Nếu căn cứ trên mức độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng nhận thức, có thé chia nhận thức thành nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận, nếu căn cứ trên tính chất tự phát hay tự g
Trang 1
) QIN TRUONG DAI HOC DONG A ` ^ UNS (NS
®
DAILHOC
DONGA Tạo dựng con đường thành công
HỌC PHẢN: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ
NGHIA MAC - LENIN 1
HOVATEN — : HUYNH THI CUC
KHOA : NGOAINGU
Đề Tài : Thực tiễn là øì? Vai trò thực tiễn đối với nhận thức?
Ý nghĩa phương pháp luận trong rèn luyện và học tập của sinh viên hiện nay
Trang 2
MỤC LỤC
0900006710077 1
957.9811978 0100162 Ỏ ÔỎ 2
I TIM HIEU VẺ KHÁI NIỆM VỀ THỨC TIỀN VÀ NHẬN THỨC 2
1 Phạm trù của thực tiỄN - Sàn ST rrrkerkg 2
a Thực tiễn là gì? SG CS kg grrkere 2
b Các hình thức cơ bản của thực tiỄN: - c-cccseskeesesesrsrsesree 3
2 _ Khái niệm vê nhận thức và cấp độ nhận thức -c-csccccceecee 3
a Quan điểm duy vật biện chứng về nhận thiức - -cccccsesesrsreced 3
b Cấp độ của quá trình nhận tÏLức - 5c St eEeEerkrkerererekereeo 4
Nhận thức kinh nghiêm và nhận thức lý luận + 4 L1 Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học 6
II VAI TRO THUC TIEN DOI VỚI NHẬN THỨC 5- 5° s25 se<s 7
1 _ Thực tiễn là cơ sở, mục đích, là động lực chủ yếu và trực tiếp của /1/1///87/1/72 N08 Ả .ố.ố 6
2 _ Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân Ìý - - ccccskseskeestsesrsrsesree 9
II Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG HỌC TẬP VÀ RÈN LUYEN CUA SINH VIÊN HIỆN NA VY 2 5-6 S9 %9 d9 9s 9 se s52 10
1 _ Lý luận phải luôn bám sát thực tiễn, phản ánh được yêu câu của thực tiễn, khái quát được những kinh nghiệm của thực tiễn -. 5-5¿ Il
2 Hoat dong thực tiễn phải lấy lý luận chỉ đạo, khi vận dụng lý luận phải phù hợp với điều kiện lịch sử - cụ thể c-cccccererekskeesrerererred 12
3 Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điễu 55s55¿ 12
PHẦN KẾT LUẬN .° ° 5 5£ 5% 9% 9 29 95.69 59 9x29 969 5ø 15
TÀI LIỆU THAM KHẢOO 5 < s° s2 S2 9# se s9 se 59 essse 16
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình tôn tại, con người không được thế giới đáp ứng thỏa mãn, nên con người phải cải tạo thế giới bằng hoạt động thực tiễn của mình, và chính trong quá trình biến đối thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực bản chất, năng lực trí tuệ của mình Nhờ đó, con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong
phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới Thực tiễn còn dé ra nhu cau nhiệm vụ
va phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận Nhu câu, thực tiễn đòi hỏi phải
có tri thức mới, phải tông kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, thúc đây sự ra đời
phát triển của các ngành khoa học
Như vậy, trong quá trình hoạt động thực tiễn, trí tuệ con người được phát triển, được nâng cao dan cho đến lúc có lý luận, khoa học Song bán thân lý luận, khoa học không có mục đích tự thân Lý luận, khoa học ra đời chính vì và chủ yếu
vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người Thực tiễn là mục đích
của nhận thức, lý luận Nhận thức, lý luận sau khi ra đời phải quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hành động thực tiễn của quân
chúng Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiên, cái tạo thực tiên phục vụ mục tiêu phát triên nói chung
Trang 4PHAN NOI DUNG
I Tim hiéu vé khai niém ve thirc tién va nhan thire
1 Phạm trù của thực tiên
a Thực tiễn là gì?
Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nên tảng, cơ bản của triết
học Mác- Lênin nói chung và của lý luận nhận thức mácxít nói riêng Trong lịch sử
triết học không phải mọi trào lưu đều đã đưa ra quan niệm một cách đúng đắn về phạm trù này Chắng hạn chủ nghĩa duy tâm chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thân sáng tạo ra thế giới của con người, chứ không xem nó là hoạt động vật
chất, là hoạt động lịch sử xã hội Ngược lại, chủ nghĩa duy vật trước Mác, mặc dù
đã hiểu thực tiễn là một hành động vật chất của con người nhưng lại xem đó là hoạt
động con buôn, để tiện, bân thỉu Nó không có vai trò gì đối với nhận thức của con người
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vát chất có mục đích, mang tinh lich su - xa hội của con người nhăm cải biên tự nhiên và xã hội
Khác với các hoạt động khác, hoạt động thực tiễn là loại hoạt động mà con
người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất nhất định làm biến đối chúng theo mục đích của mình Đó là những hoạt động đặc trưng
và bản chất của con người Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và
không ngừng phát triển bởi con người qua các thời kỳ lịch sử Chính vì vậy, hoạt động thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vật chất mang tính chất sáng tạo và có
tính mục đích tính lịch sử - xã hội
Trang 5b Các hình thức cơ bản của thực tiễn:
Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú
Trong có ba hình thức cơ bản là: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị -
xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học
Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực
tiễn Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác
động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình Ví dụ: Thu hoạch vải thiểu, trồng rau, gặt lúa
Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của các cộng đồng người, các tô
chức khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị - xã hội để
thúc đây xã hội phát triển Ví dụ: Ủng hộ đồng bào vùng lũ lụt, Tham gia hoạt động trồng cây xanh, Tham gia hoạt động tình nguyện giúp đỡ người nghèo
Thực nghiêm khoa học là một hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn
Đây là hoạt động được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra, gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác đỉnh những quy luật biến đối, phát triển của đôi tượng nghiên cứu Dạng hoạt động này
có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại
2 Khái niệm về nhận thức và cầp độ nhận thức
a Quan điểm duy vật biện chứng về nhận thức
Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiên, nhăm sáng tạo ra những tri
Trang 6thức về thế giới khách quan Đó là quan điểm duy vật biện chứng về nhận thức
Quan điêm này xuât phát từ các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của
CON người
Hai là, thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan; coi nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc của con
người, là hoạt động tìm hiệu khách thể của chủ thể; thừa nhận không có cái gì là
không thê nhận thức được mà chỉ có những cái con người chưa nhận thức được
Ba là, khăng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng tích cực, tự
giác và sáng tạo Quá trình phản ánh đó diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết,
từ biệt ít đên nhiêu, từ chưa sâu sắc chưa toàn diện sâu sắc, toàn diện hơn
Bon là, coI thực tiên là cơ sỡ chủ yêu và trực tiêp nhât của nhận thức; là
động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
b Cấp độ của quá trình nhận thức
Có nhiễu các tiếp cận để tìm hiểu về các cấp độ của quá trình nhận thức Nếu
căn cứ trên mức độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng nhận thức, có thé chia nhận thức thành nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận, nếu căn cứ trên tính
chất tự phát hay tự giác của quá trình nhận thức, có thể chia nhận thức thành nhận
thức thông thường và nhận thức khoa học
s* Nhận thức kinh nghiêm và nhận thức lý luận
Nhận thức kinh nghiệm là loại nhận thức hình thành từ sự quan sát trực tiếp
các sự vật hiện tượng trong tự nhiên xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học Kết
Trang 7quả của nhận thức kinh nghiệm là những tri thức kinh nghiệm Tri thức này có hai loại là tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học T1 thức kinh nghiệm thông thường là loại tri thức được hình thành từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày về cuộc sống và lao động sản xuất Còn tri thức kinh nghiệm khoa
học là loại tri thức thu được từ sự khảo sát các thí nghiệm khoa học Hai loại tri
thức này có quan hệ chặt chẽ với nha, xâm nhập vào nhau để tạo nên tính phong phú, sinh động của nhận thức kinh nghiệm
Nhận thức lý luận ( gọi tắt là lý luận ) là loại nhận thức gián tiếp, trừu tượng
và khái quát về bản chất và quy luật của các sự vật , hiện tượng Nhận thức lý luận
có chức năng gián tiếp vì nó được hình thành và phát triển trên cơ sở của nhận thức kinh nghiệm Nhận thức lý luận có tính trừu tượng và khái quát vì nó chỉ tập trung
phan ánh cái bản chất mang tính quy luật của sự vật và hiện tượng Do đó, tri thức
lý luận - kết quả của nhận thức lý luận - thể hiện chân lý sâu sắc hơn chính xác
hơn và có hệ thống hơn
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác
nhau nhưng có mỗi quan hệ biện chứng lẫn nhau Trong mối quan hệ đó, nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý luận; nó cung cấp cho nhận thức lý luận
những tư liệu phong phú, cụ thể: nó trực tiếp gan chặt với hoạt động thực tiễn, tạo
thành cơ sở hiện thực đề kiếm tra, sửa chữa, bố sung cho lý luận đã có và tổng kết, khái quát thành lý luận mới Tuy nhiên, nhận thức kinh nghiệm còn hạn chế ở chỗ
chỉ dừng lại ở sự mô tả, phân loại các sự kiện, các dữ kiện thu được từ sự quan sát
và thí nghiệm trực tiếp Do đó, nó chỉ dem lại những hiểu biết về các mặt riêng rẽ,
bê ngoài, rời rạc, chưa phản ánh được cái bản chất, những mối liên hệ mang tính
quy luật của các sự vật, hiện tượng Vì vậy, nhận thức kinh nghiệm““tự nó không
Trang 8bao giờ có thế chứng minh được đây đủ tính tất yếu'?! Ngược lại, mặc dù được hình thành từ sự tông kết những kinh nghiệm nhưng nhận thức lý luận không hình
thành một cách tự phát, trực tiếp từ kinh nghiệm Do tính độc lập tương đối của nó,
lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành những tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn những kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho hoạt động thực tiễn, góp phần làm biến đổi đời sống của con người, thông qua đó
mà nâng những tri thức kinh nghiệm từ chỗ là cái cụ thế, riêng lẻ, đơn nhất thành
cái khái quát, có tính phô biến Chủ tịch Hồ Chí Minh khăng định: "Có kinh
nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ"? Ngược lại nếu tuyệt đối hóa vai trò của nhận thức lý luận, hạ thấp kinh nghiệm, không quan
tâm đến nhận thức kinh nghiệm sẽ dẫn đến căn bệnh giáo điều
s* Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học
Nhận thức thông thường là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát,
trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người Nó phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm chỉ tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật, hiện tượng Vì vậy, nhận thức thông thường mang tính phong phú, nhiều vẻ và gắn liền với những quan niệm sóng thực tế hàng ngày Vì thế, nó có vai trò thường xuyên và phô biên chị phôi hoạt động của mọi người trong xã hội
Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và
gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiên cứu Sự phản ánh này diễn ra dưới dạng trừu tượng lôgic là các khái niệm,
các quy luật khoa học Nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng, khái quát lại vừa có tính hệ thông có căn cứ và có tính chân thực Nó vận dụng
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trỊ quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr 718
? Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.5, tr 234.
Trang 9một hệ thông các phương pháp nghiên cứu và sử dụng cả ngôn ngữ thông thường
và thuật ngữ khoa học để diễn tả sâu sắc bản chất và quy luật của đôi tượng trong nghiên cứu Vì thế, nhận thức khoa học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động
thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học và công nghệ hiện đại
Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học là hai bậc thang khác nhau
về chất của quá trình nhận thức, nhăm đạt tới những tri thức chân thực Trong mối quan hệ đó, nhận thức thông thường có trước nhận thức khoa học và là nguồn chất
liệu để xây dựng nội dung của các khoa học Mặc dù đã chứa đựng những mam
mống của những tri thức khoa học, song nhận thức thông thường chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở sự phản ánh cái bề ngoài, ngẫu nhiên, không bản chất của đôi tượng và
tự nó không thể chuyển thành nhận thức khoa học Muốn phát triển thành nhận
thức khoa học cần phải thông qua quá trình tông kết, trừu tượng, khái quát đúng
đắn của các nhà khoa học Ngược lại, khi đạt tới trình độ nhận thức khoa học, nó lại có tác động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập vào nhận thức thông
thường, làm cho nhận thức thông thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho quá trình con người nhận thức thế giới
Il Vai trò thực tiễn đối với nhận thức
Vai tro của thực tiên đôi với nhận thức được thê hiện trước hệt ở chỗ: Thực tiên là cơ sở của nhận thức, là động lực của nhận thức, là mục đích của nhận thức
và là tiêu chuân đê kiêm tra chân lý
Trang 101 Thực tiễn là cơ sở, mục đích, là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức
— Thực tiên là cơ sở của nhận thức:
Điều này có nghĩa là thực tiễn cung cấp tài liệu cho nhận thức, cho lý luận
Moi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối với người này hay người kia, thế hệ nay
hay thế hệ khác, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận, xét đến cùng đều bắt nguồn từ
thực tiến
Sở dĩ như vậy bởi con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý
luận mà bằng thực tiễn Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế
giới mà nhận thức ở con người được hình thành và phát triỀn
Bang hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, những tính quy luật để cho con người nhận thức chúng
Ban đầu, con người thu nhận những tài liệu cảm tính Sau đó, con người tiến
hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để phản ánh bản chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, từ đó xây
dựng thành các khoa học, lý luận
— Thưực tiễn là mục đích của nhận thức:
Nói thực tiễn là mục đích của nhận thức vì nhận thức dù về vẫn đề, khía
cạnh, lĩnh vực gì chăng nữa thì cũng phải quay vẻ phục vụ thực tiễn Nhận thức mà không phục vụ thực tiễn thì không phải là “nhận thức” theo đúng nghĩa