Mục tiêu của đợt thực tập này là nâng cao nhận thức về các vấn đề tài nguyên môi trường một vùng trong đới ven bờ, thực hành phương pháp nghiên cứu thực địa, thu thập và xử lý thông tin
Trang 1
NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2006 77 tr Tài liệu trong Thư viện điện tử ĐH Khoa học Tự nhiên có thể được sử dụng cho mục đích học tập và nghiên cứu cá nhân Nghiêm cấm mọi hình thức sao chép, in ấn phục vụ các mục đích khác nếu không được sự chấp thuận của nhà xuất bản và tác giả Mục lục Lời nói đầu 4
Chương 1 Những vấn đề chung về Tổ chức thực tập 5
1.1 Mục đích môn học 5
1.2 Phương pháp nghiên cứu chung 5
1.2.1 Nghiên cứu tài liệu thứ cấp 5
1.2.2 Quan sát thực tế 6
1.2.3 Phỏng vấn chính thức 6
1.2.4 Phỏng vấn bán chính thức và không chính thức 7
1.2.5 Phương pháp ma trận liệt kê, đánh giá hiện trạng sử dụng và tác động 7
1.2.6 Biểu đồ cơ cấu chức năng hoặc biểu đồ quan hệ (phương pháp mạng lưới)
8
1.3 Các yêu cầu về chuyên môn đối với cán bộ hướng dẫn và sinh viên trong đợt thực tập 8
1.3.1 Giảng dạy thực địa 8
1.3.2 Nghiên cứu cá nhân 8
1.3.3 Nghiên cứu theo nhóm 9
1.3.4 Nghiên cứu theo đoàn 9
1.3.5 Viết nhật ký thực tập 10
1.3.6 Tổ chức thị trường thông tin 10
1.3.7 Viết báo cáo thu hoạch 11
1.3.8 Hoạt động ngoại khoá 12
1.4 Đánh giá kết quả thực tập 12
Chương 2 Tổng quan chung về Đồ Sơn 14
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên 14
2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình và các hệ sinh thái 14
2.1.2 Đặc điểm khí hậu Đồ Sơn 17
2.1.3 Đặc điểm hải văn 20
PGS TS Nguyễn Đình Hòe
Trang 23.1.1 Quy định chung 24
3.1.2 Tổng quan về ĐCMT vùng bờ biển Đồ Sơn 24
3.1.3 Hướng dẫn thực hiện bài tập chuyên đề 28
3.2 Tài nguyên nước Đồ Sơn 29
3.2.1 Quy định chung 29
3.2.2 Tổng quan về tài nguyên nước Đồ Sơn 30
3.2.3 Hướng dẫn thực hiện bài tập chuyên đề 32
3.3 Tài nguyên sinh vật Đồ Sơn 34
3.3.1 Quy định chung 34
3.3.2 Tổng quan về tài nguyên sinh vật Đồ Sơn 34
3.3.3 Hướng dẫn thực hiện bài tập chuyên đề 37
3.4 Tài nguyên du lịch Đồ Sơn 38
3.4.1 Quy định chung 38
3.4.2 Tổng quan về tài nguyên du lịch Đồ Sơn 39
3.4.3 Hướng dẫn thực hiện bài tập chuyên đề 40
3.5 Thu gom và xử lý rác sinh hoạt ở Đồ Sơn 41
3.5.1 Quy định chung 41
3.5.2 Tổng quan về hoạt động thu gom và xử lý chất thải ở Đồ Sơn 42
3.5.3 Hướng dẫn thực hiện nội dung bài tập chuyên đề 42
Phụ lục 1 Địa chất - địa mạo Đồ Sơn - Hải Phòng 45
1 Kiến trúc kiến tạo, tân kiến tạo, kiến tạo hiện đại 45
2 Địa tầng và trầm tích 45
2.1 Trước Đệ tứ 45
2.2 Hệ Đệ tứ 46
3 Lịch sử phát triển địa chất 47
3.1 Trước Đệ tứ 47
3.2 Kỷ Đệ tứ 47
4 Địa hình địa mạo và lịch sử phát triển 49
Phụ lục 2 Chất lượng nước biển Đồ Sơn 53
1 Nguồn gây ô nhiễm nước biển và hệ quả 53
2 Phương hướng cải tạo và bảo vệ môi trường nước biển Đồ Sơn 54
Phụ lục 3 Vấn đề ô nhiễm dầu vùng cảng Hải Phòng 56
1 Tổng lược về dầu mỡ và sự ô nhiễm dầu 56
2 Tình hình ô nhiễm dầu vùng cảng Hải Phòng 57
Phụ lục 4 Làng chài Ngọc Hải (2001) 59
1 Giới thiệu chung 59
2 Những vấn đề môi trường làng nghề 59
3 Những cải thiện môi trường đã đạt được 60
Phụ lục 5 Hoạt động nghề cá và tình trạng quản lý nguồn lợi hiện nay ở vùng biển Hải Phòng 61 1 Nguồn lợi 61
2 Một số nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm sút nguồn lợi ở vùng biển Hải Phòng 62 Phụ lục 6 64
Sự suy thoái môi trường bãi triều lầy Hải Phòng - Quảng Yên do các hoạt động khai thác
lãnh thổ không hợp lý 64
Trang 31 Phòng trưng bày động vật có xương sống ở biển có các loại mẫu vật sau 68
2 Phòng đa dạng sinh học biển trưng bày các mẫu sau 69
3 Hệ thống Aquarium của Bảo tàng 70
Phụ lục 8 Mâu thuẫn lợi ích sử dụng vùng bờ biển Hải Phòng - Cát Bà - Hạ Long 71
1 Đặt vấn đề 71
2 Phân loại mâu thuẫn lợi ích, hiện trạng và tiềm năng 71
Phụ lục 9 Tiếp cận quản lý tổng hợp vùng bờ biển và việc áp dụng vào hoàn cảnh
Việt Nam 74
1 Khái niệm chung về đới bờ biển 74
2 Những vấn đề tài nguyên môi trường vùng bờ 75
3 Quản lý đơn ngành 76
4 Quản lý tổng hợp đới bờ (QLTH) 76
Trang 4Lời nói đầu
Đới ven bờ là vùng giao thoa, tương tác của nhiều quá trình tự nhiên và nhân sinh, nơi
có nhiều loại hình tài nguyên, nhiều đối tượng khai thác, đông dân cư, dễ phát sinh nhiều vấn
đề tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường phức tạp Đồ Sơn là một dải đất đặc biệt của đới ven bờ Miền Bắc Việt Nam Từ những mảnh còn sót lại của một lục địa cổ, Đồ Sơn gom góp trầm tích bùn lầy và vươn dài ra nơi đầu sóng, trằn mình trong mối tương tác biển lục địa khắc nghiệt để tồn tại Trên trập trùng Cửu Long Sơn còn lưu giữ nhiều dấu ấn của khoảng thời gian sinh tồn trên, đan xen với những giá trị tự nhiên, nhân sinh và nhân văn khác nhau Các nghiên cứu tài nguyên môi trường Đồ Sơn được Phân viện Hải dương học Hải Phòng thực hiện và công bố trong nhiều công trình, tạp chí Đô thị Đồ Sơn có lịch sử phát triển lâu đời, có điều kiện giao thông, ăn ở thuận lợi Tại Đồ Sơn hiện có Trạm quan trắc môi trường biển và Bảo tàng biển, với đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm lý luận và thực tiễn Do vậy, Đồ Sơn là một điểm thực tập lý tưởng cho sinh viên
Giáo trình "Hướng dẫn thực tập tài nguyên môi trường Đồ Sơn" được biên soạn phục
vụ cho môn học “Thực tập Tài nguyên Môi trường” theo chương trình đào tạo của Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN Các tác giả không có ý định trình bày sẵn các hiểu biết về tài nguyên môi trường Đồ Sơn như là một tài liệu tham khảo chọn lọc, mà nhằm vào trang bị phương pháp nghiên cứu thực địa Do đó các tư liệu về Đồ Sơn chỉ trình bày tóm tắt làm nền cho sinh viên tự tổ chức nghiên cứu, trong khi đó các tác giả đã tập trung đi sâu vào trình bày phương pháp, nội dung thực tập tại địa bàn Mục tiêu của đợt thực tập này là nâng cao nhận thức về các vấn đề tài nguyên môi trường một vùng trong đới ven
bờ, thực hành phương pháp nghiên cứu thực địa, thu thập và xử lý thông tin, học cách thực hiện nghiên cứu một vấn đề cụ thể và biết trình bày kết quả nghiên cứu liên quan đến các môn tài nguyên đã học
ThS Nguyễn Thị Phương Loan biên soạn chương 1, 2, phụ lục và mục 3.2; PGS TS Nguyễn Đình Hoè biên soạn mục 3.1; ThS Phạm Thị Mai biên soạn mục 3.3; CN Lê Văn Lanh biên soạn mục 3.4; TS Nguyễn Thị Loan biên soạn mục 3.5
Giáo trình có lược trích một số công trình đã công bố của các tác giả Trần Đức Thạnh,
Đỗ Quang Huy, Nguyễn Thược, Nguyễn Văn Cư, Đỗ Xuân Sâm, Lưu Văn Diệu, Nguyễn Thị
Mơ, Nguyễn Đức Cự, Nguyễn Trọng An và Nguyễn Chu Hồi làm tài liệu tham khảo cho sinh viên trong phần phụ lục
Các tác giả chân thành cảm ơn sự góp ý xây dựng của GS.TSKH Nguyễn Cẩn, PGS.TS Trần Cẩm Vân, PGS TS Nguyễn Chu Hồi, PGS.TS Hoàng Xuân Cơ, TS Trần Đức Thạnh và các thầy cô giáo Khoa Môi trường Rất mong tiếp tục nhận được sự trao đổi từ các quý vị quan tâm
Các tác giả
Trang 5Chương 1
Những vấn đề chung về Tổ chức thực tập
1.1 Mục đích môn học
Mục tiêu cơ bản của đợt thực tập Đồ Sơn là hướng dẫn sinh viên thực hành các phương
pháp phổ thông nhất trong nghiên cứu thực địa, thu thập, xử lý thông tin, tổ chức thực hiện nghiên cứu một vấn đề cụ thể và trình bày kết quả nghiên cứu Thông qua thực hành tại địa bàn, sinh viên có điều kiện khám phá, nghiên cứu một số vấn đề về tài nguyên môi trường bán đảo Đồ Sơn Ngoài việc minh hoạ và bổ sung kiến thức cho các môn đã học (Địa chất môi trường và các môn học tài nguyên), đây là dịp tốt để sinh viên bổ sung thêm các kiến thức về tài nguyên môi trường một vùng ven biển năng động và đa dạng chưa được trình bày trong các giáo trình đã học, hiểu thêm về thiên nhiên, đất nước, con người, bước đầu nhận biết và đánh giá được mối quan hệ tương hỗ, nhân quả phức tạp giữa các vấn đề tài nguyên môi trường vùng ven biển
1.2 Phương pháp nghiên cứu chung
Mỗi chuyên đề nghiên cứu đều có những phương pháp riêng đặc thù Ngoài ra, thực tập tài nguyên môi trường Đồ Sơn sử dụng một số kỹ thuật đơn giản của hệ phương pháp Đánh giá nhanh môi trường Đây là hệ phương pháp đánh giá trên cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá thông tin thứ cấp, kết hợp với quan sát thực tế, phỏng vấn không chính thức và phân tích bán định lượng Một số kỹ thuật đơn giản của “Phương pháp Đánh giá nhanh môi trường” được sử dụng trong thực tập Đồ Sơn là:
1.2.1 Nghiên cứu tài liệu thứ cấp
Thông tin thứ cấp bao gồm các xuất bản phẩm, các kết quả điều tra, nghiên cứu, bản đồ, niên giám thống kê, báo cáo tổng kết… về các vấn đề có liên quan tại địa phương nghiên cứu Thông tin thứ cấp có vai trò to lớn trong định hướng tổ chức nghiên cứu, làm cơ sở cho việc rút ngắn thời gian nghiên cứu, lý giải một phần những vấn đề địa phương Thông tin thứ cấp
có thể mang tính chuyên ngành sâu sắc, đánh giá định tính hoặc định lượng các vấn đề kinh
tế, xã hội, môi trường cụ thể, hoặc trên tầm vĩ mô
Thông tin thứ cấp về các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường Đồ Sơn tương đối phong phú, được lưu trữ tại các thư viện của trường, viện nghiên cứu, trung tâm Một số bài viết của các tác giả đã được lược trích đưa vào phụ lục của giáo trình để sinh viên có thể tham khảo ngay tại địa bàn thực tập Trong đợt thực tập tài nguyên môi trường Đồ Sơn, sinh viên
có nhiệm vụ sử dụng thông tin trong phạm vi vấn đề và lãnh thổ mình nghiên cứu Mỗi sinh viên cần nghiên cứu kỹ tài liệu trước khi đến địa bàn thực tập, nắm vững các nội dung và yêu cầu của đợt thực tập, địa bàn thực tập để định hướng cho mình những nhiệm vụ riêng cần nghiên cứu
Trang 61.2.2 Quan sát thực tế
Quan sát thực tế cung cấp các thông tin nhanh về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, cũng như các dấu hiệu chỉ thị môi trường Trong quá trình quan sát thực tế, nên phỏng vấn các chuyên gia hoặc người dân địa phương để phát hiện các vấn đề và khả năng giải quyết, góp phần cho định hướng nghiên cứu, kiểm tra thông tin , đồng thời có giải pháp loại trừ những thông tin nhiễu mà người cung cấp thông tin có thể mắc phải do thói quen, hoặc do định kiến Trong khi quan sát, không nên áp đặt những cách hiểu cá nhân hay của một tài liệu tham khảo nào đó vào thực tiễn một cách vội vã
Quan sát không có nghĩa là chỉ nhìn mà còn phải ghi chép và đặt ra những câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng để có một hình ảnh trực quan sinh động về đối tượng cần quan sát Có thể thảo luận nhóm ngay trên đường đi hoặc sau chuyến quan sát Các thu lượm được nên diễn giải thành sơ đồ vùng nghiên cứu, điểm nghiên cứu và lát cắt cảnh quan sinh thái khu vực
Các thông tin quan sát được đều phải ghi trong nhật ký thực tập một cách trung thực, rõ ràng Thông tin liên quan đến các lĩnh vực tự nhiên cần gắn liền với đặc điểm thời tiết, thời gian, địa điểm nơi thu thập thông tin Mọi kiến giải bình luận chủ quan cần ghi rõ để dễ phát hiện và tránh nhầm lẫn Trong quá trình quan sát nghiên cứu, mọi thông tin đều có thể có giá trị khi ta cần lý giải một hiện tượng hay vấn đề nào đó Việc phân loại thông tin chỉ nên thực hiện khi ta đã có tương đối đầy đủ các dữ liệu về vấn đề nghiên cứu
1.2.3 Phỏng vấn chính thức
Đoàn thực tập sẽ mời một số nhà quản lý, chuyên gia nghiên cứu am hiểu các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tài nguyên, môi trường của địa phương đến báo cáo Báo cáo viên có thể cung cấp thông tin theo cách trình bày báo cáo và trả lời những câu hỏi của sinh viên Các báo cáo viên đã được đặt hàng trước về nội dung báo cáo, do đó báo cáo viên đã chuẩn bị trước một cách cẩn thận, sử dụng nhiều số liệu thống kê, đưa ra nhiều ví dụ cụ thể tại địa bàn Trong quá trình nghe báo cáo, sinh viên phải chăm chú lắng nghe và ghi chép đầy đủ
Sau khi trình bày báo cáo, các báo cáo viên sẽ trực tiếp trả lời các câu hỏi của sinh viên Sinh viên cần cố gắng phát hiện nhanh vấn đề và đặt câu hỏi để khai thác tối đa khả năng được cấp thông tin Nội dung câu hỏi nên nằm trong phạm vi vấn đề mà báo cáo viên đã đề cập, hoặc là những vấn đề liên quan
Để có thể nhận được những thông tin đúng đắn và nhiều nhất, sinh viên cần biết đặt câu hỏi: câu hỏi phải ngắn gọn, đi thẳng vào trọng tâm vấn đề; Hỏi trong phạm vi chuyên môn của báo cáo viên, tránh hỏi những câu quá khó, hoặc thuộc về những lĩnh vực nhạy cảm, tránh những câu hỏi về các vấn đề lý thuyết chung chung, hoặc về các chính sách tầm vĩ mô và những câu hỏi ngoài phạm vi chuyên môn của báo cáo viên; Tránh lặp lại câu hỏi mà người trước đã hỏi
Nếu câu trả lời của báo cáo viên chưa đáp ứng nhu cầu người hỏi thì cần cân nhắc trước khi hỏi tiếp, nhất là khi câu hỏi không thuộc lĩnh vực chuyên sâu của báo cáo viên Khi sinh viên thực sự có nhu cầu và điều kiện, có thể tiếp tục trao đổi riêng với báo cáo viên sau buổi thuyết trình hoặc xin địa chỉ để có thể liên hệ làm việc trong tương lai
Trang 71.2.4 Phỏng vấn bán chính thức và không chính thức
Các loại phỏng vấn bán chính thức và không chính thức bao gồm phỏng vấn cá nhân, phỏng vấn người cung cấp tin chính, phỏng vấn nhóm Đối tượng phỏng vấn là những người tại cộng đồng có thể được chính quyền giới thiệu trước hoặc gặp ngẫu nhiên trên tuyến thực địa Nhìn chung họ phải là những người am hiểu vấn đề chúng ta đang quan tâm Thời điểm phỏng vấn nên chọn khi người được phỏng vấn có thời gian, thời gian phỏng vấn không quá dài (thường dưới 1 giờ với phỏng vấn bán chính thức và dưới 15 phút với phỏng vấn không chính thức) để tránh cho họ khỏi bị mệt mỏi, nhàm chán, dễ sinh trả lời qua quít, thiếu trách nhiệm Địa điểm phỏng vấn cần chọn chỗ thuận tiện, ít người để người được phỏng vấn không ngại ngần Thông tin cần phỏng vấn bao gồm các chủ đề trả lời được các vấn đề chính trong nội dung nghiên cứu, như các vấn đề liên quan đến nghề nghiệp, thời vụ sản xuất, tập quán, phong tục, văn hoá, giáo dục, dịch bệnh, cơ cấu ngành nghề và các tổ chức xã hội, đoàn thể Nội dung phỏng vấn gồm một số câu hỏi và chủ điểm định sẵn từ trước và các câu hỏi tự phát sinh trong khi phỏng vấn Tiến trình phỏng vấn và thứ tự ưu tiên các chủ đề không được định sẵn, mà tuỳ thuộc vào không khí cuộc phỏng vấn, không mang tính bị truy hỏi mà tự nguyện, người phỏng vấn giống như người đi học, còn người được phỏng vấn là người được tôn trọng, thông thạo vấn đề Đa phần các đối tượng được hỏi sẵn sàng cung cấp thông tin thật Tuy nhiên không loại trừ một số thông tin nhiễu Các tình huống xảy ra trong quá trình phỏng vấn
là đa dạng, không có một khuôn mẫu giải pháp định sẵn, đòi hỏi người phỏng vấn phải có tinh thần tự chủ, linh hoạt trong công việc
Trong phỏng vấn cần lưu ý những điểm sau: tìm hiểu và nắm vững nội dung cần điều tra, tránh bỏ sót hoặc đặt các câu hỏi cứng nhắc gây khó khăn cho người trả lời Nên có màn thăm hỏi xã giao, đặt một số câu hỏi mở, nhất là khi vào đầu cuộc phỏng vấn Khi cần thiết, nên giảm mức độ nghiêm trọng và hình thức của cuộc phỏng vấn nếu nhận thấy đối tượng được hỏi có biểu hiện thiếu tự tin hay e ngại Hãy giải thích rằng việc nghiên cứu chỉ phục vụ cho học tập Theo đuổi nội dung hỏi đến cùng, bám sát câu trả lời để hỏi tiếp theo cách hỏi lần đầu mối, vừa làm cho người trả lời cảm nhận thấy mình rất tâm đắc và đánh giá cao tri thức của
họ, vừa thoả mãn nhu cầu thông tin của mình Các câu hỏi có tính chất tìm hiểu nhận thức cần
có những gợi mở vừa đủ, không nên bộc bạch các vấn đề mà mình cho là đúng để hỏi, không nên mớm câu trả lời Các phản đề là rất cần thiết, nhiều khi thấy họ nói đúng rồi nhưng vẫn nên hỏi lại theo kiểu nghĩ đó là sai để kiểm chứng Chú ý lắng nghe câu trả lời xem đã đầy đủ
và thoả đáng chưa, từ đó tìm cách ngắt lời và chuyển hướng nội dung phỏng vấn Liên tục rà xét nội dung phỏng vấn để tránh bỏ sót vấn đề, đồng thời đánh giá xem đối tượng cấp tin có đáng tin cậy không để hỏi tiếp hay dừng lại Ghi chép đầy đủ các thông tin có giá trị, nhưng cần ghi tắt, ghi đúng những gì được cung cấp, tuyệt đối không được ghi theo ý mình hiểu Có thể đề nghị người được phỏng vấn vẽ sơ đồ vị trí điểm quan tâm
1.2.5 Phương pháp ma trận liệt kê, đánh giá hiện trạng sử dụng và tác động
Ma trận là kiểu bảng thống kê và mô tả hiện trạng sử dụng tài nguyên, hành động phát triển và các tác động tới môi trường Ma trận đánh giá có thể thiết kế đơn giản thành những cột liệt kê hành động phát triển, cột mô tả hiện trạng và cột mô tả hệ quả tương ứng Ở mức cao hơn, hiện trạng tác động và hệ quả có thể được phân cấp, ví dụ 0 - Không tác động, 1 - Tác động trung bình, 2 - Tác động mạnh Ma trận sức ép đơn giản gồm cột liệt kê hoặc mô tả các điều kiện tự nhiên và cột liệt kê hoặc mô tả sức ép môi trường lên các hoạt động phát triển Mức độ tác động có thể do cá nhân tự đánh giá, hoặc dùng phiếu hỏi điều tra ý kiến cả nhóm, sau đó thu lại và tính trung bình Ma trận đánh giá sức ép môi trường lên hoạt động
Trang 8phát triển được xây dựng tương tự Ma trận đánh giá là một phương pháp mới, nên chỉ khuyến khích dùng trong thị trường thông tin, báo cáo nhóm, với sự hướng dẫn chi tiết của giáo viên hướng dẫn Phương pháp ma trận có ưu điểm là tập thông tin cô đọng, dễ tiếp cận, đánh giá, nhưng có nhược điểm là không xét được đồng thời các tác động tương hỗ nhau, chưa xét đến diễn biến theo thời gian của tác động, chưa phân biệt được tác động lâu dài với tác động tạm thời
1.2.6 Biểu đồ cơ cấu chức năng hoặc biểu đồ quan hệ (phương pháp mạng lưới)
Biểu đồ cơ cấu chức năng giúp chỉ ra mối quan hệ thứ bậc giữa các vấn đề, các cơ quan,
bộ phận Biểu đồ quan hệ biểu thị mối tương quan nhân quả giữa các yếu tố trong một hệ thống Biểu đồ có thể được dùng để phân tích tác động song song và nối tiếp do các hành động của hoạt động gây ra Để xây dựng mạng lưới, trước hết phải liệt kê toàn bộ các hành động (vấn đề) trong hoạt động Xác định mối quan hệ thứ bậc hoặc nhân quả giữa chúng và dùng chúng để nối các hành động (vấn đề) lại với nhau thành một sơ đồ mạng lưới
Trên sơ đồ mạng lưới cơ cấu chức năng hoặc quan hệ có thể phân biệt được các bậc của tác động, tức tác động là trực tiếp hay gián tiếp Biểu đồ cũng cho bức tranh toàn cảnh về một vấn đề với các nhân tố và hệ quả của nó, từ đó dễ dàng đề xuất giải pháp ngay từ khâu quy hoạch, thiết kế hoạt động phát triển, thích hợp cho phân tích các tác động sinh thái Đây là một cách thức hay để thiết kế “Tập thông tin” và tham gia “Thị trường thông tin”
1.3 Các yêu cầu về chuyên môn đối với cán bộ hướng dẫn và sinh viên
trong đợt thực tập
1.3.1 Giảng dạy thực địa
Đoàn thực tập có một tập thể giáo viên hướng dẫn Tuy nhiên, vai trò chủ yếu của các
giáo viên là hướng dẫn sinh viên phương pháp nghiên cứu thực địa, định hướng và giám sát
để sinh viên chủ động quan sát, điều tra nghiên cứu, hỗ trợ sinh viên trong việc xử lý tổng hợp tài liệu thu thập được để xây dựng báo cáo tổng hợp, chứ không phải trực tiếp và tuần tự giảng dạy lý thuyết như trên lớp Do vậy, nhiệm vụ của sinh viên là tuân theo hướng dẫn của giáo viên một cách nghiêm chỉnh, tự thân cố gắng trong quá trình thực tập tìm kiếm thông tin
và phân tích tổng hợp vấn đề Cuối đợt thực tập, các giáo viên sẽ hỗ trợ việc giải đáp những câu hỏi khó
1.3.2 Nghiên cứu cá nhân
Nghiên cứu cá nhân là công việc cần thiết và bắt buộc trong các công trình nghiên cứu, khảo sát thực địa Nghiên cứu cá nhân cần tiến hành trước khi tới bất kỳ một địa bàn thực địa nào nhằm mục tiêu tìm kiếm càng nhiều càng tốt các thông tin thứ cấp, xem xét, nghiên cứu
kỹ các thông tin này, phát hiện những vấn đề nhạy cảm (thông tin cần kiểm chứng, thông tin thiếu ) để lập chương trình mục tiêu riêng cho chuyến khảo sát, hạn chế lãng phí nhân lực, vật lực và tài chính
Trong quá trình thực tập, sinh viên phải học cách độc lập khai thác thông tin từ báo cáo viên theo chuyên đề, giáo viên hướng dẫn, người địa phương hoặc qua phỏng vấn, quan sát Mỗi cá nhân đều có một khả năng quan sát và độ nhạy cảm chuyên môn riêng, do vậy, những thông tin thu thập được trên địa bàn thực tập sẽ mang tính cá nhân rõ nét Trong nhiều
Trang 9trường hợp, những thông tin tưởng như rất đơn giản thu được trong quá trình khảo sát lại trở thành cơ sở cho sự lý giải một vấn đề, hay tiền đề cho một khám phá, phát hiện mới
1.3.3 Nghiên cứu theo nhóm
Làm việc theo nhóm là cần thiết nhằm hỗ trợ cho nhau trong quá trình thu thập và xử lý thông tin trong mỗi chuyến khảo sát thực địa Trong thực tế, mỗi đoàn khảo sát thực địa thường gồm một số chuyên gia thuộc những lĩnh vực chuyên sâu khác nhau, nên có thể sẽ có những cách nhìn nhận và đánh giá vấn đề không giống nhau, mặt khác, do thời gian thực địa
có hạn nên mỗi người có thể chỉ sâu sát được vấn đề trong một phạm vi nhất định, vì vậy cần thiết phải thường xuyên trao đổi để bổ sung cho nhau và cùng nhau thực hiện mục tiêu chung của đoàn khảo sát
Nghiên cứu theo nhóm là một đặc thù trong tổ chức nghiên cứu thực địa nói chung và nghiên cứu tài nguyên môi trường nói riêng Thông qua nghiên cứu theo nhóm, sinh viên sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập, tiếp thu tốt hơn, đồng thời rèn luyện những kỹ năng cần thiết như thói quen đọc tài liệu, phương pháp tư duy khoa học, tranh luận khoa học, làm việc tập thể, chia sẻ nguồn thông tin, cùng nhau hình thành các giả thuyết giúp giải quyết vấn đề, kiểm tra giả thuyết và đi đến kết luận, Đây là những kỹ năng rất quan trọng cho công việc sau này của các cử nhân tương lai Nghiên cứu nhóm giúp sinh viên hình thành những kỹ năng làm việc tập thể như: tôn trọng và biết cộng tác với người khác, khả năng thể hiện vai trò người đứng đầu hoặc người thực thi tùy tình huống cụ thể; biết tiếp thu ý kiến tập thể và có những phản hồi cho tập thể Hợp tác học tập và nghiên cứu theo nhóm giúp rèn luyện khả năng hợp tác, khả năng thuyết phục, khả năng quản lý, nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức, nắm vững thông tin, hiểu vấn đề sâu sắc và chính xác hơn, tự đánh giá nhận thức của mình đúng đắn hơn, có cơ hội điều chỉnh, bổ sung dễ dàng hơn những thiếu hụt Trong đợt thực tập Tài nguyên môi trường Đồ Sơn, kỹ năng làm việc theo nhóm được thiết lập thông qua việc nghiên cứu hoàn chỉnh một chuyên đề theo nhóm Đoàn thực tập được chia thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm có từ 10 - 20 sinh viên, được một chuyên gia hướng dẫn thực tập chuyên sâu theo một trong những chuyên đề cụ thể trong chương 3 Khi thời gian thực tập có hạn, mỗi nhóm sẽ chỉ nghiên cứu một chuyên đề Nhóm có thời gian đi thực địa riêng theo những hành trình phù hợp với chuyên đề nghiên cứu để thu thập thông tin, sau đó tiến hành xây dựng, thuyết trình và bảo vệ các báo cáo nhóm treo và viết
Trong nghiên cứu nhóm, mọi thành viên đều có quyền và nghĩa vụ bàn bạc, trao đổi ý kiến, thực hiện sự phân công của nhóm Nghiên cứu nhóm sẽ thành công khi mọi sinh viên đều tham gia thu thập thông tin, tự mình phân tích đánh giá thông tin, trao đổi ý kiến, bày tỏ quan điểm, tranh luận bảo vệ quan điểm trong nhóm, đồng thời biết tự tôn trọng nhau, vượt qua những chênh lệch về kiến thức cũng như khác biệt về tính cách, tạo điều kiện và cơ hội cho bạn mình cùng hợp tác
1.3.4 Nghiên cứu theo đoàn
Trong chương trình thực tập có một thời lượng nhất định dành cho nghe báo cáo chung toàn đoàn, một số tuyến khảo sát chung toàn đoàn
Hành trình thực tập chung toàn đoàn bắt buộc: Tuyến thứ nhất dọc theo bờ biển, qua
chùa Hang, bãi tắm I, II, III, biệt thự Bảo Đại, miếu Vạn Ngang, bến cá Vạn Hương đến Vạn Hoa và vòng về núi Độc, để quan sát các đặc điểm khai thác tài nguyên và hiện trạng môi trường, cũng như các cảnh quan và thảm thực vật khu vực Điểm cuối hành trình là kè luồng
Trang 10Ngọc Hải, một công trình nhân tạo đặc biệt nhằm tạo hiệu ứng dòng nạo vét chống sa bồi luồng bến cá Tuyến thứ hai đi theo đường Suối Rồng, quan sát một vùng nông nghiệp và sinh cảnh đất dốc ẩm ướt nhất khu vực, với nguồn nước ngầm phong phú, trong đó có suối Rồng quanh năm nước chảy và đỉnh núi Tháp, nơi còn dấu tích của Tháp Tường Long; Đây cũng là điểm lý tưởng quan sát vùng cửa sông Văn Úc, với các hoạt động kinh tế khác hẳn vùng cửa sông ven biển Bạch Đằng Điểm cuối hành trình là xã Bàng La, vùng sản xuất muối và nuôi trồng thuỷ sản
Hành trình thực tập chung không bắt buộc: Tuyến đảo Dáu quan sát hệ sinh thái tự
nhiên và cảnh quan biển; Tuyến dọc đường 14 đến đảo Đình Vũ, quan sát các hệ quả môi trường của việc đắp đập Đình Vũ Tuyến sang Kiến An, quan sát đồi cò quân khu III Tuyến dọc đê 14 quan sát nghiên cứu rừng ngập mặn và các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt hải sản tại nông trường Trung Dũng
Khó khăn lớn nhất khi làm việc toàn đoàn là sinh viên quá đông, rất khó tập hợp và kiểm soát kỷ luật học tập, mỗi sơ suất nhỏ trong khâu tổ chức và từ mỗi thành viên trong đoàn đều
có thể gây ảnh hưởng xấu cho hoạt động chung Do vậy, tuân thủ nội quy đoàn thực tập là yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên Đoàn thực tập có nội quy riêng, có chương trình và giờ giấc làm việc định sẵn, bắt buộc mọi sinh viên phải tuân thủ, không có ngoại lệ Đoàn tổ chức cho sinh viên đi lại, ăn ngủ tập trung để đảm bảo an ninh và sức khoẻ cho mọi thành viên trong đoàn, đồng thời rèn luyện cho sinh viên ý thức tập thể, mình vì mọi người ngay cả trong các hoạt động cá nhân Ban cán sự lớp, các nhóm trưởng và phòng trưởng có trách nhiệm giúp giáo viên tổ chức các hoạt động chuyên môn đạt kết quả tốt
1.3.5 Viết nhật ký thực tập
Người đi thực địa phải tập tính ngăn nắp, cẩn thận, tỉ mỉ, chăm chỉ, thường xuyên ghi chép thông tin vào nhật ký cá nhân Nhật ký ghi chép rõ ràng, để lề rộng để có chỗ bổ sung thông tin khi cần Đối với những người làm môi trường, mọi thông tin về thời tiết, cảnh quan, môi trường tự nhiên, xã hội đều đáng lưu tâm và phải được ghi trong nhật ký Hàng ngày, sau khi đi thực địa về sinh viên cần dành khoảng 30 phút để chỉnh sửa các lỗi có thể có trong nhật
ký Về nguyên tắc, mọi điều ghi được trên đường thực địa đều có giá trị, không nên xoá Những vấn đề nào còn nghi vấn nên đánh dấu hỏi bên lề và bố trí thời gian, cơ hội để tìm kiếm thông tin trả lời trong những dịp có thể
1.3.6 Tổ chức thị trường thông tin
Tổ chức làm việc nhóm xây dựng tập thông tin: Toàn nhóm cùng nhau thảo luận trước khi đi đến thống nhất quan điểm trong mọi vấn đề Có nhiều cách khác nhau để thống nhất quan điểm, ví dụ như biểu quyết theo đa số, thảo luận, giải thích Có nhiều cách khác nhau
để huy động tổng lực, chính kiến cá nhân, ví dụ như mỗi người trong nhóm viết câu trả lời riêng ra giấy về những vấn đề cụ thể nào đó, sau đó cùng tổng hợp lại, hoặc giao việc cho từng tiểu nhóm, buộc phải hoàn thành trong những thời hạn ngắn, sau đó cả nhóm cùng xem xét, bổ sung, chỉnh sửa Có thể dùng phiếu điều tra để định lượng hoá nhanh các thông tin Những vấn đề chưa có câu trả lời rõ ràng sẽ cử người đi điều tra bổ sung Dựa trên sự đồng thuận của đa số, nhóm sẽ có những vấn đề được phân tích một cách chặt chẽ, khoa học, kèm theo các chứng cứ và lời giải thích hợp lí, gọi là “Tập thông tin” Mỗi tập là tổ hợp thông tin
về kết quả nghiên cứu một đề tài trọn vẹn, trình bày dưới dạng bảng, sơ đồ khối, dòng tin, ma trận Không sao chép nguyên dạng tài liệu thứ cấp làm tập thông tin
Trang 11Các tập thông tin sẽ được thiết kế trình bày thành những bảng vấn đề, kiểu báo treo, có tên gọi phù hợp, trên giấy khổ lớn (tối thiểu là một mặt giấy Ao) Mỗi báo cáo treo không quá
4 mặt giấy Ao Một báo cáo treo đạt yêu cầu cần có nội dung khoa học hoàn chỉnh, đúng đắn, chính xác, cụ thể, thuyết phục, thực tiễn, cô đọng, hình thức báo cáo trình bày đẹp, khoa học, chữ viết to, rõ ràng, dễ đọc, dễ hiểu, mẫu vật đẹp, phù hợp và có chú giải Khuyến khích trình bày các tập thông tin một cách sáng tạo và giàu tính truyền thông, quảng cáo
Hộp 1
THỊ TRƯỜNG THÔNG TIN
- Nội dung nghiên cứu vào ngày khảo sát theo nhóm chuyên đề sẽ được các nhóm trình bày trên các báo cáo treo tại Thị trường thông tin,
có mục đích chia sẻ thông tin với các nhóm khác không có cơ hội khảo sát và nghiên cứu chi tiết
- Mỗi nhóm cử người trực ở "quầy" của nhóm để trả lời các câu hỏi của thành viên đến từ nhóm khác Cần phải trả lời mọi câu hỏi một cách cởi mở, không giấu giếm Đối với những câu hỏi khó cần phải hội ý nhóm để trả lời, hoặc ghi nhận, như một vấn đề để mở cần nghiên cứu tiếp
- Các nhóm tránh tranh luận gay gắt, cũng tránh đặt câu hỏi có tính dồn
ép người trực "quầy"
Đoàn tổ chức một buổi sinh hoạt chuyên môn chung theo hình thức “Thị trường thông tin” Trong “Thị trường thông tin”, mỗi nhóm sẽ trưng bày các “Tập thông tin” của mình, tương tự như trình bày báo cáo treo Để việc trưng bày được thuận lợi, cần thiết kế các tập thông tin gọn nhẹ, chắc chắn và bền vững nhất, đồng thời chuẩn bị sẵn phương tiện hỗ trợ như dây, cặp
Các nhóm phải cử người thuyết minh về các "Tập thông tin", trả lời câu hỏi do các cá nhân hoặc nhóm khác đặt ra để bảo vệ “chân lý “ của nhóm
Mỗi cá nhân có nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm những thông tin mà mình cho là bổ ích hoặc chưa có, phát hiện những khiếm khuyết có thể trong các tập thông tin, cùng tranh luận để tìm ra chân giá trị của các thông tin trưng bày Thông qua “Thị trường thông tin” mỗi cá nhân
có thể thu thập được thêm nhiều thông tin bổ ích, cũng như rèn luyện cho mình bản lĩnh bảo
vệ chính kiến đúng của toàn nhóm Tuy nhiên “Thị trường thông tin” chỉ thành công khi có sự tham gia tích cực và có trách nhiệm của mọi thành viên (Hộp 1)
1.3.7 Viết báo cáo thu hoạch
Báo cáo thực tập là công trình khoa học hoàn chỉnh về một vấn đề trọn vẹn do sinh viên
tự chọn, được trình bày một cách khoa học và hợp lý trong cách lý giải sự lựa chọn và giải quyết vấn đề, tính phù hợp giữa tên gọi và nội dung của báo cáo
Tuỳ theo yêu cầu của mỗi đợt thực tập, sinh viên sẽ phải viết báo cáo cá nhân hoặc theo nhóm (tối đa là 5 sinh viên/nhóm), trên cơ sở phân tích tài liệu thứ cấp, kết quả phỏng vấn và quan sát thực địa Hình thức báo cáo trình bày theo quy định viết báo cáo khoa học, không quá 15 trang đánh máy trên giấy A4, cỡ chữ VNTime 13, đóng bìa màu và bìa mica Báo cáo phải có đủ mục lục và các phần đặt vấn đề, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo Báo cáo nên có ảnh và hình vẽ, sơ đồ, mặt cắt minh họa, trình bày đẹp, rõ ràng, khoa học và phù hợp, có tên gọi, ghi rõ địa chỉ tài liệu tham khảo
Đề cương viết báo cáo nhóm:
Trang 121 Mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục tiêu đặt ra, nhiệm vụ phải giải quyết Nhóm đã
thực hiện đề tài như thế nào (sử dụng phương pháp gì, đi hành trình nào, phỏng vấn những ai ), cảm ơn thầy hướng dẫn và những người đã giúp đỡ
2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Sinh viên có thể lựa chọn 1 trong 2 tiếp cận trình bày sau:
Đặc điểm chung về tài nguyên môi trường Đồ Sơn, hiện trạng khai thác sử dụng và hệ quả Đây là một tiếp cận viết báo cáo khó, đòi hỏi sinh viên phải biết phân tích tổng hợp vấn
đề và có hiểu biết về quản lý tổng hợp đới bờ Trong báo cáo phải nêu được các vấn đề sau: 1
- Mô tả các loại tài nguyên (phân bố, khối lượng, chất lượng), đánh giá, xếp loại mức độ quan trọng của từng loại đối với kinh tế xã hội và lý giải tại sao xếp loại như vậy; 2 - Chỉ ra những vấn đề bức xúc trong sử dụng tài nguyên ở Đồ Sơn (suy thoái, ô nhiễm), xếp loại theo mức độ
và lý giải nguyên nhân của các vấn đề bức xúc và giải pháp khắc phục; 3 - Những phát hiện mới về các vấn đề tài nguyên môi trường địa phương
Phân tích và thảo luận một chuyên đề tự chọn, trong đó trình bày chi tiết hiện trạng vấn
đề, phân tích nguyên nhân, hệ quả và đề xuất giải pháp giải quyết các tác động bất lợi tới môi trường và phát triển kinh tế xã hội khu vực
Kết luận và kiến nghị: Chỉ viết những gì cá nhân hoặc nhóm tự tìm ra được, liên quan
đến những phát hiện đã trình bày trong báo cáo
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
1.3.8 Hoạt động ngoại khoá
Đoàn thực tập tổ chức một số buổi sinh hoạt ngoại khoá, như thi đấu thể thao, văn nghệ, đốt lửa trại Mỗi đợt thực tập có thể lựa chọn các hình thức sinh hoạt tập thể phù hợp nhất và chủ động chuẩn bị sẵn phương tiện hoạt động Các hoạt động này một mặt làm đa dạng nội dung chuyến thực địa, mặt khác tạo cơ hội cho mọi sinh viên hoà đồng vào nhịp sống chung của tập thể theo khả năng, sở trường của mình Các sinh hoạt ngoại khoá là bắt buộc đối với sinh viên vì cũng là một nội dung thực tập Ban chấp hành chi đoàn, hội sinh viên của lớp có vai trò tổ chức chính, nội dung sinh hoạt ngoại khoá do đoàn thực tập tự xây dựng, chuẩn bị,
có thông qua giáo viên phụ trách (Hộp 2)
Hộp 2
MỘT SỐ LOẠI HÌNH SINH HOẠT NGOẠI KHOÁ
- Giao lưu văn nghệ, khiêu vũ với đoàn thanh niên địa phương và bộ đội dưới hình thức lửa trại ngoài trời
- Thi sáng tác và biểu diễn thời trang môi trường
- Thi ảnh và chú giải ảnh thực tập
- Thi tìm hiểu môi trường xen kẽ với thi hát theo băng hình (Karaoke tập thể)
- Thi đấu bóng bãi biển
- Giao lưu nhóm nhỏ: kể chuyện, hát
1.4 Đánh giá kết quả thực tập
Bảng 1
Trang 13Dự kiến cách đánh giá kết quả thực tập
2 Điểm trình bày và bảo vệ cho riêng từng sinh viên nếu
3 Điểm tham gia thị trường thông tin 2
4 Điểm nhật ký thực địa, tinh thần, thái độ thực tập cá nhân
và tham gia hoạt động ngoại khoá
2
Tổng 10
Trang 14Chương 2
Tổng quan chung về Đồ Sơn
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình và các hệ sinh thái
Thị xã Đồ Sơn là một bán đảo nằm cách trung tâm thành phố Hải Phòng 22km về phía Đông Nam, trong vùng tọa độ 20o39’ - 20o45’B và 106o44’ - 106o50' Ba phía Đông, Tây, Nam của Đồ Sơn đều giáp biển, còn phần đất liền của bán đảo nối với huyện Kiến Thuỵ Theo sử cũ, Đồ Sơn xưa vốn là những hòn đảo trên bãi bùn lầy, được phù sa các sông Bạch Đằng, Lạch Tray, Văn Úc bồi đắp dần, đến thời Nguyễn, Đồ Sơn còn là rừng núi rậm rạp, nhiều muông thú Cảnh quan Đồ Sơn đa dạng, phức tạp, phản ánh quá trình phát triển lâu dài dưới tác động trực tiếp của các quá trình nội sinh và ngoại sinh Đá gốc cứng tạo nên các đồi núi thấp không liên tục, mỏ hàn tự nhiên nhô ra biển, phối hợp với tầng phủ bở rời có chiều dày biến đổi, các hệ sinh thái đa dạng, thuộc nhiều loại từ nguyên sinh đến nhân tạo, từ nước mặn đến nước ngọt, từ giàu ẩm đến ẩm hạn chế, tạo ra các địa cảnh quan đặc sắc và có giá trị Địa hình bán đảo Đồ Sơn có thể chia thành 4 nhóm sau: Đồi núi thấp ven biển, đồng bằng không ngập triều, đồng bằng ngập triều tự nhiên và các bờ ngầm, luồng lạch ngập nước biển Dải đồi Đồ Sơn tuy không cao nhưng kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, vuông góc với các hướng gió mùa Đông Bắc và Tây Nam, tạo ra các vi khí hậu ở hai bên sườn các đồi vào các mùa gió Bờ biển qua các giai đoạn kiến tạo và tác động của sóng biển, đã hình thành các loại địa hình khác nhau như: thềm mài mòn (bench), vách sóng vỗ (cliff) cổ và hiện đại Tại chân các cliff trẻ, sóng vỗ ăn hõm sâu vào vách, đến một lúc nào đó sẽ sinh đổ lở do phần vách phía trên không còn điểm tựa, hình thành những bãi đá đầy bí ẩn và hấp dẫn
Tài nguyên đất Đồ Sơn rất hạn chế, là sản phẩm của các quá trình phong hoá đá gốc, tích
tụ mài mòn, trầm tích sông biển và biến đổi hữu cơ Những loại đất gặp ở Đồ Sơn là: Đất đỏ vàng trên núi (Ferasol), chủ yếu là cát và bột kết, gồm nhiều tầng như tầng Ao mỏng (0 - 10cm) hầu như không có lớp thảm mục do bị rửa trôi, tầng A (10 - 30cm) dưới tán rừng tái sinh thông, bạch đàn, phi lao, keo và tầng A1 (30 - 60cm) ít mùn, xốp, độ phì tốt, pH 4,5 - 5; Đất dốc tụ màu xám (Acrisol), thành phần cát pha - thịt nhẹ, hơi xốp, độ phì trung bình thấp,
độ mùn trung bình, pH 5 - 5,5, thực vật chỉ thị là cây ăn quả; Đất cát đỏ (Aluvisol) hình thành nhờ phù sa sông biển, địa hình bằng phẳng, thành phần cơ học là thịt trung bình - nặng, độ pH 6,0, là vùng trồng lúa; Đất cát trắng ven biển, hạt mịn vừa và nhỏ, độ phì kém, pH trung tính, thích hợp với phi lao, hoa màu; Đất chua phèn (Thionic fluvisol), tầng A có thành phần cơ giới là cát pha - thịt nhẹ, nhiều mùn, độ phì thấp, pH 4,5, tầng B có màu vàng của phèn hoạt tính, là loại đất thịt nặng, pH thấp (2,5 - 3,5); Đất mặn sú vẹt (Ifluvisol), có màu xám đen, xám xanh do tích tụ xác sú vẹt, thành phần cơ học là thịt nặng - đất sét, độ mặn cao, hàm lượng mùn trung bình, pH 6,5 - 8,3 Tầng đất tiềm tàng phèn chứa pirit (Fe2S) có màu xám tím, khi bị phơi lộ sẽ chuyển thành sunphat natri màu vàng, có tính độc cao, pH thấp, là mối nguy hại rất lớn cho các đầm nuôi hải sản Quan sát vùng đang cải tạo làm đầm nuôi có thể thấy chủ đầm dùng vôi khử chua cho đáy và bờ Tuy nhiên, khi đầm đi vào hoạt động, quá
Trang 15trình sunphat hoá vẫn tiếp tục ở những phần bờ phơi trống, từ đó chất độc bị rửa trôi xuống đầm Một số chủ đầm nuôi khắc phục hiện tượng này bằng giải pháp tình thế là dùng nilông
bó bờ đầm
Nằm trong dải đất hẹp và các thành tạo địa chất đơn giản, Đồ Sơn không có mỏ khoáng sản quan trọng nào Đáng kể nhất có đá quaczit ốp lát lộ ra ở ven đồi tại Ngọc Xuyên, Vạn Hương, bến Nghiêng, trữ lượng 406.000m3 Đá có chất lượng trung bình, màu sắc không đẹp lắm, ngoài ốp lát có thể dùng làm vật liệu xây dựng các công trình chống axit ăn mòn Tuy nhiên không nên đặt ra vấn đề khai thác loại đá này vì sẽ làm tổn hại đến giá trị cảnh quan quý giá của khu du lịch
Cát xây dựng có trữ lượng khoảng hơn 10 triệu m3, phân bố chủ yếu ở khu sân bay cũ trên độ cao 4 - 6m và ở khu bãi ngập triều phía Bắc bến cá Ngọc Hải Tuy nhiên, cũng không nên đặt ra vấn đề khai thác cát vì sẽ gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan tự nhiên và xói lở bờ biển
Trong trầm tích bãi biển Đồ Sơn có khi gặp được các mảnh tectit, là một loại đá thiên thạch màu đen ánh, cứng, có thể chế tác thành hàng trang sức
Hoạt động nhân tạo như quai đê, lấn biển, ngăn sông nội đồng, đào lấp sông đã làm thay đổi đáng kể địa hình và các quá trình tự nhiên khu vực Xói lở bờ bãi và đê kè xung yếu tuyến Bàng La có liên quan đến mất nguồn bồi tích do sông Đa Độ và sông Sàng bị chắn đắp thành hồ chứa nước ngọt và do các hoạt động khai thác cát xây dựng Đê đường 14 chạy từ cửa Lạch Tray đến mũi Độc, khoanh đắp 1.600 ha diện tích đầm nuôi, bãi triều tự nhiên thành đất trồng trọt Tuyến đê lấn quá xa ra biển, không tương xứng với tốc độ bồi cao và mở rộng
tự nhiên, làm thu hẹp và tạo ra gấp khúc đột ngột của trắc diện ngang bờ, do đó đoạn Cầm Cập ở phần giữa rất xung yếu, thường xuyên bị sóng biển làm sạt lở Vùng đất lấn biển chua mặn, hiệu quả sản xuất rất thấp Phù sa mất cơ hội bồi lấp vùng đất ướt ngập triều nên bồi lấn
ra vùng ven biển, tạo thành một trường cát rộng lớn kéo dài đến phía Bắc Đồ Sơn, đến năm
1987 bồi lấp và vô hiệu hoá cống C4 của nông trường Trung Dũng, gây ngập úng trên 500 ha đất canh tác và nơi cư trú của dân cư nông trường Từ năm 1990 trường cát trên tràn qua luồng vào bến cá Ngọc Hải, gây sa bồi luồng bến nặng nề Một dự án thuỷ lợi tốn kém cải tạo luồng Ngọc Hải đang được triển khai Theo thiết kế, công trình gồm hai kè dạng đập dài, song song nhau, vuông góc với đường bờ, có tác dụng chắn bồi tích do dòng dọc bờ đem tới và tạo luồng triều hút phù sa bồi lắng trong luồng Tới năm 2001, công trình đã được xây đi xây lại đến 3 lần, do trước đó không chịu được tác động của sóng, bão nên đều bị phá hỏng Việc bến
cá Ngọc Hải bị bồi lấp tác động rất xấu đến nhiều bộ phận dân cư và kinh tế xã hội khu vực Thuyền cá mất cảng nên tự do cập bờ tại các vũng vịnh tự nhiên, trong đó có cả những vùng
đã được cải tạo thành bãi tắm, gây ô nhiễm môi trường du lịch, mâu thuẫn giữa dân địa phương nghề cá với hoạt động du lịch Không có bến bãi thích hợp nên nguồn hải sản đánh bắt trên ngư trường gần Hải Phòng không tập kết qua Đồ Sơn, địa phương mất một cơ hội phát triển
Trang 16Bảng 2
Một số hệ sinh thái đặc trưng vùng Đồ Sơn và lân cận
Cửa sông hình phễu (Bạch Đằng) Nằm ở phía bắc Đồ Sơn, có cấu trúc nửa kín, biển đang lấn sâu vào
lục địa Có tiềm năng nuôi trồng hải sản và xây dựng cảng Thuỷ vực nước lợ có các bãi triều sú vẹt Đa dạng sinh học cao Vùng để trồng ươm giống và cư trú của hải sản nước mặn, lợ
Cửa sông Châu Thổ (Văn Úc) Nằm ở phía nam, cấu trúc hở, nước lợ Ảnh hưởng phù sa lớn Bồi tụ
kiểu châu thổ lấn biển Tiềm năng nông nghiệp và hải sản Vùng ươm giống và cư trú của hải sản
Đồi, núi thấp Có Cửu Long Sơn, núi Độc, với các thảm rừng trồng, vườn rừng,
vườn nhà, núi đá trọc, các nhà hàng, nhà nghỉ, nhà dân được xây dựng ở độ cao khác nhau
Hệ nông nghiệp ven biển Do khai hoang, lấn biển và các bãi triều lầy, đồng bằng thấp ven bờ,
bãi sú vẹt, đất ngập nước ven biển Đất bị mặn hoá và axit sunphat Trồng lúa nước năng suất thấp
Hệ thống đầm nuôi thuỷ sản ven biển Quai đắp từ đất ngập nước có sú vẹt, đầm tù đọng, ít cống máng, bị
ngọt hoá, ô nhiễm, suy thoái Nuôi tôm cá nước lợ năng suất thấp và giảm dần theo thời gian
Rừng ngập mặn Phát triển ở rìa các cửa sông, vịnh, vụng nhỏ ven bờ hoặc dọc bờ
sông Đất giàu hàm lượng lưu huỳnh, giàu mùn bã hữu cơ, môi trường địa hoá yếm khí, đầm lầy hoá Nơi sống, ương nuôi giống hải sản, nơi sản xuất tôm cua
Đất ngập triều Là phần ngập nước của cửa sông Lạch Tray và Văn Úc Đáy bùn Nơi
ươm giống hải sản, nơi đậu của chim di cư
Cỏ biển Phân bố ở dưới triều, có tác dụng giữ phù sa Nơi ương nuôi, sinh đẻ
của hải sản và sản xuất chất dinh dưỡng, cung cấp cacbon, nitơ, cá trưởng thành cho vùng lân cận
Bãi cát biển Phân bố rộng khắp ven bờ bán đảo Đồ Sơn Bãi rộng, thoải, cỡ hạt
nhỏ và vừa, chủ yếu phục vụ du lịch Một vài bãi dùng làm bến cá, bến tàu
Các vụng nhỏ Bát vạn Đồ Sơn: Vạn Tác, Vạn Bún, Vạn Ngang, Vạn Thốc, Vạn Hoa,
Vạn Hương, Vạn Lẻ, Vạn Lê Có độ sâu duy trì, ít bị bồi lấp Có tiềm năng giao thông, cảng biển, phục vụ du lịch Được dùng làm bến cá từ lâu đời và nay một số đã trở thành bãi tắm
Lạch triều Ngọc Hải, được dùng làm bến cá từ lâu đời
Đáy mềm Phân bố từ độ sâu 6m trở ra Đáy bùn nông Tiềm năng hải sản: Sam,
tôm, cá…
Đảo nhỏ (đảo Hòn Dáu) Là hệ sinh thái rừng tự nhiên tương đối nguyên trạng, nhiều chim,
không có thú lớn Môi trường tốt cho chim biển, các loài giáp xác ở rạn
đá Tiềm năng kinh tế, du lịch, nghiên cứu khoa học, phục vụ quốc phòng
Vùng khơi Tiềm năng hải sản và du lịch
Trang 17Hình 1
Sơ đồ khu vực Đồ Sơn, Hải Phòng
Bờ biển các khu du lịch và đường lộ được kè chắc bằng đá hộc, với một vách thẳng đứng
và một phần nghiêng thoải theo bãi cát ven biển Kè bờ vừa có tác dụng làm đẹp cảnh quan khu du lịch, vừa có vai trò bảo vệ bờ chống xói lở Tuy nhiên một số đoạn kè hiện đang bị hư hại, nứt vỡ; Nguyên nhân có thể do độ nghiêng và chiều dài của phần kè thoải chưa hợp lý, quá dốc và quá ngắn, bãi bị tiêu hao do sóng và năng lượng dòng ra lớn
2.1.2 Đặc điểm khí hậu Đồ Sơn
Theo chiều ngang từ bờ biển vào sâu trong lục địa, thị xã Đồ Sơn có chiều rộng dưới 10km nên tính chất khí hậu ven biển bao trùm toàn thị xã Đồng thời, Đồ Sơn có khí hậu gió mùa nhiệt đới, mùa hạ nóng ấm, mưa nhiều từ tháng 5 - 9, mùa đông lạnh, ít mưa, từ tháng 11
- 3 Tháng 4 và 10 là tháng chuyển tiếp khí hậu
Bức xạ mặt trời là yếu tố có vai trò quyết định nền tảng của khí hậu địa phương Đồ Sơn Hàng năm Đồ Sơn có 2 lần mặt trời đi qua thiên đỉnh vào ngày 24/5 và 21/7 Đồ Sơn có cán cân bức xạ quanh năm dương Tổng lượng bức xạ đạt giá trị cao nhất vào tháng 5 (12,3Kcal/cm2) và tháng 7 (11,3 Kcal/cm2), thấp nhất vào tháng 2 (5,8 Kcal/cm2) Bức xạ trung bình 105 - 115 Kcal/cm2/năm
Nhiệt độ trung bình năm tại Đồ Sơn là 23 - 24oC, mùa hè 28 - 29oC, mùa đông 17 - 18oC Nhiệt độ nước biển trung bình năm là 23,5oC, vào tháng 5 - 9 là 25oC và dưới 20oC vào tháng
11 - 3
Trang 1820oC, độ ẩm tương đối 85 - 90%, tác động xen kẽ vào thời kỳ đầu và cuối mùa đông, đem lại thời tiết nắng ấm đầu mùa và nồm ẩm mưa phùn cuối mùa
Bảng 4
Chế độ nhiệt không khí (ToC) tại Hòn Dáu [5]
Trang 19biệt như mưa hội tụ nhiệt đới kéo dài gây lũ, đặc biệt là hình thành áp thấp nhiệt đới và bão gây hại lớn Khối không khí nhiệt đới Thái Bình Dương có ảnh hưởng xen kẽ liên tục suốt mùa hè từ tháng 5 - 9, nhiệt độ trung bình 27 - 29oC, độ ẩm không khí 85 - 90% Khối không khí cực đới thịnh hành vào mùa hạ gây mưa rào, thời tiết mát trong một vài ngày Trong các thời kỳ chuyển tiếp mùa, hình thái khí áp mặt đất ở dạng trung gian, các khối không khí mùa đông và mùa hè cùng tranh giành ảnh hưởng, nên dễ gây ra sự hội tụ về gió là yếu tố cơ bản
để hình thành giông, lốc, vòi rồng hoặc mưa đá Gió đất thổi hàng ngày, từ sau nửa đêm, 20 -
22 giờ đến 9 -10 giờ sáng, hướng từ đất liền ra biển Gió biển thổi theo hướng ngược lại vào thời gian còn lại trong ngày Tần suất gió đất biển cao nhất trong thời kỳ chuyển tiếp khí hậu Trong các tháng giữa mùa, gió đất gió biển bị lu mờ do bị chi phối mạnh bởi các khối không khí gió mùa
Lượng mưa trung bình năm 1660 mm Số ngày mưa trong năm ở Đồ Sơn là 115 ngày, tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hè (6 - 10), trung bình trong giai đoạn này cứ 1,3 ngày nắng lại có 1 ngày mưa Lượng mưa cao nhất vào tháng 8 là 325mm, thấp nhất vào tháng 2 là 6mm Lượng mưa giờ cực đại đạt đến 103,6 mm Những cơn mưa >50mm đã gây ngập úng đô thị Mưa 150mm trong 3 giờ gây ngập úng khoảng 50 ha, sâu 0,5 - 1m, trong thời gian từ 3 giờ đến 1 ngày đêm Độ ẩm trung bình 82 - 88%, cao vào các tháng 2, 3, 4 và thấp vào các tháng
10, 11, 12 Tổng lượng bốc hơi năm 700 - 750 mm
Đồ Sơn chịu nhiều ảnh hưởng trực tiếp của bão Hàng năm, nhất là trong tháng 7, 8, 9, có khoảng 1 - 2 cơn bão và áp thấp đổ bộ trực tiếp vào khu vực và 2 - 5 cơn ảnh hưởng, gây mưa lớn, gió mạnh sóng to, nước dâng, đặc biệt là khi trùng kỳ triều cường Tốc độ gió bão trung bình 20m/s, cực đại 40 - 50 m/s Lượng mưa trong bão chiếm 25 - 30% lượng mưa cả năm Bão xuất hiện vào các tháng 6 - 10, tập trung vào tháng 7 (tần suất 28%), tháng 8 (21%), tháng 9 (29%); Có khi bão xuất hiện sớm vào tháng 4, 5
Các hiện tượng bất thường như giông, lốc cũng được ghi nhận ở khu vực Hải Phòng nói chung Giông khá phổ biến, với tần số xuất hiện là 100 - 120 ngày/năm, tập trung vào mùa hè,
15 - 20 ngày/tháng, thường vào chiều tối hoặc sáng sớm Khi có giông lượng mưa trong 1 - 2 giờ
có thể lên tới 180 - 200 mm Khi giông phát triển mạnh có thể có gió xoáy với tốc độ rất lớn,
100 - 200 m/giây trong khoảng 5 - 10 phút (gió lốc) Cơn lốc lịch sử, gây tác hại không kém
Trang 20bão xuất hiện hồi 13 giờ 10 phút ngày 4/6/1987, sinh vòi rồng đi vào bãi tắm 1 chỉ trong vòng
5 phút đã gây thiệt hại lớn cho nhiều công trình xây dựng Cơn lốc ngày 14/4/1984 tại Hải Phòng đã tàn phá một dải rộng ven bờ sông Cấm, làm hàng chục người thiệt mạng Ngoài ra, quá trình các dòng khí bốc nhanh lên cao dễ sinh hiện tượng hơi nước hoá băng, gây mưa đá
2.1.3 Đặc điểm hải văn
Chế độ triều trong vùng thuộc loại nhật triều đều điển hình, chu kỳ ổn định, trung bình 24h50', biên độ lớn, trung bình 3,6m, cực đại 4,5m vào kỳ triều cường (triều cường vào các tháng 5 - 7 và 10 - 12) Nước ròng xuất hiện vào tháng 7 - 8, nước cường xuất hiện vào tháng
12 - 1 Mỗi tháng có hai kỳ triều cường, mỗi kỳ 11 - 13 ngày và hai kỳ triều kém, mỗi kỳ 3 - 4 ngày Các điều kiện thời tiết đặc biệt như gió mùa, bão, lốc gây ra những biến đổi phức tạp chế độ triều Thuỷ triều là một nguyên nhân chủ yếu gây ra sự biến đổi mực nước các sông, tác động không tốt tới chất lượng nước Thuỷ triều dâng cao trong mùa khô gây xâm nhập mặn sâu vào đất liền Chế độ thuỷ triều ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiêu thoát nước thải của thành phố
Dòng chảy ven bờ khu vực Đồ Sơn phụ thuộc vào hướng đường bờ và địa hình đáy ven
bờ Dòng chảy tổng hợp bao gồm nhiều thành phần: dòng triều có tính chất tuần hoàn, dòng chảy gió và dòng chảy sóng trong đới sát bờ phụ thuộc vào biến động của gió và các điều kiện
có tính chất thống trị Ngoài sườn bờ ngầm (tương ứng độ sâu 20m) chế độ dòng chảy theo mùa thuộc hoàn lưu bờ tây Vịnh Bắc Bộ và có tính thuận nghịch, phụ thuộc mùa, với tốc độ
20 - 30 cm/s theo hướng Tây Nam trong mùa gió Đông Bắc và 10 - 20 cm/s theo hướng Đông Bắc trong mùa gió Tây Nam Tại vùng biển sát bờ, dòng triều toàn nhật đạt độ lớn cực đại
>50cm/giây, dòng bán nhật triều thường <10cm/giây và dòng triều 1/4 ngày thường
<5cm/giây Dòng chảy triều theo con nước lên xuống, thường mạnh nhất khi thuỷ triều lên xuống ngang qua mực nước biển trung bình Dòng triều có thể đưa một khối lượng nước lớn vào cửa sông Dòng sóng dọc bờ mang tính cục bộ, tạo bãi và doi cát
Hộp 3
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VÙNG BỜ BIỂN
1 Đa dạng các hệ sinh thái và nơi sinh cư, có thể cung cấp cho cộng đồng ven biển
tài nguyên và dịch vụ giải trí, cũng như bảo vệ bờ biển khỏi sóng bão
2 Nảy sinh cạnh tranh tài nguyên biển và lục địa, cạnh tranh không gian giữa những
người có quyền lợi, thường gây ra mâu thuẫn và phá huỷ tính thống nhất về chức năng của hệ thống tài nguyên bờ
3 Cơ sở phát triển kinh tế biển, kinh tế quốc dân của các quốc gia ven bờ, nơi GDP
phụ thuộc vào các hoạt động hàng hải, dầu khí, du lịch
4 Thường tập trung dân số cao và là nơi hấp dẫn đô thị hoá
Nguồn: B.Cicin - Sain, 1998
Các hướng sóng chính là Bắc, Đông Bắc về mùa đông, với độ cao sóng trung bình 0,5 - 0,75m và Đông, Đông Nam về mùa hè, với độ cao sóng trung bình là 0,7 - 0,9m, cực đại 2 - 5m Tần suất sóng khu vực là 20 - 21% Sóng chủ yếu thuộc loại sóng ngoài khơi truyền vào
Do đặc điểm địa hình, sóng truyền vào khu vực Đông Bắc Đồ Sơn thấp hơn vào khu vực Tây Nam Sóng bão và sóng trong các đợt gió mùa Đông Bắc kéo dài đều có độ cao lớn, 4 - 6m Hướng sóng tại đường phá huỷ làm thành một góc dưới 20o so với pháp tuyến đường bờ Tác dụng phá huỷ bờ của sóng tăng khi bão trùng kỳ triều cường
Trang 21Nước dâng trong bão có thể đến 3,5m Dâng cao mực nước biển do hiệu ứng nhà kính tại Hòn Dáu 2,24 mm/năm trong giai đoạn 1957 - 1989 Ô nhiễm dầu có thời kỳ lên đến 5,2mg/l trong nước và 4,3mg/g trong đất, vượt quá tiêu chuẩn cho phép trên 15 lần
2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Địa danh Đồ Sơn tìm thấy trong thư tịch cũ nhất là “Việt sử lược” đời nhà Trần, viết về việc vua Lý Thánh Tông ngự ra chỗ xây Tháp Tường Long mùa thu năm 1058 Địa danh này
đã tồn tại mãi cho tới ngày nay, tuy địa giới khu vực có nhiều biến đổi
Địa giới hành chính hiện nay của thị xã được thiết lập năm 1988, với diện tích 30,49km2, dân số hơn 3 vạn người Thị xã Đồ Sơn hiện có 4 phường nội thị là Ngọc Xuyên, Ngọc Hải, Vạn Sơn, Vạn Hương và một xã ngoại thị là Bàng La Các phường nội thị đã và đang trong quá trình đô thị hoá mạnh mẽ, phân hoá thành hai khu vực là khu dân cư và khu nghỉ mát nằm sát biển Do cơ cấu ngành nghề đa dạng với nhiều đặc thù nghề riêng biệt, đời sống cư dân Đồ Sơn phân hoá rõ nét trong lối sống, thu nhập và điều kiện phát triển
Kinh tế biển bao gồm đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản là nghề truyền thống và thế mạnh của Đồ Sơn trong nhiều năm Nghề cá có hai vụ khai thác chính là: 1 - Vụ Nam: Vào tháng 4 - 11, thường gặp các đàn cá nổi gần bờ, các loại lưới vây vó, mành hoạt động đều
có hiệu quả Vùng Cô Tô - Thanh Lân đánh bắt được cá trích xương, cá lầm, cá cơm, cá chỉ vàng Vùng Cát Bà - Long Châu - Ba Lạt bắt được cá trích bầu, cá nục Tháng 4 - 9, cá đáy di chuyển vào vùng nước nông phía Bắc vịnh Bắc Bộ, đánh bắt thuận lợi tại Cát Bà - Cô Tô Đây cũng là mùa vụ chính khai thác mực ống Nghề câu và chụp mực hoạt động có hiệu quả cao từ tháng 6 - 8 Ngư trường Bạch Long Vĩ, Cát Bà - Ba Lạt khai thác mực ống hiệu quả vào tháng 7 - 11 Mùa khai thác moi bằng đáy, xăm bắt đầu từ tháng 4 và rộ nhất vào tháng 6,
7 Tôm vụ này thường nhỏ và khai thác kém hiệu quả 2 - Vụ Bắc từ tháng 11 - 4, là vụ khai thác tôm chủ yếu Các loại tôm he mùa, tôm bộp, tôm vàng, tôm sắt tập trung ở vùng gần cửa sông, độ sâu <20m Tôm rảo và tôm he Nhật Bản khi còn nhỏ sống ở vùng cửa sông, nhưng khi trưởng thành và thời gian giao vĩ lại tập trung ở vùng nước sâu >20m, nơi có độ mặn cao
và ổn định Ngư trường khai thác tôm chủ yếu là từ Cát Bà đến Ba Lạt Khu vực Tây Bắc và Tây Nam Bạch Long Vĩ tập trung các loại cá nục, cá trích bầu, cá bạc má, cá cơm, cá thu, cá ngừ, sử dụng lưới vây, vó, rê đều có hiệu quả Bãi cá Đông Nam Long Châu đánh bắt được cá trích xương, cá cơm, chỉ vàng Tháng 12 - 1 cá đáy tập trung ở Bắc Bạch Long Vĩ, tháng 2 - 3
ở Tây Bạch Long Vĩ Tháng 12 - 4 là mùa khai thác mực nang, dùng lưới rê 3 lớp đạt hiệu quả cao, khai thác tốt nhất ở Cô Tô - Thanh Lân
Ngọc Hải, Ngọc Xuyên là hai phường đánh cá truyền thống, nhưng do thu nhập không ổn định, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và chứa đựng nhiều yếu tố may rủi nên cư dân
đa phần không giàu Trước kia Đồ Sơn từng có trên 600 tàu thuyền, nhưng nay bộ phận ngư dân kiếm đủ vốn thường chuyển sang các hoạt động trên bờ an toàn và có lợi nhuận cao hơn Hiện số tàu thuyền đánh cá gắn máy của Đồ Sơn còn 295 chiếc với tổng công suất 6.310 mã lực, trong đó có 188 chiếc công suất <20 mã lực, 76 chiếc công suất 20 - 45 mã lực, 20 chiếc công suất 46 - 89 mã lực và 11 chiếc công suất 90 - 150 mã lực
Trong lĩnh vực chế biến hải sản, Đồ Sơn từng có nghề làm mắm tôm, nước mắm, phơi cá tôm, ướp cá, nướng cá Đáng chú ý có các nghề chế biến vây cá nhám, bóng cá, mực khô, tôm
he, sứa, tuy sản lượng còn khá khiêm tốn
Diện tích nuôi trồng thủy, hải sản cũng từng bước phát triển với việc chuyển mục đích sử dụng của một số đất trồng lúa và làm muối Năm 2000, tổng sản lượng đánh bắt hải sản đạt
Trang 223.200 tấn, trị giá 25 tỷ đồng, tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 750 tấn, trị giá 12,5 tỷ
đồng Bến cá Ngọc Hải bị bồi lấp trong những năm cuối cùng của thế kỷ 20 ảnh hưởng xấu
không chỉ cho bộ phân ngư dân trực tiếp đánh bắt, mà còn cản trở sự phát triển của các dịch
vụ phục vụ đánh bắt và chế biến hải sản cả địa phương
Nằm trong vùng tam giác tăng trưởng kinh tế phía Bắc, Đồ Sơn có vị thế hết sức thuận
lợi cho phát triển kinh tế biển và du lịch Hiện nay Đồ Sơn có 52 khách sạn nhà nghỉ, trong đó
có 10 khách sạn 2 sao và rất nhiều nhà nghỉ điều dưỡng của các cơ quan bộ ngành trung ương
Ngoài ra còn có 223 nhà hàng tư nhân với tổng số trên 3.000 phòng Bình quân mỗi năm Đồ
Sơn đón gần 1 triệu lượt khách, giải quyết việc làm cho hơn 3.000 lao động Mật độ khách
cao nhất là vào các ngày hội, ngày lễ và ngày nghỉ cuối tuần Nguồn thu từ hoạt động du lịch
chiếm 67% tổng thu ngân sách thị xã (bảng 7)
Bảng 7
Cơ cấu tổng sản phẩm nội địa của Đồ Sơn 2002 [5]
Trước khi Phố Hiến sầm uất, Bàng La từng là thương cảng buôn bán tấp nập với người
nước ngoài, chủ yếu là người Hoa, đã lập nên những phố buôn bán như phố Khách, phố Nhội
Hiện làm muối là nghề cổ truyền của xã Bàng La Kỹ thuật làm muối có tính thủ công, bao
gồm phơi cát, lọc nước cái rồi nấu bằng nồi sắt hay phơi trên ô nề Nghề làm muối hoạt động
theo mùa: Muối mùa tập trung vào các tháng ít mưa, nhiều nắng trong hè Muối đông hanh
tập trung vào các tháng hanh khô mùa đông, chủ yếu làm theo cách nấu, hạt muối nhỏ, chất
lượng rất tốt Hiện xã Bàng La có diện tích tự nhiên 921 ha, dân số 7.829 người, diện tích làm
muối còn khoảng 112 ha (năm 1997), với số lao động khoảng 1,2 nghìn người Sản lượng
muối hàng năm đạt khoảng 4.000 - 5.000 tấn Nghề muối cho thu nhập rất thấp, bình quân
150.000đ/người/tháng, nên diêm dân rất nghèo, không có tiền cải tạo ruộng muối và theo
nghề muối Diện tích, năng suất, sản lượng muối giảm đáng kể Năm 1977 năng suất muối đạt
77tấn/ha, năm 1997 chỉ còn 35 tấn/ha Hiện nay một số hộ làm muối đã chuyển sang nuôi tôm,
cho lợi nhuận cao hơn hẳn
Diện tích đồi núi Đồ Sơn là 863 ha, trong đó 238 ha rừng giữ nguyên trạng không khai
thác Phía Tây còn rất nhiều đất trống đồi núi trọc đang được giao cho các hộ dân trồng rừng
theo chương trình 5 triệu ha
Nông nghiệp ở hai phường Ngọc Xuyên và Vạn Sơn có số lao động khoảng 1,2 nghìn
người và sản lượng thóc 1.152 tấn (năm 1999) Đàn trâu có 50 con, bò 311 con và lợn 4.000
con Năm 2002, sản lượng khai thác thủy sản 5.500 tấn, sản lượng nuôi trồng thủy sản 2.300
tấn
Trước đây, tiểu thủ công nghiệp Đồ Sơn rất đa dạng, với các nghề cổ truyền như trồng
dâu, nuôi tằm, dệt lụa, xe gai, đan lưới và gần đây có thêm nghề đóng mới, sửa chữa tàu
thuyền đánh cá, làm gạch, ngói, mộc nề, dịch vụ hậu cần nghề cá
Do hoàn cảnh địa lý, Đồ Sơn không có dân gốc địa phương Nghề cá đã mang ngư dân
đến vùng biển này, định cư gắn liền với những vùng bờ có khả năng đỗ thuyền, làm nên “Bát
vạn chài”, được lưu truyền trong văn học dân gian và tồn tại đến ngày nay Tại đền Nghè,
người Đồ Sơn hiện vẫn thờ “Lục vị tiên công” có công mở đất và hai vị thần bảo trợ là Đế
Thích Thần Vương và Nam Hải Thần Vương, gọi chung là Bát bộ Tôn thần Ở Đồ Sơn có
nhiều di tích văn hoá, tâm linh, lịch sử, gắn liền với cảnh quan và con người nơi này Huyền
Trang 23thoại, tín ngưỡng tâm linh, lễ hội vốn là phần hồn của văn hoá truyền thống vạn chài vẫn được bảo tồn phát huy và đang trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của du lịch Trong 12 quận huyện của Hải Phòng, Đồ Sơn là điểm có công tác bảo vệ môi trường tốt nhất Công ty công trình công cộng phụ trách thu gom quản lý rác thải tại các trục đường chính, mỗi ngày thu gom được từ 80 đến 100 m3 rác Thị xã đã xây dựng và đưa vào vận hành bãi rác Bàng La bước đầu đảm bảo yêu cầu kỹ thuật vệ sinh môi trường Những năm gần đây, phường Ngọc Hải đã triển khai thành công mô hình tự quản môi trường, trong đó cư dân đóng góp kinh phí cho việc thu gom rác thải sinh hoạt trong các ngõ xóm nhỏ, nhà nước và nhân dân cùng đóng góp kinh phí bê tông hoá đường và cống rãnh Vấn đề mại dâm và ma tuý ở
Đồ Sơn cũng đang được giải quyết
Từ năm 2000, Đồ Sơn được xếp vào hệ thống các điểm du lịch quốc gia, được ưu tiên đầu tư phát triển (dự kiến sẽ có 2.800 tỷ đồng cho phát triển du lịch Cát Bà, Hạ Long, Đồ Sơn) Trong những năm tới Đồ Sơn có kế hoạch triển khai hàng loạt các dự án phát triển và bảo vệ môi trường Đáng chú ý là các dự án: Mở rộng đường 14; Hoàn chỉnh kè luồng Ngọc Hải; Xây mới cảng cá Ngọc Hải (400 tỷ đồng); Phát triển hạ tầng cơ sở và du lịch về phía bờ tây bán đảo, xây dựng đường bao nối Bàng La với khu du lịch, san lấp gần 100 ha vùng vịnh
để xây dựng khu vui chơi giải trí, công viên nước; Phủ xanh đất trống và dọc đường giao thông bằng các loại cây chủ yếu là cây ăn quả, keo, lát, thông, bằng lăng, phượng, sữa ; Xây dựng sân gôn ở cuối đường 14; Phục chế Tháp Tường Long; Xây dựng cáp treo sang đảo Dáu; Cải tạo bến tàu không số thành khu di tích km “0” của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển và bến tàu du lịch, xuất nhập cảnh (dự kiến 90 tỷ đồng); Xây dựng nhà máy xử lý nước thải theo mô hình ở Hạ Long (dự kiến 28 tỷ đồng); Mở rộng bãi rác Bàng La thêm 1 - 2 ha nữa (đầu tư 5 - 6 tỷ đồng)
Tóm lại Đồ Sơn là một vùng biển giàu tiềm năng, nhiều tai biến, một mảnh đất lịch sử có thời gian khai thác, phát triển lâu dài, một vùng đang sôi động với nhiều dự án, kế hoạch phát triển Đồ Sơn là một đối tượng nghiên cứu tốt, phù hợp cho việc làm địa bàn thực tập tài nguyên môi trường cho sinh viên
Trang 24- Quan sát các dấu hiệu kiến trúc hình thái của các yếu tố MTĐC
- Phỏng vấn người địa phương, vẽ mặt cắt trong trường hợp có yêu cầu
- Xây dựng ma trận đánh giá hiện trạng sử dụng MTĐC đối với các điểm khảo sát
- Ghi nhật ký khảo sát MTĐC đúng quy cách
9 Yêu cầu phải đạt được đối với sinh viên:
- Nhận diện cấu trúc thẳng đứng của MTĐC gồm móng đá cứng và tầng phủ bở rời
- Thực hiện việc xây dựng ma trận đánh giá hiện trạng sử dụng MTĐC của 9 yếu
tố quan trọng của MTĐC Đồ Sơn 9 yếu tố này tập trung dọc tuyến khảo sát giáo
khoa (xem mục tuyến khảo sát và tổ chức thực hiện)
- Tập quan sát các chỉ thị MTĐC để làm rõ quá trình động lực hiện đại của MTĐC vùng bờ:
+ Sự dâng cao tương đối của mực nước biển
+ Động lực sóng và dòng biển
+ Ô nhiễm bãi biển (dầu, rác thải, độ đục)
9 Tuyến khảo sát và tổ chức thực hiện:
Tuyến khảo sát dọc theo bờ biển từ đền Bà Đế đến Trạm nghiên cứu biển Đồ Sơn Tuỳ theo chế độ thuỷ triều vào thời gian thực tập mà bố trí hành trình theo chiều từ Trạm nghiên cứu biển đi đền Bà Đế hay ngược lại, sao cho có thể nghiên cứu được bãi biển 295 và mỏ hàn
tự nhiên khi thuỷ triều rút, vì khi triều lên, mỏ hàn tự nhiên bị ngập
3.1.2 Tổng quan về ĐCMT vùng bờ biển Đồ Sơn
3.1.2.1 Phân tầng cấu trúc
9 Móng đá cứng
Móng đá cứng tạo nên bán đảo Đồ Sơn lộ ngay trên bề mặt địa hình tạo ra các mỏm núi thấp, các vách đổ lở, các bãi đá ven bờ Đó là các loại cát kết, bột kết, cuội sạn kết màu xám
Trang 25vàng hay đỏ nâu tự nhiên Chúng là các thành tạo ven bờ biển cổ Trong đá còn có các di tích động thực vật cổ vùng triều như cá cổ, giá biển cổ, đặc biệt còn có các xác thực vật cạn đầu tiên trong lịch sử tiến hoá thực vật Nhiều khe nứt khô hình đa giác cũng được quan sát thấy ở nhiều nơi Các loại đá trầm tích này được thành tạo tại vùng ven bờ của một lục địa cổ còn tồn tại cách ngày nay khoảng 25 - 30 triệu năm (Hộp 4)
9 Tầng phủ bở rời
Tầng phủ bở rời gồm hai hệ lớp có tuổi địa chất và nguồn gốc rất khác nhau
Hệ lớp trầm tích biển cổ, tạo nên đồng bằng hẹp ven chân núi thuộc các phường Ngọc
Xuyên, Ngọc Hải, Vạn Sơn và phần đầu của khu du lịch, nơi xây các biệt thự, nhà hàng, bãi tắm I Thành phần chính là cát - bột bở rời màu xám vàng, nâu vàng có chứa nhiều mảnh vụn
vỡ vỏ sò ốc biển Đây cũng là tầng chứa nước ngầm chủ yếu của phần Bắc bán đảo Đồ Sơn, là tầng canh tác nông nghiệp chính Hệ lớp trầm tích biển cổ có niên đại từ trên 2.000 năm trước, cho đến thế kỉ 18 vẫn còn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của thuỷ triều Sử sách còn ghi năm 1741, Nguyễn Hữu Cầu nổi dậy chống chúa Trịnh, lấy Đồ Sơn làm căn cứ, khi tế cờ phải đứng trên một gò đất cao giữa bãi lầy (Hộp 5) Vách núi xung quanh Vụng Ngọc, Vụng Chẽ vẫn bảo tồn được địa hình vách sóng vỗ (cliff) cổ (thấy rất rõ ở phía sau khách sạn Hang Dơi, khách sạn Công Đoàn, Đình Ngọc) Các địa danh cổ: Vụng Ngọc, Vụng Chẽ cho thấy lớp trầm tích biển ngày xưa đã từng là những bãi biển cổ
Hệ lớp trầm tích hiện đại Đó là các loại trầm tích đa nguồn gốc đang được thành tạo,
gồm các loại sản phẩm vỏ phong hoá (tàn tích, sườn tích, nón phóng vật, sản phẩm dốc tụ chân núi (vạt gấu núi), bãi biển hiện đại )
3.1.2.2 Nước ngầm
Nước khe nứt: tập trung trong các đới dập vỡ của tầng móng đá cứng và xuất lộ dưới
dạng các nguồn lộ Tại các nguồn lộ này, nhân dân đã khoét đá thành các mỏ nước nhỏ Nhờ rừng thông được bảo vệ nên các mỏ nước có nước quanh năm nhưng lưu lượng không nhiều
Có thể gặp các mỏ nước này ở phía bắc phường Ngọc Xuyên bên cạnh đường mòn bên núi Tháp, suối Rồng ở Đình Ngọc, giếng chợ Cầu Vồng, giếng Hang Dơi và một giếng nhỏ khác
ở gần bến cá Vạn Hương
Hộp 4
CỔ LỤC ĐỊA CATHAYSIA
Đó là một lục địa cổ rộng lớn hình thành từ cuối Tiền Cambri (khoảng
1000 triệu năm trước) có vị trí ở rìa biển Đông ngày nay Lục địa này có một thời gian dài gắn với Châu Úc và Nam Cực và chỉ tách ra, dạt về phía Bắc khi hình thành Ấn Độ Dương (bắt đầu từ khoảng 70 triệu năm trước) Cathaysia tồn tại như một mảnh lục địa gắn kết cho đến khi biển Đông bắt đầu hình thành (25 triệu năm trước) Sự tách giãn đáy đại dương để hình thành biển Đông đã phá huỷ, nhấn chìm nhiều mảnh vỡ cổ lục địa Cathaysia, những mảnh còn sót lại nằm rải rác ở ven biển Phúc Kiến, Quảng Đông, Đảo Hải Nam (Trung Quốc), Đồ Sơn, Bắc Quảng Bình và Tây Nguyên (Việt Nam) và móng của một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa Hệ tầng trầm tích màu đỏ chứa cá và thực vật ở Đồ Sơn là thành tạo ven biển của cổ lục địa này
Nguồn: Nguyễn Đình Hoè và Rangin, C., 1999 in "Gondwana Dispersion and Asian Accretion" Ed.by I Metcalfe, Rotterdam, the Netherlands p 297 -
Trang 26Nước trong tầng cát biển cổ: chủ yếu gặp ở các phường Ngọc Hải, Vạn Sơn Chỉ cần đào
giếng nông là có nước, lưu lượng dồi dào nhưng có nguy cơ bị nhiễm mặn và ô nhiễm do tầng chứa nước có tính thấm cao lại lộ trên mặt Một số giếng đã bị bỏ hoang do nhiễm mặn, phèn
và nhiễm bẩn
Nước trong tầng phong hoá đá móng: gặp ở đỉnh đảo Hòn Dáu Nhờ thảm thực vật
phong phú nên nguồn nước có quanh năm nhưng lưu lượng không nhiều
3.1.2.3 Đặc điểm địa động lực hiện đại
Sụt chìm do sự dâng cao tương đối của mực nước biển (theo kết quả đo đạc nhiều năm
của Trạm đo thuỷ triều Hòn Dáu biên độ dâng cao tổng hợp khoảng 2mm/năm) Dấu hiệu của quá trình sụt chìm có thể quan sát ở nhiều nơi trên bán đảo:
- Xói lở bờ biển diễn ra trên diện rộng, kết quả là để bảo vệ bờ biển cát, đã phải xây hệ thống kè biển đồ sộ (từ thời Pháp) và thường xuyên phải tu bổ kè
- Nhiễm mặn gia tăng ở bồn nước ngầm trong tầng cát biển cổ (kiểm chứng qua phỏng vấn nhân dân địa phương phường Ngọc Hải, nằm xa chân núi, nơi các giếng nông không chịu ảnh hưởng ngọt hoá do nước chảy trên núi xuống)
- Các thềm biển hiện đại (bench) đang bị sóng phá huỷ và ngập chìm dưới trầm tích biển hiện đại - quan sát rất rõ ở phía đông núi Độc, mỏ hàn tự nhiên, chân đảo Hòn Dáu và nhiều vị trí khác
Hộp 5
THEO DÒNG LỊCH SỬ Vào thời Lý, có một dòng sông lớn và cũng là tuyến đường thuỷ quan trọng là sông Đa Độ đổ ra bến cá Ngọc Hải bây giờ Nhà Lý đã cho xây tháp Tường Long trên đỉnh núi Chòi Mòng làm tiêu ngắm cho thương thuyền vào cửa sông Đa Độ Ngày nay, cả dòng Đa Độ, cả cửa Ngọc Hải đã suy tàn
Tháp Tường Long hồi đầu thế kỷ bị thực dân Pháp phá dỡ lấy vật liệu xây thành Hải Dương, giờ chỉ còn cái móng xây bằng gạch Bát Tràng Một phần sông Đa Độ giờ trở thành ruộng lúa Tuy nhiên, nếu có dịp đến thị trấn Kiến Thuỵ, bạn sẽ thấy những đoạn còn lại, hùng vĩ, rộng rãi và xanh ngắt của dòng Đa Độ xưa
Hoạt động của dòng dọc bờ: Vào mùa gió Đông Bắc, dòng dọc bờ đưa bồi tích từ các
cửa sông Cấm và sông Bạch Đằng xuống phía Nam, bồi lấp vào khu cảng cá Ngọc Hải Tốc
độ bồi lấp quá nhanh khiến bến Ngọc Hải không còn khả năng thông tàu Nhà nước buộc phải xây kè luồng để cứu vãn bến cá có hàng ngàn năm lịch sử này (Hộp 5) Dòng dọc bờ do gió mùa Đông Nam tạo ra, đưa bồi tích từ cửa sông Văn Úc phía Nam bán đảo, vòng qua mũi Hòn Dáu bên phía bắc, xâm lấn vào các bãi tắm và làm đục ngầu tất cả bãi biển của Đồ Sơn
Hộp 6
HÒN DÁU - BẢO TÀNG TỰ NHIÊN VỀ LỊCH SỬ ĐỊA CHẤT VÀ NHÂN VĂN Hòn Dáu như viên ngọc trước miệng rồng là dải núi Cửu Long Sơn Với diện tích chưa đầy nửa ha, Hòn Dáu là nơi bảo tồn nhiều yếu tố MTĐC đới bờ điển hình: thềm biển cổ chứa đầy đá san hô cổ, đá bọt núi lửa cổ bị mài tròn, các hệ thống bench và cliff cả cổ lẫn hiện đại Trên đỉnh Hòn Dáu có ngọn Hải Đăng được xây từ 1884 - 1896 và bị bom Mỹ phá hoại năm 1967 Đèn biển Hòn Dáu được ta xây lại năm 1995, cao 67m, chiếu xa 24 hải lý Gần Hải Đăng là trạm Khí tượng - Thuỷ văn Ngay chỗ bến tàu là đền thờ Lão Đảo Thần Vương, một vị tướng nhà Trần tử trận, còn gọi là Đền Nam Hải Đại Vương - Lễ hội vào 9/2 âm lịch, bao giờ cũng có sóng rất lớn Thảm thực vật Hòn Dáu ít bị con người phá hoại, đặc trưng là cây đa - si Đây chính là kiểu thực bì đặc trưng cho vùng nhiệt đới ẩm Nhờ rừng cây còn bảo tồn tốt mà nước ngầm trên đảo đủ dùng cho cư dân ít ỏi của trạm Khí tượng, Hải Đăng
Trang 27và du khách
Dòng biển Vịnh Bắc Bộ, hoạt động ngoài xa, đã đưa các hòn đá bọt núi lửa từ đảo Hải Nam xa xôi của Trung Quốc đến Hòn Dáu Trên thềm biển trẻ nhất của Hòn Dáu (cùng tuổi với tầng trầm tích biển cổ ở Đồ Sơn), người ta nhặt được các hòn đá bọt núi lửa đường kính từ vài đến 10cm bị mài tròn, có thể nổi trên mặt nước, rất cứng Đã có thời người ta dùng các hòn đá bọt làm đá mài quần bò (Hộp 6) Thềm biển Hòn Dáu được cấu tạo toàn đá tảng bị mài tròn, trong đó có rất nhiều đá san hô cổ
3.1.2.4 Tai biến địa chất
Quá trình địa động lực hiện đại đang làm giảm giá trị sử dụng của các kiểu môi trường địa chất và đòi hỏi chi phí bảo vệ tốn kém Dòng biển đang gây bồi tụ không mong đợi ở các cảng cá Độ đục của nước biển đang tăng dần gây hại cho bãi biển du lịch Dầu từ tuyến hàng hải quốc tế và từ tàu đánh cá làm nước biển thường bị ô nhiễm Trượt lở theo các sườn dốc tự nhiên hoặc nhân tạo Nhiễm mặn bồn nước ngầm
Bãi biển Đồ Sơn thuộc dạng không hoàn chỉnh, có chân thuộc thành tạo bãi triều, nhiều bùn (5 - 10%), chủ yếu là bùn bột, thỉnh thoảng có lẫn váng bùn, ổn định yếu nên dễ xói Sóng vỗ bờ với năng lượng lớn dễ gây xói mòn bãi Vùng biển Bắc Đồ Sơn nói chung hiện đang xảy ra quá trình ngập chìm do dâng cao mực nước chân tĩnh và hạ lún kiến tạo Xói lở ở
Đồ Sơn là một quá trình lâu dài, liên tục có liên quan đến vận động sụt chìm không đền bù bồi tích, cộng với sự dâng cao của mực nước biển và hoạt động của sóng Khoảng 10 năm trở lại đây bờ biển có xu hướng xói lở mạnh, tốc độ phổ biến 0,5 - 8m/năm tại những nơi không có
kè Xói lở biển gia tăng do mực nước biển đang dâng cao làm cho kè biển Đồ Sơn chóng bị
hư hại, phải tăng cường bảo dưỡng
Tai biến nứt đất ngầm, hình thành các khe nứt theo tuyến khá đặc trưng về hình thái, phản ánh chế độ động lực của đứt gãy sinh ra chúng Nứt đất xảy ra lặng lẽ, thiệt hại tăng từ từ, nhưng hệ quả rất nghiêm trọng đối với các công trình xây dựng, đặc biệt là gây thất thoát nước ngầm, tăng cường nhiễm mặn và lan toả chất ô nhiễm xuống nước ngầm Công trình xây dựng trên các đỉnh đồi, sườn dốc làm gia tăng tải trọng trên đỉnh, gây khả năng trượt đất Đã xảy ra đổ lở dọc đường đến Casino Một vài vị trí dọc đứt gãy hiện đại đã biểu lộ hoạt động nứt đất ngầm (ví dụ ven bãi 3)
Khi đi khảo sát, sinh viên cần quan sát kết hợp phỏng vấn người địa phương để có đánh giá chính xác hơn các tai biến này
3.1.2.5 Giá trị sử dụng môi trường địa chất
Các kiểu môi trường địa chất dọc tuyến khảo sát cũng như ở bán đảo có giá trị nhất là giá trị du lịch (ngắm cảnh, nghỉ dưỡng, tắm biển ) Một vài vị trí thuận lợi (Vạn Hoa, Bến Nghiêng, Vạn Hương, Đền Bà Đế ) được cải tạo làm cảng Các vị trí địa linh được xây dựng đền, chùa (đền Bà Đế, đền Vạn Ngang, đền Nam Hải Thần Vương ) Ngoài ra, trong việc xây cất khách sạn, nhà nghỉ người ta cũng thường chọn sử dụng các bench cổ đã ổn định hoặc các điểm thoáng mát và có tầm nhìn đẹp Các bãi biển đá là nơi sinh sống của nhiều loài như hàu, cua, cá Khai thác thịt hàu là nghề của nhiều cư dân nghèo Đồ Sơn, đặc biệt là phụ nữ Câu trên các bãi đá là một loại hình giải trí tuy mới hình thành nhưng khá hấp dẫn và có tiềm năng phát triển Các bãi tích tụ vỏ sò ốc được khai thác để nghiền thức ăn cho gia súc và gia cầm (bổ sung canxi dễ tiêu)
Trang 283.1.3 Hướng dẫn thực hiện bài tập chuyên đề
3.1.3.1 Nội dung các điểm khảo sát
9 Điểm khảo sát đền Bà Đế: Kè luồng vào bến cá Ngọc Hải, cliff và bench cổ, cliff và bench hiện đại Thành phần tầng móng đá cứng (quan sát cấu trúc phân lớp, các khe nứt khô, di tích hoá thạch thực vật cổ) Tác động bồi lắng do dòng dọc bờ Giá trị sử dụng các yếu tố môi trường địa chất
9 Dọc đường từ đền Bà Đế đến điểm đầu nút phía Đông núi Độc: nghiên cứu gờ bão, tích luỹ vỏ sò ốc biển, bãi biển đá
9 Đầu phía Đông núi Độc: cliff và bench (cổ và hiện đại) bãi biển đá Quan sát các vết dầu bám Cấu trúc và giá trị sử dụng các yếu tố địa chất môi trường Vẽ mặt cắt trắc diện bờ
9 Bãi biển quân đội (Đoàn 295): cấu trúc bãi biển cát, ngấn thuỷ triều, gờ bão, rác thải Giá trị sử dụng bãi biển cát
9 Mỏ hàn tự nhiên trước Trạm nghiên cứu biển: cấu trúc mỏ hàn tự nhiên và tác dụng của mỏ hàn; giá trị sử dụng khác của mỏ hàn; kè biển Đồ Sơn: hình thái cấu trúc và giá trị sử dụng
3.1.3.2 Xây dựng ma trận đánh giá hiện trạng sử dụng MTĐC
Quan sát, trao đổi thảo luận trong nhóm, phỏng vấn người địa phương khi có điều kiện, xây dựng bảng ma trận, đánh giá các yếu tố cơ bản của môi trường địa chất theo cấu trúc "Mô
tả - Hiện trạng sử dụng - Đe doạ - Đáp ứng" theo mẫu bảng 3.1, trong đó các giá trị theo cột được xây dựng như sau:
9 Mô tả: kích thước, hình dạng, thành phần vật chất, cấu trúc của yếu tố môi trường địa chất
9 Hiện trạng sử dụng: yếu tố đang xét hiện đang sử dụng vào mục tiêu gì (xây dựng, tâm linh, nghỉ dưỡng, tắm biển, neo đậu tàu thuyền, khai thác hải sản, khoáng sản, khai thác nước ngầm, sản xuất nông nghiệp, nghiên cứu khoa học, phòng thủ bờ biển v.v ) Đánh giá mức độ sử dụng hiệu quả theo thang điểm 10 (0: không hiệu quả; 1 đến >10: mức độ hiệu quả từ thấp (1) đến cao nhất (10) của từng kiểu sử dụng)
9 Đe dọa: các quá trình động lực tự nhiên và nhân sinh có tác động xấu, gây nguy hiểm cho mục đích sử dụng (cháy rừng, trượt lở, ô nhiễm, xói lở, bồi lắng không mong đợi, nhiễm mặn, khai thác quá mức, sử dụng không phù hợp )
9 Đáp ứng: cần làm gì để giảm nhẹ, khắc phục các đe doạ, nhằm nâng cao hiệu quả và tính an toàn của sử dụng (xây kè chống xói lở, thay đổi cách sử dụng, di chuyển công trình ) các yếu tố đe doạ và đáp ứng cần xếp theo thứ tự tầm quan trọng từ cao đến thấp
3.1.3.3 Hướng dẫn viết báo cáo thực tập chuyên đề địa chất môi trường
9 Nội dung viết báo cáo gồm 2 phần:
Ma trận đánh giá hiện trạng sử dụng môi trường địa chất theo tuyến khảo sát bắt buộc (36 ô)
Trang 29Bảng 3.1
Mẫu ma trận đánh giá hiện trạng sử dụng môi trường địa chất
sử dụng
Đe doạ
Đáp ứng
4 Gờ bão và bãi triều đá (từ đền Bà Đế đến đầu phía Đông núi Độc)
7 Bãi biển cát Đoàn 295
8 Mỏ hàn tự nhiên (trạm nghiên cứu biển)
Phần tiểu luận mở rộng - gợi ý các vấn đề nghiên cứu:
+ Yếu tố môi trường địa chất nào có giá trị nhất đến phát triển kinh tế bán đảo Đồ Sơn,
+ Những tiềm năng chưa sử dụng của môi trường địa chất Đồ Sơn cần được sử dụng
trong tương lai?
Phần tiểu luận mở rộng có tác dụng khuyến khích sự tìm tòi, suy nghĩ quan sát và sáng
kiến của sinh viên Tác giả báo cáo có thể trình bày 1, 2 hay cả 4 vấn đề gợi ý trên, cuối phần
tiểu luận cần ghi rõ tài liệu tham khảo đã sử dụng Ngoài tuyến khảo sát bắt buộc trên đây, tác
giả có thể nói về vấn đề địa chất môi trường ở các địa điểm khác của Đồ Sơn (Hộp 7)
Hộp 7
GỜ KIẾN TẠO ĐỒ SƠN
Bán đảo Đồ Sơn là một gờ kiến tạo địa chất quan trọng nhất miền Đông Bắc, là ranh giới giữa vùng cửa sông hình phễu (estuary)
ở phía bắc và vùng cửa sông châu thổ (delta) ở phía nam Phía Bắc - biển đang lấn lục địa Phía Nam - lục địa đang bồi dần ra biển do bồi tích của hệ thống sông Hồng - Thái Bình lớn hơn tốc độ sụt chìm của móng địa chất Nhìn chung, do sự ấm lên toàn cầu và sụt hạ kiến tạo, biển đang thắng thế trên hầu hết dải bờ biển nước ta
3.2 Tài nguyên nước Đồ Sơn
3.2.1 Quy định chung
9 Điều kiện cần: Sinh viên nắm vững kiến thức môn học Tài nguyên nước
9 Phương pháp tiến hành:
- Quan sát các loại hình tài nguyên: nước biển, nước lợ, nước ngọt ngầm mạch lộ
hoặc giếng khơi, nước sông He
Trang 30- Đánh giá nhanh chất lượng nước bằng cách nếm, ngửi và nhìn Lấy mẫu nước để phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt như pH, DO, BOD, COD, Coliform
- Đo đạc lưu lượng các mạch lộ, xác định khả năng cuốn theo của nước ngầm tại các giếng khơi dọc đường Suối Rồng
- Phỏng vấn người địa phương về đặc điểm nguồn nước, hiện trạng sử dụng, giá thành
- Điều tra đánh giá quy trình xử lý nước của nhà máy nước Đồ Sơn
- Ghi nhật ký khảo sát
9 Yêu cầu phải đạt được đối với sinh viên:
Nghiên cứu tài nguyên nước phải trả lời được các câu hỏi sau:
- Có gì? Có bao nhiêu? Có ở đâu? Có vào lúc nào?
- Vùng sinh thuỷ có đặc điểm gì đáng lưu ý?
- Giá trị sử dụng của loại nước có như thế nào?
- Hiện đang được khai thác như thế nào? Chi phí khai thác sử dụng như thế nào?
- Sử dụng như thế có hợp lý và khoa học chưa?
- Nên định hướng sử dụng như thế nào là hợp lý?
Sinh viên phải nhận dạng được các loại tài nguyên nước tự nhiên, biết đánh giá nhanh chất và lượng nước, hiểu rõ hiện trạng khai thác sử dụng nước địa phương và ưu nhược điểm của nó, phân tích tính hợp lý của việc sử dụng tài nguyên nước, đánh giá tác động môi trường của việc dùng nước
3.2.2 Tổng quan về tài nguyên nước Đồ Sơn
Tài nguyên nước bán đảo Đồ Sơn rất đa dạng về loại hình, có cả nước ngọt, nước lợ, nước mặn, nước mặt, nước dưới đất, nước mạch lộ Tuy nhiên nguồn nước ngọt bán đảo Đồ Sơn rất hạn chế, không có sông, hồ, chỉ có một số vùng đất ngập nước trồng lúa
9 Nước ngầm:
Bán đảo Đồ Sơn hẹp, ba mặt giáp biển, cấu trúc địa chất không thuận lợi cho việc chứa
và giữ nước nên tài nguyên nước ngầm ngọt rất hạn chế cả về trữ lượng và vùng phân bố Nước ngầm trong các trầm tích bở rời Đệ tứ nằm khá nông, từ 0,5 - 2m đến 30 - 40m Thành phần nước khá phức tạp, nhiều nơi có độ mặn cao và là nguồn dự trữ độ mặn tiềm tàng trong đất, gây nguy cơ nhiễm mặn các lớp đất mặt Một số nơi, nước ngầm được tích đọng trong các lớp đất cát dày, chất lượng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt nhưng trữ lượng không lớn Vùng Ngọc Hải, Vạn Sơn, ven bãi biển có nước ngầm trong tầng cát biển cổ Chỉ cần đào giếng nông là
có nước, lưu lượng dồi dào nhưng có nguy cơ nhiễm mặn và ô nhiễm cao do tầng chứa nước
có tính thấm cao lại lộ trên mặt Một số giếng đào đã bị nhiễm mặn, nhiễm dẫu, ô nhiễm hữu
cơ, không còn sử dụng được Một số giếng nước ngọt khu vực bãi tắm 2 bị đình chỉ sử dụng
vì lý do thẩm mỹ Dọc đường Suối Rồng, nhờ có địa hình đặc biệt, thung lũng mở ra hướng đón gió ẩm từ biển, nên thuận lợi cho phát triển thảm thực vật ưa ẩm cao, đồng thời thảm thực vật lại giúp duy trì nguồn nước dưới đất lâu dài, hình thành loại nước ngầm khe nứt trong mát, với nhiều mạch lộ đã cải tạo thành giếng nông, có nước quanh năm nhưng lưu lượng không
Trang 31nhiều Suối Rồng là mạch lộ duy nhất trong vùng có nước đều đặn quanh năm và có giá trị do gắn liền với những vấn đề tâm linh của địa phương Hòn Dáu, nhờ thảm thực vật phong phú,
nên có nguồn nước ngầm trong tầng sản phẩm phong hoá đá móng, có thể cấp quanh năm
nhưng lưu lượng không nhiều
Hộp 8
TIỀM NĂNG NƯỚC NGẦM ĐỒ SƠN Cấu trúc sâu của các lớp đất đá Đồ Sơn có dạng phân lớp ngang, nâng ở hai đầu bắc và nam của vùng nghiên cứu, còn ở giữa thì trũng xuống Tính từ mặt đất đến độ sâu khoảng 60 - 70m là 3 lớp đầu mà điện trở suất của chúng đều nhỏ hơn 20Ωm Trong khoảng từ 10m đến 35m là một lớp đất đá ngậm nước nhiễm mặn cao, điện trở suất dưới 2Ωm Tiếp theo là một lớp ở độ sâu từ 70m có điện trở suất hàng trăm Ωm, có bề dày lớn nhất, từ 300 đến 400m, là lớp đá có khả năng ngậm nước và có nhiều khả năng nhất trong việc cấp nước ngọt
Nguyễn Văn Giảng, Đặng Thanh Hải, Lý Minh Đăng
Tạp chí các Khoa học về Trái Đất số 16(4), 12/1994
Trước đây, nước sinh hoạt của cư dân bán đảo Đồ Sơn chủ yếu khai thác từ nước ngầm Hiện tại khu vực Đình Ngọc còn một bể xây rất to (đã hỏng), dùng chứa nước Suối Rồng, nguồn lộ nước ngầm chân núi, sau đó cấp cho các nhà nghỉ trong thời Pháp thuộc Nhà máy nước Đồ Sơn trước đây cũng khai thác nước ngầm đưa vào xử lý để cấp cho khu vực đô thị của thị xã Xung quanh nhà máy vẫn còn một số giếng nhà máy bỏ không sử dụng, hiện phục
vụ cho một số hộ dân xung quanh
9 Nước sông và nước mưa:
Mạng lưới thuỷ văn Hải Phòng thuộc hạ lưu hệ thống sông Thái Bình Phía Đông Bắc, sông Kinh Thầy phân thành hai nhánh chính là Đá Bạch và Kinh Thầy, gần sát biển hai nhánh này lại hợp lưu rồi phân lưu thành các sông Chanh, Bạch Đằng, Lạch Tray Phía Tây Nam, sông Thái Bình phân lưu thành các nhánh Văn Úc và Thái Bình Mặc dù không trực tiếp đổ vào khu vực thị xã Đồ Sơn, nhưng sông Văn Úc - Thái Bình và sông Lạch Tray, sông Cấm - Nam Triệu đã có ảnh hưởng trực tiếp đến việc cung cấp bồi tích cho vùng ven biển Đồ Sơn, tạo nên các vùng đất bồi ngoài đê ngày một mở rộng ra biển Ước tính hàng năm các sông đổ
ra biển 30km3 nước và 18 triệu tấn bùn cát Dòng chảy mùa lũ chiếm 75 - 85%, tập trung vào các tháng 7,8,9 Sông ở Hải Phòng chịu ảnh hưởng mạnh của thuỷ triều vì mực nước sông chỉ cao 2,1- 2,5m, trong khi biên độ triều lớn nhất là 4 - 4,5m Hải Phòng có rất nhiều nhánh sông cụt, sông đào, hồ sông như Giá, Mía, Mới, Hoá, Tam Bạc, Đa Độ, He, Chúng vốn là những con sông nhỏ, ít nước, dễ bị nhiễm mặn vào mùa khô, nên cư dân nông nghiệp đã chặn dòng
để bảo vệ nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất Tuy nhiên, trong điều kiện nguồn thải sinh hoạt, nông nghiệp và các hoạt động phát triển khác trong khu vực đa dạng, phức tạp, các thuỷ vực nước ngọt quý giá này cũng đang bị suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng
Theo các tài liệu cũ, vùng đất Đồ Sơn trước đây có một số sông như: Sông Họng (Đại Bàng) từng nối thông với hệ thống sông Văn Úc, Đa Độ và thông ra biển qua cửa Họng Hiện nay sông đã bị đắp chặn ở cả phần thượng nguồn và phần cửa sông thông ra biển, biến thành một lạch trũng, được sử dụng làm kênh dẫn nước vào đồng muối Bàng La hoặc dẫn nước thải
từ các cánh đồng xung quanh ra biển Sông Sàng đổ ra biển ở hai cửa, một nay đã bị đắp chặn lại thành cống Đồng Nẻo, một chảy xuống phía Nam qua sông Lạch con và hoà vào biển ở cửa Họng Từ khi bị đắp chặn, sông Sàng tàn dần và nay chỉ còn là kênh dẫn nước thoát Sông Lạch chảy qua cống Thuý Nẻo, men theo đường 14 đến bến cá Ngọc Hải rồi đổ ra biển bằng
Trang 32cửa mở ở phía Bắc núi Độc Ngoài ra còn rất nhiều lạch triều lớn nhỏ Hiện nay các cửa này đều bị tàn do hoạt động quai đê, lấn biển
Nhà máy nước Đồ Sơn hiện dùng nguồn nước cấp từ trạm bơm Sông He, cách Đồ Sơn khoảng 10km trên đường 14 Đây là một khúc sông cụt chảy qua vùng nông nghiệp và cư dân đông đúc Sông vừa là nguồn cấp nước cho toàn bộ các hoạt động dân sinh và nông nghiệp hai bên bờ, vừa là nơi tiếp nhận các loại chất thải lỏng và rắn Mặt nước sông nhiều bèo tây và rác rưởi, lòng sông rất nông, đáy sông là một lớp trầm tích dày màu đen thối Nước lấy từ sông He được đưa vào một bể lắng sơ bộ rồi bơm cấp cho nhà máy nước Đồ Sơn Nước đầu vào được chứa trong bể, đánh phèn, để lắng, sau đó bơm lên bể xử lý bằng sục clo Công suất hiện nay của nhà máy là 5.000m3/ngày Nguồn nước này hiện chỉ cấp tới khu du lịch và đảm bảo được cho khoảng 60% dân cư thị xã
Đồ Sơn là vùng du lịch lâu đời, lượng khách du lịch vào mùa hè rất lớn, kéo theo một lượng lớn những người phục vụ du lịch Chất thải lỏng và rắn trong khu vực ngày càng gia tăng và chưa được quản lý triệt để, thải bừa bãi ra đất và bờ biển, gây ô nhiễm cả nước mặt và nước ngầm Khai thác nước ngầm quá mức cũng tạo ra dòng cuốn theo lớn, gây ô nhiễm nước ngầm
Dòng dọc bờ do gió mùa Đông Nam tạo ra, đưa bồi tích từ cửa sông Văn Úc vòng qua mũi Hòn Dáu, xâm lấn vào các bãi tắm Phù sa trực tiếp của các dòng sông và phù sa lắng đọng vùng bờ, bị sóng ven bờ khuấy đục lên là nguyên nhân gây độ đục nước biển lớn, hàm lượng phù sa trung bình 122mg/l Vùng Đông Bắc Đồ Sơn có độ đục 10 - 100g/m3, vùng Tây Nam Đồ Sơn có độ đục 20 - 120g/m3
Trong mùa lũ, nước sông Văn Úc nhiều phù sa đang có xu thế bị đẩy ra xa bờ >20km, từ
đó theo dòng biển đi vào khu du lịch Đồ Sơn, lắng đọng tại vùng độ sâu 6m Khi bị khuấy động, phù sa này lại trở về khối nước, bị đưa vào gần bờ làm cho nước biển khu du lịch Đồ Sơn đang ngày càng đục hơn Mùa hè, khi triều xuống, độ đục trung bình 40 - 95mg/l, cực đại 300mg/l, khi triều lên 20 - 25 mg/l; Mùa đông, khi triều xuống, độ đục trung bình 45 - 95 mg/l, khi triều lên 60 - 150mg/l; vượt tiêu chuẩn cho phép (<25mg/l theo TCVN 5943 - 1995) Bồi lắng đang làm nông dần khu biển giữa Đồ Sơn và Hòn Dáu
3.2.3 Hướng dẫn thực hiện bài tập chuyên đề
3.2.3.1 Các tuyến khảo sát bắt buộc
9 Tuyến Suối Rồng, giếng chợ Cầu Vồng: Đo lưu lượng, đánh giá nhanh chất lượng nước, lấy mẫu nước, xem xét các hoạt động nhân sinh và điều kiện tự nhiên khu vực, nhận xét mối quan hệ nhân quả giữa chúng
Trang 339 Tuyến trong phường Vạn Sơn và Ngọc Hải: Xem xét các giếng khơi đang hoặc không còn sử dụng, thống kê số lượng giếng, đánh giá nhanh chất lượng nước, lấy mẫu nước, quan sát ghi nhận những yếu tố tự nhiên và nhân sinh có liên quan đến chất lượng nước các giếng
9 Trạm bơm sông He: Quan sát hiện trạng nguồn nước và vùng phụ cận, đánh giá nhanh chất lượng nước, điều tra quy trình hoạt động của trạm
9 Nhà máy nước Đồ Sơn: Tìm hiểu quy trình xử lý nước, đánh giá tính phù hợp của quy trình so với nguồn vào, dự báo những nguy cơ của chất lượng nước ở đầu ra Đánh giá nhanh chất lượng nước máy, lấy mẫu nước
9 Khảo sát tài nguyên nước lợ và mặn tại đầm nuôi nông trường Trung Dũng, lạch triều Ngọc Hải, bãi tắm và các vùng bờ khác, ruộng muối Bàng La
Ngoài ra, tại những điểm khảo sát chung toàn đoàn, nhóm có nhiệm vụ xem xét đánh giá nhanh chất lượng nguồn nước, hiện trạng sử dụng tài nguyên và hệ quả của nó
3.2.3.2 Hướng dẫn nội dung chuyên đề
9 Giới thiệu các loại hình tài nguyên nước Đồ Sơn và đánh giá tính hợp lý của việc sử dụng, khai thác hiện nay
- Nước ngầm: phân bố, hiện trạng các điểm lộ, hiện trạng sử dụng, khối lượng, chất lượng
- Nước mưa: hiện trạng sử dụng hiện nay
- Nước mặt (nguồn nước sông He): hiện trạng sử dụng
- Nước máy: mô tả khối lượng, chất lượng, mạng lưới phân phối, giá thành, hiện trạng sử dụng
9 Ô nhiễm nước
- Các loại hình ô nhiễm
- Nguyên nhân ô nhiễm
- Phương hướng kiểm soát ô nhiễm nước
9 Giải pháp cải thiện tình trạng tài nguyên nước Đồ Sơn
3.2.3.3 Hướng dẫn viết báo cáo chuyên đề
Trong báo cáo chuyên đề, sinh viên phải sử dụng các thông tin thu thập được ngoài thực địa, trong Thị trường thông tin để thực hiện các yêu cầu sau:
1 Mô tả hiện trạng tài nguyên nước vào thời điểm nghiên cứu, giải thích các mối quan hệ nhân quả giữa đặc điểm lưu vực với chất và lượng nước;
2 Mô tả, phân tích ưu nhược điểm, tính hợp lý của việc sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn
3 Dự đoán các nguy cơ, kiến nghị các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên nước Khuyến khích dùng bảng ma trận và sơ đồ khối để trình bày kết quả nghiên cứu
Trang 343.3 Tài nguyên sinh vật Đồ Sơn
- Phương pháp điều tra phỏng vấn bán chính thức: sinh viên sử dụng phương pháp này để bổ sung thông tin
- Nghe báo cáo: nhằm bổ sung những thông tin mà sinh viên không có điều kiện trực tiếp quan sát thấy
9 Yêu cầu phải đạt được đối với sinh viên: Sinh viên phải thấy được tính đa dạng
sinh học của khu vực
Do đặc điểm địa hình có biển, có núi, sông và đồng ruộng nên tính đa dạng sinh học của khu vực này rất cao Qua việc quan sát những loài động, thực vật có ở các hệ sinh thái khác nhau, sinh viên cần thấy được sự đa dạng của các hệ sinh thái tại khu vực Đồ Sơn - Hải Phòng; phải đánh giá được những tác động nhân sinh tới đa dạng sinh học, từ đó đề xuất những biện pháp nhằm bảo vệ tính đa dạng sinh học của khu vực
3.3.2 Tổng quan về tài nguyên sinh vật Đồ Sơn
Đồ Sơn có đa dạng hệ sinh thái cao, bao gồm các hệ ở cạn và ở nước, có 2 hệ sinh thái quan trọng cần nghiên cứu là hệ sinh thái rừng ngập mặn (hệ sinh thái tự nhiên) và hệ sinh thái đầm nuôi trồng thuỷ sản (hệ sinh thái nhân văn)
3.3.2.1 Hệ sinh thái rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao Theo chiều giảm của độ mặn,
có sự kế tiếp các cây ngập mặn như sau: sú, vẹt, đước, bần Rừng ngập mặn cửa sông Bạch Đằng có 26 loại thực vật, tầm vóc các cây không lớn, dưới 4 - 6m, trừ bần có thể cao 10m Thực vật cạn vùng cửa sông Văn Úc có: Trang (Kaidelia Caldel) là loài phát triển tốt trên đất phù sa mới bồi, cao 2 - 3m, bộ rễ chùm giữ đất tốt, có khả năng chịu nước, chịu mặn cao; Sú (Aegycera corniculatum) phát triển trên đất bồi đã ổn định, cao 2 - 3m, nở hoa đầu tháng 3, có
bộ rễ chùm, chịu mặn; Bần chua (Soneratia Cariolaria) chịu mặn, chịu nước tốt; Tra (Hibiscustiliques) cao 4 - 5m, tán rộng sống rải rác trong quần thể trang và sú, thuộc nhóm cây rụng lá mùa đông; Vẹt (Bruguiere gymnorshiza) Ngoài ra còn có các loại cây như phi lao, muống biển, sam biển, mắm, đuôi ngựa… Ôrô sống thành đám đơn độc ở những nơi nhiều nước, mép nước Cóc kèn, cây leo, sống thành bụi hoặc leo bám ở vùng đất có độ muối cao
Rừng ngập mặn là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho vùng ven bờ, là bãi đẻ của nhiều loài cá tôm, nơi cung cấp thức ăn mùn bã thực vật cho nhiều loài là thức ăn cho cá con, tôm non…, cung cấp nơi cư trú cho con non và các kẻ yếu (tôm cua lột…), nơi cư trú và lưu giữ nguồn giống hải sản, nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật Phần lớn các cây sống trên đất
Trang 35mặn đều chứa nhiều tamin có thể dùng làm thuốc nhuộm; than, đước, vẹt có giá trị nhiệt lượng cao, 6.375 - 6.675kcal/kg, gỗ có giá trị xây dựng Trong trầm tích rừng ngập mặn nitơ cao hơn trong trầm tích không có rừng ngập mặn còn phốt pho thấp hơn Hệ thực vật hạn chế 40% sự tàn phá của sóng thuỷ triều, bão đối với đê biển và bãi triều, có tác dụng cố định bãi triều lầy và lấn biển Trong rừng ngập mặn có hàng trăm loài động thực vật có ý nghĩa kinh tế: rong câu, tôm cá…
Vùng biển Bắc Đồ Sơn hiện đang xảy ra quá trình ngập chìm do dâng cao mực nước chân tĩnh và hạ lún kiến tạo, hệ quả có thể nhận thấy rõ ràng là xói lở phá huỷ đường bờ Mực nước biển dâng cao còn làm suy giảm diện tích rừng ngập mặn do bị chìm và bị doi cát hiện đại phủ lấp Hiện nay các bãi triều lầy (có rừng ngập mặn) có xu thế chuyển thành bãi triều thấp (không có thực vật ngập mặn) Ngoài ra, còn có các nguyên nhân sau gây suy giảm rừng ngập mặn: 1 - Khai thác gỗ xây dựng, củi, than…, ước tính 10 - 20cm3/hộ/năm; 2- Đánh bắt quá mức các loại đặc sản có giá trị: ngán, sò lông, sò huyết, cua, cá vào thời kỳ sinh sản, dùng đăng mắt lưới nhỏ 2x2mm, nghề lưới kéo sát đáy, nhất là kéo tôm ven bờ làm suy giảm nguồn lợi này; 3 - Nuôi trồng thuỷ sản: diện tích nuôi được xây dựng trên rừng ngập mặn chiếm khoảng 14.000ha; 4 - Đắp đập, làm đường, lấy đất làm nông nghiệp Rừng ngập mặn còn đang bị khai thác lấy củi, làm đầm nuôi trồng thuỷ sản So với năm 1960 diện tích rừng ngập mặn chỉ còn 20 - 30%, làm suy giảm 70% hệ động vật đáy, nhiều đặc sản bị mất hoặc giảm trữ lượng Hiện ở Đồ Sơn rừng sú vẹt dọc đê biển nông trường Trung Dũng, xã Bàng La đang được khôi phục và bảo vệ trong chương trình hợp tác với Hội chữ thập đỏ Nhật Bản
3.3.2.2 Hệ sinh thái nuôi trồng thuỷ sản
Bãi triều lầy là một dạng tích tụ ở cửa sông ven biển, phát triển trong phạm vi đới triều cao hơn mặt nước biển trung bình, bề mặt thường lầy nhão và có thực vật ngập mặn Các bãi triều lầy được cấu thành từ các sản phẩm phong hoá có nguồn gốc lục địa do sông đưa ra biển, trong thành phần có nhiều ôxit sắt III và các khoáng vật silicat khác Trong vùng bãi triều lầy
có nhiều hữu cơ, các ion Fe+3, Mn+4 bị khử thành Fe+2 và Mn+2 còn SO4-2 của nước biển bị khử thành H2S, rồi từ đó chuyển thành dạng bền vững, phổ biến nhất là FeS2 (70 - 95%) Trên 60% diện tích bãi triều lầy được sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản Nuôi tư nhân chủ yếu theo phương thức quảng canh Mỗi hộ đấu thầu từ 1 mẫu đến 1 ha đầm Các đầm nuôi được ngăn cách bởi hàng rào bằng tre nứa và bờ đắp, có hai cống, một để lấy nước, một để xả nước Trước khi nuôi trồng, đáy đầm phải xử lý qua nhiều lần rắc vôi bột Sau mỗi vụ nuôi tôm rảo, tôm sú hoặc cua, đáy đầm được xử lý bằng thuốc diệt tạp Tất cả các quá trình xử lý trên đều thải nước ra biển gây ô nhiễm môi trường nước, và khi lấy nước vào đầm nuôi sẽ gây
ô nhiễm lại nước đầm Nuôi trồng hải sản cho thu nhập cao và ổn định hơn đánh bắt hải sản; Tuy nhiên năng suất, sản lượng nuôi trồng phụ thuộc rất nhiều vào con giống, chất lượng đầm nuôi, nước nuôi và thời tiết Phần lớn các đầm nuôi chỉ cho năng suất ổn định trong 2 - 3 năm đầu, sau đó giảm dần, nhiều đầm nuôi có nguy cơ thoái hoá và có hiện tượng thoái hoá môi trường Các hộ nuôi trồng hải sản sinh sống ngay tại đầm, điều kiện sống rất tạm bợ, nước sạch cho sinh hoạt khan hiếm
Suy thoái môi trường bãi triều lầy do đầm nuôi hải sản xảy ra bởi ba quá trình sau: 1- Ngập nước thường xuyên gây phân huỷ yếm khí mùn bã hữu cơ rừng ngập mặn tại chỗ, gây thiếu ôxy và sinh H2S độc, bất lợi cho nuôi trồng hải sản; 2 - Việc phơi khô đầm hàng năm vào những ngày tận thu cuối năm, hoặc nước bị cạn do đầm nuôi quá cao, tạo điều kiện ôxy hoá sunphua thành sunphat, giải phóng Al+3, Fe+3, Mn+4 gây rắn chắc nền đáy đầm, tạo huyền phù gây độc hại cho rong câu, tôm, cua, cá trong đầm; 3 - Hai quá trình trên dẫn tới gây chết thực vật ngập mặn, suy thoái tài nguyên, suy giảm đa dạng sinh học
Trang 36Ngoài ra, vùng phía Bắc Đồ Sơn hiện đang triển khai một số dự án nuôi tôm công nghiệp
3.3.2.3 Đa dạng loài trong các hệ sinh thái điển hình
Trữ lượng một số loài rong kinh tế [Nguồn: KHCN 06 - 07]
Rong câu cong
(G acuata)
6.000 Hòn Dáu, chiết xuất agar, thực phẩm
Rong câu chỉ vàng (Gracilaria asiatica) 3.800.000 Đồ Sơn, Cát Hải, Thuỷ Nguyên,
chiết xuất agar, thực phẩm
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Hải Dương học Hải Phòng tháng 4 - 10/1997, vùng biển Đồ Sơn có 17 loài tảo độc hại, mật độ tảo không cao, dao động trong khoảng từ 100 - 3.000 tế bào/l, tập trung cao nhất vào đầu kỳ triều cường đầu trong năm, khi nồng độ muối nitrat cực đại trong năm
Bảng 10
Nguồn lợi động vật đáy Đồ Sơn [Nguồn: KHCN 06 - 07]
Tôm he mùa (Penaeus merguiensis) Tôm nương (P orientalis)
Tôm sú (P latisulcatus) Tôm he Nhật (P japonicus) Cua biển
Trang 373.3.3 Hướng dẫn thực hiện bài tập chuyên đề
3.3.3.1 Địa điểm hành trình khảo sát
Để thấy hết được tính đa dạng sinh học khu vực Đồ Sơn, sinh viên phải đi khảo sát những tuyến thực địa sau:
1 Tham quan, nghiên cứu Bảo tàng Sinh vật biển thuộc trạm Nghiên cứu biển
Đồ Sơn Tại đây lưu giữ rất nhiều tiêu bản về các loài sinh vật biển Những tiêu
bản này đa số là của vùng biển Đồ Sơn - Hải Phòng
2 Cảng cá Vạn Hương (Bến đầu đá) Đây là cảng cá tạm thời, nằm ở bãi 3, trên
đường đi lên Casino Vào buổi sáng, khi các tàu thuyền đánh cá cập bến, ở đây
có thể quan sát được các loài hải sản đánh bắt được như tôm đất, tôm bột, tôm
he, tôm sắt, tôm tiên, tôm gai, cua, ghẹ, mực, sứa, ốc, các loài: cá hồng, cá bơn,
cá mối, cá dưa, cá chai, cá đuối, cá nhệch, cá ớt, cá song, sam biển, ngao, bạch tuộc… Những loài hải sản đánh bắt được này phần nào đã thể hiện tính đa dạng sinh học của vùng biển Đồ Sơn Sinh viên có thể đếm số lượng các loài, quan sát
và mô tả chúng Ngoài ra ở đây còn sử dụng phương pháp phỏng vấn không chính thức Những câu hỏi đưa ra nhằm thu thập các thông tin chính sau:
- Lượng cá đánh bắt được trung bình một chuyến là bao nhiêu? so sánh với thời gian trước đây thì tăng hay giảm? nguyên nhân?
- Số lượng các loại hải sản đánh bắt so với trước đây tăng hay giảm, có gì thay đổi đặc biệt? Nguyên nhân tại sao?
- Kích thước các loại hải sản đánh bắt được so với trước đây
- Các cách thức đánh bắt: gần bờ, xa bờ, cỡ lưới,
- Quan sát các hoạt động khác trên bến cá Xem xét tác động của các hoạt động này tới môi trường làng
3 Cảng cá Ngọc Hải: Đây là bến cá truyền thống của Ngọc Hải, từng bị bồi lấp,
suy tàn, nhưng nay đã được cải tạo khơi dòng, kè bờ, xây dựng các công trình phụ trợ trên bờ để sử dụng lâu dài Cũng sử dụng phương pháp như trên để thu thập những thông tin cần thiết
4 Sinh viên có thể đi ra các chợ quan sát các sản phẩm đánh bắt được bày bán ở chợ Ngọc Hải hoặc đi vào làng chài Ngọc Hải phỏng vấn các ngư dân để thu
thập thêm thông tin
5 Rừng ngập mặn mới trồng ở cống C 4 và ven đê biển Bàng La chủ yếu có sú, vẹt, bần và sát chân đê có cà độc dược, na xiêm
6 Rừng ngập mặn ngoài đê biển Trung Dũng: Đây là hệ thống rừng tự nhiên có từ lâu năm, nhưng hiện đã có dấu hiệu suy thoái do cát lấn và tác động nhân sinh như đắp đầm nuôi tôm, đắp đê và đắp đập Đình Vũ
7 Các đầm nuôi trồng thuỷ sản ở Ngọc Hải như tôm, cua kết hợp với rau câu Ở
đây sinh viên có thể sử dụng phương pháp quan sát, điều tra phỏng vấn các chủ đầm nuôi về một số nội dung chủ yếu sau đây: Nuôi trồng loại gì? Vì sao? Từ bao giờ Quy trình nuôi trồng hiệu quả kinh tế trước đây, hiện nay có gì sai khác? Nguyên nhân
Trang 388 Ngoài ra còn có thể tìm hiểu về các ruộng sinh thái kết hợp trồng lúa và nuôi tôm ở khu vực cạnh bãi rác Bàng La Ở đây là các ruộng trũng ở giữa không
thể trồng lúa được, vì vậy nông dân đã kết hợp trồng lúa ở xung quanh gần bờ, nông Ở khu vực giữa sâu hơn thì bỏ trống làm chỗ thoáng khí cho tôm Lúa tạo bóng râm cho tôm và chất thải của tôm sẽ làm thức ăn cho lúa Vì việc kết hợp nuôi tôm và trồng lúa nên các phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật sẽ bị hạn chế
sử dụng Năng suất lúa và tôm đều không cao nhưng hiệu quả kinh tế vẫn hơn trồng lúa vì đất ở đây nhiễm mặn, năng suất lúa không cao
3.3.3.2 Hướng dẫn nội dung chuyên đề
9 Tìm hiểu tính đa dạng của các hệ sinh thái ở khu vực Đồ Sơn Các hệ sinh thái điển hình bao gồm:
1 Hệ sinh thái rừng ngập mặn
2 Hệ sinh thái bãi biển đá
3 Hệ sinh thái bãi biển cát - bùn
4 Hệ sinh thái đảo
5 Hệ sinh thái biển mở (qua phỏng vấn dân đánh cá)
9 Mỗi hệ sinh thái, cần làm rõ:
1 Phân bố ở vị trí nào ?
2 Ước đoán diện tích (không yêu cầu với hệ sinh thái biển mở)
3 Đa dạng loài (thống kê)
4 Đa dạng các yếu tố vô sinh (abiotic): địa hình, thành phần vật chất, tính chất lý - hoá của môi trường (không yêu cầu đối với hệ sinh thái biển mở)
5 Đa dạng sử dụng (chú ý các loài kinh tế)
6 Các vấn đề suy thoái (hiện trạng, lí do)
7 Kiến nghị giải pháp bảo vệ đa dạng sinh học
3.4 Tài nguyên du lịch Đồ Sơn
3.4.1 Quy định chung
9 Điều kiện cần: do sinh viên chưa học môn Tài nguyên du lịch, nên những sinh viên
thích tìm hiểu về vấn đề này cần đọc thêm giáo trình "Du lịch bền vững" [1]
9 Phương pháp tiến hành: Quan sát, phỏng vấn, phân tích tài liệu để làm rõ các tài nguyên du lịch ở Đồ Sơn gồm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch xã
hội và nhân văn
9 Mục tiêu của chuyên đề:
- Xác định các tài nguyên du lịch tại Đồ Sơn: hiện trạng, tiềm năng và tính hấp dẫn
- Làm rõ hiện trạng sử dụng tài nguyên du lịch và các giải pháp sử dụng bền vững