1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng thể chế việt nam và hướng giải quyết

20 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 217,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giàu hay nghèo không do vị trí địa lý, không do văn hóa, cũng không phải do chúng ta không biết giúp các nước nghèo trở nên giàu có hơn, theo 2 tác giả của cuốn sách “Vì sao các quốc gia thất bại” câu trả lời được đưa ra đó là do thể chế của quốc gia đó. Thể chế nào có những điều chỉnh, cải cách để dung hợp được các lợi ích kinh tếchính trị và tạo điều kiện cho người dân làm ăn sinh sống được tốt nhất sẽ thành công. Ngay như Trung Quốc, khi họ giải quyết được phần nào đó sự dung hợp này, họ đã có sự tăng trưởng thần kỳ. Và giờ đây họ vẫn tiếp tục giải quyết bài toán thể chế dung hợp của họ.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

PHẦN I: NHỮNG VẪN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ THẤT BẠI THỂ CHẾ 3

PHẦN II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THẤT BẠI THỂ CHẾ Ở VIỆT NAM 5

1 Các thất bại của thể chế ở Việt Nam 5

1.1 Thông tin bất đối xứng 5

1.2 Tham nhũng 6

1.3 Sự lạm dụng quyền lực 7

1.4 Quyền tài sản không được bảo vệ 9

1.5 Khủng hoảng niềm tin 11

2 Tác động các thất bại của thể chế đến kinh tế xã hội 13

2.1 Tham nhũng 13

2.2 Làm phát sinh thêm giao dịch phi chính thức 13

2.3 Đói nghèo 14

PHẦN III: HƯỚNG GIẢI QUYẾT CHO THẤT BẠI THỂ CHẾ Ở VIỆT NAM 15

1 Đổi mới nhận thức và tư duy về hoàn thiện thể chế của Việt Nam 16

2 Hoàn thiện hệ thống pháp lý, nâng cao hiệu lực thực thi và hiệu quả tác động của hệ thống này tới môi trường kinh tế-xã hội 16

3 Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng 17

4 Cải cách bộ máy hành chính 17

5 Cải cách thủ tục hành chính 17

6 Nâng cao chất lượng dịch vụ công, tăng cường sự tương tác giữa người dân với nhà nước 18

7 Thực hiện kiểm tra, giám sát nhằm hoàn thiện thể chế 18

8 Nỗ lực phát triển nguồn nhân lực 18

9 Xây dựng thể chế mang tính định hướng, tránh can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế thị trường 19

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Giàu hay nghèo không do vị trí địa lý, không do văn hóa, cũng không phải do chúng

ta không biết giúp các nước nghèo trở nên giàu có hơn, theo 2 tác giả của cuốn sách “Vì sao các quốc gia thất bại” câu trả lời được đưa ra đó là do thể chế của quốc gia đó Thể chế nào có những điều chỉnh, cải cách để dung hợp được các lợi ích kinh tế-chính trị và tạo điều kiện cho người dân làm ăn sinh sống được tốt nhất sẽ thành công Ngay như Trung Quốc, khi họ giải quyết được phần nào đó sự dung hợp này, họ đã có sự tăng trưởng thần kỳ Và giờ đây họ vẫn tiếp tục giải quyết bài toán thể chế dung hợp của họ Các quốc gia khác nhau lại có thể chế khác nhau, do đó sự phát triển của các quốc gia không giống nhau Một quốc gia có thể chế linh hoạt, phù hợp có thể đất nước thoát khỏi tình trạng khủng và phát triển thịnh vượng Ngược lại, một thể chế yếu kém sẽ dẫn đến những hệ lụy không lường đối với xã hội và nền kinh tế của quốc gia Đó chính là những thất bại của thể chế Thất bại của thể chế như một hệ quả tất yếu của quá trình vận hành thể chế Do đó, buộc các quốc gia phải có những giải pháp nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của thất bại thể chế đối với xã hội và nền kinh tế

Bài nghiên cứu của nhóm sẽ tìm hiểu về thất bại của thể chế và liên hệ thực tế với thất bại thể chế của Việt Nam Qua đó đưa ra những giải pháp giúp cải thiện, khắc phục những thất bại của thể chế của Việt Nam

Bài nghiên cứu gồm 3 phần:

Phần 1: Những vấn đề lí luận chung về thể chế và thất bại thể chế

Phần 2: Đánh giá thực trạng thất bại thể chế Việt Nam

Phần 3: Hướng giải quyết cho thất bại thể chế ở Việt Nam

Trang 3

PHẦN I: NHỮNG VẪN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ THẤT BẠI THỂ CHẾ

- Theo cách hiểu thứ nhất, thể chế là tập hợp những quy tắc chính thức, các quy

định không chính thức hay những nhận thức chung có tác động kìm hãm, định hướng hoặc chi phối sự tương tác của các chủ thể chính trị với nhau trong những lĩnh vực nhất định Các thể chế được tạo ra và đảm bảo thực hiện bởi cả nhà nước và các tác nhân phi nhà nước (như các tổ chức nghề nghiệp hoặc các cơ quan kiểm định)

Các quy tắc chi phối sự tương tác giữa các cá nhân hay tổ chức có thể mang tính chính thức hoặc không chính thức Các quy tắc chính thức bao gồm hiến pháp, các bộ luật, điều luật, hiến chương, văn bản dưới luật… Trong khi đó các quy tắc không chính thức có vai trò mở rộng, chi tiết hóa hoặc chỉnh sửa các quy tắc chính thức và điều chỉnh hành vi của các chủ thể thông qua các chuẩn tắc xã hội (truyền thống, tập quán, những điều cấm kỵ…) hay các quy tắc ửng xử nội bộ Vai trò của các thể chế thể hiện ở chỗ chúng tạo nên một khuôn khổ mà ở đó hành động của các chủ thể trở nên dễ đoán trước hơn, cho phép các chủ thể thiết lập các kỳ vọng và giảm thiểu các rủi ro trong quá trình tương tác với nhau

Có nhiều cách khác nhau giải thích lý do tại sao các chủ thể chính trị lại tuân thủ các thể chế Một mặt, theo logic của thuyết lựa chọn duy lý, con người tuân thủ các quy định, chuẩn tắc nhằm tránh bị trừng phạt và tối đa hóa lợi ích thu được Mặt khác, trên phương diện quy phạm hay đạo đức, các chủ thể tuân thủ các chuẩn tắc theo nhận thức của họ về những hành động được coi là phù hợp hay không phù hợp đối với vai trò của họ Ví dụ, một vị bộ trưởng có thể từ chức vì một bê bối liên quan đến một bộ phận nào đó trong bộ mình phụ trách theo một quy tắc bất thành văn về hành vi được coi là phù hợp trong những trường hợp tương tự như vậy, cho dù việc từ chức này có thể tác động tiêu cực tới tương lai chính trị của vị bộ trưởng Ngoài ra, các nhà thể chế xã hội học lại cho rằng các chủ thể tuân thủ các chuẩn tắc bởi trong nhiều trường hợp họ không có một phương thức hành động thay thế nào khác Ví dụ, một vị thủ tướng có thể phản ứng trước một cuộc khủng hoảng chính trị bằng cách chỉ định một ủy ban điều tra độc lập do thẩm phán tòa

án tối cao đứng đầu Trong trường hợp này quyết định của vị thủ tướng bắt nguồn từ thực

tế rằng lựa chọn như vậy đã trở thành một phản ứng chuẩn mực đối với các cuộc khủng hoảng chính trị

- Theo cách hiểu thứ hai, thể chế là một cơ quan, tổ chức công với các cơ cấu và chức

năng được định sẵn một cách chính thức nhằm điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động nhất định áp dụng chung cho toàn bộ dân cư Đối với môt quốc gia, các thể chế chính trị bao gồm chính phủ, quốc hội và các cơ quan tư pháp Mối quan hệ giữa các thể chế này được quy định bởi Hiến pháp

Trang 4

Cũng theo cách hiểu này, trong quan hệ quốc tế, các thể chế quốc tế chính là các tổ chức quốc tế liên chính phủ được thiết lập nhằm quản lý và điều phối sự tương tác qua lại giữa các quốc gia trong những lĩnh vực vấn đề nhất định Kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, số lượng các thể chế quốc tế đã gia tăng mạnh mẽ Một số thể chế quốc tế tiêu biểu có thể kể đến bao gồm Liên Hiệp Quốc (UN), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Liên minh Châu Âu (EU)…

Sự phát triển và lớn mạnh của các thể chế quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai được nhiều nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế ghi nhận và lý giải, trong đó đáng chú ý

là các học giả theo trường phái chủ nghĩa tân tự do, hay còn gọi là chủ nghĩa tự do thể chế Mặc dù thừa nhận hệ thống quốc tế mang tính chất vô chính phủ, chủ nghĩa tân tự do lại cho rằng bối cảnh đó của hệ thống quốc tế không tạo ra sự đối đầu, cạnh tranh giữa các quốc gia mà khuyến khích họ hợp tác với nhau thông qua các thể chế quốc tế Theo

đó, các học giả của các trường phái này cho rằng các thể chế quốc tế giúp mang lại một

số lợi ích quan trọng cho các quốc gia và sự hợp tác giữa họ với nhau

 Thứ nhất, các thể chế quốc tế giúp cung cấp thông tin cho các bên tham gia, qua

đó giúp họ đưa ra được những quyết định chính sách đúng đắn nhất có lợi cho tất cả các bên

 Thứ hai, các thể chế quốc tế làm giảm các chi phí giao dịch trong quá trình giải quyết các vấn đề chung nhờ chia sẻ các nguồn lực và phối hợp hành động giữa các quốc gia

 Thứ ba, các thể chế tạo ra khuôn khổ pháp lý để điều chỉnh hành vi của các tác nhân tham gia hệ thống chính trị quốc tế Điều này có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính ổn định của hệ thống và giúp giữ gìn an ninh, hòa bình cũng như có lợi cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia Chính thể chế là yếu tố tạo nên điểm nhấn, sự khác biệt giữa mỗi quốc gia

Đó cũng chính là lí do khiến quốc gia này thất bại, quốc gia khác thì không Thể chế cũng thất bại trong việc hoàn thành vai trò của nó, dưới một số hình thức khác nhau: Những người thực thi thể chế, không rõ là vô tình hay có ý đồ, lại lạm dụng quyền lực đó

để phục vụ cho lợi ích nhóm riêng Điều này khiến thể chế ngày càng đi xa với mục đích thuần túy của nó Và hệ quả của nó là việc các quyền về tài sản không được bảo hộ, các thủ tục trở nên phức tạp, mất thời gian với số lượng chi phí "bôi trơn" chóng mặt, dần dần khiến quốc gia đó tụt hậu ngay từ sâu thẳm bên trong Kéo theo niềm tin về thể chế, chính quyền bị bào mòn trong mỗi người dân Đó chính là nguyên nhân trực tiếp khiến khoảng cách giữa các quốc gia có nền thể chế tốt và thể chế kém ngày một xa cách

PHẦN II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THẤT BẠI THỂ CHẾ Ở VIỆT NAM

Trang 5

1 Các thất bại của thể chế ở Việt Nam

1.1 Thông tin bất đối xứng

Thông tin bất cân xứng mô tả các tình huống trong đó những người tham gia tương tác trên thị trường nắm được thông tin khác nhau về giá trị hoặc chất lượng của một tài sản đang được giao dịch trên thị trường đó Tóm lại thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tin không chính xác Điều này khiến cho bên có ít thông tin hơn có những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch, đồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giao dịch Tình trạng thông tin bất cân xứng có thể xảy ra ở một số lĩnh vực như ngân hàng, thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường đồ cũ, thị trường bảo hiểm, thị trường chứng khoán…

Theo lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra trước khi tiến hành ký kết hợp đồng Các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, người mua không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên trả giá thấp hơn giá trị đích thực của hàng hóa Hậu quả là người bán cũng không còn động lực để sản xuất hàng có giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm có chất lượng thấp hơn chất lượng trung bình trên thị trường Rốt cuộc trên thị trường chỉ còn lại những sản phẩm chất lượng xấu- những “trái chanh” bỏ đi, hàng tốt bị loại bỏ, dẫn đến lựa chọn bất lợi (adverse selection) cho cả hai bên Như vậy, hiện tượng lựa chọn bất lợi

đã cản trở việc giao dịch trên cơ sở hai bên cùng có lợi Thông tin bất cân xứng còn gây

ra hiện tượng tâm lý ỉ lại (moral hazard) sau khi hợp đồng đã được giao kết nhưng một bên có hành động che đậy thông tin mà bên kia khó lòng kiểm soát, hoặc muốn kiểm soát thì cũng phải tốn kém chi phí

Ở Việt Nam, tình trạng thông tin không đối xứng là khá phổ biến và luôn là nỗi lo của thị trường và những bên tham gia vào thị trường đó

Ví dụ như thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện tượng bất cân xứng xảy ra khi: doanh nghiệp che giấu các thông tin bất lợi, thổi phồng thông tin có lợi ; doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với các nhà đầu tư; doanh nghiệp sau khi phát hành cổ phiếu không chú trọng vào đầu tư sản xuất kinh doanh mà chỉ tập trung vào việc

“làm giá” trên thị trường chứng khoán; có sự rò rỉ thông tin nội gián; một số nhà đầu tư tạo cung cầu ảo trên thị trường dẫn đến phản ánh sai lệch giá trị của doanh nghiệp; một số

kẻ xấu tung tin đồn thất thiệt cho doanh nghiệp; các cơ quan truyền thông cung cấp thông tin sai lệch; các trung gian tài chính cung cấp, xử lý thông tin không chính xác

Trang 6

Tình trạng bất cân xứng về thông tin sẽ dẫn đến việc các nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư không chính xác, gây cung cầu ảo, thị trường bong bóng và tiềm ẩn nguy cơ sụp đổ thị trường

Mặc dù đến nay chưa có những nghiên cứu định lượng nhưng có thể khái quát bức tranh toàn cảnh tình trạng bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam khá hỗn độn Điều này phù hợp với đánh giá của các chuyên gia về tình trạng thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển quá nóng, không phản ánh thực chất giá trị của doanh nghiệp và cung cầu thị trường

1.2 Tham nhũng

Tham nhũng tại Việt Nam là một vấn đề nhức nhối trong xã hội Theo định nghĩa thì

"tham nhũng" hay "tham ô" là hành vi "của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố

ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân" Trích tờ Vietnam Investment Review số 699 ngày 7/3/2005 viết thì tham nhũng tại Việt Nam đã gây "thiệt hại cho nguồn ngân sách chính phủ ước lượng 30% đầu tư hạ tầng"

Trong cuộc điều tra năm 2005, Ban Nội chính Trung ương công bố danh sách liệt kê

10 cơ quan tham nhũng phổ biến nhất Việt Nam Trong đó ba cơ quan dẫn đầu là:

1 Địa chính nhà đất,

2 Hải quan/quản lý xuất nhập khẩu

3 Cảnh sát giao thông

Theo khảo sát của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, ảnh hưởng của tham nhũng đến công chúng, ba cơ quan/tổ chức dẫn đầu là:

1 Cảnh sát

2 Giáo dục

3 Cán bộ, công chức

Ngoài ra trong số 10 cơ quan được "bầu chọn" có nhiều tham nhũng là cơ quan tài chính, thuế; cơ quan quản lý và các đơn vị trong ngành xây dựng; cơ quan cấp phép xây dựng; y tế; cơ quan kế hoạch đầu tư; cơ quan quản lý và các đơn vị trong ngành giao thông; cảnh sát kinh tế

Chỉ số của CPI sau năm 2011 thì dùng 0 đến 100 điểm Số điểm thấp là nhiều tham nhũng Con số cao là minh bạch, trong sạch Theo cuộc khảo xét năm 2012 thì điểm

số của Việt Nam tăng nhẹ từ 2,9 (thang 10) lên 31 (thang 100), nhưng vẫn bị tụt 11 bậc, không những so với các quốc gia tiên tiến mà cả với các nước lân bang trong khu vực

Cuộc khảo sát 95 quốc gia trên thế giới của Tổ chức Minh bạch Quốc tế về nạn tham nhũng năm 2013 cho biết 30% dân Việt Nam đã phải đút lót nhân viên công quyền

Trang 7

55% số người được hỏi cho rằng tham nhũng tăng lên 38% số người tin rằng các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam nhằm chống tham nhũng là không có hiệu quả

Theo Trace International, một cơ quan nghiên cứu và theo dõi nạn hối lộ thì cuộc khảo sát năm 2014 chấm điểm 197 quốc gia trên thế giới thì Việt Nam đứng hạng 188 với 82/100 điểm, thuộc nhóm 10 quốc gia tham nhũng nhất Chia thành từng tiêu chí một thì Việt Nam có những nhược điểm vì chồng tréo giữa cơ quan nhà nước và doanh thương, dẫn đến vấn đề "lại quả" và quan liêu trong việc quản lý Việt Nam cũng kém vì thiếu sự giám sát của các tổ chức dân sự Kém nhất là tình trạng thiếu minh bạch trong hành chính

1.3 Sự lạm dụng quyền lực

"Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân"; cán bộ các cấp là công bộc của nhân dân, thực hiện quyền lực do nhân dân ủy thác Đó là bản chất của xã hội ta Thế nhưng trong thực tế, khi quyền lực nhà nước được trao cho con người cụ thể thì quyền lực ấy có khi lại bị vận động theo xu hướng chủ quan của người sử dụng, trở thành đối lập với chính mình lúc ban đầu Sự tha hóa quyền lực biến quyền lực nhân dân thành quyền lực của cá nhân hay của các nhóm quyền lực, làm méo mó mục đích tự thân của quyền lực nhà nước là phục vụ nhân dân

Lạm dụng quyền lực- một biểu hiện của sự tha hóa quyền lực, biến quyền lực công thành ý chí cá nhân để trục lợi đang là hiện tượng diễn ra không phải ít trong các giới chức VN hiện nay Lạm quyền gây ra hậu quả xấu cho xã hội, làm suy yếu quyền lực nhà nước và giảm lòng tin của người dân đối với nhà nước

Chiều 5/11/2015, sau khi tuyên án vụ làm thất thoát 966 tỷ đồng xảy ra tại Agribank Chi nhánh 6, TAND TP HCM đã ra quyết định khởi tố vụ án Lạm quyền trong khi thi hành công vụ xảy ra tại Agribank Việt Nam, liên quan đến hành vi tự ý nâng quyền phán quyết cho Agribank Chi nhánh 6 dẫn đến thiệt hại

- Ngoài ra, còn gia tăng các vụ việc những cán bộ, nhân viên cơ quan nhà nước có hành vi hành hung, xúc phạm người dân, kể cả các nhà báo Đặc biệt có những vụ việc bắt giam, còng tay người dân và nhà báo đang tác nghiệp đã làm cho truyền thông và xã hội dậy sóng

 Hậu quả của lạm dụng quyền lực:

 Hầu hết những vụ người thi hành công vụ lợi dụng quyền lực công vụ để đe dọa, xúc phạm, hành hung người khác (hoặc ngược lại) chưa được xử lý triệt để, mà chỉ dừng lại ở mức phạt hành chính hoặc tự thỏa thuận giải quyết với nhau Cái hố đen khoảng cách giữa việc thụ lý "kiên quyết" ban đầu và kết quả xử lý cuối cùng ngày càng sâu hơn, rộng hơn, sẽ làm cho người ta mất lòng tin vào sự công minh và nguyên tắc bất

vị thân trong thực thi pháp luật - ít nhất là về mặt lý thuyết Do đó, những cán bộ lợi dụng

Trang 8

quyền lực công vụ để trục lợi về tinh thần, vật chất luôn trở thành gánh nặng của quá trình phát triển Việc cần có chiến lược để gỡ bỏ gánh nặng - lực lượng chống lại sự phát triển, là hết sức cần thiết

 Hiện nay , một bộ phận cán bộ bị tha hoá, biến chất làm ảnh hưởng tới đường lối của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng Sự chuyên quyền, độc đoán của một số cán bộ thoái hóa, biến chất đã gây tâm lý bức xúc trong nhân dân

 Lạm dụng quyền lực hay tựu chung là tha hóa quyền lực không những đánh mất hình ảnh tốt đẹp của các cán bộ nhà nước trước nhân dân, đánh mất niềm tin ở dân, mà còn khiến cho việc quản lý, điều hành, răn đe mất hiệu quả, từ đó pháp luật không còn là một công cụ tối cao để điều chỉnh xã hội

 Lạm dụng quyền lực làm thất thoát tiền của của xã hội, hạn chế khả năng cạnh tranh cuả quốc gia, kìm hãm, cản trở mục tiêu phát triển kinh tế

1.4 Quyền tài sản không được bảo vệ

Trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia quyền sở hữu luôn được ghi nhận là quyền dân sự cơ bản của con người Với ý nghĩa là cơ sở cho mọi quan hệ kinh tế, chi phối chế độ kinh tế trong xã hội, quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ bằng nhiều phương thức khác nhau Nước ta cũng không ngoại lệ, quyền sở hữu được bảo vệ thông qua các chế tài hành chính, trách nhiệm hình sự và biện pháp dân sự bằng việc khởi kiện vụ, việc dân sự ra Tòa án Pháp luật còn ghi nhận chủ sở hữu được tự bảo vệ, có quyền ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm hại quyền sở hữu của mình, có quyền truy tìm đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật

Tuy nhiên, trong những năm vừa qua tình hình vi phạm pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu diễn ra ở nước ta có số lượng ngày một nhiều, xảy ra ở nhiều nơi với quy mô, số lượng sản phẩm vi phạm lớn, tính chất nguy hiểm ngày càng cao Tình hình vi phạm pháp luật này được phản ánh trong các báo cáo xử lý của các cơ quan có thẩm quyền trong việc xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu trong các năm vừa qua:

Theo báo cáo của Cục cảnh sát kinh tế (Bộ Công an), riêng năm 2012, lực lượng cảnh sát kinh tế của 44 tỉnh, thành phố đã phát hiện 276 vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sản xuất buôn bán hàng giả, trong đó đã khởi tố 66 vụ, 74 bị can (có 26 vụ xâm phạm nhãn hiệu), phạt tiền hơn 2,4 tỷ đồng So với năm 2011, số vụ phát hiện đã tăng 107 vụ,

số vụ khởi tố tăng 48 vụ (năm 2011, lực lượng cảnh sát kinh tế đã phát hiện 169 vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sản xuất, buôn bán hàng giả, 214 đối tượng, trong đó đã khởi

tố 18 vụ, 30 bị can) Năm 2013, lực lượng cảnh sát kinh tế của 50 tỉnh, thành phố phát hiệu 560 vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sản xuất buôn bán hàng giả trong đó khởi tố

38 vụ với 58 bị can

Trang 9

Có thể kể đến vụ tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu có tính nghiêm trọng đang được dư luận quan tâm hiện nay như: Mì “Hảo Hạng” của Asia Foods

bị “tố” xâm phạm nhãn hiệu mì “Hảo Hảo” của Vina Acecook Nhãn hiệu của sản phẩm

mì Hảo Hảo được Vina Acecook chính thức cho ra mắt trên thị trường Việt Nam vào năm

2000 Hiện Vina Acecook là chủ sở hữu hợp pháp nhãn hiệu hàng hóa “Hảo Hảo” số

62360 cho sản phẩm mì ăn liền thuộc nhóm 30 Nhãn hiệu này cũng đã được gia hạn quyền chủ sở đến ngày 27/06/2023, theo quyết định gia hạn số 65278/QĐ-SHTT, ngày 15/11/2012 Tuy nhiên, vào cuối tháng 1/2015, thị trường xuất hiện loại mì ăn liền với phân khúc giá trung bình tương tự phân khúc mì Hảo Hảo đang lưu hành Đó là sản phẩm được sản xuất dưới nhãn hiệu “Hảo Hạng” của Công ty Cổ phần thực phẩm Á Châu – Asia Food Sản phẩm này có nhiều dấu hiệu tương tự, gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “Hảo Hảo” của Vina Acecook Như ngoài cái tên giống nghĩa, chỉ thay từ đồng âm “Hảo” bằng

“Hạng”, mẫu bì bao bì từ sản phẩm đến thùng đựng mì đều tương tự Sau đó, cục Sở hữu trí tuệ (bộ Khoa học và Công nghệ) đã có văn bản khẳng định Asia Foods đã vi phạm nguyên tắc về sử dụng mẫu không đúng như mẫu đăng ký bảo hộ, có cách trình bày tạo thành một tổng thể tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “Hảo Hảo, mì tôm chua cay” Theo các chuyên gia thương hiệu, khả năng gây nhầm lẫn của nhãn hiệu khá phổ biến trên thị trường, các vi phạm về sở hữu trí tuệ bao gồm vi phạm về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, sao chép công nghệ, sáng chế, bản quyền…Không chỉ giống nhau về kiểu dáng, mẫu mã , nhiều nhãn hiệu còn bị copy cả về logo thương hiệu, giống đến khó tin Các trường hợp ăn theo này thường rơi vào nhãn hiệu mỹ phẩm, thực phẩm, thời trang… được người tiêu dùng ưa thích

Những hành vi xâm phạm trên không những gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp mà còn có thể dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp, bởi người tiêu dùng quay lưng lại với sản phẩm của doanh nghiệp do nạn hàng giả, hàng nhái Tình trạng sản xuất buôn bán, hàng giả, hàng nhái cũng làm cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước e ngại không dám đầu tư vào Việt Nam hoặc đã đầu tư nhưng không dám mở rộng sản xuất kinh doanh Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay Cũng qua các số liệu thống kê nêu trên của các cơ quan có thẩm quyền, chúng ta cũng nhận thấy tình hình xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ngày một gia tăng, điều đó chứng tỏ các biện pháp xử lý hành chính chưa đủ hiệu quả để ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng biện pháp pháp xử lý có tính nghiêm khắc hơn để ngăn chặn loại hành vi vi phạm này

 Có thể nói, khi quyền tài sản không được bảo vệ, quan tâm đúng gây nên tình trạng bất an của chủ sở hữu, xã hội rối loạn vì luôn trong tình trạng tranh giành, chiếm đoạt

Trang 10

1.5 Khủng hoảng niềm tin

Niềm tin vào thể chế đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì ổn định xã hội, chính trị và hệ thống kinh tế Ở Việt Nam cho đến giờ chưa có nghiên cứu cũng như đo lường niềm tin của người dân vào chính phủ, song xét theo một số chỉ số về môi trường kinh doanh, chỉ số hiệu năng quản trị của chính phủ, chỉ số tham nhũng, tất cả cũng chỉ ở mức thấp và chưa được cải thiện nhiều thời gian qua Điều này cho thấy phần nào về một tình hình bất ổn kinh tế vĩ mô tiềm tàng trong dài hạn

Sự khủng hoảng niềm tin của nhân dân được thể hiện qua cảm nhận của dư luận từ các dự án, chính sách của Chính phủ gần đây Mỗi khi có bất kỳ siêu dự án nào trình ra Quốc hội, từ dự án Đường sắt cao tốc Bắc Nam đến gần đây là dự án sân bay Long Thành, thì trong dư luận vẫn còn quá nhiều băn khoăn Có thể một trong số các dự án này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thật sự, song vẫn còn một số đại biểu Quốc hội

và một bộ phận không nhỏ người dân vẫn không tin rằng, chúng có thể được triển khai thành công trong thực tế

Phong vũ biểu tham nhũng toàn cầu (GCB) của Tổ chức minh bạch quốc tế (TI) là cuộc khảo sát lớn nhất trên thế giới về quan điểm và trải nghiệm của người dân đối với tham nhũng Tại Việt Nam khảo sát được tiến hành thông qua các cuộc phỏng vấn trực tiếp với tổng cộng 1.000 người được lựa chọn ngẫu nhiên ở 15 tỉnh, thành phố thuộc cả

ba miền Bắc, Trung, Nam bao gồm cả cư dân đô thị và nông thôn Tham nhũng được cảm nhận là tăng lên ở Việt Nam, trong khi đó thì niềm tin của người dân vào nỗ lực chống tham nhũng của chính phủ lại giảm sút 55% số người được hỏi cho rằng tham nhũng tăng lên, chỉ có 18% cảm thấy tham nhũng đã giảm đi và 27% nghĩ rằng mức độ tham nhũng không thay đổi Trong khi tham nhũng được cảm nhận là đang tăng lên, những kết quả khảo sát lại cho thấy sự mất lòng tin đáng kể của người dân vào những nỗ lực chống tham nhũng của Chính phủ Chỉ có 24% số người được hỏi cho rằng những nỗ lực chống tham nhũng của Chính phủ là có hiệu quả, trong khi 38% tin rằng những nỗ lực này không hiệu quả Khi so sánh kết quả khảo sát cư dân đô thị ở 5 thành phố lớn năm 2010

và 2013, có thể thấy số người cho rằng những nỗ lực chống tham nhũng của Chính phủ không hiệu quả tăng lên nhiều trong khi con số những người nhận định những nỗ lực đó

có hiệu quả lại giảm xuống

Ngày đăng: 10/10/2021, 09:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Nhận thức của cư dân đô thị về những nỗ lực chống tham nhũng của chính phủ (năm 2013 so với 2010) - Đánh giá thực trạng thể chế việt nam và hướng giải quyết
Hình 1 Nhận thức của cư dân đô thị về những nỗ lực chống tham nhũng của chính phủ (năm 2013 so với 2010) (Trang 11)
Hình 2: Một số chỉ tiêu chi phí không chính thức - Đánh giá thực trạng thể chế việt nam và hướng giải quyết
Hình 2 Một số chỉ tiêu chi phí không chính thức (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w