DANH MỤC CÁC BẢNGBảng 1.1 Phân bố khách thể tham gia nghiên cứu 87Bảng 3.1 Trải nghiệm xúc cảm của NLTVTL trong các tình huống 90Bảng 3.2 Nhận thức của NLTVTL về yêu cầu xúc cảm trong cô
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -VÕ THỊ TƯỜNG VY
TỰ ĐIỀU CHỈNH XÚC CẢM CỦA NGƯỜI LÀM THAM VẤN TÂM LÝ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội -2013
Trang 3VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS LÊ THỊ THANH HƯƠNG
TS NGUYỄN KIM QUÝ
Hà Nội -2013
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu vàkết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳcông trình nào khác
Tác giả luận án
Võ Thị Tường Vy
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
*PGS TS Lê Thị Thanh Hương và TS Nguyễn Thị Kim Quý, hai nhà
khoa học với bề dày kinh nghiệm, với lòng yêu nghề đã tận tình hướng dẫn và độngviên tôi hoàn thành luận án này
*Ban Giám đốc, Ban chủ nhiệm, các thầy, cô giáo Khoa Tâm lý, Phòng đào tạo – quản lý sau đại học Học viện Khoa học xã hội đã giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện trong suốt thời gian tôi học và hoàn thành luận án
*Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm, các thầy, cô giáo Khoa Tâm Lý- Giáo dục trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã quan tâm, khuyến
khích, tạo điều kiện trong suốt thời gian tôi học tập
*Các bạn đồng nghiệp làm công tác tham vấn tâm lý đã nhiệt tình tham
gia vào quá trình nghiên cứu và đã cung cấp những ý kiến quý báu giúp tôi thu thập
số liệu và tiến hành thực nghiệm
*Gia đình, người thân, bạn bè và các học trò đã luôn bên cạnh tôi, cùng
tôi chia sẻ những khó khăn, động viên, khích lệ và hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thànhluận án
Xin chân thành cám ơn!
Trang 6MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỰ ĐIỀU CHỈNH
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tự điều chỉnh xúc cảm của NLTVTL 81.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu tự điều chỉnh xúc cảm của NLTVTL 201.2.1 Khái niệm cơ bản
1.2.2 Biểu hiện tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý 281.2.3 Tiêu chí đánh giá tự điều chỉnh xúc cảm của NLTVTL 511.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự điều chỉnh xúc cảm của NLTVTL 59
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TỰ ĐIỀU
3.3 Những yếu tố tác động đến tự điều chỉnh xúc cảm của NLTVTL 113
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân bố khách thể tham gia nghiên cứu 87Bảng 3.1 Trải nghiệm xúc cảm của NLTVTL trong các tình huống 90Bảng 3.2 Nhận thức của NLTVTL về yêu cầu xúc cảm trong công việc của họ 97Bảng 3.3 Nhận thức của NLTVTL về hiệu quả của cách TĐCXC trong công việc99Bảng 3.4 TĐCXC thể hiện ở hành vi của NLTVTL trong công việc 104Bảng 3.5 TĐCXC thể hiện ở mặt hành vi của NLTVTL thông qua việc lựa chọn109cách TĐCXC trong công việc
Bảng 3.7 So sánh mức độ TĐCXC theo kinh nghiệm thực tế 113Bảng 3.8 So sánh mức độ TĐCXC của NLTVTL theo trình độ đào tạo 114Bảng 3.9 Những yếu tố xã hội tác động đến TĐCXC của NLTVTL 116Bảng 3.10 Kết quả tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tần suất biểu hiện xúc cảm của NLTVTL 92Biểu đồ 3.2 Trải nghiệm xúc cảm của NLTVTL liên quan đến thái độ 93thân chủ và vấn đề của thân chủ
Biểu đồ 3.3 Mức độ TĐCXC của NLTVTL trong công việc 95Biểu đồ 3.4 TĐCXC của NLTVTL thể hiện ở mặt nhận thức 96Biểu đồ 3.5 TĐCXC thể hiện ở hành vi của NLTVTL trong công việc 103Biểu đồ 3.6 TĐCXC thể hiện ở hành vi của NLTVTL được xét theo 106nhóm cách TĐCXC
Trang 8Độ lệch chuẩnEmotional intelligence (Trí tuệ xúc cảm)Người làm tham vấn tâm lý
Tình huống
Tự điều chỉnh xúc cảm Trí tuệ xúc cảm
Xúc cảm
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tham vấn tâm lý chính là một quá trình giúp cho thân chủ tự chịu trách nhiệm
về cuộc đời của họ mà trong đó người làm tham vấn tâm lý là người soi sáng vấn
đề, giúp về mặt thông tin, giải tỏa các xúc cảm gây ảnh hưởng tiêu cực đến đến cácquyết định của thân chủ [14] Chính vì bản chất của tham vấn tâm lý là một quátrình tương tác nên luôn có sự tác động lẫn nhau về mặt xúc cảm giữa người làmtham vấn tâm lý với thân chủ Để làm tốt vai trò nâng đỡ về mặt xúc cảm cho thânchủ, người làm tham vấn tâm lý phải luôn lắng nghe và thấu cảm với những vấn đềcủa thân chủ, đặc biệt là đồng hành cùng thân chủ đối diện với những xúc cảm tiêucực như giận dữ, buồn phiền, lo lắng, sợ hãi,…của chính họ Tuy nhiên do luôn phảithấu cảm với những xúc cảm tiêu cực của thân chủ, người làm tham vấn tâm lý dễ
bị ảnh hưởng bởi những xúc cảm tiêu cực này ở nhiều mức độ khác nhau Các côngtrình nghiên cứu của C.R.Figley đã chỉ ra những ảnh hưởng của câu chuyện củathân chủ đối với người làm tham vấn tâm lý Hầu hết những triệu chứng ở ngườilàm tham vấn tâm lý là sự chán nản, buồn chán, tức giận, bất an, vô vọng, tội lỗi,
cảm giác không thanh thản, mất niềm tin Ông coi đó như là “Cái giá phải trả cho
việc quan tâm chăm sóc đến người khác”[dẫn theo 35, tr95] Những khủng hoảng
trong đời sống của thân chủ thường có xu hướng ảnh hưởng tới đời sống xúc cảmcủa người làm tham vấn tâm lý Đặc biệt là sự tái hiện những vấn đề cũ đã trảinghiệm của bản thân người làm tham vấn tâm lý có khả năng làm bùng phát lênnhững kinh nghiệm xúc cảm nơi họ Nếu người làm tham vấn tâm lý không tự điềuchỉnh được xúc cảm của mình, một mặt, họ sẽ mang những xúc cảm ấy tác độngngược lại thân chủ làm mất đi tính khách quan của tiến trình tham vấn và gây ảnhhưởng xấu đến kết quả công việc Mặt khác, nếu xúc cảm của người làm tham vấntâm lý không được điều chỉnh sẽ góp phần tạo nên ức chế nghề nghiệp hay nhữngcơn bùng phát làm ảnh hưởng xấu đến hiệu quả công việc, đến nhân cách và chất
1
Trang 10lượng cuộc sống của họ Điều này đòi hỏi người làm tham vấn tâm lý cần biết tựđiều chỉnh xúc cảm
Xuất phát từ tầm quan trọng của tự điều chỉnh xúc cảm đối với người làmtham vấn tâm lý nên ở một số nước một trong những tiêu chí để tuyển chọn ngườilàm tham vấn tâm lý là phải có năng lực tự điều chỉnh xúc cảm Đây là tiêu chí bắtbuộc, khá quan trọng và đã được đưa vào chương trình đào tạo [104] Có thể nói, tựđiều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý là một yêu cầu cơ bản, bắt buộcxuất phát từ bản chất của hoạt động tham vấn tâm lý
Trong thực tiễn tham vấn hiện nay ở Việt Nam, nhiều người làm tham vấn tâm
lý có mức độ tự điều chỉnh xúc cảm chưa tốt, họ vẫn đưa những xúc cảm và kinhnghiệm của cá của cá nhân vào trong quá trình tham vấn [23], vì vậy hiệu quả côngviệc không cao
Trong đào tạo tại Việt Nam, việc trang bị năng lực tự điều chỉnh xúc cảm chongười làm tham vấn tâm lý chưa được quan tâm đúng mức, cụ thể nội dung liênquan đến xúc cảm của người làm tham vấn được đề cập lướt qua Vì thế, phảinghiên cứu để đề xuất những biện pháp nhằm cải thiện mức độ tự điều chỉnh xúccảm của người làm tham vấn tâm lý, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong côngviệc tham vấn đồng thời giúp họ cân bằng trong đời sống tâm lý của mình
Lý luận về tự điều chỉnh xúc cảm và tự điều chỉnh xúc cảm của người làmtham vấn tâm lý ở nước ta còn khá mới mẻ Vì thế, nghiên cứu về tự điều chỉnh xúccảm cũng sẽ góp phần làm sáng tỏ nội hàm khoa học của thuật ngữ này
Với tất cả các lý do trên, nghiên cứu tự điều chỉnh xúc cảm của người làmtham vấn tâm lý vừa mang ý nghĩa lý luận và vừa đáp ứng được yêu cầu thực tiễntrong công việc tham vấn tâm lý
2 Mục đích nghiên cứu
Phát hiện thực trạng tự điều chỉnh xúc cảm của NLTVTL và một số yếu tố ảnhhưởng đến TĐCXC của NLTVTL, đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện mức độTĐCXC của NLTVTL
Trang 113 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Biểu hiện, mức độ tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý
- Các yếu tố ảnh hưởng đến tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấntâm lý
3.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu chính là 75 người làm tham vấn tâm lý Khách thểnghiên cứu hỗ trợ gồm 12 người vừa là chuyên gia trong lĩnh vực tham vấn vừa làgiảng viên giảng dạy về tham vấn và 3 thân chủ
4 Giả thuyết khoa học
- Trong các nhóm cách tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý
như điều chỉnh tình huống gây xúc cảm, điều chỉnh nhận thức, điều chỉnh biểu hiện
xúc cảm, chia sẻ xã hội thì nhóm cách điều chỉnh nhận thức và chia sẻ xã hội là các
nhóm được người làm tham vấn tâm lý lựa chọn nhiều nhất
- Nếu người làm tham vấn tâm lý được tham gia vào nhóm giám sát một cách
đều đặn cùng với nhà chuyên môn và các đồng nghiệp để được giám sát, chia sẻ và nâng đỡ xúc cảm lẫn nhau thì mức độ tự điều chỉnh xúc cảm của họ sẽ được cải
thiện
5.1 Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham
vấn tâm lý như xác định các khái niệm công cụ, các tiêu chí đánh giá tự điều chỉnhxúc cảm của người làm tham vấn tâm lý, các yếu tố tác động tới tự điều chỉnh xúccảm của người làm tham vấn tâm lý
5.2 Làm rõ thực trạng tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý và
một số yếu tố tác động đến tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý
5.3 Đề xuất một số biện pháp và tổ chức thực nghiệm nhằm cải thiện mức độ tự
điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý thông qua tổ chức nhóm giámsát
Trang 126 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung
- Luận án chỉ nghiên cứu các xúc cảm tiêu cực trong công việc của người làmtham vấn tâm lý
- Luận án chỉ nghiên cứu biểu hiện, mức độ, các yếu tố tác động đến tự điềuchỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý trong quá trình tham vấn tâm lý
- Do tính chất của công việc, người làm tham vấn tâm lý có thể tham gia điều
chỉnh xúc cảm cho chính mình và cho cả thân chủ của họ Luận án chỉ nghiên cứu
tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý, tức là người làm tham vấntâm lý điều chỉnh xúc cảm trong công việc của chính họ
6.2 Giới hạn về khách thể
Luận án tập trung nghiên cứu trên khách thể là những người làm tham vấn tâm
lý tại các trung tâm tham vấn, các bệnh viện và các trường học
6.3 Giới hạn về địa bàn
Luận án triển khai trên các khách thể chính ở thành phố Hồ Chí Minh Cònkhách thể là các Thầy Cô và các chuyên gia về tham vấn tâm lý ở Pháp, ở thành phố
Hồ Chí Minh và ở Hà Nội
7.1 Các quan điểm phương pháp luận
Để nghiên cứu tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý, chúng
tôi tiếp cận dựa trên:
Quan điểm hoạt động – nhân cách
Tham vấn tâm lý là một hoạt động nghề nghiệp Với tư cách là chủ thể tronghoạt động tham vấn tâm lý, tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lýdiễn ra và hình thành trong chính hoạt động đó Yêu cầu hoạt động nghề nghiệp đòihỏi người làm tham vấn tâm lý có những phẩm chất và năng lực nhất định như cókhả năng tự định hướng, tự điều chỉnh, tự kiểm tra nhận thức, thái độ, hành vi củamình Vì vậy, nghiên cứu tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý
Trang 13phải đồng thời nghiên cứu cả hoạt động nghề nghiệp và một số đặc điểm nhân cáchcủa họ
Quan điểm tiếp cận hệ thống
Tự điều chỉnh xúc cảm là một năng lực và biểu hiện cụ thể của đời sống tâm
lý Con người là một thực thể xã hội Hành vi của cá nhân là kết quả của sự tácđộng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau Vì vậy, tự điều chỉnh xúccảm của người làm tham vấn tâm lý được nghiên cứu trong mối tương quan vớinhiều yếu tố như: yếu tố tâm lý cá nhân, yếu tố tâm lý xã hội
7.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, luận án sử dụng phối hợp các phương pháp
sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thực nghiệm tác động
- Phương pháp phân tích chân dung tâm lý
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
8 Đóng góp mới của luận án
Đóng góp mới trong nghiên cứu lý luận
Luận án đã có những đóng góp mới về mặt lý luận như xác định rõ hơn kháiniệm tự điều chỉnh xúc cảm, tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý
và cấu trúc tâm lý của tự điều chỉnh xúc cảm thể hiện ở mặt nhận thức (nhận thức
yêu cầu xúc cảm trong công việc để định hướng cho hành vi tự điều chỉnh xúc cảm;
nhận biết những xúc cảm phù hợp hoặc không phù hợp trong những tình huống cụ thể) và mặt hành vi (cá nhân biết chọn và thực hiện các cách tự điều chỉnh xúc cảm;
cá nhân biết đánh giá tính hiệu quả của cách tự điều chỉnh xúc cảm mà mình đang
sử dụng)
Trang 14Đóng góp mới trong nghiên cứu thực tiễn
Luận án làm rõ thực trạng tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm
lý Kết quả nghiên cứu cho thấy người làm tham vấn tâm lý thường trải nghiệm
những xúc cảm lo lắng, buồn, sợ hãi, thất vọng…trong công việc Thực trạng tựđiều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý chỉ ở mức tương đối phù hợp.Xét riêng mặt nhận thức ta cũng thấy, phần lớn người làm tham vấn tâm lý có mức
độ tự điều chỉnh xúc cảm tương đối đúng Nếu như hầu hết người làm tham vấn tâm
lý đều nắm được yêu cầu xúc cảm trong công việc, thì chỉ có một số ít người nhậnbiết đúng cách tự điều chỉnh xúc cảm khi có hiện tượng chuyển dịch và chuyển dịchngược Về biểu hiện hành vi, phần lớn tự điều chỉnh xúc cảm của người làm thamvấn tâm lý là tương đối phù hợp và có rất ít tự điều chỉnh xúc cảm của người làmtham vấn tâm lý ở mức phù hợp và chưa phù hợp Trong 4 nhóm cách để tự điềuchỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý, lựa chọn nhóm cách điều chỉnh nhậnthức là nhiều nhất), xác định được rằng trong số những yếu tố tác động được nghiên
cứu (giới tính, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế, sự hài lòng trong công
việc, sự giám sát của nhà chuyên môn, sự hỗ trợ của đồng nghiệp, hoạt động đào tạo và bồi dưỡng năng lực thường xuyên, áp lực công việc thì yếu tố trình độ chuyên môn và sự giám sát của nhà chuyên môn là có tác động mạnh nhất).
Trên cơ sở thực nghiệm tác động, luận án đã khẳng định tạo điều kiện đểngười làm tham vấn tâm lý tham gia vào các nhóm giám sát có thể cải thiện mức độ
tự điều chỉnh xúc cảm của họ
Như vậy, ngoài việc bổ sung làm sâu sắc thêm các lý luận về tự điều chỉnh xúccảm của người làm tham vấn tâm lý, kết quả thực trạng đã cho thấy cần phải cảithiện mức độ tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý và một trongnhững biện pháp hữu hiệu là tham gia nhóm giám sát Kết quả luận án là tài liệutham khảo cho việc thiết kế các chương trình đào tạo và bồi dưỡng nhằm cải thiệnmức độ tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý ở nước ta
Luận án bao gồm các phần:
Trang 15- Mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu tự điều chỉnh xúc cảm của người làm
tham vấn tâm lý
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý
- Kết luận và kiến nghị
- Danh mục các công trình đã công bố
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
CHƯƠNG 1
Trang 16NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỰ ĐIỀU CHỈNH XÚC CẢM
CỦA NGƯỜI LÀM THAM VẤN TÂM LÝ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1 Nghiên cứu về điều chỉnh xúc cảm tự động
Những nghiên cứu về điều chỉnh xúc cảm (ĐCXC) có thể phân chia thành haihướng chính, đó là điều chỉnh xúc cảm tự động và điều chỉnh xúc cảm có ý thức
Về điều chỉnh xúc cảm tự động: (cơ chế tự động + khoái cảm) tự động vô thức
Hầu hết các nghiên cứu điều chỉnh xúc cảm tự động đều dựa trên phương pháp
tiếp cận hành vi Điều chỉnh xúc cảm tự động được hiểu là sự chỉnh sửa bất kỳ khía
cạnh nào của xúc cảm mà không đưa ra những quyết định có ý thức, không chú ýđến quá trình điều tiết xúc cảm, và không có sự tham gia kiểm soát một cách cố
ý Những nghiên cứu về điều chỉnh xúc cảm tự động gần đây đã đề cập đến nhữngthay đổi quá trình xúc cảm trong tương quan với những mục tiêu tự động
Cơ chế của điều chỉnh xúc cảm tự động
Cơ chế tự vệ và sự dồn nén các xúc cảm tiêu cực được xem là hiện tượng đạidiện cho những hình thức sớm nhất của điều chỉnh xúc cảm tự động (S Freud,1936) Trong lý thuyết của S Freud, cá nhân phòng vệ bằng cách ức chế kinhnghiệm xúc cảm tiêu cực Mục đích của việc tự động dồn nén các xúc cảm tiêu cực
là để cá nhân né tránh việc phải đối diện trực tiếp với những xúc cảm gây ra đau
đớn cho họ hoặc hiện thời họ không thể đối phó (S Freud, 1961) Trong lý thuyếtphân tâm của S Freud, cơ chế tự vệ là những chiến lược tâm lý được đưa vào vở
kịch của vô thức để thao tác, từ chối, hoặc bóp méo sự thật (thông qua các quá trình
dồn nén, hợp lý hoá…), và để duy trì một hình ảnh cá nhân được xã hội chấp nhận.Người khỏe mạnh bình thường sử dụng các cơ chế tự vệ khác nhau, trong suốt cuộcđời Nếu một cơ chế tự vệ nào đó được bản ngã sử dụng liên tục, dẫn đến đến chỗ
cá nhân thích nghi kém hiệu quả, sức khoẻ thể chất và tinh thần suy giảm, thì khi đó
Trang 17cá nhân sẽ rơi vào tình trạng bệnh lý Một số nghiên cứu về cơ chế tự vệ (Vaillant,1977; Vaillant & McCullough, 1998; Shedler, Mayman & Manis, 1993)[67] trênnhững người có mức tự vệ cao và những người có mức tự vệ thấp hơn cho thấy, khitrải qua một tình huống căng thẳng nhẹ (ví dụ, đọc to lên trong phòng thí nghiệm),thì những người có mức tự vệ cao có nhiều dấu hiệu của sự lo lắng hơn so vớinhững người có mức tự vệ thấp hơn Quan trọng hơn, những người có cơ chế tự vệcao có tim mạch đập nhanh hơn Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng nhữngngười tham gia có mức dồn nén xúc cảm cao thường có xu hướng gán cho trạng tháixúc cảm của mình một màu sắc tiêu cực (Lane, Sechrest, Riedel, Shapiro &Kaszniak, 2000) [67] Khi họ được tham gia một cuộc thử nghiệm về sự hình thànhxúc cảm thì những người này có xu hướng gọi tên những xúc cảm tiêu cực nhiềuhơn Đồng thời, họ cũng thể hiện kỹ năng xã hội, kỹ năng nhận thức kém, và cómức phản ứng sinh lý mạnh hơn (Asendorpf & Scherer, 1983; Brosschot & Janssen,1998; Schwartz, 1995; Weinberger, 1995) [dẫn theo 71] Trong một nghiên cứutương tự, (Shaver & Mikulincer, 2007) phát hiện ra rằng những cá nhân khi trưởngthành có biểu hiện thường xuyên né tránh tình cảm trong mối quan hệ thân thiết,chính là những người mà khi còn nhỏ đã có những kinh nghiệm tiêu cực trong việcthể hiện xúc cảm (dẫn theo Cassidy, 1994) Tác giả lý giải rằng, ngay khi còn nhỏcác cá nhân đó đã học cách kiềm chế những xúc cảm tiêu cực (Kobak, Cole, Ferenz-Gillies, & Fleming, 1993; Mikulincer & Shaver, 2003), và theo thời gian việc kiềmchế những xúc cảm tiêu cực này trở thành tự động hoá theo thời gian Cá nhân nào
có mức né tránh biểu hiện xúc cảm ở mức cao thì bị khựng lại (đột nhiên dừng lại)khi đọc các từ vựng về xúc cảm (Mikulincer, Birnbaum, Woddis, & Nachmias,2000) Đặc biệt, quá trình dồn nén xúc cảm này có thể không hoàn toàn giải quyếtđược những phản ứng tiêu cực về xúc cảm của họ, và có thể họ phải chịu một sốảnh hưởng xấu từ việc dồn nén xúc cảm của mình (Egloff, Schmukle, Burns &Schwerdtfeger, 2006) nghiên cứu dồn nén xúc cảm tự phát khi những người thamgia đọc một bài phát biểu trong phòng thí nghiệm Trong nghiên cứu này, nhằm tối
đa hóa cơ chế tự động điều chỉnh xúc cảm trong bài phát biểu này, nên người tham
Trang 18gia không được hướng dẫn để điều chỉnh xúc cảm của họ Kết quả là dồn nén xúccảm tự động có tương quan cao với đáp ứng sinh lý (tim đập nhanh)
Nguyên nhân và cách thức diễn ra điều chỉnh xúc cảm tự động
Trên thực tế, điều chỉnh xúc cảm tự động diễn ra khá phổ biến trong đời sống
cá nhân Ngay từ thời thơ ấu, cá nhân đã học được những thói quen, những chiếnlược quản lý xúc cảm từ những khuôn mẫu văn hóa xã hội Tất cả các quá trình tạo
ra sự điều tiết tự động (tự động hóa) xuất phát từ quá trình học tập thành thạo
(Aarts & Dijksterhuis, 2000; Adams & Markus, 2004; Koole & Jostmann, 2004;Rothbaum, Pott, Azuma, Miyake & Weisz, 2000; Rudman, 2004) Ví dụ, ngay từthời thơ ấu, đứa trẻ được dạy "Tức giận là phá hoại" hoặc "Cười lớn là thô tục" vàtrẻ phải học cách kìm nén biểu hiện xúc cảm, như không cười lớn, không được quágiận… khi có các xúc cảm trên Theo thời gian, việc thực hiện nhiều lần sẽ dẫn đếnhiện tượng tự động hoá, xúc cảm của họ sẽ tự động được điều chỉnh, mà không cầnnghĩ đến mục tiêu lúc ban đầu
Một loạt các nghiên cứu cho thấy trong khi thực hiện những hành động cóđịnh hướng (có xác định mục tiêu), cá nhân có thể điều chỉnh xúc cảm tự động kháhiệu quả hơn khi cá nhân thực hiện hành động mà không có sự định hướng (Koole
& Coenen, 2007; Koole & Jostmann, 2004; Kuhl, 1981) Mục tiêu của hành động
có định hướng là để giải quyết vấn đề chứ không phải nhằm trải nghiệm những xúc
cảm tiêu cực trong tình huống đó Vì thế, hành động có định hướng làm giảm nhữngảnh hưởng của xúc cảm tiêu cực trong các tình huống (Koole & Coenen; Koole &Jostmann) Hành động có định hướng của cá nhân thậm chí còn có thể làm giảmnhững ảnh hưởng xấu của xúc cảm tiêu cực trong tiềm thức (Jostmann, Koole,Wulp van der & Fockenberg, 2005)
Nhìn chung, những nghiên cứu về điều chỉnh xúc cảm tự động chủ yếu tậptrung vào các cách thức để điều chỉnh xúc cảm Đáng chú ý nhất là trong rất nhiềunghiên cứu này, điều chỉnh xúc cảm tự động được suy luận chứ không trực tiếp đo
Về thực chất, điều chỉnh xúc cảm tự động được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến
Trang 19như là quá trình tự động hóa trong điều chỉnh xúc cảm từ quá trình học tập thành thạo, mà chưa chú ý đến trải nghiệm cá nhân
1.1.1.2 Nghiên cứu điều chỉnh xúc cảm có ý thức
Gần đây, nhiều nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu điều chỉnh xúc cảm có ý thức(emotional self-regulation hoặc emotional regulation) nhiều hơn là điều chỉnh xúccảm tự động Một số nhà nghiên cứu cũng đã phân tích mức độ mà khoa học thầnkinh hiện đại góp phần vào nghiên cứu xúc cảm và tự điều chỉnh xúc cảm(TĐCXC) Các tác giả Joseph J Campos, Carl B Frankel & Linda Camras đã cómột cách tiếp cận riêng trong nghiên cứu xúc cảm và TĐCXC Các tác giả cho rằng,
cá nhân có thể tác động vào tình huống tạo ra xúc cảm hay chủ động tự điều chỉnh
biểu hiện xúc cảm gắn với tình huống Các tác giả này đã dùng phương pháp tiếp
cận TĐCXC gồm hai yếu tố để nghiên cứu về phát triển của trẻ Phương pháp tiếpcận nghiên cứu đầu tiên là tác động vào giai đoạn tạo ra xúc cảm, sau đó học cách
tự điều chỉnh làm thay đổi trạng thái xúc cảm Nhìn chung, phương pháp hai yếu tố
để TĐCXC khá đơn giản, dễ hiểu, và trực quan Mục đích của những nghiên cứunày là phát huy tối đa những xúc cảm phù hợp như niềm vui, hài lòng và mãnnguyện, và giảm đến mức tối thiểu những xúc cảm không phù hợp như giận dữ, xấuhổ, và khinh miệt Hầu hết các nghiên cứu hai yếu tố về TĐCXC hướng tới việcthay thế những xúc cảm không phù hợp bằng những xúc cảm được xã hội chấp nhậnnhiều hơn
Những nghiên cứu đã đề cập đến nhiều lý do để TĐCXC của con người.Diamond & Aspinwall cho rằng một trong những lý do để cá nhân TĐCXC được
gọi là “động lực khoái lạc” (hedonic motivation), đó là, động lực để tránh khó chịu, cảm giác đau đớn, và để tìm cảm giác dễ chịu Nhưng TĐCXC vượt xa những động
lực khoái lạc đơn giản để tránh đau đớn và tìm niềm vui Con người cũng có thể cố gắng tăng cường hay ức chế kinh nghiệm và biểu hiện xúc cảm mà họ tin rằng sẽ phù hợp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong một số tình huống cụ thể Cảm thấy
hạnh phúc và nhẹ nhõm về cái chết của một người khác có thể được cho là xúc cảmkhông phù hợp, trong khi cảm thấy buồn về sự đi xa một người bạn tốt là phù hợp
Trang 20vì nó cho thấy tầm quan trọng của người bạn đó Vì vậy, để đánh giá xúc cảm phù
hợp hay không phù hợp và động cơ nào khiến con người TĐCXC thì phải được
xem xét trong bối cảnh cụ thể (Diamond & Aspinwall, 2003).
Cá nhân có thể TĐCXC để bảo vệ xúc cảm của người khác Ví dụ, che giấu
nỗi thất vọng về một món quà sinh nhật để không làm buồn lòng người tặng quà Cánhân có thể ngăn chặn xúc cảm này hay tạo một xúc cảm khác để bảo vệ an toàn
cho chính họ, hoặc để gợi ra những phản ứng hữu ích từ người khác Ví dụ, một
người phụ nữ có thể ngăn chặn sự tức giận của mình để tránh bị tổn thương bởichồng của cô, hay cô ấy có thể giả vờ buồn để được hỗ trợ và giúp đỡ Cuối cùng,
việc lo sợ bị đánh giá tiêu cực bởi những người khác vì thể hiện một xúc cảm không
phù hợp thường là nền tảng của TĐCXC Động lực để tránh bị đánh giá không
thuận lợi bởi những người khác có nền tảng từ những hiểu biết về các khuôn mẫu
xúc cảm – nó quy định những xúc cảm nào là phù hợp trong một bối cảnh cụ thể
(Manstead & Fischer, 2000) Theo Hochschild (1983), khuôn mẫu xúc cảm cho
chúng ta biết tiêu chí để đáp ứng một cách thích hợp về mặt xúc cảm, trong khiđộng cơ điều chỉnh xúc cảm giải thích tại sao mọi người thay đổi xúc cảm của họtheo các khuôn mẫu xúc cảm
Phần lớn cách tiếp cận của các nghiên cứu về TĐCXC đều tập trung vào các
nhóm cách thức TĐCXC trải dài dọc theo quá trình xúc cảm Nghiên cứu các cách
TĐCXC tập trung vào giai đoạn đầu khi xúc cảm chưa xảy ra có tác giả Gross và
Munoz Nhìn chung, những cách TĐCXC ở giai đoạn này tập trung vào việc chủ
động tác động đến tình huống nảy sinh xúc cảm hay chủ động né tránh tình huống
đó hoặc tác động nhằm làm biến đổi một số khía cạnh của tình huống nhằm thay đổi
xúc cảm Những nghiên cứu của tác giả Kopel & Arkowitz, (1974); Kleck và cáccộng sự, (1976); Lanzetta và các cộng sự, (1976.); McCanne & Anderson (1987);Zuckerman và các cộng sự (1981); Bush và các cộng sự (1989) tập trung vào cách
chủ động điều chỉnh biểu hiện xúc cảm khi xúc cảm đang hình thành Họ cũng cho
thấy, các cách này có kết quả trước mắt nhưng để lại một số ảnh hưởng lâu dài
Trang 21Nhĩm cách thức TĐCXC tập trung vào điều chỉnh nhận thức cũng được
Lazarus & Alfert (1964) nghiên cứu Nghiên cứu đã tập trung vào cách điều chỉnh
nhận thức bằng đánh giá lại ý nghĩa của tình huống gây ra những xúc cảm khơng phù hợp Kramer và các đồng nghiệp cho thấy, đánh giá lại khơng làm giảm khả
năng nhận thức vì nĩ khơng ảnh hưởng đến bộ nhớ Theo nhĩm tác giả Muraven,Tice, Baumeister thì sự điều chỉnh xúc cảm cĩ cân nhắc, cĩ ý thức của cá nhân làm
giảm khả năng nhận thức, khả năng chú ý, giảm năng lực thực hiện nhiệm vụ địi hỏi cá nhân phải nhận thức
Ngược lại với cách đánh giá lại, nghiền ngẫm là cách cá nhân cứ chìm trong
suy nghĩ miên man về tình huống gây xúc cảm Nghiên cứu của Nolen-Hoeksema,
McBride & Larsen (1997); Nolen-Hoeksema & Morrow (1993) cho thấy, sự nghiền
ngẫm làm trầm trọng các triệu chứng ở bệnh nhân trầm cảm Gross (1999) cho rằng
nghiền ngẫm về sự tức giận, về tội lỗi và những suy nghĩ lo lắng gĩp phần tạo ranhững xúc cảm tiêu cực mạnh hơn
Rimé, Noël & Philippot (1991) đã nghiên cứu về TĐCXC thơng qua cách chia
sẻ xã hội trong một phịng thí nghiệm Đầu tiên, người tham gia được yêu cầu chia
sẻ một kinh nghiệm xúc cảm của họ và sau đĩ báo cáo những gì họ trải nghiệmtrong lúc chia sẻ Gần như tất cả những người tham gia báo cáo hình ảnh tinh thầncủa các sự kiện gây xúc cảm cũng như kèm theo cảm giác cơ thể về xúc cảmnày Báo cáo cho thấy niềm vui được đánh giá là dễ chịu hơn so với buồn bã, sợ hãi,
hay giận dữ Các nghiên cứu cho thấy, chia sẻ xúc cảm sẽ làm giảm trải nghiệm về
xúc cảm (Zech, 2000) Con người ít cĩ khả năng để chia sẻ xúc cảm xấu hở hay mặc
cảm tội lỗi (Finkenauer & Rimé, 1998) Nghiên cứu của Finkenauer & Rimé,(1998) về ảnh hưởng của việc lưu giữ những xúc cảm bí mật trên 373 người, thì cĩ43% người tham gia cho biết việc lưu giữ bí mật cĩ ảnh hưởng tích cực và 57%người tham gia cho rằng nĩ cĩ ảnh hưởng tiêu cực Kể từ giữa những năm 1980,
một số nghiên cứu đã khám phá giá trị của việc viết hoặc nĩi chuyện về những trải
nghiệm xúc cảm Cá nhân tham gia đã tiết lộ những trải nghiệm xúc cảm của họ
thơng qua nĩi chuyện, hoặc viết Tất cả các nhĩm được yêu cầu viết từ 3 đến 5 lần
Trang 22trong một ngày, trong khoảng từ 15-30 phút mỗi ngày Viết được thực hiện trongphòng thí nghiệm và không có phản hồi nào Những người tham gia được yêu cầuviết về các chủ đề nhẹ nhàng, chẳng hạn như cách họ sử dụng thời gian của họ Sang ngày tiếp theo, họ được yêu cầu viết những suy nghĩ sâu sắc nhất về những sựkiện xúc cảm vô cùng quan trọng đã ảnh hưởng đến họ và cuộc sống của họ Trongkhi viết, họ được khuyến khích biểu lộ xúc cảm Tất cả các văn bản của họ sẽ hoàntoàn được giữ bí mật Người tham gia được hướng dẫn là không cần phải chú ý đếnchính tả, cấu trúc câu, ngữ pháp và không hạn chế thời gian viết Đa số những người
tham gia đã bộc lộ độ sâu của những trải nghiệm chấn thương Mất tình yêu, cái
chết, sự cố lạm dụng tình dục và thể chất, và thất bại bi thảm là các chủ đề phổ
biến Phần lớn người tham gia viết đều tự báo cáo là trong quá trình viết, họ có tâmtrạng vô cùng khó chịu và xúc động Họ khóc bởi sự tái hiện của trải nghiệm cũ,nhưng họ đều thừa nhận giá trị của việc viết lại (Pennebaker, 1997a; Smyth, 1998)
Tự báo cáo cũng cho thấy rằng viết về những trải nghiệm khó chịu, mặc dù đau đớntrong những ngày viết, nhưng về lâu dài, viết cải thiện tâm trạng Những lợi ích sứckhỏe của việc tiết lộ xúc cảm được tìm thấy trong nghiên cứu của Esterling, Antoni,Kumar & Schneiderman (1990) Các sinh viên tham gia viết tiểu luận có tiết lộ xúccảm có chức năng miễn dịch cao hơn so với những người có bài tiểu luận không tiết
lộ xúc cảm Một số nghiên cứu đã so sánh trực tiếp các tác động của viết một mình
so với nói chuyện, hoặc vào một máy ghi băng hoặc một nhà trị liệu Người ta thấyrằng, tình huống nói chuyện với một nhà trị liệu đã tạo ra tâm trạng tiêu cực trongthời gian ngắn hơn so với viết một mình, nhưng so sánh hiệu quả lâu dài thì hầu hếtcác nghiên cứu đều cho rằng việc tiết lộ rộng rãi hơn mang lại lợi ích (Donnelly &Murray, 1991; Murray, Lamnin & Carver, 1989) Kết quả cho thấy rằng, viết mỗituần một lần trong một tháng có thể có hiệu quả hơn viết bốn lần trong vòng mộttuần duy nhất Cuối cùng, Smyth (1998) đã tìm thấy, nam giới tham gia viết đượchưởng lợi nhiều hơn nữ giới
Nhìn chung, những nghiên cứu về TĐCXC chỉ ra con người TĐCXC vì động
cơ khoái lạc, vì bảo vệ người khác, bảo vệ bản thân và vì theo khuôn mẫu cảm xúc
Trang 23Các cách thức TĐCXC chạy dọc theo quá trình xúc cảm cũng đã được nghiên cứu
và tính hiệu quả tương ứng đã được đề cập Hầu hết các nghiên cứu về xúc cảm đãđặt xúc cảm của con người trong vòng ảnh hưởng rộng lớn hơn, đó là ảnh hưởng xãhội Phương pháp nghiên cứu về xúc cảm cũng khá đa đạng từ tự báo cáo, quan sát
từ phòng thí nghiệm, xử lý tình huống giả định, hồi cứu
Những nghiên cứu về TĐCXC của NLTVTL được đề cập bởi các công trìnhcủa các nhóm tác giả Jeffrey A Daniels & Lisa M Larson; Friedlander, Keller -Baker Peca & Olk (1986); Beaton & Murphy Nội dung chính của các nghiên cứunày xoay quanh những xúc cảm lo lắng, căng thẳng của NLTVTL trước đánh giácủa người giám sát công việc và trước những áp lực do tính chất công việc trợ giúp.Nghiên cứu E.D Neukrug (1999) và N.J Richard (2003) về cách thức phản ứng cơbản của NLTVTL với cảm xúc, hành vi, cử chỉ của thân chủ Những nghiên cứutiêu biểu như C Zastrow (1985), D Hepworth (1997) đã đề xuất những phươngpháp tạo nhóm giúp NLTVTL chia sẻ cảm xúc và học hỏi hành vi ứng phó
TĐCXC của NLTVTL dựa trên tính chuyên nghiệp cũng diễn ra rất nhanh nhưng khác điều chỉnh xúc cảm tự động vô thức của người bình thường Ở đa số người bình thường, điều chỉnh xúc cảm tự động diễn ra một cách vô thức dù là theo
cơ chế dồn nén của thuyết phân tâm hay theo cơ chế tự động hóa của thuyết hành
vi Còn TĐCXC của NLTVTL mang bản chất khác, tức là có yêu cầu cao hơn so với người bình thường, họ phải ý thức được những xúc cảm đến từ vô thức Nhưng những nghiên cứu chuyên sâu về TĐCXC của NLTVTL như đánh giá mức độ hiểu những xúc cảm đến từ vô thức của NLTVTL, đánh giá việc hiểu và sử dụng các cách TĐCXC chuyên biệt dành cho NLTVTL vẫn còn ít.
1.1.1.3 Những nghiên cứu về tham vấn và NLTVTL
Yêu cầu chung về kỹ năng của NLTVTL được một số tác giả nghiên cứu Y.Anthony (1973) cho rằng NLTVTL cần có những kỹ năng sau: nhóm kỹ năng tươngtác nhằm thiết lập mối quan hệ bao gồm kỹ năng có lời và không lời; nhóm kỹ năngcan thiệp nhằm giúp đối tượng nhận thức, xây dựng mục tiêu và tìm kiếm các giảipháp bao gồm các kỹ thuật và chiến lược áp dụng cách tiếp cận lý thuyết khác nhau
Trang 24và nhóm kỹ năng liên hệ C Zastrow (1985) đã chỉ ra những kỹ năng mà NLTVTLcần có như tạo lập môi trường thân thiện, an toàn; kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu vớithái độ chân thành, xem xét các giải pháp và đưa ra những quyết định phù hợp nhấttrong quá trình tham vấn A.E Ivey (1993) lại chỉ ra những kỹ năng giao tiếp baogồm việc sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ, hành vi, thái độ cởi mở và cách hỏi, làm rõ ý,phản hồi, thấu hiểu để giúp đối tượng thảo luận về vấn đề nhạy cảm, phát hiện cácnguồn lực sáng tạo nhằm xây dựng và thực hiện các giải pháp Tác giả E.D.Neukrug (1999) cũng cho rằng đã là NLTVTL, cho dù lâu năm thì NLTVTL cũngcần phải có những kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu và kỹ năng xử lý im lặng trong hìnhthành mối quan hệ tích cực trong tham vấn
Yêu cầu chung về phẩm chất của NLTVTL: các tác giả Morales & Sheafor(1987) cho rằng thái độ, niềm tin cá nhân đóng vai trò quan trọng trong định hướnghành vi giúp đỡ Nó qui định cách con người suy nghĩ hay lựa chọn hành vi ứng xửtrong quá trình tham vấn Ngược lại thái độ thiếu tôn trọng, không tin tưởng thườngtạo ra mối quan hệ trên – dưới và tiền đề cho xu hướng áp đặt, đưa ra lời khuyênngay khi đối tượng chưa bày tỏ hết vấn đề của họ Niềm tin ở khả năng tự điềuchỉnh của đối tượng sẽ giúp NLTVTL sẵn sàng, kiên trì giúp đỡ đối tượng thay đổingay cả khi họ có những hành vi hay thái độ thù địch
Một số khó khăn của NLTVTL có liên quan đến những yêu cầu của NLTVTLcũng được các nhà nghiên cứu chỉ ra Wampold (2001) cho rằng, các kỹ thuật xâydựng mối quan hệ giữa NLTVTL và thân chủ, dù là theo trường phái nào, đều phảidựa trên sự hợp tác, chia sẻ và thấu cảm, nhất quán vô điều kiện, và các đặc điểmcủa NLTVTL đều góp phần quan trọng đến hiệu quả của công việc TVTL Chính vìvậy, NLTVTL luôn gặp thách thức trong việc duy trì mối quan hệ thân thiết, chămsóc thân chủ nhưng chuyên nghiệp và bảo mật một chiều Bối cảnh tách biệt trongkhung làm việc của NLTVTL làm cho họ chịu rất nhiều áp lực Do mức độ thấucảm cao, do NLTVTL thường xuyên làm việc với trẻ bị bạo hành, bị lạm dụng tìnhdục thường bị lo lắng, đau khổ, stress (Pearman, 1995) Chính những thách thức và
áp lực trong nghề TVTL nên TĐCXC của NLTVTL gặp không ít khó khăn
Trang 251.1.2 Nghiên cứu trong nước
Theo nhiều nhà nghiên cứu thì TĐCXC là một trong những thành tố cấu thànhtrí tuệ xúc cảm [8, 34, 44] Nhìn chung, những năm gần đây, các nhà khoa học trongnước đã tập trung nghiên cứu về trí tuệ xúc cảm trên nhiều đối tượng khác nhau Vìchưa có công trình nghiên cứu riêng biệt về TĐCXC, đặc biệt là TĐCXC củaNLTVTL nên luận án đề cập đến những nghiên cứu về trí tuệ xúc cảm Qua nhữngnghiên cứu về trí tuệ xúc cảm của các tác giả Nguyễn Huy Tú, Phạm Minh Hạc,Trần Trọng Thủy, Lê Đức Phúc, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Thị Dung cũng đã
đề cập đến nội dung tự điều chỉnh xúc cảm như một tiểu hệ thống của trí tuệ xúccảm Tác giả Dương Thị Hoàng Yến ứng dụng mô hình lý thuyết EI 97 của JonhMayer và Petrer Salovey vào việc nghiên cứu và phát triển EI của GVTH Kết quảnghiên cứu thực trạng 2 lĩnh vực EI của 363 GVTH cho thấy có sự khác biệt giữa 2lĩnh vực EI kinh nghiệm và EI cách Dường như sự phát triển EI của GVTH hiệnnay chủ yếu thông qua con đường thực hiện hoạt động nghề nghiệp và hoạt độngsống, mang đặc trưng của tư duy trực quan, cụ thể về xúc cảm Để phát triển EI cho
họ cần nâng cao EI cách [44, tr.122] Thực trạng 4 dạng năng lực EI cơ bản củaGVTH cho thấy năng lực hiểu xúc cảm và năng lực sử dụng xúc cảm có điểm trungbình cao hơn, còn năng lực quản lý xúc cảm của GVTH kém nhất Tác giả kết luận:
Ở GVTH năng lực nhận thức xúc cảm phát triển nhất, còn năng lực quản lý xúc cảm
là năng lực bậc cao nhất nhưng có điểm số thấp nhất Điều này có thể là nguyênnhân dẫn đến sự tồn tại hàng loạt các hiện tượng trong giáo dục hiện nay như GVchưa kiểm soát được hành vi của mình, thiếu quan tâm [44, tr.123] Thực trạng năng
lực EI thành phần của GVTH cho thấy năng lực quản lý xúc cảm của GVTH có
điểm trung bình thấp nhất so với các năng lực EI thành phần khác Nguyên nhândẫn đến kết quả này là do GVTH phải chịu sức ép của thanh tra kiểm tra, chịu tráchnhiệm về kết quả giảng dạy, thời gian làm việc nhiều, không gian bó hẹp trongphạm vi lớp học, thu nhập thấp và quan hệ phụ thuộc của học sinh vào GVTH
Năng lực nhận thức xúc cảm phát triển nhất trong khi năng lực quản lý xúc cảm của bản thân kém phát triển nhất Điều này chứng tỏ năng lực cải thiện đời sống
Trang 26xúc cảm của bản thân chưa được huấn luyện [44, tr.126-127] và như vậy để phát
triển EI cho GVTH cần đặc biệt nâng cao nhận thức của họ về việc chú trọng rèn
luyện năng lực quản lý xúc cảm của bản thân [44, tr.129] Tác giả Nguyễn Thị
Thanh Tâm nghiên cứu Trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giaotiếp công vụ (2012) Trên cơ sở hệ thống hóa các nghiên cứu lý luận về trí tuệ cảmxúc, luận án đã xây dựng khái niệm, mô hình cấu trúc trí tuệ cảm xúc của cán bộchủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ, gồm 4 nhánh năng lực với những biểuhiện cụ thể của nó: (1) Năng lực nhận biết, bày tỏ xúc cảm trong quá trình giao tiếp,(2) Năng lực sử dụng các xúc cảm để hỗ trợ, thúc đẩy tư duy nhằm tạo thuận lợi choquá trình giao tiếp; (3) Năng lực thấu hiểu và biết phân tích các xúc cảm diễn ra
trong giao tiếp; (4) Năng lực quản lý các xúc cảm nhằm đạt được mục đích giao tiếp
của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Luận án đã làm rõ vai trò quan trọng của trí tuệ cảmxúc trong quá trình lãnh đạo, quản lý Luận án đã đánh giá thực trạng mức độ biểuhiện trí tuệ cảm xúc trong giao tiếp công vụ của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở và chỉ ramột số yếu tố hiện đang có ảnh hưởng đến năng lực trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủchốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ thông qua khảo sát, nghiên cứu thực tiễn tạiNghệ An [31] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hồi Loan về “Trí tuệ cảm xúc củasinh viên các lớp chất lượng cao thuộc đại học quốc gia Hà Nội thực trạng và giảipháp” đã điều tra trên 404 sinh viên Đề tài kết luận tuệ cảm xúc của sinh viên của
đại học Quốc Gia Hà Nội rất thấp Trong đó, tiểu thang đo về quản lý cảm xúc luôn
có kết quả thấp hơn ba tiểu thang đo còn lại (hiểu cảm xúc, nhận biết cảm xúc và
cảm xúc hóa ý nghĩ) Tác giả đã chỉ ra rằng trình độ phát triển trí tuệ xúc cảm không
phụ thuộc vào giới nhưng có sự khác biệt giữa sinh viên sinh ra và lớn lên ở nôngthôn và sinh viên sinh ra và lớn lên ở thành thị [21] Tác giả Đào Thị Oanh có một
số nghiên cứu chuyên sâu về xúc cảm của học sinh Nghiên cứu về thực trạng biểuhiện của một số xúc cảm và kỹ năng đương đầu với xúc cảm tiêu cực ở thiếu niênhiện nay, tác giả nhận thấy rằng học sinh thiếu niên hiện nay có biểu hiện xúc cảmtích cực là chủ yếu Không có sự khác biệt giữa học sinh nam và nữ, giữa học sinhnội thành và ngoại thành, giữa các khối lớp về xu hướng biểu hiện chung của các
Trang 27xúc cảm Nhìn chung học sinh thiếu niên chưa biết đương đầu hiệu quả với các xúccảm tiêu cực và chưa hình thành một phong cách đương đầu nhất định với xúc cảmtiêu cực Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát xúc cảm tiêu cực ởthiếu niên, trong đó có các đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh hiện thực và sự ổn địnhtâm lý của con người [25] Nghiên cứu về trí tuệ xúc cảm và việc giáo dục trí tuệxúc cảm cho học sinh THCS trong gia đình và nhà trường hiện nay, Đào Thị Oanh
đã cung cấp bức tranh chung về mức độ trí tuệ xúc cảm của học sinh trung học cơ
sở hiện nay và thực trạng giáo dục trí tuệ xúc cảm cho các em ở gia đình và trongnhà trường Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số trí tuệ xúc cảm của các học sinhđược nghiên cứu chủ yếu đạt mức trung bình so với chuẩn, nhưng độ phân tán khálớn Tỷ lệ học sinh đạt mức thấp và rất thấp khá cao (34,6%), trong khi tỷ lệ đạtmức cao và rất cao còn ít (khoảng 7%) Điểm đáng chú ý là điểm thấp nhất thể hiện
ở “khả năng kiên trì để đạt mục đích”; “khả năng quản lý xúc cảm của bản thân”;
“khả năng sử dụng xúc cảm thúc đẩy bản thân”; “khả năng quản lý xúc cảm củangười khác” Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, tác giả cho rằng, hiện nay trongmột số trường THCS, vấn đề giáo dục xúc cảm cho học sinh đã được quan tâm ởmức độ nhất định, song còn mang tính tự phát và chủ yếu được lồng ghép tronggiáo dục một số kỹ năng sống cơ bản Tuy nhiên, giáo dục trí tuệ xúc cảm trong giađình cho các em còn chưa được chú trọng do nhận thức của các bậc cha mẹ về vấn
đề này còn hạn chế [26]
Tóm lại, hầu hết, khi nghiên cứu về TTXC, các tác giả cũng có đề cập đến TĐCXC như một thành tố cấu thành nên TTXC Nhìn chung, các kết quả cũng đã cho thấy nhóm năng lực về điều chỉnh xúc cảm trên các đối tượng nghiên cứu thấp hơn so với các nhóm năng lực còn lại trong cùng một thang đo Như vậy, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn về nội dung, mức độ của nhóm năng lực này nhằm góp phần cải thiện chúng Về khách thể, các nghiên cứu chủ yếu tiến hành trên giáo viên, học sinh phổ thông, sinh viên và người lao động trẻ mà chưa khảo sát trên NLTVTL
Trang 28Đối với những nghiên cứu trên khách thể là NLTVTL ở Việt Nam thì có thểchia làm các hướng Hướng nghiên cứu về những kỹ thuật can thiệp của ĐặngPhương Kiệt, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Công Khanh Hướng nghiên cứu về lýluận tham vấn của các tác giả Nguyễn Ngọc Phú, Trần Thị Minh Đức, Phạm TấtDong, Trần Quốc Thành, Đinh Phương Duy [dẫn theo 23] Hướng nghiên cứu về kỹ
năng tham vấn có các tác giả Bùi Thị Xuân Mai, Hoàng Anh Phước Hầu như chưa
có nghiên cứu về TĐCXC của NLTVTL Vì thế, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu
Điều chỉnh tâm lý là hoạt động chỉnh sửa những hoạt động phát triển tâm lýkhông phù hợp với “Mô hình tối ưu” nếu đánh giá theo hệ thống đã được tiếpnhận[9]
Tự điều chỉnh được xác định khi cá nhân ý thức và thực hiện quá trình điềuchỉnh của chính họ, có khả năng theo dõi, đánh giá hiệu quả hành vi tự điều chỉnhcủa chính họ Theo thuyết của Tice, Dianne M Bratslavsky & Ellen, cấu trúc của tự
điều chỉnh bao gồm ba thành phần: Thứ nhất là tiêu chuẩn của tự điều chỉnh; thứ hai là khả năng hiểu và thực hiện hành vi tự điều chỉnh; thứ ba chính là tự giám sát
quá trình tự điều chỉnh dựa trên những tiêu chuẩn đã có [103]
Như vậy, tự điều chỉnh chính là cá nhân tự nhận ra và thực hiện hành vi chỉnhsửa những khía cạnh tâm lý không phù hợp nhằm làm cho hành vi trở nên thíchhợp
Trang 291.2.1.2 Xúc cảm
Xúc cảm là sự phản ánh tâm lý về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng
và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhucầu của chủ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp” [9,tr.29]
Xúc cảm nảy sinh khi một cá nhân tham dự vào tình huống và đánh giá tìnhhuống đó có trong tương quan với mục tiêu của họ (Gross, 2002)[62] Khái niệm
này cho thấy một trình tự thời gian của các sự kiện liên quan đến việc hình thành
xúc cảm: đầu tiên là một tình huống thực tế hoặc một tình huống do tưởng tượng;
thứ hai là sự đánh giá của cá nhân đối với tình huống đó trong tương quan với mục tiêu của họ, và, thứ ba, một phản ứng xúc cảm được hình thành Mà theo M Arnold,
phản ứng xúc cảm bao gồm phản ứng nhận thức, phản ứng biểu cảm và phản ứngphương thức Trong đó, phản ứng nhận thức được coi như là cơ chế tự vệ, dồn nén,
từ chối Phản ứng biểu cảm gồm biểu cảm sinh vật và biểu cảm văn hóa Phản ứngphương thức bao gồm ký hiệu tượng trưng, phương thức và tập quán Trong đó, kýhiệu tượng trưng có chức năng thông báo, đưa tín hiệu về sự hiện diện hoặc che đậymột xúc cảm nào đó [47]
Theo Carroll E Izard xúc cảm bao gồm 10 xúc cảm nền tảng như hồi hộp, vuisướng, ngạc nhiên, đau khổ, căm giận, ghê tởm, khinh bỉ, khiếp sợ, xấu hổ, tội lỗi
và những xúc cảm phối hợp như lo lắng, trầm uất, tình yêu, thù địch [4]
* Xúc cảm có thể được điều chỉnh một cách có ý thức
Những nghiên cứu về cơ sở thần kinh hiện đại của xúc cảm đã khẳng định xúc
cảm có thể điều chỉnh được [49] LeDoux đã phát hiện ra một bó nơron trực tiếp
nối liền với hạnh nhân, một bó nhỏ hơn dẫn tới vỏ não mới Con đường hẹp hơn vàngắn hơn ấy, một con đường bị che khuất, cho phép các giác quan cung cấp thôngtin trực tiếp cho hạnh nhân và phát ra một phản ứng trước khi những thông tin nàyđược vỏ não mới ghi nhận đầy đủ Sự phát hiện này đã làm đảo lộn quan niệm chorằng, để phát ra những phản ứng xúc cảm của nó, hạnh nhân nhất thiết phải phụthuộc hoàn toàn vào những tín hiệu do vỏ não mới phát đi Trên thực tế, hạnh nhân
có thể làm điều đó bằng cách đi theo con đường nhanh chóng hơn, ngay cả khi có
Trang 30một mạch song song giữa nó và vỏ não mới Hạnh nhân buộc ta phải phản ứng ngaytức khắc, trong khi vỏ não mới chậm hơn, nhưng có nhiều thông tin hơn, triển khaimột kế hoạch phản ứng đầy đủ hơn [76]
Trong nghiên cứu của mình, Gross, Richards và John đã khẳng định, TĐCXCdường như luôn luôn xảy ra trong xã hội Quan điểm này phù hợp với quan sát củaTomkins rằng xúc cảm của người lớn hầu như luôn luôn được tự điềuchỉnh (Tomkins, 1984), và được kiểm soát bởi vỏ não trước (Stuss & Benson,1986) TĐCXC là chức năng cao cấp, điển hình trong cuộc sống của con người.Mỗi ngày, con người không ngừng tiếp nhận một loạt những kích thích có khả nănggây phản ứng Các phản ứng xúc cảm không phù hợp, quá mức hoặc chưa đượckiểm tra đối với kích thích sẽ ngăn cản sự thích ứng của con người trong cộng đồng,
vì vậy, trong thực tế, con người phải sử dụng các dạng TĐCXC trong mọi lúc [87]
1.2.1.3 Tự điều chỉnh xúc cảm
Điều chỉnh xúc cảm có thể đến do tác động từ bên ngoài hay do chính bêntrong cá nhân đó Cho dù yếu tố góp phần tạo nên sự điều chỉnh đến từ bên ngoài,thì cũng phải qua sự kiểm duyệt của cá nhân đó Hay nói đúng hơn, mọi quá trìnhđiều chỉnh xúc cảm đều có thể quy về TĐCXC Trong cuốn Handbook ofContemporary Issues, tác giả Lawrence Balter, Catherine S Tamis-LeMonda khẳngđịnh: Tự điều chỉnh xúc cảm (emotional self-regulation) còn được gọi là điều chỉnh
xúc cảm (emotion regulation) (viết tắt là ER) bao gồm khả năng ý thức (cho cả
những quá trình vô thức) mà con người sử dụng, đồng thời cũng là năng lực mà con người sở hữu để điều khiển và quản lý những trải nghiệm và biểu hiện xúc cảm cũng như phản ứng của họ đối với xúc cảm [87].
Theo thuyết của Jame- Langer, điều chỉnh xúc cảm được hiểu là quá trình đè
nén các xúc cảm tiêu cực và khuyến khích các xúc cảm tích cực Nhưng do chỉ gắn
xúc cảm với những thay đổi cơ thể, thuyết này đã đặt xúc cảm vào chuỗi các hiệntượng không liên quan đến nhu cầu và động cơ, tước bỏ ý nghĩa thích nghi và chứcnăng điều chỉnh [9, tr.837]
Trang 31Fischer, Manstead, Evers, Timmers & Valk (2004) cho rằng, trước khi
TĐCXC, cá nhân phải nhận thức được trạng thái xúc cảm hiện tại và những hậu
quả có thể có do xúc cảm gây ra cho bản thân và những người khác Mọi người sẽ
cố gắng tạo ảnh hưởng đến xúc cảm chỉ khi họ ý thức được sự khác nhau giữa xúc cảm hiện tại với những xúc cảm mà họ muốn có hoặc muốn hiển thị [87] Như vậy,
TĐCXC cá nhân, bao gồm sự hiểu biết về nguyên nhân gây ra xúc cảm, về cảm giác
cơ thể của họ, về hành vi biểu lộ xúc cảm, và về các phương tiện có thể có của việcsửa đổi chúng Kiến thức xúc cảm tạo điều kiện cho TĐCXC bởi vì nó cung cấpthông tin thích hợp về trải nghiệm xúc cảm, và về các hành động có thể được dùngđến để đối phó với những xúc cảm khác biệt nhau
Salovey và Mayer cho rằng, TĐCXC là giai đoạn thứ 4 trong mô hình trí tuệxúc cảm như sau:
- Tiếp nhận xúc cảm - khả năng phát hiện giải mã các xúc cảm trên gươngmặt, tranh ảnh, giọng nói và các giả tạo văn hóa (cultural artifact)
- Sử dụng xúc cảm - khả năng khai thác các xúc cảm để thuận tiện cho nhiềuhành vi nhận thức, như là nghĩ và giải quyết vấn đề
- Hiểu xúc cảm - khả năng thấu hiểu các ngôn ngữ xúc cảm, hiểu rõ các mốiquan hệ phức tạp giữa các xúc cảm
- Quản lý xúc cảm - điều chỉnh xúc cảm của bản thân (TĐCXC) và của người
khác [19]
Một khái niệm đơn giản của Grolnick và các cộng sự (2005) về TĐCXC là
“một hệ thống các quá trình liên quan đến sự khởi xướng, duy trì và điều chỉnh phản ứng xúc cảm, cả tích cực lẫn tiêu cực”[75].
TĐCXC là một quá trình phức tạp liên quan đến sự khởi xướng, kiềm chế,
điều chỉnh trạng thái hay hành vi của một người trong một tình huống cụ thể, chẳng
hạn trải nghiệm chủ quan (cảm nhận), phản ứng nhận thức (suy nghĩ), các phản ứngtâm sinh lý liên quan xúc cảm (như nhịp tim, hoạt động của các hoocmon) và hành
vi liên quan xúc cảm (biểu hiện và hành vi của cơ thể) [101]
Trang 32Về mặt chức năng, TĐCXC có thể được xem như các quá trình có khuynh
hướng tập trung sự chú ý của một người vào một nhiệm vụ cụ thể và khả năng kiểm
soát các hành vi không phù hợp theo nguyên tắc nhất định [80].
TĐCXC là một thuật ngữ được sử dụng để mô tả sự tham gia của các quá trình
khác nhau nhằm điều tiết trải nghiệm xúc cảm TĐCXC có thể làm tăng lên, giảm
xuống hoặc duy trì xúc cảm (Gross & Thompson, 2007) [87]
Kristalyn Salters-Pedneault (2009) cho rằng, TĐCXC đề cập đến năng lực của
một người để hiểu và chấp nhận trải nghiệm xúc cảm của mình, nhằm phục vụ cho
chiến lược về sức khỏe, nhằm quản lý những xúc cảm không phù hợp khi cần thiết,
và nhằm làm cho hành vi trở nên thích hợp khi đau khổ [74]
Tóm lại, các nghiên cứu về TĐCXC đã chỉ ra rằng:
- TĐCXC chính là quá trình cá nhân ĐCXC cho chính họ, vì thế TĐCXC luôn
hướng vào xúc cảm của chính chủ thể và xem xúc cảm đó là đối tượng của TĐC.
- TĐCXC có sự tham gia của ý thức, của nhận thức.
- TĐCXC nhằm đáp ứng các mục tiêu đề ra, dựa trên các khuôn mẫu xúc cảm, các chuẩn mực văn hóa và gắn liền với tình huống cụ thể.
- TĐCXC luôn đi kèm quá trình đánh giá và nhận ra những xúc cảm không phù hợp so với tiêu chuẩn xúc cảm
- Các cách TĐCXC hướng tới việc chỉnh sửa các khía cạnh của quá trình xúc cảm (bao gồm sự tác động đến tình huống tạo ra xúc cảm; đánh giá lại ý nghĩa của tình huống; hay chỉnh sửa các phản ứng xúc cảm)
Trong nghiên cứu này, TĐCXC thể hiện ở việc nhận ra những xúc cảm không phù hợp so với những yêu cầu xúc cảm, có hành vi lựa chọn và thực hiện các cách điều chỉnh hiệu quả để tạo ra sự thay đổi mong muốn.
1.2.1.4 Tham vấn tâm lý và người làm tham vấn tâm lý
Tham vấn tâm lý
Nhiều tác giả trong nước cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về thamvấn Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai, tham vấn tâm lý là một hoạt động mà nhàchuyên môn, bằng kiến thức, hiểu biết và kỹ năng nghề nghiệp của mình, thấu hiểu
Trang 33những xúc cảm, suy nghĩ, hành vi của đối tượng (cá nhân, gia đình hay nhóm), giúp
họ khai thác nguồn lực, tiềm năng cho quá trình giải quyết [23,tr.15-20] Khái niệm
này nhấn mạnh phẩm chất, năng lực, phương cách và mục đích của NLTVTL Theo
tác giả Trần Thị Giồng, tham vấn là sự tương tác giữa NLTVTL và thân chủ, trongquá trình này, NLTVTL sử dụng các kỹ năng chuyên môn giúp thân chủ khơi dậy
tiềm năng để họ có thể tự giải quyết vấn đề đang gặp phải [14] Khái niệm này nhấn
mạnh đến tiến trình trợ giúp và mục đích của sự trợ giúp Tác giả Trần Thị Minh
Đức cho rằng tham vấn là sự tương tác giữa nhà tham vấn - người có chuyên môn
và kỹ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo được của nghề tham vấn - với thân chủ(còn được gọi là khách hàng) - người đang có vấn đề khó khăn về tâm lý cần đượcgiúp đỡ Thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật tâm tình (dựa trên những nguyêntắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp), thân chủ hiểu và chấp nhậnthực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình[10]
Trong luận án này, chúng tôi đưa ra khái niệm tham vấn tâm lý là một hoạt
động trợ giúp mà trong đó NLTVTL bằng kiến thức, thái độ và kỹ năng nghề nghiệp của mình, tương tác với thân chủ nhằm giúp thân chủ khơi dậy tiềm năng và tự giải quyết vấn đề của chính họ.
Đi sâu phân tích nội hàm của khái niệm tham vấn, chúng tôi thấy rằng:
- Thứ nhất: Tham vấn là một hoạt động (hay là một quá trình) trợ giúp Đời
sống tâm lý của con người rất đa dạng, phức tạp Do đó, việc trợ giúp thân chủ giảiquyết những khó khăn tâm lý cũng không dễ dàng, đơn giản như là việc cung cấpthông tin Vì vậy, tham vấn phải diễn ra trong một quá trình, có mở đầu, diễn biến
và kết thúc Một quá trình tham vấn bao gồm các công đoạn cụ thể khác nhau có thểkéo dài trong một vài ngày, một tuần, một tháng thậm chí một vài năm
- Thứ hai: Mục tiêu tham vấn nhằm trợ giúp thân chủ khơi dậy tiềm năng và
tự giải quyết vấn đề của chính họ NLTVTL không giải quyết thay vấn đề cho thân
chủ mà giúp thân chủ những công cụ, phương tiện tâm lý để họ trợ giúp chính bảnthân mình Không ai hiểu thân chủ bằng chính bản thân họ Tuy nhiên, trong tình
Trang 34huống khó khăn, tạm thời thân chủ chưa đủ minh mẫn hoặc tự tin để nhìn nhậnchính mình, tìm ra lối thoát cho vấn đề của mình Nhiệm vụ của NLTVTL là giúp
họ sáng tỏ vấn đề của chính họ và tự chọn giải pháp để vượt qua khó khăn
- Thứ ba: Cách thức tham vấn là dựa trên sự tương tác giữa NLTVTL và TC.
Nội dung này muốn nhấn mạnh đến sự tác động qua lại giữa NLTVTL và thân chủ.Chính sự phối hợp chặt chẽ giữa NLTVTL và thân chủ tạo nên hiệu quả tham vấn
Vì thế, NLTVTL cần phải gây được niềm tin nơi thân chủ, biết cách tổ chức quátrình tham vấn nhằm phát huy tính tích cực của thân chủ dành sự quan tâm và mộtthời gian nhất định cho thân chủ
Tóm lại, tham vấn chính là hoạt động trợ giúp con người nâng cao năng lực tựgiải quyết những khó khăn, vướng mắc trong đời sống tâm lý Giúp thân chủ tăngcường thấu hiểu bản thân để giải quyết những vấn đề của chính họ, để họ đạt đến sựcân bằng về mặt tâm lý Bản chất của công việc tham vấn được hiểu với nội hàm làtrợ giúp về tâm lý, tức là tham vấn tâm lý
- Tham vấn tâm lý với tư vấn tâm lý
Chúng tôi tán thành phân biệt hai khái niệm tư vấn và tham vấn tâm lý của cáctác giả Bùi Thị Xuân Mai và Hoàng Anh Phước Hầu hết các tác giả đều cho rằng
có sự khác biệt nhất định giữa tư vấn tâm lý và tham vấn tâm lý Trong một chừng
mực nào đó, thường thì tư vấn tâm lý hướng tới giải quyết vấn đề, còn tham vấntâm lý không chỉ giúp cá nhân giải quyết mà còn hướng họ tới nâng cao khả nănggiải quyết vấn đề, như vậy tác động mang tính lâu dài hơn [23] Như vậy, nhà tưvấn đưa ra lời khuyên, tìm ra giải pháp (R Schein, 1969), hay thu thập thông tin,chuẩn đoán vấn đề và đề xuất giải pháp (D.J Kurpius & J.C Brukbaker, 1976) hoặc
là người định hướng, điều phối tiến trình giải quyết vấn đề (R.R Blake & J.S.Mouton, 1976) [dẫn theo 23] còn NLTVTL thì trợ giúp thân chủ hiểu bản thân, khơigợi tiềm năng để họ tự giải quyết vần đề của chính họ NLTVTL không giải quyếtvần đề [35]
- Tham vấn tâm lý với trị liệu tâm lý
Trang 35Theo Carl Roger và C.H Patterson thì không có sự khác biệt giữa khái niệmtham vấn tâm lý và trị liệu tâm lý Theo các chuyên gia Pháp, một nhà tâm lý lâmsàng đều làm cả 3 mức độ: tư vấn tâm lý, tham vấn tâm lý và trị liệu tâm lý Nếunhư tư vấn tâm lý thiên về giải đáp những thắc mắc về kiến thức tâm lý cho ngườicần tìm hiểu thì tham vấn tâm lý hướng thân chủ phát huy tiềm năng, tự thấu suốt vàgiải quyết vấn đề của chính họ, trong khi đó trị liệu tâm lý hướng tới sự thay đổinhân cách của thân chủ [104]
Để thống nhất trong cách gọi, tác giả Bùi Thị Xuân Mai đề xuất cách gọithống nhất là tham vấn [23] Trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ thamvấn tâm lý mà nội hàm của nó bao gồm cả 2 hình thức vừa có nghĩa là tham vấn,vừa có nghĩa là trị liệu Và thuật ngữ tham vấn cũng được các nhà chuyên môn hiểu
đó là tham vấn tâm lý
Trên thế giới, tham vấn được coi là một nghề và hoạt động tham vấn tâm lýphải tuân theo quy tắc hành nghề cụ thể Hoạt động tham vấn tâm lý được tổ chứcmột cách quy củ, có sự giám sát chặt chẽ về mặt chuyên môn và NLTVTL phảiđược đào tạo bài bản, với các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, có kiến thức, kỹnăng chuyên môn Ở Việt Nam, hoạt động tham vấn tâm lý vẫn còn mang tính tự
phát và chưa có quy tắc hành nghề
Người làm tham vấn tâm lý
Có 2 chủ thể tham gia vào quá trình tham vấn tâm lý Chủ thể thứ nhất lànhững người được đào tạo một cách bài bản, chuyên sâu về tham vấn tâm lý hoặc
cũng có thể là người tham vấn bán chuyên nghiệp, gọi chung là người làm tham vấn
tâm lý hay người làm tham vấn [23] Chủ thể thứ hai tham gia vào mối quan hệ
tham vấn là người có vấn đề cần được tham vấn, được gọi là thân chủ
Ở Việt Nam, NLTVTL có thể là chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp,những NLTVTL chuyên nghiệp được đào tạo một cách bài bản không nhiều [23].Hầu hết những NLTVTL là những cử nhân tâm lý giáo dục, họ được đào tạo chủyếu để giảng dạy tâm lý, vừa làm vừa tự học để nâng cao khả năng của mình.Những người làm tham vấn bán chuyên nghiệp là người sử dụng tham vấn như một
Trang 36phần trong công việc của mình dựa trên nền tảng kiến thức và kỹ năng tham vấnnhất định đã được trang bị Họ có thể là giáo viên, y tá, bác sĩ, công tác đoàn đội,tình nguyện viên Như vậy, không phải ai làm tham vấn đều được đào tạo bài bản.
Vì tính chưa chuyên nghiệp của đội ngũ tham vấn nên chúng tôi không dùng thuật ngữ nhà tham vấn mà chọn thuật ngữ NLTVTL
Trong nghiên cứu này, tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm
lý thể hiện ở việc nhận ra những xúc cảm không phù hợp so với yêu cầu xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý, có hành vi lựa chọn các cách tự điều chỉnh xúc cảm hiệu quả để tạo ra sự thay đổi đáp ứng với yêu cầu công việc.
1.2.2 Biểu hiện tự điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn tâm lý
1.2.2.1 Biểu hiện của TĐCXC
Nghiên cứu của Neal M Ashkanasy, Wilfred J Zerbe and Charmine E J.Härtel quy trình TĐCXC bao gồm 4 bước [84]:
* Bước 1: Thiết lập một mục tiêu TĐCXC hiệu quả
- Chọn xúc cảm nào và những gì bên trong
- Xem xét các yếu tố như yêu cầu của nhiệm vụ, các đối tác tương tác, bốicảnh văn hóa
* Bước 2: Chọn một chiến lược hiệu quả để đạt được mục tiêu TĐCXC
- Giá trị của chiến lược và lợi ích mang lại (sâu sắc hay trên bề mặt)
* Bước 3: Thực hiện chiến lược một cách có hiệu quả
- Thực hiện các chiến lược tiêu hao ít nguồn lực
- Xúc cảm có hoặc đang hiển thị đáp ứng được mong muốn
* Bước 4: TĐCXC thích ứng với sự thay đổi theo thời gian
- Giám sát môi trường để quyết định xem có nên TĐCXC một lần nữa
Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất luận điểm: cá nhân muốn TĐCXC họ
phải nắm được các tiêu chuẩn xúc cảm để thiết lập mục tiêu cho hành vi TĐCXC.
Tuy nhiên chủ thể của TĐCXC là chính bản thân cá nhân ấy, vì thế họ cần phải
nhận ra những xúc cảm không phù hợp của chính mình dựa trên các tiêu chuẩn về
Trang 37xúc cảm đã có, đánh giá tính hiệu quả của các cách TĐCXC trong những tình huống cụ thể Và cuối cùng là hành vi lựa chọn và thực hiện cách TĐCXC
Vì thế, luận án xác định biểu hiện của TĐCXC thể hiện ở 2 mặt:
Đầu tiên, Gross và Munoz (1995) đã đưa ra mô hình bốn nhóm về TĐCXC
Mô hình này chủ yếu tập trung vào giai đoạn trước khi xúc cảm được tạo ra Trong
giai đoạn này, Gross (1998a, 1999) chia thành 4 cách TĐCXC, cụ thể:
- Thứ nhất: Tập trung vào chọn lọc tình huống có thể nảy sinh xúc cảm không
mong muốn Ví dụ, cá nhân có thể quyết định không tham dự một buổi gặp mặt, để
tránh một người đặc biệt, mà có thể làm cho cô ấy cảm thấy buồn rầu hay giận dữ
- Thứ hai: Tập trung cải biến một số khía cạnh của tình huống nảy sinh xúc
cảm Ví dụ, yêu cầu người bạn giữ cho con chó của họ trong xích khi mình đến
thăm, hay yêu cầu một người chơi nhạc giảm âm lượng nhạc xuống
- Thứ ba: Tập trung chú ý hoặc bỏ qua một số khía cạnh nhất định của tình
huống Ví dụ, tập trung nhìn vào bộ râu đang rung rinh của cấp trên (gây mắc cười)
thay vì nhìn gương mặt họ đang giận dữ
Trang 38- Thứ tư: Thay đổi nhận thức về một tình huống để tăng hoặc giảm sự xuất
hiện của xúc cảm cụ thể Ví dụ, một người cảm thấy tức giận hơn với hàng xómkhông đáp lại lời chào của mình, nếu người đó nghĩ rằng hàng xóm coi thườngmình, thay vì nghĩ rằng ông ấy đang mãi bận tâm với một việc nào khác
Khi xúc cảm trong giai đoạn nảy sinh, theo Gross và Munoz thì TĐCXC tập
trung vào phản ứng đáp lại như ngăn chặn, kìm nén, khuếch đại những biểu hiện
xúc cảm
Khi xúc cảm đã xuất hiện, TĐCXC tập trung vào điều chỉnh nhận thức như
đánh giá lại tích cực (thay thế cách giải thích sự kiện một cách tiêu cực bằng một
cách giải thích khác tích cực hơn), tập trung vào mặt tích cực (suy nghĩ về những khía cạnh dễ chịu, những điều vui vẻ mà làm xao lãng sự kiện tiêu cực), chấp nhận (chấp nhận và từ bỏ những gì đã xảy ra), và tập trung vào cách giải quyết vấn đề
(suy nghĩ về các cách để đối phó với các sự kiện tiêu cực) (Dẫn theo Kramer, 1991)
Một số cách khác tập trung vào điều chỉnh trải nghiệm xúc cảm như ngăn
chặn, dập tắt hoặc tăng cường những suy nghĩ tạo xúc cảm cũng được sử dụng để TĐCXC (Dẫn theo Wegner, 1994)
Cuối cùng, cá nhân có thể TĐCXC bằng cách tiết lộ xúc cảm hay chia sẻ xúc
cảm qua giao tiếp xã hội và thể hiện bằng ngôn ngữ (Zech, 1999).
1.2.2.2 Những đặc điểm tâm lý của người làm tham vấn tâm lý dưới góc độ tự điều chỉnh xúc cảm
Những phẩm chất của người làm tham vấn tâm lý dưới góc độ tự điều chỉnh xúc cảm
Tác giả Trần Thị Minh Đức đã tổng hợp một số phẩm chất được nhắc đến
nhiều nhất của NLTVTL, bao gồm chấp nhận thân chủ; trung thực; thấu cảm;
năng lực chuyên môn; tin tưởng vào bản thân; không định kiến; khả năng hợp tác;
có tinh thần khỏe mạnh Từ góc độ của TĐCXC, những phẩm chất sau được đề cập chi tiết:
- Chấp nhận thân chủ: Chấp nhận thân chủ chính là cho phép thân chủ được
tồn tại như họ muốn [13] NLTVTL phải học cách chấp nhận thân chủ vô điều kiện
Trang 39mà không phán xét NLTVTL cho phép mình hiểu biết thân chủ chứ không thẩmđịnh giá trị hay phán đoán họ Tuy nhiên, theo Carl Roger, việc NLTVTL thực tìnhchấp nhận thân chủ với tất cả tình cảm của người đó không phải là điều dễ dàng.Hàng loạt vấn đề về xúc cảm nảy sinh trong mối quan hệ giữa NLTVTL với TC
được Carl Roger chỉ ra: Liệu NLTVTL có thể chấp nhận những thân chủ gây hấn
với mình, những thân chủ chê bai mình? Tác giả đã rút ra kết luận: “Một phát hiện dường như nghịch lý là khi ta (NLTVTL) càng giản dị, càng chấp nhận thì ta lại càng đang thay đổi, và ngay cả cá nhân giao tiếp (thân chủ) cũng đang thay đổi nữa”[3, tr34] Chính thái độ chấp nhận, cảm thông và chia sẻ của NLTVTL làm
tăng thêm sự tin tưởng, thiện cảm nơi thân chủ Giúp họ hợp tác tốt hơn và đẩynhanh tiến trình chữa lành
- Trung thực: Trung thực của NLTVTL là kinh nghiệm của họ trong phút
này, xuất hiện trong ý thức và tình cảm của họ và phải được diễn tả ra bên ngoàibằng hành vi Sự thống nhất thể hiện ở ba bình diện: kinh nghiệm- cảm quan; ý thức
và sự diễn tả [3] Thái độ trung thực tạo nên sự cởi mở và tin tưởng của thân chủ đối
với NLTVTL Trong tác phẩm Tiến trình thành nhân - Carl Rogers nhiều lần nhắc
lại thông điệp: “Nếu tôi (NLTVTL) hành động có vẻ không trung thực là tôi, thì kết
cuộc chẳng giúp gì cho ai cả” hoặc “Những lỗi lầm trong mối tương giao…đều bắt nguồn từ một số thái độ phòng vệ của tôi hoặc cách cư xử bề ngoài của tôi có phần mâu thuẫn với cảm nghĩ thật sự của tôi”[3] Nếu NLTVTL thể hiện sự sẳn sàng tiếp
nhận mà thật ra cảm thấy khó chịu hay nghi ngờ hoặc có tình cảm không muốn có
sự tiếp nhận nào khác, thì về lâu về dài sẽ bị nhận định là không đáng tin cậy Điều
này có nghĩa là bất cứ xúc cảm nào được NLTVTL biểu lộ ra phải phù hợp với nhận thức của họ về xúc cảm ấy
- Thấu cảm: NLTVTL “hiểu thân chủ như họ hiểu chính họ”[13], mà vẫn giữ
được sự thấu suốt của chính mình Thấu cảm là nhìn thấy và hiểu rõ xúc cảm củathân chủ như là mình đang trải qua nó nhưng vẫn giữ được khoảng cách với nó đểsáng suốt với nó Thấu cảm giúp NLTVTL đánh giá được xúc cảm của thân chủ, màkhông gắn xúc cảm của mình vào vấn đề thân chủ, để những nhận xét của NLTVTL
Trang 40được khách quan hơn [13] Tuy nhiên, Carl Roger nói: “Liệu NLTVTL có một nhân
cách đủ mạnh để biệt lập khỏi thân chủ không? để khỏi bị chán nản bởi sự suy nhược của anh ta không? để khỏi xao xuyến với nỗi sợ hãi của anh ta? hay đắm chìm trong sự buồn bã của anh ta? cái tâm của NLTVTL có đủ gan dạ để không bị huỷ hoại bởi cơn thịnh nộ của thân chủ, và vẫn tồn tại biệt lập, với những tình cảm
và quyền lợi riêng của mình NLTVTL cảm thấy có đủ an tâm để cho phép người kia biệt lập không? NLTVTL có cho phép thân chủ hiện ra như tâm trạng của anh
ta lúc ấy, ấu trĩ hay trưởng thành, giả dối hay trung thực…Hay NLTVTL cảm thấy
là thân chủ phải làm theo lời khuyên của mình, hoặc ở vị thế ít nhiều phải phụ thuộc vào mình?”[3] Như vậy, thực hành thấu cảm cũng đem lại nhiều tổn thương
cho NLTVTL bởi sự sống dậy của những tình cảm đến từ vô thức, bởi sự xâm nhậpxúc cảm của thân chủ, bởi phải chứng kiến những nỗi đau quá lớn từ thân chủ.Chính vì thế, NLTVTL phải luôn ý thức rõ những xúc cảm có thể xuất hiện nơi bản
thân họ khi thực hành thấu cảm với thân chủ NLTVTL không nên có xúc cảm giống
thân chủ mà nên hiểu thân chủ một cách tách biệt với các xúc cảm của mình [13].
- Tôn trọng bản thân: thể hiện ở việc lắng nghe, tin tưởng, tôn trọng chính
mình, có ý thức trong việc chăm sóc đời sống tinh thần khỏe mạnh [104] Học cách
lắng nghe mình chính là “biết được tôi đang cảm thấy gì, tôi đang tức giận, hoặc
đang từ chối người này, đang trìu mến và thắm thiết với người kia, đang cảm thấy nhàm chán hoặc không chú ý đến việc diễn ra trước mắt, đang khao khát được tìm hiểu người kia hay đang âu lo về mối tương giao của tôi với người nọ”[3] Carl
Roger cho rằng, khi tôi có thể chấp nhận và lắng nghe chính tôi và hành động đúng
là tôi, thì tôi thấy có hiệu quả hơn NLTVTL lắng nghe chính mình, một mặt để kịpthời hiểu những phản ứng của bản thân trước những thông tin khác nhau của thânchủ, để tìm cách giải mã nó và giúp thân chủ hiểu bản thân họ Mặc khác, giúpNLTVTL hiểu và cân bằng tâm lý của chính mình
Thái độ của người làm tham vấn tâm lý dưới góc độ tự điều chỉnh xúc cảm