1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh

224 1K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Về Mạch Lạc Văn Bản Trong Bài Làm Văn Của Học Sinh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 506,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng với lý do và mục đích như đã trình bày, luận án chọn mạch lạc trong văn bản viết, cụ thể là bài làm văn của học sinh phổ thông, làm đối tượng để tiếp cận và nghiên cứu với hy vọng

Trang 1

MỤC LỤC

Trang phụ bìa Trang Lời cam đoan Mục lục 1

Quy ước trình bày 3

Danh mục các bảng và sơ đồ 4

Mở đầu 1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 5

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 13

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 14

6 Cấu trúc của luận án 15

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN BẢN, ĐOẠN VĂN VÀ MẠCH LẠC 1.1 Văn bản 17

1.1.1 Vài nét về ngữ pháp văn bản 17

1.1.2 Khái niệm văn bản 19

1.1.3 Đặc điểm 22

1.2 Đoạn văn trong văn bản 37

1.2.1 Khái niệm đoạn văn 38

1.2.2 Phân loại đoạn văn 39

1.2.3 Cấu trúc đoạn văn 41

1.3 Mạch lạc của văn bản 51

1.3.1 Mạch lạc và liên kết 51

1.3.2 Mạch lạc trong văn bản nói và văn bản viết 64

1.3.3 Các cấp mạch lạc 68

1.4 Tiểu kết 74

Chương 2 LỖI VỀ MẠCH LẠC TRONG BÀI TẬP LÀM VĂN CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG 2.1 Kết quả khảo sát 77

2.2 Lỗi về mạch lạc 82

2.2.1 Khái niệm 82

2.2.2 Phân biệt lỗi không mạch lạc và thiếu mạch lạc 84

2.3 Một số lỗi diễn đạt thiếu mạch lạc 89

2.3.1 Lỗi câu 90

2.3.2 Lỗi đoạn 109

2.3.3 Lỗi văn bản 122

2.4 Tiểu kết 130

Trang 2

Chương 3 CHUẨN MẠCH LẠC TRONG VĂN BẢN TẬP LÀM VĂN

3.1 Văn bản tập làm văn mạch lạc 133

3.1.1 Hình thức một văn bản tập làm văn mạch lạc 136

3.1.2 Nội dung một văn bản tập làm văn mạch lạc 139

3.2 Những quan hệ tạo nên mạch lạc trong bài tập làm văn 151

3.3.1 Quan hệ liên kết 151

3.2.2 Quan hệ ngữ nghĩa 160

3.3 Tiểu kết 181

Kết luận 183

Danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả 187

Tài liệu tham khảo 188

Phụ lục 194

- Phiếu nhận xét 194

- Thống kê số liệu 195

- Những ví dụ về câu văn, đoạn văn diễn đạt thiếu mạch lạc 213

Trang 3

QUY ƯỚC TRÌNH BÀY

1. Các bảng biểu, sơ đồ được đánh số theo các chương mục của Luận án để tiện theo dõi

2. Việc trích dẫn các tài liệu được ghi theo số thứ tự của danh mục “Tài liệu tham khảo” và được đặt trong dấu ngoặc vuông Số đầu tiên là số thứ tự của tài liệu, số kế tiếp là số thứ tự của trang trong tài liệu

3. Các ví dụ được đánh số theo thứ tự tăng dần (1), (2), (3),… đến hết

4. Chú thích nguồn cứ liệu: những câu văn, đoạn văn trong phần phụ lục thì chú thích là (Phụ lục); những câu văn, đoạn văn viết tốt trích từ bài làm văn của học sinh thì ghi là (Bài làm của học sinh); trích trong tác phẩm văn học ghi tên tác giả, ví dụ như (Tô Hoài)

5. Chữ viết tắt: THCS: trung học cơ sở; THPT: trung học phổ thông, NAN: Nguyễn An Ninh

Trang 4

DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ

STT Số bảng, sơ

đồ

4 1.4 Sơ đồ: Cấu trúc đoạn văn diễn dịch – quy nạp 28

8 1.8 Sơ đồ: Cấu trúc đoạn văn diễn dịch – quy nạp 43

10 1.10 Sơ đồ: Cấu trúc đoạn văn song hành tuyến tính 45

11 1.11 Sơ đồ: Cấu trúc đoạn văn theo quan hệ đồng thời 46

12 1.12 Sơ đồ: Cấu trúc đoạn văn theo quan hệ thời gian 47

14 1.14 Sơ đồ: Quan hệ giữa các thành phần câu ở VD (55) 68

15 1.15 Sơ đồ: Quan hệ giữa các thành phần câu ở VD (56) 68

16 1.16 Sơ đồ: Quan hệ giữa các thành phần câu ở VD (59) 69

17 1.17 Sơ đồ: Quan hệ về nội dung giữa đoạn văn ở VD (60) 71

19 1.19 Sơ đồ: Quan hệ về nội dung giữa đoạn văn ở VD (64) 73

22 2.3 Bảng: Thống kê các loại lỗi theo đơn vị lớp 81

29 2.10 Biểu đồ: Các mức độ lỗi trong bài tập làm văn 80

31 2.12 Sơ đồ: Các dạng lỗi diễn đạt thiếu mạch lạc 89

33 3.1 Sơ đồ: Cấu trúc quan hệ các đoạn trong “Cây tre …” 164

Trang 5

2006, 2009), Trịnh Sâm – Nguyễn Nguyên Trứ (1989) v.v Những thành tựu nghiên cứu về ngữ pháp văn bản đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường nhằm mở rộng và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh, sinh viên.

Tuy nhiên, phần lớn nội dung dạy học tiếng Việt trong trường phổ thông, vẫn còn thuộc lĩnh vực từ vựng và ngữ pháp câu Việc xác định từ đơn, từ ghép; xác định các thành phần câu trong thực hành tiếng Việt, nhất là trong các tác phẩm văn học, vẫn còn những quan điểm chưa thống nhất N.D Arutjunova đã rút ra nhận định chung rằng: “Ra khỏi phạm vi của những câu kinh điển, người nghiên cứu rơi vào một đại dương rộng mở và không bờ bến của những câu […] rất ít được quy phạm hoá về mặt hình thức” [82, tr 14] Và E Benveniste cũng đã cho rằng câu là sự sáng tạo không cùng và cũng là sự đa dạng không có giới hạn Vì vậy, những công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt ngày càng nhiều và đạt được những thành tựu không nhỏ

Trong thực tế, nhiều trường hợp sử dụng tiếng Việt của học sinh cho thấy việc học sinh viết đúng hay sai ngữ pháp không quan trọng bằng việc diễn đạt

rõ ràng, khúc chiết và mạch lạc vì văn chương hay, dù chỉ một đoạn, một câu cũng phải mạch lạc và chặt chẽ Quan sát đoạn văn sau:

Trang 6

(1) Điều đáng chú ý là thiên nhiên chuyển biến thật mau lẹ, vũ trụ vận động thật nhanh chóng (2) Cả vũ trụ bao la từ mặt đất đến bầu trời bỗng rực rỡ tươi sáng (3) Trong chốc lát màu hồng thay thế cho bóng tối đêm tàn (4) Để nhấn mạnh sự biến đổi mau chóng và triệt để ấy, Bác đã dùng cụm từ “dĩ thành hồng”, “tảo nhất không”

Trong đoạn văn trên, tuy từng câu rất đúng ngữ pháp, nhưng người đọc/ người nghe vẫn cảm nhận rằng chuỗi sự kiện được nêu lên còn rời rạc và lủng củng Có thể nhận xét rằng sự sắp xếp các câu trong đoạn văn chưa mạch lạc Nếu chuyển đổi vị trí của các câu, sắp xếp lại theo thứ tự 1, 4, 3, 2 thì nội dung đoạn văn sẽ trở nên rõ ràng, chặt chẽ và mạch lạc hơn

Đã nhiều thập kỷ qua, trong nhà trường, từ lớp hai (bậc tiểu học), học sinh đã được rèn luyện viết bài tập làm văn, thế nhưng kết quả đạt được còn rất thấp Theo một kết quả thống kê, chỉ có khoảng 20% bài viết là diễn đạt rõ ràng

và lưu loát; số còn lại, ngoài những lỗi sai về chính tả, dùng từ, đặt câu, bài viết

có rất nhiều lỗi về diễn đạt như lủng củng, rời rạc, dài dòng, tối nghĩa, nói chung là thiếu mạch lạc Những lỗi này chiếm đa số trong bài viết của học sinh

và đang gióng lên hồi chuông báo động Thực trạng trên nếu không sớm được khắc phục sẽ làm hạn chế hiệu quả giao tiếp của tiếng Việt

Thật vậy, nhiều công trình nghiên cứu Việt ngữ học đã xác định đơn vị giao tiếp là văn bản và chuỗi câu chỉ trở thành văn bản khi mạch lạc; chuỗi câu càng mạch lạc thì nội dung giao tiếp càng đạt hiệu quả Song, diễn đạt mạch lạc

là gì, như thế nào là diễn đạt thiếu mạch lạc, hiện nay, vẫn còn là một câu hỏi lớn

Vì thế cho nên, chúng tôi đã chọn “Những vấn đề về mạch lạc văn bản

trong bài làm văn của học sinh phổ thông” làm đề tài nghiên cứu cho luận án

Trang 7

nghiên cứu trong và ngoài nước Các nhà sư phạm, nhất là các giáo viên ngữ văn, cũng rất quan tâm đến vấn đề này Tất cả đều nhằm mục đích là làm sao cho người nói/ người viết diễn đạt được ý một cách mạch lạc

Luận án được hình thành không ngoài mục đích chung nêu trên Chúng tôi cố gắng trình bày một cách cụ thể, chi tiết các vấn đề về mạch lạc; những tiêu chí của một câu văn, đoạn văn và văn bản mạch lạc Đồng thời, qua kết quả khảo sát ngữ liệu, bước đầu, luận án phác hoạ những yếu tố cơ bản, cần thiết góp phần xây dựng văn bản tập làm văn mạch lạc

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Thuật ngữ mạch lạc chỉ mới xuất hiện trong những thập kỷ gần đây, cụ thể là trong giai đoạn thứ hai của việc nghiên cứu văn bản Rõ ràng, khái niệm mạch lạc văn bản là một vấn đề hoàn toàn không mới nhưng lại rất phức tạp, được đề cập trong những công trình nghiên cứu của A.J Greimas (1966), T Todorov (1968), V Dijk (1973), M.A.K Halliday và R Hasan (1976), H.G Widdowson (1978), D Beaugrande (1980), G.M Green (1989), D Nunan (1993), D Togeby (1994), G Brown và G Yule (Trần Thuần dịch) (2002)

Cụ thể, tác giả V Dijk (1973), trong công trình nghiên cứu “Những mô

hình của ngữ pháp văn bản” đã đưa ra ví dụ “Chúng ta sẽ có một số khách ăn trưa Calderon (đã) là một nhà văn lớn Tây Ban Nha.” để lập luận phản bác lại

quan điểm cho rằng hai câu đứng gần nhau là có mạch lạc với nhau, ông nhận xét rằng hai câu đứng gần nhau có thể không mạch lạc với nhau Theo ông, giữa

hai câu này không có hiện tượng nhắc lại từ, cũng không có yếu tố câu này chưa rõ nghĩa đòi hỏi phải giải thích bằng yếu tố khác của câu kia và giữa chúng cũng không dễ dàng gì thiết lập quan hệ nghĩa với nhau Như vậy, rõ ràng qua nhận xét này, ta có thể hiểu được quan niệm của V Dijk: mạch lạc ít nhất phải hội tụ đủ ba yếu tố trên (chúng tôi nhấn mạnh) Quan niệm này

thực sự có sức thuyết phục

Trang 8

Ngữ pháp truyện của T Todorov (1968), được phát triển lên bởi D Rumelhart (1975) cùng với các đồng nghiệp của ông là S Garrod và A Sanford đều cho rằng tính hợp lý lắng sâu bên trong ngữ pháp truyện là ở chỗ các truyện tuân theo một khuôn hình mềm dẻo nhưng có thể khuôn định trong những quy

tắc loại như quy tắc viết lại [6, tr.200] Và theo các tác giả này, cấu trúc nào của

ngữ pháp truyện làm thành được cái khung cho mạch lạc của truyện thì cấu trúc

đó đúng (tính đúng ở đây, theo Foucault định nghĩa, là một hệ thống các thủ tục được sắp đặt đối với việc sản sinh, điều chỉnh, phân phối, lưu thông và thao tác trong trình bày)

Năm 1976, M.A.K Halliday và R Hasan với “Liên kết trong tiếng Anh”

tuy không nghiên cứu trực tiếp về mạch lạc, nhưng chúng ta có thể hiểu quan

niệm về mạch lạc của họ như sau: “… Chất văn bản bao gồm nhiều hơn, không

chỉ là sự có mặt của những quan hệ nghĩa thuộc loại mà chúng tôi quy về liên kết – sự phụ thuộc của yếu tố này vào yếu tố khác để giải thích được nó Nó bao gồm một chừng mực nào đó của mạch lạc trong các ý nghĩa được diễn đạt: không chỉ hoặc không phải chủ yếu là ở NỘI DUNG, mà ở sự lựa chọn TOÀN

BỘ từ các nguồn ý nghĩa của ngôn ngữ đó, bao gồm cả các thành tố liên nhân khác nhau, các thức, các tình thái, các độ mạnh và những hình thái khác nữa mà người nói nhồi nhét vào trong tình huống nói” [116, tr.22]

Đến năm 1978, H.G Widdowson với “Dạy tiếng theo giao tiếp” đã phân

biệt sự liên kết văn bản với mạch lạc diễn ngôn Theo tác giả, mạch lạc diễn ngôn biểu hiện trong khả năng dung hợp nhau của các hành động nói Khả năng này thể hiện qua cấu trúc theo qui ước của tương tác lời nói Chính cấu trúc này cung cấp lời giải thích cho cách thức mà một số phát ngôn rõ ràng là không nối kết với nhau về mặt hình thức (không có liên kết) lại có thể được giải thuyết trong phạm vi một thể loại tương tác lời nói nào đó, tạo ra chuỗi lời nói mạch lạc Ông đưa ra ví dụ như:

A: That’s the telephone (Có điện thoại)

Trang 9

B: I’m in the bath (Anh đang tắm)

Chuỗi lời nói này là diễn ngôn mạch lạc Còn liên kết văn bản thì được nhận biết trên bề mặt từ ngữ, ngữ pháp và trong sự triển khai mệnh đề một cách logic

D Edmonson (1981) cũng khảo sát vấn đề về cái gì phân biệt văn bản với phi văn bản (tức là, các văn bản mạch lạc với các văn bản không mạch lạc) Ông quả quyết rằng khó mà tạo ra những phi văn bản từ những câu đứng cạnh nhau bởi vì nói chung có thể tạo ra một vài kiểu ngữ cảnh đem lại tính mạch lạc cho bất kỳ tập hợp câu nào Ông phản đối điều khẳng định của V Dijk, H.G Widdowson và đưa ra những ví dụ rất ngắn để cung cấp những văn bản hiểu được khi không có các đánh dấu liên kết

Năm 1983, trong tác phẩm “Phân tích diễn ngôn”, G Brown và G Yule

đã dành hẳn một chương cuối cùng cho “Tính mạch lạc trong việc giải thuyết diễn ngôn” Trong chương này, tác giả đã trích dẫn quan điểm của Labov (1970)

“nhận ra tính mạch lạc và không mạch lạc ở các chuỗi hội thoại không dựa trên

cơ sở mối quan hệ giữa các phát ngôn, mà là giữa các hành động được thực hiện bằng các phát ngôn này” [22, tr.351]

Năm 1989, G.M Green là người xem xét mạch lạc trên cơ sở của nguyên

tắc cộng tác do H.P Grice đề xướng Ông cho rằng: “Mạch lạc của văn bản

không phải là vấn đề của những đặc trưng dành riêng cho văn bản, mà là vấn đề của cái sự thật có thể coi là: việc những người tiếp nhận văn bản có năng lực suy luận bằng mọi cách là việc cần thiết để chắp nối nội dung của các câu cá thể lại với nhau”, và họ chắp nối “bằng cách làm rõ việc suy ra một trình tự thực hiện cái dàn ý được suy ra để đạt đến cái mục tiêu được suy ra” Đồng thời,

G.M Green thừa nhận có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với mạch lạc Do vậy, cách tiếp cận của ông đối với mạch lạc có thể gọi là mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác

Trang 10

D Nunan, 1993, trong “Dẫn nhập phân tích diễn ngôn”, nhất trí với ý niệm cho rằng liên kết không “tạo ra” mạch lạc và việc thiết lập tính mạch lạc là việc người đọc/ người nghe có sử dụng kiến thức ngôn ngữ của họ để liên hệ thế giới diễn ngôn với những con người, vật thể, sự kiện và sự thể bên ngoài bản thân văn bản v.v.

Trong khi đó, ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về mạch lạc có

nhưng chưa nhiều Công trình nghiên cứu đầu tiên là Hệ thống liên kết văn bản

tiếng Việt (1985) của Trần Ngọc Thêm Trong công trình này, tác giả đề cập đến

liên kết và hệ thống liên kết trong văn bản tiếng Việt Tuy nhiên, công trình có phân tích khá chi tiết về liên kết nội dung thể hiện qua liên kết chủ đề và liên

kết logic Khái niệm liên kết nội dung của tác giả trong thời điểm lúc bấy giờ có

lẽ cũng phù hợp với khái niệm mạch lạc của nhiều nhà ngôn ngữ học hiện nay

Do vậy, công trình này có thể được xem là công trình đầu tiên ở Việt Nam có đề cập đến mạch lạc

Trong công trình Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (1998), Diệp Quang

Ban đã trình bày về vấn đề mạch lạc văn bản một cách khá chi tiết Đến năm

2002, quyển Giao tiếp - Văn bản - Mạch lạc - Liên kết - Đoạn văn ra đời, chính

tác giả đã bổ sung, mở rộng và hiệu chỉnh mục nói về mạch lạc (trong sách

1998) thành Phần thứ ba: Mạch lạc, với việc giới thiệu những nội dung rõ ràng

và chi tiết hơn về mạch lạc trong quá trình tạo lập và giải thích văn bản Và năm

2005, với quyển VĂN BẢN, tác giả đã dành hẳn chương hai để viết về Mạch lạc

văn bản với hai nội dung cụ thể: mạch lạc tạo lập văn bản và những biểu hiện

của mạch lạc trong văn bản

Trong công trình nghiên cứu “Ngữ pháp chức năng tiếng Việt” quyển 1,

tác giả Cao Xuân Hạo cũng có đề cập đến vấn đề mạch lạc trong ngôn bản và

liên kết câu với quan niệm “Khi ngôn bản gồm từ hai câu trở lên, giữa các câu

có một quan hệ nhất định khiến chúng không phải là bất kỳ đối với nhau: giữa chúng có một mạch lạc” và sự mạch lạc giữa các câu này được thực hiện bằng

Trang 11

các phương tiện từ ngữ, ngữ pháp trong các câu và bằng bố cục Tác giả minh

chứng cho quan điểm của mình qua các ví dụ cụ thể như: Lên tí nữa Tí nữa

Sang trái một chút Được rồi đấy Đinh đây này Năm câu trong ví dụ trên cho

chúng ta hình dung được ai đó đang định vị một vật

Ví dụ này minh hoạ cho chuỗi câu mạch lạc Bằng các ví dụ điển hình, cụ thể, tác giả đã phân tích trong một số trang, tuy ngắn nhưng thực sự thể hiện được khá tường minh khái niệm mạch lạc

Bên cạnh đó, còn có một số tác giả khác như Đỗ Hữu Châu, trong

“Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học” (tạp chí

Ngôn ngữ số 2/ 1990), “Ngữ pháp văn bản” (1994), “Đại cương ngôn ngữ học”

tập 2 (2001); Nguyễn Đức Dân “Logic và tiếng Việt” (1998) cũng đã có một số quan điểm phác họa về mạch lạc đáng chú ý

Gần đây có một số bài viết về mạch lạc như: Trần Thị Vân Anh “Mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân trong Truyện Kiều” (2002), Nguyễn Thị Thìn

“Về mạch lạc của văn bản viết” (ứng dụng vào phân tích truyện ngắn Đám ma

kỳ lạ nhất mà tôi chứng kiến của Ezra M Cox) (2003), v.v

Tóm lại, việc nghiên cứu về mạch lạc văn bản của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới và ở Việt Nam, chủ yếu trên ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt, đã nêu bật một số quan điểm về mạch lạc

- Mạch lạc là một vấn đề khá trừu tượng và khó nắm bắt Vẫn còn nhiều quan điểm chưa đồng nhất về mạch lạc

- Mạch lạc là yếu tố quan trọng và chủ yếu tạo nên văn bản Khi gọi là một văn bản thì cũng có nghĩa là chính chuỗi phát ngôn đó chắc chắn đã mạch lạc Và ngược lại, không có mạch lạc, chuỗi phát ngôn này sẽ không trở thành văn bản

- Mạch lạc và liên kết không phải là một Mạch lạc thể hiện ở bề sâu của quan hệ nghĩa, còn liên kết thể hiện ở bề mặt bằng các hình thức liên kết khứ

Trang 12

chỉ, hồi chỉ, v.v, và là một phương thức góp phần tạo nên mạch lạc trong văn bản.

- Mạch lạc ở hội thoại khác mạch lạc trong văn bản viết Mạch lạc hội thoại thường gắn chặt với hoàn cảnh và tình huống phát ngôn; còn mạch lạc trong văn bản viết gắn chặt với chủ đề và toàn cảnh của văn bản

- Mức độ nhận định về mạch lạc của một văn bản chủ yếu tuỳ thuộc vào khả năng tư duy, thái độ tình cảm, trình độ hiểu biết và kiến thức nền của người đọc Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có một số yếu tố cơ bản khác giúp người đọc/ người nghe xác định được chuỗi câu mạch lạc và chuỗi câu không mạch lạc

Nhìn chung, trong những thập kỷ gần đây, lý thuyết về mạch lạc đã và đang được các nhà nghiên cứu ở phương Tây cũng như ở Việt Nam đề cập đến khá nhiều, tuy nhiên, những công trình có tính ứng dụng vào thực tiễn nói/ viết thì ít

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về ngữ pháp văn bản, phân tích diễn ngôn là lĩnh vực khá hấp dẫn Lĩnh vực này có nhiều vấn đề phức tạp nhưng không kém phần thú vị, cần thiết và quan trọng Và mạch lạc văn bản chính là một trong những vấn đề nói trên Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá mạch lạc là hiện tượng khá mơ hồ, không tường minh, khó nắm bắt Nhưng với lý do và mục đích như đã trình bày, luận án chọn mạch lạc trong văn bản viết, cụ thể là bài làm văn của học sinh

phổ thông, làm đối tượng để tiếp cận và nghiên cứu với hy vọng sẽ tìm được

những giải thuyết tường minh hơn cho vấn đề về mạch lạc trong văn bản trên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Mạch lạc là vấn đề rất rộng và vô cùng phức tạp Trong phạm vi của luận

án, để việc nghiên cứu được tập trung, nội dung giải quyết phù hợp với đề tài

Trang 13

đặt ra, với điều kiện và khả năng có hạn, chúng tôi vận dụng những thành tựu nghiên cứu về mạch lạc của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước để khảo sát một số bài làm văn của học sinh phổ thông nhằm xác định những tiêu chí về mạch lạc trong dạng văn bản này.

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Sau khi đã xác định “Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh phổ thông” làm đề tài luận án, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với các phương pháp sau

- Nhận diện: lỗi được xác định phụ thuộc vào tiêu chuẩn của sự thể hiện Tiểu chuẩn này phụ thuộc vào trình độ, năng lực, động cơ… của người học

- Thông hiểu: điều cốt lõi của sự thông hiểu là kiến thức về tiếng Việt, về ngữ cảnh mà người viết, người đọc sử dụng để cùng nhận định lỗi

- Khôi phục: giải thích cho người viết hiểu được cách diễn đạt như vậy chưa phù hợp với nội dung mà họ muốn thể hiện và hướng dẫn cách khôi phục

- Phân loại: dựa vào quy tắc dùng từ, đặt câu, dựng đoạn của tiếng Việt

để phân loại lỗi

- Giải thích: phân tích những nguyên nhân dẫn đến lỗi

b Phân tích mẫu

Trang 14

Luận án sử dụng phần mềm Xử lý dữ liệu nghiên cứu với SPSS FOR

WINDOWS để phân tích lỗi bằng cách tạo ra mẫu phiếu nhận xét, ghi nhận các

lỗi từ 1000 bài tập làm văn viết của học sinh phổ thông ở các khối lớp 10, 11,

12 Luận án nhập các thông tin từ phiếu vào máy, dùng chương trình SPSS xử

lý dữ liệu cho ra các thống kê số liệu, phân tích các số liệu để tìm nguyên nhân

và giải pháp khắc phục

5.1.3 Phương pháp miêu tả

Phương pháp này được vận dụng trong suốt quá trình trình bày luận án để phân tích, miêu tả các tài liệu tham khảo, ngữ liệu văn bản mẫu và bài viết của học sinh Sau khi tham khảo nhiều tài liệu, luận án ghi chép những nhận định, quan điểm theo từng loại giống nhau và khác nhau Luận án so sánh các quan điểm giữa các tác giả; ví dụ như giữa D Edmonson và H.G Widdowson với V Dijk; giữa Diệp Quang Ban và Trần Ngọc Thêm; so sánh giữa lý luận về mạch lạc văn bản nói chung và mạch lạc trong các văn bản tập làm văn viết của học sinh phổ thông, để từ đó có thể rút ra được những nét chung cơ bản nhất hình thành quan điểm của luận án

5.2 Nguồn ngữ liệu

Chúng tôi đã thu thập khoảng 1000 bài viết của học sinh phổ thông, trong

đó, có hai trăm bài khối lớp mười, hai trăm bài khối mười một và sáu trăm bài khối lớp mười hai Nguồn ngữ liệu chủ yếu tập trung ở lớp 12 vì đây là kết quả rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh sau mười hai năm học phổ thông Nguồn ngữ liệu trên được thu thập từ ba trường phổ thông trung học có trình độ khác nhau thuộc tỉnh Bình Dương để rút ra nhận xét toàn diện: lớp 10 (THPT Bình An), lớp 11 (THPT Dĩ An), lớp 12 (bao gồm 200 bài của trường chuyên Hùng Vương, 200 bài của trường THPT Dĩ An, 200 bài của trường THPT Nguyễn An Ninh) Trong đó, trường THPT chuyên Hùng Vương, trường THPT Dĩ An là những trường chất lượng cao (học sinh có học lực từ khá trở lên), trường THPT Nguyễn An Ninh và trường THPT Bình An tập trung những

Trang 15

học sinh có học lực từ trung bình yếu trở lên Bên cạnh đó, chúng tôi có trích dẫn thêm một số ví dụ từ các tài liệu như sách giáo khoa, bài phát biểu, một số tác phẩm, những bài văn mẫu,… để minh hoạ

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Mạch lạc trong văn bản viết là một vấn đề không mới Tuy nhiên, việc làm thế nào để học sinh viết văn mạch lạc thì chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Thông thường, để hướng dẫn học sinh viết văn mạch lạc, giáo viên cho học sinh tiếp cận với các văn bản mẫu, sau đó, đưa ra các đoạn văn, bài văn chưa mạch lạc và giúp các em chỉnh sửa lại mà không giải thích cụ thể cho học

sinh hiểu diễn đạt mạch lạc là gì, thế nào là lỗi diễn đạt thiếu mạch lạc, v.v

Luận án này sẽ trình bày một cách có hệ thống những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh, những lỗi về diễn đạt thiếu mạch lạc trong các câu văn, đoạn văn, văn bản và bước đầu xác định những yếu tố tạo sự mạch lạc trong văn bản tập làm văn

Luận án góp thêm cứ liệu cho việc xác định khái niệm mạch lạc, lỗi diễn

đạt thiếu mạch lạc trong bài làm văn, qua phân tích các dạng lỗi về mạch lạc

trong bài làm văn của học sinh trung học Những kết quả nghiên cứu của luận án

có thể giúp giáo viên có thêm tài liệu tham khảo về việc dạy tập làm văn ở nhà trường phổ thông đạt hiệu quả, đồng thời giúp học sinh rèn luyện kỹ năng viết văn mạch lạc, góp phần giữ gìn, phát huy sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt

7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu (12 trang), phần kết luận (4 trang) và tài liệu tham khảo, luận án gồm ba chương

Chương một (60 trang) trình bày một cách tổng quan về văn bản, đoạn văn và mạch lạc trong văn bản Trong đó, luận án điểm qua khái niệm văn bản, ngữ pháp văn bản, đặc điểm của văn bản, phân biệt văn bản nói và văn bản viết,

Trang 16

một số kiểu văn bản tập làm văn được giảng dạy ở trường phổ thông; khái niệm

về đoạn văn, một số cấu trúc đoạn văn thường được sử dụng trong văn bản; khái niệm mạch lạc, liên kết trong văn bản, phân biệt giữa mạch lạc và liên kết, mạch lạc trong hội thoại và viết; giới thiệu một cách sơ lược về các cấp mạch lạc: mạch lạc cấp độ câu, mạch lạc cấp độ đoạn văn của văn bản

Chương hai (56 trang) trình bày về lỗi diễn đạt thiếu mạch lạc, phân tích một số dạng lỗi viết văn thiếu mạch lạc của học sinh phổ thông Ở phạm vi đặt câu có các dạng lỗi về ngữ pháp, ngữ nghĩa (hướng nội), lỗi trong quy chiếu, sắp xếp trình tự và lỗi hỗn hợp (hướng ngoại) Lỗi trong dựng đoạn bao gồm triển khai lệch chủ đề, thiếu ý, trùng lắp, thiếu hệ thống, nội dung thiếu chính xác Lỗi trong văn bản bao gồm bố cục không rõ ràng, không tách đoạn, tách đoạn tuỳ tiện, thiếu liên kết đoạn và hướng khắc phục các lỗi trên

Chương ba (50 trang) trình bày về chuẩn mạch lạc trong văn bản tập làm văn của học sinh phổ thông Luận án phân tích các ví dụ trích từ bài viết được giáo viên đánh giá là mạch lạc để rút ra yêu cầu tổng quát của các phần mở bài, thân bài, kết luận mạch lạc; đồng thời, xác định những quan hệ góp phần tạo nên mạch lạc như quan hệ liên kết được thể hiện bằng quy chiếu, thay thế, nối kết, lặp và quan hệ ngữ nghĩa bao gồm quan hệ tương liên, ngữ cảnh và logic

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN BẢN, ĐOẠN VĂN VÀ MẠCH LẠC

Ngôn ngữ học văn bản (text linguistics) ra đời đã góp phần lý giải những vấn đề mà lâu nay ngôn ngữ học truyền thống bị bế tắc như những hiện tượng biểu hiện trong phạm vi câu nhưng lại có liên quan đến cơ chế ngoài câu, nhu cầu thực tiễn của việc xây dựng văn bản, vận dụng kiến thức ngôn ngữ học để phân tích các tác phẩm văn học và xử lý thông tin

Đây là một bộ môn khoa học mới của ngành ngôn ngữ học có đối tượng nghiên cứu là những hiện tượng ngôn ngữ ở lĩnh vực trên câu Ngôn ngữ học văn bản bao gồm tất cả các loại hoạt động giao tiếp ngôn ngữ Trong đó, ngữ pháp văn bản là bộ phận quan trọng nhất của ngôn ngữ học văn bản

Trần Ngọc Thêm đã nhận định: “Nếu coi việc nâng ngôn ngữ học lên tầm một khoa học khái quát gắn liền với tên tuổi của F.de Saussure là cuộc cách mạng lần thứ nhất trong ngôn ngữ học như lâu nay vẫn nói, thì cuộc cách mạng lần thứ hai phải là việc đưa ngôn ngữ học lên tầm một khoa học bao quát hết

đối tượng của mình gắn liền với sự ra đời của ngôn ngữ học văn bản”

[78, tr.12]

Chương này trình bày một cách tổng quan về văn bản, đoạn văn và mạch lạc văn bản trong mối quan hệ với các dạng bài viết tập làm văn của học sinh phổ thông

1.1 VĂN BẢN

1.1.1 Vài nét về ngữ pháp văn bản

1.1.1.1 Sơ lược về sự ra đời của ngữ pháp văn bản

Từ những năm ba mươi, trường phái ngôn ngữ học Praha đã đề cập đến đoạn văn, sự liên hệ giữa các câu trong đoạn văn; và đến những năm sau, K Boost (Đức) với “Khối liên hệ các câu”, N.S Pospelov (Nga) với “Chỉnh thể cú pháp phức hợp”; I.A Figurovskij với “Chỉnh thể cú pháp của văn bản hoàn

Trang 18

chỉnh”, Z.S Harris (Mỹ) với “Discourse”, … đều nói đến mối liên hệ giữa các câu, tức mối quan hệ trên câu

Năm 1953, L Hjelmslev, nhà ngôn ngữ học Đan Mạch, đã viết: cái duy nhất đến với người nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách khởi điểm […] đó là văn

bản trong tính hoàn chỉnh tuyệt đối và không tách rời của nó

Từ năm 1968, tên gọi ngữ pháp văn bản ngày càng được nhiều nhà ngôn ngữ học đề cập đến Lĩnh vực văn bản - theo cách nói hình tượng của V.A

Zvegintsev [1980, tr.14]- gần như đã trở thành một “Vũ trụ ngôn ngữ học”.

Ngữ pháp văn bản kế thừa và phát triển những thành tựu của ngôn ngữ học nói chung và của ngữ pháp học nói riêng Đối tượng của ngữ pháp văn bản

là những biểu hiện theo quy luật trong quá trình cấu tạo các đơn vị trên câu và các đơn vị cú pháp văn bản khác để tạo nên đơn vị lớn nhất là văn bản Còn văn bản là sự biểu hiện bằng ngôn ngữ để bộc lộ ý đồ giao tiếp Bất kỳ một văn bản nào cũng có những đặc trưng chủ yếu là tính liên kết, tính hoàn chỉnh về nội dung và kết cấu

1.1.1.2 Ý nghĩa của lý thuyết ngữ pháp văn bản ở trường phổ thông

Nhà trường phổ thông từ nhiều năm qua đã chú ý dạy cho học sinh cách

sử dụng từ ngữ, viết câu Việc làm này đã thu được những kết quả nhất định Học sinh đã viết được nhiều câu đúng và không ít câu hay Tuy nhiên, một số không ít lại không biết cách trình bày các câu đúng và hay đó vào một đoạn, một bài viết để tạo thành một chỉnh thể thống nhất, chặt chẽ và logic Có thể khảo sát đoạn văn sau:

Các nhà thơ thời kỳ này đều ca ngợi tinh thần yêu nước, tinh thần quật khởi chống xâm lăng Ca ngợi tinh thần độc lập, ý thức tự cường chứa chan lòng yêu nước Ca ngợi cảnh thanh bình thịnh trị Các bài thơ của Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, bài thơ “Thần” của Lý Thường Kiệt, “Bạch Đằng Giang Phú” của Trương Hán Siêu… đã khẳng định nội dung văn học thời kỳ này Trong số đó bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo là một trong những bài tiêu biểu Bài hịch ra đời năm 1285 Bài hịch kêu gọi tướng sĩ nêu cao tinh thần yêu nước, chí căm thù giặc mà ra sức chiến đấu Tác giả đã kêu gọi tướng sĩ hãy từ bỏ lối sống

Trang 19

hưởng lạc, ra sức học tập binh thư, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược…” (Phụ lục)

Trong đoạn văn trên, học sinh viết câu không sai ngữ pháp nhưng do không biết sắp xếp các câu cho hợp lý nên đoạn văn diễn đạt dài dòng, lộn xộn

và tối nghĩa Tuy nhiên, việc giúp học sinh xây dựng được những đoạn văn chặt chẽ về nội dung và hình thức là điều không phải dễ Thêm vào đó, việc sử dụng tiếng Việt trên các phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay, trong một số chương trình, cũng chưa đúng chuẩn nên đã ảnh hưởng không ít đến việc rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh

Đồng thời, trong thời gian qua, đa số giáo viên chỉ dạy cho học sinh viết câu đúng, chú ý sửa lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi đặt câu; còn sửa lỗi đoạn văn thì chưa được quan tâm đúng mức vì tính chất phức tạp của nó Do vậy, việc đưa lý thuyết ngữ pháp văn bản vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông là vô cùng cần thiết Và để khắc phục những hạn chế trên, chúng tôi nghĩ cần phải tạo điều kiện cho giáo viên được bồi dưỡng, cập nhật những kiến thức về ngữ pháp văn bản một cách chuyên sâu, nhất là nội dung xây dựng câu văn, đoạn văn, văn bản mạch lạc để việc rèn luyện kỹ năng trình bày ý tưởng một cách mạch lạc cho học sinh có hiệu quả

1.1.2 Khái niệm văn bản (text)

Năm 1974, khi bàn về ngôn ngữ học văn bản, H Isenberg đã nêu lại một

số nét chung của văn bản: “Với câu hỏi về các nét chung của tất cả các văn bản – văn bản “có kết cấu” cũng như văn bản “không có kết cấu” – chúng tôi đã trả lời bằng cách kể ra những đặc trưng như chuỗi nối tiếp tuyến tính của câu, biên giới phía trái và phía phải, tính kết thúc tương đối và tính liên kết”

Trong công trình “Liên kết trong tiếng Anh” năm 1976, M.A.K Halliday

và R Hasan đã bàn về những đặc trưng của văn bản như sau: “Từ văn bản được dùng trong ngôn ngữ học để chỉ một đoạn nào đó, được nói ra hay được viết ra,

có độ dài bất kỳ, tạo lập được một tổng thể hợp nhất Chúng ta biết như một

Trang 20

nguyên tắc chung rằng một mẫu ngôn ngữ của chính chúng ta hoặc tạo thành

được một văn bản hoặc không Sự phân biệt giữa một văn bản và một tập hợp những câu không có quan hệ với nhau suy cho cùng là vấn đề mức độ,

và ở đây luôn luôn có những trường hợp mà đối với chúng thì chúng ta không định chắc được – điều này có thể thường gặp đối với nhiều giáo viên khi đọc các bài làm văn của học sinh (chúng tôi nhấn mạnh) Tuy nhiên,

điều đó không làm mất hiệu lực của nhận xét chung cho rằng chúng ta cảm

nhận được sự phân biệt giữa cái là văn bản với cái không là văn bản […]”

1.1.2.1 Một số quan niệm về văn bản

Hiện nay, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về văn bản Có quan niệm cho rằng văn bản là biểu hiện sự kiện nói bằng các dạng viết “written text” hoặc

là đơn thoại không tương tác (non-interactive monolongue) Có quan niệm lại cho văn bản là cái kiến trúc lý luận trừu tượng mà diễn ngôn sẽ hiện thực hóa nó (V Dijk), vì thế mới có liên kết văn bản (textual cohesion) và mạch lạc diễn ngôn (discourse coherence) Liên kết văn bản được nhận diện qua bề mặt từ ngữ, qua ngữ pháp và qua sự triển khai mệnh đề, còn mạch lạc diễn ngôn là hoạt động giữa các hành động nói (H.G Widdowson) Guy Cook có cách nhìn tương tự rằng văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lý giải được ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh v.v

Còn theo M.A.K Halliday thì “Văn bản là một đơn vị nghĩa, một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa Nó không phải được gồm từ những câu mà là được hiện thực hoá hoặc được ký mã vào những câu” [36, tr.1-2]

Trong quyển “The Encyclopedia of Language and Linguistics” (1994),

văn bản được xác định như sau: “Văn bản: 1 Một quãng được viết hay được phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, đề tài – chủ đề, v.v… của nó, hình thành nên một đơn vị, như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường v.v… 2 Văn học Trước hết được coi như một tài liệu viết, thường đồng nghĩa với sách, […] 3 Trong PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN, đôi khi được

Trang 21

đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì được dành cho ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn được dùng bao gồm cả văn bản” [ 8, tr.201-202]

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm, văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là phần tử Ngoài các câu – phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của câu và những mối quan hệ, liên

hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung

Nói một cách cụ thể, “Văn bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài … loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường…”

[6, tr.50]

Định nghĩa về văn bản rất phong phú và đa dạng, được xác định từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, các quan niệm trên có một số nét chung, có thể được khái quát lại như sau: Văn bản là đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng, không xác định kích cỡ, khác với câu về mặt chủng loại Văn bản có thể ở dạng nói hay dạng viết; có thể dài hay ngắn; có cấu trúc; có đề tài, tiêu biểu như một tác phẩm văn học, một bài báo, một bài văn viết/ nói, một quyết định, v.v

1.1.2.2 Khái niệm văn bản trong sách giáo khoa phổ thông

“Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết có chủ đề thống nhất, có liên kết, mạch lạc, vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp” [15, t.1, tr.17]

Định nghĩa này được vận dụng từ cách hiểu văn bản phổ biến trong nhiều tài liệu về Việt ngữ học, phù hợp khả năng nhận biết của học sinh phổ thông Từ khái niệm trên, điều quan trọng cần chú ý là văn bản có chủ đề thống nhất, liên kết, mạch lạc và vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp từng loại như: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính, v.v

Nói tóm lại, quan niệm của chúng tôi trong luận án này: Văn bản là một đơn vị giao tiếp bằng lời hay bằng chữ viết, có thể dài hay ngắn, có đề tài,

Trang 22

có cấu trúc và phải mạch lạc Như vậy, bài tập làm văn của học sinh phổ

thông được xem là một dạng của văn bản

1.1.3 Đặc điểm

Từ khái niệm văn bản, chúng ta có thể xác định, để có một văn bản, không phải chỉ cần ghép những câu đúng ngữ pháp lại với nhau mà nội dung của những câu này phải liên quan chặt chẽ với nhau, cùng gắn kết để tạo thành một chỉnh thể (chỉnh thể là một khối thống nhất trong đó các bộ phận có quan

hệ chặt chẽ không thể tách rời nhau) biểu đạt một chủ đề chung và được sắp xếp trong một kết cấu hoàn chỉnh, mạch lạc nhằm đạt được mục đích giao tiếp cụ thể Đó chính là những nét cơ bản phân biệt giữa văn bản và phi văn bản

1.1.3.1 Đặc điểm chung của văn bản

Các mối quan hệ tạo nên tính thống nhất chủ đề để chuỗi câu trở thành văn bản được biểu hiện ở những đặc trưng cơ bản của văn bản như tính hoàn chỉnh nghĩa, tính hoàn chỉnh cấu trúc và tính liên kết, mạch lạc

a Tính hoàn chỉnh về nghĩa của văn bản

Tính hoàn chỉnh về nghĩa của văn bản thể hiện ở sự thống nhất chủ đề của nó Chủ đề được hiểu là hạt nhân nghĩa có nội dung cô đúc và khái quát của văn bản: “Chủ đề của văn bản hoàn chỉnh hay của văn bản con chúng tôi coi là hạt nhân nghĩa được hiểu như nơi tập trung khái quát toàn bộ nội dung của văn

bản” [54, tr.27]

Một văn bản hoàn chỉnh có dung lượng cỡ lớn như một tác phẩm thì có thể được cấu tạo nên bởi các chương, phần, mục, v.v hay nhỏ như một bài thơ Đường thì cũng được tạo nên từ những đoạn thơ Mỗi chương, phần, mục, đoạn, luôn luôn biểu đạt một chủ đề bộ phận, chủ đề con Chủ đề chung của văn bản được đề cập đến ở trên phải được hiểu không phải là một phép cộng đơn thuần

của các chủ đề bộ phận/ chủ đề con mà chúng đồng thời phục vụ cho việc thể hiện một chủ đề chung và bổ sung cho nhau trong việc thể hiện chủ đề ấy.

VD (1): PHẦN THƯỞNG

Trang 23

Một người nông dân tìm được một viên ngọc quý liền muốn đem dâng tiến nhà vua.

Ông ta tìm đến cung điện và nhờ các quan trong triều bảo làm cách nào gặp được nhà vua Một trong các quan hỏi ông ta cần gặp vua để làm gì Người nông dân bèn kể lại chuyện muốn dâng vua viên ngọc quý.

- Thế anh muốn ta thưởng cho anh cái gì bây giờ?

Người nông dân bèn thưa:

- Xin bệ hạ hãy thưởng cho hạ thần năm mươi roi, hạ thần không muốn gì hơn cả Chỉ có điều là hạ thần đã đồng ý chia cho viên quan đã đưa hạ thần vào đây một nửa số phần thưởng của bệ hạ Vậy xin bệ hạ hãy thưởng cho mỗi người hai mươi nhăm roi

Nhà vua bật cười, đuổi tên cận thần ra và thưởng cho người nông dân một nghìn rúp (15, t.1, tr.45-46)

Câu chuyện trên gồm ba phần: phần mở bài “Một… vua” thể hiện lòng trung thành và sự tôn kính của anh nông dân; phần thân bài “Ông …roi” thể hiện tinh thần dũng cảm đấu tranh chống bọn quan tham của anh nông dân; phần kết luận: sự thành công của anh nông dân Chủ đề chung của câu chuyện

là ca ngợi lòng dũng cảm, trung thành và thông minh của người nông dân trong đấu tranh chống bọn tham quan Như vậy, chủ đề chung ở đây không thể là sự lắp ghép đơn thuần các chủ đề con lại với nhau mà là một sự tổng hợp và phát triển

VD (2): Quặng sắt không có ích đối với chúng ta trong cuộc sống hằng

ngày nếu như nó ở dạng tồn tại trong tự nhiên Trước hết nó phải được vỡ ra từ lòng đất và được khai thác lên Đó là công việc của những người thợ mỏ Những

lò cao luyện quặng thành sắt tự nhiên Những xí nghiệp gang thép biến sắt tự nhiên thành gang thép; Cuối cùng những xí nghiệp gang thép sản xuất từ thép thành sắt tây và thép tấm (53, tr.33)

Chủ đề hay nội dung chính trong ví dụ này có thể khái quát là quá trình lao động nhằm khai thác và xử lý quặng sắt tự nhiên thành sắt thép được dùng trong xây dựng Tất cả các câu trong đoạn văn trên đều tập trung nêu bật quá trình này

Trang 24

VD (3): Xem bài thơ (Thơ văn yêu nước Nam Bộ, nửa sau TK XIX)

Trên đời có mấy mặt đi ngang?

Ỷ lớn chân tay có một chàng

Lõ mắt không phân người phải quấy Quơ càng chẳng lựa kẻ ngay gian Đưa mình theo nước hiềm không ruột Lột vỏ già đời chẳng thấy gan

Gặp lúc tối trời thì kể chắc Nghe hơi động đất rút vào hang (158, tr.122)

Nội dung tường minh của từng câu, từng câu trong văn bản trên đều tập trung miêu tả con cua nhưng ý nghĩa hàm ẩn chung của toàn bài thơ là nhằm ám chỉ bọn hèn nhát bán nước cầu vinh, cúi đầu làm tay sai cho giặc, chạy theo thời thế để kiếm chác cho bản thân

Các ví dụ này đã thể hiện tính hoàn chỉnh về nghĩa của văn bản Tuy nhiên, nếu chỉ đáp ứng cho sự hoàn chỉnh nghĩa văn bản sẽ không được trọn vẹn nếu văn bản không có được một cấu trúc hoàn chỉnh

b Tính hoàn chỉnh về cấu trúc của văn bản

Các câu, các đoạn trong văn bản quan hệ chặt chẽ với nhau không phải chỉ do sự thống nhất chủ đề mà còn bằng những tín hiệu đa dạng bên ngoài Những tín hiệu này chỉ ra rằng chúng là những bộ phận của một chỉnh thể và hợp lại tạo nên một cấu trúc hoàn chỉnh

Một số tín hiệu được sử dụng trong quá trình xây dựng văn bản nhằm tạo

sự gắn bó chặt chẽ giữa các bộ phận trong một chỉnh thể; chúng thường được nhận biết cụ thể như sau:

- Tín hiệu hình thức: Văn bản phải được trình bày một cách khoa học, dễ nhận biết các chương, các phần, các mục

VD (4): Chương I

I.1 I.1.1 I.1.2 I.2 1.2.1

Trang 25

1.2.2 Chương 2 2.1

2.2 2.2.1 2.2.2

Văn bản Chương 1 Chương 2

1.1 1.2

Trang 26

Cách trình bày này được áp dụng một cách triệt để trong các văn bản khoa học, văn bản hành chính, v.v Cần chú ý, nếu có chương một thì phải có chương hai, có mục 1.1 thì phải có mục 1.2, v.v Cấu trúc các phần phải tương đương và cân xứng với nhau kể cả về hình thức trình bày lẫn nghệ thuật sử dụng ngôn từ Có thể minh hoạ như sơ đồ 1.1 sau

Sơ đồ 1.1: Cấu trúc văn bảnQua sơ đồ 1.1, người đọc dễ dàng nắm bắt được đề cương của văn bản Cách bố trí các chương, phần, mục như trên góp phần tạo nên sự mạch lạc cho văn bản

Văn bản tập làm văn Đặt vấn đề

Giảiquyết vấn đề

Kết thúc vấn đề Đoạn 1

Trang 27

Đoạn 2

Đoạn 3

Trong chương này, chúng tôi chủ yếu đề cập đến văn bản tập làm văn viết của học sinh Bài tập làm văn viết luôn luôn gồm ba phần: mở bài, thân bài và kết luận Theo quy định, bài này không được ghi số như trên mà thống nhất bằng cách lùi đầu dòng (lùi vào hai ô cho chữ cái đầu tiên của các phần và một

ô cho chữ cái đầu tiên của các đoạn trong phần thân bài) Cách trình bày trên cho thấy cấu trúc ba phần của bài viết và mối quan hệ giữa các đoạn trong từng phần Phần đầu và phần cuối với dung lượng tương đương nhau, được cấu tạo bằng một đoạn văn (thường khoảng từ ba đến năm câu); phần giải quyết vấn đề được cấu tạo bằng nhiều đoạn văn (tuỳ theo yêu cầu của đề bài) Các phần phải được trình bày một cách cân đối Cấu trúc một văn bản tập làm văn viết của học sinh có thể minh hoạ bằng sơ đồ 1.2 sau

Văn bản tập làm văn Đặt vấn đeà

Giảiquyết vấn đề

Kết thúc vấn đề Đoạn 1

Đoạn 2

Đoạn 3

Trang 28

Sơ đồ 1.2: Cấu trúc văn bản tập làm vănNói chung, mỗi văn bản có cấu trúc riêng Văn bản hành chính khác văn bản nghệ thuật và ngay trong văn bản hành chính cũng có nhiều biểu mẫu được quy định riêng theo yêu cầu của từng loại như: công văn hướng dẫn, báo cáo, tờ trình, thông báo, nghị quyết, quyết định, bản án, các mẫu đơn, v.v Tuy nhiên, đối với văn bản tập làm văn viết của học sinh, đến nay, vẫn phải có cấu trúc ba phần như đã nêu trên.

- Tín hiệu nội dung: Mối quan hệ nội dung giữa các câu, các đoạn, các phần quyết định tính chất của văn bản Sự quan hệ giữa phía phải phía trái của một câu, phía trên phía dưới của một đoạn, giữa các phần trong văn bản nhất thiết phải được chú trọng xây dựng theo một trình tự hợp lý, một nội dung hoàn chỉnh, một chủ đề thống nhất Nếu giữa chúng không có mối liên hệ nào thì ta

sẽ có chuỗi câu hỗn độn, rời rạc Và trong một bài tập làm văn viết, nếu có một câu, một đoạn, một phần nào đó không có cùng nội dung chung, lệch đề, xa đề hoặc lạc đề sẽ làm cho bài văn thiếu mạch lạc

Một người […] nhà vua Ông ta […]quý

Vị quan […]thì thôi

Người […] cung vua

Vua […] nhăm roi

Nhà vua […] nghìn rúp

Trang 29

Chủ đề

Chủ đề

Ở ví dụ (1), trong câu “Chỉ có điều là hạ thần đã đồng ý chia cho viên

quan đã đưa hạ thần vào đây một nửa số phần thưởng của bệ hạ”, người nghe,

người đọc sẽ không hiểu tại sao lại dùng “chỉ có điều” nếu không biết nội dung của câu trước Cụm từ này thường được bắt đầu cho câu giải thích hoặc bổ sung

nội dung Thật vậy, cụm từ trên đã giải thích nội dung cho câu người nông dân

lại xin được thưởng năm mươi roi mà không xin điều gì khác và cho câu sau là thưởng cho mỗi người hai mươi nhăm roi Câu chuyện này có thể minh hoạ

bằng sơ đồ các tình tiết phát triển chủ đề như sau

Sơ đồ 1.3: Cấu trúc câu chuyện Phần thưởng

VD (5): (1)Chiếc tàu thuỷ nhỏ, thấp, màu trắng, uốn mình (2)“Sibin”

chạm mũi vào bờ và dừng lại (3)Máy điện báo trên tàu réo lên, và chân vịt quay làm nước sủi bọt (4)Các hành khách dồn lại ở lối ra (5)Người kiểm soát nhảy lên bờ ném sợi dây cáp vào cọc neo bằng sắt ở trên bến và kêu to: “Xuống tàu! Bến cuối cùng!” (53, tr.32)

Trang 30

Các từ: mũi, chân vịt, cọc neo ở các câu (1, 2, 3, 5) đều có liên quan mật

thiết với nhau cùng quy chiếu về chiếc tàu Câu (4) liên quan một cách gián tiếp

với những câu trên và tất cả tập trung thể hiện một chủ đề chung “chiếc tàu cập

bến” Có thể biểu diễn cấu trúc đoạn văn trên bằng sơ đồ sau

Câu 1 Câu 2

Sơ đồ 1.4: Cấu trúc đoạn văn diễn dịch quy nạp

Sơ đồ cấu trúc đoạn văn diễn dịch quy nạp đã giúp người đọc hình dung

được ví dụ (5) chính là một đoạn văn hoàn chỉnh về nghĩa và cấu trúc

Tóm lại, câu hoặc đơn vị trên câu không trực tiếp kết hợp với nhau thành văn bản Chúng phải nằm trong một bộ phận của văn bản (đoạn), và các bộ phận này lại kết hợp với nhau thành những đơn vị lớn hơn (phần, chương), cứ như vậy cho đến khi văn bản kết thúc

Trang 31

Đối với văn bản tập làm văn, ngoài quy định ba phần chung còn có những yêu cầu cụ thể tuỳ theo kiểu làm văn: văn tự sự khác văn miêu tả, văn thuyết minh khác văn nghị luận, Ví dụ: cấu trúc phần mở bài văn nghị luận văn học thường bao gồm một số nội dung về tác giả, chủ đề, xuất xứ tác phẩm, đoạn trích, v.v được trình bày một cách ngắn gọn Việc xây dựng cấu trúc hoàn chỉnh, phân bố cân đối, tập trung thể hiện theo chủ đề cũng góp phần tạo nên tính mạch lạc trong văn bản.

Tuy nhiên, tính hoàn chỉnh về nghĩa và hoàn chỉnh về cấu trúc là những yếu tố cần nhưng chưa đủ để tạo nên văn bản nếu thiếu yếu tố liên kết và mạch lạc

c Tính liên kết và mạch lạc của văn bản

Văn bản là một chỉnh thể mà câu là những phần tử của nó Chính cấu trúc văn bản sẽ chỉ ra vị trí của mỗi câu với mối quan hệ, liên hệ của nó trong văn bản Những mối quan hệ và liên hệ ấy tạo ra tính liên kết (cohesion) và mạch lạc (coherence) Vì vậy, tính liên kết và mạch lạc chính là những đặc điểm quan trọng của văn bản

Liên kết được biểu hiện bởi các mối quan hệ thuộc hình thức, bề mặt của văn bản Còn những hiện tượng thuộc về quan hệ của tầng nghĩa ngầm bên dưới

và những yếu tố có liên quan đến ngữ cảnh tình huống thì gọi là mạch lạc Qua thực tế, trong bài viết tập làm văn của học sinh, chúng ta thường bắt gặp lời nhận xét là “bài văn thiếu mạch lạc” và rất hiếm khi tìm thấy lời phê là “thiếu liên kết/ không liên kết” Từ đó có thể nhận định rằng: những sợi dây liên kết chỉ góp phần tạo nên sự nối kết về hình thức làm cho bài văn chặt chẽ; còn yếu

tố mạch lạc mới thực sự tạo nên văn bản Mạch lạc giúp ta nhận biết tập hợp câu nào là văn bản và tập hợp câu nào không phải văn bản (xem phần 1.3)

VD (6): Trường Sơn đông nắng, tây mưa

Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình … (1) Đã có một thời Trường sơn là như thế đấy trong lòng những người dân Việt (2) Dải Trường Sơn dằng dặc và hùng vĩ, nơi có con đường Hồ Chí Minh

Trang 32

lịch sử, vào những năm chống Mĩ gian khổ, ác liệt nhưng cũng tràn đầy hào khí,

đã trở thành một sức hút vĩ đại đối với những người ra trận, và đối với những người làm nghệ thuật, văn chương (3) Biết bao văn nghệ sĩ đã hành hương đến Trường Sơn để chiêm ngưỡng cuộc chiến đấu của dân tộc mình, để hiểu nhân dân mình, Tổ quốc mình, và để rõ về chính bản thân mình (Phụ lục)

Chủ đề đoạn văn trên là nói về Trường Sơn, một báu vật cho những người làm nghệ thuật Cấu trúc đoạn văn gồm ba nội dung giới thiệu về Trường Sơn: đặc điểm, di tích lịch sử và là người bạn của giới nghệ thuật Phép liên kết lặp ở trên đã tạo nên mối quan hệ chặt chẽ về nghĩa giữa các câu Và ba câu trong đoạn văn này đã trình bày theo một trình tự hợp lý: Trường Sơn trước chiến tranh, trong chiến tranh và sau chiến tranh Đoạn văn tập trung triển khai nội dung của hai câu thơ dạo đầu một cách rất mạch lạc Do vậy, tính liên kết và mạch lạc chính là đặc điểm không thể thiếu trong văn bản

Trong những đặc điểm chủ yếu của văn bản, mạch lạc là đặc điểm quyết định: “Chúng ta sẽ khẳng định rằng người đọc và người nghe không dựa vào các dấu hiệu liên kết hình thức để xác định một bản văn như là một văn bản”

mà dựa vào “mối quan hệ ngữ nghĩa ngầm bên dưới” với tên gọi là mạch lạc [22, tr.308]

Ngoài ra, mỗi loại văn bản còn có những đặc điểm cụ thể khác Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ trình bày một cách sơ lược

về những đặc điểm chung của văn bản với góc nhìn từ bài tập làm văn viết của học sinh phổ thông, có chú ý phân biệt giữa văn bản nói và văn bản viết

1.1.3.2 Đặc điểm của văn bản nói và văn bản viết

Nhiều nhà ngôn ngữ học đã dùng hai thuật ngữ “text” (văn bản) và

“discourse” (diễn ngôn) để phân biệt văn bản nói và văn bản viết, nhưng cho đến nay, ranh giới giữa hai khái niệm này vẫn chưa rõ ràng Có thể tổng kết thành ba hướng

- Hướng thứ nhất cho văn bản viết (written text) đối lập văn bản nói

(spoken discourse) Văn bản viết ngầm hiểu là đơn thoại – không tương tác còn

Trang 33

văn bản nói ngầm hiểu là tương tác Tuy nhiên, phân biệt như vậy e rằng chưa chính xác vì người ta có thể dùng bài viết để phát biểu trước công chúng Như vậy, bài này gọi là văn bản nói hay văn bản viết?

- Hướng thứ hai có hai cách nhìn: cách thứ nhất thì xem văn bản là cái

kiến trúc lý luận trừu tượng còn diễn ngôn là cái hiện thực hóa của văn bản (V Dijk) hay nói cách khác, văn bản với diễn ngôn tương tự như câu với phát ngôn;

cách thứ hai, theo Guy Cook, văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lý giải được ở mặt

hình thức, bên ngoài ngữ cảnh còn diễn ngôn là chuỗi ngôn ngữ được nhận biết

là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích Cách nhìn này khá tinh tế nhưng cũng khá phức tạp

- Hướng thứ ba thì coi mọi sự kiện nói đều là diễn ngôn Trong đó, cái

nào ở dạng viết thì gọi là văn bản Các văn bản được viết và tạo thành từ câu,

trong khi các diễn ngôn được nói và tạo thành từ phát ngôn Thực ra, quan niệm

này chỉ là qui ước để thuận tiện cho việc phân biệt chứ không dựa trên một quy luật nào

Ở đây, chúng tôi không đi vào phân biệt giữa diễn ngôn và văn bản mà chỉ giới thiệu ba hướng nhìn đang tồn tại trong thực tế nghiên cứu ngôn ngữ Tuy nhiên, đối với thuật ngữ “diễn ngôn”, ở các nước có ngành ngôn ngữ học phát triển, chính là đối tượng trung tâm của việc nghiên cứu Riêng ở Việt Nam, hiện nay, thuật ngữ được sử dụng chủ yếu là “văn bản” Do vậy, luận án sẽ sử dụng cách gọi văn bản nói và văn bản viết cho phù hợp với kiến thức được

truyền đạt ở nhà trường phổ thông

a Phân biệt văn bản nói và văn bản viết

a1 Trong xã hội

- Văn bản nói là văn bản thông qua giao tiếp trực tiếp, trong đời sống

hàng ngày, người ta sử dụng lời nói phần lớn là để thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội (liên nhân) Loại ngôn ngữ dùng trong văn bản nói thường có tính nhất thời, tính tổ chức thấp hơn văn bản viết, chứa đựng thông tin kém súc

Trang 34

tích hơn, nhưng lại nhiều dấu hiệu đưa đẩy và từ đệm Do vậy, văn bản nói thường ngắn gọn, nội dung đơn giản nhưng sống động… Tuỳ thuộc vào tâm sinh lý của người nghe mà người nói điều chỉnh cho phù hợp để đạt mục đích giao tiếp Một số yếu tố thường được dùng kèm với văn bản nói như: cử chỉ, điệu bộ, ngữ điệu, thái độ, v.v với các hình ảnh minh hoạ

- Văn bản viết là văn bản dùng để trao đổi gián tiếp giữa người viết và

người đọc thông qua chữ viết Văn bản viết phần lớn được kiến tạo để chuyển giao thông tin (liên giao) và có tính chất trường cửu Dung lượng văn bản này thường dài, có thể từ một bài thơ tứ tuyệt đến một tiểu thuyết nhiều tập; nội dung phong phú, phức tạp và cũng có thể sử dụng hình ảnh, sơ đồ, bảng biểu minh họa Ngôn ngữ được dùng trong văn bản viết có chọn lọc, trau chuốt theo một chủ đề thống nhất Goody đã từng nhận định rằng người ta dành nhiều thời gian cho ngôn ngữ viết hơn là ngôn ngữ nói

a2 Trong nhà trường

- Văn bản nói được xem xét chủ yếu là những lời phát biểu của học sinh

trong tiết học Khác văn bản nói thông thường, vì trước khi nói, người nói đã chuẩn bị sẵn theo nội dung bài học hoặc đề cương cụ thể

- Văn bản viết là bài viết trong tất cả các môn nói chung và bài tập làm

văn viết nói riêng Văn bản viết ở đây hầu hết là bài làm từ mười lăm phút trở lên Nội dung của các văn bản, thuộc về các môn chung, thường theo nội dung sách giáo khoa, còn các bài tập làm văn viết hầu hết là do học sinh xây dựng Luận án sẽ tập trung nghiên cứu loại văn bản này bởi vì bài viết sẽ thể hiện đầy

đủ khả năng hiểu biết về quá trình tích hợp và vận dụng ngôn ngữ để diễn đạt

b Đặc điểm

b1 Đặc điểm chung

- Văn bản nói thường có những đặc điểm như: tính trực tiếp, tính tự nhiên

và nhất thời, tính không gọt dũa

Trang 35

Tính trực tiếp thể hiện ở ngữ điệu, cử chỉ đi kèm lời nói; giữa người nói với người nghe giao tiếp mặt đối mặt nên có thể điều chỉnh chủ đề theo chiến lược và đối tượng giao tiếp; thông tin thường ít và đơn giản.

Tính tự nhiên và nhất thời trong văn bản nói thể hiện ở ngôn từ tự nhiên,

ít gò bó (nhưng phải tuân thủ sự ràng buộc bởi văn hoá ứng xử của cộng đồng), các lượt lời thường không được chuẩn bị mà có tính chất ứng đối, chủ đề có thể thay đổi, nội dung đơn giản và thông tin lưu giữ không lâu

Tính không gọt dũa thể hiện ở chỗ từ ngữ tuỳ chọn, câu văn thường ngắn gọn và bị tỉnh lược, ít được trau chuốt và sắp xếp hoàn chỉnh vì văn bản nói được hình thành nhất thời

Với tiết luyện nói trong nhà trường, học sinh được rèn luyện khả năng suy nghĩ diễn đạt một cách dễ hiểu, chính xác, mạch lạc; luyện cách nói, giọng nói thu hút và khả năng điều chỉnh chủ đề theo sự cảm nhận của người nghe sao cho đạt được mục đích giao tiếp Nếu văn bản nói được rèn luyện kỹ thì văn bản viết sẽ đạt chất lượng tốt hơn

- Văn bản viết gồm có những đặc điểm là tính gián tiếp, tính hoàn chỉnh -

bền vững và tính gọt dũa

Tính gián tiếp, thông thường, tác giả và người đọc không có sự tương tác trực tiếp mặt đối mặt mà giao tiếp thông qua văn bản viết, một chiều, do vậy, tác giả không thể điều chỉnh kịp thời những sai sót Tuy nhiên, văn bản viết không bị hạn chế về thời gian nên thường chứa một lượng thông tin rất lớn

Tính hoàn chỉnh của văn bản viết thể hiện ở sự thống nhất về chuẩn mực chính tả, quy tắc về cách viết, cách trình bày văn bản Chính nhờ sự hiểu biết về ngôn ngữ sẽ giúp cho người viết xây dựng cấu trúc hoàn chỉnh, lựa chọn và sử dụng từ ngữ, trình bày theo một chủ đề thống nhất, diễn đạt nội dung đầy đủ, ngắn gọn và sâu sắc Các văn bản viết như văn bản pháp lý, văn kiện, công trình khoa học, lịch sử, v.v, nói chung, đều được lưu giữ lâu dài, bền vững và nhân rộng

Trang 36

Tính gọt dũa là ưu thế của văn bản viết Khi tạo lập văn bản viết, tác giả chủ động tổ chức, lựa chọn và sắp xếp thông tin theo trình tự để đạt đến mục đích giao tiếp tốt nhất Trong văn bản viết, từ ngữ được chọn lọc, câu văn được trau chuốt và các biện pháp tu từ có thể được sử dụng, v.v để nâng cao chất lượng.

Sự phân biệt văn bản nói và văn bản viết chỉ có tính chất tương đối Điều quan trọng là người nói/ viết phải sử dụng đúng cách Thông thường, tính trang trọng của văn bản nói ít hơn so với văn bản viết nên người nói hay người viết phải sử dụng đúng phong cách Nếu trong bài tập làm văn viết mà sử dụng văn nói thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng bài viết

Do vậy, trong nhà trường, việc rèn luyện kỹ năng viết phải được đặc biệt chú trọng, nhất là trong những giờ thực hành xây dựng câu văn, đoạn văn, văn bản; sửa lỗi lập luận; trả bài viết; v.v để giúp người viết biết cách trình bày nội dung văn bản đầy đủ, đúng, rõ ràng, chặt chẽ và mạch lạc Đây là yêu cầu chủ yếu quyết định chất lượng văn bản Theo Brown-Yule, “Ý nghĩa của dữ liệu văn bản đó được quyết định bởi việc chúng ta hiểu cái mà người nói hay viết tạo ra

+ Những kiểu văn bản được giảng dạy trong phần Làm văn ở trung học

cơ sở (THCS)

- Văn bản tự sự

“Tự sự (kể chuyện) là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý

Trang 37

nghĩa Tự sự giúp người kể giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen, chê.” [15, t.1, tr.28]

Một số văn bản tự sự cụ thể như: truyện, tiểu thuyết, kí sự, tác phẩm lịch

sử, bản tường thuật, … Đối với văn tự sự, điều cần chú ý khi viết là ngôi kể và thứ tự kể, người viết có thể dùng ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba khi kể chuyện

Như vậy, đối với học sinh, trong bài làm văn tự sự, để nội dung được trình bày mạch lạc thì phải thống nhất ngôi kể (hoặc là ngôi thứ nhất hoặc là

ngôi thứ ba) và các sự việc phải được sắp xếp theo thứ tự hợp lý (có thể kể theo

trình tự thời gian hoặc để gây chú ý, người kể có thể đem kết quả hoặc sự việc hiện tại kể ra trước, nhưng nói chung phải trung thành với cốt truyện)

- Văn bản miêu tả

“Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung

những đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự vật, sự việc, con người, phong cảnh,… làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người đọc, người nghe.” [15, t.2, tr.16]

Một số văn bản miêu tả tiêu biểu như: bài văn tả cảnh, tả người, tả sự vật; đoạn văn miêu tả trong văn bản tự sự, nghị luận, thuyết minh, v.v

Trong văn miêu tả, người viết bộc lộ khả năng sử dụng ngôn ngữ cụ thể nhất Để bài văn miêu tả sinh động, người viết cần lựa chọn những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu, đặc sắc; vận dụng các biện pháp tu từ thích hợp, nhất là tưởng tượng và so sánh,… Đồng thời, để bài viết mạch lạc, tất cả các chi tiết miêu tả phải được trình bày theo một trình tự nhất định

- Văn bản biểu cảm

“Văn biểu cảm là văn bản viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự đánh giá của con người đối với thế giới xung quanh và khêu gợi lòng đồng cảm nơi người đọc.” [16, t.1, tr.73]

Một số văn bản biểu cảm thường gặp như: điếu văn, văn tế, điện mừng, thư từ, thơ trữ tình, tuỳ bút, …

Trang 38

Bài văn biểu cảm thường biểu đạt trực tiếp hoặc gián tiếp những tình cảm, cảm xúc của con người đối với con người, thiên nhiên, xã hội, sự vật đã và đang xảy ra trong cuộc sống Lời văn càng rõ ràng, trong sáng, chân thật, logic bao nhiêu thì bài văn biểu cảm càng mạch lạc bấy nhiêu Chính điều này mang lại giá trị giao tiếp cho văn bản

- Văn bản thuyết minh

“Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,… của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.” [17, tr.117]

Một số văn bản thuyết minh thường gặp như: giới thiệu di tích, danh lam thắng cảnh, nhân vật lịch sử, tri thức, ngành nghề truyền thống và phương pháp trong khoa học tự nhiên và xã hội, v.v

Tri thức trong văn bản thuyết minh phải khách quan, xác thực, hữu ích cho con người và phải được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ, mạch lạc, để tạo sức thuyết phục cho văn bản

- Văn bản nghị luận

Văn bản nghị luận gồm hai loại: nghị luận xã hội và nghị luận văn học Nghị luận xã hội là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống, … của con người hoặc một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội Nghị luận văn học là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nội dung, nghệ thuật; nhân vật, … trong một đoạn trích hay một tác phẩm Theo yêu cầu, người viết sẽ trình bày quan điểm, nhận xét, đánh giá riêng của mình bằng các luận điểm, luận cứ với các phép lập luận thích hợp nhằm thuyết phục người đọc

Trong văn bản nghị luận thường phải có luận điểm, luận cứ và luận chứng Đây là điểm khác nhau cơ bản với các kiểu văn bản trên Các luận điểm phải tập trung thể hiện chủ đề của bài và thường được diễn đạt bởi câu chủ đề

Trang 39

của đoạn văn; các luận cứ triển khai luận điểm phải được lựa chọn đúng, đủ và tiêu biểu; kết hợp với các phép lập luận một cách hợp lý sẽ tạo nên một bài làm văn nghị luận mạch lạc, có sức thuyết phục cao.

Ngoài ra, trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở còn một số văn bản hành chính – công vụ như: đơn từ, báo cáo, đề nghị, biên bản, tường trình, thông báo, hợp đồng,… nhằm trang bị cho người học một số kỹ năng thực hiện các loại văn bản thông dụng

+ Những kiểu văn bản được giảng dạy trong phần Làm văn ở trung học phổ thông (THPT)

Phần Làm văn trong chương trình Ngữ văn THPT vẫn tiếp tục được ôn luyện với chiều hướng mở rộng và phát triển theo hình xoáy trôn ốc nhằm nâng cao chất lượng các văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận và một số văn bản thông dụng khác

Đối với lớp 10, chương trình Làm văn chủ yếu nhằm ôn tập và hoàn thiện

kỹ năng viết văn tự sự và thuyết minh; rèn luyện kỹ năng viết một bài văn tự sự, bài văn thuyết minh có kết hợp các phương thức biểu đạt

Đối với lớp 11, chương trình Làm văn tập trung vào văn nghị luận mà trọng điểm là rèn luyện các thao tác lập luận: chứng minh, giải thích, phân tích,

so sánh, bác bỏ, bình luận…

Đối với lớp 12, phần Làm văn tập trung nhấn mạnh các kiểu bài nghị luận, rèn luyện cho học sinh các kỹ năng làm văn: thực hành lập luận; viết mở bài, kết bài và diễn đạt trong văn nghị luận, ôn tập và nâng cao các kỹ năng lập luận kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận Bài viết tập làm văn chính là kết quả của quá trình rèn luyện kỹ năng xây dựng văn bản của học sinh phổ thông

Để xây dựng một văn bản viết mạch lạc, điều quan trọng là phải xây dựng được các đoạn văn mạch lạc Sau đây, luận án sẽ trình bày một số nét cơ bản về đoạn văn

Trang 40

1.2 ĐOẠN VĂN TRONG VĂN BẢN

Hiện nay, trong nhà trường phổ thông còn tồn tại hai cách hiểu về đoạn văn

- Thứ nhất, đoạn văn với ý nghĩa chỉ sự phân đoạn ý, đoạn nội dung văn bản Cách này thường được dùng trong phân tích văn bản văn học Ví dụ: Bài này được chia làm mấy đoạn? Ý mỗi đoạn nói gì? Như vậy, đoạn văn phải diễn đạt một nội dung/ một ý tương đối hoàn chỉnh

- Thứ hai, đoạn văn được hiểu hoàn toàn dựa vào hình thức với cách diễn giải như: đoạn văn được giới hạn bởi hai dấu chấm xuống dòng, chữ đầu dòng phải viết hoa và lùi vào một ô (ô tập) hoặc hai ô Cách hiểu này không có cơ sở ngữ nghĩa nên dễ dẫn đến việc xây dựng đoạn văn một cách tuỳ tiện, chỉ cần chấm xuống dòng là được một đoạn văn

Ở chương này, chúng tôi giới hạn về đoạn văn dưới góc độ là một phần của văn bản tập làm văn trong nhà trường phổ thông Các đoạn văn này cần được xây dựng hoàn chỉnh và có gắn kết chặt chẽ với nhau để tạo nên sự mạch lạc trong văn bản Do vậy, việc tìm hiểu những vấn đề cơ bản về đoạn văn là rất cần thiết

Theo chúng tôi, ở bậc học phổ thông, lý luận cơ bản về đoạn văn cần phải được xác định rõ ràng, nhất là khái niệm về đoạn văn, cách xây dựng đoạn văn

Từ sự hiểu biết đó, trong quá trình tạo lập một văn bản tập làm văn, học sinh có

cơ sở rèn luyện kỹ năng xây dựng các đoạn văn mạch lạc

1.2.1 Khái niệm đoạn văn

Đoạn văn là tên gọi của một chuỗi câu trong văn bản Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đoạn văn Theo quan niệm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đoạn văn được xác định: sau từ thì đến câu, nhiều câu thành một đoạn, nhiều đoạn thành một bài, rồi một cuốn sách

Quan niệm trên rút ra nhận định đoạn văn là đơn vị trên câu và dưới văn bản Tương tự, L.G Pritman cũng cho rằng: “Đơn vị cú pháp trên câu có bộ các

Ngày đăng: 28/12/2013, 20:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thái Ất, Kỹ thuật hành văn (Sách Đại học Sư Vạn Hạnh), Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật hành văn
2. Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
3. Diệp Quang Ban (1998), Một số vấn đề về câu tồn tại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về câu tồn tại
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
4. Diệp Quang Ban (2001), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
5. Diệp Quang Ban (2002), “Ngữ pháp truyện và một vài biểu hiện của tính mạch lạc trong truyện”, Ngôn ngữ, số 10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp truyện và một vài biểu hiện của tính mạch lạc trong truyện”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2002
6. Diệp Quang Ban (2002), Giao tiếp-Văn bản- Mạch lạc- Liên kết- Đoạn văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp-Văn bản- Mạch lạc- Liên kết- Đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
7. Diệp Quang Ban (2006), Văn bản, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
8. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
9. Nguyễn Trọng Báu- Nguyễn Quang Ninh- Trần Ngọc Thêm (1985), Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp văn " bản và việc dạy làm văn
Tác giả: Nguyễn Trọng Báu- Nguyễn Quang Ninh- Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
10. Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
11. Dương Hữu Biên (2000), Giáo trình ngữ nghĩa học tiếng Việt thực hành, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ nghĩa học tiếng Việt thực hành
Tác giả: Dương Hữu Biên
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2000
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Tiếng Việt lớp 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lớp 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Tiếng Việt lớp 11, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lớp 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Làm văn lớp 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn lớp 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 6, tập 1&2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 6
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
16. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 7, tập 1&2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 7
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
17. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 8, tập 1&2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 8
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
18. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 9, tập 1&2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 9
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
19. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn10, tập 1&2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
20. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 11, tập 1&2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Bảng thống kê các loại lỗi STT - Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh
Bảng 2.1 Bảng thống kê các loại lỗi STT (Trang 84)
Bảng 2.2: Bảng thống kê các loại lỗi theo trường - Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh
Bảng 2.2 Bảng thống kê các loại lỗi theo trường (Trang 85)
Bảng 2.3: Bảng thống kê các loại lỗi theo đơn vị lớp - Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh
Bảng 2.3 Bảng thống kê các loại lỗi theo đơn vị lớp (Trang 87)
Sơ đồ 2.12: Các dạng lỗi diễn đạt thiếu mạch lạc - Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh
Sơ đồ 2.12 Các dạng lỗi diễn đạt thiếu mạch lạc (Trang 97)
Bảng phân tích xử lý số liệu cho thấy học sinh vi phạm lỗi về dấu câu từ  4 lỗi trở lên chiếm tỷ lệ trên 80% - Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh
Bảng ph ân tích xử lý số liệu cho thấy học sinh vi phạm lỗi về dấu câu từ 4 lỗi trở lên chiếm tỷ lệ trên 80% (Trang 100)
Bảng 2.5: Thống kê lỗi về dùng từ Dùng từ (khối 10-11) - Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh
Bảng 2.5 Thống kê lỗi về dùng từ Dùng từ (khối 10-11) (Trang 103)
Bảng 2.7: Thống kê lỗi diễn đạt trùng lặp Trùng lặp (khối 10-11) - Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh
Bảng 2.7 Thống kê lỗi diễn đạt trùng lặp Trùng lặp (khối 10-11) (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w