1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của tính độc lập ngân hàng trung ương đến điều hành cơ chế lạm phát mục tiêu

42 408 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của tính độc lập ngân hàng trung ương đến điều hành cơ chế lạm phát mục tiêu
Tác giả Sami Alpanda, Adam Honig
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Trường học Amherst College
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Bài nghiên cứu
Năm xuất bản 2011
Thành phố Amherst
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 212,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, khichúng tôi phân biệt tác động của lạm phát mục tiêu dựa vào mức độ độc lập củangân hàng trung ương, chúng tôi nhận thấy những ảnh hưởng lớn trong nhữngnền kinh tế mới nổi có

Trang 1

Tác động của tính độc lập ngân hàng trung ương

đến điều hành cơ chế lạm phát mục tiêu

Sami Alpanda, Adam Honig

Amherst College, Amherst, MA 01002

May, 2011

Tóm tắt

Bài nghiên cứu này xem xét ích lợi của lạm phát mục tiêu trong cả hai nền kinh

tế tiên tiến và mới nổi Cũng giống như các nghiên cứu trước đây, chúng tôikhông phát hiện được ảnh hưởng đáng kể nào trong những nền kinh tế tiên tiến

mà chỉ tìm được một vài lợi ích nhỏ trong các nền kinh tế mới nổi Tuy nhiên, khichúng tôi phân biệt tác động của lạm phát mục tiêu dựa vào mức độ độc lập củangân hàng trung ương, chúng tôi nhận thấy những ảnh hưởng lớn trong nhữngnền kinh tế mới nổi có sự độc lập của NHTW thấp Vì vậy, kết quả của chúng tôicho thấy rằng sự độc lập của NHTW không phải là điều tiên quyết cho việc thựchiện thành công lạm phát mục tiêu Hơn nữa, chúng tôi cung cấp bằng chứng vềmột kênh, mà thông qua đó lạm phát mục tiêu làm giảm lạm phát nhiều hơn ởnhững quốc gia có tính độc lập của NHTW thấp, đó là sự cắt giảm bội chi ngânsách kết hợp với áp dụng lạm phát mục tiêu

Trang 2

vĩ mô và giữ ổn định đầu ra Những nền kinh tế thị trường mới nổi đặc biệt đangtìm kiếm một điểm mốc danh nghĩa không có sự bất ổn định như trong cơ chế tỷgiá cố định.

Vì số lượng các quốc gia đã áp dụng IT tăng dần, nên các bài nghiên cứucũng cố gắng xác định trên thực nghiệm ảnh hưởng của IT đối với lạm pháttrung bình, biến động lạm phát, tăng trưởng trung bình và sự biến động tăngtrưởng Những nghiên cứu ban đầu tập trung vào các nước công nghiệp (C.fBall và Sheridan, 2005), và nhìn chung, chỉ tìm thấy bằng chứng không rõ ràngrằng IT cải thiện hiệu quả kinh tế vĩ mô Nhiều nghiên cứu gần đây bao gồm cácnền kinh tế mới nổi và có xu hướng tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ hơn về cácảnh hưởng tích cực (Batini và Laxton, 2007; Goncalves và Salle, 2008; Lin và

Ye, 2009; Mishkin và Schmidt-Hebbel, 2007) Tuy nhiên, Brito và Bystedt (2010),bằng cách sử dụng công cụ định lượng hệ thống GMM trái ngược với các địnhlượng khác biệt - trong - khác biệt thường được sử dụng trong Ball và Sheridan(2005), đã thu được các kết quả khác Họ tìm thấy các minh chứng yếu cho ảnhhưởng của IT đối với lạm phát trung bình, biến động lạm phát, và sự biến độngtăng trưởng và cung cấp bằng chứng rằng tăng trưởng trung bình thấp hơn khi

áp dụng IT Qua khảo sát lý thuyết, Ball (2010) phát biểu rằng các bằng chứng

Trang 3

về tác động có lợi của IT trong nền kinh tế mới nổi, tuy mạnh hơn ở các nướctiên tiến nhưng vẫn chưa có kết luận cuối cùng.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi cố gắng giải thích việc thiếu các bằngchứng mạnh mẽ bằng cách lập luận rằng tất cả các nền kinh tế mới nổi là khônggiống nhau và rằng IT có thể phát huy hiệu quả hơn trong 1 vài nền kinh tế sovới những nền kinh tế khác Đặc biệt, các ngân hàng trung ương khác nhau vềmức độ độc lập (CBI), và điều này có thể tương tác với một cơ chế IT dẫn đếncác kết quả vĩ mô khác nhau Do đó, khi không có sự phân biệt này, các kết quảcuối cùng về tác động của IT trong một tập hợp các quốc gia sẽ bị suy yếu vì nóbao gồm các quốc gia mà IT không có tác động nào

Có nhiều quan điểm trái ngược về việc liệu CBI có làm cho một cơ chế ITnhiều hoặc ít hiệu quả hơn Một mặt, sự tự chủ của NHTW có thể là một điềukiện tiền đề cho thành công của IT (Mishkin, 2000; 2004; Eichengreen et al.,1999; Friedman và Otker-Robe, 2010) Ví dụ, IT có thể không hiệu quả trongviệc đạt được lạm phát thấp nếu NHTW bị áp lực từ các chính trị gia để giảm tỷ

lệ thất nghiệp hoặc để in tiền để tài trợ thâm hụt tài chính lớn Tương tự nhưvậy, CBI thấp có thể hàm ý rằng các điều kiện tiền đề khác cũng đang thiếu.Chúng gồm ưu tiên lạm phát mục tiêu như là mục đích của chính sách tiền tệ,không có sự thống trị tài chính, đô la hóa trách nhiệm hữu hạn, và thông tin từngân hàng trung ương có hiệu quả, minh bạch, và trách nhiệm (Batini và Laxton,2007; Friedman và Otker-Robe, 2010)1 Trong trường hợp này, IT phải có ít hiệuquả hơn trong môi trường CBI thấp Chúng tôi gọi đây là "hiệu ứng điều kiện tiềnđề"

Tuy nhiên, có bất đồng về việc liệu những điều kiện tiền đề này trong thực

tế có phải là điều kiện tiên quyết cho thành công của IT thay vì đơn giản chỉ làcác đặc tính được mong muốn Chắc chắn hầu hết sẽ đồng ý rằng những yếu tố

1 Chúng tôi sẽ bàn luận các điều kiện tiền đề khác sau mà CBI có thể tương quan nhưng ít có khả năng gây tác động hơn

Trang 4

này làm cho bất kỳ cơ chế tiền tệ nào thành công hơn Hơn nữa, lập luận rằng

IT có thể thúc đẩy sự phát triển của một số các đặc tính này (Batini và Laxton,2007; Friedman và Otker-Robe, 2010) Vì vậy, IT có thể thành công hơn ở các

cơ chế tiền tệ thiếu hụt các nhân tố này và giúp cải thiện nhiều hơn Trong phạm

vi các quốc gia thiếu những yếu tố này và có CBI thấp, chúng tôi có thể thấy tácđộng lớn hơn của IT ở các quốc gia có CBI thấp Chúng tôi gọi đây là "hiệu ứngcải thiện" của CBI thấp Ngược lại, khi các đặc tính này đã có sẵn thì IT sẽ có rất

ít cải thiện

Một ví dụ khác của ảnh hưởng này, CBI thấp có thể hàm ý sự tín nhiệmthấp của NHTW và kỳ vọng lạm phát thả nổi, do đó IT có thể có một tác độnglớn, trong khi đó nếu một NHTW có uy tín, nó không cần độ tin cậy và neo giữ kỳvọng lạm phát khi áp dụng IT Một lần nữa, chúng tôi kỳ vọng có thể thấy ảnhhưởng mạnh hơn của IT ở các quốc gia không có ngân hàng trung ương độclập

Mạng lưới ảnh hưởng của CBI thấp lên tính hiệu quả của IT phụ thuộcvào sức mạnh tương đối của các hiệu ứng điều kiện tiền đề và hiệu ứng cảithiện2 Bằng cách phân tích thực nghiệm tác động của CBI lên hiệu quả của cơchế IT, chúng tôi hy vọng làm sáng tỏ cuộc tranh luận này Kiểm tra trước kếtquả, chúng tôi không tìm thấy bằng chứng về tác dụng có lợi của IT ở các nướctiên tiến hoặc các quốc gia mới nổi với mức độ CBI cao Tuy nhiên, chúng tôiphát hiện các lợi ích lớn ở các nước mới nổi với mức độ CBI thấp Những kếtquả này gây nghi ngờ về quan điểm cho rằng CBI là một điều kiện cần thiết cho

IT hiệu quả Trái lại, IT chỉ có hiệu quả khi các ngân hàng trung ương không độclập, cho thấy hiệu ứng cải thiện là quan trọng hơn hiệu ứng điều kiện tiền đề Do

đó, hàm ý chính sách là các nền kinh tế mới nổi không nên chờ đợi cho đến khiCBI mạnh hơn rồi mới áp dụng IT như là một chính sách tiền tệ chiến lược

2 Một quan điểm thứ ba trung lập hơn là CBI và những điều kiện tiền đề đã đề cập là quan trọng đối với bất kì một chính sách tiền tệ nào và không gây trở ngại hay tạo điều kiện thuận lợi bất tương xứng cho

cơ chế IT, do đó thiếu các điều kiện tiền đề không cản trở việc áp dụng IT

Trang 5

Sau đó chúng tôi điều tra các kênh mà qua đó các nền kinh tế mới nổi cóCBI thấp có thể làm tăng hiệu quả của IT trong việc giảm lạm phát Đặc biệt,chúng tôi xem xét một vài khía cạnh mà cùng với chúng các quốc gia có mứcCBI thấp có thể cải thiện nhiều hơn so với các nước có CBI cao khi áp dụng IT.

Ví dụ, áp dụng IT có thể mang lại sự gia tăng CBI lớn hơn theo de facto hay dejure trong các quốc gia có CBI thấp vì các chính trị gia kiên định hơn trong camkết giữ lạm phát thấp Liên quan đến điều này, và có lẽ quan trọng hơn, IT cóthể mang lại kỷ luật tài chính lớn hơn và giảm thâm hụt ngân sách ở quốc gia cóCBI thấp, vì liên tục tài trợ thâm hụt ngân sách thông qua việc in tiền sẽ huỷ hoạiviệc đạt đến lạm phát mục tiêu (IMF, 2006) IT cũng có thể dẫn đến giảm đôlahoá nợ, tăng cường hiệu lực của chính sách tiền tệ và khả năng làm giảm lạmphát (Mishkin, 2003) IT cũng có liên hệ với sự cải thiện nhanh chóng trong cơ

sở hạ tầng kỹ thuật của các NHTW và tăng cường sự giao tiếp, minh bạch vàtrách nhiệm của họ

Mặc dù chúng tôi không thể xác định riêng tất cả các kênh này do dữ liệuhạn chế, chúng tôi tìm thấy bằng chứng chỉ ra rằng việc giảm thâm hụt ngânsách là một kênh quan trọng Đặc biệt, có một sự giảm thâm hụt ngân sách đáng

kể ở quốc gia có CBI thấp sau khi áp dụng IT, nhiều hơn so với các quốc gia cóCBI cao, và khi chúng tôi kiểm soát vai trò của thâm hụt ngân sách trong hồi quychuẩn, chúng tôi không còn thấy IT có hiệu quả hơn ở nước CBI thấp nữa.Ngược lại, chúng tôi không tìm thấy bằng chứng rằng đô la hóa nợ và phát triểntài chính là kênh quan trọng mà qua đó CBI thấp cải thiện hiệu quả điều hànhlạm phát của IT

Phần còn lại của bài nghiên cứu được phân bố như sau: phần 2 giới thiệu

dữ liệu và các phương trình hồi quy chuẩn mà chúng tôi sử dụng để kiểm tra tácđộng của IT lên hiệu quả kinh tế vĩ mô và vai trò của CBI Phần 3 trình bày kếtquả và các kiểm định chắc chắn Phần 4 phân tích các kênh tiềm năng mà qua

đó IT ảnh hưởng đến điều hành lạm phát Phần 5 là kết luận

Trang 6

2 Ảnh hưởng của IT và vai trò của CBI

Trong phần này, chúng tôi giới thiệu mô hình chuẩn của chúng tôi và các

dữ liệu được sử dụng để kiểm tra ảnh hưởng của IT lên điều hành kinh tế vĩ mô

và vai trò của CBI Chúng tôi xem xét hồi quy của chỉ số kết quả vĩ mô, Y, theo biến trễ của chính nó, một biến IT giả, IT, và một số biến kiểm soát Phương

trình hồi quy tuyến tính của chúng tôi được xác định bởi:

Yi,t = β1 Yi,t-1 + β2 ITi,t + β3 CBIi,t + β4 (ITi,t * CBIi,t) + β5 HIGHINFLi,t + δt + αi + εit (1)

Trong đó i là quốc gia và t là thời gian Các biến kiểm soát bao gồm đo lường

tính độc lập của NHTW, CBI, tương quan giữa IT và CBI, và một biến giả đo lường lạm phát cao, HIGHINFL Số hạng tương quan IT * CBI cho phép tác

động của IT lên điều hành kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào CBI Như đã thảo luận ởtrên, CBI có thể làm cho IT hiệu quả nhiều hoặc ít hơn tùy thuộc vào sức mạnhtương đối của các hiệu ứng điều kiện tiền đề và hiệu ứng cải thiện, do đó hệ sốcủa số hạng tương quan là mơ hồ Cuối cùng, δt là tác động thời gian, và αi làmột thành phần đặc trưng quốc gia của số hạng sai số

Để tạo điều kiện cho sự so sánh với các kết quả trước đó và để tách biệtcác thông tin bổ sung có được bởi đo lường CBI, chúng tôi sử dụng cùng mộtphương trình hồi quy (trừ CBI và số hạng tương quan của nó) và cùng phươngpháp định lượng tương tự như Brito và Bystedt (2010) Do đó, chúng tôi sử dụngcông cụ định lượng hệ thống GMM phát triển bởi Arellano và Bover (1995) vàBlundell và Bond (1998)3 để ước lượng mô hình

2.1 Dữ liệu

Dữ liệu thu thập từ những năm 1980 đến 2006 Theo Brito và Bystedt(2010), chúng tôi lấy trung bình 3 năm của dữ liệu, cho kết quả là 1 mẫu có 9giai đoạn Điều này làm giảm việc thống kê công cụ, là T bình phương và cũng

3 Brito và Bystedt (2010) thảo luận 1 vài lợi thế của phương pháp này so với công cụ định lượng khác biệt –trong – khác biệt thường được sử dụng trong Ball và Sheridan (2005)

Trang 7

tạo “1 sự điều hòa hợp lý giữa thời gian đáp ứng của các biến vĩ mô và tách biệttác động của IT khỏi tác động của những sự kiện khác trong cùng thời gian”.Mẫu bao gồm tất cả các quốc gia áp dụng lạm phát mục tiêu trong thời gian mẫucũng như 1 nhóm các nước không áp dụng lạm phát mục tiêu.4 Các nước không

áp dụng lạm phát mục tiêu và giai đoạn trước khi áp dụng IT của các nước ápdụng lạm phát mục tiêu có chức năng kiểm soát Chúng tôi sử dụng cùng 1 bộcác nền kinh tế mới nổi cho cả các quốc gia mục tiêu và không có mục tiêu,giống như Brito và Bystedt (2010) đã sử dụng kết hợp mẫu của Batini và Laxton(2007) và Goncalves và Salles (2008) Điều khác biệt duy nhất là hai quốc giakhông có dữ liệu về CBI, vì vậy chúng tôi chỉ có 44 nền kinh tế mới nổi thay vì 46như của họ Trong hồi quy độc lập, chúng tôi mở rộng mẫu và thêm vào các nềnkinh tế tiên tiến Nhóm 22 nền kinh tế tiên tiến lấy từ Ball (2010)5 Do đó, mẫu kếthợp gồm 66 quốc gia

Theo chuẩn lý thuyết, chúng tôi xem xét tác động của IT theo 4 chỉ tiêu củakinh tế vĩ mô: lạm phát, tăng trưởng sản lượng, độ lệch chuẩn của lạm phát và

độ lệch chuẩn của tăng trưởng sản lượng Việc đo lường lạm phát và tăngtrưởng sản lượng cho thấy sự tăng trưởng liên tục trong chỉ số giá và GDP thực(nhân cho 100) Trung bình và độ lệch chuẩn của chúng được tính toán cho mỗi

3 năm Việc kết hợp liên tục các % thay đổi đã phần nào làm giảm tác động củacác yếu tố ngoại lai

Ngày áp dụng IT của các nền kinh tế tiên tiến lấy từ Ball (2010); Ngày ápdụng IT của các nền kinh tế mới nổi lấy từ Brito và Bystedt (2010), 2 ông sửdụng ngày tháng trong Batini và Laxton (2007) Biến IT giả định giá trị bằng 1cho giai đoạn 3 năm nếu 1 cơ chế IT được áp dụng trong cả 3 năm; bằng 2/3hoặc 1/3 nếu cơ chế IT được áp dụng tương ứng trong 2 hoặc 1 năm Chúng ta

có thể diễn giải hệ số β2 của biến IT như sau: khi các nhân tố khác như nhau, 1quốc gia IT có lạm phát thấp hơn (-) β2 lần so với 1 quốc gia không mục tiêu (bỏ

4 Xem phụ lục danh sách các nước và nguồn dữ liệu

5 Khác biệt duy nhất là chúng tôi không loại trừ Hy Lạp và Ai-len như mẫu của Ball bởi vì họ có lạm phát hàng năm trên 20% kể từ năm 1984

Trang 8

qua số hạng tương quan), hoặc tương đương, nếu 1 quốc gia áp dụng IT nó sẽgiảm được lạm phát trung bình β2 điểm %

Về đo lường CBI, chúng tôi xem xét chỉ số CBI trong Cukierman và cộng

sự (1992) dựa trên khía cạnh pháp lý của tính độc lập (LEGAL) và tốc độ thay thế thống đốc NHTW (TURNOVER) 6 Các chỉ số nhìn chung là sẵn có cho đến

1989 trong cả nền kinh tế tiên tiến và đang phát triển và giả định một giá trị chomỗi thập niên Các chỉ số chạy từ 0 -> 1, giá trị lớn hơn nghĩa là CBI lớn hơn đốivới chỉ số pháp lý và CBI thấp hơn đối với chỉ số tốc độ thay thế nhân sự

Chỉ số pháp lý được mở rộng đến năm 2002 cho 24 quốc gia Mỹ latinh và

Ca ri bê bởi Jacome và Vazquez (2005), với việc thêm vào mẫu một số quốc giamới, và đến 1999 Siklos (2008) thêm vào mẫu 1 số quốc gia tiên tiến Chỉ số tốc

độ thay thế nhân sự được bổ sung dữ liệu sau năm 1990 từ Crowe và Meade(2007) và Dreher et al (2008)

Ba điểm liên quan đến các chỉ tiêu này cũng cần chú ý Đầu tiên, như đãnói ở trên, không phải tất cả các quốc gia IT đều có mức độ CBI cao, và có sựdao động đáng kể trong giá trị của các biến CBI, mà có thể khai thác để xác địnhvai trò của CBI Thứ 2, các đo lường này cung cấp thêm thông tin về CBI vượt

xa sự độc lập công cụ Như thảo luận trong Batini và Laxton (2007), hầu hết các

NHTW ít nhất có tính độc lập công cụ de jure tại thời điểm áp dụng IT7 Tuynhiên, nhiều yếu tố bị thiếu trong các khía cạnh khác của CBI đã được thể hiệntrong đo lường pháp lý, bao gồm tự do mua bán nợ chính phủ, tầm quan trọngcủa lạm phát so với các mục tiêu khác, và mức độ bảo đảm công việc cho thốngđốc NHTW (Batini và Laxton, 2007) Thêm nữa, đo lường tốc độ thay thế nhân

sự cung cấp thông tin thực tế về đảm bảo công việc cho thống đốc NHTW Thứ

3, vấn đề tiềm tàng trong đo lường pháp lý là những gì được viết trong luật có

6 TURNOVER là trung bình của số lần thay đổi thống đốc NHTW một năm trong mỗi thập niên Ví dụ, nếu TURNOVER = 0.2, có 2 lần thay đổi trong 1 thập niên với nhiệm kỳ 5 năm.

7 Tính độc lập công cụ xảy ra khi NHTW kiểm soát hoàn toàn việc thiết lập công cụ chính sách, thường

là 1 lãi suất danh nghĩa ngắn hạn, để đạt được mục tiêu chính sách Độc lập của mục tiêu khi NHTW đặt mục tiêu chính sách như lạm phát mục tiêu là hiếm thấy, ngay cả trong những nền kinh tế tiên tiến (Deblle và Fisher, 1994).

Trang 9

thể khác xa so với thực tế Điều này đặc biệt đúng trong các nền kinh tế mới nổi.

Tương tự, tính độc lập công cụ de jure không hàm ý tính độc lập trên thực tế

Thực vậy, Cukierman et al (1992) lý luận rằng đo lường tốc độ thay thế nhân sựthích hợp hơn trong các nền kinh tế mới nổi hơn là đo lường pháp lý, trong khiđối với các nước tiên tiến, đo lường pháp lý cho biết mức độ CBI rõ hơn Nhữngvấn đề này được thảo luận rõ hơn ở Phần 3 và 4

Cuối cùng, theo lý thuyết, chúng tôi thêm vào 1 biến giả, HIGHINFL, biểuthị cho lạm phát cao (>40%) trong 1 giai đoạn để kiểm soát bùng nổ kinh tế vĩ

mô mà có thể khác biệt trong các quốc gia lạm phát cao (Brito và Bystedt, 2010 ;Batini và Laxton, 2007; IMF, 2006) Chúng tôi cũng thử nghiệm loại lạm phát cao

ra khỏi mẫu trong Phần 3.1

Họ cũng đã trải qua những giai đoạn siêu lạm phát

Bảng 2 trình bày các số liệu thống kê tóm tắt được phân loại theo nhóm

quốc gia (tiên tiến hay mới nổi), chính sách tiền tệ (áp dụng lạm phát mục tiêu

hay không áp dụng lạm phát mục tiêu, được gọi là biến IT), và sau đó được

phân loại theo thời gian (trước IT và sau IT) Khi chia mẫu thống kê, đối với cácnền kinh tế tiên tiến (mới nổi) không áp dụng lạm phát mục tiêu, năm áp dụng IT

Trang 10

là 1995 (1999) Đối với các nước tiên tiến, thời kỳ áp dụng IT có liên quan với tỉ

lệ lạm phát thấp hơn, tốc độ tăng trưởng cao hơn, sự biến động lạm phát và

biến động đầu ra thấp hơn Mặc dù vậy, sự cải thiện này cũng xảy ra tại các

nước không mục tiêu nhưng ít hơn Kết quả cũng tương tự cho các nền kinh tếmới nổi, mặc dù các quốc gia mục tiêu có sự tiến bộ qua thời gian lớn hơn đáng

kể so với các quốc gia không mục tiêu trong chính sách tiền tệ Ví dụ, các quốcgia mới nổi áp dụng lạm phát mục tiêu đã giảm 10% lạm phát trung vị trong khicác quốc gia mới nổi không áp dụng lạm phát mục tiêu giảm 4% Điều này gợinhớ kết quả đạt được trong các nghiên cứu sử dụng công cụ định lượng khácbiệt - trong - khác biệt trước đây Tuy nhiên, nhìn vào mức lạm phát trung bìnhtrước và sau khi áp dụng IT có thể hiểu lầm và phóng đại hiệu quả có ích của IT.Như Brito Bystedt (2010) đã chỉ ra, tới cuối những năm 1980, các quốc gia mụctiêu có mức lạm phát trung bình cao hơn so với các quốc gia không mục tiêu,

nhưng tới những năm giữa thập niên 1990, trước khi áp dụng IT, các quốc gia

mục tiêu lại đạt mức lạm phát trung bình thấp hơn các quốc gia không mục tiêu

Mô hình lạm phát này có thể gây ra vấn đề với các ước lượng khác biệt – trong khác biệt dựa trên sự khác biệt về lạm phát trước và sau khi áp dụng IT Cuốicùng, Bảng 2 cho thấy rằng những nền kinh tế mới nổi khởi đầu với lạm pháttrung bình cao và biến động lạm phát cao hơn nhiều, lại có sự sụt giảm nhiềuhơn (đối với những biến này) so với các nền kinh tế tiên tiến

-Trong bảng 3, chúng tôi giới hạn sự chú ý đến nền kinh tế mới nổi và thểhiện các số liệu thống kê dựa trên chính sách tiền tệ, khoảng thời gian và mức

độ CBI bằng cách sử dụng TURNOVER như là một biến đại diện Đặc biệt,chúng tôi tóm tắt số liệu thống kê cho biến TURNOVER ở mức dưới và trên0,26 Như đã trình bày trong phần kết quả, TURNOVER = 0.26 tương đối phùhợp với ngưỡng mà ảnh hưởng của IT lên lạm phát trung bình có ý nghĩa ở mức10% Nó cũng là giá trị trung bình của TURNOVER (trung vị = 0.20) Đối với cácquốc gia mục tiêu có sự thay đổi nhân sự thấp/CBI cao, mức lạm phát trung bìnhgiảm 11 điểm % (trung vị giảm 8 điểm %) sau khi áp dụng lạm phát mục tiêu,

Trang 11

trong khi đó các quốc gia không mục tiêu giảm 8 điểm % (trung vị giảm 4 điểm

%) Đối với các quốc gia mục tiêu có TURNOVER ≥ 0.26, lạm phát trung bình

giảm 55 điểm % (trung vị giảm 20 điểm %) còn các quốc gia không mục tiêugiảm 22 điểm % (trung vị giảm 5 điểm %) Sau khi áp dụng chính sách lạm phátnhư vậy, các quốc gia có sự thay thế nhân sự cao/CBI thấp có mức giảm lạmphát bất chấp chính sách tiền tệ cao hơn so với các nước có CBI cao Thứ hai,qua việc duy trì CBI liên tục/cố định, các quốc gia mục tiêu tiến bộ qua thời giannhiều hơn các quốc gia không mục tiêu Thứ ba, sự khác biệt về tiến bộ đạtđược qua thời gian giữa các quốc gia mục tiêu và các quốc gia không mục tiêu

là rất lớn ở những nước có CBI thấp Vì vậy, đối với lạm phát trung bình, nhữngbằng chứng sơ bộ cho thấy IT có thể làm giảm lạm phát hơn, liên quan đến cácchính sách tiền tệ khác, trong những nước CBI thấp

Lưu ý rằng một mô hình tương tự cũng xuất hiện trong biến TURNOVER

và thâm hụt ngân sách Đặc biệt, cả TURNOVER và thâm hụt ngân sách không

thay đổi nhiều hoặc chỉ tăng nhẹ ở những nước CBI cao, bất kể những nướcnày có áp dụng IT hay không Đối với các nước CBI thấp, thâm hụt ngân sáchgiảm cả ở các quốc gia mục tiêu và quốc gia không mục tiêu, nhưng mức giảmbình quân ở các quốc gia mục tiêu (từ thâm hụt ngân sách 3.2% tới thặng dưngân sách 0.1%) lớn hơn đáng kể so với mức giảm ở các quốc gia không mụctiêu (từ thâm hụt 1,1% đến thặng dư 0,8%) Kết quả này phù hợp với giả thuyếtrằng việc áp dụng IT thúc đẩy chính phủ ở những nước có CBI thấp tăng cường

kỷ luật tài chính, giảm tài trợ thâm hụt ngân sách thông qua việc in tiền, và kếtquả là làm giảm tỷ lệ lạm phát trung bình Ngoài ra, sau khi áp dụng IT,

TURNOVER giảm ở những nước CBI thấp nhưng lại tăng nhẹ ở những nước có

CBI cao Trong phần 4, chúng tôi đề xuất biện pháp giảm thâm hụt ngân sách vàcải thiện mức độ CBI là những kênh quan trọng để áp dụng IT thành công trongviệc giảm lạm phát ở quốc gia có CBI thấp

Đối với các quốc gia mục tiêu có tỉ lệ thay thế nhân sự thấp/CBI cao, biếnđộng lạm phát trung bình giảm 3 điểm % (trung vị giảm 1) sau khi áp dụng IT,

Trang 12

trong khi ở các quốc gia không mục tiêu giảm 4 điểm % (trung vị giảm 2) Đối với

các quốc gia mục tiêu có TURNOVER ≥ 0.26, biến động lạm phát trung bình

giảm 19 điểm % (trung vị giảm 3), còn các quốc gia không mục tiêu giảm 7 điểm

% (trung vị giảm 2) Tương tự lạm phát trung bình, so với các quốc gia có CBIcao, những quốc gia có tỉ lệ thay thế nhân sự cao/CBI thấp thì biến động lạmphát trung bình giảm nhiều hơn, bất chấp chính sách tiền tệ Thứ hai, ở cácnước có tỉ lệ thay thế nhân sự thấp, những nước không mục tiêu cải thiện lạmphát qua thời gian nhiều hơn những nước mục tiêu một chút, trong khi ở cácnước có tỉ lệ thay thế nhân sự cao thì ngược lại Như vậy, trong các nước cóCBI thấp, IT đạt kết quả tốt hơn, liên quan đến chính sách tiền tệ khác

Đối với những quốc gia mục tiêu có tỉ lệ thay thế nhân sự thấp / CBI cao,tốc độ tăng trưởng bình quân tăng lên 1 điểm % (trung vị tăng 1.2) sau khi ápdụng IT, trong khi những quốc gia không mục tiêu tăng lên 1.2% (trung vị tăng

1%) Đối với các quốc gia mục tiêu có TURNOVER ≥ 0.26, tăng trưởng bình

quân tăng 0.6 điểm % (trung vị tăng 1.4), trong khi những quốc gia không mụctiêu tăng lên 0.4 điểm % (trung vị tăng 1.4) Như vậy, kết quả ban đầu cho thấy

cả các quốc gia mục tiêu và các quốc gia không mục tiêu đều có tốc độ tăngtrưởng gia tăng giống nhau., và việc cải thiện không khác nhau về cơ bản vớimức độ của CBI

Cuối cùng, đối với những quốc gia mục tiêu có tỉ lệ thay thế nhân sự thấp/CBI cao, biến động tăng trưởng bình quân giảm 1.3 điểm % (trung vị giảm 0.8),trong khi những quốc gia không mục tiêu giảm 1.8 điểm % (trung vị giảm 1.1).Đối với những quốc gia mục tiêu có tỉ lệ thay thế nhân sự cao, biến động tăngtrưởng bình quân giảm 1.2 điểm % (trung vị giảm 1.6), trong khi những quốc giakhông mục tiêu giảm 0.5 điểm % (trung vị giảm 0.65) Như vậy, đối với nhữngquốc gia mục tiêu có tỉ lệ thay thế nhân sự thấp, những quốc gia không mục tiêucải thiện lạm phát qua thời gian nhiều hơn một chút so với những quốc gia mụctiêu và kết quả ngược lại ở những quốc gia mục tiêu có tỉ lệ thay thế nhân sự

Trang 13

cao Bằng chứng sơ bộ cho thấy IT thực hiện tốt hơn, liên quan đến các chế độkhác, ở những nước có CBI thấp.

Bảng 4 trình bày những tương quan mẫu cho mẫu đầy đủ, các nước tiêntiến, và nền kinh tế mới nổi IT tương quan với lạm phát bình quân thấp hơn,biến động lạm phát, và biến động tăng trưởng cho cả nền kinh tế tiên tiến và nềnkinh tế mới nổi Có tương quan với tăng trưởng trung bình thấp hơn trong mẫuđầy đủ và cho nền kinh tế mới nổi nhưng có tương quan với tốc độ tăng trưởng

cao hơn đối với nền kinh tế tiên tiến Như chúng tôi kỳ vọng, LEGAL và

TURNOVER không có tương quan với nhau Hơn nữa, lạm phát và biến động

lạm phát cũng không tương quan với LEGAL đối với cả hai nhóm, trong khi chúng có tương quan thuận với TURNOVER ở nền kinh tế mới nổi Tuy nhiên

đối với các quốc gia tiên tiến, giữa lạm phát và biến động lạm phát với

TURNOVER bất ngờ lại không có dấu hiệu tương quan Như đã thảo luận trong

Cukierman và cộng sự (1992), TURNOVER không phải là một giải pháp tốt cho CBI ở các nước tiên tiến, trong khi LEGAL không phải là chỉ số của CBI trong

các nền kinh tế mới nổi Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong phần kết quả

3 Kết quả

Bảng 5 thể hiện kết quả từ phương trình hồi quy (1) loại trừ chỉ số CBInhư là 1 sự so sánh với những phát hiện trước đó Tuy nhiên, chúng tôi giới hạnmẫu từ các quốc gia về dữ liệu CBI.8 Trong việc ước tính điểm chuẩn GMM,chúng tôi xem cả hai biến IT, biến CBI và biến trễ của biến phụ thuộc như là cácbiến độc lập xác định trước (mặc dù không hoàn toàn ngoại sinh) Do đó, chúngtôi giả định rằng lạm phát hiện tại không ảnh hưởng đến IT mặc dù lạm phát quákhứ có thể tác động tới IT Trong phần 3.2, chúng tôi xem các biến IT và CBI là

8 Ví dụ, các kết quả cho nền kinh tế mới nổi rất gần với cột 5 Bảng 3 và 4 trong Brito và Bystedt (2010).

Sự khác biệt duy nhất là hai quốc gia của họ đã không có dữ liệu về TURNOVER Ngoài ra, các quốc gia với các dữ liệu về TURNOVER không nhất thiết phải có dữ liệu cho tất cả các thời kỳ, kết quả là một tổn thất hơn nữa của các quan sát.

Trang 14

biến nội sinh.9 Biến giả HIGHINF được sử dụng như biến nội sinh trong tất cảcác hồi quy

Kết quả chỉ ra rằng IT, liên quan đến các chính sách tiền tệ khác, làm giảmlạm phát trung bình trong các mẫu đầy đủ bằng 1.7 điểm phần trăm, ở các nướcphát triển 0,34 điểm phần trăm (nhưng không đáng kể), và trong nền kinh tếđang phát triển lên 2 điểm phần trăm (p-value = 0,11) Kết quả cho cả nền kinh

tế tiên tiến và nền kinh tế mới nổi phù hợp với đa số các nghiên cứu trước đó.Trong khi IT được kỳ vọng làm giảm biến động lạm phát (Cecchetti andEhrmann, 2002), Cột 4-6 trong bảng ở phía trên chỉ ra rằng IT không ảnh hưởngđáng kể Kết quả đó cho nền kinh tế mới nổi phù hợp với Brito and Bystedt(2010) nhưng không phù hợp Lin and Ye (2009) và Batini and Laxton (2007),người phát hiện rằng IT làm giảm biến động lạm phát Ảnh hưởng không đáng

kể cho nền kinh tế tiên tiến phù hợp với Ball (2010)

Trong bảng bên dưới, IT làm giảm tốc độ phát triển trung bình trong tất cảcác mẫu và cho nền kinh tế mới nổi nhưng làm tăng tốc độ tăng trưởng cho cácnước tiên tiến Kết quả cho nền kinh tế mới nổi phù hợp với Brito and Bystedt(2010), nhưng kết quả cho nền kinh tế tiên tiến lại cho kết quả trái ngược vớiBall (2010), phát hiện không có ảnh hưởng trong nền kinh tế tiên tiến Cột 4-6trong bảng bên dưới chỉ ra rằng IT có tác động nghịch biến nhưng không có ýnghĩa thống kê đến biến động tăng trưởng trong mẫu đầy đủ (pvalue=0.14) vàcho nền kinh tế mới nổi (pvalue=0.24) nhưng lại có tác động thuận biến vàkhông có ý nghĩa thống kê trong các nền kinh tế tiên tiến Kết quả cho nền kinh

tế mới nổi tương tư như Brito và Bystedt (2010), Batini và Laxton (2007), vàGonçalves và Salles (2008), người phát hiện ra tác động nghịch biến và có ý

9 Các số liệu thống kê tóm tắt trong bảng 2 cho thấy rằng các nước đang có lạm phát cao có khả năng

áp dụng IT hơn, cho thấy khả năng phản hồi, có thể có độ trễ Do đó, chúng tôi coi IT như là một biến được xác định trước (hoặc là một biến nội sinh như trong thử nghiệm chắc chắn) thay vì một biến ngoại sinh.

Trang 15

nghĩa thống kê Kết quả cho nền kinh tế phát triển phù hợp với Ball (2010),người tìm ra mối tương quan cùng chiều nhưng không có ý nghĩa thống kê.Cuối cùng, HIGHINFL có tương quan cùng chiều với lạm phát trung bình, biếnđộng lạm phát, và sự biến động tăng trưởng cao hơn, nhưng lại làm giảm tăngtrưởng bình quân Đối với nền kinh tế tiên tiến, biến HIGHINFL được bỏ do tínhcộng tuyến vì chỉ có một quốc gia trải qua giai đoạn lạm phát cao

Bảng 6 thể hiện kết quả từ phương trình hồi quy (1) với mức lạm phát

trung bình là biến phụ thuộc, có bao gồm cả biến CBI và tương quan của nó với

IT Chúng tôi cung cấp kết quả cho mẫu đầy đủ, các nền kinh tế tiên tiến, và cácnền kinh tế mới nổi bằng cách sử dụng một trong hai biến LEGAL hoặcTURNOVER khi đo lường CBI Để kiểm tra hiệu quả của IT, chúng tôi sử dụngcác hệ số của IT và IT*CBI Đối với mẫu đầy đủ (1), kết quả ngụ ý rằng IT khôngảnh hưởng đến lạm phát, bất kể sự độc lập của LEGAL Tuy nhiên, đối với mẫuđầy đủ trong mô tả số (2), hệ số tương quan của IT*TURNOVER mang dấu (-)

và có ý nghĩa thống kê, nghĩa là IT hiệu quả hơn trong việc giảm lạm phát ở cácquốc gia có mức độ thay đổi thống đốc ngân hàng trung ương cao hơn Đặcbiệt, ảnh hưởng của IT đến lạm phát ở các nước có mức độ TURNOVER caonhất chênh lệch 36,3 điểm % so với những quốc gia có mức TURNOVER thấpnhất, trong điều kiện các yếu tố khác như nhau10 Hơn nữa việc tính toán chothấy ảnh hưởng của IT nghịch chiều và có ý nghĩa thống kê nhưng chỉ trong cácnước có TURNOVER≥ 0,26, lớn hơn mức trung bình trong mẫu đầy đủ mộtchút Mức độ tác động dự đoán về lạm phát trung bình khi TURNOVER = 0,26 làkhoảng -3.0 điểm % Tác động này tăng lên khi TURNOVER tăng và đến tối đa-29,9 điểm % khi một quốc gia có TURNOVER =1 Do đó, tác động của IT đốivới lạm phát trung bình trong mẫu đầy đủ phụ thuộc vào mức độ CBI Tuy nhiên,

tác động này chỉ rõ ràng khi chúng tôi sử dụng TURNOVER để đo lường CBI.

Chúng tôi sẽ giải thích tại sao lại như vậy ngay sau đây

10 Trong thực tế, khi TURNOVER =0, tác dụng của IT là đồng biến và gần như có ý nghĩa ở mức 10%.

Trang 16

Đối với các nước tiên tiến, tác động của IT không có ý nghĩa thống kê cho

tất cả các giá trị của LEGAL trong cột (3) và TURNOVER trong cột (4) Đối với

nền kinh tế mới nổi ở mục (5), IT không có tác động có ý nghĩa thống kê đến lạm

phát đối với bất kỳ giá trị nào của LEGAL Ngoài ra, hệ số tương quan của

IT*LEGAL không có ý nghĩa, tức là với điiều kiện các yếu tố khác không đổi, sự

độc lập pháp lý không làm thay đổi tác động của IT đến lạm phát Kết quả ở mục(6), tuy nhiên, cho thấy rằng tác động của IT ở các quốc gia có mức độTURNOVER cao nhất khác biệt 57 điểm % so với các quốc gia có mứcTURNOVER thấp nhất, khi các yếu tố khác như nhau (chúng tôi thảo luận về các

hệ số tương quan lớn và sự hiện diện của các yếu tố ngoại lai trong Phần 3.1).Đặc biệt, ảnh hưởng của IT có ý nghĩa và cùng chiều ở mức 10% trong nhữnggiai đoạn TURNOVER ≤ 0,06 (4 quốc gia và 11 quan sát) Trái lại, tác động làngược chiều và có ý nghĩa ở mức 10% khi TURNOVER ≥ 0,26 (25 quốc gia và

114 quan sát), là mức trung bình cho các nền kinh tế mới nổi Đối với các quansát với TUNOVER trong khoảng 0,06 -> 0,26 (34 quốc gia, 175 quan sát), tácđộng của IT không có ý nghĩa Điều này được mô tả trong hình 1, trong đó trìnhbày các tác động biên của IT đối với lạm phát trong nền kinh tế mới nổi tươngứng với các giá trị khác nhau của TURNOVER với độ tin cậy 90%

Tóm lại, kết quả trong mục (6) chỉ ra rằng IT, nhìn chung, không có ảnhhưởng mang ý nghĩa thống kê khi TURNOVER < 0,26 nhưng giữ một vai tròquan trọng trong việc giảm lạm phát so với các chính sách tiền tệ khác trong một

số lớn các nền kinh tế mới nổi có TURNOVER > 0,26 Mức độ dự đoán ảnhhưởng tới lạm phát khi TURNOVER = 0,26 là -4,6 điểm % Tác động này tăngkhi TURNOVER tăng lên và tăng tối đa tới 46,6 điểm % khi TURNOVER = 1

Cuối cùng, hệ số của biến LEGAL không có ý nghĩa thống kê trong cả bamẫu Hệ số tương quan của TURNOVER được dự đoán là dương và có ý nghĩatrong mẫu đầy đủ và cho các nền kinh tế mới nổi, nghĩa là CBI thấp có liên quanvới mức lạm phát cao hơn Tuy nhiên cần lưu ý , đối với mẫu đầy đủ và các nềnkinh tế mới nổi, các hệ số của TURNOVER và IT *TURNOVER tương đương về

Trang 17

độ lớn nhưng có dấu ngược nhau Điều này cho thấy rằng IT có thể trung hòatác động của CBI thấp lên lạm phát.

Như đã đề cập ở bên trên, chúng tôi tìm thấy bằng chứng rằng IT làmgiảm lạm phát so với các chính sách tiền tệ khác trong mẫu đầy đủ khi chúng tôi

sử dụng TURNOVER như là một biến CBI, nhưng lại không có tác động khichúng tôi sử dụng biến LEGAL LEGAL không ảnh hưởng đến nền kinh tế tiêntiến, và dường như không được hưởng lợi từ IT Nó cũng không có ảnh hưởngđối với các nền kinh tế mới nổi, mặc dù có nhiều quốc gia hưởng nhiều lợi ích từ

IT, có thể vì đo lường sự độc lập theo pháp lý ít chính xác hơn ở các nước mớinổi (Cukierman, và cộng sự, 1992) Trong khi đó, TURNOVER có ảnh hưởngmạnh mẽ đối với nền kinh tế mới nổi nhưng có ảnh hưởng nhỏ hơn và yếu hơn

về mặt thống kê (mặc dù vẫn có ý nghĩa) trong mẫu đầy đủ Sự suy giảm mức

độ và ý nghĩa trong mẫu đầy đủ có thể do một số nước phát triển có tỷ lệ thaythế nhân sự cao hơn so với các nước mới nổi, nhưng vẫn không hưởng nhữngtác động có lợi của IT Cukierman, và cộng sự (1992) nêu rằng trong các nướctiên tiến, đo lường TURNOVER mang tính đại diện cho chỉ số CBI thấp hơn đolường LEGAL Trong mẫu đầy đủ, tác động của TURNOVER, mặc dù yếu hơn,vẫn có ý nghĩa Lý do là các nước phát triển có tỷ lệ thay thế nhân sự bình quânthấp hơn và tác động của IT nhỏ hơn các nền kinh tế mới nổi, trong khi đó, cácnền kinh tế mới nổi có tỷ lệ thay thế nhân sự cao có mức giảm lạm phát nhiềuhơn so với những nước có tỷ lệ thay thế nhân sự bình quân thấp 11

Bảng 7 trình bày các kết quả từ phương trình hồi quy (1) với biến độnglạm phát là biến phụ thuộc Bất kể giá trị của biến LEGAL hay TURNOVER, tácđộng của IT là không có ý nghĩa thống kê trong mẫu đầy đủ và trong các nềnkinh tế mới nổi Tuy nhiên, đối với các nền kinh tế phát triển, IT làm tăng biến

11 Điều giải thích này tương tự như một trong những thông tin đã được cung cấp của Cukierman, et al (1992) giải thích tại sao TURNOVER có ý nghĩa đáng kể trong việc giải thích lạm phát trung bình cho các nước đang phát triển và tất cả các mẫu, mặc dù nó không có ý nghĩa quan trọng đối với các nước công nghiệp.

Trang 18

động lạm phát lên đáng kể với LEGAL ≥ 0.51 (cao hơn giá trị trung bình 0,42 mộtchút) (CBI cao) Mức tác động dự đoán lên biến động lạm phát trong khoảng từ0,9 điểm % (LEGAL = 0,51) đến 3.7 (LEGAL = 1.0) Do đó IT trong nền kinh tếphát triển với CBI cao dẫn đến một sự gia tăng tương đối biến động lạm phát sovới các quốc gia CBI thấp Không có ảnh hưởng trong nền kinh tế phát triển vớitất cả các giá trị của TURNOVER

Bảng 8 trình bày các kết quả từ phương trình (1) với tốc độ tăng trưởngbình quân là biến phụ thuộc Trong mẫu đầy đủ, IT có tương quan với tăngtrưởng thấp hơn trong các nước CBI thấp khi chúng tôi sử dụng TURNOVER để

đo lường CBI Cụ thể là, IT không có tác động với tất cả các giá trị của LEGALnhưng có một tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê khi TURNOVER >0,21 Trong nền kinh tế phát triển, tác động của IT là cùng chiều và có ý nghĩathống kê với LEGAL nằm trong khoảng 0,22 - 0,46, với sự gia tăng tăng trưởng

từ 1,5 đến 1,0 điểm % Tác động này không có ý nghĩa thống kê cho tất cả cácgiá trị của TURNOVER Đối với các nền kinh tế mới nổi, tác động của IT khôngcso ý nghĩa cho tất cả các giá trị của LEGAL Tuy nhiên, tác động là nghịch chiều

và có ý nghĩa thống kê cho TURNOVER ≥0,13 Tác động này dao động từ -0,9điểm % khi TURNOVER = 0,13 đến -4,3 điểm % khi TURNOVER = 1 Vì vậy,một số lượng lớn các nền kinh tế phát triển với CBI thấp có sự tăng trưởng caohơn so với các có chế khác do áp dụng IT, trong khi một số lượng lớn các nềnkinh tế mới nổi có CBI thấp có mức tăng trưởng thấp hơn Chú ý rằng biến giảlạm phát cao vẫn bao gồm trong tính toán để dễ so sánh với các nghiên cứutrước cũng có thêm biến giả này và bởi vì lạm phát cao có thể tác động đến tăngtrưởng

Bảng 9 trình bày các kết quả từ phương trình hồi quy (1) với biến độngtăng trưởng là biến phụ thuộc Đối với mẫu đầy đủ, IT có một tác động nhỏ,ngược chiều nhưng có ý nghĩa thống kê với các giá trị rất thấp của TURNOVER.Đối với nền kinh tế phát triển, IT có một tác động nhỏ, cùng chiều nhưng có ý

Trang 19

nghĩa thống kê cho các giá trị trung bình của LEGAL Đối với các nền kinh tếmới nổi, không có tác động nào bất kể giá trị của LEGAL hoặc TURNOVER.

3.1 Chi tiết hơn về lạm phát trong nền kinh tế mới nổi

Các hệ số tương quan lớn của IT, TURNOVER và IT*TURNOVER trongcột (6) của Bảng 6 cho thấy rằng các quan sát có lạm phát cao có thể ảnhhưởng đến các kết quả, mặc dù đã bao gồm biến giả lạm phát cao Tiếp theo,chúng tôi chú ý hơn đến biến TURNOVER để đo lường CBI vì, như đã đề cậptrước đây, chúng tôi không tìm thấy bằng chứng chứng minh rằng IT tác độngđến lạm phát khi sử dụng biến LEGAL, vì nó có thể không phản ánh chính xácCBI trong các nền kinh tế mới nổi Trong bảng 10, chúng tôi trình bày kết quảsau khi bỏ qua những quan sát có lạm phát lớn hơn 100% hoặc 40% Việc bỏqua lạm phát lớn hơn 100% (40%) dẫn đến loại đi 23 (56) quan sát Nhìn chung,kết quả là như nhau nhưng ít có ý nghĩa thống kê hơn những kết quả trong Bảng

5 và 6 Đặc biệt, trong cột (1), khi chúng tôi bị giới hạn lạm phát ít hơn 100%, hệ

số của IT*TURNOVER không có ý nghĩa, mặc dù chúng tôi vẫn thấy tác độngtổng thể của IT là ngược chiều và có ý nghĩa khi TURNOVER ≥ 0.25 Mức độ tácđộng dự đoán tới lạm phát khi TURNOVER = 0,25 là -1,4 điểm % Tác động nàytăng khi TURNOVER tăng, tới tối đa là -8,6 điểm % khi TURNOVER = 1

Khi chúng tôi hạn chế lạm phát dưới 40% trong cột (2), hệ số IT

*TURNOVER lại là (-) nhưng không có ý nghĩa Hơn nữa, tác động của IT là nhỏ

và không có ý nghĩa cho tất cả các giá trị của TURNOVER Điều này cho thấyrằng những quan sát có lạm phát cao ảnh hưởng tới kết quả Điều này không có

gì đáng ngạc nhiên khi chúng tôi phát hiện trong hồi quy chuẩn tác động mạnhnhất của IT trong các nước CBI thấp, mà các nước này có tỷ lệ lạm phát caohơn nhiều trước khi áp dụng IT Như thảo luận sau đây, tỷ lệ lạm phát cao có thể

là kết quả của việc tiền tệ hóa thâm hụt tài chính, xảy ra trong môi trường CBIthấp Vì vậy, loại trừ những trường hợp đó ra sẽ giúp loại bỏ những quan sát mà

IT có hiệu quả nhất ra khỏi mẫu

Trang 20

3.2 Những thử nghiệm vững chắc

Chúng tôi tiến hành một vài thử nghiệm để kiểm tra độ chắc chắn của cáckết quả của chúng tôi Trong bảng 6-10, chúng tôi xem IT là xác định trước Tuynhiên, có thể có quan hệ nhân quả đảo từ kết quả kinh tế vĩ mô yếu như lạmphát tăng cao khi áp dụng IT Nói cách khác, một biến bị bỏ qua có thể ảnhhưởng đến kết quả kinh tế vĩ mô và việc áp dụng IT Tương tự, kết quả vĩ mô cóthể biến đổi CBI, hoặc thứ ba, biến bị loại có thể tác động đến cả CBI và kết quả

vĩ mô Trong thử nghiệm chắc chắn đầu tiên, chúng tôi tính toán lại mô hình xem

cả IT và cả IT và CBI như biến nội sinh Các bảng có sẵn theo yêu cầu Đối vớilạm phát trung bình, kết quả là gần giống như bảng 6 Đối với biến động lạmphát, khác biệt duy nhất là ở nền kinh tế tiên tiến, IT không có có ảnh hưởng bất

kể giá trị của LEGAL Đối với tăng trưởng trung bình, kết quả có khác, IT có ảnh

hưởng ngược chiều và có ý nghĩa thống kê khi giá trị LEGAL thấp Đối với biến

động tăng trưởng, kết quả hầu như giống hệt nhau Như vậy, phần lớn kết quả

là giống nhau khi tính đến khả năng nội sinh của IT hoặc cả IT và CBI

Thứ hai, biến trễ lạm phát và TURNOVER có tương quan thuận với nhau.

Mặc dù chúng tôi xem biến trễ lạm phát như biến hồi qui độc lập, chúng tôi bỏqua số hạng tương quan IT*INFL t-1 trong hồi qui chuẩn Điều này có thể gây ra

sự biến thiên giảm dần khi tính toán hệ số TURNOVER*IT, vì áp dụng IT có thểhiệu quả hơn trong việc giảm lạm phát khi lạm phát năm trước cao (tức là hệ sốIT*INFL t-1 là âm) Do đó chúng tôi thêm IT*INFL như một biến hồi qui độc lập.Kết quả hồi quy lạm phát không thay đổi

Thứ ba, chúng tôi sử dụng ngày bắt đầu áp dụng IT của Gonçalves vàSalles(2008), hơi khác với Batini và Laxton(2007) người chỉ xem một quốc gia là

có áp dụng IT sau khi ưu tiên lạm phát mục tiêu lên hàng đầu so với các mụctiêu khác (Mishkin, 2000) Kết quả là hầu như giống hệt nhau Cuối cùng chúngtôi tìm thấy kết quả tương tự khi chúng tôi loại trừ các biến giả lạm phát cao

Trang 21

4 Các kênh

Trong phần này chúng tôi nghiên cứu các kênh mà qua đó CBI thấp ở cácnền kinh tế mới nổi làm tăng tính hiệu quả của IT so với các chính sách tiền tệkhác Chúng tôi giới hạn chỉ nghiên cứu lạm phát trung bình trong phần này.Chúng tôi lập luận rằng CBI thấp có thể ngụ ý rằng đang thiếu đi các yếu tố nào

đó để làm cho chính sách tiền tệ hiệu quả hơn Bởi vì việc áp dụng IT có thểthúc đẩy phát triển của một số các yếu tố này (Batini và Laxton, 2007, Friedman

và Ötker-Robe, 2009; Mishkin, 1999), có nhiều cải thiện hơn trong môi trườngCBI thấp Vì vậy, IT có thể có tác động lớn hơn khi CBI thấp do hiệu ứng cảithiện 12

Đầu tiên, IT có thể làm gia tăng CBI Đặc biệt, bằng cách nhấn mạnh khảnăng kiểm soát lạm phát trong dài hạn của ngân hàng trung ương và sự bất lựccủa nó trong việc tác động đến sự tăng trưởng lâu dài, IT có thể giảm áp lựcchính trị lên ngân hàng trung ương khi theo đuổi chính sách tiền tệ mở rộng(Mishkin, 1999) Như vậy, IT có thể làm giảm tốc độ thay thế thống đốc ngânhàng trung ương Tương tự như vậy, quyền tự do pháp lý trong một số trườnghợp được trao đồng thời với việc áp dụng IT (Batini vàLaxton, 2007).13 Ví dụ,nhiều nước áp dụng IT đã thông qua quy định cho các ngân hàng trung ươngquyền thiết lập lãi suất (Freedman, vàÖtker-Robe, 2010) Theo đó phạm vi cảithiện CBI lớn khi CBI ban đầu thấp, CBI thấp có thể khiến IT tác động mạnh hơnđến điều hành chính sách tiền tệ Trong thực tế, như đã báo cáo trong tóm tắt

thống kê ở bảng 3, TURNOVER trung bình giảm từ 0,47 đến 0,39 trong các

nước có CBI thấp khi áp dụng IT, trong khi đó phần lớn các quốc gia khác không

có thay đổi Hồi quy của chúng tôi đã chú ý xem xét kênh này vì chúng tôi có

12 Hầu hết các kênh mà chúng tôi nghiên cứu ở đây có thể bị tác động trực tiếp bởi cả việc áp dụng IT

và mức độ CBI Tuy nhiên, đáng chú ý rằng a kênh không nhất thiết bị tác động bởi IT Ví dụ, nếu CBI tác động đến biến X, mà biến này không bị tác động trực tiếp bới IT nhưng làm cho IT có hiệu quả hơn trong việc giảm lạm phát thì X vẫn được xem là là 1 kênh mà qua đó CBI làm thay đổi hiệu quả của IT

13 Ngược lại, nếu IT làm giảm lạm phát thông qua biến Y nhưng CBI không tác động lên Y, thì trong khi Y

là kênh mà qua đó IT làm giảm lạm phát, nó không phải là kênh mà qua đó CBI làm giảm hiệu quả của

IT, điều mà bài luận này tậptrung nghiên cứu.

Ngày đăng: 29/12/2013, 11:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tóm tắt kết quả thống  kê - Tác động của tính độc lập ngân hàng trung ương đến điều hành cơ chế lạm phát mục tiêu
Bảng 1 Tóm tắt kết quả thống kê (Trang 30)
Bảng 2: Tóm tắt kết quả thống kê theo nhóm quốc gia (phát triển và mới nổi) và chế độ tiền tệ - Tác động của tính độc lập ngân hàng trung ương đến điều hành cơ chế lạm phát mục tiêu
Bảng 2 Tóm tắt kết quả thống kê theo nhóm quốc gia (phát triển và mới nổi) và chế độ tiền tệ (Trang 32)
Bảng 3: Tóm tắt kết quả thống kê theo chế độ tiền tệ và tính độc lập của NHTW - Tác động của tính độc lập ngân hàng trung ương đến điều hành cơ chế lạm phát mục tiêu
Bảng 3 Tóm tắt kết quả thống kê theo chế độ tiền tệ và tính độc lập của NHTW (Trang 33)
Bảng 5: Phương trình (1) không có CBI – Ước lượng GMM - Tác động của tính độc lập ngân hàng trung ương đến điều hành cơ chế lạm phát mục tiêu
Bảng 5 Phương trình (1) không có CBI – Ước lượng GMM (Trang 34)
Bảng 7: Phương trình (1) - Inflation Volatility  - Ước lượng GMM - Tác động của tính độc lập ngân hàng trung ương đến điều hành cơ chế lạm phát mục tiêu
Bảng 7 Phương trình (1) - Inflation Volatility - Ước lượng GMM (Trang 36)
Bảng 8: Phương trình (1) – Average Growth – Ước lượng GMM - Tác động của tính độc lập ngân hàng trung ương đến điều hành cơ chế lạm phát mục tiêu
Bảng 8 Phương trình (1) – Average Growth – Ước lượng GMM (Trang 37)
Bảng 9: Phương trình (1) – Growth Volatility – Ước lượng GMM - Tác động của tính độc lập ngân hàng trung ương đến điều hành cơ chế lạm phát mục tiêu
Bảng 9 Phương trình (1) – Growth Volatility – Ước lượng GMM (Trang 38)
Bảng 10: Phương trình (1) – Average Inflation – Ước lượng GMM – Chi tiết hơn về các nền kinh tế mới nổi - Tác động của tính độc lập ngân hàng trung ương đến điều hành cơ chế lạm phát mục tiêu
Bảng 10 Phương trình (1) – Average Inflation – Ước lượng GMM – Chi tiết hơn về các nền kinh tế mới nổi (Trang 39)
Bảng A1:Các biến và nguồn dữ liệu Biến Mô tả và nguồn - Tác động của tính độc lập ngân hàng trung ương đến điều hành cơ chế lạm phát mục tiêu
ng A1:Các biến và nguồn dữ liệu Biến Mô tả và nguồn (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w