1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tới lạm phát tại việt nam từ khi gia nhập WTO đến nay

173 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về các yếu tố quyết định lạm phát; - Phân tích thực trạng lạm phát và các yếu tố quyết định lạm phá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-o0o -

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỚI LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM TỪ KHI GIA NHẬP WTO ĐẾN NAY

Ngành: Kinh tế quốc tế

HOÀNG TUẤN DŨNG

Hà Nội - 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-o0o -

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỚI LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM TỪ KHI GIA NHẬP WTO ĐẾN NAY

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi trân trọng cảm ơn các thầy cô ở Khoa Kinh tế quốc tế, Khoa Sau đại học và các đơn vị có liên quan của Trường Đại học Ngoại thương đã quan tâm, tham gia góp ý kiến và hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thiện luận án

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS,TS Doãn Kế Bôn đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này

Tôi chân thành cảm ơn các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã quan tâm, giúp

đỡ và tạo điều kiện cung cấp tài liệu, thông tin về hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam, làm cơ sở quan trọng cho tôi nghiên cứu hoàn thành luận án

Tôi cũng gửi lời cảm ơn trân trọng tới tập thể lãnh đạo nơi tôi công tác

đã quan tâm hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận án

Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã luôn quan tâm, cổ vũ, động viên, tiếp thêm nghị lực cho tôi để hoàn thành luận án này

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2021

Hoàng Tuấn Dũng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Hoàng Tuấn Dũng, tác giả luận án tiến sĩ “Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tới lạm phát tại Việt Nam từ khi gia

nhập WTO đến nay” Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập

của riêng tôi Các số liệu được nêu và trích dẫn trong luận án là chính xác và trung thực Những kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được ai công bố trong các công trình khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Hoàng Tuấn Dũng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

2.1 Mục đích 5

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6

3.1 Đối tượng nghiên cứu 6

3.2 Phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Những đóng góp mới của Luận án 8

5.1 Về mặt lý luận 8

5.2 Về mặt thực tiễn 8

6 Kết cấu của Luận án 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI 11 1.1 Các nghiên cứu về lạm phát 11

1.2 Các nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát 13

1.3 Các nghiên cứu về các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến lạm phát 18

1.4 Các nghiên cứu về dự báo lạm phát 21

1.5 Khoảng trống nghiên cứu 27

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỂ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỚI LẠM PHÁT 29

Trang 6

2.1 Tổng quan về lạm phát 29

2.1.1 Khái niệm lạm phát 29

2.1.2 Phân loại lạm phát 30

2.1.3 Đo lường lạm phát 32

2.1.4 Nguyên nhân của lạm phát 36

2.1.5 Một số tác động cơ bản của lạm phát 43

2.2 Cơ sở lý luận về các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế 46

2.2.1 Khái niệm, cấp độ hội nhập kinh tế quốc tế 46

2.2.2 Chủ trương của Đảng và quá trình hội nhập KTQT của Việt Nam 47

2.2.3 Một số yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế 49

2.3 Mô hình đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế đến lạm phát 61

2.3.1 Mô hình phân tích theo quan điểm trường phái Keynes 61

2.3.2 Mô hình phân tích theo quan điểm trường phái tiền tệ 66

2.3.3 Mô hình dự kiến 70

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ CÁC YẾU TỐ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 71

3.1 Bối cảnh kinh tế của Việt Nam 71

3.2 Thực trạng lạm phát tại Việt Nam 77

3.3 Thực trạng các các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến lạm phát 80

3.3.1 Hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư 80

3.3.2 Tỷ giá VND/USD 84

3.3.3 Lãi suất tiền gửi 85

3.3.4 Giá dầu thế giới 87

3.3.5 Giá hàng hoá nhập khẩu 89

Trang 7

3.3.6 Tốc độ tăng trưởng GDP 91

3.3.7 Cung tiền M2 92

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỚI LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM TỪ KHI GIA NHẬP WTO ĐẾN NAY VÀ MỘT SỐ DỰ BÁO 95

4.1 Mô hình nghiên cứu 95

4.2 Biến số và nguồn số liệu 97

4.3 Quy trình phân tích và dự báo 104

4.4 Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát ở Việt Nam 108 4.4.1 Các kết quả kiểm định 108

4.4.2 Kết quả ước lượng và thảo luận 112

4.5 Dự báo cho lạm phát của Việt Nam 128

CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC YẾU TỐ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 131

5.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế 131

5.2 Định hướng và quan điểm kiểm soát lạm phát 135

5.3 Một số giải pháp tác động đến các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam 140

PHẦN KẾT LUẬN CHUNG 144

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 148

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển Châu Á

ASLR Long-run Aggregate Supply Tổng cung dài hạn

ASEAN Association of Southeast

FED Federal Reserve System Cục dự trữ liên bang Mỹ

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

GSO General Statistics Office Tổng cục Thống kê

GUM General Unrestricted Model Mô hình không bị ràng buộc

chung

IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế

Exporting Countries

Tổ chức các nước xuất khẩu dầu

mỏ

PPP Purchasing Power Parity Sức mua tương đương

RMSE Root Mean Square Error Sai số toàn phương trung bình

VAR Vector Autoregression Mô hình tự hồi quy véc tơ

Trang 9

VECM Vector Error Correction

Model

Mô hình vector hiệu chỉnh sai số

WTO World Trade Organisation Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Mô tả thống kê các biến 103

Bảng 4.2: Kết quả kiểm định các chuỗi 109

Bảng 4.3: Kết quả độ trễ tối ưu của các biến số 110

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định quan hệ đồng liên kết 111

Bảng 4.5: Kết quả ước ượng mô hình VECM với 3 quan hệ đồng tích hợp 112 Bảng 4.6: Kết quả kiểm định nhân quả Granger 115

Bảng 4.7: Véc tơ đồng tích hợp của lạm phát với các biến số 118

Bảng 4.8: Cơ chế hiệu chỉnh sai số 120

Bảng 4.9: Kết quả phân rã phương sai của biến lạm phát 121

Bảng 4.10: Kết quả dự báo CPI 129

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Giá tăng do cầu kéo 37

Hình 2.2: Giá tăng do chi phí đẩy 40

Hình 2.3: Mối quan hệ chữ U ngược giữa tăng trưởng và lạm phát 60

Hình 3.1: Tăng trưởng GDP tại Đông Á – Thái Bình Dương 72

Hình 3.2: Tăng trưởng GDP của Việt Nam theo quý 73

Hình 3.3: Tổng đầu tư toàn xã hội (%GDP) 74

Hình 3.4: Cán cân thanh toán quốc tế (%GDP) 75

Hình 3.5: Chỉ số giá tiêu dùng (so cùng kỳ năm trước, %) 76

Hình 3.6: Lạm phát GDP, lạm phát cơ bản và lạm phát giá sản xuất tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016 (%) 78

Hình 3.7: Tốc độ tăng cung tiền M2 tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2019 (%) 79

Hình 3.8: Tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2007 – 09/2020 81

Hình 3.9: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2007 – 09/2020 82

Hình 3.10: Lãi suất tiền gửi và tốc độ tăng CPI giai đoạn 2005 - 2019 85

Hình 3.11: Giá dầu thế giới và tốc độ tăng CPI giai đoạn 2005 - 2019 87

Hình 3.12: Chỉ số giá nhập khẩu và CPI giai đoạn 1995 - 2019 89

Hình 3.13: Tốc độ tăng trưởng GDP và CPI giai đoạn 2005 - 2019 91

Hình 3.14: Tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 và CPI giai đoạn 2005 - 2019 93 Hình 4.1: Các kênh truyền tải đến lạm phát 95

Hình 4.2: Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình 114

Hình 4.3: Phản ứng của lạm phát với cú sốc của chính nó 124

Hình 4.4: Phản ứng của lạm phát với cú sốc của cung tiền và lãi suất 124

Hình 4.5: Phản ứng của lạm phát với cú sốc của tỷ giá 126

Hình 4.6: Phản ứng của lạm phát với cú sốc của chỉ số giá nhập khẩu 127

Trang 12

Hình 4.7: Phản ứng của lạm phát với cú sốc của GDP 128 Hình 4.8: Đồ thị chuỗi CPI gốc và chuỗi CPI dự báo 129

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến và có ảnh hưởng sâu rộng đến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội Thông thường, các chính sách vĩ mô của một nền kinh tế sẽ được thực hiện xoay quanh lạm phát mục tiêu của nền kinh tế Việc nghiên cứu lạm phát để có được những cái nhìn khái quát nhất về lạm phát có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện cũng như lựa chọn chính sách điều hành giúp có được nền kinh tế quốc dân ổn định

và phát triển bền vững Do đó, việc phân tích được các yếu tố tác động đến lạm phát và dự báo lạm phát giúp các cơ quan hoạch định chính sách đưa ra các chính sách phù hợp để bình ổn giá cả thị trường, đảm bảo phát triển kinh

tế bền vững

Sự phát triển của Việt Nam trong hơn 30 năm qua rất đáng ghi nhận Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình Những năm đầu của giai đoạn 1996-2000, tăng trưởng kinh tế đạt trên 9% (9,5% và 9,3% lần lượt vào các năm 1995 và 1996) và đây là những dấu mốc quan trọng cho thời kỳ kinh tế mới Trong giai đoạn 2000-2007, hàng năm, tỷ lệ lạm phát là khá thấp với mức trung bình 5,5% mỗi năm Trong khi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đã tăng trưởng với tốc độ trung bình 7% mỗi năm Đây cũng là giai đoạn quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới được đánh dấu bằng cột mốc Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 11 năm 2007 Điều này thể hiện quan điểm mở trong hoạt động kinh tế của nền kinh tế Việt Nam đối với các nước trên thế giới Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực, sự mở cửa sâu rộng của nền kinh tế cũng sẽ có những hạn chế nhất định và cũng có những ảnh hưởng tiêu cực từ nền kinh tế thế giới tới nền kinh tế Việt Nam Những ảnh

Trang 14

hưởng tiêu cực này là những thách thức rất lớn đối với các nhà hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế vĩ mô trong nước Cụ thể, lạm phát bắt đầu có xu hướng tăng mạnh từ năm 2007 (12,63% so với cùng kỳ năm trước)

và năm 2008 (19,98% so với cùng kỳ năm trước) là năm lạm phát cao nhất kể

từ khi Việt Nam thực hiện đổi mới Trước tình hình đó, chính phủ Việt Nam

đã phải thực hiện chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) thắt chặt để kiềm chế lạm phát Lạm phát năm 2009 chỉ khoảng 6,5% và tăng trưởng kinh tế năm 2009 thấp hơn nhiều so với kỳ vọng ban đầu, đạt khoảng 5,4% và không đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế Do vậy, chính phủ đã thực hiện kích thích tăng trưởng thông qua gói kích cầu Các ngân hàng thiếu tiền mặt đã tăng lãi suất tiền gửi để thu hút dòng tiền trong dân Do đó nửa cuối năm 2009 giá bắt đầu tăng trở lại kéo theo xu hướng tăng lạm phát trong năm 2010 (11,9%) và trở nên nghiêm trọng trong năm 2011 (18,1%) hơn 2,5 lần so với mục tiêu ban đầu là 7% của Chính phủ Trong năm 2011, trước diễn biến lạm phát tăng cao, chính phủ đưa ra Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 nhằm kiềm chế lạm phát, đây là một trong những chính sách đặc biệt quan trong đối với mục tiêu kiểm soát và phát triển kinh tế Theo đó, lạm phát đã giảm đáng kể trong ba quý đầu của năm 2012 làm cho lạm phát cả năm 2012 xuống còn 6,8% và năm 2013 lạm phát chỉ khoảng 6,6% Từ năm 2014 đến nay, lạm phát đang có xu hướng ổn định, tuy nhiên, chính phủ vẫn đang thực hiện các chính sách tài khóa và các chính sách tiền tệ thận trọng để kiểm soát lạm phát và tránh sự bùng nổ lạm phát gây bất ổn kinh tế vĩ mô

Năm 2019, kinh tế Việt Nam tiếp tục cho thấy nền tảng mạnh mẽ và khả năng chống chịu cao, nhờ nhu cầu trong nước và sản xuất định hướng xuất khẩu vẫn ở mức cao Số liệu sơ bộ cho thấy GDP thực tăng khoảng 7% trong năm 2019, gần với tỉ lệ tăng trưởng năm 2018 và Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực

Trang 15

Do hội nhập kinh tế sâu rộng, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19 Tuy nhiên, tác động y tế của dịch bệnh không nghiêm trọng như nhiều quốc gia khác, nhờ có các biện pháp đối phó chủ động ở cả các cấp trung ương và địa phương Trong khi kinh tế vĩ mô và tài khóa ổn định với mức tăng trưởng GDP ước đạt 3,8% trong quý đầu năm

2020, và nửa đầu năm 2021, tác động của cuộc khủng hoảng COVID-19 đang diễn ra là khó dự đoán, tùy thuộc vào quy mô và thời gian kéo dài của dịch bệnh Yêu cầu lên tài chính công sẽ gia tăng do thu ngân sách giảm xuống trong khi chi ngân sách tăng lên do cần khởi động gói kích cầu để giảm thiểu tác động của đại dịch đối với các hộ gia đình và doanh nghiệp Nhờ có nền tảng cơ bản tốt và nếu tình hình dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát ở Việt Nam cũng như trên thế giới, kinh tế Việt Nam vẫn tăn trưởng ở mức 4.8% năm 2021 theo dự báo của Ngân hàng thế giới ngày 248/2021 và dự báo nền kinh tế vẫn có thể mức tăng trưởng từ 6,5 đến 7% năm 2022 trở đi (WB, 2021) COVID-19 cũng cho thấy cần phải cải cách mạnh mẽ hơn để giúp kinh

tế phục hồi trong trung hạn, như cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy kinh tế số, nâng cao hiệu quả đầu tư công, đây là các nội dung chính mà Việt Nam cần cân nhắc để cải cách nhanh và mạnh hơn

Bên cạnh đó, lạm phát năm 2019 đã được kiểm soát được dưới 3%, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu Quốc hội giao là 4% Nhìn nhận đánh giá về CPI và lạm phát năm 2019 không chỉ để khẳng định thành tích kiểm soát tốt lạm phát trong mấy năm gần đây mà quan trọng hơn là rút ra những kinh nghiệm và cảnh báo về nguy cơ lạm phát trong tương lai, nhằm kiểm soát được lạm phát trước mọi biến động cả trong cũng như ngoài nước

Trước kết quả khả quan của chỉ số giá trong năm 2019, các chuyên gia kinh tế khẳng định: năm 2019 được coi là thành công trong việc kiểm soát lạm phát của Việt Nam, bình quân năm 2019 chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,79%

so với cùng kỳ năm 2018 Đây là mức tăng bình quân thấp nhất trong 3 năm

Trang 16

gần đây Mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ CPI bình quân năm 2019 dưới 4%

đã đạt được trong bối cảnh điều chỉnh được gần hết giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý đặt ra trong năm Như vậy, trong 3 năm liền Việt Nam đã đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng GDP đạt mức khả quan; lạm phát được kiềm chế ở mức thấp Nền kinh tế đã thành công đạt “mục tiêu kép” là vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, vừa thúc đẩy tăng trưởng GDP, tạo thêm dư địa để thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội Đây là nhận định nhận được sự đồng tình của nhiều chuyên gia kinh tế

Tuy nhiên, Kinh tế Việt Nam năm 2020 lạm phát ở mức 3,23%, tăng trưởng ở mức 2,91 trước làn sóng Covid 19 lần thứ 4 bắt đầu đầu sau khi kỳ nghỉ lễ 30/4 và trước tình hình diến biến dịch rất phức tạp tại Thành phố Hồ Chí Minh, đầu tầu kinh tế của cả nước, 6 tháng đầu năm 2021 lạm phát ở mức 1,47%, tăng trưởng vẫn đạt 5,64% cao hơn mức 1,82% của 6 tháng đầu năm

2020 trong bối cảnh nền kinh tế phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức: dịch COVID-19 diến biến phức tạp, tỷ lệ thất nghiệp tăng, hạn hán, xâm nhập mặn ảnh hưởng năng suất cây trồng, giá thịt lợn tăng mạnh, v.v… Những điều này đã tác động lớn đến thị trường giá cả và kiểm soát lạm phát Trong bối cảnh đó, kiểm soát lạm phát vẫn được xem là mục tiêu hàng đầu trong quản lý điều hành kinh tế vĩ mô Để làm được điều này cần phân biệt ra hai loại tác động lên lạm phát: tác động mang tính sốc ngắn hạn, loại thứ hai

là các tác động dài hạn Ví dụ như mức giá một số mặt hàng trong tháng Tết thường tăng cao do nhu cầu đột biến trong dịp tết hay mức giá vé các phương tiện giao thông như tàu hỏa, xe khách, máy bay thường tăng cao trong dịp nghỉ lễ do nhu cầu đi lại của người dân tăng Sau Tết hay sau dịp nghỉ lễ, thông thường mức giá sẽ bình ổn trở lại Nếu vì lý do mức giá tăng cao này

mà các cơ quan điều hành chính sách đưa ra các chính sách đối phó chẳng hạn như thắt chặt tiền tệ thì sẽ là một sai lầm vì nó sẽ có tác hại đình đốn sản xuất

mà không đưa lại lợi ích nào cho nền kinh tế

Trang 17

Như vậy, nghiên cứu đánh giá các yếu tố tác động đến lạm phát nhằm tìm ra các yếu tố chính yếu tác động đến lạm phát, từ đó có chính sách điều tiết hợp lý vẫn là bài toán đặt ra trong bối cảnh mới Ngoài ra, dự báo lạm phát nhằm giúp các cơ quan điều hành chính sách đưa ra các chính sách phù hợp để bình ổn giả cả thị trường và đảm bảo phát triển kinh tế bền vững là những mục tiêu cần thiết Mặc dù chủ để các yếu tố quyết định làm phát và dự báo lạm phát đã được nghiên cứu trong nhiều công trình trước đây nhưng trong bối cảnh mới những kết quả nghiên cứu đó không còn phù hợp

Chính vì những lý do nêu trên, Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tới lạm phát tại việt nam từ khi gia nhập WTO đến nay” làm chủ đề nghiên cứu Luận án tiến sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về các yếu tố quyết định lạm phát;

- Phân tích thực trạng lạm phát và các yếu tố quyết định lạm phát tại Việt Nam;

- Dự báo được lạm phát của Việt Nam đến hết quý 4 năm 2021;

Đề xuất một số giải pháp nhằm kiểm soát ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập đến lạm phát ở Việt Nam

Trang 18

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các yếu tố hội nhập kinh tế quốc

tế ảnh hưởng đếnlạm phát

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu một số yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến lạm phát tại Việt Nam Nghiên cứu sẽ xem xét các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam trong tổng thể các yếu tố tác động đến lạm phát Bên cạnh đó, luận án bước đầu dự báo về lạm phát của Việt Nam nhằm góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn toàn diện trong việc kiểm soát lạm phát trong thời gian tới

- Về không gian: Luận án nghiên cứu các vấn đề tại Việt Nam

- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu giai đoạn từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay (2007 – 2020), trong đó quan điểm và các đề xuất, kiến nghị đến năm 2025 tầm nhìn 2030

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong quá trình thực hiện luận án, tác giả sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng để phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, kết luận …, cụ thể như sau:

Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này dùng để tổng

hợp và phân tích các vấn đề lý luận về lạm phát, hội nhập kinh tế quốc tế, và phân tích cá yếu tố tác động đến lạm phát nhằm tìm ra quy luật, mức độ tác động của từng yếu tố đến lạm phát

Phương pháp quy nạp và diễn giải: Phương pháp này được sử dụng

nhằm thu thập, rà soát các tài liệu, số liệu, liên kết các yếu tố rời rạc, tác động

Trang 19

đến lạm phát để tìm ra quy luật, bản chất của chúng và rút ra các kết luận cần thiết phục vụ cho dự báo lạm phát Phương pháp diễn giải được sử dụng để chứng minh các biểu hiện trong thực tế của các lý thuyết và giả thuyết đã đặt

ra có liên quan tới lạm phát và các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát

Phương pháp thống kê, mô tả: Phương pháp này được sử dùng nhằm

tổng hợp, mô tả và đánh giá thực trạng lạm phát, thực trạng của các yếu tố có ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu định lượng: Để đánh tác động của các yếu tố

đến lạm phát và dự báo lạm phát, NCS sử dụng mô hình hệ véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) dạng như sau:

CPIt = F(GDPt ; M2t ; ERt ; IRt ; POILt ; PIt )Trong đó, CPIt là lạm phát của Việt Nam trong thời gian t, GDPt là tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam trong thời gian t, M2t là cung tiền của Việt Nam trong thời gian t; ERt tỷ giá chính thức của Việt Nam trong thời gian t; IRt lãi suất cho vay của ngân hàng trong thời gian t; POILt giá dầu thế giới trong thời gian t; PIt chỉ số giá nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian t

Để ước lượng và dự báo bằng mô hình VECM, cần thực hiện một số kiểm định trước và sau ước lượng như là kiểm định tính dừng của chuỗi, lựa chọn độ trễ của tối ưu của mô hình, kiểm tra tính ổn định của mô hình và kiểm tra quan hệ nhân quả của các biến số

Về Mô hình VECM dự kiến có thể xét mô hình VAR(p) có dạng như sau:

Yt = A1Yt-1 +A2Yt-2 +…+ApYt-p + Ut

Ta biến đổi, việt lại mô hình thành:

∆Yt = Yt – Yt-1 = ∏Yt-1 + C1∆Yt-1 + C2∆Yt-2 +…+ Cp∆Yt-p +Ut

Trang 20

Trong đó ∏ = - (I – A1 – A2 -…- Ap); Ci = -∑Aj (j = i+1 →p), 1,2,…p-1; ∏Yt-1 là phần hiệu chỉnh sai số của mô hình; p là bậc tự tương quan (hoặc số trễ), Mặt khác, ∏ ≡  X β’

i-5 Những đóng góp mới của Luận án

5.1 Về mặt lý luận

Một là, nghiên cứu đã góp phần tổng kết, phân tích và đánh giá các lý

thuyết, các kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát và dự báo lạm phát Vì vậy, kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ có những đóng góp nhất định vào việc hệ thống hóa và phát triển các lý luận về lạm phát cũng như các quan điểm lý thuyết về các yếu tố quyết định lạm phát

Hai là, luận án xây dựng được mô hình phân tích các yếu tố tác động

đến lạm phát tại Việt Nam, đặc biệt là các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam

Ba là, luận án góp phần củng cố mô hình dự báo cho lạm phát của Việt

Nam

5.2 Về mặt thực tiễn

- Luận án khẳng định tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa lạm phát và các

biến số như tăng trưởng, cung tiền, tỷ giá, lãi suất, chỉ số giá nhập khẩu và giá dầu Trong đó trừ lãi xuất có tác động ngược chiều, các biến số khác đều có tác động dương lên lạm phát Tác động của tăng trưởng, tỷ giá và chỉ số giá nhập khẩu lên lạm phát là mạnh nhất và tác động của giá dầu là yếu nhất

- Trong cơ chế hiệu chỉnh sai số, ở mối qua hệ đồng tích hợp thứ nhất

cơ chế hiệu chỉnh sai số chỉ tồn tại đối với các biến số lãi suất (IR) và chỉ số giá nhập khẩu (PI) Trong mối quan hệ đồng tích hợp thứ hai, duy nhất biến các biến tỷ giá (ER) có phản ứng Cuối cùng, trong mối quan hệ đồng tích

Trang 21

hợp thứ ba, tất cả các biến số đều phản ứng nhằm loại bỏ sự mất cân bằng trong mối quan hệ dài hạn giữa chúng sau mỗi thời kỳ

- Mức độ đóng góp của các cú sốc tới lạm phát cho thấy, lạm phát bị ảnh hưởng lớn nhất bởi chính cú sốc của nó, bắt đầu ở thời kỳ thứ 2, hay nói

cụ thể lạm phát chịu ảnh hưởng của cú sốc của chính nó tới 95,7% và giảm dần đến thời kỳ thứ 20 khoảng 33,80 % Tiếp theo cú sốc của tỷ giá và tăng trưởng là những biến có tác động lớn tới lạm phát

- Kết quả dự báo lạm phát của Việt Nam từ quý 1 năm 2020 đến quý 4 năm 2021 lần lượt là: 101,29%; 100,75%; 100,69%, 101,27%; 100,72%, 100,66% và 100,79%

6 Kết cấu của Luận án

Ngoài Lời cảm ơn; Lời cam đoan; Danh mục chữ viết tắt; Danh mục các bảng, biểu đồ, hình vẽ; Phần mở đầu; Kết luận và Kiến nghị; Danh mục các công trình công bố kết quả nghiên cứu của đề tài Luận án; Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án bao gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế tới lạm phát

Chương 3: Thực trạng lạm phát và các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế

ảnh hưởng tới lạm phát tại Việt Nam

Chương 4: Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc

tế tới lạm phát tại Việt Nam từ khi gia nhập WTO đến nay

Chương 5: Một số giải pháp nhằm kiểm soát tác động của các yếu tố

hội nhập kinh tế quốc tế tới lạm phát tại Việt Nam

Trang 23

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI

Lạm phát được đề cập đến rất nhiều trong các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm cho từng nước cụ thể Một số nghiên cứu các ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế và phúc lợi trong khi một số khác nghiên cứu về các yếu

tố quyết định lạm phát, một số nghiên cứu nhằm dự báo cho lạm phát NCS sẽ tập trung tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài, như: lạm phát, các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát, các yếu tố hội nhập KTQT ảnh hưởng đến lạm phát và các nghiên cứu về dự báo lạm phát

- Nghiên cứu của Ngô Trí Long (2000), Giá cả thị trường năm 1999

và 9 tháng đầu năm 2000: Thực trạng, nguyên nhân và những giải pháp ổn định, Hội thảo về Lạm phát, Giảm phát và Tăng trưởng kinh tế, Đại học Kinh

tế quốc dân

Các nghiên cứu này nhìn chung đã đề cập khá trực diện vấn đề phải kiểm soát lạm phát và giá cả ở Việt Nam, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá định tính, dựa trên các số liệu có sẵn

- Các nghiên cứu khác cũng khá công phu về lạm phát có thể kể đến là nghiên cứu của Nguyễn Cao Đức (2006), Các yếu tố quyết định lạm phát ở Việt Nam dựa trên cách tiếp cận tiền tệ, Nghiên cứu Nguyễn Đại Lai (2000),

đề xuất chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2001 đến

2010 và vấn đề kiểm soát lạm phát trong mối quan hệ với các chỉ tiêu kinh tế

Trang 24

vĩ mô ở Việt Nam, trong Hội thảo về Lạm phát, Giảm phát và Tăng trưởng

kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân

- Một tác giả có rất nhiều nghiên cứu có giá trị về lạm phát đó là Nguyễn Văn Công (2001), Xử lý lạm phát nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

ở Việt Nam giai đoạn 2001-2005, Đề tài cấp bộ, Mã số: B2000 -38 - 65, hay Nguyễn Văn Công (2005), Nhận diện lạm phát ở Việt Nam năm 2004, Tạp chí Tài chính, hay Nguyễn Văn Công (2005), Bàn về tỉ lệ lạm phát tối ưu ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính

Về các nghiên cứu ở nước ngoài, có thể nói rất nhiều tài liệu và các nghiên cứu ngoài nước về các yếu tốảnh hưởng đến lạm phát, ảnh hưởngcủa lạm phát lên tăng trưởng kinh tế Có thể kể ra một số nghiên cứu chính rất nổi tiếng như nghiên cứu của:

- Bruno, M (1995) Inflation, Growth and Monetary Control: linear Lessons from Crisis and Recovery, Cambridge, Mass, Mit Press,

Non Nghiên cứu của Commander, S (1991) Managing inflation in Social Economies in Transition, Economic Development Institute of the World Bank đánh giá về các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong quá trình chuyển đổi

- Nghiên cứu về kinh nghiệm lạm phát từ 6 nước đang phát triển của Dhakal, D and Kandil, M (1993) 'The Inflationary Experiences of Six Developing Countries in Asia: An Investigation of Underlying Determinants', Applied Economics 25(3), March

Hoặc, các bài viết kinh điển về lạm phát của chuyên gia lạm phát thế giới Friedman, M (1970) ‘The Counter-Revolution in Monetary Theory’, Institute of Economic Affair, Accasioanl Paper, No 33, hay viết về vấn đề lạm phát và tăng trưởng cách thức giải quyết hài hòa của nhóm tác giả Ghosh,

A and S Phillips (1998) ’Warning: Inflation May Be Harmful to Your Growth', IMF Staff Paper, Vol.45

Trang 25

Tác giả Khan, M.S and A.S Senhaji (2000) 'Threshold Effects in the Relationship between Inflation and Growth', IMF Working Paper, Vol 110 đã đưa ra mức ngưỡng cho mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế

Nhìn chung các nghiên cứu thường tập trung nghiên cứu các nước ở tầm vĩ mô, theo nhóm hoặc theo khối, hầu như không có nghiên cứu nào tập trung vào Việt Nam đặc biết quá trình hội nhập với các yếu tốhội nhập như dòng vốn, tỷ giá, nhập khẩu ảnh hưởng đến lạm phát

Tóm lại, các nghiên cứu trong và ngoài nước có thể lý giải và đưa ra những nguyên nhân khác nhau của lạm phát dựa trên các đánh giá và tổng kết của họ, tuy nhiên nguyên nhân lạm phát có thể đánh giá trên góc độ ngắn hạn

đó là trên quan điểm tổng cung, tổng cầu dưới ba nguyên nhân cơ bản là cầu kéo, chi phí đẩy và kỳ vọng Tuy nhiên góc độ dài hạn, đặc biệt nghiên cứu trong thời gian dài, với các yếu tố hội nhập đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO là hầu như chưa có nghiên cứu nào đề cập đến Tuy vậy, các nghiên cứu trên thế giới cả định tính và định lượng đều là những gợi ý rất tốt cho việc nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kiềm chế và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

1.2 Các nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát

Trước tiên, để thảo luận về các yếu tố quyết định lạm phát cần nhắc đến các ý tưởng và các mô hình kinh điển được xây dựng bởi các nhà kinh tế nổi tiếng Lý thuyết về làm phát hiện nay chủ yếu dựa trên mô hình đường Phillips do Phillips (1958) và Liipsey (1950) phát hiện dựa trên giả định rằng

tỷ lệ thất nghiện và tỷ lệ lạm phát có một mối quan hệ ổn định và tỷ lệ nghịch

Friedman (1960) và Phelps (1967) sau đó đã bổ sung vai trò của kỳ vọng (thích ứng) về lạm phát vào mô hình và phân biệt giữa đường Phillips ngắn hạn và đường Phillips dài hạn Tuy nhiên, trong những năm 1970, các kết quả thực nghiệm lại không ủng hộ mô hình đường Phillips và Sargent

Trang 26

(1971) và Lucas (1972) đã lên tiếng chỉ trích mô hình đường Phillips Họ cho rằng không có sự đánh đổi hệ thống giữa lạm phát và thất nghiệp

Sau đó, dựa trên một loạt những phê phán, đường Phillips đã liên tục được chỉnh sửa bởi Fischer (1977) và Taylor (1979), những người đã đưa sự cứng nhắc danh nghĩa vào mô hình, Calvos (1983) người đã mô hình hóa việc điều chỉnh giá ngẫu nhiên và Gali và Gertler (1999) những người đã đưa lao động vào mô hình Kết quả của những điều chỉnh liên tiếp này là đường Phillips mới New-Keynesian Phillips Curve (NKPC) đã được xây dựng với các đặc điểm về kỳ vọng nghĩa là lạm phát được quyết định bởi các yếu tố kỳ vọng trong tương lai Tuy nhiên, NKPC đã lại phải điều chỉnh lại khi một loạt các bằng chứng đáng tin cậy cho thấy rằng tỷ lệ lạm phát hiện tại còn phụ thuộc vào các tỷ lệ lạm phát trong quá khứ Woodford (2003), Christiano và cộng sự (2005) là những nghiên cứu đưa các giá trị quá khứ của lạm phát vào

mô hình đường Phillips Mô hình NKPC lại bao gồm cả những đặc điểm kỳ vọng tương lại và những giá trị quá khứ của lạm phát và cả một biến đo lường

áp lực của lạm phát do tồn tại dư cầu trong hệ thống

Trái nghịch với quan điểm của trường phái Keynes rằng kinh tế thực rất không ổn định và việc quản lý cung tiền hầu như không có ảnh hưởng đến nền kinh tế thực, trường phái tiền tệ cho rằng nền kinh tế thực là khá ổn định nhưng có thể bị bất ổn do những biến động trong cung tiền và vì vậy chính sách tiền tệ có ý nghĩa quan trọng Họ lý luận rằng, sự gia tăng không tính toán trước của cung tiền sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn so với

dự đoán dẫn đến giảm tỷ lệ thất nghiệp (quy luật Okun), do đó làm tăng lạm phát thông qua đường Phillips Sự gia tăng không tính toán trước của cung tiền có thể do việc in tiền quá mức nhằm tài trợ ngân sách hoặc cho khu vực

tư nhân vay quá mức

Trang 27

Tất cả các mô hình dựa trên ba cách tiếp cận trên đều đã được sử dụng, kiểm nghiệm và phê phán rất nhiều trong những nghiên cứu sau đó Cách tiếp cận PPP bị phê phán là quá giản đơn, bỏ qua chi phí giao dịch (chi phí vận chuyển và những chi phí do các rào cản thương mại và phi thương mại tạo nên), bỏ qua khu vực kinh tế phi thương mại và áp dụng một phương pháp chỉ

số giá chung cho tất cả các nước Các bằng chứng xác định lý thuyết PPP ở các nước đang phát triển là không đồng nhất với lý thuyết này, đúng hơn ở những nước gần nhau hơn về địa lý và có mối quan hệ thương mại chặt chẽ hơn, hoặc ở những nước lạm phát cao với tóc độ phá giá nhanh (Akinboade

và cộng sự, 2004)

Cách tiếp cận của các nhà kinh tế học tiền tệ bị phê phán là không tính đến tính chất cứng nhắc về cơ cấu và các cú sốc thực tế (các yếu tố chi phí đẩy), trong khi những yếu tố này đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng ở các nướcđang phát triển vởi các nhà kinh tế học cơ cấu Bản thân phương pháp tiếp cận của các nhà kinh tế học cơ cấu lại bị phê phán là thiếu nhiều yếu tố về mặt cầu đã được các nhà kinh tế học tiền tệ đưa ra Do đó, đã

có nhiều nỗ lực nhằm khắc phục những điểm bị chỉ trích trong cách tiếp cận

kể trên Một nghiên cứu điển hình gần đây về các yếu tố quyết định lạm phát trong một nền kinh tế nhỏ và mở thường sử dụng cả ba cách tiếp cận Ví dụ, Chhibber (1991), đã xây dựng mô hình lạm phát và bình quân gia quyền của lạm phát của hàng hóa thương mại, lạm phát của hàng hóa phi thương mại và lạm phát của các hàng hóa bị kiểm soát và áp dụng nó cho một loạt các nước Châu Phi Lạm phát hàng hóa thương mại được mô phỏng theo cách tiếp cận PPP Lạm phát hành hóa phi thương mại được mô phỏng dựa trên các yếu tố chi phí đẩy và cầu kéo của lạm phát

Bên cạnh đó, Akinboade và cộng sự (2004) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát với thị trường tiền tệ, thị trường lao động và thị trường ngoại hối ở Nam Phi Các tác giả này chỉ ra rằng, sư gia tăng của chi phí lao động

Trang 28

và cung tiền mở rộng có ảnh hưởng làm tăng lạm phát và tỷ giá hiện hữu có ảnh hưởng ngược chiều đến lạm phát trong ngắn hạn Trong dài hạn, kết quả cũng chỉ ra rằng lạm phát tỷ lệ nghịch với lãi xuất và tỷ lệ thuận với cung tiền

mở rộng Các tác giả cũng lưu ý rằng, chính quyền Nam Phi hầu như không

có kiểm soát đối với các yếu tố quyết định lạm phát này khiến cho việc đạt được lạm phát mục tiêu là rất khó thực hiện

Sau đó, Jongwanich và Park (2008) nghiên cứu các yếu tố quyết định lạm phát ở 9 nước đang phát triển ở Châu Á (trong đó có Việt Nam) bằng một

mô hình kết hợp các yếu tố chi phí đẩy (lạm phát trong giá dầu và giá lương thực thực phẩm quốc tế) và các yếu tố cầu kéo (dư cầu, mức chuyển tỷ giá vào lạm phát, giá nhập khẩu, chỉ số giá người sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng) Trong đó, các yếu tố giá dầu, tỷ giá, giá nhập khẩu được xác định là những yếu tố đại diện cho hội nhập Các tác giả đã chỉ ra rằng giai đoạn lạm phát gia tăng ở Châu Á 2007 -2008 chủ yếu là do dư cung và kỳ vọng lạm phát cầu kéo chứ không phải do các nhan tố chi phí đẩy mặc dù lạm phát giai đoạn này trung hợp với sự gia tăng của giá lương thực thực phẩm và giá dầu thế giới Tổng cồng tăng mức và chính sách tiền tệ nới lỏng kéo dài nhiều năm khiến kỳ vọng lạm phát tăng lên và gây bùng phát lạm phát ở các nước này

Mặt khác, nghiên cứu của Farhad Taghizadeh-Hesary và Naoyuki Yoshino (2016), nghiên cứu ảnh hưởng của biến động giá dầu đến tăng trưởng kinh tế và chỉ số CPI các nước mới nổi và phát triển Trong đó, giá dầu được tác giả sử dụng như một yếu tố hội nhập Tác giả dùng phương pháp SVAR đánh giá ảnh hưởng nhân quả, kết quả cho thấy biến động giá dầu có ảnh hưởng lên tăng trưởng nhiều ở các nước phát triển hơn các nước mới nổi

và ảnh hưởng của giá dầu đến lạm phát của Trung Quốc là cao hơn các nước phát triển khác

Trang 29

Tại Việt Nam liên quan đến chủ đề này, một trong những nghiên cứu định lượng đầu tiên là của Võ Trí Thành và cộng sự (2001) Các tác giả sử dụng số liệu từ năm 1992 đến năm 1999 trong một mô hình tự hồi quy véc tơ (VAR) với sai số ECM (error correction terms) để nghiên cứu các mối quan

hệ giữa tiền tệ, CPI, tỷ giá và giá trị sản lượng công nghiệp thực tế Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiền tệ chịu ảnh hưởng của lạm phát và sản lượng nghĩa là chính sách tiền tệ có tính bị động trong giai đoạn nghiên cứu Tỷ giá cũng có ảnh hưởng đến lạm phát trong khi cung tiền không có ảnh hưởng đến các biến động trong tương lai của giá cả

Tuy nhiên, một nghiên cứu của IMF (2006) sử dụng số liệu theo quý từ năm 2001 đến năm 2006 cho thấy vai trò quan trọng của tiền tệ đối với lạm phát Mặc dù kết quả của nghiên cứu này bị hạn chế do số lượng quan sát tương đối nhỏ, nhưng nghiên cứu đã khẳng định rằng tốc độ tăng cung tiền và tín dụng bắt đầu có mối quan hệ với lạm phát từ năm 2002 Có thể giải thích một phần cho sự thay đổi trong kết quả này bằng việc tự do hóa của một loạt các loại giá cả quan trọng trong những năm 2000 Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng trong khi kỳ vọng lạm phát và khoảng cách sản lượng có ảnh hưởng đến lạm phát thì các cú sốc giá dầu và tỷ giá có ít vai trò trong việc giải thích biến động của lạm phát trong giai đoạn nghiên cứu Thêm vào đó, lạm phát ở Việt Nam thường kéo dài hơn những nước khác trong khu vực Điều này cho thấy rằng một khi người dân đã có kỳ vọng về lạm phát, việc kiểm soát nó thường khó khăn hơn Tính trì trệ này của lạm phát có thể là kết quả của việc người dân vẫn còn nhớ rõ tình trạng siêu lạm phát kéo dài từ giữa những năm 1980 đến đầu những năm 1990 Đồng thời hiệu ứng Balassa-Samuelson đối với lạm phát cũng không lớn nghĩa là ngay cả khi tốc độ tăng năng suất lao động cao hơn trong khu vực thương mại, vẫn không có đủ bằng chứng chứng tỏ giá của khu vực thương mại tăng cao hơn so với khu vực phi thương mại

Trang 30

Ngoài ra, Trần Thị Thùy Anh (2014) nghiên cứu về tác động của cung tiền đến lạm phát ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013 Trong

đó, chủ yếu tác giả mô tả quan hệ giữa cung tiền và lạm phát, cũng như đánh giá tác động của lạm phát đến các khía cạnh kinh tế và xã hội Nghiên cứu sử dụng hoàn toàn phương pháp tổng quan lịch sử và mô tả không định lượng các quan hệ này

Nghiên cứu của Phan Lê Trung và Phạm Lê Thông (2014), nghiên cứu này nhằm phân tích các yếu tố tác động đến lạm phát trong giai đoạn 1992-

2012, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát Kết quả ước lượng mô hình véc tơ điều chỉnh sai số VECM với các biến số chỉ số giá tiêu dùng CPI, GDP, lượng cung tiền M2, tín dụng, lãi suất, tỷ giá, giá dầu và giá gạo quốc tế cho thấy lạm phát ở Việt Nam chịu tác động nhiều bởi lạm phát

kỳ vọng và tỷ giá hối đoái Trong ngắn hạn, chính sách tiền tệ không phản ứng nhanh và hiệu quả trong vệc kiềm chế lạm phát ở Việt Nam

1.3 Các nghiên cứu về các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến lạm phát

Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm khẳng định vai trò quan trọng của các yếu tố tiền tệ đối với lạm phát trong dài hạn Trong ngắn hạn, các yếu

tố tiền tệ, lạm phát trong quá khứ, thâm hụt ngân sách và tỷ giá là những yếu

tố góp phân gây sức ép lạm phát Những ví dụ điển hình bao gồm Chhibber (1991) về lạm phát Châu Phi, Lin và Papi (1997) về lạm phát Thổ Nhĩ Kỳ, Laryea và Sumaila (2001) về lạm phát ở Tanzania, Akinboade và cộng sự (2004) về lạm phát ở Nam Phi, Lehayda (2005) về lạm phát ở Ukraine và Jonguanich và Park (2008) về lạm phát ở các nước đang phát triển ở Châu Á

Tuy nhiên, những nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá và phạm phát lại

có kết quả trái ngược nhau Như nghiên cứu của Chhibber (1991) chỉ ra rằng ảnh hưởng của việc phá giá tới lạm phát phụ thuộc vào độ linh hoạt của tỷ giá,

Trang 31

độ mở của tài khoản vốn và mức độ kiểm soát giá Thêm vào đó, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố chi phí đẩu và mang tính cơ cấu như việc định giá theo đọc quyền nhóm và áp lực với chi phí của việc tăng lương và phá giá cũng đem lịa những kết quả trái ngược nhau Một số nghiên cứu cho thấy rằng yếu tố đôn giá một mình nó không giải thích được việc lạ phát kéo dài và đôn giá có ít ảnh hưởng đến lạm phát Trong khi đó những nghiên cứu khác lại cho thấy ảnh hưởng tương đối lớn của việc tăng chi phí lao động đến lạm phát trong dài hạn Lim và Papi (1997), Chhibber (1991), Akinboade và cộng sự (2004) và Leheyda (2005) là những trường hợp điển hình

Mặt khác, nghiên cứu của Bodart (1996) về ảnh hưởng của việc cải cách tỷ giá lên lạm phát ở một nước nhỏ và mở bằng cách kết hợp giữa quan điểm tài khóa với các chế độ tỷ giá khác nhau Nghiên cứu cho thấy chế độ neo tỷ giá có điều chỉnh tý giá chính thức chỉ có ảnh hưởng ngắn hạn đối với lạm phát trong khi phá giá lại có ảnh hưởng dài hạn hơn đối với lạm phát phát dưới chế độ điều chỉnh tỷ giá chỉnh tỷ giá chính thức liên tục theo tỷ giá thị trường tự do Đồng thời, sự gia tăng dài hạn của thâm hụt ngân sách cũng dẫn đến lạm phát kéo dài hơn

Hay, nghiên cứu của Ito và Sato (2007) xem xét ảnh hưởng của tỷ giá vào lạm phát ở các nước Châu Á sau khủng hoảng 1997 và chỉ ra rằng mặc dù ảnh hưởng của khủng hoảng làm tăng giá nhập khẩu nhưng mức ảnh hưởng đến CPI là tương đối thấp (trừ Indonesia)

Nghiên cứu của Byung – Yeon Kim (2001) nghiên cứu ảnh hưởng tương đối của tiền tệ, lao động và khu vực có đầu tư nước ngoài đối với lạm phát của Ba Lan trong giai đoạn 1990 – 1999 và chỉ ra rằng tỷ giá và tiền lương không đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định lạm phát Họ gợi ý rằng chính sách tiền tệ ở Ba Lan mang tính thụ động trong giai đoạn nghiên cứu

Trang 32

Nghiên cứu của IMF trong năm 2003 cũng cho thấy các kết quả tương

tự về vai trò của cung tiền đến lạm phát Trong nghiên cứu này sử dụng mô hình VAR với bảy biến: giá dầu quốc tế, giá gạo quốc tế, sản lượng công nghiệp, tỷ giá, cung tiền, giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng cho giai đoạn

từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 3 năm 2003 Những kết quả của nghiên cứu này cho thấy vận động nội tại là yếu tố quan trọng giải thích những biến động của lạm phát, lạm phát phi lương thực thực phẩm và giá nhập khẩu Tỷ giá có ảnh hưởng đến giá nhập khẩu nhưng không có ảnh hưởng đến CPI Điều này phản ánh thực tế là các loại hàng hóa phi thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong giỏ CPI và giá nhập khẩu không chuyển trực tiếp vào giá trong nước dù độ

mở của Việt Nam đang tăng lên Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng giá gạo quốc tế, các điều kiện về tổng cầu trong nước và tốc độ tăng cung tiền mở rộng có ít ảnh hưởng đến lạm phát nhưng ảnh hưởng trở lại kéo dài

Phạm Thế Anh (2009) cho rằng có bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát Thứ nhất là nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tổng cầu như là thặng dư cung tiền, thâm hụt tài khóa Nhóm thứ hai là các cú sốc về tổng cung như sự mất giá của nội tệ, gia tăng tiền lương, thuế và các yếu tố đầu vào Nhóm thứ

ba là sự cứng nhắc của giá cả như kỳ vọng lạm phát và nhóm cuối cùng là yếu

tố thể chế Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố kỳ vọng ảnh hưởng đến lạm phát, nghĩa là lạm phát các quý trước ảnh hưởng đến lạm phát quý sau Ngoài

ra lượng cung tiền tác động rất mạnh đến lạm phát từ quý ba trở đi và sự mất giá của đồng nội tệ cũng góp phần làm gia tăng lạm phát Đặc biệt biến động giá dầu thế giới không ảnh hưởng gì đến vấn đề lạm phát tại Việt Nam vì chính sách trợ giá xăng dầu của Nhà nước Ngoài ra, kết quả nghiên cứu đối với biến lãi suất cho thấy sự phản ứng chậm chạp của chính sách tiền tệ đối với lạm phát Lê Việt Hùng và Wade D Pfau (2008) sử dụng mô hình VAR

để phân tích về mối quan hệ giữa cơ chế truyền dẫn tiền tệ đối với lạm phát và sản lượng ở Việt Nam giai đoạn 1996 - 2005 Kết quả nghiên cứu cho thấy có

Trang 33

mối quan hệ rõ ràng giữa cung tiền và sản lượng nhưng không có mối quan hệ chặt chẽ nào giữa cung tiền và lạm phát Tương tự, Vương Thị Thảo Bình (2009) đã sử dụng mô hình OLS để phân tích động thái giá cả - lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1995 - 2008 cho kết luận ngoài những yếu tố như cung tiền, lạm phát kỳ vọng, giá dầu thì khoảng chênh sản lượng (chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng) có tương quan dương đến lạm phát Bên cạnh đó, Phạm Thị Thu Trang (2009) đã sử dụng mô hình hồi quy chuyển tiếp trơn để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát với việc sử dụng các biến độc lập như yếu tố tiền tệ (cung tiền), yếu tố cung (giá dầu), yếu tố cầu (giá trị sản xuất công nghiệp, giá gạo) và yếu tố kỳ vọng (thể hiện bằng các giá trị trễ của tỷ lệ lạm phát) Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng cung tiền, tăng tổng cầu làm lạm phát gia tăng ngay và ảnh hưởng kéo dài ba tháng sau đó Đồng thời, tỷ lệ lạm phát biến động cùng chiều với biến động giá gạo xuất khẩu và bị ảnh hưởng bởi giá dầu thế giới Hơn nữa, lạm phát trong quá khứ có ảnh hưởng đến lạm phát hiện tại nhưng tác động rất yếu

Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) đã

sử dụng mô hình VECM để xem xét mối quan hệ giữa lạm phát ở Việt Nam

và một số yếu tố kinh tế vĩ mô cho biết lạm phát ở Việt Nam chịu tác động mạnh bởi tâm lý về kỳ vọng lạm phát Các tác giả khẳng định lạm phát chủ yếu xuất phát từ những nguyên nhân nội địa, các yếu tố bên ngoài như giá cả hàng hóa thế giới ảnh hưởng lên lạm phát nội địa rất thấp Hơn nữa, việc phá giá đồng nội tệ cũng là nguyên nhân gây sức ép lên lạm phát Trong nghiên cứu này, các yếu tố tỷ giá, lãi suất giá dầu và giá nhập khẩu được nhóm tác

giả sử dụng như những yếu tố hội nhập

1.4 Các nghiên cứu về dự báo lạm phát

Trên thế giới đã có khá nhiều các nghiên cứu về dự báo cho lạm phát Đầu tiên có thể kể đến nghiên cứu của Giannoni và Woodford (2003) đã đưa

Trang 34

ra mô hình để phân tích, dự báo lạm phát và được gọi là mô hình Giannoni - Woodford Woodford (2003) nghiên cứu về tối ưu hóa chính sách tiền tệ và lạm phát dựa trên nghiên cứu của Aoki (2001) cùng với mô hình Giannoni - Woodford (2003) Các yếu tố được xem xét trong mô hình bao gồm đầu ra, lạm phát, lương thực và lãi suất ngắn hạn, mô hình được sử dụng là mô hình VAR không hạn chế

Sau đó, Antoni Espasa và Rebeca Albacete (2004) sử dụng mô hình chuỗi thời gian đơn biến và mô hình VECM trong phân tích dự báo lạm phát

ở một số các quốc gia ở EU Trong nghiên cứu của mình các tác giả sử dụng

mô hình VECM để phân tích các yếu tố tác động tới lạm phát Đối với kết quả

dự báo, tác giả cho thấy dự báo lạm phát bằng mô hình VECM dưới dạng quý

sẽ cho kết quả tốt hơn mô hình chuỗi thời gian đơn biến Bên cạnh đó, trong

mô hình VECM thì việc phân tách lạm phát theo các quốc gia khác nhau và các ngành hoặc lĩnh vực khác nhau sẽ cho kết quả dự báo tốt hơn mô hình tổng thể

Tao Sun (2004) sử dụng số liệu theo tháng của Thái Lan từ tháng 5 năm 1995 tới tháng 10 năm 2003 với mô hình chính là mô hình tổng quát không giới hạn (General unrestricted model - GUM) và các mô hình khác được tác giả thêm các biến số vào mô hình trên Bản chất của mô hình GUM chính là mô hình Véc tơ tự hồi quy (VAR) Tác giả sử dụng các chỉ tiêu như RMSE và MAPE để so sánh độ chính xác giữa các mô hình Kết quả cho thấy

mô hình 4 là mô hình GUM được thêm biến số độ trễ và có phần hiệu chỉnh sai số sẽ cho kết quả dự báo tốt nhất

Tiếp theo, Dermers và Champlain (2005) dự báo lạm phát của Canada bằng mô hình đường cong Phillips với số liệu theo quý và tháng, từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 12 năm 2005 Các tác giả xem xét lạm phát dựa trên phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới lạm phát bao gồm các yếu tố phía cầu và

Trang 35

tỷ giá Kết quả cho thấy việc sử dụng phân tách nhỏ dữ liệu và sử dụng số liệu tháng sẽ cải thiện đáng kể các kết quả dự báo Bên cạnh đó, thông qua mô hình Phillips, các tác giả cho thấy phản ứng của các cú sốc sản lượng hoặc chênh lệch tỷ giá là tương đối khác nhau, mặc dù tác động là thấp và giảm dần theo thời gian Tuy việc sử dụng dự báo lạm phát theo các thành phần có cải thiện được kết quả dự báo, nhưng kết luận của các tác giả vẫn cho thấy những khó khăn và chưa xác định được mô hình chính xác để dự báo lạm phát

ở Canada

Petra Gerlach-Kristen (2006) dự báo tăng trưởng cung tiền và lạm phát cho Thụy Điển Tác giả sử dụng mô hình đường cong Phillips “2 cực” theo đề xuất của Gerlach (2004) để xem xét mối quan hệ giữa cung tiền ổn định, lạm phát và khoảng chênh sản lượng để đưa ra dự báo lạm phát Các kết quả của các giả khẳng định cho tham luận của Neumann

Aleksejs Melihovs và Anna Zasova (2007) ước lượng, dự báo lạm phát

kỳ vọng và tìm ra các yếu tố có ảnh hưởng tới sự biến động của lạm phát này Thông qua số liệu của Latvia, tác giả sử dụng mô hình đường cong Phillips truyền thống, mô hình đường cong Phillips Keynes và đường cong Phillips lai Kết quả của tác giả cho thấy mô hình đường cong Phillips lai giải thích tốt hơn lạm phát so với 02 mô hình còn lại là mô hình Phillips truyền thống và

mô hình đường cong Phillips Keynes Thêm vào đó, tác giả cho thấy việc điều chỉnh giá dầu quá nhanh ở Latvia dẫn đến những thay đổi của lạm phát kỳ vọng vượt xa nhanh hơn so với thực tế

Stock và Watson (2007) đưa ra kết quả dự báo lạm phát của Mỹ dựa trên các mô hình chuỗi thời gian đơn biến bao gồm AR, AO, IMA (a time-varying first-order integrated moving average model), UC-SV (an unobserved components model with stochastic volatility model) và mô hình đường cong Phillips kết hợp độ trễ với số liệu theo quý từ quý I năm 1960 đến quý IV năm

Trang 36

2004 Về cơ bản mô hình đường cong Phillips kết hợp độ trễ được phát triển dựa trên nghiên cứu Stock và Watson (1999) Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, các tác giả đã không chỉ dự báo lạm phát mà còn dự báo lạm phát cho nền kinh tế Mỹ Stock và Watson (2008) đã tiếp tục nghiên cứu và dự báo lạm phát Về cơ bản, nghiên cứu này hoàn thiện hơn nghiên cứu năm 2007 trước

đó của 02 tác giả này Trong nghiên cứu này, các tác giả đã chia rõ ràng hơn các mô hình dự báo lạm phát thành: (i) Mô hình dựa trên thông tin quá khứ:

về cơ bản đây chính là các mô hình ARIM; (ii) Mô hình dự báo đường cong Phillips được phát triển dựa trên mô hình của Gordon (1982, 1990); (iii) Dự báo dựa trên các kết quả dự báo khác: Bản chất cửa dự báo này chính là kết hợp các kết quả dự báo mà theo tác giả có thể dựa vào phương pháp chuyên gia hoặc mô hình trễ phân phối tự hồi quy; (iv) Dự báo dựa trên dự đoán: Theo tác giả lớp dự báo này sẽ phụ thuộc lớn vào các mục tiêu đặt ra ban đầu của các chính sách và có thể dựa vào các chính sách thực hiện để đưa ra các kết quả dự báo.Với 04 lớp mô hình trên tác giả đã sử dụng số liệu theo quý từ Quý I năm 1953 đến quý I năm 2008 để dự báo lạm phát cho Mỹ

Matteo Barigozzi và Marco Capasso (2008) sử dụng mô hình yếu tố động Garch (The dynamic factor GARCH - DF-GARCH) để dự báo lạm phát của Mỹ với số liệu theo tháng từ tháng 12 năm 1986 tới tháng 10 năm 2006

Mô hình DF-GARCH là mô hình yếu tố động có thêm giả thiết điều kiện không thuần nhất giữa các yếu tố Tác giả cho thấy, kết quả dự báo của mô hình DF-GARCH được cải thiện đáng kể so với các mô hình đơn biến thuần nhất, mô hình yếu tố động truyền thống

Dawid Zochowski và Piotr Bialowolski (2011) đã sử dụng mô hình Markov để dự báo lạm phát cho Balan với số liệu theo tháng từ tháng 3 năm

1992 đến tháng 10 năm 2005 Để dự báo lạm phát, các tác giả coi lạm phát như là một chỉ số dẫn báo trong mô hình Markov Theo quan điểm của tác giả, lạm phát là tương đối ổn định Để dự báo lạm phát, các tác giả sử dụng

Trang 37

mô hình 3 trạng thái (Three state model) kết hợp với quá trình tự hồi quy bậc

2, được gọi mà MSI (3) – AR (2) Về bản chất, mô hình dự báo này vẫn là mô hình dưới dạng chuỗi thời gian tự hồi quy và có thêm trạng thái ẩn trong mô hình, và độ trễ của mô hình thể hiện kỳ vọng về lạm phát trong mô hình

Doguwa và Alade (2013) đề xuất mô hình dự báo lạm phát cho Nigeria

là mô hình SARIMA và SARIMAX với số liệu từ tháng 7 năm 2011 đến tháng

9 năm 2013 Kết quả của các tác giả cho thấy mô hình dự báo tốt nhất cho lạm phát là mô hình SARIMAX Tuy nhiên, mô hình SARIMA lại là mô hình dự báo tốt nhất cho lạm phát và các tác giả đề xuất sử dụng mô hình SARIMA để

dự báo lạm phát

Kelikume và Salami (2014) sử dụng các mô hình chuỗi thời gian đơn biến như trung bình trượt tích hợp tự hồi quy (ARIMA) và mô hình VAR để

dự báo lạm phát Kết quả cho thấy mô hình ARIMA và VAR đều cho kết quả

dự báo tương đối chính xác Tuy nhiên, mô hình VAR có sai số nhỏ hơn và xấp xỉ với chuỗi số liệu thực tế ở Nigeria hơn mô hình ARIMA

Luisa và cộng sự (2014) sử dụng mô hình kinh tế vĩ mô cấu trúc dạng bán tham số (Semi-Structural Macroeconomic Model) cho Rwanda để làm rõ

cơ chế chính sách tiền tệ của quốc gia này Đây là hệ mô hình tương đối đơn giản và dựa trên nền tảng lý thuyết Keynes Trong đó, các tác giả đã xây dựng

mô hình cho khối giá cả và tách lạm phát thành lạm phát cơ bản, lạm phát lương thực thực phẩm và lạm phát năng lượng Trong nghiên cứu này, tác giả

đã phân tích được các yếu tố tác động tới lạm phát và dự báo lạm phát Các kết quả trong mô hình này là tương đối phù hợp với nền kinh tế của Rwanda

Hausain Abusaaq (2015) đã dự báo lạm phát cho Saudi Arabia từ tháng

3 năm 2015 tới tháng 6 năm 2015 thông qua phương pháp dự báo các thành phần với số liệu từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 1 năm 2015 Trong đó, các thành phần được tính toán chỉ số lạm phát cơ bản được dự báo bằng mô hình

Trang 38

ARIMA Như vậy, bản chất của phương pháp dự báo lạm phát này vẫn dựa trên phương pháp trung bình trượt và tự hồi quy của các biến số Tuy nhiên, kết quả dự báo của tác giả thu được là tương đối chính xác và đáng tin cậy do sai số dự báo trong mẫu là khá thấp

Abdih và cộng sự (2016) nghiên cứu lạm phát của Mỹ với mô hình từ dưới lên Tác giả tìm ra các yếu tố trong nước có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới lạm phát Khi so sánh kết quả dự báo, tác giả thấy đường tổng cung Phillips

và cách tiếp cận từ dưới lên đều cho sai số dự báo thấp Tuy nhiên, những cú sốc và các kênh các động có ảnh hưởng làm thay đổi mạnh mẽ tới lạm phát Theo phương pháp phân tích nhạy, các tác giả thấy được lạm phát bị ảnh hưởng bởi các thành phần khác trong giỏ hàng hóa tính lạm phát Bên cạnh đó, tác giả tìm ra áp lực đối với lạm phát từ việc đồng đô la mất giá và thất nghiệp dưới mức thấp nghiệp tự nhiên Những lập luận của tác giả hỗ trợ cho lập trường của chính sách tiền tệ, và do đó, cần phải tiến hành các chính sách một cách thận trọng

Tại Việt Nam, có một số ít nghiên cứu dự báo cho lạm phát của Việt Nam, điển hình có thể kể đến loạt nghiên cứu của Nguyễn Đức Độ (2015) Bài viết sử dụng mô hình dự báo lạm phát trong ngắn hạn trên cơ sở các biến số tiền

tệ, cung tiền M2 và lãi suất, với dữ liệu từ năm 2010 – 2014 Kết quả dự báo cho thấy mô hình có thể được sử dụng như một công cụ tham khảo hữu ích cho công tác hoạch định chính sách tiền tệ Sau đó, Nguyễn Đức Độ (2016), khai thác thông tin từ sự chênh lệch giữa tốc độ lạm phát của khu vực thành thị so với tốc

độ lạm phát trên phạm vi cả nước để xây dựng mô hình dự báo lạm phát cho Việt Nam Trước đó, Vương Quốc Duy và Huỳnh Hải Âu (2014) dự báo lạm phát cho Việt Nam từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 7 năm 2014 bằng mô hình ARIMA Tuy nhiên, phương pháp ARIMA chỉ có thể giúp hỗ trợ dự báo trong ngắn hạn

Trang 39

1.5 Khoảng trống nghiên cứu

Liên quan đến chủ đề lạm phát, trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu còn bộc lộ nhiều hạn chế như:

Thứ nhất, hầu hết các nghiên cứu chỉ làm một khía cạnh là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát hoặc dự báo cho lạm phát, chưa có nghiên cứu nào làm đồng thời cả hai khía cạnh là đánh giá ảnh hưởng và dự báo Nghiên cứu này sẽ vừa đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế đến lạm phát, đồng thời dự báo cho lạm phát trong cả ngắn hạn và dài hạn

Thứ hai, hầu hết các nghiên cứu chỉ đánh giá các yếu tố vĩ mô nói chung

có tác động đến lạm phát hoặc nghiên cứu tác động của một, hai yếu tố tác động đến lạm phát, điều này tạo ra sự thiếu sót trong các kênh truyền dẫn tác động đến lạm phát Trong nghiên cứu này, bên cạnh tác động của những yếu tố vĩ mô còn nghiên cứu đến tác động của những yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế đến lạm phát

Thứ ba, các nghiên cứu đi trước mà cho Việt Nam thì số liệu đã lạc hậu và

do đó không tính đến những lần lạm phát gia tăng cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới gần nhất 2011-2012 đã dẫn đến một loạt những thay đổi trong môi trường và chính sách vĩ mô Nghiên cứu này, sẽ cập nhập dữ liệu đến năm

2019

Thứ tư, các mô hình được sử dụng để dự báo lạm phát trước đây bao gồm

mô hình ARIMA, mô hình GARCH và mô hình MARKOV hay mô hình hồi quy tuyến tính Các mô hình này còn khá đơn giản, sai số dự báo còn chưa thực

sự tốt và chỉ ứng dụng cho dự báo ngắn hạn Luận án này, sẽ sử dụng mô hình VECM để phân tích và dự báo, với kỹ thuật dự báo tốt hơn, kết quả dự báo sẽ đáng tin cậy hơn và có thể dự báo cho ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

Trang 40

Tóm lại, Chương 1, trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và

ở Việt Nam có liên quan đến các yếu tố quyết định lạm phát và dự báo lạm phát, NCS thấy rằng các nghiên cứu còn bộc lộ hạn chế và còn khoảng trống,

có thể nghiên cứu phát triển thêm, cụ thể:

Thứ nhất, hầu hết các nghiên cứu chỉ làm một khía cạnh là phân tích các yếu tố tác động đến lạm phát hoặc dự báo cho lạm phát, chưa có nghiên cứu nào làm đồng thời cả hai khía cạnh là đánh giá tác động và dự báo Nghiên cứu này sẽ vừa đánh giá tác động của các yếu tố tời lạm phát, đồng thời dự báo cho lạm phát trong cả ngắn hạn và dài hạn

Thứ hai, các nghiên cứu trước đây về Việt Nam thì số liệu đã cũ và do

đó không tính đến những lần lạm phát gia tăng cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới gần nhất 2011 - 2012 đã dẫn đến một loạt những thay đổi trong môi trường và chính sách vĩ mô Nghiên cứu này, sẽ cập nhập dữ liệu đến năm 2020

Thứ ba, các mô hình được sử dụng để dự báo lạm phát trước đây bao gồm mô hình ARIMA, mô hình GARCH và mô hình MARKOV hay mô hình hồi quy tuyến tính Các mô hình này còn khá đơn giản, sai số dự báo còn chưa thực sự tốt và chỉ ứng dụng cho dự báo ngắn hạn Luận án này, sẽ sử dụng mô hình VECM để phân tích và dự báo, với kỹ thuật dự báo tốt hơn, kết quả dự báo sẽ đáng tin cậy hơn và có thể dự báo cho ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

Ngày đăng: 10/10/2021, 08:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Các Mác (1994), Bộ tư bản - quyển 1; Nhà xuất bản Tiến bộ và sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tư bản - quyển 1
Tác giả: Các Mác
Nhà XB: Nhà xuất bản Tiến bộ và sự thật
Năm: 1994
11. Tô Thị Ánh Dương, Bùi Quang Tuấn, Phạm Sỹ An, Dương Thị Thanh Bình, Trần Thị Kim Chi, Lạm phát mục tiêu và hàm ý đối với khuôn khổ chính sách tiền tệ ở Việt Nam, NXB Tri thức, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát mục tiêu và hàm ý đối với khuôn khổ chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Tri thức
12. Đại học Quốc gia Hà Nội (2008), Lạm phát ở Việt Nam hiện nay – Nguyên nhân và giải pháp, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát ở Việt Nam hiện nay – Nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
13. Lương Văn Hải, 2019, Tác động của giá dầu đến nền kinh tế và an ninh năng lượng quốc gia, tại http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/tac-dong-cua-gia-dau-den-nen-kinh-te-va-an-ninh-nang-luong-quoc-gia-312216.html, truy cập ngày 10/01/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của giá dầu đến nền kinh tế và an ninh năng lượng quốc gia
14. Nguyễn Văn Hà (2007), Nghiên cứu việc điều hành chính sách tiền tệ bằng phương pháp lấy lạm phát làm mục tiêu và cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ đến nền kinh tế Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành năm 2007 của Ngân hàng Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu việc điều hành chính sách tiền tệ bằng phương pháp lấy lạm phát làm mục tiêu và cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ đến nền kinh tế Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hà
Năm: 2007
15. Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010). Các yếu tố Vĩ mô quyết định lạm phát Việt nam giai đoạn 2000-2010: Các bằng chứng và thảo luận. Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách VEPR Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố Vĩ mô quyết định lạm phát Việt nam giai đoạn 2000-2010: Các bằng chứng và thảo luận
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành
Năm: 2010
16. Phí Trọng Hiển (2005), Lạm phát mục tiêu: kinh nghiệm thế giới và giải pháp cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 322 tháng 04/2005, tr.53-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát mục tiêu: kinh nghiệm thế giới và giải pháp cho Việt Nam
Tác giả: Phí Trọng Hiển
Năm: 2005
17. Trần Hữu Hiếu (2014), Cuộc cách mạng dầu khí đá phiến tại Mỹ, Thesaigontimes, tại http://www.thesaigontimes.vn/121624/Cuoc-cach-mang-dau-khi-da-phien.html, truy cập ngày 16/01/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc cách mạng dầu khí đá phiến tại Mỹ
Tác giả: Trần Hữu Hiếu
Năm: 2014
18. Nguyễn Hoàng (2020), Kinh tế thế giới và những khó khăn mà Việt Nam phải ứng phó, đối mặt, tại http://baochinhphu.vn/Kinh-te/Kinh-te-the-gioi-va-nhung-kho-khan-ma-Viet-Nam-phai-ung-pho-doi-mat/406781.vgp, truy cập ngày 20/09/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thế giới và những khó khăn mà Việt Nam phải ứng phó, đối mặt
Tác giả: Nguyễn Hoàng
Năm: 2020
19. Nguyễn Thị Hồng và cộng sự (2019), Tác động của chính sách lạm phát mục tiêu đến tăng trưởng kinh tế Chile và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, Số 114, tháng 02/2019, tr. 83 – 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của chính sách lạm phát mục tiêu đến tăng trưởng kinh tế Chile và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng và cộng sự
Năm: 2019
20. Trần Văn Hùng (2015), Tác động truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam, Tạp chí Tài chính kỳ I tháng 09/2015, tại http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/trao-doi-binh-luan/tac-dong-truyen-dan-ty-gia-hoi-doai-den-lam-phat-tai-viet-nam- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Hùng
Năm: 2015
21. Nguyễn Đạt Lai (2004), Một số kiến nghị về lạm phát và những giải pháp khắc phục lạm phát, Tạp chí Ngân hàng 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kiến nghị về lạm phát và những giải pháp khắc phục lạm phát
Tác giả: Nguyễn Đạt Lai
Năm: 2004
22. Lê Quốc Lý (2005), Lạm phát hành trình và giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát hành trình và giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam
Tác giả: Lê Quốc Lý
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 2005
23. Đông Ngàn (2015), Nguyên nhân và tác động của giá dầu giảm đến tình hình thế giới, tại http://vietstock.vn/2015/01/nguyen-nhan-va-tac-dong-cua-gia-dau-giam-den-tinh-hinh-the-gioi-34-402807.htm,truycập ngày 10/01/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân và tác động của giá dầu giảm đến tình hình thế giới
Tác giả: Đông Ngàn
Năm: 2015
25. Hoàng Xuân Quế (2005), Xây dựng và thực hiện mục tiêu lạm phát trong điều hành chính sách tiền tệ đến năm 2010 cần có sự phối hợp chặt chẽ của chính sách tài chính, Tạp chí ngân hàng, số chuyên đề 28/4/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và thực hiện mục tiêu lạm phát trong điều hành chính sách tiền tệ đến năm 2010 cần có sự phối hợp chặt chẽ của chính sách tài chính
Tác giả: Hoàng Xuân Quế
Năm: 2005
26. Hồng Quý (2014), Dầu giảm 1USD, Nga mất 2 tỉ USD, tại http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20141224/dau-giam-1-usd-nga-mat-2-ti-usd/689526.html, truy cập ngày 25/12/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dầu giảm 1USD, Nga mất 2 tỉ USD
Tác giả: Hồng Quý
Năm: 2014
27. Nguyễn Văn Tiến (2003), Tài chính quốc tế hiện đại trong nền kinh tế mở, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính quốc tế hiện đại trong nền kinh tế mở
Tác giả: Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2003
28. Hoàng Anh Tuấn (2015), Những toan tính chính trị khi đánh tụt giá dầu, tại http://www.tienphong.vn/the-gioi/nhung-toan-tinh-chinh-tri-khi-danh-tut-gia-dau-805614.tpo, truy cập ngày 25/01/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những toan tính chính trị khi đánh tụt giá dầu
Tác giả: Hoàng Anh Tuấn
Năm: 2015
29. Nguyễn Hữu Tú (2007), Một số vấn đề về tính toán và công bố chỉ số giá tiêu dùng, Vụ CSTT-NHNN Tạp chí nghiên cứu và trao đổi 12/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tính toán và công bố chỉ số giá tiêu dùng
Tác giả: Nguyễn Hữu Tú
Năm: 2007
66. Chris Pederson (2014), 5 reasons oil prices are dropping, http://oilprice.com/Energy/Oil-Prices/5-Reasons-Oil-Prices-Are-Dropping.html, truy cập ngày 22/01/2015 Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w