Mỹ năm 1980 (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm